Đề tài Các biện pháp Cưỡng chế trong thi hành án Dân Sự - Nguyễn Vinh Hưng

Hiện nay, chúng ta đang xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đòi hỏi sự tôn trọng pháp luật từ mọi chủ thể, ngược lại quyền và lợi ích của mọi cá nhân, tổ chức cần phải được bảo vệ tối đa bằng pháp luật. Khi quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm thì chủ thể đó có quyền gửi đơn đến Tòa án để yêu cầu giải quyết, hoạt động xét xử phải kịp thời, nghiêm minh, đúng pháp luật. Đồng thời, các phán quyết của Tòa án phải được thi hành nghiêm chỉnh, triệt để, kịp thời mới bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự. Công tác THA dân sự nói chung và các BPCC THA dân sự nói riêng cũng chỉ nhằm mục đích chung nói trên. Hiệu quả của việc cưỡng chế là cơ sở, tiền đề cho sự thành công của một vụ THA dân sự khi đương sự không tự nguyện thi hành. Song qua nghiên cứu về vấn đề này, có thể thấy rằng trong quá trình áp dụng BPCC THA dân sự để THA gặp rất nhiều khó khăn, nhiều nguyên nhân khác nhau gây cản trở cho việc cưỡng chế. Cụ thể như: cơ chế quản lý, hoạt động THA dân sự còn chồng chéo, sự phối hợp giữa các cơ quan tổ chức trong việc cưỡng chế còn chưa tốt, các quy định của pháp luật về BPCC THA dân sự chưa chặt chẽ, còn có thiếu sót. Nhưng dù nguyên nhân nào đi nữa thì thực tế là quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự đang không được đảm bảo trong quá trình THA. Qua nghiên cứu, tác giả nhận thấy rằng: cần đổi mới cơ chế quản lý hoạt động THA dân sự; Tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan hữu quan trong tổ chức cưỡng chế THA dân sự. Về mặt pháp luật, nên hoàn thiện hệ thống pháp luật về THA dân sự nhất là quy định của pháp luật về BPCC THA dân sự. Ngoài ra, chúng ta phải tăng cường năng lực, phẩm chất, tinh thần trách nhiệm của đội ngũ người có thẩm quyền THA; Tích cực tuyên truyền phổ biến pháp luật về THA dân sự để các đương sự tự nguyện thỏa thuận thi hành và cơ quan THA dân sự có thể tranh thủ được sự giúp đỡ, phối hợp của cá nhân, tổ chức hữu quan trong suốt quá trình THA. Tóm lại, thực tiễn việc áp dụng BPCC THA dân sự rất phức tạp mà bản thân nó lại có vai trò và ý nghĩa rất lớn đối với công tác THA dân sự hiện nay.

docx53 trang | Chia sẻ: yenxoi77 | Ngày: 18/08/2021 | Lượt xem: 573 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Các biện pháp Cưỡng chế trong thi hành án Dân Sự - Nguyễn Vinh Hưng, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ên môn nghiệp vụ của Chấp hành viên, bản lĩnh nghề nghiệp và đạo đức Chấp hành viên. Vì việc tổ chức cưỡng chế thi hành án có thuận lợi hay không, an toàn hay không và có ảnh hưởng đến tình hình an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa bản xảy ra việc cưỡng chế hay không tùy thuộc vào việc có áp dụng thống nhất nguyên tắc này trên thực tế của Chấp hành viên.  4.4. Trình tự, thủ tục áp dụng Ths. Trần Phương Thảo (2007) “các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự”, Tạp chí luật học số 07/2007 tr 43, 44 Được quy định tại Điều 108 – LTHADS. Theo đó, tài sản của người phải thi hành án bị cưỡng chế khai thác để thi hành án theo các hình thức sau đây: - Tài sản mà người phải thi hành án đang trực tiếp khai thác hoặc cho người khác khai thác thì người đang khai thác được tiếp tục khai thác. Trường hợp tài sản, bao gồm cả quyền sử dụng đất mà chưa khai thác thì Chấp hành viên yêu cầu người phải thi hành án ký hợp đồng khai thác tài sản với tổ chức, cá nhân có nhu cầu khai thác tài sản - Người khai thác tài sản quy định tại khoản 1 Điều này phải nộp số tiền thu được từ việc khai thác tài sản cho cơ quan thi hành án dân sự, sau khi trừ các chi phí cần thiết. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày yêu cầu mà người phải thi hành án không ký hợp đồng khai thác với người khác thì Chấp hành viên kê biên, xử lý tài sản đó để thi hành án. Chấm dứt việc cưỡng chế khai thác tài sản Được quy định cụ thể tại Điều 109 LTHADS. Theo đó:  1. Chấp hành viên ra quyết định chấm dứt việc cưỡng chế khai thác tài sản trong các trường hợp sau đây: a) Việc khai thác tài sản không hiệu quả hoặc làm cản trở đến việc thi hành án; b) Người phải thi hành án, người khai thác tài sản thực hiện không đúng yêu cầu của Chấp hành viên về việc khai thác tài sản; c) Người phải thi hành án đã thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án và các chi phí về thi hành án; d) Có quyết định đình chỉ thi hành án. 2. Trường hợp việc cưỡng chế khai thác tài sản chấm dứt theo quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều này thì Chấp hành viên tiếp tục kê biên và xử lý tài sản đó để thi hành án. Trường hợp việc cưỡng chế khai thác tài sản chấm dứt theo quy định tại điểm c và điểm d khoản 1 Điều này thì trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày có quyết định, Chấp hành viên ra quyết định giải toả việc cưỡng chế khai thác tài sản và trả lại tài sản cho người phải thi hành án. 5. Buộc trả vật, giấy tờ, chuyển giao quyền sử dụng đất Ths. Trần Phương Thảo (2007) “các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự”, Tạp chí luật học số 07/2007 tr 43, 44 5.1. Khái niệm - Là biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự buộc người phải thi hành án trao trả vật , giấy tờ hoặc chuyển giao quyền sử dụng đất cho người tiến hành mua lại tài sản thi hành án. 5.2. Điều kiện áp dụng - Có sở hữu vật , giấy tờ sở hữu tài sản hoặc giấy tờ chứng nhận quyền sử dụng đất - Nhưng cố tình không trao cho cơ quan thi hành án - Đồ vật , giấy tờ chưa bị mất , hư hỏng, 5.3. Nguyên tắc áp dụng - Chỉ cưỡng chế đối với những vật , giấy tờ trong phạm vi thi hành án dân sự 5.4. Trình tự, thủ tục áp dụng  Việc cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất được quy định  tại Điều 117 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014. 1. Trường hợp bản án, quyết định tuyên nghĩa vụ chuyển giao quyền sử dụng đất thì Chấp hành viên tổ chức giao diện tích đất cho người được thi hành án.  