Khảo sát biến động các yếu tố thủy lý - Hóa của các thủy vực nước lợ - mặn (Hà Tiên - Kiên Giang) và nước ngọt (Cần Thơ)

Bảng 3. Phương pháp thu và phân tích mẫu thủy hóa. Chỉ tiêu Dụng cụ và Phương pháp bảo quản Phương pháp phân tích Độ cứng Cal nhựa 1 lít. Trữ lạnh 40C Chuẩn độ Complexon Độ kiềm Cal nhựa 1 lít. Trữ lạnh 40C Chuẩn độ acid DO Chai nút mài nâu 125ml. 1 ml MnSO4 và 1 ml KI-NaOH PP Winkler COD Chai nút mài trắng 125ml. 2 ml H2SO4 4M Công phá kín NO2- Cal nhựa 1 lít. Trữ lạnh 40C PP Diazonium NH4+ Cal nhựa 1 lít. Trữ lạnh 40C PP Indophenol Blue H2S Chai nút mài nâu 125ml . Trữ lạnh 40C PP Methylene Blue Fe tổng Chai nút mài nâu 125ml. 1 ml HNO3 đđ PP so màu Orthro-phenanthroline PO43- Cal nhựa 1 lít. Trữ lạnh 40C PP SnCl2

doc29 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Lượt xem: 5171 | Lượt tải: 8download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Khảo sát biến động các yếu tố thủy lý - Hóa của các thủy vực nước lợ - mặn (Hà Tiên - Kiên Giang) và nước ngọt (Cần Thơ), để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
MỤC LỤC MỤC LỤC 1 DANH SÁCH BẢNG 2 DANH SÁCH HÌNH 2 LỜI CẢM ƠN 3 Chương I: GIỚI THIỆU 4 Chương II: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5 1. Vật liệu. 5 2. Phương pháp thu và phân tích mẫu. 5 2.1 Địa điểm và thời gian thu mẫu. 5 2.2. Phương pháp thu và phân tích mẫu. 6 2.2.1 Các yếu tố thủy lý. 6 2.2.2 Các yếu tố thủy hóa. 6 Chương III: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 7 3.1. Sự biến động của các yếu tố thủy lý. 7 3.1.1. Nhiệt độ 7 3.1.2. pH 9 3.1.3.Độ mặn 10 3.1.4.Độ trong 10 3.2. Sự biến động của các yếu tố thủy hóa. 12 3.2.1. Độ cứng 12 3.2.2. Độ kiềm 13 3.2.3. DO 15 3.2.4. COD 16 3.2.5. NO2-. 17 3.2.6. NO3- 19 3.2.7. TAN (NH3, NH4+) 20 3.2.8. H2S 22 3.2.9 . PO43- 23 3.2.10. Fe tổng 24 Chương IV: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 27 PHỤ LỤC 28 TÀI LIỆU THAM KHẢO 29 DANH SÁCH BẢNG Bảng 1. Địa điểm và thời gian thu mẫu. 5 Bảng 2. Phương pháp thu và phân tích mẫu thủy lý. 6 Bảng 3. Phương pháp thu và phân tích mẫu thủy hóa. 6 Bảng 4. Các yếu tố thủy lý 7 Bảng 5. Các yếu tố thủy hóa 12 DANH SÁCH HÌNH Hình 1. Sự biến động nhiệt độ ở các thủy vực 7 Hình 2. Sự biến động pH ở các thủy vực. 9 Hình 3. Sự biến động độ mặn của các thủy vực 10 Hình 4. Sự biến động độ trong của các thủy vực 11 Hình 5. Sự biến động độ cứng ở các thủy vực 13 Hình 6. Sự biến động độ kiềm ở các thủy vực 14 Hình 7. Sự biến động DO của các thủy vực 15 Hình 8. Sự biến động COD ở các thủy vực. 16 Hình 9. Sự biến động NO2- ở các thủy vực. 18 Hình 10. Sự biến động NO3- ở các thủy vực. 19 Hình 11. Sự biến động TAN ở các thủy vực. 20 Hình 12. Sự biến động NH3 ở các thủy vực. 21 Hình 13. Sự biến động H2S ở các thủy vực. 22 Hình 14. Sự biến động PO43- ở các thủy vực. 23 Hình 15. Sự biến động Fe tổng ở các thủy vực. 25 LỜI CẢM ƠN Trong thời gian học tập, thực tập tại Khoa Thủy sản trường Đại Học Cần Thơ. Đặc biệt tại chuyến đi thực tiễn thu mẫu tại Cần Thơ và Hà Tiên – Kiên Giang được sự hướng dẫn và giúp đỡ nhiệt tình của quý thầy cô, bạn bè, chúng tôi đã đúc kết được nhiều kinh nghiệm thực tiễn. Trong chuyến đi được sự hướng dẫn và giúp đỡ của quý thầy cô. Cám ơn sự dẫn đắt hướng dẫn thu mẫu thực tập của các thầy cô đi cùng. Cám ơn sự hợp tác và đoàn kết của các bạn sinh viên trong lớp đã phân tích mẫu và tổng hợp số liệu giúp nhóm chúng tôi. Đặc biệt rất cám ơn cô Phạm Thị Tuyết Ngân và anh Nguyễn Thanh Tâm đã tận tình chỉ dẫn cho chúng tôi phân tích mẫu, xử lý các số liệu và chỉnh sửa bài báo cáo được hoàn chỉnh. Tuy rất cố gắng nhưng đây là lần đầu tiên chúng tôi đi thực tế, thu, phân tích mẫu, xử lý số liệu và viết báo cáo nên không thể tránh khỏi sai sót. Mong quý thầy cô, anh chị, các bạn đóng góp thêm để chuyên đề của chúng tôi được hoàn thiện hơn. Nhóm thực hiện chuyên đề. Chân thành cảm ơn! Chương I GIỚI THIỆU ------( ( (------ Ngày nay nuôi trồng thủy sản đã trở thành một nghề phổ biến, đã và đang được phát triển rộng rải trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, với nhiều mô hình và mật độ nuôi khác nhau. Được nhiều ưu đãi của thiên nhiên, Đồng bằng sông Cửu Long có khí hậu nhiệt đới gió mùa thích hợp với điều kiện sống của nhiều loài thủy sinh vật,cùng hệ thống sông ngòi chằng chịt, phong phú và đa dạng về giống loài rất thích hợp cho nuôi trồng thủy sản. Trong nuôi trồng thủy sản, môi trường nước đóng vai trò quan trọng, do nước là yếu tố không thể thiếu đối với đời sống thủy sinh vật. Chất lượng nước bao gồm tất cả các yếu tố vật lý, hóa học và sinh học ảnh hưởng đến tỉ lệ sống, sinh sản, sinh trưởng của vât nuôi. Do đó người nuôi cần phải biết cách quản lý chất lượng môi trường nước trong ao nuôi để đạt năng suất cao hơn. Vì thế mà chúng tôi thực hiện chuyên đề “Khảo sát biến động các yếu tố thủy lý - hóa của các thủy