Hoàn thiện chính sách thuế xuất nhập khẩu khi Việt Nam đã là thành viên của WTO

MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU 1.1. Tầm quan trọng của chính sách thuế xuất nhập khẩu 1.1.1. Khái niệm thuế xuất nhập khẩu 1.1.2. Đặc điểm thuế xuất nhập khẩu 1.1.3. Quá trình phát triển thuế xuất nhập khẩu 1.1.4. Vai trò chính sách thuế xuất nhập khẩu 1.2. Nguyên tắc và phương pháp xây dựng thuế xuất nhập khẩu 1.2.1. Nguyên tắc xây dựng thuế xuất nhập khẩu 1.2.2 Phương pháp tính thuế xuất nhập khẩu 1.2.21. Các căn cứ tính thuế xuất nhập khẩu 1.2.2.2. Phương pháp tính thuế xuất nhập khẩu 1.3. Cam kết của Việt Nam về thuế xuất nhập khẩu với WTO 1.3.1 Miễn thuế 1.3.2 Giảm thuế CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU HÀNG HÓA Ở VIỆT NAM 2.1. Thực trạng chính sách thuế xuất khẩu hàng hóa 2.1.1 Khái quát xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2001 – 2006 2.1.2. Mục tiêu xuất khẩu 5 năm (2006 – 2010) 2.2. Thực trạng chính sách thuế nhập khẩu hàng hóa 2 2.1. Về cơ chế nhập khẩu 2.2.2 . Cơ cấu thị trường nhập khẩu 2.2.3. Nhập khẩu theo thành phần kinh tế 2.2.4. Nhập khẩu theo nhóm hàng 2.2.5. Mục tiêu nhập khẩu 5 năm (2006-2010) 2.3.1. Kinh nghiệm quốc tế trong điều chỉnh chính sách thuế xuất nhập khẩu sau khi gia nhập tổ chức thương mai thế giới 2.3.1.1. Kinh nghiệm của các nước đang phát triển trong việc điều chỉnh chính sách thuế quan và phi thuế quan 2.3.1.2. Kinh nghiệm của Trung Quốc trong việc thực thi các cam kết gia nhập WTO và hoàn thiện chính sách thuế xuất nhập khẩu khi là thành viên của WTO N2.3.1.3. Một số bài học rút ra cho Việt Nam 2.3.1.3. Một số bài học rút ra cho Việt Nam 2.3.2. Sự cần thiết phải điều chỉnh chính sách thuế xuất nhập khẩu khi Việt Nam là thành viên của WTO 2.3.2.1. Các thành viên phải thực thi các cam kết gia nhập 2.3.2.2. Một số ưu tiên đối với các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam 2.3.2 Những vấn đề cần hoàn thiện chính sách thuế xuất nhập khẩu ở nước ta 2.3.3. Những thuận lợi và khó khăn hoàn thiện chính sách thuế xuất nhập khẩu ở nước ta 2.3.3.1. Thuận lợi 2.3.3.2. Những khó khăn và thử thách CHƯƠNG III: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ BIỆN PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU KHI VIỆT NAM LÀ THÀNH VIÊN CỦA WTO 3.1. Phương hướng hoàn thiện chính sách thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam khi đã là thành viên của WTO 3.1.1. Quan điểm điều chỉnh chính sách thuế xuất nhập khẩu 3.1.2. Quá trình điều chỉnh chính sách thuế xuất nhập khẩu 3.1.2.1. Điều chỉnh chính sách thuế xuất nhập khẩu để thực hiện các cam kết quốc tế 3.1.2.2 Quá trình điều chỉnh chính sách thuế xuất nhập khẩu để bảo hộ và nâng cao năng lực các ngành hàng trong nước 3.1.2.3 Đánh giá quá trình điều chỉnh chính sách thuế xuất nhập khẩu và những thách thức khi Việt Nam là thành viên của WTO 3.2. Biện pháp hoàn thiện chính sách thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam 3.2.1 Một số giải pháp điều chỉnh chung 3.2.2 Một số giải pháp điều chỉnh chính sách cụ thể 3.2.3 Lộ trình thực hiện 3.2.4. Mốt số khắc phục KẾT LUẬN

doc72 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Lượt xem: 5580 | Lượt tải: 5download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Hoàn thiện chính sách thuế xuất nhập khẩu khi Việt Nam đã là thành viên của WTO, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ằng, trước đây, những quy định không rõ ràng về phạm vi của các sắc thuế hay trong một sắc thuế có quá nhiều thuế suất, chế độ ưu đãi, miễn giảm khác nhau đã cản trở quá trình hội nhập quốc tế trên các phương diện: khuyến khích XK, nâng cao khả năng cạnh tranh của DN và thu hút vốn đầu tư nước ngoài.Việc quy định thiếu rõ ràng này còn lẫn lộn trong chức năng của từng sắc thuế, thể hiện ở phạm vi của đối tượng chịu thuế, các mức thuế suất quá cao vì gặp nhiều loại thuế trong một sắc thuế. Cụ thể: thuế tiêu thụ đặc biệt, ngoài chức năng điều tiết tiêu dùng với một số mặt hàng đặc biệt còn đảm đương cả chức năng của thuế VAT, vì đối tượng chịu thuế VAT không áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt. Bên cạnh đó, thuế tiêu thụ đặc biệt còn được sử dụng cho chức năng bảo hộ sản xuất trong nước, nên có sự phân biệt đối xử giữa một số mặt hàng nhập khẩu và sản xuất trong nước (như ô tô, thuốc lá…) dẫn đến vi phạm nguyên tắc của WTO. Mặt khác, có một số mặt hàng tiêu dùng có tính chất xa xỉ lại không thuộc diện điều chỉnh của Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt, nên trong biểu thuế nhập khẩu đang được áp dụng mức thuế suất cao, tạo sự hiểu lầm của dư luận quốc tế về thuế nhập khẩu không phù hợp thông lệ quốc tế. Ngoài ra, trong những cam kết khi gia nhập WTO, Việt Nam đã cam kết bảo đảm sự minh bạch, công bằng trong mọi cơ chế, chính sách kinh tế. Sự minh bạch theo yêu cầu của WTO cả ở bình diện quốc tế và quốc gia. Vì vậy khắc phục sự thiếu minh bạch trong toàn bộ nền kinh tế, trong đó có lĩnh vực thuế, là đòi hỏi cấp bách không thể trì hoãn. Biện pháp để khắc phục tất yếu là triệt tiêu những nguyên nhân dẫn đến sự thiếu minh bạch trong lĩnh vực thuế hiện nay. Sau khi Việt Nam gia nhập WTO, đến nay, việc cắt giảm thuế, giảm chi phí cho hoạt động xuất, NK đã diễn ra cho phù hợp với những cam kết. Theo thống kê của Bộ Tài chính, đến nay đã có gần 2.000 dòng thuế (trong biểu thuế nhập khẩu) được cắt giảm (tính từ ngày 11.01.2007), với mức cắt giảm bình quân 44%, so với trước. Về phí, lệ phí hải quan đã được Bộ Tài chính sửa đổi căn bản (bãi bỏ nhiều loại phí; tính lại mức phí phù hợp với quy định của của WTO), giảm bớt nhiều thủ tục, tạo thuận lợi cho DN, giảm chi phí...       Thực hiện nguyên tắc minh bạch hoá, Việt Nam đã chuyển sang sử dụng phương pháp quản lý rủi ro đối với hàng hóa xuất, NK, với việc áp dụng trị giá hải quan dùng làm căn cứ tính thuế. 2 năm qua, bãi bỏ hoàn toàn việc áp đặt bảng giá tối thiểu, chuyển sang chế độ kiểm tra sau thông quan; DN tự tính, tự nộp thuế NK. Chính phủ tiếp tục sửa đổi một số nội dung quan trọng của Nghị định 155/2005. Nghị định bổ sung các quy định về quyền của các nhà NK - được tự chứng minh rằng, tuy họ có mối quan hệ đặc biệt đối với nhà XK (nước ngoài), nhưng không ảnh hưởng tới trị giá giao dịch. Nhà NK được loại trừ ra khỏi trị giá tính thuế một số khoản, nếu đã được tính trong giá mua hàng NK.       