Đề tài Vai trò của Nhà nước đối với công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Đài Loan trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế (thời kỳ 1961 - 2003)

Tính cấp thiết của đề tài luận án Mấy thập kỷ qua, làn sóng công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đã và đang diễn ra ở nhiều nước đang phát triển. Ngày nay, khi toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới diễn ra sâu rộng do tác động của cách mạng khoa học - công nghệ thời đại thì CNH, HĐH chỉ có thể thành công và được rút ngắn khi có chiến lược đúng đắn, gắn với các chính sách, giải pháp điều hành phù hợp với những biến động của tình hình kinh tế trong nước và quốc tế. Thực tế, một số quốc gia và lãnh thổ đã sớm thành công trong công nghiệp hoá và gia nhập hàng ngũ NIEs, trong đó có Đài Loan. Sự thành công của Đài Loan có nguyên nhân rất quan trọng là sự định hướng và điều tiết của nhà nước. Điều đó đã để lại những bài học kinh nghiệm về vai trò của nhà nước đối với CNH, HĐH trong hội nhập kinh tế quốc tế. Ở nước ta, sự nghiệp CNH, HĐH theo đường lối đổi mới của Đảng ta đạt được những thành tựu quan trọng. Đất nước đã ra khỏi khủng hoảng về kinh tế - xã hội và bước sang giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH nhằm mục tiêu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020. Tuy nhiên, trong xu thế toàn cầu hoá kinh tế đang diễn ra ngày một mạnh mẽ thì yêu cầu tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững ở nước ta đang đứng trước những thời cơ và thách thức to lớn đối với CNH, HĐH trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế. Điều đó càng khẳng định vai trò cần thiết của nhà nước trong định hướng, điều hành CNH, HĐH ở nước ta. Đó là lý do nghiên cứu sinh chọn đề tài nghiên cứu: “Vai trò của nhà nước đối với công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Đài Loan trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế (thời kỳ 1961 - 2003) - Bài học kinh nghiệm và khả năng vận dụng vào Việt Nam”. 2. Tổng quan các công trình đã nghiên cứu có liên quan đến luận án Về vai trò của nhà nước đối với quá trình CNH, HĐH trong hội nhập kinh tế quốc tế đã được nhiều nhà nghiên cứu đi sâu phân tích. Nghiên cứu về Đài Loan ở nước ngoài, có thể nêu ra các công trình như: Chính sách và thể chế trong quá trình tăng trưởng nhanh của Dahlman & Ousa (1997); Vai trò của nhà nước trong phát triển kinh tế Đài Loan của Jocl (1994); Sự can thiệp của nhà nước trong phát triển hướng ngoại: Lý thuyết tân cổ điển và thực tiễn Đài Loan của Wade (1988); Điều tiết thị trường: Lý thuyết kinh tế và vai trò của chính phủ ở các nền kinh tế công nghiệp hoá mới Đông Á của Wade (1990); Một số nghiên cứu được tập hợp trong công trình Suy ngẫm lại sự thần kỳ Đông Á của Ngân hàng thế giới (2002) có đề cập đến vấn đề kinh nghiệm về vai trò của nhà nước đối với công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở một số nước Đông Á. Gần đây, công trình Nghịch lý của chiến lược đuổi kịp – Tư duy lại mô hình phát triển kinh tế dựa vào nhà nước của Li Tan (2008) đã tập trung nghiên cứu mô hình phát triển kinh tế dựa vào nhà nước để luận giải 2 về vai trò quan trọng của nhà nước đối với công nghiệp hoá ở một số nước như Liên Xô và các nền kinh tế mới nổi ở khu vực Đông Á, trong đó có Đài Loan Ở trong nước, một số nghiên cứu có đề cập đến vai trò của nhà nước với tư cách là một nhân tố tác động đến tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở một số nước và vùng lãnh thổ ở Đông Á như: Kinh tế Đài Loan - Tình hình và chính sách của Phạm Thái Quốc (1997); Công nghiệp hoá ở NIEs Đông Á và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam của Lê Bàn Thạch & Trần Thị Tri (2000). Đặc biệt, nhiều công trình nghiên cứu của Viện Khoa học xã hội Việt Nam như: Nhà nước trong kinh tế thị trường các nước đang phát triển châu Á của Đỗ Đức Định (1991); Công nghiệp hoá, hiện đại hoá: Những bài học thành công của Đông Á do Nguyễn Thị Luyến chủ biên (1998); Công nghiệp hoá, hiện đại hoá: Phát huy lợi thế so sánh - Kinh nghiệm của các nền kinh tế đang phát triển ở châu Á của Đỗ Đức Định (1999); Lựa chọn sản phẩm và thị trường trong ngoại thương thời kỳ công nghiệp hoá của các nền kinh tế Đông Á do Nguyễn Trần Quế chủ biên (2000); Một số vấn đề về công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam của Đỗ Hoài Nam (2004); Kinh tế học phát triển về công nghiệp hoá và cải cách nền kinh tế của Đỗ Đức Định (2004) đã đề cập và nghiên cứu về các chính sách của nhà nước nhằm thúc đẩy CNH, HĐH trong hội nhập kinh tế quốc tế ở một số nước Đông Á, trong có có Đài Loan và rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu toàn diện, có tính hệ thống về vai trò của nhà nước Đài Loan đối với CNH, HĐH trong hội nhập kinh tế quốc tế theo giác độ lịch sử kinh tế. 3. Mục tiêu của đề tài luận án - Làm rõ vai trò của nhà nước đối với CNH, HĐH ở Đài Loan trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. - Rút ra một số bài học kinh nghiệm về vai trò của nhà nước đối với CNH, HĐH trong hội nhập kinh tế quốc tế ở Đài Loan có ý nghĩa thực tiễn với nước ta hiện nay. 4. Những đóng góp mới của luận án - Làm rõ hơn cơ sở lý luận về vai trò của nhà nước đối với CNH, HĐH trong hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt với những nước có nền kinh tế ở điểm xuất phát thấp đang thực hiện CNH, HĐH nhằm đẩy nhanh tiến trình phát triển. - Tập trung nghiên cứu làm rõ thực trạng về vai trò nhà nước đối với CNH, HĐH ở Đài Loan trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế (thời kỳ 1961 - 2003) để rút ra một số bài học kinh nghiệm về vai trò của nhà nước trong CNH, HĐH. - Luận giải khả năng vận dụng một số kinh nghiệm về vai trò của nhà nước đối với CNH, HĐH trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Đài Loan với nước ta hiện nay. Đồng thời, đề xuất một số kiến nghị để tăng thêm tính khả thi trong vận dụng các kinh nghiệm đó. 3 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án - Đối tượng nghiên cứu của luận án là vai trò của nhà nước đối với CNH, HĐH ở Đài Loan. - Phạm vi nghiên cứu: Vai trò của nhà nước với CNH, HĐH trong hội nhập kinh tế quốc tế bao hàm nhiều vấn đề nhưng luận án chỉ tập trung nghiên cứu về việc lựa chọn chiến lược CNH, HĐH và các chính sách, giải pháp của nhà nước tác động vào tiến trình CNH, HĐH. Thời gian nghiên cứu từ năm 1961 đến năm 2003. Luận án lựa chọn thời gian nghiên cứu như vậy vì từ đầu những năm 1960, Đài Loan đã chuyển sang thực hiện chiến lược công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu và từng bước hội nhập vào đời sống kinh tế quốc tế. Đến năm 2003, Đài Loan chính thức là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) được khoảng 2 năm (Đài Loan trở thành thành viên chính thức của WTO từ 01/01/2002). Mục đích của luận án là làm rõ những điều chỉnh trong chính sách, giải pháp của nhà nước Đài Loan cho phù hợp với những quy định của WTO và tác động của nó đến tình hình kinh tế - xã hội. Điều này tương đồng với Việt Nam khi Việt Nam mới trở thành thành viên của WTO từ 01/01/2007. Tuy nhiên, về vai trò của nhà nước Đài Loan từ sau năm 2003 đến nay cũng được luận án nghiên cứu để làm rõ vai trò tích cực của nhà nước đối với sự phát triển của nền kinh tế tri thức trong hội nhập. 5. Phương pháp nghiên cứu Trong nghiên cứu, luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Luận án đã kết hợp sử dụng các phương pháp lịch sử, phương pháp lôgic, phương pháp đối chứng so sánh và phương pháp phân tích kinh tế để làm rõ nội dung nghiên cứu. Đồng thời trong nghiên cứu, tác giả đã kế thừa có chọn lọc những kết quả nghiên cứu của một số học giả trong nước và quốc tế, chủ yếu là kết quả phân tích kinh tế lượng. 6. Kết cấu của luận án Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án được kết cấu thành 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận về vai trò của nhà nước đối với công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong hội nhập kinh tế quốc tế. Chương 2: Vai trò của nhà nước đối với công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong hội nhập kinh tế quốc tế ở Đài Loan (thời kỳ 1961 - 2003) và bài học kinh nghiệm. Chương 3: Khả năng vận dụng một số kinh nghiệm về vai trò của nhà nước đối với công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong hội nhập kinh tế quốc tế ở Đài Loan vào nước ta hiện nay.