Khi tiến hành giao đất phải có sự tham gia của đại diện cơ quan quản lý nhà nước về đất đai cùng cấp và Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi có đất được chuyển giao.  2. Việc xử lý tài sản gắn liền với đất được chuyển giao thực hiện theo quy định sau đây: a) Trường hợp tài sản gắn liền với đất hình thành sau khi có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật thì Chấp hành viên yêu cầu người có tài sản đó tháo dỡ hoặc chuyển tài sản ra khỏi diện tích đất phải chuyển giao cho người được thi hành án. Nếu người có tài sản không thực hiện thì Chấp hành viên cưỡng chế tháo dỡ hoặc chuyển tài sản ra khỏi diện tích đất phải chuyển giao, trừ trường hợp đương sự có thoả thuận khác. Chi phí cưỡng chế do người có tài sản chịu. Trường hợp người có tài sản gắn liền với đất từ chối nhận tài sản thì Chấp hành viên lập biên bản ghi rõ số lượng, chủng loại, tình trạng từng loại tài sản, giao tài sản cho tổ chức, cá nhân có điều kiện bảo quản hoặc bảo quản tại kho của cơ quan thi hành án dân sự và thông báo địa điểm, thời gian để người có tài sản nhận lại tài sản. Hết thời hạn thông báo mà người có tài sản không đến nhận thì tài sản được xử lý theo quy định tại Điều 126 của Luật này; b) Trường hợp tài sản gắn liền với đất có trước khi có bản án, quyết định sơ thẩm nhưng bản án, quyết định được thi hành không tuyên rõ việc xử lý đối với tài sản đó thì cơ quan thi hành án dân sự yêu cầu Toà án đã ra bản án, quyết định giải thích rõ việc xử lý đối với tài sản hoặc đề nghị Toà án có thẩm quyền xem xét lại nội dung bản án theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm. 3. Việc cưỡng chế giao quyền sử dụng đất cho người trúng đấu giá hoặc cho người nhận quyền sử dụng đất để trừ vào số tiền được thi hành án được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều này. 6. Cưỡng chế thi hành nghĩa vụ buộc thi hành nghĩa vụ buộc thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định 6.1. Khái niệm Buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định Biện pháp buộc người phải THA thực hiện hoặc không được thực hiện công việc nhất định là một trong các BPCC THA dân sự được áp dụng trong trường hợp người phải THA phải thực hiện nghĩa vụ buộc thực hiện hoặc không thực hiện nghĩa vụ nhất định theo bản án, quyết định. Biện pháp buộc người phải THA thực hiện hoặc không thực hiện công việc nhất định được quy định từ các Điều 118 đến Điều 121 luật THA dân sự 2008. Theo đó, đối tượng của biện pháp này là công việc nhất định phải thực hiện theo bản án, quyết định, chấm dứt việc thực hiện công việc mà theo bản án, quyết định không được thực hiện, giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng theo bản án, quyết định, buộc nhận người lao động trở lại làm việc. Biện pháp kết thúc khi công việc được thực hiện 6.2. Điều kiện áp dụng - Trong trường hợp người phải thi hành án không thực hiện công việc buộc phải làm theo bản án, quyết định của Toà án mà công việc đó có thể giao cho người khác thực hiện thì Chấp hành viên giao cho người có điều kiện thực hiện. Chi phí do người phải thi hành án chịu. Nếu công việc buộc phải làm theo bản án, quyết định của Toà án phải do chính người phải thi hành án thực hiện thì Chấp hành viên xử lý theo quy định tại Điều 56 của Pháp lệnh này. ( Điều 55. Cưỡng chế thi hành nghĩa vụ buộc làm công việc nhất định theo bản án, quyết định của Toà án ) 6.3. Trình tự, thủ tục áp dụng Điều 118. Cưỡng chế thi hành nghĩa vụ buộc thực hiện công việc nhất định 1. Trường hợp thi hành nghĩa vụ phải thực hiện công việc nhất định theo bản án, quyết định mà người phải thi hành án không thực hiện thì Chấp hành viên quyết định phạt tiền và ấn định thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định phạt tiền để người đó thực hiện nghĩa vụ thi hành án. 2. Hết thời hạn đã ấn định mà người phải thi hành án không thực hiện nghĩa vụ thi hành án thì Chấp hành viên xử lý như sau: a) Trường hợp công việc đó có thể giao cho người khác thực hiện thay thì Chấp hành viên giao cho người có điều kiện thực hiện; chi phí thực hiện do người phải thi hành án chịu; b) Trường hợp công việc đó phải do chính người phải thi hành án thực hiện thì Chấp hành viên đề nghị cơ quan có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không chấp hành án. Điều 119. Cưỡng chế thi hành nghĩa vụ không được thực hiện công việc nhất định Người phải thi hành án không tự nguyện chấm dứt việc thực hiện công việc mà theo bản án, quyết định không được thực hiện thì Chấp hành viên ra quyết định phạt tiền đối với người đó, trong trường hợp cần thiết có thể yêu cầu họ khôi phục hiện trạng ban đầu. Trường hợp người đó vẫn không chấm dứt công việc không được làm, không khôi phục lại hiện trạng ban đầu thì Chấp hành viên đề nghị cơ quan có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không chấp hành án. Điều 120. Cưỡng chế giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng theo bản án, quyết định 1. Chấp hành viên ra quyết định buộc giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng theo bản án, quyết định. Trước khi cưỡng chế giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng, Chấp hành viên phối hợp với chính quyền địa phương, tổ chức chính trị - xã hội tại địa phương đó thuyết phục đương sự tự nguyện thi hành án 2. Trường hợp người phải thi hành án hoặc người đang trông giữ người chưa thành niên không giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng thì Chấp hành viên ra quyết định phạt tiền, ấn định thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định phạt tiền để người đó giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng. Hết thời hạn đã ấn định mà người đó không thực hiện thì Chấp hành viên tiến hành cưỡng chế buộc giao người chưa thành niên hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không chấp hành án. Điều 121. Cưỡng chế buộc nhận người lao động trở lại làm việc 1. Trường hợp người sử dụng lao động không nhận người lao động trở lại làm việc theo bản án, quyết định thì Chấp hành viên ra quyết định phạt tiền đối với người sử dụng lao động là cá nhân hoặc người đứng đầu cơ quan, tổ chức sử dụng lao động, đồng thời ấn định thời hạn 10 ngày, kể từ ngày ra quyết định phạt tiền để người sử dụng lao động thực hiện việc nhận người lao động trở lại làm việc. Hết thời hạn đã ấn định mà người sử dụng lao động không thực hiện thì Chấp hành viên đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không chấp hành án. 2. Trường hợp không thể bố trí người lao động trở lại làm công việc theo nội dung bản án, quyết định thì người sử dụng lao động phải bố trí công việc khác với mức tiền lương tương đương theo quy định của pháp luật lao động. Trường hợp người lao động không chấp nhận công việc được bố trí và yêu cầu người sử dụng lao động thanh toán các chế độ theo quy định của pháp luật lao động thì người sử dụng lao động phải thực hiện việc thanh toán để chấm dứt nghĩa vụ thi hành án. 3. Người sử dụng lao động phải thanh toán cho người lao động khoản tiền lương trong thời gian chưa bố trí được công việc theo bản án, quyết định, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi người lao động được nhận trở lại làm việc hoặc được giải quyết theo quy định tại khoản 2 Điều này. CHƯƠNG 3: THỰC TẾ ÁP DỤNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CƯỠNG CHẾ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ Thực trạng của việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự Khó khăn áp dụng biện pháp trừ vào thu nhập của người phải thi