vực nước lợ - mặn (Hà Tiên - Kiên Giang) và nước ngọt (Cần Thơ)” với mục đích: Khảo sát sự ảnh hưởng của các yếu tố thủy lý-hóa tác động lên môi trường nước và thủy sinh vật, từ đó mà có biện pháp khắc phục và cải tạo môi trường theo hướng có lợi cho người nuôi. Chương II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Vật liệu: Nhiệt kế thủy ngân (00C – 1000C). Đĩa secchi (đường kính 20cm, có sơn hai màu đen trắng xen kẽ nhau). Khúc xạ kế đo độ mặn. Máy đo pH. Buret chuẩn độ. Ống hút, ống nhỏ giọt, ống đong, pipet, ống nghiệm. Giá đỡ. Bình tam giác, bình định mức, cal nhựa một lít. Chai nút mài nâu và trắng. Hóa chất cố định mẫu. Thùng nước đá để trử lạnh mẫu. Các hóa chất phân tích: độ kiềm, độ cứng, độ trong, nhiệt độ, DO, COD, , Fe2+, TAN, PO43-, NO2-. Máy so màu quang phổ. Sổ ghi chép, bút lông dầu. Bọc nylon và dây thun. 2. Phương pháp thu và phân tích mẫu: 2.1. Địa điểm và thời gian thu mẫu. Bảng 1. Địa điểm và thời gian thu mẫu: STT  Thủy vực  Thời gian thu mẫu   1  Ao cá Mú Moso  8h00 ngày 25-5-2010   2  Bãi triều Bình An  9h20 ngày 25-5-2010   3  Ao tôm Sú  8h05 ngày 26-5-2010   4  Bãi triều Mũi Nai  9h30 ngày 26-5-2010   5  Bến Tô Châu  7h50 ngày 27-5-2010   6  Ao Cá Mú Đen  9h30 ngày 27-5-2010   7  Ao Cá Chép  7h25 ngày 29-5-2010   8  Kênh Rau Muống  7h50 ngày 29-5-2010   2.2. Phương pháp thu và phân tích mẫu: 2.2.1 Các yếu tố thủy lý: Bảng 2. Phương pháp thu và phân tích mẫu thủy lý. Chỉ tiêu  Dụng cụ  Phương pháp thu mẫu  Phương pháp phân tích   Nhiệt độ (0C)  Nhiệt kế  Đo trực tiếp tại hiện trường  Đọc số liệu trực tiếp từ nhiệt kế   pH  Máy đo pH  Đo trực tiếp tại hiện trường  Đọc số liệu trực tiếp từ máy đo pH   Độ trong (cm)  Đĩa secchi  Đo trực tiếp tại hiện trường  Nhúng đĩa secchi xuống nước đến khi không còn phân biệt được 2 màu đen trắng thì ghi nhận kết quả.   Độ mặn (ppt)  Khúc xạ kế  Đo trực tiếp tại hiện trường  Đọc kết quả từ khúc xạ kế.   2.2.2 Các yếu tố thủy hóa: Bảng 3. Phương pháp thu và phân tích mẫu thủy hóa. Chỉ tiêu  Dụng cụ và Phương pháp bảo quản  Phương pháp phân tích   Độ cứng  Cal nhựa 1 lít. Trữ lạnh 40C  Chuẩn độ Complexon   Độ kiềm  Cal nhựa 1 lít. Trữ lạnh 40C  Chuẩn độ acid   DO  Chai nút mài nâu 125ml. 1 ml MnSO4 và 1 ml KI-NaOH  PP Winkler   COD  Chai nút mài trắng 125ml. 2 ml H2SO4 4M  Công phá kín   NO2-  Cal nhựa 1 lít. Trữ lạnh 40C  PP Diazonium   NH4+  Cal nhựa 1 lít. Trữ lạnh 40C  PP Indophenol Blue   H2S  Chai nút mài nâu 125ml . Trữ lạnh 40C  PP Methylene Blue   Fe tổng  Chai nút mài nâu 125ml. 1 ml HNO3 đđ  PP so màu Orthro-phenanthroline   PO43-  Cal nhựa 1 lít. Trữ lạnh 40C  PP SnCl2   CHƯƠNG III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1. Sự biến động của các yếu tố thủy lý. Bảng 4. Các yếu tố thủy lý Thủy vực Chỉ tiêu  Ao cá chép  Kênh rau muống  Ao cá Mú Moso  Bãi triều Bình An  Ao tôm sú Pháo Đài  Bãi Triều Mũi Nai  Ao cá Mú đen  Bến Tô Châu   Nhiệt độ (0C)  30  32  28  31  28  30  30  30   pH  8.3  8.4  8.1  8.2  9.5  7.0  7.8  7.1   Độ trong (cm)  7.0  53  50  20  30  30  48  57   Độ mặn (‰)  0  0  30  27  38  30  28  15   3.1.1.. Nhiệt độ: Năng lượng ánh sáng mặt trời là nguồn cung cấp nhiệt lượng chủ yếu cho thủy vực, bên cạnh đó còn có các nguồn nhiệt sinh ra từ các quá trình oxy hóa hợp chất hữu cơ, vô cơ trong nước và từ nền đáy của thủy vực. Do đó, nhiệt độ của nước thay đổi theo vị trí địa lý của thủy vực, theo mùa, theo thời tiết và ngày đêm.  Hình 1. Sự biến động nhiệt độ ở các thủy vực Sự thay đổi nhiệt độ của nước trong các thủy vực gắn liền với cường độ chiếu sáng của mặt trời trong ngày. Thông thường nhiệt độ của nước trong các thủy vực thấp nhất vào lúc buổi sáng lúc 2-5 giờ, cao nhất vào buổi chiều lúc 14-16 giờ, lúc 10 giờ nhiệt độ của nước gần tới nhiệt độ trung bình ngày đêm. Biên độ dao động nhiệt độ trong ngày đêm lớn hay nhỏ phụ thuộc vào tính chất của thủy vực: các thủy vực nhỏ và nông có biên độ dao động nhiệt độ ngày và đêm lớn hơn các thủy vực lớn và sâu. Qua kết quả khảo sát, dựa vào hình 1 cho thấy nhiệt độ ở các thủy vực nước ngọt (Ao Cá Chép và Kênh Rau Muống) dao động từ 30 – 320C. Nhiệt độ các thủy vực nước lợ - mặn (Hà Tiên – Kiên Giang) dao động từ 28 – 310C. Ở các thủy vực nước ngọt nhiệt độ khá cao, cụ thể là ao cá chép 300C và kênh rau muống 320C. Nguyên nhân là do thời điểm hiện tại là mùa hè nên cường độ chiếu sáng của mặt trời tương đối cao, dẫn đến nhiệt độ nước cũng bị ảnh hưởng theo. Nhiệt độ kênh rau muống cao hơn ao cá chép là bởi vì độ trong ở ao cá chép rất thấp (0.7cm), ao ít được thay nước, vật chất hữu cơ lơ lững trong nước (thức ăn, chất thải của sinh vật, xác động thực vật phân hủy) quá nhiều khiến cho khả năng xuyên qua tầng nước của ánh sáng mặt trời giảm. Ngược lại kênh rau muống dù thực vật (rau muống, lục bình) phát triển nhiều nhưng độ trong lại cao (53cm), là do dinh dưỡng trong