Khóa luận Phân tích tình hình cho vay và sử dụng vốn vay của các hộ nông dân tại Ngân hàng ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Gio Linh, Quảng Trị

Hoạt động tín dụng Ngân hàng luôn đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Để đáp ứng cho nhu cầu đầu tư phát triển của đất nước nói chung và của huyện Gio Linh nói riêng, trong những năm qua chi nhánh Ngân hàng NN&PTNT huyện Gio Linh đã thực hiện nhiều biện pháp đầu tư để mở rộng hoạt động tín dụng và nâng cao chất lượng tín dụng trong cho vay kinh tế hộ nông dân, tạo động lực thúc đẩy kinh tế huyện Gio Linh phát triển. Nhờ sự giúp đỡ của Ngân hàng, người dân đã có vốn kịp thời để phát triển sản xuất, giải quyết việc làm cho lao động nông nhàn, tăng thu nhập nâng cao đời sống của người nông dân. Bên cạnh những mặt đã đạt được vẫn còn nhiều tồn tại cần được khắc phục. Muốn làm được điều đó cần phải có sự phối hợp đồng bộ giữa Ngân hàng với cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương cùng các ngành, các cấp giải quyết các khó khăn trong phạm vi ngành mình, cấp mình. tạo điều kiện hỗ trợ Ngân hàng về môi trường kinh doanh và hành lang pháp lý. Nhưng nếu chỉ có sự cố gắng của các cấp các ngành thôi chưa đủ mà phải có sự cố gắng của bản thân các hộ vì đây là nơi trực tiếp đưa đồng vốn vào sản xuất kinh doanh và thực hiện các nghĩa vụ của mình trong quan hệ tín dụng. Với các giải pháp được kết hợp đồng bộ thì chắc chắn việc đầu tư kinh tế hộ sẻ được mở rộng, thúc đẩy phát triển kinh tế, khai thác các tiềm năng sẵn có, tạo việc làm cho người lao động, thực hiện tiêu xoá đói giảm nghèo của Đảng và nhà nướ

pdf69 trang | Chia sẻ: phamthachthat | Lượt xem: 1397 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Khóa luận Phân tích tình hình cho vay và sử dụng vốn vay của các hộ nông dân tại Ngân hàng ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Gio Linh, Quảng Trị, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
77,16 78,57 77,71 6.Tỷ lệ NQH lần 1,53 1,44 1,46 ( Nguồn: Số liệu từ phòng kinh doanh) 2.3. PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH SỬ DỤNG VỐN VAY CỦA CÁC HỘ NÔNG DÂN CỦA HUỴÊN GIO LINH. 2.3.1. Tình hình chung của các hộ điều tra 2.3.1.1. Nhân khẩu và lao động của các hộ điều tra Trong các yếu tố nguồn lực quyết định đến hiệu quả hoạt động sản xuất thì lao động là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu, trong đó chất lượng lao động quyết định đến năng suất của hoạt động. Lao động trong nông nghiệp thì lại Đại học Kin h tế Hu ế SVTH: Nguyễn Thị Châu 42 càng đặc biệt hơn và có vai trò quan trọng hơn bởi vì nó điều khiển toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh. Để hiểu rõ hơn về tình hình lực lượng sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tôi đã điều tra nghiên cứu trên 3 xã, đặc trưng cho 3 vùng sinh thái của huyện: xã Gio Quang đặc trưng cho vùng đồng bằng, Xã Gio An đặc trưng cho vùng trung du miền núi, xã Trung Giang đặc trưng cho vùng biển. Mỗi xã chỉ điều tra 20 hộ có vay vốn tại Ngân hàng NN&PTNT huyện Gio LInh. Đây là một con số không lớn nên một phần không thể phản ánh chính xác tình hình của toàn xã nhưng phần nào đã khái quát chung được tình hình nhân khẩu và lao động của các hộ. Tình hình nhân khẩu và lao động được tổng hợp ở bảng 8 dưới đây: Bảng 9: Tình hình nhân khẩu và lao động của các hộ điều tra Chỉ tiêu ĐVT Xã Gio Quang Xã Gio An Xã Trung Giang 1. Tổng số hộ điều tra Hộ 20 20 20 2. Tổng nhân khẩu Khẩu 101 92 104 3. BQ nhân khẩu/hộ Khẩu/hộ 5,05 4,60 5,20 4. LĐ bình quân/hộ Người 3,15 3,35 3,2 5. BQ nhân khẩu/lao động Người 1,60 1,37 1,62 6. TĐVH bình quân của chủ hộ Lớp 8,35 7,2 7,4 (Nguồn: Số liệu điều tra) Qua bảng 8 ta thấy, bình quân nhân khẩu của các hộ điều tra trên địa bàn khá cao . Bình quân nhân khẩu của xã Gio Quang là 5,05 khẩu/hộ, của xã Gio An là 4,60 khẩu/hộ, của xã Trung Giang là 5,20 khẩu/hộ. Nguyên nhân là do tập tục của địa phương và công tác dân số của xã chưa thực hiện tốt. Điều này ảnh hưởng lớn đến việc đáp ứng các nhu cầu hàng ngày của các hộ. Bởi vì hiện nay lạm phát tăng cao, giá cả đắt đỏ, trong khi thu nhập của người dân còn ít và không thường xuyên. Đây là một trong những nguyên nhân của việc sử dụng vốn không đúng mục đích của các hộ. Mặt khác bình quân nhân khẩu/ lao động cũng khá cao điều này cũng ảnh hưởng không nhỏ đến vấn đề phát triển kinh tế. Chúng ta đã biết quy mô của nguồn Đại học Kin h tế Hu ế SVTH: Nguyễn Thị Châu 43 vốn vay phụ thuộc vào quy mô của hoạt động sản xuất kinh doanh và khả năng chi trả của các hộ. Thu nhập của các hoat động sản xuất kinh doanh ngoài việc dùng để trả nợ vốn vay còn phải sử dụng để trang trải cho các khoản chi tiêu khác trong gia đình. Chính vì vậy tỷ lệ nhân khẩu ăn theo trong gia đình gây sức ép rất lớn cho việc trả nợ. Qua bảng số liệu ta thấy bình quân nhân khẩu/lao động ở xã Trung Giang là 1,62, xã Gio Quang là 1,60 và xã Gio An là 1,37. Như vậy xã Trung Giang có số ăn theo nhiều hơn do đó chịu áp lực nhiều hơn. Trình độ văn hoá của chủ hộ cũng quyết định đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Những người có trình độ cao hơn thì khả năng làm việc của họ cũng tốt hơn. Qua bảng ta thấy trình độ của các chủ hộ chưa cao chủ yếu là từ lớp 6- 8. Nguyên nhân là do trước đây ý thức của người dân còn thấp, họ nghĩ đi học cũng không để làm gì trong khi đó gia đình thì lại thiếu thốn chính vì vậy phải ở nhà để đi làm kiếm tiền. Nhưng hiện nay khi trình độ khoa học công nghệ phát triển, việc áp dụng những tiến bộ này vào trong sản xuất là rất cân thiết. Với khả năng hiện có của các hộ nông dân thì liệu họ có thể nắm bắt và áp dụng được hay không. Điều này cũng ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của các hoạt động đầu tư, từ đó ảnh hưởng đến khả năng sử dụng vốn hiệu quả của các hộ. Vì vậy việc nâng cao chất lượng và trình độ lao động cần được giải quyết kịp thời và hiệu quả để đáp ứng cho công cuộc CNH-HĐH đất nước hiện nay. 2.3.1.2. Tình hình đất đai của các hộ vay vốn sản xuất Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt và không thể thay thế được trong quá trình sản xuất của