Đề tài Nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn lưu động tại công ty TNHH điện tử tin học Phúc Quang

Năm 2010 công ty vẫngiữvữngsựpháttriểnvàcơbản đạt đượcnhữngmục tiêu đềra, doanh thu vàlợinhuậntăng hơn so vớinăm trước. Trong năm nay vàcác năm tới Công ty sẽ xây dựng, ổn định cơ sở vật chất kỹ thuật của Công ty; Hoàn thiện bộ máy tổ chức và hệ thống quản lý, phấn đấu thiết lập đầy đủ điều kiện để xây dựng Công ty trở thành một trong những đơn vị vững mạnh có thương hiệu hàng đầu trong ngành. Với mục tiêu chiến lược là phát huy thế mạnh vàkinh nghiệmhiệncó xây dựng truyền thống của công tykết hợp với sức trẻ, nhiệt huyết, năm 2011 Công ty sẽ ưu tiên mởrộngthịphầntạiBuôn Ma Thuật. Năm 2012-2015: Phát triển trở thành Công ty mạnh, mở rộng ngành nghề sản xuất kinh doanh thương mại và dịch vụ. Liên doanh, liên kết với 3-5đơn vị trong các lĩnh vực kinh doanh sản xuất hàngthương mại điệntử. Xây d ựng, nâng cao năng lực bộ máy quản lý về mọi mặt. Thu nhập của cán bộ công nhân viên tăng bình quân 15-20% mỗi năm. Từnhữngmụctiêu và định hướngpháttriểncủacông ty năm nay vàcác năm tiếptheo kếthợpvớithựctếphân tíchtrong chương 2, em xin đưa ra mộtsố giảiphápnhằmnâng cao hiệuquảsửdụngnguồnvốnlưu độngtạicông ty Phúc Quang:

pdf81 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Lượt xem: 2602 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn lưu động tại công ty TNHH điện tử tin học Phúc Quang, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
cực góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty . Tuy nhiên chúng ta thấy rằng đối với một doanh nghiệp bán hàng và kinh doanh dịch vụ thì kỳ thu tiền bình quân như vậy là quá cao. Lý do là trong những năm gần đây Công ty muốn chiếm lĩnh một thị phần lớn hơn nên thông qua chính sách bán hàng trả chậm dẫn tới kỳ thu tiền bình quân cao. Điều này sẽ làm tăng gánh nặng lãi vay ngân hàng, tăng các chi phí đòi nợ ... ảnh hưởng đến lợi nhuận của Công ty. Vì vậy, trong thời gian tới Công ty cần chú ý tới vấn đề này trong hoạt động kinh doanh của mình. Một là, có thể áp dụng các chính sách cổ động bán hàng hợp lý hơn nữa để tăng doanh thu. Hai là, phải thu hồi các khoản phải thu khách hàng càng nhanh càng tốt. Có như thế mới tăng được tốc độ chuyển đổi các khoản phải thu thành tiền, từ đó tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động, góp phần tích cực trong vấn đề nâng cao lợi nhuận của Công ty. Cân đối công nợ của công ty: Để quản lý tốt các khoản phải thu và cũng như quản lý tốt vốn lưu động của Công ty thì ta phải nắm bắt được các khoản nợ của Công ty qua các năm thông qua hệ số sau: Bảng 2.8: Hệ số công nợ của Công ty Nhận xét: Trong các năm qua khoản phải thu của Công ty không đủ để thanh toán cho các khoản nợ phải trả (hệ số công nợ > 1). Do đó Công ty phải dùng Trang 47 đến các khoản tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng và giá trị hàng tồn kho để thanh toán. Vì vậy, Công ty cần phải quản lý chặt chẽ các khoản phải thu, đặc biệt là các khoản nợ khó đòi. Từ kết quả phân tích trên đã đặt ra vấn đề cho Công ty là phải quản lý hiệu quả hơn nữa công tác công nợ phải thu khách hàng. Thường xuyên kiểm tra các sổ chi tiết và tổng hợp phải thu khách hàng, cần có biện pháp tích cực đôn đốc thu hồi nợ kịp thời và đưa nhanh vào hoạt động kinh doanh của đơn vị những khoản vốn trong thanh toán, vốn bị chiếm dụng nhằm tăng tốc độ chuyển đổi các khoản phải thu thành tiền hay tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động. 2.2.2.3. Quản trị hàng tồn kho: Trong quá trình luân chuyển của vốn lưu động phục vụ cho sản xuất kinh doanh thì việc tồn tại vật tư hàng hoá dự trữ là bước đệm cần thiết cho quá trình sản xuất liên tục của Công ty. Trong nền kinh tế thị trường thì Công ty không thể tiến hành hoạt động kinh doanh đến đâu mua nguyên vật liệu đến đó mà luôn phải có nguyên vật liệu dự trữ. Bảng 2.9: Sự biến động hàng tồn kho Tỷ trọng hàng tồn kho tính đến 31/12/20010 chiếm 36,24% tổng số vốn lưu động (chỉ sau các khoản phải thu). Do vậy, công tác quản trị hàng tồn kho cũng cần Trang 48 được quan tâm hàng đầu. Tình hình tăng giảm hàng tồn kho của Công ty 2 năm vừa qua được phân tích ở bảng 2.9 (số liệu được trích theo phụ lục 2): Nhìn vào bảng trên ta thấy: Hàng tồn kho của Công ty tại thời điểm 31/12/20010 là 16.808.391 nghìn đồng. So với năm 2009 tăng một lượng là 1.439.161 nghìn đồng, tỉ lệ tăng 9,36%. Cụ thể hàng tồn kho tăng do: - Thành phẩm tồn kho tăng 3.666.680 nghìn đồng, tỷ lệ tăng 63,34%. Đây cũng là khoản mục luôn chiểm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu hàng tồn kho (năm 2009 chiếm 37,66% và tăng lên 56,25 %). Dự báo được nhu cầu Công ty đã mạnh dạn đầu tư sản xuất thêm một lượng lớn thành phẩm tồn kho. Chính điều này đã ảnh hưởng đến hàng tồn kho nói riêng cũng như TSLĐ nói chung của Công ty. - Hàng gửi đi bán tăng 31.168 nghìn đồng, tỷ lệ tăng 0,97%. Lý do ở đây là Công ty đã kết hợp cùng với 2 Buôn Mê Thuật để mở rộng thị trường vào năm 2010. Vì hai công ty trên mới thành lập nên hàng hóa bị ứ đọng hoặc Công ty đã cấp tín dụng cho khách hàng để thu hút khách hàng. Như vậy, hàng tồn kho trong năm qua tăng chủ yếu là do thành phẩm tồn kho tăng. Việc lượng thành phẩm tồn kho tăng đột biến và chiếm tỷ trọng quá lớn trong cơ cấu vốn lưu động phần nào phản ánh công tác tiêu thụ sản phẩm còn nhiều yếu kém của Công ty. Tuy nhu cầu thị trường về thiết bị tin học trong những năm gần đây tăng cao nhưng Công ty vẫn còn gặp nhiều khó khăn về sự cạnh tranh của các công ty lớn nên chưa chiếm lĩnh được một thị phần đáng kể. Do vậy Công ty cần xem xét lại xem có cần thiết phải đầu tư mua linh kiện hàng hoá quá nhiều thành phẩm tồn kho như vậy hay không? Để quản lý và sử dụng tốt hàng tồn kho ta cần quan tâm đến hai chỉ tiêu: Số vòng quay hàng tồn kho và số ngày một vòng quay hàng tồn kho. Công thức: Năm 2009: Trang 49 Năm 2010: Năm 2009: Năm 2010: Bảng 2.10: Bảng phân tích tình hình quản lý và sử dụng hàng tồn kho Nhìn vào bảng phân tích trên ta thấy số vòng quay hàng tồn kho giảm: 2,1 - 2,2 = -0,1 vòng. Điều này là do ảnh hưởng của các nhân tố: + Ảnh hưởng của nhân tố giá vốn hàng bán: + Ảnh hưởng của nhân tố hàng tồn kho bình quân: Tổng hợp các kết quả phân tích: +0,1 – 0,2 = -0,1 Trang 50 Kết quả phân tích trên cho thấy: Trong điều kiện hàng tồn kho bình quân không đổi như năm 2009, với việc tăng giá