nước đã được thực vật hấp thu, làm giảm lượng vật chất hữu cơ lơ lững và làm tăng độ trong của nước nên nhiệt độ cao. Đối với các thủy vực nước lợ - mặn, nhiệt độ ở ao cá Mú Moso và ao tôm Sú (Pháo Đài) là thấp nhất (280C). Bởi vì khi thu mẫu ở 2 thủy vực trên thời tiết khá mát mẻ, ít nắng, ở ao cá Mú Moso lại vừa mới có mưa nên nhiệt độ thấp. Ở 4 thủy vực còn lại nhiệt độ đều khá cao (30 – 310C), nguyên nhân chủ yếu là do thời gian khi thu mẫu ở các thủy này đều gần trưa, làm ảnh hưởng đến nhiệt độ nước, chưa kể một vài thủy vực nắng khá gắt. Mặc dù độ trong ở bến Tô Châu cao hơn kênh rau muống nhưng do bến Tô Châu có nhiều sóng (do tàu bè qua lại) phần nào làm khuếch tán và làm giảm nhiệt độ ở đây. Còn kênh rau muống mặt nước khá yên tĩnh nên ánh sáng xâm nhập tốt hơn khiến cho nhiệt độ ở đây cao nhất. Nhìn chung, biên độ dao động nhiệt độ giữa các thủy vực nước ngọt và lợ - mặn là không cao do thời điểm thu mẫu là gần tương đương nhau. Theo Trương Quốc Phú (2006) thì nhiệt độ thích hợp cho các loài thủy sản vùng nhiệt đới là trong khoảng 25 – 320C. Nhìn chung nhiệt độ của các thủy vực trên vẫn thích hợp cho thủy sản phát triển. 3.1.2. pH: pH là một trong những nhân tố môi trường có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đối với đời sống thủy sinh vật. Độ pH của nước phản ánh nồng độ ion H+ của thủy vực, có giá trị từ 1 – 14. Theo Swingle (1969) thì pH thích hợp cho tất cả thủy sinh vật nằm trong khoảng 6.5 – 9.0. Do đó, pH môi trường cao hay thấp đều không thuận lợi cho quá trình phát triển của thủy sinh vật.  Hình 2. Sự biến động pH ở các thủy vực Qua hình 2 cho thấy pH ở 2 thủy vực nước ngọt tương đương nhau (từ 8.3 – 8.4), sự dao động này không đáng kể do nước trong ao cá chép được lấy trực tiếp từ nước kênh rau muống, nên pH tương đương nhau. Ngoài ra kênh rau muống có nhiều thực vật (rau muống và lục bình) phát triển và vào thời điểm thu mẫu ở thủy vực này trời có nắng khiến quá trình quang hợp của thực vật xảy ra mạnh dẫn đến CO2 giảm, còn ở ao cá chép do có tác động của con người (bón vôi xử lý nước do nước bị nhiễm bẩn) nên làm pH nước ở 2 thủy vực này tăng cao. Ở các thủy vực nước lợ - mặn, pH dao động từ 7 – 9.5. Trong đó ao tôm sú (Pháo Đài) có pH cao nhất (9.5) còn bãi triều Mũi Nai có pH thấp nhất (7). Do ao tôm Sú (Pháo Đài) là ao mới cải tạo, bón nhiều vôi trước khi thả nuôi nên nồng độ pH tăng cao. Ngoài ra ao còn bón phân kích thích tảo phát triển (69280 cá thể/L), cộng với thời điểm thu mẫu trời có nắng làm tảo quang hợp nhiều cũng làm tăng pH. Cho nên ao có pH lên đến 9.5. Còn ở bãi triều Mũi Nai có pH thấp (pH = 7) do ít thực vật thủy sinh phát triển (59497 cá thể/L) nên quang hợp ít dẫn đến CO2 cao, từ đó làm giảm pH. Nhìn chung pH ở các thủy vực trên đều thích hợp cho nuôi trồng thủy sản chỉ trừ ao tôm Sú (Pháo Đài) có pH khá cao do ao mới bón vôi. 3.1.4. Độ mặn: Độ mặn là tổng hàm lượng của tất cả các ion hòa tan trong nước và được tính bằng mg/L, ppt hay 0/00.  Hình 3. Sự biến động độ mặn của các thủy vực Qua kêt quả ở hình 3 cho thấy độ mặn các thủy vực dao động từ 15 - 38‰, trong đó bến Tô Châu có độ mặn thấp nhất (15‰) còn ao tôm Sú (Pháo Đài) có độ mặn cao nhất (38‰). Nguyên nhân là do bến Tô Châu là vùng cửa sông đổ ra biển nên lượng nước sông hòa vào nước biển làm độ mặn giảm, mặt khác đây là khu đông dân cư do lượng nước thải sinh hoạt cũng làm giảm độ mặn, còn ở ao tôm sú có độ mặn cao là do thời gian thu mẫu có nhiều nắng cộng với thời điểm hiện tại là mùa khô, ao tôm là thủy vực nông nên nước dễ bốc hơi dẫn đến độ mặn cao. Nhìn chung độ mặn ở các thủy vực trên tương đối phù hợp cho nuôi trồng thủy sản. 3.1.4. Độ trong: Độ trong của nước là khả năng ánh sáng mặt trời xuyên qua nước. Độ trong phụ thuộc vào lượng keo khoáng, vật chất hữu cơ lơ lững, sự phát triển của các vi tảo, sóng gió thủy triều. Độ trong thích hợp cho các ao nuôi cá là 20 – 30 cm, ao nuôi tôm là 30 – 45 cm (Trương Quốc Phú, 2006).  Hình 4. Sự biến động độ trong của các thủy vực Qua hình 4 cho thấy ở các thủy vực nước ngọt độ trong dao động từ 7 – 53 cm. Kênh rau muống có độ trong cao (53 cm) là do lượng chất hữu cơ lơ lững đã bị thực vật sống trên mặt kênh hấp thu các chất dinh dưỡng và những loài thực vật này cũng làm hạn chế tảo phát triển (do chúng phát triển làm thu hẹp diện tích mặt nước làm hạn chế sự xâm nhập của ánh sáng vào nước, tảo không đủ ánh sáng để quang hợp nên kém phát triển). Còn ở ao cá chép có độ trong thấp (7 cm) là do lượng vật chất hữu cơ và chất vẫn trong ao quá nhiều. Nguyên nhân có thể do thức ăn dư thừa, bài tiết của thủy sinh vật, xác sinh vật phân hủy. Mặt khác ao nuôi cá bố mẹ (các loài cá chép, cá trôi, tai tượng, mè vinh, mè trắng) có tập tính ăn đáy nên xáo trộn bùn đáy. Thêm vào đó, vài ngày trước khi thu mẫu ở đây có mưa lớn đã rữa trôi đất từ trên bờ xuống dưới ao. Từ đó làm tăng lượng vật chất trong ao và làm giảm độ trong của nước. Độ trong ở các thủy vực nước lợ - mặn dao động trong khoảng 20 – 57 cm. Trong đó bến Tô Châu có độ trong cao nhất (57 cm) do lượng thực vật phù du ở đây thấp và nền đáy là cát sỏi nên ít xáo trộn và khả năng lắng tụ nhanh, còn thấp nhất là ở bãi triều Bình An (20 cm) do ở đây có nhiều chất hữu cơ lơ lững, nền đáy là bùn cát nên dễ bị xáo trộn khi có thủy triều. 