Các chuyên gia thuế của Bộ Tài chính cho biết, 2 sắc thuế gián thu quan trọng là thuế giá trị gia tăng (GTGT) và thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB) đã được sửa đổi, bổ sung, đảm bảo không vi phạm các nguyên tắc và quy định của WTO. Tuy nhiên, Bộ Tài chính vẫn có những sửa đổi văn bản hướng dẫn dưới luật (trước mắt là Thông tư 32/2007/TT- BTC ngày 9/4/2007 hướng dẫn về thuế GTGT). Những sửa đổi này nhằm bảo đảm sự rõ ràng, minh bạch hơn, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người nộp thuế và giải quyết một cách khá triệt để những vướng mắc cụ thể mà thực tiễn đặt ra. Các vấn đề ưu đãi của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp liên quan đến hoạt động XK, trái với quy định của WTO cũng được bãi bỏ và sắp xếp lại cho phù hợp. Các khoản ưu đãi mang tính chất trợ cấp XK đều được bãi bỏ. Nghị định quy định cụ thể việc bảo lưu trong thời hạn 5 năm, đối với các DN chế xuất đang hưởng ưu đãi thuế gắn với điều kiện XK (trừ dệt may); đồng thời chuyển những dự án thuộc diện này sang áp dụng ưu đãi thuế theo tiêu chuẩn ưu đãi về lĩnh vực, địa bàn. Bên cạnh đó, Luật Quản lý thuế cũng đã được Quốc hội thông qua và ban hành. Còn gần đây nhất, Kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XII, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt (sửa đổi) cũng đã được thông qua với những sự điều chỉnh kịp thời như đối với một số mặt hàng quan trọng như: ô tô, rượu, bia, thuốc lá… 2.3.3. Những thuận lợi và khó khăn hoàn thiện chính sách thuế xuất nhập khẩu ở nước ta 2.3.3.1. Thuận lợi:   Hệ thống chính trị ổn định, Đảng và Nhà nước quyết tâm đổi mới chính sách và kiện toàn hệ thống tài chính – tiền tệ nhằm thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng bền vững: “Tích cực đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính sách tài chính – tiền tệ quốc gia, động viên hợp lý và phân phối có hiệu quả mọi nguồn lực nhằm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế xã hội. Thực hiện nguyên tắc công bằng, hiệu quả trong phân phối và phân phối lại nguồn thu nhập trong xã hội. Tạo lập môi trường tài chính lành mạnh, thông thoáng nhằm giải phóng và phát triển các nguồn tài chính và tiềm năng sản xuất của các doanh nghiệp, các tầng lớp dân cư; bồi dưỡng nguồn thu ngân sách, thu hút các nguồn bên ngoài ….” (Văn kiện Đại hội Đảng lần IX – Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2001-2010)  VN đã đạt được thành tựu quan trọng trong điều hành kinh tế vĩ mô trong thời gian qua là kiểm soát lạm phát, thúc đẩy kinh tế tăng trưởng ổn định trên cơ sở phối hợp đồng bộ các chính sách tài chính – tiền tệ. Từ chỗ chặn đứng lạm phát phi mã trong những năm cuối của thập niên 80 bằng những giải pháp thắt chặt tiền tệ đến quá trình vượt qua giai đoạn thiểu phát ở những năm cuối thập niên 90 bằng những chủ trương kích cầu kịp thời đã là minh chứng cho thành công của Chính phủ trong điều hành kinh tế. Điều này không chỉ góp phần tạo môi trường kinh tế ổn định mà còn cũng cố lòng tin của người dân vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước trong việc cải cách chính sách tài chính – tiền tệ nói chung và chính sách thuế nói riêng).  Sự thành công của các lần cải cách chính sách thuế trong thời gian qua đã cung cấp cho Chính phủ có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực cải cách chính sách thuế. Việc cải cách chính sách thuế từ năm 1990 cho đến nay đã có tác dụng tích cực trong việc mở rộng và tập trung kịp thời nguồn thu cho NSNN. Qua các năm số thu từ thuế không ngừng tăng lên và chiếm tỷ lệ đáng kể trong tổng thu NSNN, do vậy góp phần đưa ngân sách từ chỗ thu trong nước không đủ chi thường xuyên tiến tới không những đảm bảo đủ nhu cầu chi thường xuyên mà còn có phần tiết kiệm để tạo nguồn vốn đầu tư phát triển của Nhà nước ngày một tăng lên.  Là một nước đi sau trong tiến trình hội nhập quốc tế, VN có thể rút ra nhiều bài học kinh nghiệm quý báu của các nước đi trước trong việc đổi mới chính sách thuế. 2.3.3.2. Những khó khăn và thử thách:   Theo yêu cầu phát triển của nền kinh tế, việc nghiên cứu hoàn thiện hệ thống chính sách thuế phải nhằm thiết lập một hệ thống thuế công bằng và hiệu quả, có khả năng tài trợ nhu cầu chi cần thiết của tiêu công. Đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế hội nhập vào kinh tế thế giới, thì chính sách thuế đóng vai trò nhạy cảm đặc biệt. Như vậy, hệ thống thuế cần: (1) gia tăng đầy đủ nguồn thu để tài trợ nhu cầu chi tiêu cần thiết mà không phải viện đến sự vay mượn quá mức của khu vực công; (2) gia tăng nguồn thu trong cách thức đảm bảo công bằng và giảm thiểu những ảnh hưởng tiêu cực đến các hoạt động kinh tế; (3) gia tăng nguồn thu trong cách thức không làm chệnh hướng đáng kể những thông lệ và tiêu chuẩn quốc tế.  Với một nền đang chuyển đổi như VN, việc thiết lập một hệ thống thuế có hiệu quả và hiệu lực gặp phải không ít những khó khăn nhất định:  Một là, cơ cấu kinh tế không đồng bộ làm cho việc thu thuế và đánh thuế có những khó khăn nhất định. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp vẫn còn chiếm tỷ trọng lớn trong GDP; đối với khu vực tư nhân mặc dù sự đóng vào GDP ngày càng tăng, song phần lớn là những cơ sở kinh doanh nhỏ và ẩn nấp nhiều hoạt động phi chính thức, không ổn định; tỷ lệ tiền lương còn chiếm trong tổng thu nhập quốc gia nhỏ. Tất cả những đặc điểm này làm giảm đi khả năng xây dựng một hệ thống thuế dựa vào những loại thuế hiện đại như thuế thu nhập và ở chừng mực nhất định là thuế VAT.   Hai là, hạn chế về khả năng quản lý thuế. Một phần là do cơ cấu kinh tế, một phần là do nguồn lực cán bộ quản lý thuế yếu kém, tiền lương thấp đã tạo ra rất nhiều khó khăn để tiến đến thiết lập một hệ thống quản lý thuế tốt.   Ba là, hệ thống thông tin yếu kém, nghèo nàn về cơ sở dữ liệu làm hạn chế hiệu quả công tác quản lý thuế. Sự trỗi dậy của khu vực tư nhân trong phát triển kinh tế là đáng ghi nhận, nhưng do quy mô hoạt động của khu vực này còn nhỏ và phân tán cho nên những yêu cầu về báo cáo thống kê không được thiết lập một cách có hệ thống. Hơn nữa do những hạn chế về tài chính, các cơ quan thuế và thống kê có gặp phải nhiều khó khăn trong việc tổng hợp và đưa ra những số liệu thống kê một cách chi tiết và đáng tin cậy. Thiếu số liệu tin cậy và cung cấp không kịp thời làm cho những người ra quyết định chính sách gặp phải nhiều khó khăn trong việc đánh giá sự ảnh hưởng tiềm năng của những thay đổi cơ bản đến hệ thống thuế hiện hành .  Những thử thách của việc cải cách chính sách thuế:  Thử thách về nguồn thu: Sự hội nhập vào kinh tế thế giới yêu cầu phải gia tăng nguồn thu thuế để Nhà nước đảm nhận vai trò như chính phủ của các nền công nghiệp phát triển. Nhưng làm thế nào gia tăng được nguồn thu, đặc biệt là gia tăng nguồn thu từ thuế thu nhập cá nhân và không làm giảm đi những động lực kinh tế trong khi nền kinh tế sẽ phải giảm đi nhiều sự dựa vào nguồn thu thuế từ các hoạt động thương mại quốc tế. Để vượt qua những thử thách này, đòi hỏi những người ra quyết định chính sách phải đưa ra các ưu tiên chính sách đúng đắn và phải có cam kết chính trị để thực hiện cải cách cần thiết.   