hành án Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án (THA) là một trong những biện pháp cưỡng chế để bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án. Tuy nhiên, trên thực tế, biện pháp này không được sử dụng thường xuyên ngay cả khi người phải THA chỉ có tài sản duy nhất là nguồn tiền lương, lương hưu hay trợ cấp hàng tháng. Pháp luật chưa có những hướng dẫn cụ thể về hồ sơ khấu trừ hay chi phí Mặc dù Luật THADS quy định cơ quan, tổ chức, người sử dụng lao động, Bảo hiểm xã hội nơi người phải thi hành án nhận tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp và các thu nhập hợp pháp khác có trách nhiệm thực hiện theo quy định về việc trừ vào thu nhập của người phải THA, tuy nhiên nhiều cơ quan THA cho biết, ngoài khó khăn vì nhiều cơ quan không chấp hành như trên thì một nguyên nhân khác khiến việc này khó thực hiện là vì pháp luật chưa có những hướng dẫn cụ thể về hồ sơ khấu trừ hay chi phí Để khắc phục tình trạng nói trên, nhiều địa phương đã có những sáng kiến để gắn kết trách nhiệm của các ngành trong THA. Ví dụ Hà Tĩnh đưa bảo hiểm xã hội, ngân hàng, kho bạc... vào là thành viên ban chỉ đạo THA, một số địa phương ban hành quy chế phối hợp, tăng cường vai trò của Ban chỉ đạo THA Tuy nhiên, điều quan trọng nhất là tự bản thân các ngành phải ý thức đầy đủ về trách nhiệm trong công tác THADS đã được pháp luật quy định. Đối với những trường hợp cố tình cản trở quá trình THA thì dù là cá nhân hay tổ chức cũng phải chịu trách nhiệm về việc làm của mình, thậm chí có thể bị truy tố theo quy định của Bộ luật hình sự. Tuy nhiên các văn bản dưới luật, các thủ tục hành chính của các cơ quan ban ngành còn chồng chéo, không phù hợp với luật vẫn được áp dụng trong thực tiễn tạo nên mỗi cơ quan, ngành, người hiểu khác nhau, không có sự thống nhất phối hợp THA. Khi có Thông tư liên tịch hướng dẫn rõ những vướng mắc trong thực tiễn sẽ tạo được sự thống nhất, nhưng nếu chỉ cơ quan THADS “Độc lập tác chiến” cũng khó hoàn thành nhiệm vụ - sự tham gia nêu rõ quan điểm, căn cứ pháp luật của đại diện Viện kiểm sát sẽ tạo điều kiện thuận lợi hỗ trợ cơ quan THADS trong quá trình thao tác nghiệp vụ để hoàn thành nhiệm vụ chung mà Đảng và Nhà nước giao cho mỗi ngành. Hiệu quả của biện pháp cưỡng chế "Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án": Tùy thuộc vào nhận thức và trách nhiệm của cơ quan Bảo hiểm xã hội Công tác thi hành án dân sự đạt hiệu quả cao đòi hỏi phải có sự tham gia phối hợp của nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều cơ quan tổ chức. Trong quá trình thực thi nhiệm vụ, cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên phải phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan, đồng thời các cơ quan, tổ chức và cá nhân khác cũng phải có trách nhiệm phối hợp, hỗ trợ, giúp đỡ cơ quan thi hành án dân sự trong thi hành án dân sự. “Khi nhận được quyết định khấu trừ vào thu nhập của người phải thi hành án, cơ quan, tổ chức, người sử dụng lao động, Bảo hiểm xã hội nơi đang quản lý tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp và các khoản thu nhập hợp pháp khác của người phải THADS phải khấu trừ tiền để chuyển vào tài khoản của cơ quan THADS hoặc chuyển cho người được thi hành án theo quyết định trừ vào thu nhập. Trường hợp trừ vào thu nhập của người phải THADS thông qua Bảo hiểm xã hội thì người phải THADS có trách nhiệm ký nhận vào danh sách chi trả lương hưu hoặc tiền trợ cấp mất sức lao động hàng tháng. Trường hợp người phải THADS cố tình không ký vào biểu mẫu đã quy định thì cần lập biên bản và Chấp hành viên ký thay đương sự đối với số tiền khấu trừ để nhận số tiền khấu trừ đó và chuyển biên lai thu tiền thi hành án cho cơ quan trừ vào thu nhập làm thủ tục quyết toán” Luật THADS đã quy định rất rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức như đã viện dẫn tại khoản 4 Điều 78 nêu trên và trách nhiệm cụ thể của Bảo hiểm xã hội trong THADS được quy định tại Điều 177 Luật THADS như sau: 1- Cung cấp đúng, đầy đủ, kịp thời thông tin, số liệu về các khoản thu nhập của người phải thi hành án đang được chi trả qua Bảo hiểm xã hội theo yêu cầu của Chấp hành viên, cơ quan thi hành án dân sự. 2- Thực hiện nghiêm chỉnh, kịp thời yêu cầu của Chấp hành viên về khấu trừ thu nhập của người phải thi hành án để thi hành án. 3- Thực hiện đầy đủ yêu cầu khác của Chấp hành viên, cơ quan thi hành án dân sự theo quy định của luật này. Đề nghị Bảo hiểm xã hội Việt Nam xem xét, sớm ban hành văn bản chỉ đạo Bảo hiểm xã hội các cấp tích cực phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự, thực hiện đúng trách nhiệm của Bảo hiểm xã hội theo quy định của Luật Thi hành án dân sự để góp phần nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự, giảm lượng án tồn đọng. Bên cạnh đó, Hội đồng Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật các cấp ( nhất là cấp huyện, cấp xã ) cần thực hiện việc tuyên truyền, phổ biến Luật Thi hành án dân sự một cách kịp thời, sâu rộng và có hiệu quả. Có như vậy, Luật Thi hành án dân sự mới thực sự đi vào cuộc sống và đem lại hiệu quả thiết thực trong công tác thi hành án dân sự. Khó khăn áp dụng biện pháp khấu trừ tiền trong tài khoản, thu hồi, xử lý tiền và giấy tờ có giá của người phải thi hành án Việt Hòa, “Khó trừ vào thu nhập của người phải thi hành án”, báo pháp luật Ngoài các biện pháp cưỡng chế đối với tài sản là tiền, Luật thi hành án dân sự còn quy định các biện pháp cưỡng chế đối với tài sản là giấy tờ có giá. Điều này là hoàn toàn phù hợp với tình hình phát triển của xã hội. Hiện nay, mọi cá nhân, tổ chức đều có quyền sở hữu đối với tài sản là các loại giấy tờ có giá như: Tín phiếu, trái phiếu, cổ phiếu Đây không phải là tiền nhưng có giá trị quy đổi thành tiền nên có giá trị thi hành án, hơn nữa, có một số loại giấy tờ có giá đạt giá trị rất lớn so với thời điểm ban đầu cá nhân, tổ chức sở hữu nó như cổ phiếu. Tại mục 4 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014 quy định về cưỡng chế đối với tài sản là giấy tờ có giá. Các quy định trên đã quy định tương đối chi tiết về trình tự, thủ tục thu giữ giấy tờ có giá, bán giấy tờ có giá. Tuy nhiên, khi áp dụng các quy định trên vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn. Thứ nhất: Xác định khái niệm về giấy tờ có giá Để áp dụng biện pháp: “Cưỡng chế khấu trừ trong tài khoản, thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án” đạt hiệu quả, Chấp hành viên phải nắm vững các quy định của pháp luật thi hành án đồng thời cần nghiên cứu những quy định của pháp luật về lĩnh vực tài khoản, giấy tờ có giá. Trong khi đó kiến thức của chấp hành viên thi hành án về các loại giấy tờ có giá rất hạn chế, thậm chí có nhiều chấp hành viên còn hiểu sai khái niệm về các loại giấy tờ có giá