tất cả các ngành sản xuất vật chất cũng như trong đời sống của con người. Trong nông nghiệp đất đai vừa là đối tượng sản xuất vừa là tư liệu sản xuất và không bị hao mòn nếu biết sử dụng hợp lý. Để thấy được quy mô và tình hình sử dụng đất của các hộ nông dân trên địa bàn huyện chúng ta có thể quan sát ở bảng dưới. Đại ọc Kin h tế Hu ế SVTH: Nguyễn Thị Châu 44 Bảng 10: Tình hình đất đai của các hộ điều tra( Tính bình quân hộ) Chỉ tiêu ĐVT Bình quân chung Xã Gio Quang Xã Gio An Xã Trung Giang sl % sl % sl % sl % Tổng diện tích m2 9616,7 100 14.310,1 100 10.625 100 3915 100 1. Đất nông nghiệp m2 7655 79,6 12.725 88,9 8.937,5 84,1 1302,5 33,3 2. Đất có mặt nước m2 733,3 7,6 200 1,4 375 3,5 1625 41,5 3. Đất thổ cư, đất vườn m2 1228,4 12,8 1.385,1 9,7 1312,5 12,4 987,5 25,2 (Nguồn: Số liệu điều tra) Đại học Kin h tế Hu ế SVTH: Nguyễn Thị Châu 45 Quan sát bảng số liệu ta thấy, bình quân diện tích đất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng diện tích đất 7655 m2 chiếm 79,6%. Đất có mặt nước NTTS là 733,3 m2 chiếm 7,6%, còn đất thổ cư và đất vườn là 1228,4 m2 chiếm 12,8% trong tổng diện tích đất của các hộ. Trong đó diện tích của các loại đất này ở các xã lại chiếm tỷ trọng khác nhau. Cụ thể: Ở xã Gio Quang, diện tích đất nông nghiệp của các hộ là 12.725 m2 chiếm 88,9% trong tổng diện tích đất của các hộ. Điều này cũng dể hiểu vì xã Gio Quang là một xã thuộc vùng đồng bằng, địa hình bằng phẳng, đất đai màu mở, thuận lợi cho việc trồng cây lúa nước và một số loại cây khác. Bình quân một hộ ở đây trồng từ 2-4 mẫu lúa. Những năm qua xã được coi là một vựa lúa của huyện Gio Linh, trong những năm qua đã đóng góp không nhỏ vào tổng giá trị sản lượng ngành nông nghiệp của huyện, hàng năm cung cấp một lượng lớn lương thực, thực phẩm cho người dân. Đây là vùng chuyên canh cây lúa nước chính vì vậy diện tích trồng lúa là chủ yếu, chỉ có một số lượng nhỏ các hộ sử dụng đất để nuôi trồng thuỷ sản mà chủ yếu là các loại cá nước ngọt như cá trắm cỏ, cá mè Diện tích này là không đáng kể chỉ có 200 m2 chiếm 1,4% trong tổng diện tích đất của hộ, tuy vậy cũng đã đóng góp một phần nhỏ vào thu nhập của người dân. Đối với đất vườn và đất thổ cư của các hộ là 1385,1 m2. Diện tích này tương đối rộng và người nông dân chủ yếu sử dụng đất vườn để trồng các loại rau và củ, quả để phục vụ cho bữa ăn hàng ngày và một phần để làm thức ăn cho chăn nuôi mà chủ yếu là nuôi lợn. Nhờ đó đã giảm đi một phần chi phí trong hoạt động chăn nuôi. Đối với xã Gio An, diện tích đất nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng diện tích đất của các hộ. Cụ thể diện tích đất nông nghiệp của xã là 8937,5 m2 chiếm 84,1% trong tổng diện tích đất của hộ. Đất ở đây chủ yếu là loại đất bazan thích hợp với trồng các loại cây lâu năm như cây cao su, hồ tiêu và một số diện tích đất nông nghiệp còn lại dùng để trồng lúa nước. Bên cạnh đó một số hộ nông dân có sử dụng một diện tích nhỏ để nuôi cá, bình quân chỉ có 375 m2/hộ .Đất thổ cư và đất ở có 1312,5 m2 chiếm 12,4% trong tổng diện tích đất của hộ. Đại học Kin h tế Hu ế SVTH: Nguyễn Thị Châu 46 Còn xã Trung Giang, diện tích đất nông nghiệp của xã chỉ có 1302,5 m2 chiếm 33,3% trong tổng diện tích đất của hộ. Đất nông nghiệp ở đây chủ yếu để trồng các loại cây như lạc, khoaivì đất ở đây chủ yếu là đất cát. Cây lúa chỉ trồng được một số nơi. Diện tích đất thổ cư và đất vườn là 987,5 m2 chiếm 25,2% trong tổng diện tích đất của các hộ. Ở đây các hộ chủ yếu sử dụng đất để nuôi trồng thuỷ sản mà chủ yếu là tôm. Diện tích đất nuôi trồng thuỷ sản ở đây là 1625 m2 chiếm 41,5% trong tổng diện tích đất của các hộ. Ngành này không những mang lại thực phẩm cho người dân mà còn giải quyết được công ăn việc làm cho người nông dân đồng thời mang lại hiệu quả kinh tế cao. Chính vì vậy các cấp chính quyền cần có sự điều chỉnh quy hoạch tổng thể vùng chuyên canh để mang lại hiệu quả cao cho các hộ nông dân. Như vậy nhìn chung khả năng sử dụng đất của các hộ chưa tốt, thể hiện các hộ chủ yếu chuyên canh các loại cây trồng vật nuôi mà chưa thực hiện chuyên môn hoá kết hợp với phát triển tổng hợp. Chính vì vậy không khai thác hết được tiềm năng của đất đai từ đó không nâng cao được thu nhập của người dân. Do đó các cấp chính quyền cần tạo điều kiện cho các hộ vay vốn sản xuất, hướng dẫn các hộ nông dân các mô hình sản xuất có hiệu quả để các hộ nông dân có thể nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống của mình 2.3.2. Tình hình sử dụng vốn vay của các hộ điều tra 2.3.2.1. Cơ cấu nguồn vốn của các hộ điều tra Thông thường vốn của các hộ nông dân tích luỹ được sau quá trình sản xuất thường được sử dụng để chi trả cho các hoạt động tiêu dùng cần thiết của gia đình. Do đó số vốn còn lại để tái sản xuất còn rất ít. Để tiếp tục và mở rộng sản xuất thì các hộ nông dân cần phải có đủ số vốn cần thiết. Nơi cung cấp vốn chủ yếu cho các hộ nông dân chủ yếu là từ Ngân hàng NN&PTNT, ngoài ra còn huy động từ một số nguồn khác nhưng tỷ lệ không đáng kể. Quan sát bảng số liệu ta có thể thấy, vốn vay từ Ngân hàng nông nghiệp chiếm tỷ trọng khá cao trong tổng số vốn sản xuất của các hộ điều tra. Bình quân 10,6 tr.đ/hộ chiếm 44,2%, vốn tự có của các hộ là 6,7 tr.đ/hộ chiếm 27,3% trong Đại học Kin h tế Hu ế SVTH: Nguyễn Thị Châu 47 tổng số vốn sản xuất của hộ. Còn vốn vay khác như từ Ngân hàng Chính Sách, hội nông dân, hội phụ nữ là 6,8 tr.đ/hộ chiếm 28,5% trong tổng số vốn sản xuất của các hộ. Bảng 11. Cơ cấu nguồn vốn của các hộ điều tra. Chỉ tiêu Bình quân chung Xã Gio Quang Xã Gio An Xã Trung Giang Giá trị (Tr.đ) Tỷ lệ (%) Giá trị (Tr.đ) Tỷ lệ (%) Giá trị (Tr.đ) Tỷ lệ (%) Giá trị (Tr.