3.2. Sự biến động của các yếu tố thủy hóa. Bảng 5. Các yếu tố thủy hóa Thủy vực Chỉ tiêu  Ao cá chép  Kênh rau muống  Ao cá Mú Moso  Bãi triều Bình An  Ao tôm Sú Pháo Đài  Bãi triều Mũi Nai  Ao cá Mú đen  Bến Tô Châu   DO (mgO2/L)  2,88  1,52  5,28  7,12  5,92  8,72  4,28  6,44   COD (mgO2/L)  13,95  6,98  47,04  41,6  102,4  33,28  60,8  39,68   Độ cứng (mgCaCO3/L)  115,5  42,5  3925  3775  5450  3375  4350  2375   Độ kiềm (mgCaCO3/L)  144,5  84,5  90,5  96  80  8,5  50,5  37,5   H2S (mg/L)  0,00496  0,00079  0,00036  0,00038  0,000081  0,00233  0,0022  0,004   TAN (mg/L)  0,2  0,015  0,00093  0,000216  0,04337  0,0005376  0,00023  0,0074   (NH3)/TAN (mg/L)  0,03  0,0813  0,013287  0,01178  0,063  0,0672  0,04844  0,054   NO2- (mg/L)  0,03750  0,038  0,023  0,026  0,182  0,03  0,008  0,05096   NO3- (mg/L)  0,516  0,331  0,002  0,023  0,5816  0,0476  0,2011  0,2509   Fe tổng (mg/L)  2,275  1,652  1,031  1,209  2,311017  2,30254  1,63729  1,6839   PO43- (mg/L)  0,053  0,1375  0,118  0,127  0,071  0,00882  0,12686  0,056   3.2.1. Độ cứng : Độ cứng là tổng hàm lượng ion Ca2+ và Mg2+ trong nước. Độ cứng thích hợp cho nuôi trồng thủy sản là 50 – 150 mgCaCO3/L ( Trương Quốc Phú, năm 2006 ).  Hình 5. Sự biến động độ cứng của các thủy vực Qua hình 5 cho thấy ở thủy vực nước ngọt có độ cứng dao động từ 42.5 - 115.5 mgCaCO3/L. Kênh rau muống có độ cứng thấp do có thực vật thủy sinh phát triển nhiều đã hấp thụ các ion trong nước do Mg2+ quan trọng đối với thực vật vì nó là thành phần tạo chất diệp lục, Ca2+ là chất cơ bản trong cấu tạo nâng đỡ thực vật thủy sinh và giải phóng CO2 cung cấp cho quang hợp, nên làm độ cứng giảm. Còn ao cá chép có độ cứng trung bình (115.5 mgCaCO3/L) do hàng tháng đều có bón vôi để duy trì xử lý nước nên độ cứng trong nước cũng dao động không nhiều. Ở các thủy vực nước lợ - mặn độ cứng dao động từ 2375 – 5450 mgCaCO3/L. Độ cứng cao nhất là ở ao tôm Sú (Pháo Đài) (5450 mgCaCO3/L) bởi vì ao được bón rất nhiều vôi dùng để cải tạo ao trước mùa vụ nuôi. Còn độ cứng thấp nhất là ở bến Tô Châu (2375 mgCaCO3/L) do hàm lượng chất hữu cơ cao và ion PO43- trong nước cao tạo kết tủa với ion Ca2+ , Mg2+ làm giảm độ cứng. Độ cứng của các thủy vực nước lợ - mặn cao hơn rất nhiều lần so với thủy vực nước ngọt vì các thủy vực nước lợ - mặn thuộc vùng có nhiều núi đá vôi nên chất đất cũng bị ảnh hưởng bởi lượng ion có trong đá vôi, từ đó các ion này hòa vào trong nước nên làm độ cứng tăng cao. 3.2.2. Độ kiềm. Độ kiềm tổng cộng là tổng hàm lượng ion bicarbonate (HCO3- ), carbonate (CO32-), Hydroxyt (OH-) và các muối axít yếu. Ở nhiệt độ nhất định độ kiềm phụ thuộc vào pH và CO2 tự do trong nước (Nguyễn Văn Thường, 2006). Trong các ao nuôi độ kiềm giảm là do: độ mặn thấp, phèn, thay nước ít, phiêu sinh thực vật phát triển quá dầy. Độ kiềm đóng vai trò là chất đệm và là nguồn cung cấp CO2 cho quá trình quang tổng hợp trong ao nuôi độ kiềm nằm trong khoảng từ 50-120 ppm là thích hợp cho phiêu sinh vật cũng như tôm cá.  Hình 6. Sự biến động độ kiềm ở các thủy vực. Qua hình 6 cho thấy ở thủy vực nước ngọt độ kiềm dao động trong khoảng (144,5 - 84,5mg CaCO3/L). Cao nhất là ở ao cá Chép tới 144,5mg CaCO3/L do đây là thủy vực nhân tạo được cải tạo trước khi thả cá nuôi. Trong quá trình cải tạo được bón vôi làm cho pH cao (pH=8.3) đã sinh ra nhiều ion HCO3-, CO3- làm cho độ kiềm cao. Kênh rau muống độ kiềm thấp (84.5mg CaCO3/L) do đây là thủy vực tự nhiên nên ít được bón vôi, ít có sự trao đôi nước với bên ngoài. Mặt khác, khi có mưa nhiều làm trôi đi những lớp phèn trên bờ ao làm cho PH giảm dẫn đến độ kiềm thấp. Ở thủy vực nước mặn độ kiềm dao động trong khoảng (37.5 - 96 mgCaCO3/L) cao nhất ở bãi triều Bình An ( 96 mg CaCO3/L ) và thấp nhất ở Bến Tô Châu (37.5 mg CaCO3/L). Ở bãi triều Bình An cao do đây là vùng có nhiều hòn đảo đá vôi nên trong quá trình xói mòn có một lượng lớn đá vôi hòa tan vào trong nước vì thế độ kiềm ở đây cao. Thấp nhất ở bến Tô Châu do nơi đây chịu ảnh hưởng lớn của nguồn nước sinh hoạt của con người và đây cũng là vùng nước chảy nên hàm lượng vật chất hữu cơ được phân tán theo dòng nước nên hàm lượng CO2 thấp dẫn đến độ kiềm thấp. Ngoài ra, pH ở đây thấp (7.1) và độ mặn cũng thấp chỉ có 150/00 nên độ kiềm cũng thấp. 3.2.3. DO (Oxy hòa tan): Oxy là chất khí quan trọng nhất trong số các chất khí hòa tan trong môi trường nước. Nó rất cần thiết đối với đời sống thủy sinh vật. Theo Swingle (1969) thì nồng độ oxy hòa tan trong nước lý tưởng cho tôm, cá là trên 5 mg/L. Hàm lượng DO ở các thủy vực thay đổi phụ thuộc vào cường độ chiếu sáng, thời tiết, ngày đêm, độ sâu, nhiệt độ, độ mặn và các chất dinh dưỡng trong thủy vực.  