dẫn đến khó khăn khi áp dụng quy định của pháp luật. Để xác định được các loại giấy tờ có giá của người phải thi hành án Chấp hành viên cần nắm được các quy định của pháp luật chuyên ngành có liên quan như: Quyết định số 11/QĐ-NHNN ngày 06/01/2010 do Ngân hàng nhà nước ban hành quy định về danh mục giấy tờ có giá được sử dụng trong các giao dịch của Ngân hàng nhà nước; Luật chứng khoán năm 2006, Quyết định số: 1022/2004/QĐ-NHNN ngày 17 tháng 8 năm 2004 của Thống đốc ngân hàng nhà nước về việc ban hành quy chế lưu ký giấy tờ có giá tại ngân hàng nhà nước Theo điểm 8, Điều 6 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010, “giấy tờ có giá là bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy tờ có giá với người sở hữu giấy tờ có giá trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác”. Theo Điều 1 Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22 tháng 02 năm 2012 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm quy định: “ Giấy tờ có giá bao gồm cổ phiếu, trái phiếu, hối phiếu, kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, séc, chứng chỉ quỹ, giấy tờ có giá khác theo quy định của pháp luật, trị giá được thành tiền và được phép giao dịch”. Căn cứ vào các quy định của pháp luật hiện hành thì giấy tờ có giá bao gồm: - Hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, séc, công cụ chuyển nhượng khác được quy định tại Điều 1 Luật Các công cụ chuyển nhượng năm 2005; - Trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty, kỳ phiếu, cổ phiếu được quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 4 Pháp lệnh ngoại hối năm 2005; - Tín phiếu, hối phiếu, trái phiếu, công trái và các công cụ khác làm phát sinh nghĩa vụ trả nợ được quy định tại điểm 16, Điều 3 Luật Quản lý nợ công 2009; - Các loại chứng khoán (Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ; Quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán; Hợp đồng góp vốn đầu tư; Các loại chứng khoán khác do Bộ Tài chính quy định) được quy định tại điểm 3 Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán năm 2010; - Trái phiếu doanh nghiệp được quy định tại Khoản 1 Điều 2 Nghị định số 90/2011/NĐ-CP của Chính phủ về phát hành trái phiếu doanh nghiệp. Như vậy, các loại giấy tờ có giá rất đa dạng và phong phú, đòi hỏi chấp hành viên phải có những hiểu biết nhất định thì mới có thể hiểu rõ và áp dụng đúng các quy định pháp luật. Thứ hai: Xác minh giấy tờ có giá Trong việc xác minh tiền, giấy tờ có giá đang do người phải thi hành án hoặc người thứ ba giữ, Chấp hành viên gặp nhiều khó khăn khi xác minh bởi phải xác định được giấy tờ có giá là loại gì, giá trị bao nhiêu, nguồn gốc của tài sản.trong khi rất khó để biết được các thông tin về loại giấy tờ có giá, cơ quan quản lý giấy tờ có giá, công ty ban hành cổ phiếu, trái phiếuđặc biệt là hiện nay có hàng trăm công ty phát hành và niêm yết chứng khoán trên thị trường . Bên cạnh đó còn các khó khăn khác như việc phối hợp cung cấp thông tin của các cơ quan có thẩm quyền, các cơ quan quản lý tài sản là giấy tờ có giáđối với chấp hành viên vẫn còn hạn chế, chưa kịp thời và hiệu quả. Thứ ba: việc bán giấy tờ có giá Theo điều 83 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014 quy định về bán giấy tờ có giá: “Việc bán giấy tờ có giá được thực hiện theo quy định của pháp luật.” Nhưng thực tế thì hiện nay chưa có văn bản pháp luật hướng dẫn cụ thể việc bán giấy tờ có giá để đảm bảo thi hành án, tại Nghị định 62/2015/NĐ-CP của Chính phủ ngày 18/7/2015 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự cũng không có quy định về vấn đề này. Do vậy cần quy định cụ thể việc bán giấy tờ có giá được thực hiện theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản hay văn bản pháp luật chuyên ngành nào để thực hiện cho đúng Khó khăn trong việc kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản của người thứ ba giữ Về khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng các quy định về kê biên tài sản chung của người phải thi hành án với người khác để thi hành án Trong trường hợp người phải thi hành án có tài sản chung nhưng chưa xác định được phần sở hữu của từng người thì có 02 quan điểm khác nhau trong việc áp dụng quy định nêu trên: Quan điểm thứ nhất cho rằng: Chấp hành viên ra quyết định kê biên tài sản trước (kê biên toàn bộ tài sản chung) rồi mới thông báo cho đồng sở hữu chung để họ thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án phân chia tài sản, thông báo cho người được thi hành án hoặc Chấp hành viên sẽ yêu cầu Tòa án phân chia tài sản, việc xử lý tài sản chỉ được thực hiện khi có quyết định của Tòa án. Quan điểm thứ hai cho rằng: Chấp hành viên thực hiện việc thông báo cho đồng sở hữu chung để họ thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án phân chia tài sản, thông báo cho người được thi hành án hoặc Chấp hành viên sẽ yêu cầu Tòa án phân chia tài sản, Chấp hành viên chỉ ra quyết định kê biên tài sản của người phải thi hành án khi có quyết định của Tòa án về việc xác định phần sở hữu của người phải thi hành án. Quan điểm thứ nhất có một số ưu điểm. Trước hết, đó là đảm bảo rõ ràng thứ tự ưu tiên thanh toán tiền thi hành án theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 47 Luật Thi hành án dân sự, theo đó, thứ tự ưu tiên được xác định bởi thời điểm có quyết định cưỡng chế thi hành án. Do đó, việc Chấp hành viên ban hành quyết định kê biên trước sẽđảm bảo thứ tự ưu tiên thanh toán cho người được thi hành án. Đồng thời, cách giải quyết theo quan điểm này cũng góp phần nâng cao trách nhiệm của người dân trong việc thi hành án, tránh tình trạng các đương sự lợi dụng việc chưa xác định được phần tài sản của người phải thi hành trong khối tài sản chung để trốn tránh hoặc kéo dài thời gian thi hành án. Tuy nhiên, việc kê biên tài sản chung trước rồi mới thông báo cho các đồng sở hữu thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa giải quyết phần sở hữu thì trong trường hợp có kết quả thỏa thuận hoặc có phán quyết của Tòa án thì Chấp hành viên lại phải thu hồi lại quyết định kê biên đã ban hành và ra quyết định kê biên mới tương ứng với phần tài sản của người phải thi hành án. Việc phải thu hồi quyết định kê biên có thể sẽ dẫn đến đơn thư khiếu nại phức tạp hoặc thậm chí yêu cầu bồi thường. Trong trường hợp này, quan điểm thứ hai hợp lý hơn, bởi vì: Thứ nhất, cưỡng chế thi hành án dân sự là biện pháp cưỡng bức bắt buộc của cơ quan thi hành án do Chấp hành viên quyết định theo thẩm quyền quy định nhằm buộc người phải thi hành án phải thực hiện những hành vi hoặc nghĩa vụ về tài sản theo bản án, quyết định của Tòa án, được áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện thi hành trong thời hạn do Chấp hành viên ấn định, hoặc trong trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án tẩu tán, hủy hoại tài sản. Như vậy, cưỡng chế thi hành án dân sự là việc Chấp hành viên trong thực thi công vụ đã sử dụng quyền lực nhà nước để buộc người phải thi hành án thi hành nghĩa vụ mà bản án, quyết định đã tuyên. Do đó, Chấp hành viên chỉ được áp dụng biện pháp cưỡng chế khi người phải thi hành án có điều kiện thi hành án và đã hết thời gian tự nguyện thi hành án hoặc trong trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án tẩu tán, hủy hoại tài sản. Vì vậy, về nguyên tắc Chấp hành viên chỉ được áp dụng biện pháp cưỡng chế đồi với tài sản của người phải thi hành án để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án của họ mà không được kê biên tài sản của người không có nghĩa vụ thi hành án (trừ một số trường hợp theo luật định). Thứ hai, việc xác định phần sở hữu của người phải thi hành án trong khối tài sản chung được thực hiện theo nguyên tắc thỏa thuận giữa các đồng sở hữu chung hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự. Trường hợp các đồng sở hữu không thỏa thuận được việc phân chia quyền sở hữu trong khối tài sản chung thì trách nhiệm và thời hạn để những người có quyền và nghĩa vụ liên quan (người đồng sở hữu, người được thi hành án, Chấp hành viên) thực hiện việc yêu cầu Tòa án xác định quyền sở hữu của người phải thi hành án trong khối tài sản chung được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 74 Luật Thi hành án dân sự và khoản 9 Điều 27 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Thứ ba, mặc dù tại điểm c Khoản 2, Điều 24 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 đã giao Chấp hành viên xác định phần tài sản của người phải thi hành án trong 02 trường hợp đó là: (i)tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng chung của vợ, chồng; (ii) tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng đất chung của hộ gia đình. Tuy nhiên, 02 trong trường hợp trên, sau khi xác định được phần quyền sở hữu, quyền sử dụng của người phải thi hành án thì Chấp hành viên phải thông báo cho đồng sở hữu biết. Trường hợp vợ hoặc chồng hoặc các thành viên hộ gia đình không đồng ý với việc xác định của Chấp hành viên thì có quyền yêu cầu Tòa án phân chia tài sản chung trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được thông báo hợp lệ. Hết thời hạn này mà không có người khởi kiện thì Chấp hành viên tiến hành kê biên, xử lý tài sản. Như vậy, quy định tại điểm c Khoản 2, Điều 24 của Nghị định số 62/2015/NĐ-CP cũng khẳng định là phải xác định phần sở hữu của người phải thi hành án rồi mới thực hiện việc kê biên, xử lý tài sản. Kê biên tài sản để đảm bảo thi hành án dân sự trong trường hợp tài sản đã chuyển nhượng sau khi có bản án, quyết định của Tòa án Việc ra quyết định kê biên tài sản để đảm bảo thi hành án đối với những tài sản đã bị chuyển nhượng sau khi có bản án, quyết định của Tòa án trên thực tế hiện nay đang gặp phải nhiều vướng mắc do có sự mâu thuẫn của pháp luật. Và vấn đề bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba ngay tình đã nhận chuyển nhượng tài sản này cũng đang còn ý kiến trái chiều. Cơ quan thi hành án có áp dụng biện pháp kê biên nhưng việc xử lý tài sản kê biên này rất hãn hữu và kéo theo đó là hàng loạt các đơn thư khiếu nại, tố cáo gay gắt, kéo dài mà chưa có hướng xử lý. Nguyên nhân vướng mắc trong việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự Nguyên nhân chủ quan Trần Công Thịnh (2008), “Thực tiễn áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản để thi hành án dân sự và một số khuyến nghị” tạp chí khoa học ĐHQGHN, kinh tế - luật, năm 2008. - Thứ nhất: Một bộ phận cán bộ, công chức làm công tác thi hành án dân sự có trình độ chuyên môn chưa đáp ứng được yêu cầu của nhiệm vụ trong tình hình mới. - Thứ hai: Nhiều trường hợp Chấp hành viên chưa thực sự tích cực, quyết liệt đối với những vụ việc phức tạp, khó khăn; ngại khó, ngại va chạm Tại Điều 14 Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 đã quy định: “Chấp hành viên có trách nhiệm thi hành đúng nội dung bản án, quyết định dân sự, áp dụng đúng đắn các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục thi hành án đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của nhà nước và đương sự”. Đồng thời, Pháp lệnh Thi hành án dân sự cũng quy định cho Chấp hành viên nhiều quyền năng để tổ chức thi hành án, trong đó có quyền ra quyết định cưỡng chế nói chung và cưỡng chế kê biên tài sản nói riêng để thi hành án. Nhưng trên thực tế, vẫn còn hiện tượng chấp hành viên chưa tích cực tổ chức thi hành án; ngại va chạm, nên không sử dụng các biện pháp mạnh để tổ chức thi hành dứt điểm bản án. - Thứ ba: Vẫn còn trường hợp Chấp hành viên gây sách nhiễu, vòi vĩnh đương sự, gây cản trở hoạt động thi hành án, làm xói mòn lòng tin của nhân dân vào các đường lối, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước. Nguyên nhân khách quan - Chế độ đãi ngộ đối với Chấp hành viên, cán bộ, công chức làm công tác thi hành án dân sự chưa hợp lý Việt Hòa, “Khó trừ vào thu nhập của người phải thi hành án”, báo pháp luật Trong những năm gần đây, tình trạng chấp hành viên của cơ quan Thi hành án các nơi xin nghỉ việc cũng như muốn chuyển công tác khác có xu hướng gia tăng. Theo thống kê sơ bộ, trong năm 2007, toàn ngành thi hành án Thành phố Hồ Chí Minh có 19 người xin nghỉ việc hoặc chuyển công tác khác; 02 trưởng thi hành án quận huyện và nhiều chấp hành viên xin thôi làm nhiệm vụ thi hành án để được làm công tác hành chính. Ngoài ra còn có hàng chục cử nhân luật xin chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn. Nhiều sinh viên cho biết họ không muốn làm ngành thi hành án vì ngoài mức lương nhà nước cơ bản của cán bộ công chức không còn khoản nào khác nên không đủ sống. Nhiều người tạm thời chấp nhận làm cán bộ, chuyên viên thi hành án để chờ cơ hội học nghề và sẵn sằng bỏ nghề để trở thành luật sư hoặc tìm được công việc lương cao hơn. Vừa qua Thi hành án Thành phố Hồ Chí Minh muốn tổ chức thi tuyển 51 người nhưng lại không đủ số lượng dự tuyển theo yêu cầu gấp đôi số cần tuyển (phải ít nhất là 102 người) nên chưa thể tổ chức thi tuyển. Thậm chí cả khi Uỷ ban Nhân dân (UBND) thành phố chấp nhận cho tuyển cán bộ công chức có hộ khẩu tạm trú dài hạn tại địa phương (KT3) nhưng vẫn không tuyển đủ số lượng. Không có nhiều sinh viên luật tốt nghiệp muốn dự tuyển vì đặc trưng của ngành rất phức tạp và mang tính rủi ro cao. Người phải thi hành án chây ỳ, chống đối, cản trở việc thi hành án Việt Hòa, “Khó trừ vào thu nhập của người phải thi hành án”, báo pháp luật Qua thực tiễn tổ chức thi hành án dân sự trong hơn 14 năm qua cho thấy, trong quá trình thi hành án, quyền, lợi ích hợp pháp của các bên đương sự và những