đ) Tỷ lệ (%) Tổng số vốn sản xuất 24,1 100 19,5 100 14,0 100 38,6 100 Vốn vay từ Ngân hàng NN 10,6 44,2 8,7 44,5 7,8 56,0 15,4 39,8 Vốn tự có 6,7 27,3 5,6 28,8 4,1 29,3 9,9 25,8 Vốn vay khác 6,8 28,5 5,2 26,7 2,1 14,7 13,3 34,4 (Nguồn: Số liệu điều tra) Cụ thể, ở xã Gio Quang vốn vay từ Ngân hàng NN&PTNT chiếm tỷ trọng tương đối cao trong tổng số vốn sản xuất là 44,5%. Vốn tự có và vốn vay từ các nguồn khác có tỷ lệ tương đương nhau. Tỷ lệ vốn tự có nói lên khả năng tự chủ trong sản xuất và khả năng thanh toán vốn vay cho ngân hàng. Vốn vay khác chiếm 26,7% và vốn tự có chiếm 28,8%. Qua đó ta thấy tỷ trọng vốn vay trong cơ cấu vốn sản xuất còn lớn điều này ảnh hưởng đến khả năng chi trả của các hộ. Ở xã Gio An, tỷ trọng vốn vay từ Ngân hàng nông nghiệp chiếm 56,0% trong tổng số vốn sản xuất. Như vậy vai trò của Ngân hàng NN &PTNT đã thực sự quan trọng trong hoạt động sản xuất của các hộ. Trong khi đó vốn huy động từ các nguồn khác chỉ chiếm 14,7% trong tổng số vốn sản xuất còn lại 29,3% là nguồn vốn tự có của hộ. Ở xã Trung Giang, hoạt động chủ yếu là nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản do đó cần một nguồn vốn lớn mà đặc biệt là hoạt động nuôi trồng cần chi phí khá nhiều. Trong cơ cấu vốn sản xuất của các hộ thì vốn của Ngân hàng NN&PTNT vẫn chiếm vai trò chủ đạo (39,8% trong tổng số vốn sản xuất của hộ). Tuy nhiên nguồn vốn huy động từ các tổ chức tín dụng khác như NHCS, Ngân hàng Đầu tư và phát Đại học Kin h tế Hu ế SVTH: Nguyễn Thị Châu 48 triển cũng tương đối lớn chiếm 34,4% trong tổng số vốn sản xuất. Nguyên nhân là do chi phí sản xuất khá lớn trong khi đó số tiền được vay từ Ngân hàng nông nghiệp không đủ để trang trải các khoản chi, mặt khác Ngân hàng đầu tư cũng đã có nhiều chính sách ưu đãi cho các hộ vì vậy cũng đã thu hút được một số lượng không nhỏ các hộ tham gia vay vốn. Nguồn vốn tự có của các hộ ở đây chiếm 25,8%, thấp nhất trong tổng cơ cấu vốn sản xuất. Điều này có thể ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của các hộ. Qua đó chúng ta có thể thấy trong những năm qua Ngân hàng NN&PTNT đã có vai trò quan trọng đối với các hộ nông dân, thực sự là “người bạn đồng hành cùng nhà nông”, góp phần làm thay đổi bộ mặt nông thôn. Điều này thể hiện qua cơ cấu nguồn vốn huy động từ Ngân hàng nông nghiệp luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu nguồn vốn sản xuất. Tuy nhiên tỷ trọng này là chưa cao khi mục tiêu của Ngân hàng là phục vụ chủ yếu cho người nông dân. Vì vậy trong thời gian tới cần có những giải pháp tích cực hơn để ngày càng thu hút nhiều khách hàng hơn và nâng cao được khả năng cạnh tranh. 2.3.2.2. Mục đích sử dụng vốn. Trước khi vay vốn các hộ nông dân phải trình bày được mục đích sử dụng vốn và phương án sản xuất kinh doanh để Ngân hàng xét duyệt. Nếu thấy có hiệu quả Ngân hàng mới giải ngân. Chính vì vậy sử dụng vốn đúng mục đích sẻ làm tăng hiệu quả sử dụng của đồng vốn. Qua điều tra tôi đã tập hợp mục đích sử dụng vốn của các hộ ở bảng dưới. Bảng 12: Mục đích sử dụng vốn vay của các hộ điều tra Chỉ tiêu Mục đích sản xuất Mục đích khácTrồng trọt Chăn nuôi Ngư nghiệp SL Tỷ lệ (%) SL Tỷ lệ (%) SL Tỷ lệ (%) SL Tỷ lệ (%) Xã Gio Quang 9 45,0 6 30,0 1 5,0 4 20,0 Xã Gio An 4 20,0 11 55,0 2 10,0 3 15,0 Xã Trung Giang 2 10,0 3 15,0 12 60,0 3 15,0 (Nguồn: Số liệu điều tra) Đại học Kin h tế Hu ế SVTH: Nguyễn Thị Châu 49 Qua bảng ta thấy, các hộ vay vốn chủ yếu sử dụng vào mục đích sản xuất mà cụ thể là để phục vụ cho các hoạt động như trồng trọt, chăn nuôi, ngư nghiệpQua bảng ta thấy, ở xã Gio Quang là một xã thuộc vùng đồng bằng, hoạt động trồng trọt của xã chủ yếu là độc canh cây lúa và là nguồn tạo thu nhập chính của các hộ nông dân ở đây ngoài ra còn trồng một số loại rau khác như khoai, sắn để phục vụ cho hoạt động chăn nuôi mà chủ yếu là lợn. Ở xã này lực lượng lao động nhàn rỗi khá đông, phần lớn là lao động theo mùa vụ, nhũng lúc khác thường không có việc gì để làm. Chăn nuôi mà chủ yếu là chăn nuôi lợn đã phần nào tận dụng được thời gian nhàn rỗi mà chủ yếu là phụ nữ, chính vì vậy vốn tập trung cho đầu tư vào trồng trọt và chăn nuôi là chủ yếu. Cụ thể là vốn đầu tư cho trồng trọt chiếm 45%, chăn nuôi chiếm 30% còn lại là ngư nghiệp chỉ chiếm 5%. Cũng như xã Gio Quang, xã Gio An là một xã thuộc vùng gò đồi, có diện tích tương đối rộng và đất đai thích hợp cho việc trồng các loại cây lâu năm như cao su, hồ tiêuvà chăn nuôi lợn, trâu bò, vì vậy vốn vay được đầu tư vào hoạt động trồng trọt và chăn nuôi là chủ yếu, cụ thể trồng trọt chiếm 20% và chăn nuôi chiếm 55% trong tổng số vốn vay. Số còn lại vay vốn để đầu tư vào các mục đích khác như: tiêu dùng, mua máy tính, phương tiện đi lại, buôn bán Hai xã này cách khá xa biển vì vậy người ta không đánh bắt thuỷ sản mà chỉ đầu tư nuôi trồng thuỷ sản ở một số vùng đất thấp mà canh tác lúa không hiệu quả. Còn đối với xã Trung Giang, là một xã nằm ven biển, hoạt động của các hộ dân ở đây chủ yếu là nuôi trồng và đánh bắt thuỷ hải sản nên vốn vay chủ yếu phục vụ cho hoạt động ngư nghiệp chiếm 60%, trồng trọt chiếm 10% và chăn nuôi chiếm 15% còn lại là cho mục đích khác. Như vậy qua bảng ta thấy các hộ sử dụng vốn vay vào các mục đích khác nhau. Qua điều tra tôi nhận thấy hầu như các hộ vay vốn thường chia nhỏ nguồn vốn vay của mình vào nhiều mục đích khác nhau, ngoài chi phí cho hoạt động sản xuất các hộ còn phải trang trải cho các hoạt động tiêu dùng. Chúng ta có thể quan sát biểu đồ để thấy được tình hình sử dụng vốn của các hộ điều tra. Đại học Kin h tế Hu ế SVTH: Nguyễn Thị Châu 50 Qua điều tra tôi thấy ỡ xã Gio Quang là xã có tỷ lệ sử dụng vốn đúng mục đích cao nhất( quy ước sử dụng vốn trên 50% là đúng mục đích), có 85% hộ là sử dụng đúng mục đích, tiếp theo là xã Gio An 80% hộ sử dụng đúng mục đích . Tỷ lệ thấp nhất là xã Trung Giang với 70% hộ sử dụng vốn đúng mục đích. Nguyên nhân là do thu nhập của người dân ở xã Trung Giang chủ yếu là từ nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản, hoạt động này mang tính thời vụ. Xã Gio Quang 85 15 Mục đích chính >50% Mục đích chính <50% Xã Gio An 80 20 Mục đích chính >50% Mục đích chính <50% Xã Trung Giang 70 30 Mục đích chính >50% Mục đích chính <50% Biểu đồ 6: Mục đích sử dụng vốn vay của các hộ điều tra. Bên cạnh đó những sản phẩm của ngành này chủ yếu là bán ngay khi khai thác do đó không có sản phẩm dự trữ để bán lấy tiền khi cần thiết. Vì vậy lượng tiền Đại học Kin h tế Hu ế SVTH: Nguyễn Thị Châu 51 mặt mà các hộ dự trữ được là rất ít. Mặt khác nhu cầu của đời sống ngày càng cao và việc đáp ứng đầy đủ các nhu cầu của các hộ nông dân là một điều tất yếu. Người dân vay vốn không chỉ để mở phục vụ cho hoạt động sản xuất mà còn để trang trải các khoản chi tiêu khác như học hành của con cái, ma chay đám dỗ, các khoản nợ nầnDo đó khi nhận được khoản tiền vay thì họ không chỉ tập trung đầu tư vào một mục đích nhất định mà họ thường chia ra các khoản khác nhau. Để nâng cao hiệu quả của đồng vốn vay thì sử dụng vốn đúng mục đích là rất quan trọng. Do đó chính quyền địa phương cũng như Ngân hàng phải có biện pháp để tăng tỷ lệ sử dụng vốn đúng mục đích lên góp phần tăng hiệu quả hoạt sản xuất kinh doanh của các hộ. 2.3.2.3. Kết quả sử dụng vốn vay của hộ Để xem xét tình hình sử dụng vốn của các hộ như thế nào tôi đã tiến hành điều tra tình hình sản xuất của từng hộ vay vốn. Qua điều tra và xử lý số liệu tôi đã tập hợp hiệu quả của hoạt động trồng trọt ở bảng dưới đây.  