pdf24 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Lượt xem: 2661 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Vai trò của Nhà nước đối với công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Đài Loan trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế (thời kỳ 1961 - 2003), để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ TRONG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ TRONG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 1.1.1. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá 1.1.1.1. Khái niệm công nghiệp hoá Thực tiễn ở nhiều nước cho thấy, công nghiệp hoá diễn ra rất phong phú, đa dạng về mô hình bởi nó là quá trình phức tạp và bao hàm phạm vi rộng lớn. Do thời điểm xuất phát và phương thức tiến hành khác nhau nên bản thân khái niệm công nghiệp hoá cũng được quan niệm theo những cách tiếp cận khác nhau. Luận án đã nêu ra một số quan niệm về công nghiệp hóa như quan niệm công nghiệp hóa cổ điển, quan niệm công nghiệp hóa của Liên Xô, của Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên Hợp quốc (UNIDO)... Nhìn chung, mỗi cách quan niệm về công nghiệp hoá trên đây đều có nhân tố hợp lý, nó tuỳ thuộc vào hoàn cảnh cụ thể và gắn với những yêu cầu đặt ra trong phát triển. Tuy nhiên, các quan niệm này chưa đề cập đến một nội dung quan trọng là khía cạnh cơ chế, thể chế của quá trình công nghiệp hoá. Từ thực tế ấy, tác giả của luận án cho rằng: Công nghiệp hoá là quá trình chuyển biến một nền kinh tế nông nghiệp mang tính tự cấp, tự túc khép kín với lao động thủ công là chủ yếu sang một nền kinh tế công nghiệp, vận hành theo cơ chế thị trường dựa trên sự phân công lao động xã hội phát triển ở trình độ cao, với lao động bằng máy móc, kỹ thuật và công nghệ hiện đại trong tất cả các lĩnh vực kinh tế nhằm tăng năng suất lao động xã hội và thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. 1.1.1.2. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá Hiện đại hoá được hiểu là toàn bộ các quá trình, các dạng cải biến, các bước quá độ từ các trình độ kinh tế - kỹ thuật khác nhau lên trình độ mới cao hơn dựa trên những thành tựu của khoa học - công nghệ. Như vậy, công nghiệp hoá luôn phải đi đôi với hiện đại hoá. Theo quan điểm của Đảng ta thì “CNH, HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính, sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học và công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao”. 1.1.2. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong hội nhập kinh tế quốc tế 1.1.2.1. Hội nhập kinh tế quốc tế Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình các quốc gia thực hiện mô hình kinh tế mở, tự nguyện tham gia vào các định chế kinh tế và tài chính quốc tế, thực hiện thuận lợi hoá và tự do hoá thương mại, đầu tư và các hoạt động kinh tế đối ngoại khác; là sự gắn kết nền 5 kinh tế của mỗi quốc gia vào các tổ chức kinh tế khu vực và thế giới, trong đó mối quan hệ giữa các thành viên có sự ràng buộc theo những quy định chung của các tổ chức đó. 1.1.2.2. Mục tiêu của CNH, HĐH trong hội nhập kinh tế quốc tế - Thứ nhất, trang bị và trang bị lại công nghệ cho nền kinh tế, phát triển ngành nghề mới, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế. - Thứ hai, chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng hiện đại. - Thứ ba, tạo ra những chuyển biến cơ bản về thể chế và xã hội. - Thứ tư, mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế. 1.1.2.3. Những nhân tố ảnh hưởng đến CNH, HĐH trong hội nhập kinh tế quốc tế * Các nhân tố bên trong bao gồm các nguồn lực (vốn, công nghệ, nhân lực), thể chế, cơ chế huy động và phân bổ sử dụng các nguồn lực, dung lượng thị trường... * Các nhân tố bên ngoài: - Thứ nhất, cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại thúc đẩy sự phát triển của phân công lao động quốc tế - Thứ hai, các công ty xuyên quốc gia ngày càng phát triển mạnh, đóng vai trò then chốt và chi phối nền kinh tế thế giới - Thứ ba, sự gia tăng ảnh hưởng của các tổ chức kinh tế, tài chính quốc tế đối với các quốc gia trong hội nhập kinh tế quốc tế - Thứ tư, xu hướng đối thoại, hợp tác kinh tế giữa các quốc gia ngày càng mở rộng và phát triển 1.2. VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ TRONG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 1.2.1. Một số lý thuyết về vai trò của nhà nước đối với sự phát triển kinh tế Trong lịch sử, đã có nhiều lý thuyết kinh tế theo những cách tiếp cận khác nhau bàn về vai trò của nhà nước đối với sự phát triển kinh tế. Luận án đã khái quát một số trường phái lý thuyết kinh tế học bàn về vai trò của nhà nước như Trường phái Keynes, Trường phái Tân cổ điển; Trường phái chính hiện đại; Trường phái Cấu trúc luận và Thuyết tự do mới... Luận án còn đề cập đến các lý thuyết về phương pháp và công cụ giải quyết những vấn đề kinh tế của các nước đang phát triển và lý thuyết về lợi thế so sánh – cơ sở của chính sách thương mại quốc tế. Mặc dù còn những quan điểm chưa đồng nhất nhưng về cơ bản các trường phái lý thuyết đều thống nhất rằng, nhà nước ở các quốc gia có chủ quyền vẫn tiếp tục đóng vai trò quan trọng, không chỉ định hướng mà còn can thiệp trực tiếp hoặc gián tiếp tạo những điều kiện thuận lợi cho kinh tế phát triển. 1.2.2. Vai trò của nhà nước đối với CNH, HĐH trong hội nhập kinh tế quốc tế ở các nước đang phát triển 1.2.2.1. Nhà nước xác định và điều chỉnh chiến lược CNH, HĐH Vai trò quan trọng trước tiên của nhà nước đối với CNH, HĐH là phải xác định rõ chiến lược CNH, HĐH để định hướng dài hạn cho quá trình thực hiện cũng như lựa chọn 6 hệ thống các chính sách và giải pháp để đạt được những mục tiêu đề ra. Đó là việc xác định các mục tiêu và biện pháp hành động để từ đó lựa chọn phương án tối ưu trong quá trình thực hiện. Trong thực tế đã có hai loại hình chiến lược công nghiệp hoá được thực hiện ở nhiều nước đang phát triển và đem lại những thành tựu nhất định là Chiến lược công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu và chiến lược công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu. Thời gian gần đây, một số nhà nghiên cứu đã đề xuất chiến lược công nghiệp hoá mới, đó là chiến lược công nghiệp hoá hỗn hợp hay còn gọi là chiến lược công nghiệp hoá theo hướng hội nhập quốc tế. Đó là sự điều chỉnh có sự kết hợp của hai chiến lược thay thế nhập khẩu và hướng về xuất khẩu trong đó hướng về xuất khẩu là chủ yếu, thay thế nhập khẩu đóng vai trò bổ sung. 