người có quyền, lợi ích liên quan trực tiếp bị ảnh hưởng, nhất là đối với những người phải thi hành án. Lúc này các quyền về nhân thân (thi hành án buộc làm hoặc không được làm một công việc), quyền về tài sản và tài sản (thi hành nghĩa vụ về tài sản) của người phải thi hành án đã trực tiếp bị tác động. Nếu họ không tự nguyện thi hành nghĩa vụ, chấp hành viên sẽ áp dụng các biện pháp cưỡng chế để buộc họ phải thực hiện theo đúng nội dung bản án, quyết định của Toà án vì lợi ích của người được thi hành án. Do đó, trong giai đoạn này, người phải thi hành án thường tìm mọi cách để trì hoãn, trốn tránh việc thi hành án, làm cho việc thi hành án trở nên khó khăn, phức tạp, nhất là những trường hợp người phải thi hành án chưa thoả mãn với kết quả giải quyết của Toà án và các cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp Xin đưa ra đơn cử một ví dụ: Theo bản án số 31/DSST ngày 21/04/2001 của Toà án nhân dân huyện H thì ông Nguyễn Ngọc H phải trả lại cho ông Trần Hải Q 25m2 đất theo quyết định của bản án. Sau nhiều lần động viên, thuyết phục nhưng ông H vẫn không tự nguyện thi hành, để thi hành dứt điểm bản án trên, cơ quan thi hành án huyện T đã lên kế hoạch chuẩn cưỡng chế thi hành án đối với ông H. Khi cơ quan thi hành án huyện T báo, người nhà ông H cho biết thời gian qua ông H thua cá độ phải vay nợ một số tiền lớn không có khả năng trả được, nên bỏ đi, hiện không rõ địa chỉ (ông H ly hôn vợ, do hai chồng sống với nhau lâu năm mà không có con, ngôi nhà hiện nay do Toà án giao cho ông H quản lý, sử dụng khi ly hôn vợ). Việc tổ chức cưỡng chế phải dừng lại do người được thi hành án vắng mặt. Từ đó đến nay, gia đình ông H cũng không có tin tức gì của ông. Vụ việc kéo dài đến nay vẫn chưa giải quyết dứt điểm được. Mối quan hệ phối hợp trong công tác thi hành án Nhìn chung các cơ quan hữu quan tuy đã thực hiện các quy định của pháp luật về việc phối hợp hoặc trách nhiệm trong công tác THADS. Nhưng cũng còn nhiều trường hợp quy định trên của pháp luật không được thực hiện đầy đủ như việc thực hiện không tốt quyền yêu cầu hoãn, tạm đình chỉ thi hành án. Trong thực tế, có nhiều trường hợp, sau khi bản án, quyết định được tuyên, Toà án chậm hoặc không chuyển giao cho cơ quan thi hành án để thi hành, hoặc chuyển giao bản án, nhưng không chuyển giao tang vật, tài sản kèm theo, gây khó khăn cho việc thi hành án. Trách nhiệm phối hợp, hỗ trợ của chính quyền địa phương đặc biệt là UBND cấp xã trong việc thi hành án trên thực tế thì sự phối hợp đó tỏ ra rất mờ nhạt từ phía UBND địa phương. Ngoài ra, công tác bảo vệ cưỡng chế thi hành án có nơi chưa tốt, lực lượng cảnh sát còn có thái độ ngần ngại, né tránh tham gia và còn có sự can thiệp yêu cầu hoãn thi hành án tùy tiện của một số chủ thể có quyền, dẫn đến ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả của công tác THADS. Như vậy, việc phối hợp với các cơ quan thi hành án để thực hiện thi hành án đạt kết quả cao là trách nhiệm của mọi chủ thể mà pháp luật đã quy định. Tuy nhiên, việc phối hợp giữa các cơ quan hữu quan đôi lúc đôi nơi chưa được thật sự phối hợp một cách gắn kết, nhịp nhàng và thống nhất. Chúng tôi xin đưa ra một ví dụ sau để minh họa: Theo Pháp lệnh THADS 2004, cơ quan thi hành án dân sự có thể uỷ quyền cho Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản hoặc tự mình bán tài sản để thi hành án. Tài sản được bán đấu giá để thi hành án có thể là tang vật, tài vật được tuyên tịch thu sung công ngay trong bản án, quyết định của Toà án; tài sản do cơ quan thi hành án kê biên để đảm bảo thi hành án Người mua hoặc nhận tài sản để thi hành án có thể là cá nhân, cơ quan hoặc tổ chức Khoản 1 Điều 49 Pháp lệnh THADS 2004 quy định: “Người mua được tài sản thi hành án, người nhận tài sản để thi hành án được pháp luật công nhận và bảo vệ quyền sở hữu đối với tài sản đó”. Mặc dù pháp lệnh quy định rõ ràng như vậy, nhưng trong thực tế, còn có nhiều trường hợp người mua hoặc nhận tài sản để thi hành án đã gặp không ít khó khăn khi đi đăng ký quyền sở hữu tài sản của mình, thường gặp nhất là trong các lĩnh vực nhà đất, ô tô, xe máy Cơ quan chức năng khi thực hiện việc đăng ký quyền sở hữu tài sản cho các trường hợp này thường yêu cầu người đi đăng ký phải xuất trình “ hồ sơ gốc” của tài sản đó mới cho đăng ký. Thực tế cho thấy không phải bất kỳ trường hợp nào tài sản do cơ quan thi hành án đưa ra bán để thi hành án cũng đều có đầy đủ hồ sơ gốc. Ví dụ như tài sản bị tuyên tịch thu sung công nhưng không rõ nguồn gốc chủ sở hữu; tài sản cơ quan thi hành án cưỡng chế kê biên thi hành án, nhưng người bị kê biên cố tình không giao nộp hoặc tiêu huỷ hồ sơ gốc của tài sản này Trong những trường hợp như vậy, cơ quan thi hành án dân sự không thể nào đưa tài sản kê biên ra bán đấu giá với đầy đủ hồ sơ gốc. Xin nêu một trường hợp cụ thể để minh chứng: Trong một vi phạm an toàn giao thông đường bộ, Quyết định phúc thẩm hình sự cố 24/QĐPT ngày 25/01/2005 của toà phúc thẩm toà án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng đã tuyên tiếp tục kê biên quy trữ xe môtô biển số 60H7 – 4678 của Lê Triệu Nhật Phi để bảo đảm thi hành khoản tiền bồi thường cho người bị hại (kèm theo 01 giấy chứng nhận xe đứng tên Phạm Thị Kim Oanh). Trong quá trình xử lý bán chiếc xe môtô này để thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự đã thực hiện đúng và đầy đủ các thủ tục do pháp luật quy định. Nhưng khi người mua được xe là ông Nguyễn Văn Quyền (165 Trần Cao Vân, thị xã Tam kỳ) đến phòng cảnh sát giao thông công an Tỉnh Đồng Nai, cơ quan thi hành án dân sự tỉnh Quảng Nam liên hệ làm việc với phòng cảnh sát giao thông công an tỉnh Đồng Nai xin rút hồ sơ về để làm thủ tục trước bạ cho người mua thì bị cơ quan này từ chối và hướng dẫn ngược lại rằng, phòng cảnh sát giao thông công an tỉnh Quảng Nam phải làm thủ tục sang tên trước bạ cho người mua trước, sau đó có công văn yêu cầu chuyển hồ sơ để lưu thì phòng cảnh sát giao thông công an tỉnh Đồng Nai mới cho rút hồ sơ. Như vậy cùng một sự việc nhưng hai cơ quan cảnh sát giao thông ở hai tỉnh lại có hai cách giải quyết không giống nhau. Nơi này có yêu cầu hồ sơ gốc mới cho trước bạ sang tên, nơi kia lại bảo trước bạ sang tên rồi mới cho rút hồ sơ gốc. Khoản 2 Điều 49 Pháp lệnh THADS năm 2004 quy định: “Cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm thực hiện thủ tục chuyển quyền sở hữu cho người mua, người nhận tài sản để thi hành án theo quy định của pháp luật”. Và khoản 3 điều này cũng quy định hồ sơ chuyển quyền sở hữu gồm có: a. Bản sao bản án, quyết định; b. Quyết định thi hành án, quyết định kê biên tài sản; c. Văn bản bán đấu giá thành hoặc biên bản giao nhận tài sản để thi hành án; d. Các giấy tờ khác liên quan đến tài sản (nếu có). Như vậy, có