Thử thách về quản lý thuế: Với sự hội nhập vào kinh tế toàn cầu, hàng rào thương mại bị tháo dỡ và sự di chuyển vốn quốc tế gia tăng trong khi năng lực quản lý thuế còn hạn chế và nguồn thu của nền kinh tế chủ yếu phụ thuộc nhiều vào thuế thương mại quốc tế. Sự thay thế thuế thương mại quốc tế bằng hệ thống thuế nội địa và đi kèm theo đó là những chuyển hướng lợi nhuận thông qua các hoạt động chuyển giá của các nhà đầu tư nước ngoài đó là những thử thách rất lớn trong quá cải cách thuế của VN. Hiện tại những điều khoản chống lạm dụng thuế trong các đạo luật thuế cũng như sự đào tạo kỹ thuật cho đội ngũ cán bộ kiểm toán thuế ở VN nói chung là chưa đủ để ngăn chặn và phát hiện những thực tế như vậy.  Về hiệu quả kinh tế và cạnh tranh thuế: Sự cạnh tranh thuế trong quá trình thu hút vốn là một thử thách không nhỏ trong bối cảnh vốn tự do chu chuyển. Nhận thức được sức ép này VN cũng sẽ tăng cường mở rộng phạm vi khuyến khích thuế để cạnh tranh và thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Chính điều này sẽ làm cho chính sách thuế trở nên phức tạp, không trung lập do có nhiều trường hợp miễn giảm. Một hệ thống thuế với nhiều điều khoản khuyến khích sẽ tạo ra nhiều kẽ hở và đó là mảnh đất màu mỡ cho những hoạt động trốn thuế. Hơn nữa, những khuyến khích của thuế mà thiếu đi những nền tảng hỗ trợ cần thiết khác thì hiệu lực của nó không cao. Điều quan trọng ở đây, cần phải giới hạn mục tiêu của thuế và giới hạn sự khuyến khích của thuế, đồng thời phải kết hợp với nhiều công cụ kinh tế để cạnh tranh và thu hút vốn .  CHƯƠNG III: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ BIỆN PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU KHI VIỆT NAM LÀ THÀNH VIÊN CỦA WTO 3.1. Phương hướng hoàn thiện chính sách thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam khi đã là thành viên của WTO 3.1.1. Quan điểm điều chỉnh chính sách thuế xuất nhập khẩu Nhìn chung Việt Nam có những nỗ lực đáng ghi nhận trong quá trình cải cách điều chỉnh chính sách thuế xuất nhập khẩu trong những năm qua. Với những cam kết gia nhập tương đối “ mạnh bạo” so với nhiều thành viên WTO trước đây và so với năng lực của nhiều ngành hàng trong nước, việc hoạch định điều chỉnh chính sách thuế đòi hỏi phải dựa trên một nhóm quan điểm toàn diện, có tính đến đầy đủ quy định của WTO , kinh nghiệm thành công cũng như chưa thành công của một số nước, cũng như thực trạng cải cách và năng lực trong nước. Các nhóm giải pháp điều chỉnh sau: Một là: Việt Nam nên coi việc gia nhập WTO là bước cải cách tiếp theo và chưa phải là bước cuối cùng trong tiến trình cải cách kinh tế và là tiền đề quan trọng để thực hiện một cách thông suốt và có hiệu quả những cải cách mạnh mẽ trong nước khác, do vậy cần thực hiện một cách nghiêm túc cam kết gia nhập, nhất là cắt giảm hàng rào thuế quan Việc thực hiện nghiêm túc các cam kết gia nhập sẽ tạo dựng lòng tin cho các doanh nghiệp, các nhà đầu tư nước ngoài đảm bảo tăng hiệu quả đối với tự do hóa thương mại Hai là: Một số ngành được coi là chiến lược hiện đang được bảo hộ song hoạt động vẫn còn yếu kém vẫn cần được bảo hộ, trong bối cảnh mới tư duy, cách thức mà mức độ bảo hộ ngành hàng cần thay đổi bằng cách thức hiệu quả hơn, linh hoạt hơn Sau khi gia nhập WTO, dựa trên kinh nghiệm của nhiều nước Đông Á và nhiều nước đang phát triển và chuyển đổi, một số khía cạnh về xây dựng ngành chiến lược te duy lại một cách sâu sắc hơn là: Việc sử dụng công cụ chính sách thuế quan để bảo hộ can thiệp bị thu hẹp cả về mức độ, phạm vi, đòi hỏi phải có sự điều chỉnh linh hoạt và sáng tạo Việt Nam không nên quá lạm dụng các biện pháp ưu đãi hỗ trợ thông qua hệ thống thuế XNK Ba là: Sau khi gia nhập WTO việc điều chỉnh chính sách thuế phải mang tính đồng bộ, hỗ trợ các chính sách kinh tế vi mô khác Việc thực thi chính sách thuế có liên quan đến nhiều lĩnh vực khác như chính sách thương mại, công nghiệp, lao động….Vì vậy để việc điều chỉnh chính sách này có hiệu quả và hiệu lực đòi hỏi sự phối kết hợp chặt chẽ giữa các bộ ngành liên quan. Tự do hóa thương mại về nguyên tắc có thể làm giảm mức giá trong nước, song cũng gắn chặt hơn những biến động mức giá thị trường thế giới với mức lạm phát trong nước. Điều này có nghĩa rằng sau khi gia nhập WTO chính sách chi NSNN cũng nên tính đến những tác động có thể của các nhân tố bên ngoài đối với chính sách ổn định kinh tế vĩ mô nhất là chống lạm phát. Hơn nữa, việc điều chỉnh chính sách thuế cũng nên tính đến các lịch trình thực hiện các hiệp định thương mại tự do khác như: VN-US BTA và AC-AFTA 3.1.2. Quá trình điều chỉnh chính sách thuế xuất nhập khẩu 3.1.2.1. Điều chỉnh chính sách thuế xuất nhập khẩu để thực hiện các cam kết quốc tế Trước năm 1987 Việt Nam chưa có Luật thuế Xuất nhập khẩu, thuế nhập khẩu đối với hàng mậu dịch. Từ năm 1988 Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu hàng mậu dịch chính thức có hiệu lực, đánh dấu mức quan trọng thể chế hóa chính sách xuất nhập khẩu của Việt Nam Hệ thống biểu thuế của Việt Nam bắt đầu được xây dựng từ năm 1991 và được điều chỉnh theo hệ thống hài hòa thuế quan(HS) 1992. Sau khi gia nhập khu vực thương mại tự do ASEAN(AFTA) để gia nhập WTO, việc cơ cấu lai cơ bản chính sách thuế đã được tiến hành từ năm 199( theo quyết định 1983 của Bộ Tài chính, ban hành ngày 11/12/1998). Từ đó Biểu thuế quan bao gồm ba loại thuế suất Thuế suất MFN áp dụng cho những nước đã dành quy chế MFN cho Việt Nam Thuế suất ưu đãi có hiệu lực chung(CEFT) áp dụng cho nước nhập khẩu từ các nước ASEAN và hàng dệt may của EU theo Hiệp định Dệt may Việt Nam- EU Thuế suất phổ thông thường cao hơn 50% so với thuế suất MFN cho tất cả các nước không thuộc các nhóm trên Chính sách thuế quan của Việt Nam trong những năm qua nhìn chung hướng tới: Ưu đãi hàng hóa các nước có quan hệ thương mại ưu đãi đối với Việt Nam. Bảo hộ sản xuất trong nước. Hỗ trợ xuất khẩu , cắt bỏ hạn chế định lượng đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu và kinh doanh cho các nhà sản xuất trong nước và nước ngoài Thống nhất chế độ hai giá Thuế quan hóa và cắt bỏ hạn ngạch thuế quan Cắt bỏ dần hạn chế xuất khẩu Tương thích hóa quy định khác của WTO Đối với hạn ngạch nhập khẩu: số lượng hàng hóa phải chịu hạn ngạch nhập khẩu ở Việt Nam đã giảm xuống từ năm 1999. Đên cuối năm 2005 hạn ngạch chỉ còn áp dụng với đường và xăng dầu nhập khẩu Đối với hạn ngạch xuất khẩu, đến nay Việt Nam đã dỡ bỏ hạn ngạch đối với hầu hết các mặt hàng xuất khẩu trừ một số loại hàng thiết yếu đặc biệt là gạo. Trong Bị vong lục về chế độ ngoại thương đệ trình lên WTO gạo là nông sản duy nhất bị áp dụng hạn ngạch xuất khẩu vì lý do an ninh quốc gia Đối với thuế xuất khẩu: Việt Nam áp dụng thuế suất những năm đầu đổi mới, song từ năm 1998 đến nay các loại thuế này đã được dỡ bỏ cùng chiến lược thúc đẩy xuất khẩu chỉ còn hai mặt hàng chịu thuế xuất khẩu là dầu thô và kim loại phế thải Việt Nam đã từng bước loại bỏ các biện pháp phi thuế quan dưới dạng thụ phu đối với một số hàng nhập khẩu từ năm 