1.2.2.2. Nhà nước đề ra các chính sách thúc đẩy CNH, HĐH Xác định chiến lược là một trong những yếu tố mang tính nền tảng định hướng cho CNH, HĐH. Tuy nhiên, để thực hiện nội dung chiến lược đề ra rất cần đến vai trò can thiệp, điều tiết của nhà nước thể hiện ở chức năng tạo lập cơ chế và các chính sách, giải pháp thúc đẩy tiến trình CNH, HĐH. Bao gồm: a. Về chính sách phát huy động lực của kinh tế thị trường đối với CNH, HĐH b. Về chính sách điều chỉnh cơ cấu ngành kinh tế gắn với phát huy lợi thế so sánh c. Về chính sách huy động vốn cho CNH, HĐH d. Về chính sách phát triển khoa học - công nghệ e. Về chính sách phát triển nguồn nhân lực f. Về chính sách thúc đẩy xuất khẩu g. Về chính sách đầu tư và phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật Chương 2 VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ TRONG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ Ở ĐÀI LOAN (THỜI KỲ 1961 - 2003) VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM 2.1. KHÁI QUÁT VỀ TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI ĐÀI LOAN GIAI ĐOẠN 1949 - 1960 Luận án đã khái quát về điểu kiện tự nhiên, kinh tế, chính trị, xã hội để thấy được những khó khăn và thuận lợi của Đài Loan khi bước vào công nghiệp hóa. Đồng thời, luận án cũng khái quát về tình hình công nghiệp hóa theo chiến lược thay thế nhập khẩu để làm rõ thành tựu và những khó khăn thách thức của Đài Loan nếu tiếp tục duy trì chiến lược này. 2.2. VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CNH, HĐH TRONG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ Ở ĐÀI LOAN (THỜI KỲ 1961 - 2003) 2.2.1. Giai đoạn 1961 - 1982 7 2.2.1.1. Bối cảnh kinh tế - xã hội - Chiến lược công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu đã bộc lộ rõ những hạn chế. - Hoạt động thương mại và đầu tư quốc tế, sự phát triển mạnh của khoa học kỹ thuật đã tạo điều kiện cho Đài Loan cơ hội tiếp thu những nguồn lực từ nước ngoài để phát triển các ngành kinh tế hướng về xuất khẩu. 2.2.1.2. Nội dung chiến lược CNH, HĐH Từ đầu những năm 1960, nhà nước Đài Loan đã chuyển hướng sang thực hiện chiến lược công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu. Về mục tiêu: tập trung đầu tư phát triển các ngành công nghiệp hướng xuất khẩu để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. Về bước đi: Giai đoạn đầu tập trung phát triển các ngành sử dụng nhiều lao động để khai thác lợi thế về lao động giá rẻ, sau đó tập trung phát triển một số ngành công nghiệp nặng sản xuất các tư liệu sản xuất thay thế nhập khẩu và các ngành công nghiệp có hàm lượng vốn lớn, công nghệ cao. Bước tiếp theo là phát triển mạnh các ngành dịch vụ và các ngành công nghiệp mới nhằm tạo ra một cơ cấu ngành kinh tế năng động, hiệu quả và hướng dần đến giai đoạn phát triển kinh tế tri thức. Về định hướng giải pháp huy động các nguồn lực cho CNH, HĐH: Thị trường nước ngoài cũng được coi là động lực cho sự phát triển. Đài Loan coi trọng các chính sách thu hút các nguồn lực từ bên ngoài, nhất là các nguồn lực về vốn, công nghệ cho đầu tư phát triển. 2.2.1.3. Các chính sách, giải pháp trong CNH, HĐH a. Chính sách tự do hoá kinh tế và ổn định môi trường kinh tế vĩ mô - Cải cách chế độ tỷ giá, thực hiện chính sách thuế ưu đãi nhằm khuyến khích đầu tư tư nhân, nới lỏng kiểm soát xuất nhập khẩu và tiến tới chính sách tự do mậu dịch... - Chú trọng cân bằng ngân sách. - Kiểm soát và ngăn chặn tình trạng lạm phát. b. Chính sách thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế - Về công nghiệp, những năm 1960, phát triển các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động, quy mô nhỏ và kỹ thuật không đòi hỏi cao, chủ yếu là công nghiệp nhẹ và lắp ráp. Đầu những năm 1970, khuyến khích phát triển công nghiệp có hàm lượng vốn và kỹ thuật cao, đồng thời phát triển một số ngành công nghiệp nặng, công nghiệp hoá chất nhằm sản xuất nguyên liệu, máy móc và thiết bị thay cho nhập khẩu. Từ cuối những năm 1970, chính phủ Đài Loan ưu tiên phát triển các loại hình công nghiệp công nghệ cao, sản phẩm có giá trị gia tăng lớn. - Về khu vực dịch vụ, chính quyền Đài Loan khuyến khích phát triển những ngành dịch vụ phục vụ sản xuất như vận tải, thông tin, dịch vụ tài chính, tiền tệ... - Về nông nghiệp, chính sách của nhà nước tập trung phát triển một số loại sản phẩm cây trồng, vật nuôi có năng suất cao để phục vụ xuất khẩu. c. Chính sách huy động nguồn lực tài chính cho công nghiệp hoá - Đảm bảo cân đối ngân sách nhằm tập trung chi cho công nghiệp hoá 8 - Chính sách khuyến khích đầu tư tư nhân + Chính quyền Đài Loan đã ban hành hệ thống các văn bản pháp luật nhằm tạo môi trường pháp lý ổn định. + Nới lỏng các biện pháp kiểm soát nhập khẩu, cho phép các công ty tư nhân được tự do xuất khẩu, miễn và giảm thuế đối với một số sản phẩm xuất khẩu. + Khuyến khích mô hình cơ cấu công nghiệp hai tầng. + Thực hiện những chính sách trợ cấp, chính sách tín dụng lãi suất thấp. Những chính sách ưu đãi và khuyến khích của nhà nước đã tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế tư bản tư nhân phát triển. Đến những năm 1980, khu vực tư nhân có hơn 100 tập đoàn doanh nghiệp lớn, hơn 70 vạn doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) với tổng vốn đầu tư là 7,2 tỷ USD, đóng góp 51,5% tổng vốn đầu tư của Đài Loan. Tính đến năm 1982, các DNVVN chiếm 99,5% trong tổng số doanh nghiệp và chiếm 70% số lao động có việc làm, chiếm 55% giá trị tăng thêm và 65% tổng kim ngạch xuất khẩu. - Tăng cường huy động nguồn vốn từ các tầng lớp dân cư thông qua hệ thống ngân hàng và các trung gian tài chính + Để tăng khả năng tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế cho đầu tư phát triển, nhà nước đã thực hiện chính sách lãi suất thực dương. + Tạo điều kiện cho sự ra đời của các tổ chức tài chính phi ngân hàng như các công ty bảo hiểm, các công ty đầu tư uỷ thác, các công ty tài chính ngắn hạn... - Chính sách thu hút nguồn vốn nước ngoài Đài Loan cũng chú ý khai thác nguồn vốn từ nước ngoài bao gồm vốn viện trợ, vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp. Để thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), nhà nước Đài Loan đã không ngừng cải thiện môi trường đầu tư thông qua việc ban hành hệ thống pháp luật đồng bộ; xây dựng các khu chế xuất; có chính sách đảm bảo đặc quyền và ưu đãi về thuế cho các doanh nghiệp có vốn nước ngoài. d. Chính sách phát triển khoa học - công nghệ - Chính sách nhập khẩu công nghệ: Trong những năm 1960, nhà nước khuyến khích nhập khẩu các dây chuyền sản xuất đồng bộ nhằm phát triển các ngành công nghiệp thu hút nhiều lao động, cần ít vốn đầu tư. Những năm 1980, Đài Loan triển khai nhập khẩu các công nghệ cao để phát triển các ngành đòi hỏi vốn và kỹ thuật nhiều hơn. - Để tạo thúc đẩy chuyển giao công nghệ thông qua FDI, nhà nước áp dụng chế độ thuế ưu đãi với các công ty nước ngoài đầu tư vào những ngành kỹ thuật cao. - Chú trọng nâng cao năng lực khoa học - công nghệ quốc gia. Trong những năm 1980, ngân sách đầu tư cho khoa học - công nghệ trung bình tăng 20% hàng năm. Nhà nước Đài Loan rất chú trọng khuyến khích tư nhân và có chính sách phối hợp, hỗ trợ khu vực kinh tế tư nhân đầu tư nghiên cứu và triển khai (R&D). - Nhà nước cũng chú trọng phát triển thị trường công nghệ và có chính sách ưu đãi, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. 