vốn hàng bán do giá cả nguyên vật liệu đầu vào tăng và số lượng sản phẩm bán ra tăng đã làm tăng nhanh vòng quay hàng tồn kho lên 0,1 vòng. Tuy nhiên, trong điều kiện giá vốn hàng bán không đổi như năm 2010, với việc tăng lượng hàng tồn kho đã làm hàng tồn kho quay chậm mất 0,2 vòng. Nguyên nhân chính ở đây là do tốc độ tăng hàng tồn kho nhanh hơn tốc độ tăng giá vốn hàng bán (7,63% so với 2,62%) (hay nói cách khác lượng sản phẩm không được bán ra như ý muốn). Việc làm chậm vòng quay hàng tồn kho mất 0,1 vòng đã làm số ngày một vòng quay tăng: 171 - 164 = 7 ngày. Điều này được đánh giá là kém hiệu quả. Công ty đã không rút ngắn được số ngày một vòng quay hàng tồn kho có nghĩa là không rút ngắn được việc chuyển đổi hàng hóa thành tiền và có nguy cơ bị ứ đọng vốn. Tóm lại, hàng tồn kho năm 2010 tăng cả về quy mô lẫn tỷ trọng đã ảnh hưởng xấu đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong Công ty. Công ty cần xem xét lại mức dự trữ hàng tồn kho để làm giảm lượng vốn bị ứ đọng, hạn chế chi phí lưu kho ... 2.2.2.4. Phân tích tình hình quản trị vốn bằng tiền và một số TSLĐ khác. Theo số liệu phụ lục 2 ta có bảng tình hình về vốn bằng tiền và một số TSLĐ khác như sau: Bảng 2.11: Tình hình tăng giảm vốn bằng tiền và một số TSLĐ khác Trang 51 Qua bảng phân tích trên cho biết : Vốn bằng tiền của Công ty tại thời điểm 31/12/2010 là 1.739.299 nghìn đồng, tăng 404.004 nghìn đồng, tỷ lệ tăng 30,26%. Năm 2009 vốn bằng tiền chiếm tỷ trọng: 3,01% trong TSLĐ và 1,23% trong tổng tài sản . Năm 2010, vốn bằng tiền chiếm tỷ trọng: 3,75% trong TSLĐ và 1,59% trong tổng tài sản. Mặc dù vốn bằng tiền có xu hướng tăng lên nhưng nó vẫn chiếm tỷ trọng nhỏ trong tài sản lưu động cũng như tổng tài sản. Lý do ở đây là vì lượng tiền nằm trong các khoản phải thu khách hàng và thành phẩm tồn kho quá lớn. Điều này gây ra sự lãng phí về vốn lưu động đồng thời ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của Công ty. Để quản lý và sử dụng tốt vốn bằng tiền Công ty cần quan tâm đến Chu kỳ vận động tiền mặt. Chu kỳ vận động tiền mặt là độ dài thời gian từ khi thanh toán các khoản mục hàng hóa đến khi thu được tiền từ các khoản phải thu do việc bán hàng hóa. Bảng 2.12: Chu kỳ vận động tiền mặt Mục tiêu của Công ty là rút ngắn chu kỳ vận động của tiền mặt càng nhiều càng tốt mà không có hại đến sản xuất kinh doanh của Công ty, lúc đó lợi nhuận sẽ tăng lên. Còn nếu chu kỳ càng dài thì nhu cầu tài trợ từ bên ngoài càng lớn và mỗi nguồn tài trợ đều mang một chi phí nên lợi nhuận sẽ giảm. Trang 52 Một vấn đề khác rất đáng quan tâm của Công ty đó là khoản mục tài sản thiếu chờ xử lý. Tuy nó chiếm tỷ trọng không đáng kể nhưng lại tăng đột biến (tăng đến 494,35%) trong năm vừa qua cho ta thấy công tác quản lý vật tư, tài sản của Công ty không tốt, ý thức bảo vệ tài sản của CBCNV còn kém dẫn đến tình trạng mất mát vật tư, tài sản làm thất thoát vốn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty trong thời gian tới. 2.2.2.5. Phân tích các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty. a. Tốc độ luân chuyển vốn lưu động: Tốc độ luân chuyển vốn lưu động được đo bằng 2 chỉ tiêu là số lần luân chuyển của vốn lưu động trong năm (L) và kỳ luân chuyển vốn (K): *Số vòng quay vốn lưu động: Năm 2009: Năm 2010: Số vòng quay vốn lưu động giảm: 1,02 - 1,04 = -0,02 vòng. Điều này là do ảnh hưởng của các nhân tố: + Ảnh hưởng của nhân tố doanh thu thuần: + Ảnh hưởng của nhân tố vốn lưu động bình quân: Tổng hợp kết quả phân tích: +0,03 - 0,05 = -0,02 Trang 53 Kết quả phân tích trên cho thấy: Trong điều kiện vốn lưu động không đổi như năm 2009, những nổ lực gia tăng doanh số bán trong năm 2009 đã làm vốn lưu động quay nhanh 0,03 vòng. Tuy nhiên, trong điều kiện doanh thu không thay đổi như năm 2010, việc quản lý vốn kém hiệu quả làm vốn lưu động quay chậm mất 0,05 vòng. *Kỳ luân chuyển vốn lưu động: Công thức: Năm 2009: Năm 2010: Bảng 2.13: Tốc độ luân chuyển vốn lưu động Việc tính toán trên cho biết: Năm 2009, Công ty cứ đầu tư 1 đồng vào vốn lưu động sẽ tạo ra 1,04 đồng doanh thu thuần. Năm 2010, Công ty đầu tư 1 đồng vào vốn lưu động tạo ra được 1,02 đồng doanh thu thuần. Chỉ tiêu này còn quá thấp, lại giảm 0,02 vòng cho thấy hiệu quả sử dụng vốn lưu động của Công ty còn nhiều yếu kém. Nguyên nhân ở đây là do tốc độ tăng doanh thu thuần chậm hơn tốc độ tăng vốn lưu động bình quân (2,98% so với 5,44%). Vấn đề được đặt ra là: Công ty đã không tăng được doanh số bán qua các năm hay đã để lãng phí một lượng vốn lưu động không cần thiết? Trang 54 Năm 2010, kỳ luân chuyển vốn lưu động tăng 353 - 346 = 7 ngày so với năm 2009. Do vậy, năm 2010 Công ty đã để lãng phí một số vốn lưu động là: Mức vốn lưu động lãng phí sẽ làm tăng chi phí sử dụng vốn, giảm sút hiệu quả sử dụng vốn lưu động của Công ty. b. Hàm lượng vốn lưu động: Năm 2009: Năm 2010: Bảng 2.14: Hàm lượng vốn lưu động Chỉ tiêu này là chỉ tiêu nghịch đảo của chỉ tiêu trên (mục a.). Chỉ tiêu này cho biết: Để đạt được 1 đồng doanh thu năm 2009 Công ty phải cần đến 0,96 đồng vốn lưu động và năm 2010 cần tới 1,06 đồng vốn lưu động. Như vậy so với năm 2009 thì việc sử dụng vốn lưu động trong năm 2010có phần hạn chế hơn. Hơn nữa, Công ty cần có biện pháp hạ thấp chỉ tiêu này xuống hơn nữa bởi vì mức đảm nhận vốn lưu động > 1 chứng tỏ công tác quản lý và sử dụng vốn lưu động còn nhiều bất cập. Trang 55 c. Mức doanh lợi vốn lưu động: Năm 2009: Năm 2010: Bảng 2.15: Mức doanh lợi vốn lưu động Chỉ tiêu này cho biết: Một trăm đồng vốn lưu động của Công ty năm 2009 tạo ra được 0,83 đồng lợi nhuận sau thuế, còn năm 2010 tạo ra được 2,02 đồng lợi nhuận sau thuế, tăng lên tới 2,02 - 0,83 = 1,19 đồng. Điều này là do ảnh hưởng của các nhân tố: + Ảnh hưởng của nhân tố lợi nhuận sau thuế: + Ảnh hưởng của nhân tố vốn lưu động bình quân: Tổng hợp các yếu tố phân tích: +1,3 - 0,11 = +1,19 Kết quả phân tích trên cho thấy: Trong điều kiện vốn lưu động bình quân không đổi như năm 2009, việc tăng đột biến lợi nhuận sau thuế (tăng 156,07%) đã làm tăng mức doanh lợi vốn lưu động lên tới 1,3 đồng. Tuy nhiên, với việc tăng vốn lưu động bình quân trong kỳ đã làm giảm 0,11 đồng. Trang 56 Nguyên nhân rất dễ nhận thấy là do tốc độ tăng của lợi nhuận sau thuế rất cao so với tốc độ tăng của vốn lưu động (156,07% so với 5,44%). Điều này đã tạo ra thêm 1,19 đồng lợi nhuận sau thuế khi sử dụng 100 đồng vốn lưu động trong kinh