2000 theo chương trình điều chỉnh cơ cấu mở rộng. Việt Nam cũng đã từng bước xóa bỏ sự phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp/ hàng xuất nhập khẩu trong và ngoài nước giữa các thành phần kinh tế, điều này thể hiện khá rõ nét trong các biện pháp thuế nhất là thuế quan đánh vào hàng ô tô, xe máy, điện tử…trong các nỗ lực nội địa hóa các sản phẩm này Điều đáng lưu ý là khi Việt Nam ngày càng tự do hóa thương mại sâu và rộng hơn thì mức thuế quan trung bình đã tăng dần từ 10,7% năm 1992 lên 16,2% năm 2000 và 18,5% năm 2003. Nguyên nhân chủ yếu khiến mức thuế quan bình quân giản đơn tăng dần là do Việt Nam thực hiện thuế quan hóa một số mặt hàng nhập khẩu thuộc diện hạn chế định lượng, nhất là theo cam kết CEPT/AFTA điều chỉnh thuế theo Biểu hài hòa thuế quan ASEAN, chuyển các hàng rào phi thuế quan thành thuế quan và việc đưa các loại thuế và phí khác vào các dòng thuế Biểu khung thuế mới sẽ được sửa đổi để đảm bảo phù hợp với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và cam kết gia nhập WTO. Trước hết vì theo cam kết gia nhập WTO, hầu hết các mức thuế của những mặt hàng trong Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đều thấp hơn mức trần của khung và nhiều mặt hàng có mức thuế suất cam kết thấp hơn mức sàn của khung. Do đó, để phù hợp với cam kết, chúng ta phải hạ các mức thuế suất trần và sàn của khung. Thứ hai, từ năm 2008, Việt Nam phải thực hiện Danh mục Biểu thuế chung ASEAN mới (AHTN 2007) đã được các nước xây dựng trên Hệ thống mô tả và mã hàng hóa HS2007 của Tổ chức Hải quan thế giới, trong đó mô tả của nhiều nhóm mặt hàng đã được thay đổi so với Danh mục biểu thuế mà chúng ta đang áp dụng. Ngoài ra, Biểu khung thuế xuất khẩu, nhập khẩu ưu đãi mới cũng được xây dựng trên nguyên tắc đảm bảo thực hiện chính sách bảo hộ sản xuất trong nước có chọn lọc, có điều kiện và thời hạn; ổn định khung thuế suất đối với những nhóm mặt hàng đang được thực hiện có hiệu quả trên thực tế và phù hợp với các cam kết quốc tế. Theo cam kết gia nhập WTO, Việt Nam chỉ cắt giảm thuế xuất khẩu đối với mặt hàng phế liệu kim loại. Vì vậy, việc điều hành thuế xuất khẩu chủ yếu là do yêu cầu quản lý Nhà nước chứ không phụ thuộc vào cam kết hội nhập. Biểu khung thuế xuất khẩu mới được xây dựng nhằm tiếp tục thực hiện mục tiêu hạn chế xuất khẩu những sản phẩm thô, khuyến khích sử dụng nguyên liệu để tái chế và về cơ bản vẫn giữ nguyên khung thuế suất với hầu hết các nhóm hàng chịu thuế. Khung thuế suất trần của một số nhóm hàng được điều chỉnh tăng lên là dầu mỏ (từ 0-8% lên 0-20%); than đá (từ 0-5% lên 0-20%); quặng kim loại (từ 0-3%; 0-5% và 5-20% lên thành 0-20%) nhằm định hướng hạn chế xuất khẩu nguyên liệu thô và tập trung cho sản xuất trong nước là chính. Các mặt hàng được giảm thuế suất trần và sàn là nhóm hàng phế liệu sắt thép (từ 30-40% xuống 10-30%); phế liệu kim loại màu (từ 40-50% xuống còn 10-40%) để phù hợp với cam kết gia nhập WTO. Trên cơ sở Biểu khung thuế nhập khẩu gồm 1.221 nhóm mặt hàng hiện hành, Bộ Tài chính đã ban hành Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi với 10.680 dòng thuế chi tiết và theo cam kết WTO, Việt Nam ràng buộc với toàn bộ Biểu thuế này. Hầu hết các mặt hàng thuộc nhóm có thuế suất cam kết thấp hơn mức trần, chỉ một số mặt hàng có mức cam kết thấp hơn mức thuế sàn của khung thuế suất. Do đó, Biểu khung thuế nhập khẩu ưu đãi mới sẽ giảm mức thuế suất trần khung của 1.149 nhóm hàng (chiếm 94%) để phù hợp với cam kết WTO và những nhóm hàng mà mức khung thuế suất hiện hành đang cao hơn nhiều so với thực tế áp dụng. Giảm mức thuế suất sàn khung của 202 nhóm hàng (chiếm khoảng 16,5% trong Biểu khung) để thực hiện cam kết gia nhập WTO và lộ trình cắt giảm thuế nhập khẩu trong điều kiện thực hiện các cam kết quốc tế, đồng thời góp phần giảm thuế đầu vào đối với những nhóm nguyên vật liệu phục vụ sản xuất. Mức sàn khung của 1.019 nhóm hàng khác vẫn được giữ nguyên. 3.1.2.2 Quá trình điều chỉnh chính sách thuế xuất nhập khẩu để bảo hộ và nâng cao năng lực các ngành hàng trong nước Nhìn chung chính sách thuế xuất nhập khẩu chủ yếu nhằm bảo hộ sản xuất một số ngành nông sản và công nghiêp thay thế nhập khẩu trong đó có hàng tiêu dùng Đối với hàng nông sản: Các sản phẩm nông nghiệp có mức thuế nhập khẩu bình quân là 24,5% với 12 mức thuế suất từ 0-100% cao hơn nhiều so với mức trung bình chung là 18%: Việt Nam bảo hộ mạnh nhất đối với hoa quả tươi các loại, dầu thực vật đã tinh chế, các loại đường tinh chế, các sản phẩm nông nghiệp chế biến( với mức thuế suất nhập khẩu lên tới 40-50%) với mức thấp hơn so với các loại thit( gia súc, gia cầm) tươi sống và đông lạnh, sữa, các loại thực sạch, gạo, đường thô, gia vị( thuế suất 15%-30%) và khuyến khích nhập khẩu các loại cây giống, con giống, các loại lông thú, da thú và bông, những nguyên liệu đầu vào cho ngành công nghiệp thuộc da, công nghiệp dệt và may mặc Việt Nam đã có những nỗ lực đáng ghi nhận trong việc điều chỉnh, cải cách chính sách thuế của mình , giảm số mức thuế từ 16 xuống còn 11 trong những năm gần đây. Việt Nam cũng cố gắng đơn giản hóa cơ cấu thuế theo hướng áp dụng một mức thuế cho mỗi chương. Việc đơn giản cơ cấu thuế được coi là tác nhân quan trọng góp phần giảm chi phí hành chính của thủ tục hải quan cũng như giảm thiểu sự nhầm lẫn giữa các mức thuế đối với người đóng thuế Việt Nam cũng đã có những bước tiến dài trong nỗ lực cắt giảm hàng rào phi thuế quan. Từ hai mặt hàng nông sản chịu hạn ngạch nhập khẩu năm 1999( đường ăn và dầu thực vật) đến cuối năm 2005 chỉ còn lai một mặt hàng là đường ăn và từ tháng 1/2006 được chuyển sang hạn ngạch thuế quan. Số lượng các mặt hàng nông sản thuộc diện chịu hạn ngạch thuế quan cũng giảm đáng kể. Các biện pháp phi thuế quan đã được Việt Nam nỗ lực cắt giảm Đối với hàng công nghiệp: Các mặt hàng công nghiệp chế biến nhất là hàng tiêu dùng được bảo hộ với mức thuế suất nhập khẩu trung bình, nhất là hàng tiêu dùng được bảo hộ với mức nhập khẩu trung bình cao nhất từ 20-60, nhóm hàng được bảo hộ với mức độ thấp hơn là nguyên liệu trung gian đầu vào Cơ cấu thuế quan theo công đoạn chế biến của Việt Nam có những điểm chung với cơ cấu thuế quan của nhiều nước trên thế giới, nghĩa là có sự leo thang về thuế quan từ hàng thô/ sơ chế qua mức hàng bán thành phẩm và đạt mức cao nhất đối với hàng thành phẩ. Tuy nhiên một số mặt hàng bán thành phẩm nhập khẩu được dùng làm đầu vào sản xuất mà Việt Nam có lợi thế so sánh trong xuất khẩu có thuế quan cao hơn đầu vào cho những ngành cạnh tranh nhập khẩu Các hàng rào phi thuế quan được dỡ bỏ hay thuế quan hóa. Từ 15 mặt hàng chịu hạn chế định lượng năm 1999 đã giảm xuống còn một mặt hàng là xăng dầu năm 2003. 72 mặt hàng chịu thụ phu hoặc thu chênh lệch giá đã được chuyển sang thu bằng thuế nhập khẩu, tiến tới bảo hộ duy nhất bằng thuế nhập khẩu Gần đây Bộ tài chính vừa chính thức có quyết định 17/2008/QĐ-BTC điều chỉnh thuế xuất nhập khẩu một loạt mặt hàng để kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô. Điều đáng chú ý là nhóm mặt hàng xuất khẩu được điều chỉnh thuế chủ yếu là mặt hàng nguyên liệu khoáng sản, được điều chỉnh theo hướng tăng. Bộ tài chính điều chỉnh theo hướng giảm thuế đối với một số hàng nông sản, thực phẩm và một số mặt hàng thiết yếu cho sản xuất, nhưng tăng mạnh ở một số nhóm hàng như ô tô; cụ thể đối với mặt hàng xuất khẩu than đá được điều chỉnh lên 15% thay cho mức 10% trước đây, dầu mỏ chịu mức thuế 8%, các loại quặng kim loại như sắt, đồng chịu mức thuế 20%, các loại đá dùng trong xây dựng chịu mức thuế 12% Đối với thuế nhập khẩu, các mặt hàng từ cá hoặc động vật giáp xác, động vật thân mềm hoặc động vật thủy sinh không xương sống khác, động vật đã chết …được hạ xuống mức 0-5%. Điều đáng chú ý nhất, Bộ tài chính quyết định tăng thuế nhập khẩu ô tô lên mức cao mới. Theo đó các loại xe ô tô và các loại xe khác có động cơ được thiết kế chủ yếu để chở người, kể cả xe chở người có khoang hành lý riêng và ô tô đua…nếu được nâng lên mức thuế khá cao là 83%( từ mức 70% trước đó). Bên cạnh đó những loại xe ô tô chở 10 người trở lên nếu không phải là xe đặc chủng dùng trong chuyên ngành chuyên biệt được quy định cụ thể cũng phải chịu chung mức thuế 83%. Tại quyết định này, hàng loạt mặt hàng là linh kiện ô tô, máy móc phụ tùng phục vụ cho việc lắp rắp trên các loại ô tô cũng được điều chỉnh theo những mức cụ thể khác nhau theo mức tăng trung bình là 3-5% 3.1.2.3 Đánh giá quá trình điều chỉnh chính sách thuế xuất nhập khẩu và những thách thức khi Việt Nam là thành viên của WTO. Nhìn chung Việt Nam đã có những nỗ lực đáng ghi nhận trong quá trình cải cách, điều chỉnh chính sách thuế xuất nhập khẩu. Những nỗ lực này đã góp phần thúc đẩy Việt Nam trở thành một trong những nền kinh tế có độ mở thương mại lớn nhất trong các nước đang phát triển với mức tăng trưởng xuất khẩu hàng hóa. Việc mở cửa thị trường nội địa, cắt giảm thuế và các rào cản phi thuế đối với các sản phẩm như máy móc, thiết bị, nguyên nhiên vật liệu đã tạo điều kiện cho nhiều mặt hàng đến với người tiêu dùng và doanh nghiệp trong nước với mức giá hợp lý hơn, hướng tới nâng cao năng lực cạnh tranh nhờ được cung cấp nguồn lực tốt hơn. Từ ngày 15/9 tới sẽ có tới trên 400 dòng thuế thuộc 117 nhóm mặt hàng nằm trong danh mục cắt giảm. Những mặt hàng điều chỉnh giảm thuế lần này gồm hàng điện tử, điện lạnh dân dụng, linh kiện ôtô, xe máy nguyên chiếc... Trong đó, hàng điện tử, điện lạnh dân dụng giảm từ 50% xuống còn 30-40%. Xe máy nguyên chiếc giảm từ 100% xuống 90%.   Ngoài ra, còn có một số mặt hàng giảm nhiều so với mức thuế suất hiện hành (từ mức 20- 40% xuống còn 0-5%) là những vật tư chuyên dùng cho ngành hàng không và một số ngành sản xuất khác mà trong nước không sản xuất được. Có thể thấy, mặc dù chưa gia nhập WTO, nhưng trong khuôn khổ hợp tác khu vực và song phương, các dòng thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam đã phải có những bước tiên phong, hội nhập khá sâu rộng. Nổi bật trong đó là việc tham gia Hiệp định CEPT/AFTA và ký kết Hiệp định song phương Việt Nam- Hoa Kỳ. Vì vậy, xét dưới góc độ thuế xuất nhập khẩu, trên thực tế Việt Nam đã chấp nhận và thực hiện một số nguyên tắc cơ bản của WTO trong quan hệ với với các đối tác thương mại. Trong khung khổ CEPT/AFTA, tháng 12/2000, Chính phủ đã thông qua lộ trình tổng thể thực hiện CEPT của Việt Nam cho giai đoạn 2001-2006 để giảm thuế cho toàn bộ 97,07% số mặt hàng trong biểu thuế nhập khẩu hiện hành. Ngày 1/7/2003, Chính phủ đã công bố Danh mục thực hiện CEPT 2003-2006 ban hành theo Nghị định số 78/2003/NĐ-CP bao gồm 10.143 mặt hàng với lộ trình cắt giảm khác nhau, nhưng khá triệt để.  Theo lộ trình này có thể thấy thời gian thực hiện CEPT/AFTA của Việt Nam là rất gấp rút, trong khi đó số lượng mặt hàng phải cắt giảm thuế còn lớn. Điều này gây áp lực rất lớn đối với các doanh nghiệp trong nước do phải đối mặt với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt.  Tuy nhiên, nếu so với các nước thành viên ASEAN có cùng điều kiện là Lào, Myanmar và Campuchia thì tốc độ thực hiện CEPT của Việt Nam còn chậm bởi vì các nước này đã hoàn thành cơ bản nghĩa vụ cắt giảm thuế quan xuống còn 0-5% theo đúng quy định của CEPT/AFTA. Cùng với việc cắt giảm thuế, các thủ tục hải quan của Việt Nam đã được đơn giản hóa và rút ngắn, các hạn chế định lượng như hạn ngạch và giấy phép đã được xóa bỏ, một số biện pháp phi thuế quan khác cũng sẽ dần được xóa bỏ trong vòng 5 năm sau khi sản phẩm được hưởng ưu đãi theo CEPT. Biện pháp hoàn thiện chính sách thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam 3.2.1 Một số giải pháp điều chỉnh chung Đại hội lần thứ IX của Đảng đã đặt mục tiêu phát triển kinh tế đối ngoại trong giai đoạn 5 năm(2001-2005) là “Tăng kim ngạch XK, đảm bảo NK những vật tư thiết bị chủ yếu có tác động tích cực đến sản xuất kinh doanh. Tổng kim ngạch XK 5 năm khoảng 114 tỷ USD, tăng 16%/năm. Tổng kim ngạch NK 5 năm khoảng 118 tỷ USD, tăng bình quân hàng năm 15%/năm”. Để thực hiện mục tiêu này điều quan trọng là nâng cao năng lực quốc gia, xác lập hàng rào thuế quan thích ứng vừa tuân thủ các cam kết quốc tế, vừa bảo hộ có hiệu quả sản xuất trong nước. Chính vì vây, cần thiết phải sớm hoàn thiện chính sách và cơ chế tổ chức chính sách thuế XNK Trước hết cần phải nghiên cứu sửa đổi về phương pháp tính thuế. Hiện tại theo quy định của Luật thuế XNK, thì việc tính thuế được tính theo tỷ lệ phần trăm( %) trị giá hàng nhập khẩu. Cách tính này dễ thực hiện, song không ngăn chặn được việc những đối tượng nộp thuế cố tình khai thấp trị giá hàng nhập để trốn thuế, dù mức thuế rất cao. Để khắc phục tình trạng này, thời gian qua chúng ta đã thực hiện bảng giá tối thiểu và áp dụng cho từng loại hàng nhập khẩu( thực chất nhà nước can thiệp vào giá nhập khẩu). Song áp dụng phương pháp này không phù hợp với quy định tổ chức thương mại quốc tế(WTO), trong điều kiện nước ta đã gia nhập tổ chức này. Vì vậy cần phải áp dụng đồng thời cách tính thuế theo tỷ lệ phần trăm, vừa áp dụng thuế tuyệt đối Hiện tại Việt Nam đã bắt đầu thực hiện lộ trình cam kết giảm hàng rào thuế quan hàng hóa XNK theo chương trình CEPT-AFTA. Mặt khác chính sách thuế đối với hàng XNK đã từng bước vận hành theo nguyên tắc chung của WTO. Dự kiến có khoảng 90% hàng hóa XNK sẽ được tính theo phương pháp trị giá giao dịch GATT/WTO. Vì vậy cần phải sửa đổi quy định về giá tính thuế tại Điều 7 Luật thuế XNK theo hướng của Hiệp định trị giá GATT/WTO: là giá thực thanh toán hoặc sẽ phải thanh toán cho hàng hóa nhập khẩu Cùng với điều chỉnh các luật thuế cần phải bổ sung các công cụ mới như: thuế tuyệt đối, thuế hạn ngạch, thuế chống phá giá, thuế chống phân biệt đối xử…để bảo