thể nói, không chỉ riêng trường hợp chiếc xe môtô được nêu ra làm ví dụ trên đây, mà bất kỳ tài sản nào khác được cơ quan thi hành án dân sự đưa ra bán đấu giá (hoặc xử lý theo quy định của pháp luật) để thi hành án, thì hồ sơ cơ quan thi hành án dân sự cung cấp cho người mua hoặc người nhận tài sản để thi hành án (gồm các loại giấy tờ như trên) phải được coi như “hồ sơ gốc”. Với hồ sơ này, người mua hoặc nhận tài sản để thi hành án có quyền được đăng ký quyền sở hữu tài sản của mình. Cơ quan có thẩm quyền không được từ chối đăng ký cũng như cũng như không có quyền đòi hỏi thêm bất kỳ giấy tờ nào khác ngoài các giấy tờ được cơ quan thi hành án dân sự cung cấp theo quy định của pháp luật. Trường hợp đăng ký sang tên trước bạ chiếc xe môtô nói trên, chúng tôi cho rằng, phòng Cảnh sát giao thông Đồng Nai hướng dẫn đúng. Mỗi cơ quan trong hệ thống bộ máy nhà nước đều được phân định chức năng, nhiệm vụ rõ ràng cho nên sai ở khâu nào, người nào, thì khâu đó, người đó phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Tác giả cho rằng việc chuyển giao quyền sở hữu cho người mua hoặc nhận tài sản để thi hành án hay gặp phải những vướng mắc như trên không phải vì cơ chế pháp lý còn thiếu hay không rõ ràng, mà vì chính một số cơ quan chức năng quá “ lo xa” sợ rằng cơ quan thi hành dân sự không làm đúng pháp luật. Chính sự “lo xa” không cần thiết này, đã làm cho trường hợp người mua hoặc nhận tài sản do cơ quan thi hành án giao gặp không ít khó khăn khi đăng ký sang tên trước bạ. Đây cũng là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng làm hạn chế kết quả thi hành án dân sự trong thời gian qua. Mong rằng cơ quan thi hành án dân sự nói riêng và ngành Tư pháp nói chung, cần chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng liên quan để bàn bạc, trao đổi đi đến thống nhất hướng xử lý chung cho việc đăng ký quyền sở hữu cho người mua hoặc nhận tài sản để thi hành án, tránh những vưỡng mắc không cần thiết như hiện nay. Người phải thi hành án không có khả năng để thi hành án Người phải thi hành án không có tài sản, thu nhập hợp pháp để thi hành án hoặc không xác định được nơi cư trú của đương sự; đặc biệt đối với trường hợp người phải thi hành án đang chấp hành hình phạt tù, không có tài sản; người phải thi hành án có tài sản nhưng giá trị nhỏ không đáng kể để thi hành án, hoặc chỉ có tài sản để kê biên, phát mãi nhưng không bán được, mà người được thi hành án không đồng ý nhận để trừ vào số tiền được thi hành án và người phải thi hành án không còn tài sản nào khác. Người phải thi hành nghĩa vụ giao vật đặc định mà vật đó đã mất, hư hỏng mà hai bên không thoả thuận được về phương thức thanh toán. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động cưỡng chế thi hành án dân sự Từ những nghiên cứu về mặt lý luận cũng như việc đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật, chỉ ra những vướng mắc, bất cập trong việc áp dụng biện pháp cưỡng thi hành án Dân sự, chúng tôi xin kiến nghị như sau: 3.1. Về cơ chế quản lý công tác thi hành án Trần Công Thịnh (2008), “Thực tiễn áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản để thi hành án dân sự và một số khuyến nghị” tạp chí khoa học ĐHQGHN, kinh tế - luật, năm 2008. Đổi mới cơ chế quản lý công tác thi hành án, tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan hữu quan trong công tác thi hành án đặc biệt là trong trường hợp cưỡng chế thi hành án. Công tác thi hành án cần thống nhất về một mối, bởi lẽ việc đổi mới cơ chế quản lý công tác thi hành án hiện nay là một vấn đề có tính chiến lược, nằm trong quá trình cải cách tư pháp, cải cách hành chính. Việc đổi mới cơ chế nhằm đảm bảo sự quản lý thống nhất về tổ chức, cơ chế hoạt động, công tác hướng dẫn chỉ đạo chuyên môn tập trung lực lượng cán bộ và chuyên môn hóa cán bộ, tăng cường cơ sở vật chất là nhằm khắc phục những vướng mắc, bất cập, tình trạng phân tán, xé lẻ trong hoạt động thi hành án, mà chúng tôi đã đề cập trong phần trên. 3.2. Về xây dựng pháp luật Những tồn tại cơ bản của việc áp dụng biện pháp cưỡng thi hành án dân sự được xem xét trong mối quan hệ với hiện trạng pháp luật về thi hành án như là một nguyên nhân chính bên cạnh những nguyên nhân khác. Do đó, để nâng cao hiệu quả của việc áp dụng biện pháp cưỡng trước hết chúng ta cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật về thi hành án nói chung và các quy định của pháp luật về cưỡng chế kê biên tài sản nói riêng, Luật thi hành án cần có sự đối chiếu các quy định về kê biên tài sản giữa các văn bản này. Để khắc phục mâu thuẫn giữa các văn bản, bổ sung những khoảng trống các quy định của từng văn bản cũng như giữa các văn bản với nhau Ngoài ra, cần quy kết trách nhiệm một cách rõ ràng với CHV tiến hành KBTS nhất là trong việc xác minh tài sản của người phải thi hành án, bởi không làm tốt việc này nó sẽ ảnh hưởng tới các công việc tiếp theo của kê biên, dẫn đến việc KBTS không đạt hiệu quả, hoặc đạt hiệu quả không cao. 3.3. Về thực hiện các quy định pháp luật cưỡng chế thi hành án dân sự Trần Công Thịnh (2008), “Thực tiễn áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản để thi hành án dân sự và một số khuyến nghị” tạp chí khoa học ĐHQGHN, kinh tế - luật, năm 2008. Hiện nay, chúng ta đang xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa vì thế công việc thực hiện pháp luật đòi hỏi phải bảo đảm pháp chế nghĩa là không những tăng cường hoàn thiện hệ thống pháp luật mà còn đảm bảo cho pháp luật ấy đi vào cuộc sống cụ thể trong thi hành án để nâng cao hiệu quả của việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế. Trước hết cần phải có cơ chế phối hợp giữa các cơ quan thi hành án và các cơ quan chức năng khác trong công tác cưỡng chế thi hành án nhằm đảm bảo tính khoa học cũng như hiệu quả của công việc. Đồng thời, tăng cường công tác tuyên truyền, giải thích pháp luật, thuyết phục đương sự tự nguyện thi hành án và chỉ cưỡng chế khi cần thiết. Như phân tích trên, chúng ta thấy thực tiễn việc áp dụng biện pháp cưỡng chế THADS rất phức tạp. Từ đó cần có sự nhận thức một cách đúng đắn về những thành quả đạt được và những vấn đề vướng mắc còn tồn tại để có giải pháp khắc phục, đồng thời hoàn thiện về mặt pháp luật về cưỡng chế thi hành án nói riêng, THADS nói chung góp phần vào công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay. Việc cưỡng chế thi hành án đã tiến hành thuận lợi nghĩa là phần nào chúng ta đã thực hiện việc bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước, tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân cũng có nghĩa là góp phần vào việc tăng cường bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa. 3.4. Một số đề xuất khác 3.4.1. Triển khai sâu rộng việc tin học hoá hoạt động quản lý, điều hành thi hành án dân sự: Triển khai hộp thư điện tử, đào tạo sử dụng, khai thác các cơ sở dữ liệu THADS nói riêng và khai thác dữ liệu trên Internet nói chung cho THADS địa phương, triển khai việc gửi báo cáo, văn bản bằng thư điện tử xây dựng phần mềm thống kê kết quả thi hành án dân sự 3.4.2. Thực hiện tiêu chuẩn hoá đội ngũ cán bộ cơ quan thi hành án; xây dựng và thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên về chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ làm công tác thi hành án, đảm bảo các chấp hành viên trước khi bổ nhiệm phải qua đào tạo nghề. Sớm ban hành chế độ chính sách đãi ngộ với chấp hành viên và cán bộ thi hành án, trước mắt là chế độ bồi dưỡng đối với cán bộ thi hành án như với thư ký toà án (hiện mới chỉ có chế độ bồi dưỡng đối với Chấp hành viên). 