Đề tài Gói kích cầu của chính phủ và những tác động của nó đến nền kinh tế Việt Nam 6 tháng đầu năm 2009

Nội dung đề tài được chia làm 5 chương: CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KÍCH CẦU CHƯƠNG II : BỐI CẢNH VIỆT NAM KHI THỰC HIỆN GÓI KÍCH CẦU CHƯƠNG III : HIỆU QUẢ ĐẠT ĐƯỢC TỪ CHÍNH SÁCH KÍCH CẦU CỦA CHÍNH PHỦ TRONG 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2009 CHƯƠNG IV : HẠN CHẾ TRONG CHÍNH SÁCH KÍCH CẦU CỦA CHÍNH PHỦ CHƯƠNG V: GIẢI PHÁP ĐỂ GÓI KÍCH CẦU HIỆU QUẢ HƠN Trong đề tài này, chúng em sử dụng các phương pháp chủ yếu là tham khảo ý kiến và thực tế, sau đó tiến hành đánh giá, so sánh nhằm tìm hiểu thêm về gói kích cầu này của chính phủ.

doc19 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Lượt xem: 6018 | Lượt tải: 20download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Gói kích cầu của chính phủ và những tác động của nó đến nền kinh tế Việt Nam 6 tháng đầu năm 2009, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
LỜI MỞ ĐẦU Theo Quỹ tiền tệ quốc tế ( IMF), nền kinh tế thế giới năm 2009 sẽ tồi tệ nhất trong 60 năm qua. Do đó, một trong những vấn đề được chính phủ các quốc gia quan tâm nhất hiện nay là những chính sách phát triển kinh tế nhằm đưa quốc gia thoát khỏi tình hình khủng hoảng. Bởi thế trong hai năm qua, kể từ sau cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, chính phủ Việt Nam đã rất nỗ lực, đưa ra những chính sách kinh tế thích hợp và kịp thời để bảo vệ nền kinh tế. Chính phủ đã thông qua gói kích cầu 8 tỷ USD (chiếm khoảng 12% GDP) gồm: giảm, giãn thuế; bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp (DN), thực hiện tài trợ lãi suất 4%, tăng đầu tư công... Bên cạnh đó là hàng loạt giải pháp về an sinh xã hội đã và đang được thực hiện như: điều chỉnh lương, bảo hiểm thất nghiệp, tài trợ việc làm. Và thật sự những chính sách này đã mang lại một kết quả khả quan cho nền kinh tế: GDP tháng 2 tăng 8,4%, tháng 3 tăng 2,3%, tháng 4 tăng 5,4%, tháng 5 tăng 6,8%, tháng 6 tăng 8,2%, theo Ngân hàng Thế giới, nửa đầu năm nay, Việt Nam là một trong 13 quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế dương. Một trong những biện pháp kinh tế được nhắc đến nhiều nhất hiện nay là gói kích cầu khổng lồ của chính phủ, bắt đầu thực hiện từ ngày 1/1/2009 với số vốn 143 nghìn tỷ đồng (xấp xỉ 8 tỷ USD) và 17 nghìn tỷ đồng (tương đương 1 tỷ USD) vốn vay có bảo lãnh và sẽ kết thúc vào ngày 31/12/2009. Đánh giá được tầm quan trọng của gói kích cầu này, chúng em quyết định chọn đề tài “gói kích cầu của chính phủ và những tác động của nó đến nền kinh tế VN 6 tháng đầu năm 2009” làm đề tài tiểu luận môn học Nội dung đề tài được chia làm 5 chương: CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KÍCH CẦU CHƯƠNG II : BỐI CẢNH VIỆT NAM KHI THỰC HIỆN GÓI KÍCH CẦU CHƯƠNG III : HIỆU QUẢ ĐẠT ĐƯỢC TỪ CHÍNH SÁCH KÍCH CẦU CỦA CHÍNH PHỦ TRONG 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2009 CHƯƠNG IV : HẠN CHẾ TRONG CHÍNH SÁCH KÍCH CẦU CỦA CHÍNH PHỦ CHƯƠNG V: GIẢI PHÁP ĐỂ GÓI KÍCH CẦU HIỆU QUẢ HƠN Trong đề tài này, chúng em sử dụng các phương pháp chủ yếu là tham khảo ý kiến và thực tế, sau đó tiến hành đánh giá, so sánh nhằm tìm hiểu thêm về gói kích cầu này của chính phủ. CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KÍCH CẦU 1. Khái niệm Kích cầu là biện pháp đẩy mạnh chi tiêu ròng của chính phủ (hay còn gọi tiêu dùng công cộng) để làm tăng tổng cầu, kích thích tăng trưởng kinh tế. 2. Biện pháp kích cầu Biện pháp kích cầu cụ thể có thể là giảm thuế hoặc tăng chi tiêu hoặc cả hai. Kích cầu thường chỉ được dùng khi nền kinh tế lâm vào trì trệ hay suy thoái, đang cần vực dậy. Kích cầu đặc biệt hay được sử dụng khi nền kinh tế rơi vào trạng thái bẫy thanh khoản, là khi mà chính sách tiền tệ trở nên mất hiệu lực vì lãi suất đã quá thấp. Kích cầu đôi khi còn được gọi là chính sách Keynes vì biện pháp này tác động tới tổng cầu. Trong cuốn Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ, John Maynard Keynes cũng nhắc đến việc "chi tiêu thâm hụt" khi cần thiết để giúp nền kinh tế khỏi suy thoái. Tư tưởng của Keynes là nếu cần, chính phủ có thể chi tiêu ngân sách mạnh đến mức dẫn tới thâm hụt cả ngân sách nhà nước để kích thích tổng cầu. Gói kích cầu được triển khai dựa trên cơ sở tác động trực tiếp đến các yếu tố cấu thành tổng cầu (C, I, G, NX ): Tiêu dùng C: Keynes cho rằng bộ phận quan trọng nhất và ổn định nhất trong tổng cầu là tiêu dùng . suy thoái kinh tế khiến người dân bị mất việc hay thu nhập bị giảm sút thì xu hướng cắt giảm tiêu dùng là tất yếu. tuy nhiên rõ ràng là những nhóm thu nhập khác nhau sẽ có “xu hướng tiêu dùng cận biên” không giống nhau. những nhóm người bị tổn thương nhiều nhất từ suy thoái sẽ cắt giảm chi tiêu nhiều nhất. Nếu giải pháp kích cầu nhắm vào các đối tượng phải “chạy ăn từng bữa”, đối tượng có xu hướng tiêu dùng cận biên cao nhất thì họ sẽ nhanh chóng trở lại mức tiêu dùng cũ khi thu nhập được phục hồi. Đầu tư I: theo Keynes, thành tố này của tổng cầu là nhạy cảm nhất. Tuy nhiên, ông nhấn mạnh rằng cầu đầu tư không hẳn chỉ phụ thuộc vào lãi suất mà về cơ bản là phụ thuộc vào tỷ lệ sinh lời cận biên của đầu tư. Trong thời kỳ suy