Hình 7. Sự biến động DO ở các thủy vực Qua hình 7 cho thấy ở các thủy vực nước ngọt, DO dao động trong khoảng 1.52 – 2.88 mgO2/L, ao cá Chép có DO là 2.88 mgO2/L do ao thông thoáng và có ít thực vật thủy sinh, tạo điều kiện oxy từ không khí dễ khếch tán vào thủy vực, mặt khác khi thu mẫu trời có nắng nên quá trình quang hợp xảy ra mạnh và ao có tạo mưa nhân tạo nên cũng góp phần tạo oxy nhiều cho thủy vực. Còn ở kênh rau muống có DO thấp hơn là do ở đây có nhiều thực vật che phủ mặt kênh, cản trở sự khếch tán của oxy vào nước, mặt khác còn ảnh hưởng của nước thải sinh hoạt. DO ở thủy vực nước mặn dao động từ 4.28-8.72 mgO2/L, DO cao nhất là ở bãi triều Mũi Nai (8.72 mgO2/L) do khi thu mẫu ở thủy vực này có gió lớn nhiều sóng, diện tích mặt nước lớn nên sự khếch tán oxy từ không khí vào thủy vực cao. DO Thấp nhất là ở ao cá Mú đen (4.28 mgO2/L) do thời gian thu mẫu không có gió, diện tích mặt ao nhỏ (do ao đang trong tình trạng thiếu nước), mặt khác do ao chưa được cải tạo nên lượng bùn đáy ao cao làm tiêu tốn oxy cho quá trình phân hủy chất hữu cơ, nên hàm lượng oxy hòa tan vào nước thấp. Từ kết quả trên nhận thấy DO ở các thủy vực nước lợ - mặn cao hơn các thủy vực nước ngọt chủ yếu là do các thủy vực nước lợ - mặn có bề mặt rộng và thoáng hơn nên oxy từ không khí dễ khuếch tán vào. Tuy nhiên hàm lượng DO ở các thủy vực vẫn thích hợp cho nuôi trồng thủy sản, nhất là các thủy vực lợ - mặn. 3.2.4. COD (Tiêu hao Oxy hóa học): COD là lượng tiêu hao oxy trong quá trình phân hủy vật chất hữu cơ trong nước. COD là chỉ số cho biết mức độ hữu cơ trong ao. Hàm lượng COD thích hợp cho ao nuôi thủy sản là từ 15 – 30 mgO2/L (Trương Quốc Phú, 2006).  Hình 8. Sự biến động COD ở các thủy vực COD ở thủy vực nước ngọt dao đông từ 26.98 – 64.5 mgO2/L, Kênh rau muống có COD thấp (26.98 mgO2/L) là do thủy vực có sự trao đổi nước thường xuyên, có nhiều loại thực vật hấp thu các chất hữu cơ làm giảm lượng COD trong nước. Ao cá chép có COD cao (64.5 mgO2/L) do lượng vật chất hữu cơ trong ao tích lũy nhiều (từ xác các động thực vật, thức ăn dư thừa, chất thải của sinh vật), mặt khác ao ít được thay nước, một năm chỉ được cải tạo một lần. Ngoài ra, do ao nuôi cá bố mẹ (tập tính ăn đáy) đã xáo trộn bùn đáy lên, dẫn đến hàm lượng COD cao. Ở các thủy vực nước lợ-mặn, COD dao động trong khoảng từ 33.28-60.8 mgO2/L. Bãi triều Mũi Nai có hàm lượng COD thấp (33.28 mgO2/L) do bãi triều có mặt của loài 2 mảnh vỏ có tập tính ăn lọc các hợp chất hữu cơ trong thủy vực làm cho hàm lượng hữu cơ giảm dẫn đến COD thấp. Còn COD cao nhất là ở ao cá Mú đen do DO ở đây thấp, ao chưa được cấp nước. Mặt khác, thức ăn sử dụng cho cá Mú đen là cá tạp tươi được cho ăn trực tiếp xuống ao, không kiểm soát được thức ăn dẫn đến thức ăn thừa và chất thải của sinh vật tích tụ làm tăng hàm lượng hữu cơ trong nước. Từ đó dẫn đến COD cao. Nhìn chung hàm lượng COD ở 2 thủy vực nước ngọt có sự chênh lệch rõ rệt, ở kênh rau muống có hàm lượng COD phù hợp với nuôi trồng thủy sản hơn ở ao cá Chép. Còn ở các thủy vực nước lợ-mặn có hàm lượng COD cao nhưng không có sự chênh lệch nhiều ở các thủy vực. 3.2.5. NO2- Trong thủy vực nitrite được tạo thành từ quá trình oxy hóa ammonia và ammonium nhờ hoạt động của nhóm vi khuẩn hóa tổng hợp Nitrosomonas hay từ quá trình phản nitrate hóa trong điều kiện yếm khí hay quá trình nitrite hóa. NO2- là dạng đạm độc đối với thủy sinh vật. Theo Boyd (1988) NO2- có tác động gây độc cho tôm cá khi NO2- >2mg/L, hàm lượng NO2- thích hợp cho ao nuôi thủy sản phải nhỏ hơn 0,3mg/L (trích dẫn Nguyễn Thị Thanh Thảo, 2005). NO2- ở tầng mặt ít hơn ở tầng đáy vì ở tầng nước mặt trong điều kiện nhiệt độ và Oxy hòa tan cao, dạng đạm này dể bị oxy hóa thành dạng nitrate (NO3-).  Hình 9. Sự biến động NO2- ở các thủy vực. Qua hình 8, cho thấy hàm lượng NO2- dao động từ 0.008 – 0.182 mg/L. Ở thủy vực nước ngọt hàm lượng NO2- tương đương nhau (0.0375 – 0.038 mg/L). Ở các thủy vực nước lợ - mặn NO2- dao động từ 0.008 – 0.182 mg/L. NO2- cao nhất là ở hai thủy vực Bến Tô Châu (0.05096 mg/L) và Ao tôm sú Pháo Đài (0.182 mg/L), còn ở bãi triều Mũi Nai thì tương đương so với hai thủy vực ao cá chép và kênh rau muống. Nguyên nhân làm cho hai thủy vực nước ngọt có hàm lượng NO2- thấp hơn so với hai thủy vực nước lợ mặn (Ao tôm sú Pháo Đài và bến Tô Châu) là do hai thủy vực nước ngọt có tạo dòng chảy nên hàm lượng oxy hòa tan (DO) ở tầng mặt cao, nhiệt độ trong ao tương đối cao (30 – 320C) vì vậy NO2- dẽ dàng bị oxy hóa thành NO3- làm cho hàm lượng NO2- trong ao thấp. Trong khi đó hàm lượng DO ở các thủy vực nước lợ - mặn