doanh vào năm 2010. Chỉ tiêu này còn thấp nhưng đã có sự tiến bộ rõ rệt trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động. Lợi nhuận là vấn đề sống còn của mỗi doanh nghiệp, vì vậy Công ty cần phải nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng vốn lưu động để tăng lợi nhuận cho Công ty. d. Các chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán: Thực trạng chung của các doanh nghiệp hiện nay là thiếu vốn kinh doanh trầm trọng, thậm chí ngay cả khi họ sử dụng toàn bộ vốn lưu động tự có, kết hợp khai thác triệt để các nguồn vốn khác như nguồn vốn vay, nguồn vốn quỹ hay thu nhập chưa phân phối … vẫn chưa đảm bảo cân đối nhu cầu vốn cho kinh doanh và Công ty TNHH ĐT TH Phúc Quang cũng không nằm ngoài thực trạng đó. Để đáp ứng cho nhu cầu vốn kinh doanh, hầu hết các doanh nghiệp phải huy động từ nguồn tài trợ khác, chủ yếu là vay ngắn hạn và tận dụng các khoản nợ phải trả, Tuy nhiên, việc sử dụng các nguồn tài trợ này buộc các doanh nghiệp phải liên tục đối đầu với các khoản nợ đến hạn. Để thấy được Công ty có khả năng hoàn trả các khoản nợ đến hạn hay không ta hãy đi phân tích các chỉ tiêu liên quan đến khả năng thanh toán của Công ty. Đồng thời thông qua các chỉ tiêu này ta cũng biết được hiệu quả quản lý và sử dụng vốn lưu động tại Công ty như thế nào? Từ số liệu trong bảng CĐKT của Công ty trong 2 năm 2009 và 2010 ta tính được các chỉ tiêu ở bảng 2.16: Nhìn chung 3 chỉ tiêu trên cho thấy khả năng thanh toán của Công ty là rất kém. Đặc biệt là khả năng thanh toán hiện hành và khả năng thanh toán nhanh. Trang 57 Bảng 2.16: Các chỉ tiêu về khả năng thanh toán - Hệ số khả năng thanh toán hiện hành < 1 chứng tỏ TSLĐ mà Công ty đang sử dụng không đủ trả nợ ngắn hạn (Thông thường mức thanh toán hiện hành được chấp nhận là 2).Tức là ở năm 2010 nếu Công ty đem tất cả tài sản lưu động của mình ra để trả nợ ngắn hạn thì cũng chỉ trả được 81% số nợ này. Còn 19% rất có thể Công ty sẽ phải dùng một phần TSCĐ để thanh toán. Qua đó Công ty cần phải chú ý hơn nữa đến việc quản lý và sử dụng các khoản nợ ngắn hạn, làm sao để có thể giảm đến mức thấp nhất các khoản nợ vay và phải sử dụng các khoản vốn vay một cách có hiệu quả nhất. - Hệ số khả năng thanh toán nhanh cũng rất thấp: 0,55 ở đầu kỳ và 0,51 ở cuối kỳ. Hệ số này chỉ ra rằng phần vốn lưu động đã đầu tư quá nhiều vào hàng hóa tồn kho. Lúc cần thiết Công ty không thể thanh toán nhanh các khoản nợ đến hạn nếu không bán các tài sản với giá thấp hoặc sử dụng các biện pháp bất lợi khác để trả nợ. Ngoài ra, các nhà quản lý còn quan tâm đến các khoản có thể sử dụng để thanh toán nhanh nhất các khoản nợ ngắn hạn, đó là vốn bằng tiền. Nó được thể hiện qua chỉ tiêu khả năng thanh toán tức thời. Nhìn vào bảng số liệu ta thấy khả năng thanh toán tức thời của Công ty có xu hướng tăng lên trong 2 năm vừa qua. Tuy nhiên, để thanh toán ngay 1 đồng nợ ngắn hạn thì năm 2009 chỉ có 0,025 đồng, năm 2010 có 0,03 đồng. Qua đó cho thấy việc hạn chế trong khả năng thanh toán nợ Trang 58 ngắn hạn bằng tiền của Công ty, Công ty không thể chủ động trong các công việc chi tiêu hàng ngày bằng tiền mà không phải gặp các áp lực trong thanh toán tức thời. Lượng tiền dự trữ tại Công ty ít là do lượng vốn lưu động đã đầu tư quá nhiều vào hàng tồn kho và các khoản phải thu trong khi việc sử dụng vốn lưu động còn có sự lãng phí. Điều này đã làm cho số vòng quay vốn lưu động bị chậm lại, hiệu quá sử dụng chưa cao. Vì vậy, để quản lý và sử dụng vốn lưu động tại Công ty có hiệu quả, đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn, Công ty cần chú ý đến việc quản lý lượng tiền mặt dự trữ tại đơn vị., cần có các biện pháp thu hồi các khoản nợ khó đòi từ phía khách hàng, đại lý để có thể cải thiện được tình hình thanh toán các khoản nợ, nhằm nâng cao tỷ suất khả năng thanh toán của đơn vị mình ở mức phù hợp, củng cố, nâng cao uy tín của Công ty và đạt được hiệu quả sản xuất kinh doanh cao nhất. 2.3. Đánh giá tình hình quản lý và sủ dụng vốn lưu động tai Công ty TNHH ĐT TH Phúc Quang trong thời gian qua. 2.3.1. Một số thành tựu. Những năm gần đây, trong bối cảnh nền kinh tế đất nước còn nhiều khó khăn thách thức, Công ty TNHH ĐT TH Phúc Quang đã có nhiều cố gắng vươn lên trong hoạt động sản xuất kinh doanh và đã đạt được một số thành tựu nhất định. Tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty đã đi vào ổn định và ngày càng phát triển, thể hiện ở mức tăng cao hàng năm của sản lượng, doanh thu, lợi nhuận. Để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, Ban Giám đốc Công ty luôn quan tâm coi trọng vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động của Công ty. Sự phát triển lành mạnh và bền vững của Công ty trong thời gian qua phần nào phản ánh hiệu quả sử dụng vốn lưu động ở Công ty. Cụ thể trong công tác tổ chức quản lý và sử dụng vốn lưu động, Công ty đã làm được một số việc đáng biểu dương như: Thứ nhất: Tình hình quản trị các khoản phải thu đã có nhiều chuyển biến tích cực. Công ty đã đề ra chính sách tín dụng thương mại đúng đắn và linh hoạt. Điều này thể hiện ở chỗ các khoản phải thu của Công ty năm 2010 so với năm 2009 giảm 4,96% nhưng vẫn không ảnh hưởng đến việc tiêu thụ hàng hoá. Doanh thu tiêu thụ sản phẩm năm 2010 vẫn tăng 3,08% so với năm 2009. Trang 59 Hiện nay, Công ty vẫn áp dụng hình thức bán hàng trả chậm để thúc đẩy việc tiêu thụ sản phẩm. Tuy nhiên Công ty chỉ cho thanh toán chậm đối với những bạn hàng quen biết, có uy tín và khả năng tài chính lành mạnh. Trước khi bán chịu cho khách hàng Công ty cũng có những biện pháp phòng ngừa rủi ro hữu hiệu. Trước tiên Công ty xem xét tìm hiểu kỹ khách hàng. Khi chấp nhận bán chịu, Công ty yêu cầu khách hàng đặt cọc hoặc có sự ràng buộc chặt chẽ trong hợp đồng bán hàng về thời hạn thanh toán, hình thức xử phạt khi không trả nợ đúng hạn. Với những biện pháp như trên, trong năm 2010 các khoản phải thu của Công ty đã giảm được 1.111.357 ngàn đồng. Trong khi vốn của Công ty còn thiếu và phần lớn phải đi vay thì việc giảm được số vốn bị chiếm dụng là điều rất có ý nghĩa và nó sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động của Công ty. Thứ hai: Tài sản lưu động luôn đảm bảo cho hoạt động sản xuất được diễn ra liên tục. Trong năm qua, Công ty không để xảy ra tình trạng phải thiết vật tư hàng hoá dự trữ kể cả khi tình hình sản xuất có biến động lớn. Vào những tháng sản phẩm được tiêu thụ mạnh hoặc khi có những đơn đặt hàng lớn thì sản lượng của Công ty có thể tăng gấp đôi so với mức bình thường. Khi đó công tác tổ chức cung ứng vật tư hàng hoá vẫn đáp ứng đầy đủ và kịp thời yêu cầu kinh doanh. Việc đảm bảo cho quá trình cung ứng hàng hoá, vật tư không bị gián đoạn đã giúp Công ty hoàn thành kế hoạch kinh doanh hàng năm, là cơ sở để tăng doanh thu và lợi nhuận. Thứ ba: Tình hình quản lý vốn bằng tiền có nhiều chuyển biến tích cực: Năm 2010, giá trị vốn bằng tiền của Công ty đã tăng được 404.004 nghìn đồng, tỉ lệ tăng 30,26% so với năm 2009. Nhận thức đúng đắn được tầm quan trọng của việc lưu giữ tối ưu một lượng tiền mặt dùng để trang trải các khoản nợ lương, mua nguyên vật liệu, nợ thuế ... hay dùng để trả các khoản nợ vay ngắn hạn ngân hàng Công ty đã cố gắng duy trì và phát triển thêm một lượng vốn bằng tiền nhất định. Ngoài ra, trong những năm qua, Công ty đã tạo dựng được mối quan hệ tốt đẹp với các ngân hàng. Điều này đã giúp Công ty gặp nhiều thuận lợi hơn trong Trang 60 việc vay vốn và thanh toán. Đồng thời Công ty cũng tổ chức tốt mối quan hệ với nguồn cung ứng, giữ vững và mở rộng nguồn tiêu thụ sản phẩm. 2.3.2. Những tồn tại và nguyên nhân. Bên cạnh những mặt tích cực đã nêu trên, tình hình sử dụng vốn lưu động ở Công ty TNHH ĐT TH Phúc Quang còn tồn tại nhiều bất cập. Điều này đã và đang làm cho tình hình tài chính ở Công ty trở nên căng thẳng. Đây chính là nguyên nhân kìm hãm quá trình hoạt động kinh doanh và trực tiếp làm giảm hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong Công ty. Những tồn tại đó biểu hiện trên các mặt như: Thứ nhất: Vốn lưu động của Công ty còn tồn đọng dưới dạng hàng hoá tồn kho quá lớn (chiếm 36,24% VLĐ năm 2010), làm giảm tốc độ luân chuyển của vốn. Trong điều kiện các hợp đồng cung ứng hàng hoá cho khách hàng không có biến động lớn mà hàng tồn kho năm 2010 so với năm 2009 lại tăng 9,36% là điều chưa hợp lý. Thứ hai: Kỳ thu tiền bình quân còn quá cao (171 ngày năm 2010) chứng tỏ Công ty bị ứ đọng vốn trong khâu thanh toán, có quá nhiều các khoản nợ khó đòi. Kỳ thu tiền bình quân lớn làm giảm khả năng thu hồi và phát triển lượng vốn lưu động cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh, làm giảm hiệu quả sử dụng vốn lưu động. Thứ ba: Tình hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh không tốt. Công ty đang mất cân đối giữa nguồn vốn ngắn hạn và nguồn vốn dài hạn, giữa nợ ngắn hạn và nợ dài hạn. Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng thanh toán của Công ty . Thứ tư: Công tác quản lý vật tư tài sản chưa chặt chẽ. Giá trị tài sản thiếu chờ xử lý đã tăng đột biến vào năm 2010, lượng tăng là 67.713.980 nghìn đồng, tỷ lệ tăng 494,35%. Tuy Công ty chỉ có một vài cơ sở nhưng số tài sản thiếu này là hoàn toàn do nguyên nhân chủ quan trong công tác tổ chức quản lý không tốt , ý thức bảo quản giữ gìn vật tư tài sản của người lao động trong Công ty chưa cao. Trang 61 Thứ năm: Tuy công tác quản trị vốn tiền mặt đã có nhiều chuyển biến tích cực nhưng vốn tiền mặt còn ít, không đảm bảo thanh toán ngắn hạn. Mức vốn tiền mặt của Công ty tại thời điểm 31/12/2010 là 1.739.299 nghìn đồng, chiếm 3,75% giá trị vốn lưu động. Dẫu biết rằng mục tiêu trong quản lý tiền mặt là tối thiểu hóa lượng tiền mặt phải giữ nhưng vẫn phải đảm bảo khả năng thanh toán nhanh, giúp Công ty có thể mua hàng hóa với những điều kiện thuận lợi và được hưởng mức tín dụng rộng rãi. Nguyên nhân của tình trạng không đủ lượng tiền mặt cần thiết, khả năng thanh toán thấp của Công ty hoàn toàn là nguyên nhân chủ quan, xuất phát từ công tác quản trị vốn lưu động trong Công ty. Cụ thể do lượng vốn lưu động nằm ứ đọng trong hàng tồn kho và các khoản phải thu quá lớn. Tỷ trọng 2 khoản này chiếm tới 82,18% (tính đến 31/12/2010). Do vậy, khả năng thanh toán của Công ty thấp là kết quả tất yếu. Thứ sáu: Công tác lập dự phòng không được quan tâm đúng mức Trong kinh doanh không phải lúc nào cũng “thuận buồm xuôi gió” do đó không phải khi nào Công ty cũng thu hồi được tất cả các khoản phải thu của khách hàng. Mặt khác, trong nền kinh tế thị trường giá cả vật tư hàng hoá cũng luôn biến động dù ít hay nhiều. Do vậy, việc xác định và lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng phải thu khó đòi là việc rất cần thiết. Nó sẽ đem lại lợi ích thiết thực cho Công ty trên cả khía cạnh tài chính và thuế khoá. Việc Công ty đã không lập các khoản dự phòng là một thiếu sót và nó đã ảnh hưởng ít nhiều đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động của Công ty. Nói tóm lại, trong những năm qua, tuy Công ty đã có nhiều cố gắng tìm mọi biện pháp tháo gỡ khó khăn để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh song trong công tác quản lý sử dụng vốn lưu động vẫn còn một số vấn đề tồn tại. Do vậy, Công ty cần nhanh chóng đưa ra các giải pháp hữu hiệu nhằm khắc phục những tồn tại trên để nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng vốn lưu động. Trên cơ sở phân tích tình hình quản lý và sử dụng vốn lưu động, phân tích các đặc diểm chủ yếu ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động cùng với Trang 62 những tồn tại và hạn chế của Công ty TNHH ĐT TH Phúc Quang. Việc tiếp cận, nghiên cứu và tìm ra biện pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty là điều hết sức cần thiết. Song với vị trí là một sinh viên, trong khả năng giới hạn về thời gian và kiến thức, em chỉ xin đưa ra một số giải pháp nằm khắc phục các thiếu sót quan trọng và nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác quản lý và sử dụng vốn lưu động. Kết luận chương 2: Trên cơ sở nghiên cứu tìm hiểu về công ty TNHH ĐT TH Phúc Quang và những số liệu thu thập thực tế, chương 2 của luận văn đã đi sâu vào các nội dung: - Giới thiệu tìm hiểu về công ty TNHH ĐT TH Phúc Quang: Trong đó đi sâu giới thiệu về nghành nghề sản xuất kinh doanh, cơ cấu tổ chức để có cái nhìn tổng quát về đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. - Phân tích tình hình sử dụng vốn lưu động tại công ty TNHH ĐT TH Phúc Quang: Từ những số liệu báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, bảng cân đối kế toán, kết hợp với tính toán, so sánh để đánh giá tình hình biến động nguồn vốn lưu động tai công ty. Qua phân tích trên cơ sở số liệu kế toán tại công ty nhằm có cái nhìn cụ thể về tình hình sử dụng vốn lưu động tại công ty và đưa ra những mặt còn hạn chế để có giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động của công ty trong những năm tới. Trang 63 CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÔNG TY TNHH ĐT TH PHÚC QUANG Năm 2010 công ty vẫn giữ vững sự phát triển và cơ bản đạt được những mục tiêu đề ra, doanh thu và lợi nhuận tăng hơn so với năm trước. Trong năm nay và các năm tới Công ty sẽ xây dựng, ổn định cơ sở vật chất kỹ thuật của Công ty; Hoàn thiện bộ máy tổ chức và hệ thống quản lý, phấn đấu thiết lập đầy đủ điều kiện để xây dựng Công ty trở thành một trong những đơn vị vững mạnh có thương hiệu hàng đầu trong ngành. Với mục tiêu chiến lược là phát huy thế mạnh và kinh nghiệm hiện có xây dựng truyền thống của công ty kết hợp với sức trẻ, nhiệt huyết, năm 2011 Công ty sẽ ưu tiên mở rộng thị phần tại Buôn Ma Thuật. Năm 2012-2015: Phát triển trở thành Công ty mạnh, mở rộng ngành nghề sản xuất kinh doanh thương mại và dịch vụ. Liên doanh, liên kết với 3-5 đơn vị trong các lĩnh vực kinh doanh sản xuất hàng thương mại điện tử. Xây dựng, nâng cao năng lực bộ máy quản lý về mọi mặt. Thu nhập của cán bộ công nhân viên tăng bình quân 15-20% mỗi năm. Từ những mục tiêu và định hướng phát triển của công ty năm nay và các năm tiếp theo kết hợp với thực tế phân tích trong chương 2, em xin đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn lưu động tại công ty Phúc Quang: 3.1. Giải pháp thứ nhất. Rút ngắn số ngày một vòng quay nợ phải thu khách hàng bằng cách sử dụng chính sách chiết khấu thanh toán. 3.1.1. Căn cứ và mục đích của giải pháp. Do áp lực cạnh tranh mà hiện nay hầu hết các doanh nghiệp đều phải thực hiện chính sách cấp tín dụng cho khách hàng. Các khoản phải thu của của doanh Trang 64 nghiệp tùy thuộc vào doanh số bán và kỳ thu tiền bình quân. Do đó, doanh nghiệp cần thiết lập một chính sách tín dụng hợp lý và quản lý hữu hiệu các khoản phải thu để tách các khoản nợ khó đòi. Tuy nhiên muốn thu hút khách hàng và tăng doanh số bán thì đòi hỏi doanh nghiệp phải chấp nhận bị chiếm dụng vốn trong một thời gian. Vấn đề là làm sao rút ngắn được thời gian bị chiếm dụng vốn nhưng không làm giảm doanh thu. Rút ngắn số ngày một vòng quay khoản phải thu khách hàng sẽ giúp cho doanh nghiệp có một số vốn lưu động cần thiết đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn và chi phí lãi vay, đồng thời còn dùng nguồn vốn này để tái đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh, góp phần nâng cao tốc độ luân chuyển vốn lưu động. Qua phân tích ở phần hai ta nhận thấy rằng vốn của Công ty bị chiếm dụng là rất lớn. Khoản phải thu tính đến 31/12/2010 chiếm 19,48% giá trị tổng nguồn vốn. Điều này chứng tỏ Công ty đã đầu tư vốn để gia tăng doanh số bán, từ đó gia tăng lợi nhuận. Tuy nhiên nếu để khách hàng chiếm dụng vốn quá nhiều trong thời hạn dài sẽ làm giảm đi một lượng vốn kinh doanh đáng kể mà khi cần thiết buộc doanh nghiệp phải vay vốn từ bên ngoài hay bán các tài sản với giá thấp hay sử dụng các biện pháp bất lợi khác gây thất thoát và làm giảm hiệu quả sử dụng vốn. Một khi Công ty bị ứ đọng một lượng vốn khá lớn do khách hàng chiếm dụng, các cơ hội kinh doanh khác cũng dễ dàng bị bỏ lỡ. Tuy các khoản phải thu của Công ty trong những năm gần đây có xu hướng giảm nhưng tỷ trọng các khoản phải thu chiếm khá lớn trong cơ cấu vốn lưu động cũng như trong tổng vốn kinh doanh. Vì vậy số ngày thu tiền bình quân khá cao luôn là vấn đề đáng lo ngại của Công ty. Tốc độ luân chuyển các khoản phải thu thể hiện qua bảng 3.1. Qua bảng trên cho thấy bình quân các khoản phải thu của Công ty có xu hướng tăng lên. Tuy nhiên tốc độ tăng doanh thu tăng nhanh hơn tốc độ tăng các khoản phải thu (2,99% > 0,78%) nên kỳ thu tiền bình quân giảm xuống được 171 - 175 = -4 ngày, tỷ lệ giảm 2,29%. Đây là xu hướng khả quan của Công ty nhưng kỳ thu tiền bình quân quá cao (31/12/2010 là 171 ngày) làm Công ty bị ứ đọng một Trang 65 lượng vốn khá lớn làm tăng các khoản chi phí về quản lý, đòi nợ ... Chính vì vậy việc áp dụng các chính sách chiết khấu để rút ngắn kỳ thu tiền bình quân là cần thiết để Công ty tận dụng nguồn vốn một cách hiệu quả hơn. Bảng 3.1: Tốc độ luân chuyển các khoản phải thu 3.1.2. Nội dung thực hiện biện pháp: Khái niệm chiết khấu thanh toán: Chiết khấu thanh toán là số tiền mà Công ty cho bên mua khi bên mua thanh toán tiền hàng tháng trước thời hạn quy định trong hợp đồng. Ích lợi từ chiết khấu thanh toán: Đối với khách hàng sẽ được hưởng lợi khi thanh toán sớm. Đối với Công ty sẽ đẩy nhanh được vòng quay các khoản phải thu, rút ngắn thời gian thu tiền bình quân. Tuy nhiên, Công ty cũng phải chịu một khoản chi phí chiết khấu. Vậy, áp dụng chính sách chiết khấu như thế nào để hai bên cùng có lợi? Chúng ta cùng đi sâu vào phân tích nội dung của biện pháp để tìm ra khoảng tỷ lệ chiết khấu thích hợp có lợi cho cả Công ty lẫn khách hàng. * Đối với Công ty: Chiết khấu thanh toán được xây dựng trên cơ sở lãi vay ngắn hạn ngân hàng và tỷ suất sinh lợi trên vốn lưu động. Nghĩa là với số tiền vay ngân hàng, thay vì đầu tư vào khoản phải thu khách hàng, Công ty đầu tư vào mục đích kinh doanh để sau khi bù đắp chi phí lãi vay vẫn còn một khoản lợi nhuận. + Chi phí lãi vay: Năm 2010 Công ty vay ngắn hạn ngân hàng với lãi suất Trang 66 rth = 1,14%/tháng. Quy ra năm là: Giả sử trong năm 2011 mức lãi suất này sẽ không thay đổi khi Công ty có tiến hành vay nợ thêm. + Tỷ suất sinh lợi trên vốn lưu động: (rVLĐ) Như vậy, chi phí sử dụng vốn (CV) để đầu tư vào khách hàng là: CV = rn + rVLĐ = 14,57% + 2,02% = 16,59% Khi áp dụng chính sách chiết khấu thì Công ty phải chịu một khoản chi phí là: rCK x DTT. Để đem lại hiệu quả thì khoản chi phí này phải nhỏ hơn tiền lãi do khách hàng thanh toán trước thời hạn. Vấn đề đặt ra là xác định rCK? Vì vậy, trước hết, Công ty cần dự báo doanh thu thuần năm 2011. Dự báo doanh thu thuần năm 2011 của Công ty: Phương pháp dự báo: Dựa vào phương pháp dự báo thống kê ngắn hạn theo mô hình hàm xu thế tuyến tính đơn. Hàm dự báo doanh thu thuần cuả Công ty có dạng: y = a + bt y: Mức dự báo doanh thu thuần a, b: tham số Áp dụng phương pháp bình phương cực tiểu ta có: Trang 67 Dựa vào bảng báo cáo kết quả kinh doanh những năm qua ta lập được bảng sau: Bảng 3.2: Tính toán và dự báo doanh thu thuần a = 44.277.827 - 2.015.007 x 4 = 40.247.813 Hàm dự báo: y = 40.247.813 - 2.015.007t Dự báo năm 2011 (t = 4), mức doanh thu thuần dự báo là: y2011 = 