Hiệu quả của hoạt động trồng trọt Qua điều tra tôi nhận thấy, hầu hết các hộ vay vốn để trồng lúa, ngoài ra còn một số loại cây khác như lạc, khoai, sắn, tiêuĐối với hoạt động trồng lúa, GO/IC của xã Gio Quang là 2,35 lần, có nghĩa là hộ nông dân bỏ ra 1 đồng chi phí thì sẽ thu về 2,35 đồng giá trị sản xuất(GTSX). Còn VA/IC đạt 1,35 lần, có nghĩa là hộ bỏ ra 1 đồng chi phí thì sẽ thu về được 1,35 đồng giá trị gia tăng(GTGT). Còn ở xã Gio An tỷ số GO/IC của lúa là 2,30 lần và VA/IC là 1,30 lần, Ở xã Trung Giang GO/IC là 2,00 lần và VA/IC là 1,00 lần. Qua đó ta thấy hiệu quả hoạt động trồng lúa là khá cao, tuy nhiên ở xã Gio Quang cao hơn hai xã còn lại là do đất đai ở đây thích hợp cho việc trồng lúa đồng thời các hộ đã chú trọng đầu tư thâm canh để tăng năng suất của cây từ đó hiệu quả sử dụng đồng vốn cao hơn. Đối với xã Gio An tuy cũng được sự đầu tư tuy nhiên do ruộng ở đây nằm xen ở giữa các quả đồi vì vậy diện tích manh mún, đây là nguyên nhân làm cho chi phí sản xuất tăng lên. Xã Trung Giang là xã có hiệu quả của hoạt động trồng lúa thấp nhất. Lý do là đất đai ở đây kém màu Đại học Kin h tế Hu ế SVTH: Nguyễn Thị Châu 52 mở vì chủ yếu là đất cát, diện tích gieo trồng ở đây rất nhỏ, do đó đây không phải là cây trồng chính của xã Bảng 13. Hiệu quả hoạt động trồng trọt của các hộ điều tra Chỉ tiêu ĐVT Xã Gio Quang Xã Gio An Xã Trung Giang Lúa Cây khác Lúa Cây khác Lúa Cây Khác 1.Tổng chi phí(IC) 1000đ 3.890,5 74,0 506,7 1292,5 231,7 330,3 Chi phí giống 1000đ 672,5 25,5 82,5 550,0 39,2 112,5 Phân bón 1000đ 2600,0 42,0 369,7 697,5 170,0 192,8 CP khác 1000đ 618,0 6,5 54,5 45,0 22,5 25,0 2.Tổngthu(GO) 1000đ 9150,0 177,0 1170,0 1538,7 463,7 1056 3.GTGT(VA) 1000đ 5259,5 103,0 663,3 246,2 232,0 725,7 4.GO/IC lần 2,40 2,39 2,30 1,19 2,00 3,19 5.VA/IC lần 1,40 1,39 1,30 0,19 1,00 2,19 (Nguồn: số liệu điều tra) Tiếp tục quan sát bảng ta thấy, hiệu quả của các cây trồng khác cũng có sự khác biệt: Cụ thể GO/IC của cây trồng khác ở xã Gio Quang đạt 2,39 lần, ở xã Gio An đạt 1,19 lần, ở xã Trung Giang là 3,19 lần, VA/IC của xã Gio Quang đạt 1,39 lần, xã Gio An đạt 0,19 lần và xã Trung Giang đạt 2,19 lần. Qua đó ta thấy hiệu quả của cây trồng khác ở xã Trung Giang là cao nhất. Lý do là ở xã Trung Giang trong cơ cấu cây trồng khác của xã có cây lạc là một cây cho giá trị kinh tế khá cao đồng thời các hộ nông dân đã liên tục mở rộng đầu tư do đó hiệu quả ngày càng tăng lên. Tuy nhiên diện tích ở đây vẫn chưa nhiều do đó cần đầu tư mở rộng diện tích để nâng cao thu nhập cho người dân. Cũng như vậy hiệu quả của cây trồng khác ở xã Đại học Kin h tế Hu ế SVTH: Nguyễn Thị Châu 53 Gio Quang cũng khá cao. Cơ cấu cây trồng khác gồm lạc, khoai, ngô trong đó khoai, ngô người ta chỉ trồng để phục vụ cho nhu cầu của gia đình và cho chăn nuôi. Đối với xã Gio An ngoài cây lúa thì các hộ còn trồng thêm cây tiêu. Đây là loại cây mang lại một nguồn thu nhập cho các hộ. Hiện nay các hộ đang đầu tư để trồng cây cao su, tuy nhiên mới chỉ đang ở giai đoạn xây dựng cơ bản, chưa mang đến thu nhập. Đây là một loại cây có hiệu quả kinh tế cao, sẻ mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho các hộ trong tương lại.  Hiệu quả hoạt động chăn nuôi Chăn nuôi cũng là một hoạt động không thể thiếu trong cơ cấu các hoạt động sản xuất của các hộ nông dân và cũng đã mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho các hộ. Hoạt động chăn nuôi của các hộ trong những năm qua có hiệu quả là vì nhờ tận dụng được các sản phẩm từ hoạt động trồng trọt như khoai, sắn, tận dụng được thời gian và lao động nhàn rỗi đồng thời áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật như cho ăn thức ăn công nghiệp làm cho vật nuôi tăng trọng nhanh nhờ đó giảm bớt chi phí và làm tăng thêm GTGT. Bảng 14. Hiệu quả hoạt động chăn nuôi của các hộ điều tra Chỉ tiêu ĐVT Xã Gio Quang Xã Gio An Xã Trung Giang Lợn Khác Lợn Khác Lợn Khác 1. Tổng chi phí(IC) 1000đ 4.924,0 2.702,5 3.819,5 2.245,0 1.867,0 1.8750 CP giống 1000đ 1.197,5 1655,0 1.052,0 2.225,0 449,5 1.675,0 CP thức ăn 1000đ 3.464,0 912,5 2.417,5 12,5 1.325 150,0 CP khác 1000đ 262,5 135,0 350,0 7,5 92,5 50,0 2.Tổng thu(GO) 1000đ 6.117,5 2.825,0 6.315,0 3.650 2.975 2.450,0 3.GTGT(VA) 1000đ 1193,5 122,5 2.495,5 1.405 1.108 257,0 4.GO/IC lần 1,24 1,05 1,65 1,62 1,59 1,31 5.VA/IC lần 0,24 0,05 0,65 0,62 0,59 0,31 (Nguồn: Số liệu điều tra) Quan sát bảng ta thấy, đối với hoạt động chăn nuôi lợn, GO/IC của xã Gio Quang đạt 1,24 lần, có nghĩa là người dân bỏ ra 1 đồng chi phí thì sẻ thu về 1,24 đồng GTSX, VA/IC đạt 0,24 lần, có nghĩa là người dân bỏ ra 1 đồng chi phí sẻ thu Đại học Kin h tế Hu ế SVTH: Nguyễn Thị Châu 54 về 0,24 đồng GTGT. Còn GO/IC của xã Gio An là 1,65 lần, VA/IC đạt 0,65 lần. GO/IC của xã Trung Giang đạt 1,59 lần, VA/IC đạt 0,59 lần. Qua đó ta thấy hiệu quả của hoạt động chăn nuôi lợn ở xã Gio An là cao nhất do các hộ ở đây đã chú trọng đầu tư, mua giống có năng suất cao, cho ăn thức ăn công nghiệp vì vậy vật nuôi tăng trọng nhanh. Bên cạnh đó các sản phẩm từ trồng trọt đã giúp các hộ tiết kiệm được chi phí đáng kể. Còn đối với hoạt động chăn nuôi khác như trâu, bò GO/IC của xã Gio Quang là 1,05 lần, xã Gio An là 1,62 lần, xã Trung Giang là 1,31 lần. VA/IC của xã Gio Quang là 0,05 lần, xã Gio An là 0,62 lần, xã Trung Giang là 0,31 lần. Như vậy hoạt động chăn nuôi ở xã Gio An mang lại hiệu quả khá cao. Xã này có vùng gò đồi khá rộng và bằng phẳng với nguồn thức ăn phong phú do đó vật nuôi tăng trọng nhanh và tốn ít chi phí. Vì vậy cần mở rộng đầu tư để tận dụng các nguồn lực đồng thời mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho các hộ.  