tương đối cao hơn nên NO2- được chuyển hóa thành NO3- do đó nồng độ NO2- thấp hơn (ngoại trừ ao tôm sú Pháo Đài và bến Tô Châu). Ở thủy vực nước ngọt, nồng độ NO2- ở kênh rau muống và ao cá Chép tương đương nhau (0.03750 – 0.038 mg/L) do điều kiện hai thủy vực gần giống nhau (pH, nhiệt độ). Ở thủy vực nước lợ - mặn nồng độ NO2- dao động từ 0.008 – 0.182mg/l . Cao nhất là ở ao tôm sú Pháo Đài (0.182 mg/L) và thấp nhất là ở ao cá Mú Đen 0.008 mg/L. Ở ao tôm Sú có nồng độ NO2- cao là do ao nuôi tôm đã qua xử lý chlorin làm cho tảo chết và chúng được phân hủy tạo ra một lượng lớn NO2-. Ở thủy vực bến Tô Châu hàm lượng NO2- cao là do chịu ảnh hưởng từ nguồn nước thải sinh hoạt của người dân đổ xuống sông góp phần làm tăng nồng độ NO2- trong nước. 3.2.6. NO3- Nitrate (NO3-) trong thủy vực là sản phẩm của quá trình nitrate hóa nhờ hoạt động của một số vi khuẩn hóa tự dưỡng như Nitrobacter (nước ngọt) hay Nitrospina, Nitrosococcus ( nước lợ - mặn). Ngoài ra cũng được cung cấp từ nước mưa khi có sấm chớp. Nitrate là một trong những dạng đạm được thực vật hấp thu dễ nhất, không độc đối với thủy sinh vật. Nồng độ thích hợp cho các ao nuôi cá là từ 2 – 3 ppm (Trương Quốc Phú, 2006). Hàm lượng NO3- cao không gây độc cho cá nhưng có thể làm thực vật phù du phát triển mạnh gây hiên tượng nở hoa làm biến đổi chất lượng nước ảnh hưởng đến tôm cá nuôi.  Hình 10. Sự biến động NO3- ở các thủy vực. Qua số liệu phân tích cho thấy nồng độ NO3- ở các thủy vực nước ngọt dao động từ 0.331 – 0.516 mg/L còn các thủy vực lợ - mặn là khoảng 0.002 – 0.05816 mg/L. Ở môi trường nước ngọt hàm lượng NO3- ở ao Cá Chép (0.0516 mg/L) lớn hơn ở kênh Rau Muống (0.0331mg/L), do ao Cá Chép có nhiều mùn bã, đồng thời oxy được cung cấp cho ao bằng cách phun mưa nhân tạo và tạo dòng chảy nên phản ứng Nitrate hóa xảy ra mạnh nên hàm lượng NO3- sinh ra nhiều hơn so với kênh rau muống chỉ có dòng chảy nhẹ. Mặt khác ở kênh rau muống có nhiều thực vật thượng đẳng nên NO3- cũng bị hấp thu một phần làm lượng NO3- giảm. Ở các thủy vực nước lợ - mặn thì hàm lượng NO3- cao nhất ở ao nuôi Tôm Sú (0.5816 mg/L), thấp nhất là ở ao Cá Mú Moso (0.002mg/L). Nguyên nhân là do ở ao nuôi Tôm Sú có hàm lượng NO2- cao (0.182 mg/L) vì vậy có một lượng lớn NO2- chuyển thành NO3- qua quá trình Nitrate hóa làm hàm lượng NO3- trong ao nuôi Tôm cao. Còn ở ao cá Mú Moso có hàm lượng NO3- thấp là do thường xuyên thay nước (2 lần/tháng, theo con nước) thay khoảng 30% lượng nước trong ao. 3.2.7. TAN (NH3, NH4+) Tổng hàm lượng NH3 và NH4+ được gọi là tổng đạm amon (TAN). NH3 được hình thành trong thủy vực từ quá trình phân hủy mùn bã hữu cơ, sản phẩm bài tiết của động vật hay từ phân bón vô cơ, hữu cơ. Trong nước ammonia tồn tại dưới hai dạng ammonia tự do (NH3) và ion (NH4+) trong trạng thái phụ thuộc vào pH và nhiệt độ: NH3 + H2O = NH4+ + OH- Khi nhiệt độ và pH của nước gia tăng, hàm lượng NH3 sẽ gia tăng và ngươc lại. Hàm lượng NH3 thích hợp cho nuôi trồng thủy sản là < 0.1mg/l (Trương Quốc Phú, 2006).  Hình 11. Sự biến động TAN ở các thủy vực. Tổng hàm lượng TAN ở các thủy vực nước ngọt dao động từ 0.0813 – 0.2 mg/L, còn đối với các thủy vực nước lợ là 0.01178 – 0.0672 mg/L. Ở thủy vực nước ngọt, TAN ao cá Chép (0.2mg/l) cao hơn kênh Rau Muống (0.0813mg/L) là do ở ao cá Chép có quá trình phân hủy xác bã động thực vật, do sự bài tiết của các loài cá trong ao, do thức ăn công nghiệp. Mặc khác, dưới đáy ao có nhiều bùn do nuôi liên tục ít được cải tạo nên hàm lượng TAN cao. Hàm lượng TAN ở thủy vực nước lợ mặn dao động từ 0.01178 – 0.0672mg/L. TAN cao nhất là ở bãi triều Mũi Nai (0.0672 mg/L) do ở bãi biển có nhiều rác thải khi chúng phân hủy tạo thành một lượng lớn TAN. Còn TAN thấp nhất ở bãi triều Bình An (0.01178 mg/L) do hàm lượng DO cao giảm sự phân hủy yếm khí của vật chất hữu cơ và ở đó là bãi cát bùn (phù sa) và thủy triều lên xuống nên hàm lượng vật chất hữu cơ ở đáy thấp do đó ít phân hủy tạo ra TAN. (NH3 trạng thái tự do rất độc đối với tôm cá, khi NH3 trong nước cao hơn cơ thể cá, cá sẽ khó bài tiết NH3 từ cơ thể ra môi trường ngoài làm pH máu tăng làm thay đổi độ thẩm thấu của tế bào dẫn đến cá chết vì không điều khiển được quá trính trao đổi muối giữa cơ thể với môi trường ngoài.  