40.247.813 + 2.015.007 x 4 = 48.307.841 (nghìn đồng) Giả sử nếu Công ty muốn giảm số ngày thu tiền bình quân từ 171 ngày xuống còn 120 ngày bằng cách áp dụng chiết khấu, ta lập bảng phân tích sau: Bảng 3.3: Bảng dự trù các khoản phải thu năm 2011 Qua bảng phân tích trên ta thấy mức chênh lệch giữa áp dụng chính sách và không áp dụng chính sách chiết khấu là: 6.972.097 nghìn đồng. Có nghĩa là khi đó các khoản phải thu bình quân của Công ty có thể giảm 6.972.097 nghìn đồng. Như vậy, khi áp dụng chiết khấu thì chi phí cơ hội mà Công ty được hưởng là: 6.792.097 Trang 68 x 16,59% = 1.126.809 nghìn đồng Tỷ lệ chiết khấu sẽ là: ∆X% x 48.307.841 nghìn đồng < 1.126.809 nghìn đồng ∆ X% < 2,33% Như vậy, để mang lại hiệu quả khi áp dụng biện pháp, Công ty sẽ áp dụng tỷ lệ chiết khấu nhỏ hơn 2,33% được tính theo doanh thu. * Đối với khách hàng: Khách hàng sẽ lựa chọn phương án nào có lãi. Nếu Công ty không áp dụng chính sách chiết khấu, khách hàng sẽ thanh toán tiền sau 171 ngày kể từ ngày nhận hàng. Khi áp dụng chính sách chiết khấu Công ty cần phải xem xét mức chiết khấu của mình có được khách hàng chấp nhận hay không? Mức chiết khấu này phải đem lại lợi ích cho khách hàng nhưng không đem đến sự thiệt hại cho Công ty. Biện pháp được đưa ra sẽ giảm số ngày thu tiền bình quân từ 171 ngày xuống 120 ngày. Như vậy sẽ giảm được 51 ngày kể từ ngày viết hóa đơn xuất hàng. Nếu khách hàng thanh toán cho Công ty trong vòng 120 ngày trở lại thì khách hàng sẽ vay ngắn hạn ngân hàng để thanh toán cho Công ty. Giả sử lãi suất mà Công ty vay bằng với mức lãi suất mà Công ty đã vay ngắn hạn năm 2010 là 1,14%/tháng, và giả sử mức lãi này không thay đổi thì trong vòng 120 ngày khách hàng sẽ vay ngắn hạn ngân hàng và phải chịu một mức lãi suất là: Vậy, nếu được hưởng tỷ lệ chiết khấu lớn hơn mức lãi suất 1,94% thì khách hàng sẽ chấp nhận thanh toán trước thời hạn. Tóm lại, qua tính toán cho thấy mức lãi suất chiết khấu mà Công ty có thể áp dụng là: 1,94% <= X <= 2,33%. Trong điều kiện doanh thu kế hoạch không thay đổi, lãi suất vay ngắn hạn ngân hàng là 1,14%/tháng, nếu Công ty muốn rút ngắn kỳ thu tiền bình quân xuống còn 120 ngày thì Công ty sẽ áp dụng tỷ lệ chiết khấu nằm trong khoảng từ 1,94% đến 2,33%. Nếu tỷ lệ này nhỏ hơn 1,94% thì khách hàng không chấp nhận thanh toán trước 120 ngày còn lớn hơn 2,33% thì Công ty sẽ Trang 69 bị lỗ. 3.1.3. Dự trù kinh phí: Vì tỷ lệ chiết khấu mà Công ty lựa chọn phải nằm trong khoảng 1,94% <= X <= 2,33% nên tổng kinh phí được dự trù là rất khó. Do đó Công ty cần phân tích khách hàng và căn cứ vào các khoản phải thu khách hàng mà áp dụng tỷ lệ chiết khấu cho hợp lý đồng thời có lợi cho cả hai phía. Để Công ty có lợi thì tỷ lệ chiết khấu càng gần 1,94% càng tốt. Còn để khách hàng có lợi thì tỷ lệ này càng gần 2,33% càng tốt. Thông thường để khách hàng chấp nhận thanh toán sớm hơn cho Công ty thì tỷ lệ chiết khấu đưa ra phải cao mới đủ sức hấp dẫn và thuyết phục khách hàng. Giả sử Công ty đưa ra mức chiết khấu là 2,0% mà được khách hàng chấp nhận thì chi phí chiết khấu được dự trù là: 48.307.841 x 2,0% = 966.156 (nghìn đồng) 3.1.4. Kết quả khi thực hiện biện pháp: Dự kiến trong năm 2011 nếu Công ty áp dụng chính sách chiết khấu thì có thể rút ngắn kỳ thu tiền bình quân xuống còn 120 ngày. Nếu không áp dụng biện pháp thì chi phí cơ hội là 840.862 nghìn đồng. Như vậy khi áp dụng tỷ lệ chiết khấu là 2,0% thì công ty sẽ thu được khoản lợi nhuận tăng thêm là: ∆ LN = 1.125.572 - 966.156 = 159.416 (nghìn đồng) Sau đây là bảng dự đoán tổng kết sau khi thực hiện biện pháp: Bảng 3.4: Tổng kết sau khi thực hiện biện pháp Trang 70 Như vậy nếu biện pháp được áp dụng thành công thì Công ty không bị chiếm dụng vốn quá lâu như hiện tại, hiệu quả sử dụng vốn lưu động sẽ được nâng cao hơn, đồng thời còn tạo điều kiện cho Công ty đứng trước các cơ hội kinh doanh mới. Tuy nhiên, biện pháp này còn phụ thuộc rất nhiều vào phía khách hàng. Vì vậy, Công ty cần có đội ngũ nhân viên Marketing trực tiếp thương lượng với phía khách hàng có khả năng giao tiếp tốt và chịu khó đi lại. Bên cạnh đó, Công ty nên xem xét và đòi nợ theo hình thức phân nhỏ, tức là thu một món nợ theo nhiều lần. Chẳng hạn có một khách hàng nợ 100 triệu đồng Công ty có thể tiến hành chia làm 3 phần và gia hạn cho khách hàng phải trả nợ trong khoảng thời gian 3 tháng. Nếu việc áp dụng trên vẫn chưa đòi được nợ thì kế toán tiến hành thu thập chứng từ, thông tin và khởi kiện khách hàng thông qua tòa án kế toán. Chính sách chiết khấu này có một ý nghĩa to lớn đối với việc sử dụng vốn lưu động, tiết kiệm chi phí lãi vay, nâng cao khả năng thanh toán hiện hành. 3.2. Giải pháp thứ hai. Dự đoán nhu cầu vốn lưu động của Công ty và tổ chức nguồn vốn lưu động đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh liên tục và tránh lãng phí vốn. 3.2.1. Căn cứ và mục đích của biện pháp: Căn cứ: Dự đoán đúng đắn nhu cầu vốn lưu động thường xuyên, cần thiết để đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành liên tục, tiết kiệm và có hiệu quả kinh tế cao là nội dung quan trọng của hoạt động tài chính doanh nghiệp. Trong điều kiện các doanh nghiệp chuyển sang thực hiện hạch toán kinh doanh theo cơ chế thị trường, mọi nhu cầu về vốn lưu động cho sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp đều phải tự trang trải thì điều này càng có ý nghĩa quan trọng và thiết thực. Theo phân tích ở phần 2 trong năm 2010 vừa qua Công ty đã để lãng phí một số vốn lưu động là 895.712 nghìn đồng làm giảm hiệu quả sử dụng vốn lưu động. Vì vậy, trong năm tới việc dự đoán nhu cầu vốn lưu động đảm bảo cho quá trình sản Trang 71 xuất kinh doanh được diễn ra liên tục và tránh lãng phí vốn là việc làm cần thiết và tất yếu. Mục đích của việc dự đoán nhu cầu vốn lưu động: - Đảm bảo cho quá trình sản xuất và lưu thông của doanh nghiệp được tiến hành liên tục, đồng thời tránh ứ đọng và lãng phí vốn. - Là cơ sở để tổ chức các nguồn vốn hợp lý, hợp pháp đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn lưu động của các doanh nghiệp. - Để sử dụng tiết kiệm, hợp lý và có hiệu quả vốn lưu động đồng thời là căn cứ để đánh giá công tác quản lý vốn lưu động trong nội bộ doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp xác định nhu cầu vốn lưu động quá cao sẽ không khuyến khích doanh nghiệp khai thác hết các khả năng tiềm tàng, tìm mọi biện pháp cải tiến hoạt động sản xuất kinh doanh