thoái, lãi suất thấp cũng không nhất thiết trở thành một động lực quan trọng để kích thích đầu tư, và do vậy biện pháp “hỗ trợ lãi suất” chưa hẳn đã là biện pháp có hiệu lực cao trong đầu tư. Tính nhạy cảm của đầu tư nói lên rằng: khi nền kinh tế có tín hiệu phục hồi thì “bản năng động vật” ( animal spirit- thuật ngữ Keynes đã sử dụng) sẽ hình thành và tạo làn sóng đầu tư tư nhân, kích thích sự gia tăng sản lượng. Mặc dù gói kích cầu bao gồm các biện pháp chính sách có tác động về ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, tuy nhiên để ngăn chặn kịp thời suy giảm, phần lớn gói kích cầu phải được thực hiện trong thời gian ngắn. Do vậy, chỉ nên dành một phần không lớn giá trị của gói kích cầu cho các công trình mất nhiều thời gian mới đưa vào sử dụng. Chi tiêu chính phủ G: Theo công thức “số nhân chi tiêu” của Keynes, việc gia tăng vai trò và chi tiêu chính phủ đối với các dịch vụ công ( y tế, giáo dục…) sẽ giảm bớt gánh nặng đóng góp vào quá trình xã hội hoá của người dân. Người dân, đặc biệt là người có thu nhập thấp, cư dân nông thôn sẽ có nhiều tiền hơn cho tiêu dùng, đồng thời tiết kiệm và đầu tư tư nhân cũng có cơ hội tăng. Xuất nhập khẩu NX: Theo lý thuyết kinh tế vĩ mô, các hàm xuất khẩu và nhập khẩu đều phụ thuộc vào tỷ giá hối đoái. Một trong những nguyên nhân của tình trạng thâm hụt thương mại nặng nề là đồng bản tệ đã lên giá so với các đồng tiền của các đối tác thương mại chủ yếu. Điều này làm cho nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu. Để cải thiện cán cân thương mại và tăng hiệu lục của việc kích cầu đối với sản xuất trong nước, ngoài việc điều chỉnh giảm giá đồng nội tệ cần bổ sung thêm các biện pháp khác như tăng thuế tiêu thụ đặc biệt vào các mặt hàng xa xỉ. Như vậy, kích cầu chỉ là một trong những biện pháp của chính phủ liên quan đến chính sách tài khoá để đối phó với tình hình suy thoái. Nói cách khác, kích cầu là công cụ quan trọng nhất của chính sách kinh tế bên cạnh tác dụng bổ trợ của chính sách tiền tệ ( trong tình trạng lạm phát cao chính sách tiền tệ lại trở nên quan trọng). Trong hai loại biện pháp cụ thể là giảm thuế và tăng chi tiêu ngân sách nhà nước, biện pháp thứ hai được cho rằng có hiệu suất kích thích tổng cầu cao hơn. Việc sử dụng kích cầu như một công cụ chính sách để ổn định kinh tế vĩ mô nhận được cả sự ủng hộ lẫn phản đối. Cuộc tranh luận về hiệu quả kích cấu năm trong một cuộc tranh luận lớn hơn về hiệu quả của chính sách tài chính và cuộc tranh luận về giữa chính sách tài chính và chính sách tiền tệ thì đằng nào có hiệu suất bình ổn kinh tế vĩ mô cao hơn. Những người phản đối kích cầu đưa ra luận điểm rằng vì chính phủ không có khả năng xác định chính xác thời điểm, mục tiêu và lượng của gói kích cấu, nên Kích cầu không những không hiệu quả mà còn đem lại thâm hụt ngân sách nhà nước và hệ quả tiếp theo là nợ chính phủ gia tăng. Có luận điểm nữa cho rằng khi chính phủ phát hành trái phiếu để huy động tài chính cho kích cầu, lãi suất trên thị trường sẽ tăng lên làm ức chế đầu tư của xí nghiệp và tiêu dùng của cá nhân. Có luận điểm còn đi xa hơn, viện đến lý luận của Robert Barro (1974) về việc một chủ thể kinh tế điển hình có thể suy nghĩ rằng hôm nay chính phủ cho mình (có thể bằng giảm thuế hoặc chuyển khoản qua tăng chi tiêu chính phủ) tức là hôm nay chính phủ phải đi vay, ngày mai chính phủ phải trả nợ vay đó thì chính phủ sẽ lại lấy của mình bằng cách tăng thuế. Những người ủng hộ kích cầu và rộng hơn là ủng hộ chính sách tài chính thì cho rằng nền kinh tế tồn tại những cái bất hoàn hảo mà một trong số đó là người tiêu dùng - nhất là những người có thu nhập thấp - vì lý do này hay khác (chẳng hạn như vì không đủ thông tin, vì không có công cụ tài chính, vì không có dự tính duy lý, v.v...) không thể ổn định tiêu dùng của mình. Một bộ phận lớn dân cư là những người "có tiền trả thì mới dám tiêu dùng". Chính vì vậy, một sự cắt giảm thuế tạm thời hay chuyển khoản tài chính có thể giúp những người này ổn định tiêu dùng, và do đó ổn định kinh tế vĩ mô. 3. Những yêu cầu của biện pháp kích cầu Theo nhà kinh tế Lawrence Summers, để biện pháp kích cầu có hiệu quả thì việc thực hiện nó phải đảm bảo: đúng lúc, trúng đích và vừa đủ. Đúng lúc (timely) tức là phải thực hiện kích cầu ngay khi các doanh nghiệp chưa thu hẹp sản xuất và các hộ gia đình chưa thu hẹp tiêu dùng. Nếu thực hiện sớm quá, kích cầu có thể làm cho nền kinh tế trở nên nóng và tăng áp lực lạm phát. Nhưng nếu thực hiện chậm quá, thì hiệu quả của kích cầu sẽ giảm. Việc thực hiện kích cầu đúng lúc càng phải được chú ý nếu các quá trình chính trị và hành chính để cho một gói kích cầu được phê duyệt và triển khai là phức tạp. Thường thì chính phủ phải đệ trình quốc hội kế hoạch kích cầu và phải được cơ quan lập pháp tối cao này thông qua. Và, không phải lúc nào công việc này cũng suôn sẻ. Tuy nhiên, thách thức lớn nhất đối với việc thực hiện kích cầu đúng lúc chính là sự thiếu chính xác trong xác định thời điểm chuyên pha của chu kỳ kinh tế. Có trường hợp kinh tế đã chuyển hẳn sang pha suy thoái một thời gian rồi mà công tác thu thập và phân tích số liệu thống kê không đủ khả năng phán đoán ra. Trúng đích ( targeted) tức