9 e. Chính sách phát triển nguồn nhân lực - Mở rộng phát triển hệ thống các trường phổ thông, trường dạy nghề và đại học. - Ngoài việc đảm bảo nguồn vốn đầu tư từ ngân sách, nhà nước Đài Loan đã có các chính sách thu hút nguồn lực đa dạng xã hội vào xây dựng, phát triển các cơ sở giáo dục, đào tạo. - Khuyến khích sinh viên du học và có những biện pháp thu hút sinh viên về nước. - Mời các chuyên gia nước ngoài làm việc với chế độ lương cao, trao quyền độc lập trong nghiên cứu và xây dựng các chương trình nghiên cứu riêng. Nhìn chung, chính sách phát triển giáo dục - đào tạo đã giúp Đài Loan có mặt bằng dân trí cao. Năm 1982, 21,51% tổng số lao động tốt nghiệp các trường trung cấp và đào tạo nghề; số người tốt nghiệp các trường đại học, cao đẳng và sau đại học chiếm 11,12%. f. Chính sách khuyến khích xuất khẩu - Tiến hành cải cách chế độ tỷ giá hối đoái theo hướng thực hiện chế độ một tỷ giá hối đoái thống nhất và hạ giá đồng tiền mới Đài Loan 62%. - Chính phủ nới lỏng kiểm soát nhập khẩu và thực hiện chính sách tự do hoá đối với các đầu vào nhập khẩu cần thiết cho việc sản xuất hàng xuất khẩu. - Chính quyền có chính sách bảo hộ và trợ cấp với nhiều hình thức, thực hiện khen thưởng cho những cơ sở có doanh thu xuất khẩu cao. - Thành lập các khu chế xuất (Cao Hùng, Nam Tử, Đài Trung) nhằm thu hút các nhà đầu tư nước ngoài để thúc đẩy xuất khẩu. Giai đoạn từ 1966 đến 1978, tổng kim ngạch xuất khẩu của ba khu chế xuất là 7 tỷ USD, xuất siêu 1,68 tỷ USD. g. Chính sách xây dựng và phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng Chú trọng xây dựng và phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng tương đối hoàn chỉnh, đồng bộ, bao gồm hệ thống giao thông vận tải, khu công nghiệp… 2.2.1.4. Kết quả chủ yếu của CNH, HĐH - Kinh tế Đài Loan tăng trưởng bình quân năm trong thập kỷ 1960 là 8,3%; thập kỷ 1970 là 10,2%. Hình 2.1: Tốc độ tăng trưởng kinh tế Đài Loan giai đoạn 1960-1982 Nguồn: Council for Economic Planning and Development, R.O.C: Taiwan Statistical Data Book, 2004, p. 5. 10 - Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng hiện đại. Tỷ trọng của nông nghiệp trong GDP giảm nhanh, tỷ trọng của công nghiệp và dịch vụ cũng có xu hướng ngày càng tăng. Hình 2.2: Cơ cấu ngành kinh tế của Đài Loan năm 1983 Nguồn: Council for Economic Planning and Development, R.O.C: Taiwan Statistical Data Book, 2004, p. 53. - Kim ngạch xuất khẩu của Đài Loan tăng bình quân 28,5% giai đoạn 1970 - 1980. Mức xuất siêu của Đài Loan tăng mạnh, năm 1971 chỉ là 216 triệu USD thì năm 1981 đạt hơn 1,4 tỷ USD và đến năm 1983 đạt hơn 4,83 tỷ USD. Hình 2.3: Kim ngạch xuất khẩu của Đài Loan giai đoạn 1960 -1982 Nguồn: Council for Economic Planning and Development, R.O.C: Taiwan Statistical Data Book, 2004, p. 214. Cơ cấu hàng xuất khẩu của Đài Loan đã có sự chuyển dịch theo hướng tăng nhanh tỷ trọng hàng chế tạo. Trong cơ cấu hàng xuất khẩu của Đài Loan, năm 1960, tỷ trọng hàng chế tạo xuất khẩu chỉ chiếm 10% thì năm 1970 đã chiếm 76% và năm 1980 chiếm 92%. Bên cạnh những thành tựu đạt được trong phát triển kinh tế nhưng nền kinh tế Đài Loan vẫn còn một số hạn chế. Đó là: Tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao; Trình độ khoa học - công nghệ cho sự phát triển của những ngành công nghệ cao ngang tầm các nước phát triển còn nhiều hạn chế; Đài Loan vẫn còn phụ thuộc nhiều vào công 11 nghệ của nước ngoài; Tình trạng ô nhiễm môi trường trầm trọng trong khi Đài Loan chưa thực sự chú ý đến việc phát triển các công nghệ sạch v.v... 2.2.2. Giai đoạn 1983 - 2003 2.2.2.1. Bối cảnh kinh tế - xã hội - Đồng nội tệ lên giá, cán cân thương mại rơi vào tình trạng mất cân đối, những ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động gặp nhiều khó khăn do sự gia tăng chi phí về tiền công, giá đất và chi phí xây dựng cơ bản khiến giá thành sản phẩm gia tăng và giảm sức cạnh tranh của sản phẩm... - Những sản phẩm xuất khẩu chủ lực của Đài Loan gặp sự cạnh tranh quyết liệt của các quốc gia phát triển, việc mở rộng thị trường mới gặp nhiều khó khăn. 2.2.2.2. Nhà nước điều chỉnh nội dung chiến lược CNH, HĐH Năm 1983, Đài Loan thực hiện chính sách Tam hoá (tự do hoá, quốc tế hoá và chế độ hoá) nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng; chuyển dần từ nặng về tăng trưởng kinh tế thuần tuý sang phát triển kinh tế - xã hội và phát triển bền vững với sự kết hợp kinh tế - kỹ thuật - xã hội - môi trường; phát triển nền kinh tế tri thức và hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới. 2.2.2.3. Các chính sách, giải pháp trong CNH, HĐH a. Chính sách điều chỉnh cơ cấu kinh tế - Về công nghiệp: Từ đầu những năm 1980, chính phủ Đài Loan đề ra mục tiêu hiện đại hoá các ngành công nghiệp truyền thống và tập trung đầu tư cho những ngành công nghiệp có triển vọng gắn với thành tựu khoa học - công nghệ hiện đại. Đầu những năm 1990, chính phủ Đài Loan định hướng tập trung phát triển 10 ngành công nghiệp mũi nhọn là: Công nghiệp thông tin; Công nghiệp viễn thông; Công nghiệp điện tử tiêu dùng; Công nghiệp chất bán dẫn; Công nghiệp sản xuất thiết bị tự động hóa và cơ khí chính xác; Công nghiệp hàng không và vũ trụ; Công nghiệp vật liệu cao cấp; Công nghiệp chế tạo hóa chất và hóa chất đặc dụng; Công nghiệp bảo vệ sức khỏe; Công nghiệp phòng trừ ô nhiễm nhằm mục tiêu điều chỉnh cơ cấu công nghiệp và cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại. Bước sang thế kỷ XXI, chính phủ Đài Loan có chiến lược đưa Đài Loan trở thành cường quốc thiết kế mẫu công nghiệp toàn cầu. - Về dịch vụ: Từ giữa những năm 1980, chính phủ Đài Loan chủ trương khuyến khích phát triển các ngành dịch vụ có tính chất sản xuất chuyên nghiệp và các ngành dịch vụ có tác dụng nâng cao chất lượng đời sống nhân dân. Những năm đầu thế kỷ XXI, Đài Loan đề ra mục tiêu tiếp tục phát triển các ngành dịch vụ công nghệ cao và chú trọng hai nhóm ngành: du lịch và các dịch vụ văn hoá, nghệ thuật. b. Chính sách khuyến khích đầu tư - Tiếp tục sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện hệ thống các văn bản pháp luật nhằm tạo điều kiện khuyến khích đầu tư. 12 - Cải cách hệ thống tài chính - ngân hàng với nguyên tắc tăng cường các quy chế an toàn, nguyên tắc thị trường và cơ sở hạ tầng tài chính; v.v... - Ban hành các chính sách ưu đãi về vốn, nhân tài, tạo điều kiện cho các tập đoàn lớn mở rộng quy mô, nâng cao trình độ kỹ thuật công nghệ, năng lực cạnh tranh. - Chính sách khuyến khích và hỗ trợ DNVVN Chính sách trợ giúp tài chính: Quỹ bảo lãnh tín dụng được thành lập từ năm 1974 với sự trợ giúp của chính phủ và các ngân hàng lớn; Quỹ phát triển DNVVN được thành lập từ năm 1989 với nguồn vốn khoảng 400 triệu USD...; Phát triển các hệ thống tư vấn cho các DNVVN với vai trò điều phối tổng thể của Cục quản lý DNVVN, bao gồm các lĩnh vực tài chính và tín dụng; quản lý; công nghệ; R&D; quản lý thông tin; v.v... - Chính sách thu hút đầu tư nước ngoài Chính sách thu hút FDI hướng vào những ngành công nghệ cao, có giá trị gia tăng lớn và hạn chế các dự án FDI đơn thuần nhằm mục đích lợi nhuận và có những biện pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong thu hút FDI: + Đảm bảo môi trường kinh doanh tự do, công bằng, bình đẳng. + Thực hiện chính sách tự do hoá tài chính. + Hoàn thiện cơ sở hạ tầng, thành lập các tổ chức hỗ trợ đầu tư, có chính sách đặc biệt ưu đãi các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư cho hoạt động R&D. - Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Đài Loan đầu