để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động; gây nên tình trạng ứ đọng vật tư hàng hóa; vốn chậm luân chuyển và phát sinh các chi phí không cần thiết làm tăng giá thành sản phẩm. Ngược lại, nếu doanh nghiệp xác định nhu cầu vốn lưu động quá thấp sẽ gây nhiều khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp thiếu vốn sẽ không đảm bảo sản xuất liên tục, gây nên những thiệt hại do ngừng sản xuất, không có khả năng thanh toán và thực hiện các hợp đồng đã ký kết với khách hàng. Cũng cần lưu ý rằng nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp là một đại lượng không cố định và chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố như: - Quy mô sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp trong từng thời kỳ. - Sự biến động của giá cả các loại vật tư, hàng hóa mà doanh nghiệp sử dụng trong sản xuất. - Chính sách, chế độ về Lao động - Tiền lương đối với người lao động trong doanh nghiệp. - Trình độ tổ chức, quản lý và sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp trong quá trình dự trữ sản xuất, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Trang 72 Vì vậy, để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động, giảm thấp tương đối nhu cầu vốn lưu động không cần thiết, doanh nghiệp cần tìm các biện pháp phù hợp tác động đến các nhân tố ảnh hưởng trên sao cho có hiệu quả nhất. Sau đây em xin trình bày phương pháp dự đoán nhu cầu vốn lưu động tương đối đơn giản và dễ làm, đó là phương pháp tỷ lệ phần trăm trên doanh thu: 3.2.2. Nội dung của biện pháp: Phương pháp này được tiến hành qua 4 bước sau đây: - Bước 1: Tính số dư bình quân của các khoản phải thu trên bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp trong năm trước (năm báo cáo). - Bước 2: Chọn các khoản mục vốn lưu động chịu sự tác động trực tiếp và có quan hệ chặt chẽ với doanh thu rồi tính tỷ lệ phần trăm của các khoản mục đó so với doanh thu thực hiện được trong năm báo cáo. - Bước 3: Dùng tỷ lệ phần trăm đó để ước tính nhu cầu vốn sản xuất kinh doanh cho năm sau (năm kế hoạch) trên cơ sở doanh thu dự kiến năm kế hoạch. - Bước 4: Dự định huy động nguồn trang trải nhu cầu vốn sản xuất kinh doanh trên cơ sở kết quả kinh doanh năm kế hoạch. Tình hình thực tế tại Công ty TNHH ĐT TH Phúc Quang: Tình hình sử dụng vốn lưu động của Công ty được thể hiện ở bảng 3.5: Qua quá trình phân tích ở phần 2 ta thấy: Vốn lưu động của Công ty chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong cơ cấu tài sản: 40,86% năm 2009 và 42,40% năm 2010. Dựa vào bảng trên ta thấy, tốc độ tăng vốn lưu động bình quân lớn hơn tốc độ tăng tăng của doanh thu thuần (5,44% > 2,98%) dẫn đến vòng quay vốn lưu động bị chậm lại 0,02 vòng. Số liệu này cũng cho thấy khả năng quay vòng của vốn lưu động thấp (chỉ 1,02vòng/năm), đồng thời cũng cho thấy hiệu quả sử dụng vốn lưu động ở Công ty chưa cao, vốn lưu động còn bị lãng phí. Do đó trong năm tới ta cần dự đoán nhu cầu vốn lưu động để tổ chức quản lý và sử dụng nguồn vốn này một cách hợp lý và tiết kiệm. Cụ thể ta tiến hành như sau: Bảng 3.5: Tình hình sử dụng vốn lưu động Trang 73 Bước 1: Tính số dư bình quân của các khoản mục trong bảng cân đối kế toán năm 2010: Bảng 3.6: Trích bảng cân đối kế toán Bước 2: Ta nhận thấy tất cả các khoản mục ở phần tài sản đều chịu sự tác động trực tiếp của doanh thu, tuy nhiên do tính chất và đặc điểm của vốn cố định nên ta có thể tách riêng chúng ra. ở phần nguồn vốn ta nhận thấy chỉ có các khoản mục 2,3,4,5,6,7 của Nợ ngắn hạn có quan hệ trực tiếp và chặt chẽ với doanh thu. Ta tính tỷ lệ phần trăm các khoản mục này với doanh thu (bảng 3.7). Trang 74 Nhận xét: - Cứ 1 đồng doanh thu tiêu thụ sản phẩm tăng lên cần phải tăng 1,007 đồng vốn để bổ sung phần tài sản (100,7%). - Cứ 1 đồng doanh thu tiêu thụ tăng lên thì Công ty chiếm dụng đương nhiên (nguồn vốn phát sinh tự động) là 0,557 đồng (55,7%). Vậy thực chất 1 đồng doanh thu tăng lên Công ty chỉ cần bổ sung: 1,007 - 0,557 = 0,45 đồng vốn Bảng 3.7: Biểu diễn tỷ lệ % giữa các khoản mục có quan hệ trực tiếp và chặt chẽ với doanh thu Bước 3: Ước tính nhu cầu vốn lưu động: Dựa vào biện pháp 1, ta đã xác định được doanh thu dự kiến của Công ty năm 2011 là 48.307.841 nghìn đồng. Như vậy, so với năm 2010, doanh thu dự kiến tăng lên một lượng là: 48.307.841 - 46.065.211 = 2.242.630 nghìn đồng. Vậy, trong năm 2011 dự tính nhu cầu vốn lưu động cần tăng lên một lượng là: 2.242.630 x 45% = 1.009.183 nghìn đồng Bước 4: Tìm nguồn trang trải: Như vậy, với lượng vốn lưu động cần tăng thêm cho năm 2011 là 1.009.183 nghìn đồng, Công ty cần tìm nguồn tài trợ hợp lý để trang trải nhằm làm cho quá trình sản xuất và lưu thông được tiến hành liên tục, tránh ứ đọng, lãng phí vốn, cơ cấu lại nguồn vốn hợp lý, hợp pháp đồng thời tăng khả năng sinh lời của vốn chủ sở Trang 75 hữu. Để tìm được nguồn trang trải, Công ty có thể dùng lợi nhuận giữ lại, hoặc tìm biện pháp giảm TSLĐ ở những khoản mục dư thừa, hoặc tăng vốn chiếm dụng, hoặc có thể huy động từ bên ngoài để trang trải cho nhu cầu vốn lưu động của mình. * Trang trải từ lợi nhuận giữ lại: Lợi nhuận sau thuế của Công ty năm 2010 là 916.817 nghìn đồng. Nếu dùng toàn bộ lợi nhuận sau thuế để bổ sung nhu cầu vốn lưu động cần tăng lên trong năm 2011 thì vẫn còn thiếu một lượng vốn là: 1.009.183 - 916.817 = 92.366 nghìn đồng. Tuy nhiên, trên thực tế có rất ít doanh nghiệp dùng toàn bộ lợi nhuận có được để bổ sung vào nguồn vốn kinh doanh. Cuối năm 2010, Công ty dùng 50% lợi nhuận sau thuế để tái đầu tư. Như vậy, lợi nhuận còn lại để bổ sung nguồn vốn là: 916.817 x (1 - 50%) = 458.408,5 nghìn đồng. Lượng vốn cần huy động thêm là: 458.408,5 nghìn đồng. Lượng vốn này Công ty có thể huy động từ bên ngoài như vay, huy động từ đại lý mở tại các tỉnh. Tuy nhiên, giả sử Ban lãnh đạo Công ty muốn giảm khoản phụ thuộc tiền tài trợ từ bên ngoài họ kiểm tra sự thay đổi trong các kế hoạch hoạt động để xem xét các tác động của chúng lên nhu cầu tiền tài trợ từ bên ngoài, chẳng hạn: - Có thể tăng cường thu hồi các khoản phải thu (kết hợp với biện pháp 1). Theo đó, khoản phải thu năm 2011 chỉ chiếm 34,96% thay vì 46,26% như ban đầu: - Tìm biện pháp quản lý hàng tồn kho hợp lý, đẩy mạnh tiêu thụ để giảm lượng thành phẩm tồn kho. Theo đó, giả sử hàng tồn kho chiếm 30% thay vì 36,49% như lúc đầu. - Thiết lập mối quan hệ tốt hơn với nhà cung cấp khi mua hàng. Theo đó, khoản mua