là hướng tới những chủ thể kinh tế nào tiêu dùng nhanh hơn khoản tài chính được hưởng nhờ kích cầu và do đó sớm gây ra tác động lan tỏa tới tổng cầu hơn; đồng thời hướng tới những chủ thể kinh tế nào bị tác động bất lợi hơn cả bởi suy thoái kinh tế. Thường thì đó là những chủ thể kinh tế có thu nhập thấp hơn. Người có thu nhập cao thường ít giảm tiêu dùng hơn so với người có thu nhập thấp trong thời kỳ kinh tế quốc dân khó khăn. Việc hỗ trợ các gia đình có thu nhập thấp để họ không phải giảm tiêu dùng hay thậm chí còn tăng tiêu dùng sẽ tạo ra hiệu ứng lan tỏa, kích thích doanh nghiệp mở rộng sản xuất và thuê mướn thêm lao động. Để kích cầu trúng đich, các nhà hoạch định chính sách thường dựa vào các mô hình kinh tế lượng để mô phỏng hiệu quả của gói kích cầu qua các kịch bản khác nhau tương ướng với các mục tiêu khác nhau, từ đó tìm ra mục tiêu hợp lý nhất. Vừa đủ (temprorary) tức là gói kích cầu sẽ hết hiệu lực khi nền kinh tế đã trở nên tốt hơn. Nếu gói kích cầu quá bé thì kích thích sẽ bị hụt hơi và tổng cầu có thể không bị kích thích nữa, khiến cho gói kích cầu trở thành lãng phí. Ngược lại gói kích cầu lớn qua tạo ra tác động kéo dài khiến cho nền kinh tế đã hồi phục mà vẫn trong trạng thái tiếp tục được kích thích thì sẽ dẫn tới kinh tế mở rộng quá mức, lạm phát tăng lên. Điều này càng được chú ý nếu ngân sách nhà nước và dự trữ ngoại hối nhà nước không dư dật. CHƯƠNG II : BỐI CẢNH VIỆT NAM KHI THỰC HIỆN GÓI KÍCH CẦU 1. Những thuận lợi và khó khăn của Việt Nam khi thực hiện gói kích cầu năm 2009 1.1. Thuận lợi Thứ nhất: Nhu cầu phát triển hạ tầng cơ sở, hạ tầng kỹ thuật và BĐS ở VN còn rất lớn. Đặc biệt, VN có dân số đông thì nhu cầu này đang trở nên cấp bách. Đây là thuận lợi đối với gói kích cầu hướng vào đầu tư của Chính phủ. Từ trước đến nay, tỉ trọng đầu tư của Chính phủ VN trong tổng đầu tư xã hội thuộc vào loại cao trên thế giới và được thực hiện thường xuyên nên hiện Nhà nước đã có sẵn các danh mục đầu tư đã được triển khai dở dang hoặc đang được phê duyệt. Khác với nhiều nước còn phải khảo sát, thiết kế từ đầu các dự án đầu tư công từ gói kích thích kinh tế thì VN đã có thể nhanh chóng lựa chọn các dự án phù hợp với mục tiêu và triển khai trên diện rộng.   Thứ hai: VN đã và đang thực hiện một số chương trình quốc gia về an sinh xã hội, trong đó Chính phủ đóng vai trò điều phối các nguồn lực. Đây là lợi thế lớn khi hướng gói kích cầu vào an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo. Thứ ba: Một lực lượng lớn lao động của VN nằm ở khu vực nông thôn và trong các DNNVV, chi phí tạo ra việc làm mới trong khu vực này rất thấp và sản phẩm đầu ra là những nhu yếu phẩm và hàng tiêu dùng thiết yếu có nhu cầu tương đối ổn định nên làm gia tăng hiệu quả việc làm và thu nhập của gói kích cầu. Thứ tư: Hệ thống NHTM VN không phải gánh chịu những tổn thất tài chính trực tiếp từ sự sụp đổ thị trường phái sinh toàn cầu. Vì vậy, một mặt Chính phủ không phải bơm tiền cứu trợ hệ thống NH, mặt khác vẫn duy trì được lòng tin của người gửi tiền. 1.2. Khó khăn Đó là thâm hụt ngân sách và thương mại kéo dài. Vì vậy, dư địa để mở rộng chính sách tài khóa để khôi phục tăng trưởng kinh tế là rất hạn chế, nếu kích cầu không ổn có thể gây bất ổn với cán cân thanh toán quốc tế và giá trị VND.Từ năm 2004 đến 2008, VN có tỉ lệ lạm phát khá cao. Lạm phát dự tính năm 2009 thấp do cầu yếu và giá nhiên - vật liệu có thể gây khó khăn nhất định cho việc mở rộng tiền tệ và thực hiện gói kích cầu bằng chính sách tài khóa. Tuy nhiên, nợ của Chính phủ và nợ nước ngoài của VN không lớn, chưa đáng lo ngại. VN có thể chấp nhận một mức thâm hụt ngân sách khá cao trong ngắn hạn và tìm cách ổn định dần trong dài hạn. Từ những điểm bất lợi trên, gói kích cầu của VN cần được thiết kế và triển khai thận trọng với quy mô nhỏ, lộ trình hợp lý, chỉ đạo thực hiện tập trung và khẩn trương. 2.QUY MÔ GÓI KÍCH CẦU 2. Thực hiện gói kích cầu như thế nào ? 2.1.Kích cầu bao nhiêu? Theo Báo cáo của Chính phủ, đến nay tổng gói kích cầu lên tới 143 nghìn tỷ đồng (xấp xỉ 8 tỷ USD) và 17 nghìn tỷ đồng (tương đương 1 tỷ USD) vốn vay có bảo lãnh. Trong đó, Chính phủ dành hỗ trợ lãi suất vay vốn tín dụng là 17 nghìn tỷ đồng; miễn giảm thuế thu nhập cá nhân, thuế VAT, thuế thu nhập doanh nghiệp là 28 nghìn tỷ đồng; tạm hoãn thu hồi vốn đầu tư xây dựng cơ bản ứng trước là 3,4 nghìn tỷ đồng, ứng trước dự toán năm sau là 37,2 nghìn tỷ đồng, chuyển nguồn vốn đầu tư năm 2008 sang năm 2009 là 27,6 nghìn tỷ đồng; phát hành bổ sung vốn trái phiếu Chính phủ (TPCP) là 20 nghìn tỷ đồng, các khoản chi kích cầu khác và đảm bảo an sinh xã hội là 9,8 nghìn tỷ đồng. So với các nước trên thế giới, quy mô gói kích cầu hiện nay của nước ta phù hợp với yêu cầu ngăn chặn đà suy giảm của nền kinh tế. 2.2. Đối tượng kích cầu Theo Quyết định 443 do Thủ tướng ban hành và có hiệu lực ngày 4/4/2009,. Đối tượng áp dụng của gói kích cầu số hai vẫn là các ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển Việt Nam, công ty tài chính thực hiện hỗ trợ lãi suất theo quy định của Thủ tướng trước đây về việc cho vay hỗ trợ lãi suất từ đầu tháng 1/2/2009 tới hết ngày 31/12/2009, các khoản vay được hỗ trợ lãi suất là khoản