Hình 12. Sự biến động NH3 ở các thủy vực. Dựa vào pH và nhiệt độ có hàm lượng NH3/ TAN. Qua hình 12 cho thấy hàm lượng NH3 ở các thủy vực nước lợ - mặn dao động từ 0,000216 – 0.04337mg/L. Còn ở các thủy vực nước ngọt là từ 0.015 – 0.03 mg/L. Ở thủy vực nước lợ mặn hàm lượng NH3 từ (0,000216 – 0.04337mg/L). NH3 cao nhất ở ao Tôm Sú (Pháo Đài) 0.04337mg/L do pH tăng cùng lúc đó nhiệt độ trong thủy vực tương đối cao (280C) làm cho phản ứng xảy ra theo chiều thuận NH+4 → NH3 dẫn đến NH3 tăng. Còn NH3 thấp nhất ở bãi triều Bình An (0.000216mg/L) do hàm lượng TAN thấp nên hàm lượng NH3 thấp. Ở thủy vực nước ngọt hàm lượng NH3 ở ao cá Chép (0.03 mg/L) cao hơn ở kênh rau muống (0.015mg/L) là do hàm lượng TAN ở ao cá chép cao nên lượng NH3 cao. 3.2.8. H2S Khí H2S tích tụ dưới nền đáy các thủy vực chủ yếu là do quá trình phân hủy các hợp chất hữu cơ yếm khí thường gặp ở đáy thủy vực nước ngọt hay quá trình phản sulfate hóa với sự tham gia của các vi khuẩn yếm khí thường gặp ở các thủy vực nước lợ - mặn. H2S được hình thành thuận lợi trong điều kiện nhiệt độ cao và trong thủy vực có nhiều hợp chất hữu cơ chứa lưu huỳnh. H2S là một khí cực độc đối với thủy sinh vật. Nó làm mất khả năng vận chuyển O2 của Hemoglobin để cung cấp cho tế bào, làm thủy sinh vật chết ngạt vì thiếu O2 . Theo Trương Quốc Phú ( 2006), H2S> 0.005 ppm gây độc cho thủy sinh vật.  Hình 13. Sự biến động H2S ở các thủy vực. Qua hình 13 cho thấy hàm lượng H2S biến động từ 0.000081 - 0.004 mg/L đối với các thủy vực nước lợ - mặn và từ 0.00079 – 0.00496 mg/L đối với các thủy vực nước ngọt. Ở các thủy vực nước ngọt, hàm lượng H2S ở ao cá Chép cao hơn kênh Rau muống là do ở ao cá Chép có lượng mùn bả hữu cơ nhiều, cộng vào đó là pH ở đây thấp nên hàm lượng H2S cao hơn kênh Rau muống. Ở thủy vực nước lợ mặn: Hàm lượng H2S ở ao tôm Sú (Pháo Đài) là thấp nhất (0.000081mg/L) là do ao mới được cải tạo và cao nhất là ở Bến Tô Châu (0.004mg/L) là do ảnh hưởng của nước thải sinh hoạt và pH tương đối thấp (7.1). 3.2.9. PO43- Lân là một yếu tố dinh dưỡng rất cần thiết cho sự phát triển của thủy sinh vật, trong nước không có lân thì thực vật bật cao và nguyên sinh động vật không phát triển. Trong nước thiên nhiên, Lân tồn tại dưới dạng muối orthophosphate hòa tan và dạng phosphate ngưng tụ. Dạng lân hữu cơ hòa tan dễ dàng chuyển hóa lẫn nhau và chuyển thành dạng muối orthophosphate hòa tan nhờ vào hoạt động của vi sinh vật. Trong thủy vực phospho có được từ phân hữu cơ, phân bón, chất thải động vật… Theo Trương quốc Phú (2006), thì hàm lượng lân thích hợp cho việc nuôi trồng thủy sản là 1-3 ppm nếu hàm lượng lân thấp hơn mức này thì thực vật phù du không phát triển được, nếu hàm lượng lân cao mức này sẽ gây ra hiện tượng tảo nở hoa.  Hình 14. Sự biến động PO43- tổng ở các thủy vực Qua hình 14 cho thấy ở thủy vực nước ngọt hàm lượng PO3-4 cao nhất là ở kênh rau muống (0.1375 mg/L), thấp nhất ở ao cá chép (0.053 mg/L). Do ở Kênh có lớp bùn có nhiều acid hữu cơ hay CaCO3 do chất thải sinh hoạt, xói lở, bón phân cho rau, phân hủy xác động vật sinh ra nên hàm lượng PO3-4 cao. Còn ao cá chép thì bị hạn chế các yếu trên do nuôi trong ao và do tập tính ăn động vật đáy, pH cao 8.4 nên hàm lượng PO3-4 thấp. Ở các thủy vực lợ mặn Hà Tiên hàm lượng PO3-4 tương đối thấp (0.00882 -0.127 mg/L) chỉ ở Bãi Triều Bình An va ao ca Mú Đen có hàm lượng PO3-4 tương đối cao (0.127 mg/L). Bãi Triều Bình An do nằm ở ven biển mà có chất bùn bã hữu cơ cao và có sóng làm cho các chất hữu cơ xáo trộn, còn ở ao cá Mú Đen có nhiều chất hữu cơ do lá cây rơi xuống tích tụ và chất hữu cơ từ bờ trôi xuống ao, thức ăn dư thừa. Còn Bãi Triều Mũi Nai hàm lượng PO3-4 thấp 0.008 mg/L do ở bờ biển có nhiều ion Ca2+ và độ mặn cao nên kết tủa PO3-4 làm cho hàm lượng PO3-4 thấp. Ở thủy vực nước ngọt có hàm lượng PO3-4 cao hơn nước lợ - mặn do nước ngọt có nhiều chất hữu cơ, độ mặn thấp, còn ở nước lợ - mặn dó có nhiều Ca2+ làm kết tủa PO3-4 nên hàm lượng PO3-4 thấp hơn nước ngọt. 3.2.10 . Fe tổng Trong nước thiên nhiên sắt tồn tại dưới 2 dạng là Fe2+ và Fe3+, các hợp chất hòa tan hay không hòa tan. Dạng Fe2+ thường gây độc đối với thủy sinh vật vì quá trình oxy hóa nó thành Fe3+ làm tiêu hao nhiều oxy trong môi trường và tạo thành rỉ sắt bám trên mang cá làm cho chết ngạt vì hô hấp không được. Dạng Fe3+ không gây độc nhưng nếu nó tồn tại với hàm lượng lớn trong thủy vực cũng không có lợi đối với thủy sinh vật (theo giáo trình cao học - Trương Quốc Phú, 2006) Sắt là môt trong những nguyên tố rất cần thiết cho đời sống thủy sinh vật mặc dù nhu cầu về nó không lớn lắm. Sắt có trong thành phần Hemoglonbine trong hồng cầu đóng vai trò quan trọng trong sự vận chuyển oxy trong máu. Sắt là chất xúc tác quan trọng trong sự hô hấp của động thực vật. Hàm lượng sắt tổng số (Fe2+ và Fe3+) thích hợp cho các ao nuôi cá từ 0,1-0,2 ppm, giới hạn cho phép là nhỏ hơn hoặc bằng 4ppm.  