trả chậm tăng lên 24% thay vì 19,24% như lúc đầu. Sự biến động sau khi thực hiện biện pháp tìm nguồn trang trải này thể hiện ở bảng sau: Bảng 3.8: Bảng tỷ lệ % trên doanh thu sau điều chỉnh Trang 76 Dựa vào bảng trên ta thấy: Cứ 1 đồng doanh thu tăng thêm thì Công ty phải bỏ ra 0,83 đồng vốn để đầu tư TSLĐ, trong số này có 0,605 đồng chiếm dụng hợp pháp hay cứ 1 đồng doanh thu tăng thêm thì công ty chiếm dụng vốn đương nhiên là 0,605 đồng. Theo đó ta có: Cứ 1 đồng doanh thu tăng thêm thì Công ty phải bỏ ra: 0,83 - 0,605 = 0,225 đồng. Như vậy, trong năm 2011 Công ty cần bổ sung một lượng vốn là: 2.242.630 x 22,5% = 504.592 nghìn đồng Sau khi Công ty thực hiện các biện pháp kiểm tra kế hoach hoạt động thì lượng vốn cần bổ sung để hình thành TSLĐ giảm một lượng là: 1.009.183 - 504.592 = 504.591 nghìn đồng 3.2.3. Kết quả của biện pháp: Biện pháp đưa ra là nhằm dự báo nhu cầu vốn lưu động và tổ chức nguồn vốn lưu động đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh liên tục, là cơ sở để tổ chức sử dụng tiết kiệm hợp lý hiệu quả nguồn vốn. Qua nội dung trình bày ở trên ta rút ra các kết quả sau: - Nếu Công ty không thực hiện các biện pháp để kiểm tra các kế hoạch hoạt động thì lượng vốn cần bổ sung là 1.009.183 nghìn đồng. - Nếu thực hiện các biện pháp để kiểm tra các kế hoạch hoạt động như đã nêu trên thì lượng vốn cần bổ sung chỉ còn 504.592 nghìn đồng. Công ty bổ sung nguồn vốn từ lợi nhuận giữ lại là 458.408,5 nghìn đồng. Còn lại: 504.592 - 458.408,5 = 46.183,5 nghìn đồng Công ty tiến hành huy động từ bên ngoài (vay ngân hàng hoặc từ các thành viên liên kết). Trang 77 3.3. Một số biện pháp khác: Ngoài 2 biện pháp đã nêu trên, căn cứ vào thực trạng quản lý và sử dụng vốn lưu động của Công ty hiện nay, Công ty còn có thể áp dụng các biện pháp khác sau đây để cải thiện tình hình hiện tại của mình: 3.3.1. Biện pháp 3: Cân đối giữa nợ ngắn hạn và nợ dài hạn, giữa nguồn vốn ngắn hạn và nguồn vốn dài hạn, xác lập cơ cấu nguồn tài trợ vốn lưu động một cách tối ưu. Cách thực hiện: Công ty có thể áp dụng mô hình tài trợ vốn lưu động như sau: Toàn bộ TSCĐ và một phần TSLĐ thường xuyên được đảm bảo bằng nguồn vốn thường xuyên. Phần còn lại của TSLĐ thường xuyên và toàn bộ TSLĐ tạm thời được đảm bảo bằng nguồn vốn tạm thời. Từ mô hình tài trợ vốn lưu động (hình 3.1) ta nhận thấy có ưu và nhược điểm khi sử dụng biện pháp 3 như sau: Hình 3.1: Mô hình tài trợ vốn lưu động Ưu điểm: Sử dụng mô hình tài trợ này đem lại chi phí sử dụng vốn thấp và tính chất cơ cấu nguồn vốn cũng khá linh hoạt. Nhược điểm: Dễ gặp rủi ro. 3.3.2. Biện pháp 4: Trang 78 Giảm lượng thành phẩm tồn kho bằng cách tăng cường công tác tiêu thụ với các chiến lược Marketing thị trường. Từ đó tăng doanh thu tiêu thụ dẫn đến tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động. 3.3.3. Biện pháp 5: Tăng vay dài hạn và tiết kiệm chi phí lãi vay bằng cách huy động vốn nhàn rỗi của CBCNV trong Công ty. Ba biện pháp trên không trình bày được cụ thể là do có sự giới hạn của Đồ án tốt nghiệp. Tuy nhiên em cũng xin mạnh dạn đưa ra để tham khảo và có thể thực hiện để nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng vốn lưu động tại Công ty. Tất cả các biện pháp trình bày ở trên còn mang tính lý thuyết, song nếu được thực hiện một cách đúng đắn, chặt chẽ và thuận lợi thì có thể góp phần rất lớn vào việc cải thiện tình hình quản lý và sử dụng vốn lưu động hiện nay, làm lành mạnh hóa tình hình tài chính của Công ty. Trang 79 KẾT LUẬN Hiệu quả sử dụng vốn lưu động nói riêng và hiệu quả sản xuất kinh doanh nói chung là vấn đề sống còn của mỗi doanh nghiệp. Do vậy việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động phải là nhiệm vụ thường xuyên, cần thiết và là mục tiêu lâu dài của các doanh nghiệp. Qua việc nghiên cứu những vấn đề lý luận về vốn lưu động, đi sâu phân tích từng khoản mục tài sản lưu động đã cho thấy rõ hơn về tình hình sử dụng vốn lưu động ở Công ty TNHH ĐT TH Phúc Quang. Đồng thời cũng qua đó để tìm ra những nguyên nhân làm ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong Công ty. Với những biện pháp đã nêu ra trong Đồ án tốt nghiệp này, hy vọng rằng nó sẽ được Công ty xem xét để áp dụng nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng vốn lưu động và làm lành mạnh hóa tình hình tài chính trong Công ty. Tuy nhiên, cũng cần phải thấy rằng hiệu quả sử dụng vốn lưu động chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố. Do vậy, để nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng chúng đòi hỏi phải có sự cố gắng, quan tâm thường xuyên của toàn bộ cán bộ công nhân viên trong Công ty chứ không phải chỉ ở một bộ phận chức năng hay một cá nhân nào. Trong thời gian thực tập tại Công ty TNHH ĐT TH Phúc Quang, được sự giúp đỡ và chỉ bảo nhiệt tình của Thầy giáo hướng dẫn TS. Lưu Thanh Tâm cùng Ban Lãnh đạo Công ty và các cán bộ Phòng Kế toán đã giúp em hoàn thành Đồ án tốt nghiệp này. Em xin chân thành cám ơn sự giúp đỡ chân tình này. Tuy nhiên, do trình độ khả năng còn hạn chế nên những vấn đề được đề cập chắc chắn còn chưa đầy đủ và còn sai sót, em rất hy vọng sẽ nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô cùng tập thể cán bộ công nhân viên trong Công ty và toàn thể các bạn sinh viên để Đồ án được hoàn thiện với chất lượng cao hơn. Trang 80 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Chủ biên: PGS - TS Nguyễn Văn Công. (6 - 2003). Kế toán doanh nghiệp, NXB tài chính - Hà Nội. 2. Chủ biên: TS Phạm Văn Được - Đặng Kim Cương. (1998). Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh, NXB Thống kê - Hà Nội. 3. Chủ biên: PGS - TS Lưu Thị Hương, TS Vũ Duy Hào, (2003). Tài chính doanh nghiệp, NXB Lao động - Hà Nội. 4. Chủ biên: PGS - TS Nguyễn Văn Nam, (2003), Quản trị tài chính doanh nghiệp, - Hà Nội. 5. Chủ biên: TS Nguyễn Hữu Tài, (2002), Giáo trình lý thuyết Tài chính - Tiền tệ, NXB Thống kê - Hà Nội. 6. Giáo trình tài chính doanh nghiệp, Bộ tài chính - NXB tài chính - Hà Nội, 10 - 2003 7. Một số chuyên đề, luận văn, đồ án của các anh chị SV khoá trước 8. Tạp chí diễn đàn doanh nghiệp Trang 81 PHỤ LỤC Phụ lục 1: Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty TNHH ĐT TH Phúc Quang năm 2010. Phụ lục 2: Bảng cân đối kế toán năm 2010 của công ty TNHH ĐT TH Phúc Quang.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfKhoa luan tot nghiep SV Nguyen Duc Dinh.pdf
Luận văn liên quan