Hiệu quả của hoạt động nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản. Quan sát bảng số liệu ta thấy, hai xã Gio Quang và Gio An chỉ thực hiện hoạt động nuôi trồng thuỷ sản chứ không đánh bắt lý do là hai xã này ở cách khá xa biển. Đối với hoạt động nuôi trồng, GO/IC của xã Gio An thấp hơn xã Gio Quang cụ thể: GO/IC của xã Gio Quang đạt 1,6 lần, của xã Gio An là 1,3 lần. Nguyên nhân là do xã Gio Quang là một xã nằm ở vùng thấp do đó chi phí cho hoạt động như đào ao, cải tạoít hơn, người ta có thể tận dụng các hồ nước đã có sẳn để nuôi, có thể kết hợp mô hình cá-lúa rất có hiệu quả. Bảng 15. Hiệu quả hoạt động nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản của các hộ điều tra. Chỉ tiêu ĐVT Xã Gio Quang Xã Gio An Xã Trung Giang Nuôi trồng Đánh bắt Nuôi trồng Đánh bắt Nuôi trồng Đánh bắt 1.Mức đầu tư 1000đ 125 - 875 - 28.125 2.880 2.Thu nhập 1000đ 180 - 1150 - 44.300 5.350 3.GTGT(VA) 1000đ 55 275 16.175 2.470 3.GO/IC lần 1,44 - 1,3 - 1,58 1,86 Đại học Kin h tế Hu ế SVTH: Nguyễn Thị Châu 55 4.VA/IC lần 0,44 - 0,3 - 0,58 0,86 ( Nguồn: Số liệu điều tra) Đối với xã Trung Giang, là một xã nằm ven biển, hoạt động chủ yếu là nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản và đã mang lại thu nhập đáng kể cho người dân. Mức đầu tư cho nuôi trồng thuỷ sản là khá lớn do chủ yếu người ta nuôi tôm , chi phí cho hoạt động này khá cao. Cụ thể mức đầu tư là 28.125 nghìn đồng/hộ và thu về 44.300 nghìn đồng/hộ. GO/IC đạt 1,58 lần, tức 1 đồng chi phí họ bỏ ra thu về 1,58 đồng GTSX, cùng 1 đồng bỏ ra đó họ thu được 0,58 đồng GTGT. Đối với hoạt động đánh bắt, người dân đã biết tận dụng nguồn lợi tự nhiên sẳn có để mang về thu nhập đáng kể cho gia đình. Với mức đầu tư cho việc đánh bắt là 2.880 nghìn đồng/hộ đã thu về 5.350 nghìn đồng/hộ. Như vậy với 1 đồng chi phí bỏ ra họ đã thu về 1,86 đồng GTGT. Đây là một tiềm năng phát triển của xã tuy nhiên hiện nay trang thiết bị phục vụ cho việc khai thác còn hạn chế, đơn giản và khai thác tràn lan làm ảnh hưởng xấu đến nguồn lợi thuỷ sản. Do đó cần phải có biện phấp đầu tư cũng như quản lý các tàu thuyền đánh bắt một cách hợp lý để nâng cao hiệu khai thác Như vậy nhìn chung hoạt động sản xuất của các hộ điều tra tương đối có hiệu quả. Nhờ có nguồn vốn vay tại Ngân hàng mà các hộ có thể áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, mở rộng đầu tư tăng năng suất, chất lượng sản phẩm, mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho các hộ . Chính vì vậy đời sống của người dân ở đây ngày càng sung túc hơn. Tuy nhiên hoạt động sản xuất ở đây chủ yếu mang tính độc canh chưa có sự kết hợp phát triển tổng hợp đồng thời nguồn vốn vay được sử dụng chưa triệt để do đó hiệu quả của các hoạt động đầu tư chưa tương xứng với tiềm năng của vùng. Điều này đòi hỏi chính quyền địa phương cũng như Ngân hàng có hướng giải quyết kịp thời để tránh lãng phí các nguồn lực của địa phương. 2.4. ĐO LƯỜNG SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG KHI GIAO DỊCH TẠI NGÂN HÀNG NN&PTNT HUYỆN GIO LINH. Trong giai đoạn hiện nay khi nền kinh tế thị trường đang cạnh tranh khốc liệt, Ngân hàng cũng nằm trong vòng xoáy đó. Để cạnh tranh với các Ngân hàng khác và có chổ đúng trên thị trường, trong hững năm qua Ngân hàngNN&PTNT đã thực Đại học Kin h tế Hu ế SVTH: Nguyễn Thị Châu 56 hiện nhiều chính sách về sản phẩm và dịch vụ dành cho khách hàng của mình đã thực sự có hiệu quả. Sự hài lòng của khách hàng khi giao dịch tại Ngân hàng là một yếu tố cực kỳ quan trọng quyết định sự thành công của Ngân hàng. Để thấy được mức độ hài lòng của khách hàng tôi đã tiến hành điều tra 60 hộ nông dân. Kết quả thăm dò được thể hiện ở dưới. 2.4.1. Đánh giá của hộ nông dân về dịch vụ của Ngân hàng 2.4.1.1. Về thủ tục và số lượng hồ sơ Khi hỏi các hộ vay vốn tai Ngân hàng NN&PTNT huyện Gio Linh thì phần lớn cho rằng số lượng hồ sơ là vừa phải. Cụ thể trong 60 người được hỏi thì có 51 hộ (chiếm 85,0%) cho là số lượng hồ sơ là vừa phải không rườm rà. Có 5 hộ(chiếm 8,3%) cho là số lượng thủ tục hồ sơ nhiều. Lý do là số tiền vay ít nhưng thủ tục vẫn phải đảm bảo đầy đủ theo nguyên tắc do đó họ cho rằng số lượng thủ tục hồ sơ là nhiều. Qua điều tra có nhiều hộ( khoảng 70%) cho rằng số lượng hồ sơ ngắn hạn là ít hơn trung hạn. Điều này cũng dể hiểu vì cho vay ngắn hạn là hoạt động chủ yếu của ngân hàng, luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng doanh số cho vay. Chính vì vậy cần phải giảm tối thiểu số lượng hồ sơ, thủ tục để tránh gây phiền hà cho khách hàng. Đối với vay trung hạn cần phải đảm bảo đúng số lượng thủ tục hồ sơ theo quy định để có thể quản lý tốt các khoản vay này. Bảng 16: Đánh giá của khách hàng về số lượng hồ sơ, thủ tục của Ngân hàng. Chỉ tiêu Mức đánh giá Số hộ Rất nhiều Nhiều Bình thường Ít Rất ít sl % sl % sl % sl sl sl sl 1.Số lượng hồ sơ, thủ tục 0 0 5 8,3 51 85,0 4 6,7 0 0 60 (Nguồn: Số liệu điều tra) 2.4.1.2. Về thời gian xử lý hồ sơ thủ tục Bảng 17: Đánh giá của khách hàng về thời gian xử lý hồ sơ. Đại học Ki tế H uế SVTH: Nguyễn Thị Châu 57 2. Thời gian xử lý hồ sơ Rất nhanh Nhanh Vừa phải Chậm Rất chậm Số hộsl % sl % sl % sl % sl % 8 13,3 47 48,3 5 8,4 0 0 0 0 60 (Nguồn: Số liệu điều tra) Theo số liệu điều tra, các hộ đều cho rằng thời gian xử lý hồ sơ tương đối nhanh, vì là khách hàng thường xuyên và làm việc trong một thời gian dài nên các cán bộ tín dụng đã hiểu rõ tình hình của các hộ vay vốn, chính vì vậy khi đi vay các hộ được giải quyết rất nhanh đảm bảo cho hoạt động sản xuất của các hộ được diễn ra theo đúng kế hoạch đặt ra. Điều này đã thể hiện sự gắn bó và hợp tác tốt giữa cán bộ Ngân hàng và các khách hàng 2.4.1.3. Đánh giá của hộ nông dân về lãi suất của Ngân hàng qua 3 năm 2007-2009. Trong 3 năm qua lãi suất của Ngân hàng liên tục biến động cùng với sự biến động của nền kinh tế. Tuy nhiên sự