vay trung, dài hạn ngân hàng bằng đồng Việt Nam theo hợp đồng tín dụng của các tổ chức, cá nhân thực hiện đầu tư mới để phát triển sản xuất kinh doanh, kết cấu hạ tầng ký kết trước và sau ngày 1/4/2009 mà thực tế giải ngân từ ngày 1/4/2009 được thực hiện theo quy định của Ngân hàng Nhà nước về chế độ báo cáo thống kê thuộc các ngành, lĩnh vực kinh tế. Phạm vi đối tượng của gói kích cầu số hai cũng thu hẹp, chọn lọc hơn. Nó không thể dàn đều cho mọi doanh nghiệp, mọi ngành. Chỉ ưu tiên những đơn vị sử dụng nhiều lao động, làm ra nhiều của cải, khai thác tốt thị trường nông thôn, những ngành, lĩnh vực có triển vọng tốt cho thị trường nội địa, đẩy mạnh được xuất khẩu …. Đối tượng hỗ trợ đó phải là những doanh nghệp vừa và nhỏ là chính, chứ không phải là những tập đoàn kinh tế lớn. Thời hạn nên ngắn hơn, có thể trong 1-2 quý đầu với mức độ hỗ trợ ít hơn để các doanh nghiệp thích nghi dần với môi trường tự mình bươn trải chứ không cần sự giúp đỡ của Nhà nước. Đầu tháng 3/2009 vừa qua, Thủ tướng đã quyết định bổ sung đối tượng được thực hiện cơ chế hỗ trợ lãi suất là các công ty tài chính. Kết quả sau 2 tháng triển khai Chương trình hỗ trợ lãi suất của Chính phủ, hơn 202.130 tỷ đồng tiền vốn vay hỗ trợ lãi suất đã đến các đối tượng đang cần vay vốn. Vốn vay này nhằm giúp doanh nghiệp giảm giá thành sản phẩm, duy trì sản xuất kinh doanh, và tạo công ăn việc làm trong điều kiện nền kinh tế bị tác động bởi khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới. Nhìn trên tổng thể gói kích cầu, có khoản kích cầu đầu tư vào cơ sở hạ tầng; có khoản hướng vào người dân để tăng cầu hàng hóa; đặc biệt là nhiều khoản hướng đến doanh nghiệp, nhằm giải quyết các khó khăn về tiếp cận vốn vay ngân hàng, về thiếu vốn lưu động, vốn đầu tư; có khoản về thuế nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hóa, của doanh nghiệp… 2.3.Kích cầu như thế nào? Về tổng thể, những con “át chủ bài” quan trọng nhất trong gói giải pháp kích cầu của Chính phủ là các chính sách tài khóa, tài chính, tiền tệ, chủ yếu tập trung vào việc cung thêm tiền cho chi tiêu, giãn, giảm thuế, bảo lãnh vay vốn ngân hàng, hỗ trợ lãi suất…  Cụ thể, về chính sách thuế sẽ điều chỉnh giãn, gia hạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2009 trong thời gian 9 tháng đối với một số ngành, lĩnh vực kinh tế; giãn thời hạn nộp thuế thu nhập cá nhân đến tháng 5-2009. Chính phủ cũng đã quyết định giảm 50% thuế suất thuế giá trị gia tăng từ 1-2 đến 31-12-2009 đối với một số hàng hóa, dịch vụ; tạm hoàn 90% thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa thực xuất và hoàn tiếp 10% khi có chứng từ thanh toán. Ngoài ra còn có các chính sách giãn thời gian ân hạn nộp thuế; giảm thuế suất thuế xuất khẩu và thuế nhập khẩu một số mặt hàng quan trọng. Biện pháp kích thích chủ lực trong gói kích thích của Chính phủ là cho vay hỗ trợ lãi suất 4% một năm, tính trên số tiền vay và thời hạn cho vay thực tế. Việc hỗ trợ lãi suất được thực hiện từ 1/4/2009 đến 31/12/2011 và mục đích của gói kích cầu lần thứ hai là tạo ra nguồn vốn dài hơi hơn cho doanh nghiệp. Đối với khu vực nông nghiệp, nông thôn Nhà nước sẽ hỗ trợ lãi suất 100% và 4% đối với các khoản vay ngắn, trung hạn ngân hàng bằng đồng Việt Nam của các tổ chức, cá nhân vay để mua sắm máy móc, thiết bị, phương tiện, vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp và vật liệu xây dựng nhà ở khu vực nông thôn. (theo Quyết định 497/QĐ-TTg Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng ký ban hành ngày 17/4/2009) CHƯƠNG III : HIỆU QUẢ ĐẠT ĐƯỢC TỪ CHÍNH SÁCH KÍCH CẦU CỦA CHÍNH PHỦ TRONG 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2009 6 tháng đầu năm, tốc độ tăng trưởng GDP cả nước đạt 3,9%, tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp là 4,8%, kim ngạch xuất khẩu đạt 27,6 tỷ USD. Trong bối cảnh kinh tế thế giới rơi vào suy thoái, những kết quả này được đánh giá là tương đối thành công và chứng tỏ các gói kích cầu của chính phủ ban đầu mang lại hiệu quả. 1. Kinh tế phục hồi rõ và tích cực hơn Theo báo cáo của Bộ Tài chính, tình hình kinh tế - xã hội qua các tháng đã có dấu hiệu phục hồi rõ hơn và tích cực hơn: tăng trưởng kinh tế quý II đạt 4,5% (quý I đạt 3,1%), nâng mức tăng trưởng chung 6 tháng đầu năm đạt 3,9%; sản xuất công nghiệp 6 tháng tăng 4,8%, với xu hướng tháng sau cao hơn tháng trước; sản xuất nông nghiệp phát triển ổn định; kim ngạch xuất khẩu tuy đạt thấp so với cùng kỳ năm trước (giảm khoảng 10%), song lượng xuất khẩu của nhiều mặt hàng đạt khá; các lĩnh vực dịch vụ tiếp tục phát triển, sức mua thị trường có xu hướng tăng dần, chỉ số giá tiêu dùng 6 tháng tăng 2,68%; các hoạt động bảo đảm an sinh xã hội tiếp tục được duy trì và đẩy mạnh... Cụ thể là: 1.1. Sản xuất tiếp tục tăng trưởng dương 1.1.1. Về cơ cấu ngành kinh tế a. Về công nghiệp Tháng 6, sản xuất công nghiệp tiếp tục tăng cao hơn tháng trước. Như vậy giá trị sản xuất công nghiệp cả nước tăng liên tục trong 5 tháng qua (tháng 2 tăng 8,4%; tháng 3 tăng 2,3%; tháng 4 tăng 5,4%; tháng 5 tăng 6,8%, tháng 6 tăng 8,2%). Giá trị sản xuất công nghiệp 6 tháng ước đạt 342,2 nghìn tỷ đồng (16,5%) tiếp tục cao hơn tốc độ tăng cùng kỳ năm ngoái 