tư ra nước ngoài. c. Chính sách phát triển khoa học - công nghệ Tập trung đầu tư nghiên cứu ứng dụng và triển khai công nghệ mới, khai thác triệt để thành tựu khoa học - công nghệ hiện đại của thế giới hướng đến phát triển nền kinh tế tri thức, Đài Loan đã đề ra kế hoạch phát triển khoa học công nghệ quốc gia với mục tiêu là tăng chi tiêu cho R&D lên 3% GDP, gia tăng số lượng sản phẩm và công nghệ đạt tiêu chuẩn cao nhất của quốc tế. Nhà nước có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp, các viện nghiên cứu của Đài Loan và của nước ngoài thành lập các trung tâm nghiên cứu tại Đài Loan và có các chính sách đãi ngộ đối với hoạt động khoa học - công nghệ. Bảng 2.2: Chỉ số phát triển khoa học công nghệ Đài Loan (1997 – 2002) Đơn vị 1997 1999 2001 2002 Số cán bộ nghiên cứu (CBNC) người 76.588 87.454 89.118 95.421 Tỷ lệ CBNC/10000 dân Tỷ lệ CBNC/10000 lao động Tỷ lệ chi tiêu cho R&D người người % GDP 35,3 81,2 1,88 39,7 90,4 2,05 39,9 90,7 2,16 42,5 95,7 2,30 Bằng sáng chế được cấp cái 29.356 29.144 53.789 45.022 Trong đó của người Đài Loan 19.551 18.052 32.310 24.846 Giá trị công nghệ mua bán Tr NT$ 34.010 40.228 - 56.507 Nguồn: National Science Council, R.O.C., Indicators of Science and Technology, Republic of China, 2003; Ministry of Economics Affairs, R.O.C., Industrial Statistical Survey Report 2002, Taiwan Statistical Data Book 2004. 13 d. Chính sách phát triển nguồn nhân lực - Hoàn thiện hệ thống luật pháp về giáo dục. - Thực hiện đa dạng hoá các hình thức giáo dục đào tạo và đảm bảo nguồn kinh phí cho phát triển giáo dục. - Chủ trương thiết lập một hệ thống học tập toàn diện lâu dài, khuyến khích các loại hình dịch vụ xã hội tự nguyện và thiết lập môi trường để quốc tế hoá việc học tập. - Tăng cường sử dụng các chuyên gia nước ngoài với chế độ lương cao, trao quyền độc lập trong nghiên cứu và xây dựng các chương trình nghiên cứu riêng. e. Tiếp tục đẩy mạnh tự do hoá và tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế - Thực hiện chính sách đẩy mạnh quá trình tự do hoá nhằm chủ động tham gia vào các tổ chức kinh tế quốc tế như APEC, OECD, GATT. Tháng 01 năm 2002, Đài Loan chính thức là thành viên của WTO. - Đài Loan cũng tiến hành rà soát, điều chỉnh các chính sách và luật pháp cho phù hợp với nguyên tắc của WTO; lợi dụng các nguyên tắc của WTO để chống lại các biện pháp bảo hộ mậu dịch không công bằng và xử lý các vụ kiện tranh chấp thương mại v.v… f. Chính sách phát triển và nâng cấp cơ sở hạ tầng - Cải tạo lại hệ thống giao thông vận tải; xây dựng cảng nhập khẩu dầu khí, khí đốt; xây dựng, tu sửa mạng lưới đường bộ, đường sắt cao tốc vòng quanh Đài Loan; xây dựng mạng lưới viễn thông quốc tế... - Chính sách phát triển khu công nghiệp của Đài Loan đã chuyển từ đầu tư diện rộng sang mục tiêu nâng cao chất lượng, tập trung xây dựng các khu công nghệ cao, đa dạng hoá các loại hình khu công nghiệp đa ngành, chuyên ngành, khu công nghiệp dành cho các doanh nghiệp trẻ mới thành lập. 2.2.2.4. Thành tựu của CNH, HĐH - Về tăng trưởng kinh tế: Hình 2.5: Tăng trưởng kinh tế của Đài Loan giai đoạn (1995 - 2006) Nguồn: Directorate-General of Budget, Accounting and Statistics, Executive Yuan, R.O.C., Statistical Abstract of National Income. 14 Trong thời gian 1995 - 2006, tốc độ tăng năng suất lao động từ khoa học - công nghệ là nhân tố đóng góp chủ yếu vào tăng trưởng kinh tế. Bảng 2.3: Nguồn tăng trưởng của Đài Loan giai đoạn (1995 - 2006) 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 Tốc độ tăng (%) GDP 4.6 5.8 5.8 -2.2 4.7 3.5 6.2 4.1 4.7 Lao động 1.2 1.0 1.1 -1.1 0.8 1.3 2.2 1.6 1.7 NSLĐ 3.4 4.8 4.7 -1.1 3.9 2.2 4.0 2.5 3.0 Phần đóng góp (%) GDP 100.0 100.0 100.0 100.0 100.0 100.0 100.0 100.0 100.0 Lao động 26.1 17.1 18.6 50.7 16.9 37.1 35.8 39.3 36.4 NSLĐ 73.9 82.9 81.4 49.3 83.1 62.9 64.2 60.7 63.6 Nguồn: Council for Economic Planning and Development, R.O.C: Taiwan Statistical Data Book, 2007. - Về cơ cấu kinh tế: Khu vực dịch vụ gia tăng nhanh chóng và khu vực nông nghiệp ngày càng được hiện đại hóa. Hình 2.6: Cơ cấu ngành kinh tế của Đài Loan năm 2003 Nguồn: Council for Economic Planning and Development, R.O.C: Taiwan Statistical Data Book, 2004, p. 5. - Về ngoại thương: Kim ngạch xuất khẩu của Đài Loan tăng nhanh. Năm 1998 đạt kim ngạch 112,595 tỷ USD và đến năm 2006 đạt 224,017 tỷ USD. Nhờ tăng nhanh xuất khẩu, Đài Loan đã dần chuyển sang xuất siêu. Giá trị xuất siêu năm 1998 là 7,366 tỷ USD, năm 2002 là 22,072 tỷ USD và năm 2006 đạt 21,319 tỷ USD. 15 Hình 2.7: Kim ngạch xuất khẩu của Đài Loan giai đoạn (1995 - 2006) Nguồn: Ministry of Finance, R.O.C., Monthly Statistics of Exports and Imports, Taiwan Area, R.O.C., Mar. 2007. Trong cơ cấu hàng xuất khẩu, sản phẩm công nghiệp đã chiếm tỷ trọng gần như tuyệt đối trong tổng cơ cấu hàng xuất khẩu (năm 2003 là 98,5%). Nhiều sản phẩm xuất khẩu của Đài Loan đã vươn lên đứng hàng đầu thế giới về giá trị và thị phần như linh kiện máy vi tính, màn hình LCD, máy tính xách tay... Hình 2.8: Cơ cấu hàng xuất khẩu của Đài Loan Nguồn: Council for Economic Planning and Development, R.O.C: Taiwan Statistical Data Book, 2004. 16 2.2.3. Nhận xét, đánh giá về vai trò của nhà nước đối với CNH, HĐH trong hội nhập kinh tế quốc tế của Đài Loan - Trong mỗi giai đoạn, khi xuất hiện những yêu cầu phát triển mới hay có sự thay đổi về môi trường quốc tế thì nội dung chiến lược lại được điều chỉnh linh hoạt và kịp thời. Thực chất, đó chính là quá trình liên tục điều chỉnh chiến lược CNH, HĐH theo hướng nâng cao chất lượng, tăng trưởng kinh tế và tiến tới phát triển kinh tế tri thức. - Nhà nước Đài Loan đã thực hiện tốt chức năng điều hành thực thi chiến lược CNH, HĐH bằng các kế hoạch (chủ yếu là kế hoạch 4 năm) trong đó có xác định những mục tiêu kinh tế cụ thể; bằng hàng loạt các chính sách nhằm tạo ra sự thay đổi thể chế kinh tế, từ mô hình thể chế nhà nước can thiệp sâu rộng, trực tiếp chuyển dần sang mô hình kết hợp cả hai yếu tố thị trường và nhà nước trong điều hành thực thi CNH, HĐH. - Chính phủ Đài Loan vừa thực hiện chính sách thay thế nhập khẩu song song với chính sách khuyến khích xuất khẩu; chính sách tài chính, thương mại vừa mang tính hướng nội, vừa mang tính hướng ngoại nhưng áp dụng với từng lĩnh vực khác nhau. Dựa trên định hướng mang tính chất nền tảng đó, chính phủ Đài Loan đã ban hành một hệ thống các chính sách đồng bộ nhằm huy động tổng hợp các nguồn lực về vốn, công nghệ, nhân lực cho CNH, HĐH. Nhờ đó, nhà nước Đài Loan đã tác động thúc đẩy phân bố các nguồn lực phù hợp với lợi thế so sánh của Đài Loan và đã đem lại thành công cho CNH, HĐH. 2.3. MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CỦA ĐÀI LOAN VỀ VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ TRONG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 2.3.1. Nhà nước cần chủ động nắm bắt thời cơ và lựa chọn thời điểm thích hợp điều chỉnh chiến lược CNH, HĐH 2.3.2. Nhà nước cần thực hiện vai trò gắn kết quá trình CNH, HĐH với phát triển kinh tế thị trường 2.3.3. Nhà nước cần có chính sách đa dạng hóa các nguồn vốn, mở rộng các công cụ huy động vốn cho CNH, HĐH 2.3.4. Nhà nước phải thực sự coi khoa học - công nghệ là động lực cho sự phát triển và có các chính sách khuyến khích phát triển khoa học - công nghệ, đặc biệt là các ngành công nghệ cao 2.3.5. Nhà nước cần đặc biệt chú trọng phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực trình độ cao để