biến động đó cũng phù hợp với tình hình thực tế. Biểu hiện là sự đánh giá của khách hàng. Phần lớn các hộ vay vốn tại Ngân hàng đánh giá lãi suất của Ngân hàng là vừa phải( chiếm 78,3%) kể cả ngắn hạn và trung hạn. Chỉ có một số ý kiến cho là thấp và không có ý kiến nào cho là rất cao hoặc rất thấp. Những năm qua Ngân hàng thường áp dụng nhiều chương trình lãi suất ưu đãi khác nhau, vì vậy đã thu hút một lượng khách hàng khá lớn tham gia. Tuy nhiên vẫn còn một số ý kiến phàn nàn về lãi suất của Ngân hàng. Do đó trong thời gian tới Ngân hàng cần phải cân nhắc trong việc quy định mức lãi suất cho hợp lý để thu hút ngày càng nhiều khách hàng hơn. Bảng 18: Đánh giá của khách hàng về lãi suất của Ngân hàng. 3. Đánh giá về lãi suất của NH Rất cao Cao Bình thường Thấp Rất thấp Số hộsl % sl % sl % sl % sl % 0 0 10 16,7 47 78,3 3 5,0 0 0 60 (Nguồn: Số liệu điều tra) 2.4.1.4. Về thái độ phục vụ của cán bộ Ngân hàng Đại học Kin h tế Hu ế SVTH: Nguyễn Thị Châu 58 Qua bảng số liệu điều tra được ta thấy, thái độ phục vụ của các cán bộ Ngân hàng được các hộ đánh giá khá tốt. Phần lớn cho rằng các cán bộ của Ngân hàng nhiệt tình, thân thiện. Chính điều này đã tạo tâm lý thoải mái cho các khách hàng khi đến giao dịch tại Ngân hàng, góp phần nâng cao hiệu quả công việc. Tuy nhiên vẫn còn một số ý kiến phàn nàn về thái độ làm việc của một số nhân viên Ngân hàng. Để có thể nâng cao được hiệu quả hoạt động thì ngoài công tác xây dựng đội ngủ cán bộ có đủ năng lực thì vấn đề tạo dựng một đội ngủ cán bộ Ngân hàng thân thiện, nhiệt tình cũng đóng vai trò rất quan trọng. Để làm được điều này không khó nhưng cũng không phải dễ dàng. Nó đòi hỏi các ban lãnh đạo phải có những chính sách đúng đắn, hợp lý đặc biệt là chế độ lương, thưởng để tạo tâm lý an tâm và khuyến khích tinh thần tự giác của các cán bộ để hoàn thành tốt công việc được giao. Bảng 19. Đánh giá về thái độ phục vụ của cán bộ Ngân hàng Thái độ phục vụ của cán bộ Mức đánh giá Số hộ ý kiến Rất tốt Tốt Được Tạm được Chưa được sl % sl % sl % sl % sl % Giao dịch viên 2 3,3 34 56,7 19 31,7 5 8,3 0 0 60 CB tín dụng 4 6,7 29 48,3 25 41,7 2 3,3 0 0 60 Khác 1 1,7 17 28,3 38 63,3 4 6,7 0 0 60 (Nguồn: Số liệu điều tra) 2.4.1.5. Cách thức nhận biết thông tin về Ngân hàng. Bảng 20: Cách thức nhận biết thông tin về Ngân hàng Chỉ tiêu Qua báo chí,truyền hình Qua bạn bè, người thân Qua Internet Qua cách khác sl % sl % sl % sl % Có 24 40,0 43 71,7 0 0 11 18,3 Không 36 60,0 17 28,3 60 100 49 81,7 Tổng 60 100 60 100 60 100 60 100 (Nguồn: Số liệu điều tra) Đại học Kin h tế Hu ế SVTH: Nguyễn Thị Châu 59 Qua điều tra cho thấy trong 60 hộ vay vốn tại Ngân hàng thì có 24 hộ biết được thông tin qua truyền hình chiếm 40%. Cũng trong 60 hộ được hỏi đó thì có 43 hộ biết được thông tin qua bạn bè, người thân chiếm 71,61%, đây là kênh thông tin chủ yếu của người dân. Và đặc biệt là không có người nào nhận biết được thông tin qua internet, lý do là Ngân hàng chưa tập trung khai thác kênh thông tin này cũng như việc đưa internet vào trong gia đình hiện nay đang còn rất hạn chế, người dân còn hạn chế về trình độ và tiếp cận với công nghệ mới. 2.4.2. Đánh giá về vai trò của Ngân hàng Vốn sản xuất của các hộ nông dân tuy không lớn nhưng các hộ đã phải huy động ở nhiều nguồn khác nhau. Những năm qua Ngân hàng NN huyện Gio Linh thực sự đã có vai trò quan trọng đối với các hộ nông dân. Vốn từ Ngân hàng NN luôn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu vốn sản xuất. Nhờ nguồn vốn này mà các hộ nông dân có thể đầu tư, mở rộng sản xuất từ đó đã góp phần thoát khỏi đói nghèo, nâng cao đời sống. Quan sát bảng ta thấy trong 60 hộ thì đã có 42 hộ cho rằng Ngân hàng đã có vai trò quan trọng chiếm 70%, chỉ có 25% cho rằng hoạt động của Ngân hàng có ý nghĩa bình thường không ảnh hưởng nhiều đến hoạt động sản xuất kinh doanh của mình và 5% cho là không quan trọng. Bảng 21: Đánh giá của khách hàng về vai trò của Ngân hàng Mức độ đánh giá Số người ý kiến % Rất quan trọng 0 0 Quan trọng 42 70 Bình thường 15 25 Không quan trọng 3 5 Tổng số 60 0 ( Nguồn: Số liệu điều tra) 2.5. MỘT SỐ TỒN TẠI VÀ NGUYÊN NHÂN. 2.5.1. Một số tồn tại. 2.5.1.1. Về phía Ngân hàng Đại học Kin h tế Hu ế SVTH: Nguyễn Thị Châu 60 Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn thấp hơn so với tốc độ tăng trưởng dư nợ, do đó làm ảnh hưởng tới tốc độ đầu tư tín dụng mặc dù Ngân hàng còn nhiều tiềm năng để có thể khai thác để tăng trưởng được dư nợ. Tỷ lệ nợ quá hạn chưa đảm bảo vững chắc, chưa tổ chức theo dõi thực chất số hộ gia hạn trong năm nên chưa xác định được mức độ rủi ro thực tế. Số lượng cán bộ tuy đã được bổ sung nhưng vẫn chưa đảm bảo do đó đẫn đến quá tải đối với cán bộ tín dụng. 2.5.1.2. Về phía hộ nông dân. Hiệu quả sử dụng đồng vốn của các hộ chưa cao. Số hộ dử dụng vốn không đúng mục đích vẫn còn khá lớn. Khả năng tiếp cận thông tin về Ngân hàng của các hộ còn kém. 2.5.2. Nguyên nhân của những tồn tại trên. 2.5.2.1. Về cơ chế nghiệp vụ của Ngân hàng. Trong thực hiện chính sách cho vay hộ thì cán bộ tín dụng là người vất vả nhất. Nắng mưa đều phải đi điều tra, thẩm định, đôn đốc thu nợ đến hạn, quá hạn ở một địa bàn rộng lớn, tuy nhiên chế độ ưu đãi chưa thoả đáng. Tỷ lệ chi hoa hồng cho tổ chức hội 3% trên tổng số lãi thu được đã nộp Ngân hàng như hiện nay là chưa thật thoả đáng nên chưa thật sự động viên và nâng cao trách nhiệm của tổ trưởng tổ vay vốn trong cho vay thông qua tổ vay vốn. 2.5.2.2. Về phía các hộ vay vốn. Phần lớn các hộ có tiềm năng kinh tế hạn chế. Nhiều hộ gia đình có nhu cầu vay vốn lớn xong không thể vay được do tài sản thế chấp quá nhỏ Kiến thức về kinh tế thị trường, khoa học kỹ thuật còn hạn chế, dẫn đến một số hộ sử dụng vốn vay không có hiệu quả. Khi thua lỗ mất vốn là không có nguồn lợi để trả. Công tác dịch vụ khuyến nông chưa mang lại hiệu quả cao, dẫn đến tính khả thi của một số dự án đầu tư thấp. Mặt khác chính quyền địa phương chưa chỉ đạo việc đầu tư quy hoạch xây dựng các dự án đầu tư theo xã, vùng kinh tế, định hướng sản xuất còn chung chung. Đại ọc Kin h tế Hu ế SVTH: Nguyễn Thị Châu 61 Chưa chủ động tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm đầu ra cho nông dân. Nhiều sản phẩm làm ra bị tư thương ép giá dẫn đến người sản xuất bị thua thiệt, ảnh hưởng đến việc đầu tư, thu nợ của Ngân hàng. CHƯƠNG III. ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP 3.1. ĐỊNH HƯỚNG CỦA NGÂN HÀNG NN&PTNT HUYỆN GIO LINH. Với quan điểm khẳng định kinh tế hộ luôn có vị trí quan trọng, Đảng và nhà nước ta đã có nhiều chính sách ưu đãi cho nông nghiệp nông thôn nói chung và hộ nông dân nói riêng. Các chính sách này được cụ thể hoá trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Trong lĩnh vực Ngân hàng chính sách này được quy định tại điều 8 Luật các tổ chức tín dụng: “ Nhà nước có chính sách tín dụng tạo điều kiện về vốn, lãi suất, điều kiện, kỳ hạn vay đối với nông nghiệp nông thôn và nông dân góp phần xây dựng cơ sở vật chất, kết cấu hạ tầng, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, sản xuất hàng hoá thúc đẩy CNH-HĐH nông nghiệp nông thôn”. Trong sự nghiệp phát triển kinh tế của huyện. Ngân hàng NN&PTNT huyện Gio Linh có vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng. Căn cứ vào định hướng phát triển chung của huyện Gio Linh, với nhu cầu của thị trường và khả năng của bản thân. Với phương châm “ Phát triển- An Toàn- Hiệu Quả” Ngân hàng đã đề ra mục tiêu phấn đấu là”  Tổng nguồn vốn huy động tăng bình quân 22%.  Tổng dư nợ tăng bình quân 25%.  Tỷ lệ dư nợ quá hạn dưới 3%  Doanh thu đảm bảo quỹ thu nhập, quỹ tiền lương theo chế độ quy định Đại học Kin h tế Hu ế SVTH: Nguyễn Thị Châu 62  Kinh doanh phát triển- an toàn- hiệu quả giữ vững và phát triển các phong trào thi đua. 3.2. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHO VAY VÀ SỬ DỤNG VỐN VAY CỦA HỘ NÔNG DÂN TẠI NHNN&PTNT HUYỆN GIO LINH 3.2.1. Về phía ngân hàng - Tăng cường huy động vốn để cho vay + Tập trung đẩy mạnh tăng trưởng nguồn vốn, xem đây là nhiệm vụ sống còn của chi nhánh nhằm đảm bảo cân đối vốn để cho vay. + Thường xuyên nghiên cứu thị trường, nghiên cứu tình hình hoạt động, chính sách lãi suất, chính sách khách hàngcủa các NHTM để địa bàn để có sự linh hoạt trong điều hành kinh doanh, đặc biệt là về lãi suất huy động nhằm giữ vững và thu hút khách hàng. + Triển khai kịp thời và có hiệu quả các sản phẩm tiền gửi có tính linh hoạt, phù hợp với nhu cầu đa dạng của khách hàng. + Tiếp tục cũng cố với các ban nghành liên quan, các dự án trên địa bàn nhằm thu hút nguồn vốn lớn có lãi suất thấp để đảm bảo hiệu quả trong kinh doanh. + Tăng cường quảng bá Agribank là doanh nghiệp hàng đầu, là ngân hàng có độ an toàn cao dối với người gửi tiền. + Làm tốt công tác phát hành thẻ ATM, chi trả tiền lương qua tài khoản, chuyển tiền điện tử nhằm tận dụng được nguồn vốn nhàn rỗi từ ngân sách và các đối tượng trong xã hội. + Thực hiện nghiêm túc việc giao khoán và quyết toán khoản chi tiêu huy động vốn đến toàn thể cán bộ công nhân viên. - Giải pháp về công tác cán bộ Con người là nguồn lực quan trọng nhất đối với bất kỳ tổ chức hay doanh nghiệp nào. Sự thành công của mọi doanh nghiệp luôn phụ thuộc vào yếu tố năng lực và hiệu suất của người lao động Nhưng vấn đề đặt ra là làm thế nào để tăng năng suất và hiệu suất làm việc của người lao động? Đại học Kin h tế Hu ế SVTH: Nguyễn Thị Châu 63 Ngân hàng cần phải thực hiện một cách khoa học việc đào tạo, xắp xếp sử dụng hợp lý lao động nói chung và cán bộ tín dụng nói riêng. Xác định chính xác nhu cầu từng loại nhân lực, sử dụng tiết kiệm nguồn nhân lực trong quá trình kinh doanh, tránh xảy ra hiện tượng thừa, thiếu lao động. Hiện nay Ngân hàng đang thiếu đội ngũ cán bộ tín dụng chính vì vậy cần phải bổ sung thêm cán bộ tín dụng có năng lực chuyên môn để thực hiện tốt các hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Thúc đẩy phát huy sự cố gắng, sáng tạo của cá nhân, cũng cố và nâng cao sức mạnh của tập thể. Có kế hoạch đào tạo và đào tạo lại cho các cán bộ tại các trường đại học hoặc theo các lớp ngắn ngày do ngân hàng Nhà nước Việt Nam tổ chức để nâng cao trình độ nghiệp vụ và kiến thức thị trường. Thường xuyên tập huấn nghiệp vụ để cán bộ nâng cao trình độ xây dựng và thẩm định dự án, hướng dẫn hộ vay xây dựng phương án dự án vay vốn. Trang bị thêm máy vi tính, đào tạo nghiệp vụ vi tính để cán bộ quản lý hồ sơ vay vốn, làm các báo cáo theo quy định, hàng ngày theo dõi nợ đến hạn, quá hạn, hàng tháng sao kê khế ước vay vốn nhanh chóng để thuận tiện trong việc quản lý tín dụng. Việc thay đổi cán bộ tín dụng phụ trách cho vay vốn khách hàng trong quá trình xắp xếp phân công lại nhân viên cũng cần đặc biệt hạn chế. Chỉ nên thay đổi cán bộ tín dụng khi có những vấn đề ảnh hưởng không tốt đến quyền lợi của ngành. Vì trong các thông tin về khách hàng có những thông tin không được lưu giữ bằng văn bản hay mọi phương tiện lưu tin nào khác trong đó những thông tin “mắt thấy tai nghe từ thực tế cơ sở kinh doanh của khách hàng đóng vai trò quan trọng. Khi bàn giao giữa cán bộ tín dụng, những thông tin trên có thể bị lãng phí. -Tăng cường hoạt động marketing Ngày nay các định chế Ngân hàng hoạt động trong sự biến động không ngừng của môi trường kinh doanh và cuộc chiến giành giật thị trường diễn ra khốc liệt, điều đó đòi hỏi ngân hàng phải lựa chọn lại cấu trúc và điều chỉnh cách thức hoạt động cho phù hợp nâng cao vị thế cạnh tranh, điều này chỉ thực hiện tốt khi có Đại học Kin h tế Hu ế SVTH: Nguyễn Thị Châu 64 giải pháp marketing năng động đúng hướng. Với mục tiêu: Tăng khách hàng  Tăng thị phần  Tăng doanh thu  Tăng lợi nhuận  Nâng cao giá trị thương hiệu  Làm nổi bật hình ảnh ngân hàng. Đẩy mạnh hoạt động marketing- Mix. +Chính sách giá cả: Giá cả ở đây chính là lãi suất của ngân hàng. Cần xác định mức lãi suất phù hợp và linh hoạt với từng đối tượng khách hàng. + Chính sách về sản phẩm tín dụng: hiện nay chi nhánh ngân hàng chỉ thực hiện với hai hình thức cho vay là ngắn hạn và trung hạn. Hai hình thức này đã đáp ứng được nhu cầu của khách hàng song cần cố gắng nhiều hơn nữa để sản phẩm ngày càng hoàn thiện hơn. + Chính sách phân phối: Có nghĩa là cho ai vay và phương thức cho vay như thế nào? Ngân hàng cần mở rộng quy mô hoạt động trong tương lai và khả