4,8%. Nhiều sản phẩm công nghiệp tăng cao hơn mức tăng trưởng chung của toàn ngành như điều hòa nhiệt độ 44,7%, xi măng 24,1%...Một số địa phương có tốc độ tăng trưởng công nghiệp cao 6 tháng đầu năm là Quảng Ninh 11,5%, Bà Rịa-Vũng Tàu 10,6%... b. Về nông – lâm – ngư nghiệp Sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp vượt qua nhiều khó khăn đạt được kết quả tốt, ước đạt 96,6 nghìn tỷ đồng trong 6 tháng, tăng 2,5% so với cùng kỳ. Do diện tích và năng suất các vùng đều tăng mạnh nên sản lượng lúa đông xuân đạt trên 18,6 triệu tấn, tăng 32,2 vạn tấn so với cùng kỳ 2008. Vụ Đông xuân được mùa có ý nghĩa tích cực cả về kinh tế-xã hội, góp phần ổn định giá lương thực. Sản lượng thủy sản 6 tháng đầu năm ước đạt 2,278 triệu tấn, tăng 5%. Diện tích trồng rừng cũng tăng 7,7% so với cùng kỳ năm trước. c. Dịch vụ Mặc dù nền kinh tế gặp khó khăn, nhu cầu tiêu dùng giảm sút song tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tháng 6 vẫn tăng 2,3% (đạt 94 nghìn tỷ đồng) so với tháng 5 đưa tổng mức lưu chuyển hàng hóa và dịch vụ xã hội 6 tháng lên 547 nghìn tỷ đồng, tăng 20% so với cùng kỳ. 1.1.2. Tình hình xuất nhập khẩu a. Xuất khẩu Kim ngạch xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2009 ước đạt 27,6 tỷ USD, giảm 10,1% so với cùng kỳ. Tuy nhiên theo Bộ Công Thương, nếu tính theo số lượng (sản lượng xuất khẩu dầu thô, khoáng sản giảm) và giá trị tuyệt đối do không tính tới yếu tố tăng đột biến của giá dầu năm 2008 thì kim ngạch xuất khẩu 6 tháng 2009 vẫn tăng so với cùng kỳ 2008. Tuy nhiên suy thoái kinh tế và thị trường xuất khẩu bị thu hẹp đã khiến giá bình quân hầu hết các mặt hàng xuất khẩu đều giảm như dầu thô (53%), cao su (44%), café (28,3%)…Mặc dù vậy, 6 tháng đầu năm các mặt hàng xuất khẩu nông sản như sắn, gạo, hạt tiêu, hàng thủy sản liên tiếp có mức tăng trưởng dương và tăng cao so với cùng kỳ. b. Nhập khẩu Về nhập khẩu, kim ngạch nhập khẩu tháng 6 ước đạt 5,9 tỷ USD, tăng 4,1% so với tháng 5. Tính chung kim ngạch nhập khẩu 6 tháng đạt 29,7 tỷ USD, giảm 34% so với cùng kỳ. Những mặt hàng nhập khẩu giảm chủ yếu là sắt thép các loại (54,7%), ô tô nguyên chiếc (47,9%), thức ăn gia súc giảm 23,3%, máy móc thiết bị phụ tùng (19,2%). Tuy nhiên tháng 6 cũng là tháng thứ 3 liên tiếp Việt Nam nhập siêu trở lại sau 3 tháng đầu năm xuất siêu. MPI dự báo riêng tháng 6 nhập siêu có thể lên tới 1 tỷ USD, tính chung nhập siêu 6 tháng hơn 2,1 tỷ USD. 1.2. Chỉ số giá tiêu dùng 6 tháng tăng nhẹ Theo báo của Tổng cục thống kê, chỉ số giá tiêu dùng tháng 6 năm 2009 tăng 0,55% so với  tháng 5 và tăng 0,82% so với tháng 12/2008. CPI tháng 6 tăng ở cả 10 nhóm hàng với mức tăng từ 0,07-1,45%. Tăng mạnh nhất là nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng với mức tăng là 1,45%. Tiếp theo là nhóm đồ dùng và dịch vụ khác với mức tăng 1,36%; nhóm phương tiện đi lại và bưu điện với mức tăng 1,35% trong đó chủ yếu là tăng ở nhóm phương tiện đi lại. Trong tháng 6, nhóm thực phẩm tăng khá mạnh với mức tăng 0,67% trong khi nhóm này chiếm tới 25% trong rổ hàng hóa chung. Tăng thấp nhất vẫn là nhóm giáo dục với mức tăng 0,07%.  Theo Bộ Công Thương, CPI tháng 6 tăng là do giá cả một số mặt hàng thiết yếu như thực phẩm, xăng dầu, chất đốt tăng khá mạnh; kéo theo sự tăng giá của nhiều loại hàng hóa và dịch vụ khác. Bên cạnh đó, gói kích cầu tiêu dùng của Chính phủ tiếp tục phát huy tác dụng với tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tháng 6 tăng 2,3% so với tháng 5; 6 tháng tăng 20% so với cùng kỳ 2008 khiến giá cả tăng nhẹ. Bên cạnh đó, số liệu 6 tháng qua cũng cho thấy: Xu hướng tăng giá của các tháng trong năm 2009 so với các tháng trong năm 2008 đang giảm dần theo từng tháng (từ mức 17,48% của tháng 1 xuống 14,78% của tháng 2; xuống 11,25% của tháng 3; xuống 9,23% của tháng 4; xuống 5,58% của tháng 5 và tháng 6 là 3,94%). Đại diện Vụ Tổng hợp kinh tế quốc dân (MPI) nhận định, với diễn biến như vậy, CPI bình quân cả năm 2009 so với 2008 sẽ chỉ ở mức một con số (không phải ở mức hai con số như trước đó các chuyên gia kinh tế dự báo). Như vậy chúng ta có khả năng đạt chỉ tiêu CPI tăng dưới 10% Quốc hội đề ra... 2. Các doanh nghiệp hồi sức tốt nhờ những chính sách thuế ưu đãi của chính phủ Trong 6 tháng đầu năm, công tác nghiên cứu, xây dựng, ban hành các chính sách thuế, phí của Bộ Tài chính được triển khai khẩn trương, đúng lộ trình của Chiến lược cải cách thuế đến năm 2010 đã được Chính phủ phê duyệt; Bảo đảm thực hiện đầy đủ các cam kết hội nhập quốc tế, ổn định kinh tế vĩ mô. Những nỗ lực này của Bộ Tài chính đã góp phần cải thiện môi trường kinh doanh và thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, đồng thời giúp bình ổn giá, ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội và tăng thu ngân sách nhà nước. Một số biện pháp cụ thể đã được thực hiện và đem lại kết quả, như: Bộ cho phép doanh nghiệp được tạm hoàn 90% số thuế GTGT đầu vào đối với hàng hóa xuất khẩu trong trường hợp doanh nghiệp chưa có chứng từ thanh toán qua ngân hàng và hoàn tiếp 10% khi có chứng từ thanh toán theo Nghị quyết 30/2008/NQ-CP. Giảm 50% mức thuế suất GTGT áp dụng từ ngày 01/2/2009 đến hết ngày 31/12/2009 đối với một số nhóm