3.4.3. Đáp ứng đầy đủ và kịp thời kinh phí hoạt động cho cơ quan thi hành án. Tiếp tục tăng cường cơ sở vật chất, phương tiện hoạt động, đặc biệt là xây dựng trụ sở, hệ thống kho tàng tài vật của các cơ quan thi hành án. 3.4.4. Tăng cường công tác giải thích pháp luật, thường xuyên tổ chức việc tuyên truyền, giáo dục thuyết phục đương sự tự nguyện chấp hành; chỉ tiến hành cưỡng chế trong trường hợp bất đắc dĩ; tăng cường sự giám sát của nhân dân.. KẾT LUẬN Hiện nay, chúng ta đang xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đòi hỏi sự tôn trọng pháp luật từ mọi chủ thể, ngược lại quyền và lợi ích của mọi cá nhân, tổ chức cần phải được bảo vệ tối đa bằng pháp luật. Khi quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm thì chủ thể đó có quyền gửi đơn đến Tòa án để yêu cầu giải quyết, hoạt động xét xử phải kịp thời, nghiêm minh, đúng pháp luật. Đồng thời, các phán quyết của Tòa án phải được thi hành nghiêm chỉnh, triệt để, kịp thời mới bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự. Công tác THA dân sự nói chung và các BPCC THA dân sự nói riêng cũng chỉ nhằm mục đích chung nói trên. Hiệu quả của việc cưỡng chế là cơ sở, tiền đề cho sự thành công của một vụ THA dân sự khi đương sự không tự nguyện thi hành. Song qua nghiên cứu về vấn đề này, có thể thấy rằng trong quá trình áp dụng BPCC THA dân sự để THA gặp rất nhiều khó khăn, nhiều nguyên nhân khác nhau gây cản trở cho việc cưỡng chế. Cụ thể như: cơ chế quản lý, hoạt động THA dân sự còn chồng chéo, sự phối hợp giữa các cơ quan tổ chức trong việc cưỡng chế còn chưa tốt, các quy định của pháp luật về BPCC THA dân sự chưa chặt chẽ, còn có thiếu sót. Nhưng dù nguyên nhân nào đi nữa thì thực tế là quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự đang không được đảm bảo trong quá trình THA. Qua nghiên cứu, tác giả nhận thấy rằng: cần đổi mới cơ chế quản lý hoạt động THA dân sự; Tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan hữu quan trong tổ chức cưỡng chế THA dân sự. Về mặt pháp luật, nên hoàn thiện hệ thống pháp luật về THA dân sự nhất là quy định của pháp luật về BPCC THA dân sự. Ngoài ra, chúng ta phải tăng cường năng lực, phẩm chất, tinh thần trách nhiệm của đội ngũ người có thẩm quyền THA; Tích cực tuyên truyền phổ biến pháp luật về THA dân sự để các đương sự tự nguyện thỏa thuận thi hành và cơ quan THA dân sự có thể tranh thủ được sự giúp đỡ, phối hợp của cá nhân, tổ chức hữu quan trong suốt quá trình THA. Tóm lại, thực tiễn việc áp dụng BPCC THA dân sự rất phức tạp mà bản thân nó lại có vai trò và ý nghĩa rất lớn đối với công tác THA dân sự hiện nay. Từ đó cần có sự nhận thức một cách đúng đắn về những thành quả đạt được và những vấn đề vướng mắc còn tồn tại để có giải pháp khắc phục, đồng thời hoàn thiện về mặt pháp luật về THA dân sự nói chung và, BPCC THA dân sự nói riêng góp phần vào công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO Văn bản pháp luật 1. luật THA dân sự 2008 2. Nghị Định 58/NĐ-CP ngày 13/07/2009 3. NĐ 166/NĐ-CP quy định về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chinh 4. Báo cáo 15/BC-BTP tổng kết tư pháp 2013 và phương hướng, nhiệm vụ giải pháp chủ yếu công tác 2014 5. Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các VADS 1989. 6. Pháp lệnh THADS 1989,1993,2004 10. Pháp lệnh số 13/2004/PL-UBTVQH ngày 14/01/2004 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về thi hành án dân sự. 7. Quyết định số 1145/2005/QĐ-BTP ngày 18/05/2005 của Bộ trưởng Bộ tư pháp về việc ban hành Quy chế làm việc của Hội đồng tuyển chọn Chấp hành viên Cơ quan thi hành án dân sự. 8. Quyết định số 1148/2005/QĐ-BTP ngày 18/05/2005 của Bộ trưởng Bộ tư pháp về việc ban hành Quy chế uỷ quyền quản lý một số mặt công tác tổ chức, cán bộ của Thi hành án dân sự tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Thi hành án quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh cho Giám đốc Sở tư pháp 9. Nghị định 30/NĐ-CP ngày 02/06/1993 của Chính phủ về Tổ chức nhiệm vụ của cơ quan quản lý công tác THADS. 10. Nghị định 69/1993/NĐ-CP ngày 18/10/1993 của Chính phủ quy định về Thủ tục THADS. 11. Nghị định số 173/2004/NĐ-CP ngày 30/09/2004 của Chính phủ quy định về thủ tục, cưỡng chế và xử phạt vi phạm hành chính trong thi hành án dân sự. 12. Nghị định 05/2005/NĐ-CP ngày 18/01/2005 của Chính phủ ban hành quy chế bán đấu giá tài sản. 13. Nghị định số 50/2005/NĐ-CP ngày 11/04/2005 của Chính phủ quy định về Cơ quan quản lý thi hành án dân sự, Cơ quan thi hành án dân sự và cán bộ, công chức làm công tác thi hành án dân sự. Sách, báo, tạp chí 1. Ths. Trần Phương Thảo (2007) “các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự”, Tạp chí luật học số 07/2007 tr 43, 44 2. Đại Học Vinh (2011), Giáo trình luật thi hành án dân sự , (hệ đào tạo từ xa) 3. Trần Công Thịnh (2008), “Thực tiễn áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên tài sản để thi hành án dân sự và một số khuyến nghị” tạp chí khoa học ĐHQGHN, kinh tế - luật, năm 2008. 4. Việt Hòa, “Khó trừ vào thu nhập của người phải thi hành án”, báo pháp luật 5. Ths. Lê Thị Lệ Duyên (2013), “Những vướng mắc trong phối hợp thực hiện quy định về cưỡng chế trả giấy tờ”- Tạp chí dân chủ và pháp luật 6. Chuyên đề tổ chức và hoạt động THADS - Thực trạng và phương hướng đổi mới của Viện nghiên cứu KHPL – BTP – 1999. 7. Chuyên đề về thừa phát lại của Viện nghiên cứu KHPL, 1999. 8. Đổi mới Tổ chức Cơ quan thi hành án – Hoàng Thọ Khiêm, Nhà xuất bản Tư pháp năm 2006 9. Giáo trình Luật Tố tụng dân sự năm 2007 của Học viện tư pháp 10. Tài liệu Hội thảo về Tư pháp dân sự trong thời kỳ đổi mới (2000) 11. Tạp chí Luật học - Đại học Luật Hà Nội, số 2,4,5/1999. 32. Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 11/2005; số 06, 08, 10/2006; số chuyên đề 04, 11/2007 Trang web 2.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docxde_tai_cac_bien_phap_cuong_che_trong_thi_hanh_an_dan_su_nguy.docx
Luận văn liên quan