đẩy nhanh tiến trình CNH, HĐH 2.3.6. Nhà nước đóng vai trò quyết định trong phát triển cơ sở hạ tầng 2.3.7. Nhà nước cần có chính sách ngăn ngừa, hạn chế và giảm thiểu tác hại của tình trạng ô nhiễm môi trường ngay từ giai đoạn đầu công nghiệp hoá 17 Chương 3 KHẢ NĂNG VẬN DỤNG MỘT SỐ KINH NGHIỆM VỀ VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ TRONG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ Ở ĐÀI LOAN VÀO NƯỚC TA HIỆN NAY 3.1. KHÁI QUÁT VỀ VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ Ở NƯỚC TA TỪ 1986 ĐẾN NAY 3.1.1. Chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về CNH, HĐH Luận án đã khái quát chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về CNH, HĐH trên các nội dung: mục tiêu, lộ trình, bước đi và phương thức tiến hành CNH, HĐH. Đồng thời, luận án đã phân tích khái quát nội dung các chính sách của Nhà nước nhằm thúc đẩy CNH, HĐH để làm rõ tác động của Nhà nước vào quá trình CNH, HĐH. 3.1.2. Những kết quả chủ yếu của CNH, HĐH Luận án đã nêu lên những thành tựu chủ yếu của CNH, HĐH trên các phương diện: tăng trưởng kinh tế; chuyển dịch cơ cấu kinh tế; về ngoại thương… và chỉ ra những mặt hạn chế của nền kinh tế nước ta như: Tăng trưởng kinh tế còn dưới mức tiềm năng, chất lượng tăng trưởng chậm được cải thiện, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và của nền kinh tế còn thấp; Cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm, chưa gắn với khai thác và phát huy lợi thế so sánh của đất nước; Kết cấu hạ tầng cơ sở còn lạc hậu, thiếu đồng bộ chưa đáp ứng được yêu cầu CNH, HĐH v.v... 3.1.3. Nhận xét về vai trò của nhà nước đối với CNH, HĐH trong hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta thời gian qua - Về những mặt được Thứ nhất, làm rõ nội dung chiến lược CNH, HĐH ở Việt Nam đã có nhiều thay đổi: từ quan niệm công nghiệp hoá phát triển thành quan niệm CNH, HĐH và từ quan niệm CNH, HĐH phát triển thành quan niệm CNH, HĐH rút ngắn. Thứ hai, Nhà nước ta cũng thể hiện vai trò quan trọng trong tổ chức và chỉ đạo thực hiện CNH, HĐH. Đồng thời, việc xác định chủ thể của CNH, HĐH không chỉ “độc tôn” là Nhà nước như giai đoạn trước đó mà là tất cả các doanh nghiệp, các thành phần trong nền kinh tế và việc chính thức thừa nhận sự cơ chế thị trường là cơ chế huy động và phân bổ các nguồn lực trong CNH, HĐH thể hiện ở những chính sách như: chính sách tạo khung khổ pháp lý cho phát triển các loại thị trường, cho sự tồn tại và phát triển của các thành phần kinh tế, chính sách hội nhập kinh tế quốc tế, chính sách phát triển cơ sở hạ tầng... nhằm huy động và phân bổ sử dụng các nguồn lực cả trong và ngoài nước cho CNH, HĐH. 18 - Về những mặt hạn chế Thứ nhất, Việt Nam vẫn thiếu một chiến lược CNH, HĐH mang tính tổng thể, đặc biệt là còn thiếu chiến lược phát triển các ngành. Thứ hai, về vai trò chỉ đạo, điều hành của Nhà nước trong CNH, HĐH - Công tác quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội còn nhiều hạn chế - Vai trò quản lý nhà nước về các nguồn lực quốc gia (bao gồm cả tài chính quốc gia, đất đai, tài nguyên, ngân sách nhà nước…) còn nhiều yếu kém đã dẫn đến tình trạng lãng phí và thất thoát nhiều. - Về chính sách hội nhập kinh tế quốc tế - Những bất cập trong chính sách phát triển hạ tầng cơ sở v.v.... Nhìn chung, Nhà nước ta chưa thực sự phát huy được vai trò chủ thể sáng tạo tích cực trong tạo dựng và quản lý nền kinh tế. Nhà nước còn can thiệp quá sâu và quá rộng vào các hoạt động của nền kinh tế, ôm đồm quá nhiều chức năng của thị trường trong khi đó lại chưa tập trung vào việc thực hiện vai trò quản lý vĩ mô. 3.2. MỘT SỐ ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT GIỮA VIỆT NAM VÀ ĐÀI LOAN KHI THỰC HIỆN CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ TRONG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 3.2.1. Một số điểm tương đồng 3.2.2. Một số điểm khác biệt Luận án đã khái quát một số điểm tương đồng và khác biệt giữa Việt Nam và Đài Loan khi thực hiện CNH, HĐH trong hội nhập kinh tế quốc tế là cơ sở cho việc nghiên cứu xem xét vận dụng những kinh nghiệm về vai trò của Nhà nước trong CNH, HĐH ở Đài Loan vào nước ta. 3.3. KHẢ NĂNG VẬN DỤNG MỘT SỐ KINH NGHIỆM VỀ VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ TRONG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA ĐÀI LOAN VÀO NƯỚC TA HIỆN NAY 3.3.1. Lựa chọn mô hình CNH, HĐH rút ngắn gắn với việc phát huy lợi thế so sánh và phát triển kinh tế tri thức Xây dựng mô hình CNH, HĐH rút ngắn gắn với việc khai thác, phát huy lợi thế so sánh và từng bước hướng đến phát triển kinh tế tri thức là yêu cầu mang tính tất yếu để nhanh chóng rút ngắn khoảng cách tụt hậu so với các nền kinh tế phát triển đi trước và tiến lên hiện đại. Về mục tiêu chiến lược: Mục tiêu chiến lược của CNH, HĐH ở Việt Nam là kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội. Nhà nước cần cụ thể hoá những mục tiêu chủ yếu cần đạt tới như thu nhập bình quân đầu người, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng hiện đại (tỷ trọng của các ngành tri thức, tỷ trọng hàng công nghiệp chế tạo tăng nhanh, giảm bớt lao động nông nghiệp và gia tăng tỷ trọng lao động tri thức...). 19 Về lộ trình và phương thức thực hiện - Việt Nam CNH, HĐH theo mô hình rút ngắn, phải kết hợp cả hai quá trình: chuyển từ kinh tế nông nghiệp lên kinh tế công nghiệp và từ kinh tế công nghiệp lên kinh tế tri thức. Ở các nước đi trước, đó là hai quá trình nối tiếp nhau. Ở Việt Nam hiện nay, hai quá trình đó cần được lồng ghép vào nhau, hỗ trợ cho nhau và khi hoàn thành công nghiệp hoá thì cũng là lúc kinh tế tri thức đã phát triển. - Để tránh nguy cơ tụt hậu với các nước đi trước, Việt Nam cần tiến hành CNH, HĐH theo mô hình rút ngắn gắn với việc phát huy lợi thế so sánh và hướng đến sự phát triển kinh tế tri thức. Đó là một yêu cầu mang tính bắt buộc và có thể thực hiện được. Nội dung chiến lược CNH, HĐH phải đáp ứng được những yêu cầu sau: Thứ nhất, chiến lược CNH, HĐH ở Việt Nam cần có sự kết hợp cân đối giữa hướng về xuất khẩu và thay thế nhập khẩu, trong đó hướng về xuất khẩu là chủ yếu, thay thế nhập khẩu đóng vai trò bổ sung. Thứ hai, điều chỉnh linh hoạt nội dung chiến lược CNH, HĐH theo sự thay đổi những lợi thế so sánh nhằm tạo lập cơ cấu ngành kinh tế năng động, hiệu quả hướng đến kinh tế tri thức. - Hiện tại cần tiếp tục phát triển các ngành hiện có, các ngành truyền thống nhằm tận dụng cơ sở vật chất và lực lượng lao động, giải quyết việc làm, đáp ứng các nhu cầu cơ bản của nhân dân. - Trong những năm tới cũng sớm và cần phát triển nhanh có chọn lọc các ngành kinh tế dựa vào tri thức và công nghệ cao nhằm tạo ra một số sản phẩm có tính cạnh tranh cao. Do vậy, với nước ta, cần có chính sách ưu tiên phát triển các ngành công nghệ cao, trước hết là công nghệ thông tin và truyền thông, công nghệ sinh học, cơ điện tử v.v... 3.3.2. Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường và thực hiện dân chủ hoá đời sống kinh tế - xã hội tạo động lực huy động các nguồn lực đa dạng trong dân cư và nước ngoài cho CNH, HĐH Kinh nghiệm của Đài Loan cho thấy, phát triển kinh tế thị trường và thực hiện dân chủ hóa đời sống kinh tế - xã hội sẽ đóng vai trò tạo động lực huy động các nguồn lực tiềm tàng cho đầu tư phát triển. Thực tế hơn 20 năm đổi mới ở nước ta, việc giải phóng và phát huy các nguồn lực cho đầu tư phát triển đóng vai trò quan trọng hàng đầu đem lại những thành tựu về tăng trưởng và phát triển kinh tế. Tuy nhiên đến nay, Nhà nước vẫn chưa tạo được môi trường kinh doanh thật sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, giữa các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài. Từ kinh nghiệm của Đài Loan và từ thực tiễn Việt Nam cho thấy, tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường và thực hiện dân chủ hoá đời sống kinh tế - xã hội sẽ góp phần tạo động lực huy động mọi nguồn lực cho CNH, HĐH. Thực hiện dân chủ hoá đời sống kinh tế - xã hội cũng có nghĩa là Nhà nước phải trả cho thị trường và doanh nghiệp những chức năng vốn có của nó, đồng thời, vai trò của Nhà nước cần chuyển từ chỗ tham gia trực tiếp 20 quá nhiều vào lĩnh vực đầu tư kinh doanh sang thực hiện cung cấp các thể chế, khuôn khổ pháp lý và các hàng hoá công cộng. Nhà nước cần thực hiện tốt nhiệm vụ hình thành đồng bộ thể chế kinh tế thị trường và cải cách khu vực kinh tế Nhà nước. Do vậy, trước mắt, để đẩy nhanh nhịp độ CNH, HĐH, Nhà nước cần tập trung vào các nội dung sau: - Cơ cấu lại hệ thống doanh nghiệp nhà nước đồng thời thiết lập mối quan hệ hỗ trợ, bổ sung cho nhau giữa hai khu vực nhà nước và tư nhân. Khu vực kinh tế tư nhân phải được coi là một trong những động lực tăng trưởng, góp phần giải quyết việc làm, phân bổ và sử dụng các nguồn lực theo nguyên tắc thị trường. Khu vực kinh tế nhà nước phải là lực lượng tạo nền tảng cho việc tiếp cận công nghệ hiện đại, tập trung vào phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn, tạo lợi thế so sánh mới, đồng thời hỗ trợ tích cực cho sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. - Xã hội hoá mạnh hơn các lĩnh vực dịch vụ công ích và kinh doanh hạ tầng đô thị khác. Các quy hoạch, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế xã hội cần hướng tới lợi ích phát triển của tất cả các doanh nghiệp và thành phần kinh tế. Chi đầu tư phát triển kinh tế và xã hội từ các nguồn ngân sách nhà nước các cấp cũng cần được phân bổ đều và đảm bảo sự bình đẳng cho các đối tượng thụ hưởng thuộc các thành phần kinh tế khác nhau. - Đặc biệt, từ kinh nghiệm thành công của Đài Loan cho thấy, trong khu vực kinh tế tư nhân cần chú trọng phát triển loại hình DNVVN. Do vậy, để đẩy mạnh CNH, HĐH, Nhà nước cần có những chủ trương và chính sách phù hợp để khuyến khích các doanh nghiệp này phát triển. Đó là: + Hoàn thiện chính sách khuyến khích đầu tư thông qua những ưu đãi về vốn tín dụng, về điều kiện thuê đất, bảo đảm các quyền sở hữu, quyền kinh doanh hợp pháp... Nhà nước cần hỗ trợ các DNVVN tìm kiếm và mở rộng thị trường. + Khuyến khích tạo mối liên kết giữa các doanh nghiệp lớn và DNVVN để bổ sung hỗ trợ lẫn nhau. + Khuyến khích sự phát triển các làng nghề; khuyến khích loại hình kinh doanh công nghiệp, dịch vụ ở các vùng nông thôn. - Ngoài ra, việc tiếp tục thực hiện các chính sách nhằm gắn tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội; tạo cơ hội cho mọi người dân trong việc tìm việc làm, tăng thu nhập thông qua việc tăng cường và nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo; gia tăng phúc lợi xã hội cho mọi tầng lớp nhân dân cũng chính là nhằm thực hiện dân chủ hoá đời sống kinh tế - xã hội tạo động lực huy động các nguồn lực cho CNH, HĐH. Để giải quyết những vấn đề trên cần có những bước đột phá trong cải cách hành chính để cải cách diễn ra sâu rộng và triệt để hơn. Từ đó tạo lập bộ máy nhà nước dịch vụ hỗ trợ mạnh mẽ sự phát triển kinh tế của cộng đồng xã hội. Bên cạnh đó, trong hệ thống quản lý của nhà nước cần đẩy mạnh phân cấp nhiều hơn quyền lực kinh tế cho chính quyền địa phương. Nhà nước trung ương chủ yếu tập trung vào công tác định hướng 21 chiến lược, ổn định kinh tế vĩ mô và phát triển kinh tế đối ngoại trong nền kinh tế mở. Trên cơ sở đó, các địa phương sẽ phát huy tốt hơn tính chủ động trong đầu tư phát triển, sử dụng hợp lý, có hiệu quả các nguồn lực của mình. 3.3.3. Chính sách đa dạng hoá trong huy động vốn cho CNH, HĐH Từ kinh nghiệm Đài Loan cho thấy, Nhà nước phải thực sự coi trọng vấn đề huy động vốn cho đầu tư phát triển, trong đó phải tuân thủ quan điểm vốn trong nước là quyết định, vốn nước ngoài là quan trọng. Nguồn vốn trong nước không chỉ có vai trò quyết định ở ý nghĩa lâu dài mà còn là điều kiện không thể thiếu để thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn bên ngoài. Cụ thể: - Với nguồn vốn trong nước: Trước hết, nhà nước cần tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý ngân sách: + Cải cách chính sách thuế theo hướng khuyến khích đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, nuôi dưỡng nguồn thu; mở rộng phạm vi và đối tượng nộp thuế. Giảm tồn đọng thu ngân sách, hạn chế và chấm dứt hiện tượng chiếm dụng nguồn thu của ngân sách. + Việc phát hành trái phiếu Chính phủ ở thị trường trong và ngoài nước, phát hành trái phiếu của các địa phương cũng cần được khuyến khích nhằm huy động nguồn vốn nhàn rỗi từ các tầng lớp dân cư cho đầu tư phát triển. + Nhà nước cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện hệ thống các văn bản pháp lý về cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước để thu hút vốn từ các nhà đầu tư tư nhân. + Nhà nước cần có cơ chế, chính sách rõ ràng, minh bạch nhằm sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước tránh hiện tượng đầu tư dàn trải, lãng phí, đặc biệt là trong đầu tư xây dựng cơ bản. Thứ hai, bên cạnh các chính sách khuyến khích đầu tư tư nhân, nhà nước cần tập trung đổi mới chính sách tiền tệ và phát triển hệ thống tài chính nhằm nâng cao tỷ lệ tiết kiệm nội địa, kích thích đầu tư phát triển. - Với nguồn vốn nước ngoài: + Hoàn chỉnh luật pháp, đơn giản hoá thủ tục hành chính và bảo đảm thực hiện nghiêm minh, thống nhất, thực hiện tốt các ưu đãi về thuế, tín dụng đối với các đối tác đầu tư. + Chú trọng hơn đến tiến trình triển khai dự án FDI và nâng cao tỷ lệ vốn đầu tư đưa vào thực hiện. + Đổi mới công tác xúc tiến đầu tư. Về lâu dài, mục tiêu và các chính sách thu hút FDI của Việt Nam cần được điều chỉnh theo hướng khuyến khích những dự án FDI công nghệ cao, khai thác những lợi thế so sánh cấp cao, kiểm soát và hạn chế những dự án FDI chỉ thuần tuý khai thác lợi thế vốn có về lao động giá rẻ, về thị trường tiêu thụ tại chỗ và gây ô nhiễm môi trường nhằm góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại. Thu hút FDI từ các công ty 22 xuyên quốc gia hàng đầu thế giới là một định hướng vô cùng quan trọng cần được chú ý đặc biệt. Ngoài thu hút FDI, nhà nước cần có các chính sách và biện pháp nhằm tranh thủ các khoản ODA và các khoản vay ưu đãi từ các tổ chức kinh tế quốc tế và chính phủ các nước. Đồng thời, cần tạo cơ chế chính sách thuận lợi để tăng tốc độ giải ngân, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn này, tránh hiện tượng lãng phí. Nhà nước cần tiếp tục nghiên cứu, điều chỉnh chính sách nhằm tạo điều kiện cho nguồn vốn nước ngoài được hiện thực hoá ở thị trường chứng khoán và có chính sách quản lý hoạt động của nhà đầu tư nước ngoài nhằm đảm bảo nguyên tắc phát triển thị trường chứng khoán ổn định, bền vững và hạn chế đến mức thấp nhất những hậu quả tiêu cực của dòng vốn đầu tư nước ngoài qua cổ phiếu, trái phiếu. Vấn đề có thể coi là quan trọng bậc nhất, quyết định sự thành công cũng như hiệu quả của chính sách huy động vốn chính là cần phải phát triển và củng cố hệ thống tài chính - ngân hàng. Việc có một cấu trúc tài chính mạnh sẽ tạo điều kiện cho việc tiến hành các bước đi quyết định trong tiến trình tự do hoá các dòng đầu tư và tài chính. 