hàng hóa, dịch vụ có thuế suất 10% là đầu vào của sản xuất kinh doanh. Cho phép kéo dài thời hạn nộp thuế đến 180 ngày (theo Quyết định 58/2009/QĐ-TTg) đối với số thuế GTGT phải nộp cho các lô hàng nhập khẩu là máy móc, thiết bị, phụ tùng thay thế, phương tiện vận tải... nhằm giúp cho doanh nghiệp giảm bớt căng thẳng về nguồn vốn để nộp thuế. Giảm 30% số thuế TNDN phải nộp của quý IV năm 2008 và năm 2009 cho doanh nghiệp nhỏ và vừa theo Nghị quyết 30/2008/NQ-CP và giảm 30% số thuế TNDN phải nộp của quý IV năm 2008 đối với thu nhập từ hoạt động sản xuất sợi, dệt, nhuộm, may, da giầy theo Quyết định 58/2009/QĐ-TTg ngày 16/4/2009. Giãn thời hạn nộp thuế TNDN trong 9 tháng đối với số thuế TNDN phải nộp trong năm 2009 của các doanh nghiệp nhỏ và vừa nói trên, của các doanh nghiệp có hoạt động sản xuất, gia công, chế biến nông, lâm, thủy sản, dệt may, da giày, linh kiện điện tử (theo Nghị quyết 30/2008/NQ-CP) và của các doanh nghiệp có thu nhập từ các hoạt động như: (i) sản xuất sản phẩm cơ khí là tư liệu sản xuất; (ii) sản xuất vật liệu xây dựng, gồm: gạch, ngói các loại, vôi, sơn; (ii) xây dựng, lắp đặt; (iv) dịch vụ du lịch; (v) kinh doanh lương thực; (vi) kinh doanh phân bón (theo QĐ 16/2009/QĐ-TTg). CHƯƠNG IV : HẠN CHẾ TRONG CHÍNH SÁCH KÍCH CẦU CỦA CHÍNH PHỦ Đối phó với tác động tiêu cực từ khủng hoảng tài chính toàn cầu, Chính phủ đã thông qua gói kích cầu 8 tỷ USD (chiếm khoảng 12% GDP) gồm: giảm, giãn thuế; bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp (DN), thực hiện tài trợ lãi suất 4%, tăng đầu tư công... Bên cạnh đó là hàng loạt giải pháp về an sinh xã hội đã và đang được thực hiện như: điều chỉnh lương, bảo hiểm thất nghiệp, tài trợ việc làm. Với việc gia tăng liều lượng gói kích cầu, Chính phủ đã tích cực và quyết tâm hỗ trợ DN vượt qua khó khăn, trong đó gói kích cầu trước hết có hiệu ứng tâm lý tích cực, như một chiếc phao cứu sinh làm gia tăng tức thời lòng tin cho các DN, ngân hàng, nhà đầu tư trong nước và quốc tế vào trách nhiệm và quyền năng của Nhà nước. Tuy nhiên, song song với quá trình thực hiện gói kích cầu, một số vấn đề "mặt trái của kích cầu" cũng đang dần bộc lộ, đòi hỏi phải tiến hành ngay những biện pháp xử lý, nhằm làm cho việc kích cầu thật sự có hiệu quả. Dưới đây là những mặt nổi cộm trong “ mặt trái của gói kích cầu”: 1. Nguy cơ lạm phát quay trở lại Ngày 1 tháng 7, Chính phủ công bố, GDP nửa đầu năm nay của Việt Nam tăng 3,9% so với cùng kỳ năm ngoái, trong đó tăng trưởng kinh tế quý đầu là 3,1%, quý II tăng 4,5%. Giá cổ phiếu cũng tăng mạnh, chỉ số cổ phiếu cơ bản của Việt Nam so với đầu tháng 3 tăng 83%. Tuy nhiên bên cạnh đó giá một số mặt hàng trên thị trường đang bị ảnh hưởng tăng lên theo giá thị trường thế giới như: xăng, dầu, gas, vàng cộng với tình hình các ngân hàng đang đua nhau tăng lãi suất huy động Chính phủ đã thực hiện chính sách kích cầu nên lãi suất của các ngân hàng hạ xuống. Điều này đã khiến lượng tiền lưu thông trên thị trường tăng lên, kích cầu cũng khiến nguồn tiền của các doanh nghiệp tăng lên. Do đó giá trị đồng tiền giảm đi, giá cả một số mặt hàng đi lên. Điều này là dấu hiệu sự quay trở lại của lạm phát. Đúng là có lo lắng về lạm phát, nhưng trong giai đoạn này không nên quá lo lắng lạm phát trở lại. Bởi nhiều nước và khu vực vẫn còn trong tình trạng giảm phát như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc, châu Âu. Lạm phát ở VN bảy tháng đầu năm là 3,2% nhưng lạm phát trong thời điểm này là cần thiết. Nó là chất dầu để bôi trơn, thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng. Vấn đề là kiểm soát đừng để nó tăng cao.Lạm phát rất cần thiết cho nền kinh tế thị trường, lạm phát trong năm 2009 ở mức 7-8%, là đạt mục tiêu lạm phát cả năm dưới 10% và an toàn cho nền kinh tế. Mặt khác, lạm phát cao không chỉ do yếu tố bên trong mà còn do yếu tố bên ngoài như giá dầu thô tăng, giá gạo trên thế giới tăng kéo giá trong nước tăng theo... Và để lạm phát không trở thành nguy cơ mà vẫn tăng trưởng GDP, chính phủ đang phải tìm ra những giải pháp để các gói kích cầu đạt hiệu quả cao nhất và kiềm chế lạm phát ở mức một con số. Chính phủ đang phải đối đầu với những nhiệm vụ khó nhất từ trước tới nay khi vừa phải đề phòng nguy cơ tái lạm phát cao, vừa phải đối mặt với nguy cơ suy giảm kinh tế; vừa phải gia tăng kích cầu, vừa phải chống lại nguy cơ gia tăng nợ xấu; vừa chịu áp lực tổng cầu giảm, lại phải chịu áp lực mở cửa thị trường trong nước... Chính sách nào áp dụng trong thời kỳ này cũng đều mang tính hai mặt nên việc giữ kinh tế vĩ mô ổn định quả thật không dễ dàng”. 