Hình 15. Sự biến động Fe tổng ở các thủy vực Qua hình 15 cho thấy ở thủy vực nước ngọt hàm lượng Fe tổng có sự chênh lệch rõ rệt (1,652-2,275mg/l). Ở ao cá chép có hàm lượng Fe tổng cao hơn vì đây là ao nhân tạo và đã từng được cải tạo trước khi thả nuôi cá, trong quá trình cải tạo có phơi đáy ao nên có hiện tượng xì phèn tiềm tàng trong đất. Chính quá trình oxy hóa đất phèn này đã cung cấp một lượng ion sắt đáng kể làm cho Fe tổng ở đây cao. Mặt khác trong quá trình nuôi gặp phải những trận mưa lớn làm cho lớp phèn trên bờ ao trôi xuống ao cũng làm cho Fe trong ao cao. Ở kênh rau muống do thực vật thủy sinh phát triển mạnh từ đó chúng hấp thu nhiều lượng sắt trong thủy vực làm cho lượng sắt thấp. Hơn nữa kênh rau muống là thủy vực tự nhiên nên hầu như không được cải tạo và trao đổi nước với các con sông lớn bị hạn chế nên hàm lượng sắt cũng sẽ thấp. Thủy vực nước mặn hàm lượng sắt dao động trong khoảng (1,031 - 2,311017mg/L). Trong đó ở Ao tôm sú và Bãi triều Mũi Nai cao nhất và gần như tương đương nhau ( 2,311017 - 2,30254mg/L). Ở ao tôm do mới được cải tạo để chuẩn bị thả tôm nên trong khi cải tạo, lượng phèn trong ao được giải phóng do quá trình xì phèn khi phơi đáy ao, lượng phèn được rửa trôi từ bờ ao do những cơn mưa làm lượng Fe trong ao tôm rất cao. Hơn nữa ao tôm được nuôi trong vùng đất phèn và ao ít có sự trao đổi nước hoặc thay nước với nguồn nước bên ngoài nên lượng Fe sẽ cao. Hàm lượng Fe tổng thấp nhất ở 2 thủy vực ao cá mú MoSo và bãi triều Bình An(1,031-1,209mg/L). Thấp nhất ở ao cá mú MoSo do đây là vùng nuôi cá mú tập trung cạnh với con sông nên thường xuyên trao đổi nước với bên ngoài. Hơn nữa thời gian thu mẫu lúc 8 giờ khi đó thủy sinh vật quang hợp nhiều nên cũng làm cho Fe thấp. Chương IV KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 4.1. Kết luận. 4.1.1. Các yếu tố thủy lý. ( Nhiệt độ trong các thủy vực khảo sát dao động từ 28 – 320C, và pH trong khoảng 7 – 9.5 thích hợp cho nuôi thủy sản vùng nhiệt. ( Độ trong ở ao cá chép là thấp nhất (7 cm). Các thủy vực còn lại độ trong dao động từ 20 – 57 cm, trong đó một vài thủy vực có độ trong thích hợp cho sinh vật thủy sản phát triển như ao tôm Sú (Pháo Đài) và bãi triều Mũi Nai (30 cm). ( Đa số độ mặn các thủy vực ở Kiên Giang dao động từ 15 – 30 ppt thích hợp cho nuôi trồng thủy sản. 4.1.2. Các yếu tố thủy hóa. ( DO của các thủy vực nước ngọt (1,52 – 2,88 mgO2/L) thấp hơn các thủy vực nước lợ - mặn (dao động từ 4,28 – 8,72 mgO2/L) nhưng vẫn nằm trong khoảng thích hợp cho nuôi thủy sản. Còn COD dao động từ 26.98 – 64.5 mgO2/L khá tương đối nhưng vẫn nằm trong giới hạn cho phép để nuôi thủy sản (0 – 50 mgO2/L). ( TAN của các thủy vực nước ngọt (0,015 – 0,2 mg/L) cao hơn TAN ở các thủy vực lợ - mặn (0,000216 – 0,04337 mg/L), kết quả này tương đối thấp. ( NO2- ở tất cả các thủy vực rất thấp, dao động từ 0.008 – 0.182 ppm. Kết quả này không vượt quá 0.2 ppm rất thích hợp cho nuôi trồng thủy sản. ( PO43- dao động từ 0.00882 – 0.1375 ppm, không thích hợp cho thực vật phù du phát triển. ( Fe tổng dao động từ 1.031 – 2.311017 ppm không thích hợp cho nuôi trồng thủy sản. 4.2. Đề xuất. ( Nên cho sinh viên thu mẫu ở nhiều địa điểm và nhiều thời gian khác nhau trong năm để phân tích và hiểu rõ hơn sự khác nhau trong môi trường nước trong nuôi trồng thủy sản giữa các địa điểm và những mốc thời gian khác nhau. ( Cần bố trí thu mẫu nhiều lần để tránh biến động các yếu tố môi trường nhằm cho kết quả phân tích chính xác hơn. ( Cần thu mẫu ở cả gần bờ và xa bờ để so sánh được sự khác biệt nhau trong cùng thủy vực. PHỤ LỤC Kết quả khảo sát các yếu tố thủy lý và thủy hóa ở các thủy vực. Thủy vực Chỉ tiêu  Ao cá chép (1)  Kênh Rau muống (2)  Ao cá mú Moso (3)  Bãi triều Bình An (4)  Ao tôm sú Pháo Đài (5)  Bãi triều Mũi Nai (6)  Ao cá Mú đen (7)  Bến Tô Châu (8)   Nhiệt độ (0C)  30  32  28  31  28  30  30  30   pH  8.3  8.4  8.1  8.2  9.5  7  7.8  7.1   Độ mặn (ppt)  0  0  30  27  38  30  28  15   Độ trong (cm)  7  53  50  20  30  30  48  57   DO (mgO2/L)  2.88  1.52  5.28  7.12  5.92  8.72  4.28  6.44   COD (mgO2/L)  64.5  26.98  47.04  41.6  46  33.28  60.8  39.68   Độ cứng (mgCaCO3/L)  115.5  42.5  3925  3775  3050  2375  2828  2375   Độ kiềm (mgCaCO3/L)  144.5  84.5  90.5  96  80  85  50.5  37.5   H2S (mg/L)  0.00496  0.00079  0.00036  0.00038  0.000081  0.00233  0.0022  0.004   NH3 (mg/L) (pH, t0)  0.03  0.015  0.00093  0.000216  0.04337  0.0005376  0.00023  0.0074   TAN (mg/L)  0.2  0.0813  0.0132875  0.01178  0.063  0.0672  0.04844  0.054   NO2- (mg/L)  0.03750  0.038  0.023  0.026  0.182  0.03  0.008  0.05096   NO3- (mg/L)  0.516  0.331  0.002  0.023  0.5816  0.0476  0.2011  0.2509   Fe tổng (mg/L)  2.275  1.652  1.031  1.209  2.311017  2.30254  1.63729  1.6839   PO43- (mg/L)  0.053  0.1375  0.118  0.127  0.071  0.00882  0.12686  0.056   TÀI LIỆU THAM KHẢO Boys, C.E. 1990. “Quản lý chất lượng nước ao nuôi thủy sản”. Bộ môn khai thác và Nuôi trồng thủy sản – Đại học Auburn, Alabama 36894 Hoa Kỳ. Trương Quốc Phú và Vũ Ngọc Út lược dịch. Nguyễn Đình Trung – Quản lý chất lượng nước nuôi trồng thủy sản. Nxb Nông Nghiệp, 2004. Trương Quốc Phú, giáo trình quản lý chất lượng nước, 2006, Khoa Thủy Sản, trường Đại Học Cần Thơ.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docKhảo sát biến động các yếu tố thủy lý - hóa của các thủy vực nước lợ - mặn (Hà Tiên - Kiên Giang) và nước ngọt (Cần Thơ).doc