3.3.4. Chú trọng phát triển khoa học - công nghệ nhằm khuyến khích và đẩy nhanh ứng dụng tiến bộ công nghệ và nâng cao trình độ công nghệ quốc gia - Nhà nước cần tiếp tục đổi mới và hoàn thiện chính sách phát triển khoa học - công nghệ, tạo môi trường thể chế thuận lợi cho hoạt động đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ thúc đẩy CNH, HĐH. Cụ thể: + Các cơ quan quản lý nhà nước về khoa học - công nghệ cần cụ thể hóa, thể chế hóa Chiến lược phát triển khoa học công nghệ. Xây dựng hành lang pháp lý phù hợp với điều kiện mới với yêu cầu phải tạo điều kiện thuận lợi nhất cho sự phát triển của khoa học - công nghệ. + Nhà nước cần tạo điều kiện rộng rãi hơn nữa cho các doanh nghiệp chủ động trong hoạt động đổi mới công nghệ. Đồng thời, các cơ quan quản lý Nhà nước cần tạo áp lực cần thiết để các doanh nghiệp nhanh chóng tiếp cận và đổi mới công nghệ. + Cần nhanh chóng hoàn thiện cơ chế, chính sách để chuyển các tổ chức khoa học - công nghệ sang chế độ tự chủ; Cần có chính sách hỗ trợ cho ứng dụng công nghệ cao, cho công tác nghiên cứu ứng dụng góp phần phát triển kinh tế - xã hội. + Nhanh chóng phát triển thị trường công nghệ. Cần sớm hoàn thiện hệ thống pháp luật về thị trường khoa học - công nghệ, hệ thống pháp luật về kinh tế v.v... - Trong chính sách phát triển khoa học - công nghệ cũng cần hết sức chú trọng ưu tiên thu hút đầu tư từ các công ty xuyên quốc gia, cần coi đó là một chủ trương có tính chiến lược để nhanh chóng nâng cao trình độ công nghệ. 3.3.5. Đổi mới chính sách phát triển nguồn nhân lực Kinh nghiệm Đài Loan cho thấy, nguồn nhân lực là một trong những nhân tố quan trọng nhất quyết định sự thành công trong CNH, HĐH và việc nâng cao vai trò của nhà 23 nước trong quản lý phát triển nguồn nhân lực có ý nghĩa quyết định. Do vậy, Nhà nước cần thực hiện các chính sách và giải pháp sau: - Tăng cường công tác dự báo: về nhu cầu đầu tư, nhu cầu nhân lực, khả năng đáp ứng của lực lượng lao động hiện có, tính toán số lượng, cơ cấu ngành nghề cần đào tạo... để có chính sách định hướng và hỗ trợ đào tạo. - Phải đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp giáo dục đào tạo theo hướng gắn chặt với thị trường lao động, với nhu cầu phát triển của sản xuất và kinh doanh. Do vậy, nhà nước cần có chính sách và biện pháp nhằm: + Nâng cao hiệu quả chủ trương xã hội hoá hoạt động giáo dục - đào tạo. + Cải cách hoạt động đào tạo nghề theo hướng đa dạng hoá các loại hình đào tạo nghề. Tăng nguồn ngân sách và khuyến khích mọi tầng lớp dân cư đầu tư xây dựng cơ sở vật chất cho đào tạo nghề. Khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trực tiếp thực hiện việc đào tạo nghề cho người lao động. 3.3.6. Cần có chính sách và biện pháp mang tính đột phá trong phát triển cơ sở hạ tầng Kinh nghiệm Đài Loan cho thấy, để tạo môi trường đầu tư hấp dẫn, còn cần đến một hệ thống cơ sở hạ tầng hoàn thiện và đồng bộ. Để góp phần đẩy nhanh CNH, HĐH nhằm thực hiện các mục tiêu đề ra, nhà nước cần hết sức coi trọng việc phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế - kỹ thuật. - Quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội phải đồng bộ và đi trước một bước. - Có chính sách khuyến khích khu vực kinh tế tư nhân trong và ngoài nước đầu tư phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng với những hình thức phù hợp và những điều kiện ưu đãi. Đặc biệt, cần coi trọng hiệu quả sử dụng nguồn vốn ODA trong xây dựng và phát triển hệ thống hạ tầng cơ sở. - Cần có chính sách khuyến khích tư nhân tham gia phát triển cơ sở hạ tầng, đặc biệt là phát triển cơ sở hạ tầng ở các địa phương, những vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa nhằm phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội hiện nay. - Nhà nước cần có chính sách đầu tư thoả đáng cho các thành phố lớn, các trung tâm đô thị nhằm phát triển hạ tầng cơ sở, tạo sức hút đầu tư cũng như ảnh hưởng lan toả đến các khu vực lân cận. 24 KẾT LUẬN Thực tiễn CNH, HĐH trong hội nhập kinh tế quốc tế ở một số quốc gia và lãnh thổ cho thấy, nhà nước có vai trò rất quan trọng, nhiều khi mang tính quyết định sự thành công của CNH, HĐH mà Đài Loan là một điển hình. Nghiên cứu đề tài: “Vai trò của nhà nước đối với công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Đài Loan trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế (thời kỳ 1961 - 2003) - Bài học kinh nghiệm và khả năng vận dụng vào Việt Nam”, luận án có những đóng góp sau: - Thứ nhất, luận án đã làm rõ những vấn đề lý luận về vai trò của nhà nước đối với CNH, HĐH trong hội nhập kinh tế quốc tế với việc định hướng chiến lược và có các chính sách thực hiện những mục tiêu và bước đi trong CNH, HĐH. - Thứ hai, luận án đã phân tích làm rõ vai trò của nhà nước Đài Loan đối với CNH, HĐH trong hội nhập kinh tế quốc tế và rút ra 7 bài học kinh nghiệm về vai trò của nhà nước đối với CNH, HĐH trong hội nhập kinh tế quốc tế của Đài Loan. Đó là: i) Nhà nước cần chủ động nắm bắt thời cơ và lựa chọn thời điểm thích hợp điều chỉnh chiến lược CNH, HĐH; ii) Nhà nước cần thực hiện vai trò gắn kết quá trình CNH, HĐH với phát triển kinh tế thị trường; iii) Nhà nước cần có chính sách đa dạng hóa các nguồn vốn, mở rộng các công cụ huy động vốn cho CNH, HĐH; iv) Nhà nước phải thực sự coi khoa học - công nghệ là động lực cho sự phát triển và có các chính sách khuyến khích phát triển khoa học - công nghệ, đặc biệt là các ngành công nghệ cao; v) Nhà nước cần đặc biệt chú trọng chính sách phát triển nguồn nhân lực nhằm đáp ứng nhu cầu công nghiệp hoá, nhất là phát triển nguồn nhân lực trình độ cao để đẩy nhanh tiến trình hiện đại hoá; vi) Nhà nước đóng vai trò quyết định trong phát triển hệ thống hạ tầng cơ sở; và vii) Nhà nước cần có chính sách ngăn ngừa, hạn chế và giảm thiểu tác hại của tình trạng ô nhiễm môi trường ngay từ giai đoạn đầu công nghiệp hoá. - Thứ ba, luận án đã làm rõ khả năng vận dụng một số kinh nghiệm về vai trò của nhà nước Đài Loan đối với CNH, HĐH trong hội nhập kinh tế quốc tế, đó là: Lựa chọn mô hình CNH, HĐH rút ngắn gắn với việc phát huy lợi thế so sánh và phát triển kinh tế tri thức; Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường và thực hiện dân chủ hoá đời sống kinh tế - xã hội tạo động lực huy động các nguồn lực đa dạng trong dân cư và nước ngoài cho CNH, HĐH; Chính sách đa dạng hoá trong huy động vốn cho CNH, HĐH; Chú trọng phát triển khoa học - công nghệ nhằm khuyến khích và đẩy nhanh ứng dụng tiến bộ công nghệ và nâng cao trình độ công nghệ quốc gia; Đổi mới chính sách phát triển nguồn nhân lực; Cần có chính sách và biện pháp mang tính đột phá trong phát triển cơ sở hạ tầng. Luận án đề xuất một số kiến nghị để tăng thêm tính khả thi trong việc vận dụng những kinh nghiệm về vai trò của nhà nước Đài Loan đối với CNH, HĐH trong hội nhập kinh tế quốc tế đối với nước ta hiện nay: Một là, cần xây dựng Nhà nước mạnh, hiện đại có đủ năng lực làm tốt vai trò của mình trong CNH, HĐH; Hai là, tăng thêm tính hiệu quả trong công tác chỉ đạo điều hành của Nhà nước đối với CNH, HĐH.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfVai trò của Nhà nước đối với công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Đài Loan trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế (thời kỳ 1961 - 2003) - bài học kinh ng.pdf
Luận văn liên quan