2. Nguồn vốn không được sử dụng hiệu quả Xét về mặt toàn diện thì việc đưa ra gói kích cầu bổ sung đảm bảo duy trì sự ổn định và mục tiêu tập trung của Chính phủ trong các giải pháp kích cầu. Các khoản hỗ trợ lãi suất đầu tư trung và dài hạn này sẽ giúp cho doanh nghiệp tự tin và an toàn hơn trong việc đầu tư vay vốn, cải cách cơ cấu sản xuất, nâng cao sức cạnh tranh...tuy nhiên gói hỗ trợ không mang tính dài hạn, về lâu dài dễ gây ra lạm dụng. Thứ nhất, gây một sức ỳ cho Doanh nghiệp dựa vào hỗ trợ của nhà nước mà không đẩy mạnh sản xuất tối đa, sử dụng vốn không hiệu quả. Thứ hai là lạm dụng ngân sách Nhà nước như ngân hàng và doanh nghiệp bắt tay nhau tạo ra khoản vay ảo với lãi suất hỗ trợ sau đó là chia chác kiếm lời, hay đáng nói và lo ngại nhất là hiện tượng doanh nghiệp lạm dụng vay nhưng lại không đầu tư theo cam kết mà dùng để trả nợ, đáo hạn rồi gửi lại ngân hàng ăn lãi…gây thất thoát ngân sách Nhà nước và Nhà nước không kiểm soát được lượng tiền lưu thông trong nền kinh tế gây lạm phát và những mặt tiêu cựu khác. Trên thị trường hiên tại có 2 loại lãi suất là lãi suất ưu đãi (4%) và lãi suất không ưu đãi (10,5%) xuất hiện một tâm lý ỷ lại trong doanh nghiệp, tạo ra một sân chơi không công bằng, cạnh tranh khônh lành mạnh giữa các doanh nghiệp. Chưa kể, việc hỗ trợ lãi suất như vậy sẽ đẩy nhiều doanh nghiệp xuất khẩu đứng trước nguy cơ có thể bị kiện phá giá khi hàng được xuất sang các nước khác.Doanh nghiệp được sử dụng khoản vốn này dù là đầu tư hạ tầng, máy móc thiết bị hay sản xuất trực tiếp hàng xuất khẩu cũng đều được coi là bằng chứng để các đối tác nước ngoài kiện lại. Chính vì những lý do đó sự minh bạch của gói kích cầu là vấn đề hết sức quan trọng, vì tất cả các gói kích cầu trên thế giới hiện nay đều có vai trò giám sát của Quốc hội. Đối với hoạt động tín dụng, giám sát bao giờ cũng là công việc khó khăn vì luôn bất đối xứng về thông tin, người vay thường “vẽ” ra các dự án rất đẹp nhưng lại không hiệu quả khi thực hiện hay như nhiều trường hợp chưa thu được kết quả gì đã phải ngừng dự án như: dự án nuôi bò sữa ở Sơn La, dự án Trung tâm phần mềm Thủ Thiêm hàng tỷ đô đang bên bờ phá sản…Trong khi đó người cho vay không có nhiều cơ sở để biết người ta vay tiền cho mình để làm gì, hiệu quả ra sao. Do đó, việc giám sát cho vay đối với gói kích cầu thứ hai cần phải hết sức lưu ý. 3. Vốn chưa phân bổ hiệu quả đến nông dân Gói kích cầu nông nghiệp, nông thôn của Chính phủ có tổng kinh phí khoảng 17.000 tỷ đồng. Nguồn vốn này nhằm hỗ trợ nông dân vay vốn và bù lãi suất các khoản vay để mua máy móc thiết bị, vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp và xây dựng nhà ở nông thôn một trong những khu vực chịu nhiều ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu là vô cùng hợp lý. Tuy nhiên, việc tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi này không dễ dàng bởi còn nhiều trở ngại. Số nông dân được tiếp cận nguồn vốn ưu đãi của chương trình quá ít. ..Có không ít tỉnh thành làm tốt công tác đầu tư, cho vay… thì thiếu tiền, trong khi nhiều tỉnh khác làm kém thì không tiêu được tiền, cá biệt có nơi không thể giải ngân được. Điển hình như TP. Hà Nội, hầu hết các chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT trên địa bàn đều chưa có người đến vay vốn hỗ trợ lãi suất mua máy móc, thiết bị, vật tư phục vụ sản xuất, chế biến nông nghiệp và vật tư xây dựng nhà ở khu vực nông thôn. An Giang là địa phương sớm triển khai công tác cho vay nhưng nhiều xã khẳng định hiện vẫn chưa thấy nông dân đến xác nhận hồ sơ xin vay vốn. Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước chi nhánh An Giang, đến hết tháng 7/2009, tổng dư nợ cho vay theo Quyết định 497 đạt 285 triệu đồng. Còn ông Nguyễn Tấn Bửu, Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT Sóc Trăng cho biết, sau nhiều tháng triển khai vốn vay cho nông dân theo Quyết định 497, đến nay mới có 60 khách hàng trong tỉnh được tiếp cận vốn với số tiền giải ngân 1,5 tỷ đồng, trong khi ngân hàng nhận về 40 tỷ đồng cho nhân dân vay. Nhiều người cho biết nhờ đọc báo, xem đài mới hay chuyện cho vay hỗ trợ lãi suất, nhưng thủ tục và điều kiện vay như thế nào thì họ chưa hiểu tường tận, vì chưa được thông tin hướng dẫn.Ngoài ra, theo quy định, hàng hoá được mua phải là hàng sản xuất trong nước. Trên thực tế, các loại máy móc mà nông dân vùng trồng lúa thường sử dụng đa phần sản xuất ở nước ngoàinông dân còn cần vốn hỗ trợ lãi suất để mua cây giống, phân bón, thuốc trừ sâu, nhưng loại hàng hoá này ít có hoá đơn, chứng từ nên muốn vay vốn cũng không đơn giản, mặt khác thủ tục quá rườm rà, điều kiện các tổ chức tín dụng đưa ra để được vay vốn quá ngặt nghèo gây khó khăn cho quá trình vay vốn. .Thứ hai là do việc triển khai QĐ 497 đến nông dân chậm, thủ tục, chính sách còn nhiều rườm rà... dẫn tới khả năng tiếp cận vốn của người dân còn hạn chế. để chương trình kích cầu nông nghiệp, nông thôn phát huy hiệu quả cao nhất, khi triển khai, các cơ quan, địa phương liên quan cần dựa trên tình hình sản xuất nông nghiệp tại chỗ để phân bổ, ưu tiên phù hợp, đúng đối tượng. Nguồn vốn cần được công khai, minh bạch. Cần có chương trình kích cầu dài hạn, tập trung hỗ trợ có điểm nhấn vào quy hoạch, đầu tư cơ sở hạ tầng, bao tiêu sản phẩm, bình ổn giá. Vì thế, phải tăng thời hạn giải ngân để nông dân ở các địa phương được thụ hưởng chính sách này”. CHƯƠNG IV: GIẢI PHÁP ĐỂ GÓI KÍCH CẦU HIỆU QUẢ HƠN Theo ý kiến của hầu hết các chuyên gia kinh tế, quyết định đưa ra gói kích cầu của Chính phủ Việt Nam trong thời gian qua là hoàn toàn đúng. Tuy nhiên, việc triển khai và sử dụng gói kích cầu vẫn cho thấy nhiều điểm hạn chế, khiến cho gói kích cầu chưa phát huy tối đa hiệu quả của nó. 1.Cần kích cầu hơn là cung Một số chuyên gia nhận xét gói kích cầu hiện nay chưa cân đối. Các