vệ sản xuất trong nước, kể cả thực hiện chính sách trợ giá đối với những sản phẩm khuyến khích sản xuất và mở rộng thị trường XK WTO không cho phép sử dụng hạn ngạch, giấy phép có tính định lượng để hạn chế nhập khẩu, trừ sản phẩm dệt và may mặc. Tuy nhiên trong quan hệ thương mại quốc tế , thường cạnh tranh không lành mạnh hoặc áp dụng chính sách phân biệt đối xử, nhất là đối với các nước đang phát triển. Vì vậy WTO cho phép các nước đang phát triển và chậm phát triển, sử dụng biện pháp đối kháng tự vệ. Luật thuế XN, được sửa đổi bổ sung năm 1988 cũng đã quy định: hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam ngoài việc phải chịu thuế XNK còn phải chịu thuế chống bán phá giá, hoặc thuế chống trợ cấp, hoặc thuế chống phân biệt đối xử Thuế tuyệt đối: là loại thuế tính toán khá đơn giản, không căn cứ vào hàng nhập khẩu tại cửa nhập. Cách tính thuế nhập khẩu giá thông thường( giá CIIF, C&F…) để tính số thuế phải nộp mà theo trị giá tuyệt đối tính trên đơn vị của lô hàng( số lượng, trọng lượng…).Vì vậy giá hàng nhập khẩu cao, thấp không ảnh hưởng đến số thuế thu được, áp dụng loại thuế này có tác dụng quản lý tương đối chính xác khối lượng, trị giá hàng nhập khẩu chống việc gian lận thương mại , khai báo gian dối trị giá hàng nhập khẩu. Tuy nhiên khi giá nhập khẩu biến động sẽ xuất hiện sự thiếu công bằng của các đối tượng chịu thuế, thậm chí ngay trong từng mặt hàng nhập khẩu ở nước ta, thực hiện chương trình hội nhập thương mại quốc tế, cùng với sự cắt giảm thuế quan cần áp dụng song song thuế tuyệt đối. Thuế hạn ngạch: là loại thuế áp dụng mức thuế suất 0% hoặc mức thuế suất thấp cho một lượng hàng nhập khẩu được xác định trong một thời kỳ nhất định( thường là một năm) của một mặt hàng cụ thể, gọi là thuế trong hạn ngạch( hoặc hạn ngạch thuế lần 1) nhưng khi nhập khẩu vượt quá hạn ngạch thì phải chịu thuế cao hơn đối với phần vượt đó, gọi đó là thuế ngoài hạn ngạch Thuế chống bán phá giá: là loại thuế áp dụng trong trường hợp hàng nhập khẩu đã vào Việt Nam mà giá của hàng hóa đó thấp hơn giá bán tại nước xuất khẩu. Mức thuế này được tính theo múc chênh lệch cao nhất giữa giá thông thường và giá nhập khẩu của hàng hóa đó. Theo nguyên tắc chung, các tổ chức, cá nhân đại diện ngành sản xuất trong nước có thể khởi kiện hàng hóa nhập khẩu bán phá giá, nếu tổng giá trị hàng hóa do họ sản xuất hoặc đai diện chiếm ít nhất 25% tổng sản lượng hàng hóa tương tự của ngành sản xuất trong nước , chiếm 50% tổng lượng sản xuất hàng hóa tương tự của những nhà sản xuất ủng hộ hoặc phản đối yêu cầu áp dụng các biện pháp chống bán phá giá Thuế chống trợ cấp: Là loại thuế áp dụng cho hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam mà giá bán của hàng hóa đó thấp so với giá bán thông thường do có trợ cấp của nước xuất khẩu. Mức thuế này được dựa trên cơ sỏ chênh lệch giữa mức trợ cấp và phí trợ cấp Thuế chống phân biệt đối xử: Là loại thuế áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam có xuất xứ từ nước mà ở đó có sự phân biệt đối xử về thuế nhập khẩu hoặc có những biện pháp phân biệt đối xử khác với hàng hóa Việt Nam. Đây là loại thuế “trả đũa” nhằm đáp lại hành vi cạnh tranh không lành mạnh của nước xuất khẩu. Vì vậy để đảm bảo tính pháp lý và tính linh hoạt cao đối với loại thuế này, mức thuế nhập khẩu phải do Ủy ban thường vụ quốc hội quy định Thuế theo mùa là loại thuế tùy theo mùa vị để áp dụng mỗi mức thuế khác nhau đối với hàng nhập khẩu. Đối tượng áp dụng chủ yếu là những sản phẩm nông nghiệp. Hàng nhập khẩu vào mùa thu hoạch thường bị đánh thuế cao. Còn những mùa khác thì đánh thuế thấp hơn nhằm góp phần đáp ứng yêu cầu của người tiêu dùng. Bên cạnh các công cụ nhằm hạn chế nhập khẩu và bảo vệ lợi ích quốc gia, các chính phủ còn thực hiện một số biện pháp để nâng cao năng lực xuất khẩu. Trong lúc yêu cầu các nước phát triển thực hiện lộ trình cắt giảm và xóa bỏ trợ cấp xuất khẩu, thì WTO cho phép các thành viên đang phát triển hoặc chậm phát triển có thể duy trì các loại trợ cấp xuất khẩu trong một thời gian nhất định Trợ cấp xuất khẩu là những biện pháp của Nhà nước hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh hàng xuất khẩu nhằm tạo thuận lợi để tăng kim ngạch và lợi nhuận. Chính phủ có thể áp dụng một số biện pháp trợ cấp trực tiếp hoặc cho vay với tỷ lệ lãi suất thấp hoặc là miễn thuế cho các nhà sản xuất kinh doanh nhập khẩu trong nước Cùng với việc bổ sung các công cụ trên, cần phải cải cách biểu thuế XNK để bất cứ đối tượng nào khi đối diện với một mặt hàng cụ thể có thế nhận diện đúng tên, đúng mã số trong biểu thuế XNK theo nguyên tắc Danh mục phân loại HS quốc tế. Trên cơ sở đó phải nhanh chóng hoàn thiện và phổ cập hóa Biểu thuế XNK Việt Nam dựa trên bảng danh mục HS Việt Nam Đi đôi với xử lý kiên quyết những vi phạm chính sách thuế XNK cần phải nghiên cứu giải quyết những bế tắc trong nợ đọng thuế nhập khẩu hiện nay( khoảng 6%/ năm trong tổng số thuế phải nộp) bằng những giải pháp “gốc”: cơ chế bảo tín. Khi doanh nghiệp không thể nộp thuế ngay hoặc chưa thể cung cấp chứng từ đầy đủ để hoàn thành thủ tục thông quan hàng hóa thì cho phép dùng cơ chế bảo tín của ngân hàng thay cho việc phải giữ hàng hóa nhập khẩu hoặc kéo dài thời gian nộp thuế như lâu nay Đối với thuế GTGT nên thay đổi phương pháp tính thuế như hiện nay là giá nhập tại cửa khẩu cộng với thuế nhập khẩu theo cách xác định trị giá tính thuế GATT/WTO. Mặt khác nên sử dụng phương pháp tính thuế GTGT trực tiếp thay cho cách tính khấu trừ để tạo sự bình đẳng cho đối tượng nộp thuế vừa ngăn chặn việc lợi dụng khấu trừ để khai khống gian lận thuế Để giảm bớt đầu mối và thủ tục rườm rà nên giao luôn chức năng kiêm thu hoàn trả thuế GTGT cho tổng cục hải quan. Bên cạnh đó cần cải cách hệ thống hóa đơn, chứng từ, lưu ý đến sự đa dạng về hợp đồng XNK, chế độ thanh toán trong giao dịch thương mại phù hợp với điều kiện nước ta hiện nay. Chúng ta cũng cần có giải pháp thẩm định chính xác số lượng hàng hóa XNK qua cửa khẩu để tránh tình trạng khai khống, trốn thuế. Cần bãi bỏ phân biệt đối xử giữa hàng hóa sản xuất trong nước và hàng nhập khẩu, vừa để tạo sự công bằng nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh vừa tuân thủ các cam kết kinh tế trong hội nhập. Nhà nước cần ban hành chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế, phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ để đáp ứng nhu cầu tăng tỷ lệ nội địa hàng hóa nâng cao giá trị trong sản phẩm vừa để cung cấp nguyên liệu sản phẩm đầu vào tại chỗ cho các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 3.2.2 Một số giải pháp điều chỉnh chính sách cụ thể Một là: Chủ động trong tiến trình hội nhập WTO, đảm bảo sự nhất quán trong các cam kết với các tổ chức kinh tế khu vực và quốc tế và các cam kết khi gia nhập WTO, cần phải hoạch định một phương án cam kết tổng thể, trọn gói tất cả các lĩnh vực(cho thương mại, dịch vụ, hàng hóa). Đó là cam kết về tiến trình sửa chữa các điểm chưa phù hợp với WTO trong chính sách; cam kết về mở cửa thị trường (ràng buộc về thuế quan, cam kết về các vấn đề trợ cấp, cam kết về các loại phí, cam kết về quản lý giá thành trong nước…). Trong đó, cam kết về thuế phải được xác định sau cùng khi đã có đầy đủ những cân nhắc, tính toán và dự kiến cho các cam kết khác, để đảm bảo rằng hàng rào thuế quan là hàng rào bảo hộ cuối cùng được phép cho các DN trong nước, theo đúng quy định của WTO. Các cam kết về thuế cần được tính toán để đảm bảo khi đưa ra đàm phán phải đạt được mục tiêu cuối cùng là sản xuất trong nước có thể đứng vững và phát triển khi thực hiện hội nhập WTO, mở cửa thị trường, tự do hóa thương mại.  Hai là, việc sửa đổi các quy định trong hệ thống chính sách thuế và trong từng sắc thuế theo quy định của WTO là một đòi hỏi bắt buộc. Tuy nhiên việc sửa đổi này phải được tiến hành một cách thận trọng trong một khoảng thời gian xác định để đảm bảo không gây hụt hẫng nguồn thu ngân sách, đồng thời tạo điều kiện cho các DN có đủ thời gian chuẩn bị thích ứng với những thay đổi trong chính sách cũng như trong cạnh tranh. Việc sửa đổi này có thể cần thực hiện trong một thời kỳ quá độ từ 8 - 10 năm. Mặt khác, việc cải cách chính sách thuế cho công cuộc hội nhập quốc tế của Việt Nam sẽ đòi hỏi một thời hạn dài hơn, thậm chí đến 2020, vì chính sách thuế này đòi hỏi đáp ứng các yêu cầu đặt ra cho một hệ thống chính sách có chức năng điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN.   Khi gia nhập WTO, hàng rào thuế quan sẽ giảm một cách căn bản và theo đó tỷ lệ thuế xuất nhập khẩu và thuế gián thu trong cơ cấu nguồn thu ngân sách nhà nước sẽ giảm mạnh; đồng thời thuế thu nhập và đặc biệt là thuế VAT sẽ trở thành hai sắc thuế chủ yếu. Tuy nhiên, về dài hạn khi Việt Nam đã trở thành một nước công nghiệp và đã thực hiện tự do hóa thương mại với ASEAN thì thuế thu nhập sẽ trở thành nguồn thu cơ bản từ thuế của NSNN, giống như thực tế hiện nay ở các quốc gia phát triển.  Ba là, việc xây dựng hoàn chỉnh chính sách thuế XNK phải trên nguyên tắc khuyến khích xuất khẩu và bảo hộ có trọng điểm, có thời hạn một số ngành sản xuất trong nước. Thông qua hệ thống các mức thuế được xác định một cách khoa học, hợp lý và phù hợp với trình độ phát triển sản xuất, hệ thống chính sách thuế sẽ thực hiện vai trò khuyến khích xuất khẩu, bảo hộ hữu hiệu và đúng hướng cho những ngành có lợi thế cạnh tranh, hay những ngành sản xuất mũi nhọn trong kế hoạch công nghiệp hóa đất nước.  Tuy nhiên, các mức độ ưu tiên hay bảo hộ phải xác định một cách cụ thể và phải có lịch trình giảm dần phù hợp với các cam kết WTO và các hiệp định khu vực và quốc tế mà chúng ta cam kết, nhằm tạo áp lực buộc các DN trong nước vươn lên, nâng cao năng lực cạnh tranh gay gắt khi thực hiện mở cửa thị trường, tự do hóa thương mại, dịch vụ. Đồng thời cần thiết nghiên cứu và ban hành một số loại thuế mới nhằm bảo vệ thị trường nội địa và đảm bảo cạnh tranh lành mạnh như: thuế chống bán phá giá, thuế đối kháng…  Bốn là, cần xây dựng một chính sách thuế nội địa thống nhất cho tất cả các loại hình DN của mọi thành phần kinh tế không phân biệt DN trong nước hay DN có vốn đầu tư nước ngoài. Điều đó đòi hỏi phải rà soát, sửa đổi và hoàn chỉnh nội dung của hệ thống chính sách thuế, của từng sắc thuế: VAT, thuế thu nhập DN, thuế tiêu thụ đặc biệt, ban hành thuế thu nhập cá nhân thay thế cho thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, cần xác định rõ mục tiêu cơ bản cần đạt được của từng sắc thuế để có giải pháp thích hợp.  .Cần rà soát lại tất cả các sắc thuế khác cũng như các loại phí và lệ phí có liên quan tới quá trình hội nhập. Những gì cần xây dựng thành luật thì nhanh chóng tiến hành xây dựng và ban hành luật, những vấn đề gì cần sửa đổi bổ sung cũng cần khẩn trương tiến hành, những loại thuế, phí không phù hợp cần xem xét để xóa bỏ.  Bốn là, các biện pháp ưu tiên, ưu đãi, miễn giảm rất có ý nghĩa đối với việc khuyến khích đầu tư, thực hiện điều tiết vĩ mô, chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế, và thực hiện các chính sách xã hội, đặc biệt là trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế. Tuy nhiên, cần xác định thời hạn miễn giảm cụ thể, sau đó hạn chế và chuyển dần sang thực hiện các biện pháp khác để đảm bảo tính trung lập và vai trò phân bổ các nguồn lực của thuế, đảm bảo tính công bằng và đảm bảo các cam kết với WTO. 3.2.3 Lộ trình thực hiện. Biểu khung thuế nhập khẩu ưu đãi hiện hành có tổng cộng 1.246 nhóm hàng, bao gồm 10.680 dòng thuế. Theo cam kết gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), thì sau 5 - 7 năm, mức thuế suất thuế nhập khẩu bình quân cuối cùng của Việt Nam phải giảm từ 17,4% hiện nay xuống còn 13,4%. Trong đó, 3.800 dòng thuế (chiếm 35,5%) phải cắt giảm ở mức thấp hơn mức hiện hành, 3.170 dòng thuế được ràng buộc ở mức thuế trần (mức cao hơn thuế suất hiện hành). Để đáp ứng các cam kết về cắt giảm thuế nhập khẩu, sắp tới đây, Chính phủ sẽ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua Biểu khung thuế xuất khẩu, Biểu khung thuế nhập khẩu ưu đãi để thay thế Biểu khung thuế xuất khẩu, Biểu khung thuế nhập khẩu hiện hành. Ngoài ra, việc ban hành khung thuế xuất nhập khẩu mới còn nhằm thực hiện Danh mục Biểu thuế chung ASEAN (AHTN 2007), bởi trong AHTN 2007 (Việt Nam phải thực hiện từ năm 2008), việc mô tả nhiều nhóm mặt hàng đã được thay đổi so với Biểu thuế hiện hành của Việt Nam. Nhằm thực hiện các cam kết gia nhập WTO, đồng thời góp phần giảm thuế đầu vào đối với những nhóm nguyên vật liệu phục vụ sản xuất, theo Bộ Tài chính, trong tổng số 1.246 nhóm hàng chịu thuế nhập khẩu, việc sửa đổi lần này sẽ được thực hiện với 1.146 nhóm hàng (chiếm 92% trong tổng số nhóm hàng chịu thuế). Cụ thể, giảm mức thuế suất trần khung đối với toàn bộ 1.146 nhóm hàng, đồng thời giảm khung thuế suất thuế nhập khẩu đối với những nhóm hàng đang được áp dụng mức thuế nhập khẩu thấp hơn khung thuế suất hiện hành. Bên cạnh đó, Bộ Tài chính cũng đề nghị Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội giảm mức thuế sàn khung đối với 199 nhóm hàng để phù hợp lộ trình cắt giảm thuế nhập khẩu mà Việt Nam đã ký kết khi gia nhập WTO. Mặc dù gia nhập WTO, Việt Nam chỉ cam kết cắt giảm thuế xuất khẩu đối với mặt hàng phế liệu kim loại, không cam kết cắt giảm thuế với tất cả các mặt hàng còn lại. Tuy nhiên, nhằm tiếp tục thực hiện chính sách hạn chế xuất khẩu sản phẩm thô, khuyến khích sử dụng nguyên liệu để tái chế, Bộ Tài chính kiến nghị vẫn tiếp tục giữ nguyên khung thuế suất thuế xuất khẩu đối với với hầu hết các nhóm hàng chịu thuế trong Biểu khung thuế xuất khẩu ưu đãi mới, ngoài việc điều chỉnh giảm mức thuế trần và sàn đối với nhóm mặt hàng phế liệu sắt thép từ 30 - 40% xuống 10 - 30%; phế liệu kim loại màu từ 40 - 50% xuống còn 10 - 40% để phù hợp với quy định của WTO. Một trong những lý do dẫn đến tình trạng xuất khẩu tài nguyên thiên nhiên; nhập khẩu nguyên, nhiên vật liệu phục vụ cho sản xuất, tiêu dùng là các khung thuế suất thuế xuất khẩu hiện hành đối với những mặt hàng này khá thấp, nên cho dù Bộ Tài chính có điều chỉnh lên mức thuế suất trần, thì vẫn khuyến khích hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên để xuất khẩu thô. Nhằm hạn chế tình trạng này, Bộ Tài chính cũng kiến nghị tăng khung trần thuế suất thuế xuất khẩu đối với các nhóm mặt hàng dầu mỏ (nhóm 2709) từ 0 - 8% lên 0 - 20%; than đá từ 0 - 5% lên 0 - 20%; quặng kim loại từ 0 - 3% và 0 - 5% lên 0 - 20%. Với Biểu khung thuế xuất khẩu, Biểu khung thuế nhập khẩu ưu đãi mới chính sách thuế XNK sẽ tiếp tục phát huy vai trò là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế, bảo hộ hợp lý sản xuất trong nước, khuyến khích đầu tư, góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Ngoài ra, thuế XNK tiếp tục bảo đảm nguồn thu cho ngân sách với số thu bình quân hàng năm chiếm khoảng 15,5% trong tổng số thu về thuế. 3.2.4. Mốt số khắc phục Đối với thuế xuất khẩu: Để đảm bảo khuyến khích tối đa hoạt động xuất khẩu, chỉ thực hiện thu thuế xuất khẩu đối với mặt hàng xuất khẩu mà VN đã có thị trường ổn định hoặc là nguyên liệu thô cần cho sản xuất đối với các mặt hàng xuất khẩu mà VN đã có thị trường ổn định hoặc là nguyên liệu thô cần cho sản xuất trong nước như quặng thô, phế liệu kim loại…Cần điều chỉnh theo hướng giảm và tiến tới bỏ thuế xuất khẩu đối với một số hàng may mặc, da giày, nông sản chế biến để khuyến khích xuất khẩu Đối với thuế nhập khẩu: ( 1)Một số mặt hàng có thuế suất cao từ trên 20%, 30% sẽ được cắt giảm ngay khi gia nhập; -Đối với lĩnh vực nông nghiệp, mức cam kết bình quân là 25,2% vào thời điểm gia nhập và mức cắt giảm cuối cùng là 21,0%. So sánh với mức thuế MFN bình quân đối với lĩnh vực nông nghiệp hiện nay là 23,5% thì mức cắt giảm đi là 10%; (2) cần xác định rõ mức thuế nhập khẩu tạm thời cho các loại hàng hóa đặc biệt: trong luật thuế hiện hành chúng ta chưa có quy định về mức thuế tạm thời đối với một số loại hàng nhập khẩu mà giá bán của nước xuất khẩu quá thấp so với giá thành của hàng hóa nhằm gây rối hoặc có tính chất đe dọa sự phát triển sản xuất trong nước. Vì vậy cần phải có quy định về thuế suất tạm thời nhằm chống lại tình trạng bán phá giá, hoặc hộ giá nhằm cạnh tranh không lành mạnh Đây là những biện pháp đối phó với những hành động cạnh tranh không lành mạnh trong thương mai quốc tế được nhiều nước áp dụng Cần rà soát biểu thuế XNK để phát hiện những điều bất hợp lý, trên cơ sở đó điều chỉnh danh mục, mức thuế XNK cho phù hợp, chuẩn xác nhằm áp dụng sai thuế suất Tiến hành thực hiện Hiệp định xác định trị giá hải quan theo WTO. Giá tính thuế nhập khẩu phải dựa trên cơ sở mức giá trung bình trên thị trường thế giới hoặc mức giá được ghi trong hợp đồng nhập khẩu Tăng cường bồi dưỡng đào tạo nâng cao trình độ nhận thức, khả năng vận dụng và tổ chức thực hiện luật pháp cán bộ ngành thuế và ngành hải quan. Cải thiện quy trình thu thuế XNK, góp phần thúc đẩy hoạt động XNK hợp lý phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước KẾT LUẬN Kể từ khi gia nhập WTO đến nay, Việt Nam đã có những cải cách đáng ghi nhận trong cải cách các chính sách kinh tế nói chung và chính sách thuế xuất nhập khẩu nói riêng Sau khi gia nhập WTO, các thành viên phải điều chỉnh chính sách thuế xuất nhập khẩu chủ yếu do:(1) phải tuân thủ và thực thi cam kết gia nhập WTO( nguyên tắc “ nhập gia tùy tục”) như chỉ bảo hộ sản xuất trong nước bằng thuế quan không được phép sử dụng hạn chế định lượng, mức thuế quan phải giảm dần và không phải ràng buộc không tăng trở lại, áp dụng quy chế MFN và áp dụng quy chế NT;(2) để tăng lợi ích, hiệu quả kinh tế dài hạn từ việc gia nhập WTO, bởi vì các mục tiêu tối thượng của việc hội nhập sâu rộng hơn là nâng cao năng lực các ngành hàng, thúc đẩy thương mại quốc tế, thu hút nguồn vốn FDI và cuối cùng là tăng trưởng kinh tế;(3) giảm thiểu các tác động bất lợi có thể từ việc gia nhập WTO và thực hiện công bằng xã hội. Điều này là rất cần thiết nhằm giảm thiểu các đối tượng dễ bị tổn thương và tăng sự ủng hộ đối với các ngành hàng trong nước;(4) thực hiện các mục tiêu trên có tác động đáng kể tới thu chi NSNN( như chi cho việc thực thi cam kết, hoạch định nâng cao hiệu quả chính sách, giảm thiểu tác động bất lợi của hội nhập cũng như sự thất thu nguồn thu NSNN từ thuế nhập khẩu Thực tiễn điều chỉnh chính sách thuế xuất nhập khẩu cho thấy nhiều bài học bổ ích. Thứ nhất: Sau khi gia nhập WTO, các thành viên đã thực hiện khá nghiêm túc cam kết gia nhập của mình, nhất là thực hiện về cam kết ràng buộc, cắt giảm hàng rào thuế quan, thuế quan hóa và xóa bỏ hàng rào phi thuế quan. Nhiều nước đưa ra mức thuế quan thực tế thấp hơn so với mức cam kết Thứ hai: Nhìn chung việc cắt giảm thuế quan có thể làm giảm thu ngân sách từ thuế nhập khẩu Thứ ba: Để giảm tác động tiêu cực của việc cắt giảm thuế quan đối với thu ngân sách từ thuế nhập khẩu, các chính phủ thường điều chỉnh hệ thống thuế xuất nhập khẩu theo hướng(i) tạo lập hệ thống thu thuế hữu hiệu bằng cách sớm chuyển dịch cơ cấu thuế từ thuế XNK sang cơ chế thuế rộng hơn như thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập cá nhân;(ii)cải cách các biện pháp thương mại có tác động tích cực tới nguồn thu( như thuế quan hóa, cắt giảm diện miễn thuế) Thứ tư: Sử dụng công cụ chính sách thuế để nâng cao năng lực các ngành hàng, nhất là các hàng còn non trẻ sau khi gia nhập WTO nhìn chung bị thu hẹp cả về mức độ, phạm vi và loại hình áp dụng Trong bối cảnh mới để đảm bảo việc gia nhập mang lại nhiều lợi ích như tăng trưởng thương mại, kinh tế, nâng cao năng lực các ngành hàng trong nước, bảo hộ các đối tượng dễ bị tổn thương, các nhóm giải pháp phải dựa trên các tư tưởng chủ đạo sau: Một là: Việt Nam nên coi gia nhập WTO là bước cải cách tiếp theo trong tiến trình cải cách kinh tế và là tiền đề quan trọng nhằm thực hiện một cách có hiệu quả những cải cách sâu rộng trong nước khác, do vậy cần thực hiện nghiêm túc các cam kết gia nhập nhất là cắt giảm hàng rào thuế quan Hai là: Khi gia nhập WTO, việc điều chỉnh chính sách thuế xuất nhập khẩu phải được thực hiện một cách đồng bộ, không mâu thuẫn với các chính sách kinh tế vĩ mô khác Các biện pháp điều chỉnh chính sách thuế cụ thể cần bám sát những tư tưởng chủ đạo trên đây để việc gia nhập WTO thực sự mang lại lợi ích ròng lớn hơn và thiêt thực đối với tăng trưởng kinh tế và ổn định kinh tế xã hội trong thời gian tới MỤC LỤC

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docHoàn thiện chính sách thuế xuất nhập khẩu khi Việt Nam đã là thành viên của WTO.doc
Luận văn liên quan