chính sách đưa ra tập trung quá nhiều vào việc kích cung hơn là kích cầu. Việc Nhà Nước hỗ trợ bù lãi suất cho doanh nghiệp được cho là một cách kích “cung” gián tiếp. Tuy vậy, theo Phó Giáo sư Tiến sĩ Hà Huy Thành, nguyên Phó Viện Trưởng Viện Kinh Tế Việt Nam, việc kích thích đầu tư vẫn chưa được sự hưởng ứng của đa số doanh nghiệp. Tiến sĩ Hà Huy Thành nhận xét: “Không phải tất cả các doanh nghiệp đã sẵn sàng cho điều này, nhưng chỉ có những doanh nghiệp nào có điều kiện. Thứ nhất là mặt hàng phù hợp với thị trường nói chung kể cả xuất khẩu và nội địa, đấy là nói về ngành hàng. Thứ hai là các doanh nghiệp có sức từ trước, tức là khi Chính phủ chưa có kích cầu, thì người ta đã có định hướng về thị trường nội địa…. thì đó là những doanh nghiệp đã sử dụng thành công cái gói kích cầu này. Còn nhiều doanh nghiệp thì hiện nay vẫn chưa thật mặn mà lắm.” Sở dĩ xảy ra vấn đề trên, theo Tiến sĩ Thành, là do một số doanh nghiệp cân nhắc về hướng phát triển bền vững. Nhiều doanh nghiệp đã quen với thị trường xuất khẩu, nếu bắt đầu lại, họ phải tổ chức thăm dò thị trường, nghiên cứu lại mặt hàng sản xuất, cơ sở hạ tầng… Những khó khăn này không phải một sớm một chiều có thể khắc phục. Bởi vậy, theo Tiến sĩ Thành: “Về mặt lý thuyết, người ta hưởng ứng nhưng không phải tất cả doanh nghiệp say sưa với cái này.” 2. Phục vụ thị trường nội địa Để giúp đỡ và thúc đẩy doanh nghiệp tham gia tích cực hơn vào chương trình kích cầu hàng nội địa, các chuyên gia cho rằng cần phải thay đổi nhận thức và cái nhìn của doanh nghiệp về thị trường nội địa. Từ đó, nâng cao chất lượng sản phẩm phục vụ thị trường trong nước, để không xảy ra tình trạng “thua ngay trên sân nhà” trước áp lực cạnh tranh của các sản phẩm ngoại nhập hay hàng biên mậu Trung Quốc giá rẻ đổ vào. Tiến sĩ Đặng Anh Tuấn, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh Tế và Kinh Doanh Hà Nội có ý kiến về vấn đề này như sau: “Cái thứ nhất là các doanh nghiệp Việt Nam làm hàng chưa chú trọng đến thương hiệu. Cái thứ hai, doanh nghiệp Việt Nam sinh sau đẻ muộn nên năng lực cạnh tranh của mình cũng phải đối đầu với những doanh nghiệp có kinh nghiệp rất là lâu năm trên thị trường quốc tế. Bây giờ, doanh nghiệp Việt Nam phải từng bước làm cho thương hiệu của mình tỏa sáng trong khu vực. Khi anh làm thì phải làm cho thị trường trong nước tốt đã thì anh mới cạnh tranh được với quốc tế. Chứ quan niệm là cái gì tốt anh đem ra ngoài, cái gì xấu anh bỏ lại là không đúng. Mà anh phải làm là cái gì tốt là phải sử dụng trong nước đã. Rồi nhiều cái tốt lên, anh mới đem ra nước ngoài. Như thế thì mới bền vững. Trước đây, đánh bắt được con tôm thì con nào to đem đi xuất khẩu, con nào bé thì để lại ăn. Bây giờ phải nghĩ khác đi. Bây giờ phải nghĩ là ai mua con tôm này giá cao thì tôi bán chứ không cần phải nước ngoài hay nước trong và tôi cứ thế tôi cố gắng tiêu chuẩn hóa để mà bán hàng, chứ không có phân loại như trước, mà cũng không nghĩ là người trong nước thì cần kiệm, dùng hàng kém chất lượng.” 3. Hỗ trợ doanh nghiệp Ngoài ra, doanh nghiệp cũng cần phải được hỗ trợ trên nhiều phương diện để giảm bớt chi phí sản xuất. Theo tiến sĩ Hà Huy Thành, đây là một chuỗi các công việc phải làm và phải thực hiện một cách đồng bộ. Ông nói: “Để cho kích cầu tốt, cần phải tác động vào ý thức phục vụ người dân của doanh nghiệp để họ có thể tìm mọi con đường đến được với người dân. Vì vậy, việc tác động tư tưởng rất quan trọng. Thứ hai là làm thế nào để giảm chi phí cho doanh nghiệp, có thể là thiết kế cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải… Những việc đó cần những tác động tương đối tổng hợp, trong một tổng thể.” Tuy nhiên, một vấn đề đáng lưu tâm nữa là quá trình kích cung thường dễ tiềm ẩn một nguy cơ khác, đó là thổi phồng trái bóng đầu cơ, như chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa trong chương trình Tạp chí Kinh Tế gần đây của RFA đã cảnh báo: “Nói chung, mọi quyết định kích thích kinh tế đều có thể thổi lên bong bóng đầu cơ nếu không kích thích đúng đối tượng là hệ thống sản xuất nhằm nâng cao số cung. Trung Quốc kích cầu không đúng đối tượng nên chuyện bơm tiền chỉ là chuyện ảo và khi cạn nguồn tín dụng này thì sản xuất lại co cụm trong khi bong bóng sẽ bể. Thứ hai, cần mở rộng thị trường nội địa hơn là chỉ nhắm vào xuất khẩu bằng cách duy trì đồng bạc quá rẻ so với tiền Mỹ. Muốn như vậy thì nên nâng tỷ giá đồng bạc một cách tiệm tiến để nâng lợi tức nội địa và xì bớt sức ép của trái bóng đầu cơ.” Riêng về khía cạnh kích thích tiêu dùng, nhiều chuyên gia cho rằng đây là một vấn đề tương đối khó bởi tình hình khó khăn chung của nền kinh tế, cộng thêm tâm lý thích dành dụm của người Việt. Tuy nhiên, điều này vẫn có thể thực hiện được nếu người dân được tạo cơ hội để có thêm việc làm và thu nhập. Có ý kiến cho rằng người dân cần phải được tham gia trực tiếp vào việc thực hiện các dự án. Đồng thời, mọi thông tin liên quan cần phải được công khai minh bạch. Đây là một cách để tạo thêm công ăn việc làm cho người dân, lại giúp giảm thiểu những tiêu cực thường phát sinh trong quá trình thực hiện kích cầu.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doctiAu luAn KTCC.doc
Luận văn liên quan