năng tiếp cận với khách hàng, đặt thêm nhiều địa điểm rút thẻ ATM ở những nơi có trụ sở làm việc của cán bộ công nhân viên chức. + Chính sách xúc tiến: Tăng cường tuyên truyền, quảng bá những hoạt động của Ngân hàng bằng các biện pháp đăng tin trên báo, đài truyền hình, truyền thanh hay tài trợ cho một số hoạt động văn hoá xã hội của tỉnh nhằm quảng bá hoạt động của ngân hàng . Tổ chức tốt hội nghị khách hàng - Nâng cấp cơ sở vật chất, công nghệ: Đa phần khách hàng có tâm lý mong muốn tiến hành các giao dịch kinh doanh với một ngân hàng có trụ sở đẹp, bề thế. Do đó ngân hàng phải thay đổi và thường xuyên nâng cấp cơ sở vật chất để thu hút thêm sự tin tưởng của khách hàng, góp phần nâng cao chất lượng giao dịch tại ngân hàng -Cho vay tập trung có trọng điểm. Cần đầu tư vốn có tập trung trọng điểm. Để tránh rủi ro, nguyên tắc thận trọng cần được Ngân hàng quan tâm. Vì vậy ngân hàng phải chọn lọc khách hàng một cách kỹ lưỡng. Ngân hàng cần đầu tư vào các tiểu ngành hoạt động có hiệu quả như trồng trọt( lúa, cao su), chăn nuôi Trong thời gian vừa qua thực hiện chủ trương “ dồn viền đổi thửa” ở huyện Gio Linh. Các hộ nông dân đã mạnh dạn chuyển hướng sản xuất trên phần đất rộng, Đại học Kin h tế Hu ế SVTH: Nguyễn Thị Châu 65 tập trung của mình, có nhiều mô hình trang trại đã mọc ra và cho thấy triển vọng phát triển và hiệu quả của nó rất lớn Việc đầu tư vốn cho các hình thức này cần được Ngân hàng quan tâm. -Đẩy mạnh cho vay qua các tổ, nhóm đơn vị làm đại lý tại địa phương. Qua thực tế nhiều năm cho thấy hiệu quả của hình thức cho vay qua các tổ chức hội ở địa phương rất lớn. Là một biện pháp rất hữu hiệu để hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng đối với hộ nông dân. Vì ở các địa phương nếu không trả nợ kịp thời vốn vay qua tổ sẻ có nhiều biện pháp, trong đó nhắc nhở qua các cuộc họp, qua hệ thống loa truyền thanh điều này gây tâm lý e ngại chính vì vậy họ thực hiện nghĩa vụ một cách đúng hạn theo quy định. Mặt khác thông qua các tổ chức hội để các hộ sản xuất có thể tương trợ lẫn nhau, không những về nhu cầu tín dụng mà còn vè kiến thức kỹ thuật sản xuất, về nguyên vật liệu đầu vào, tiêu thụ sản phẩm đầu ra. -Đưa ra các sản phẩm khuyến khích Đây là một biện pháp kích thích tâm lý của khách hàng vay vốn, hoặc trả nợ ngân hàng. Ngân hàng đưa ra nhiều mức lãi suất khác nhau ứng với từng mức tiền vay cụ thể, với từng loại hình sản xuất kinh doanh, từng đối tượng khách hàng cụ thể Khuyến khích khách hàng vay vốn tập trung vào những mục tiêu phát triển kinh tế của đất nước tại địa phương. Có chính sách ưu đãi bằng lợi ích vật chất đối với những khách hàng lớn, sản xuất kinh doanh có hiệu quả để chiếm lĩnh thị phần, vừa thu hút được nguồn tiền gửi vừa nâng cao uy tín của Ngân hàng. - Đa dạng hoá hình thức đảm bảo tiền vay Bên cạnh cho vay theo hình thức đảm bảo, chi nhánh cũng nên nghiên cứu cho vay theo hình thức khác như kết hợp linh hoạt các hình thức bảo đảm bằng tín chấp, tín chấp và thế chấp, thế chấp và bảo lãnh. Mặt khác, chi nhánh cần tăng cường khâu quản lý, kiểm tra thường xuyên đối với các tài sản được cầm cố, thế chấp, tránh trường hợp khách hàng cố tình dùng một tài sản thế chấp cho các khoản vay ở các ngân hàng khác nhau. Đ i ọc Kin h tế Hu ế SVTH: Nguyễn Thị Châu 66 -Tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào các dự án phát triển nông nghiệp nông thôn . Để tiếp nhận đầu tư vốn này, trước hết Ngân hàng phai thực hiện tốt việc giải ngân qũy quay vòng của các dự án đã tiếp nhận, đồng thời cùng các cấp các ngành của tỉnh chủ động xây dựng các dự án mới để gọi vốn. 3.2.2. Về phía hộ vay vốn - Hộ nông dân cần sử dụng vốn vay đúng mục đích. Phần lớn hộ nông dân sử dụng vốn không đúng mục đích điều này đã ảnh hưởng rất lớn đến khả năng thanh toán nợ của các hộ. Chính vì vậy phải đôn đốc kiểm tra các hộ nông dân sử dụng vốn đúng mục đích sản xuất kinh doanh của mình để nâng cao năng suất và hiệu quả của các hoạt động đầu tư. - Nâng cao trình độ , kiến thức sản xuất của hộ. Cần có các lớp tập huấn cho các hộ nông dân để họ nắm bắt và ứng dụng được các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất kinh doanh, hướng dẫn các hộ nông dân xây dựng các phương án sử dụng vốn vay có hiệu quả. Hiện nay công tác này tai Ngân hàng chỉ mang tính hình thức. - Tăng khả năng tiếp cận thông tin của hộ. Qua thực tế điều tra thì rất ít hộ nắm bắt được thông tin về chính sách của Ngân hàng. Chính vì vậy cần phải triển khai chiến lược quảng cáo đưa các thông tin về các chính sách của Ngân hàng đến với hộ nông dân một cách nhanh chóng và hiệu quả. -Đa dạng hoá các hoạt động sản xuất để khai thác hết tiềm năng của vùngĐ i học Kin h tế Hu ế SVTH: Nguyễn Thị Châu 67 PHẦN III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ I. KẾT LUẬN Hoạt động tín dụng Ngân hàng luôn đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Để đáp ứng cho nhu cầu đầu tư phát triển của đất nước nói chung và của huyện Gio Linh nói riêng, trong những năm qua chi nhánh Ngân hàng NN&PTNT huyện Gio Linh đã thực hiện nhiều biện pháp đầu tư để mở rộng hoạt động tín dụng và nâng cao chất lượng tín dụng trong cho vay kinh tế hộ nông dân, tạo động lực thúc đẩy kinh tế huyện Gio Linh phát triển. Nhờ sự giúp đỡ của Ngân hàng, người dân đã có vốn kịp thời để phát triển sản xuất, giải quyết việc làm cho lao động nông nhàn, tăng thu nhập nâng cao đời sống của người nông dân. Bên cạnh những mặt đã đạt được vẫn còn nhiều tồn tại cần được khắc phục. Muốn làm được điều đó cần phải có sự phối hợp đồng bộ giữa Ngân hàng với cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương cùng các ngành, các cấp giải quyết các khó khăn trong phạm vi ngành mình, cấp mình. tạo điều kiện hỗ trợ Ngân hàng về môi trường kinh doanh và hành lang pháp lý. Nhưng nếu chỉ có sự cố gắng của các cấp các ngành thôi chưa đủ mà phải có sự cố gắng của bản thân các hộ vì đây là nơi trực tiếp đưa đồng vốn vào sản xuất kinh doanh và thực hiện các nghĩa vụ của mình trong quan hệ tín dụng. Với các giải pháp được kết hợp đồng bộ thì chắc chắn việc đầu tư kinh tế hộ sẻ được mở rộng, thúc đẩy phát triển kinh tế, khai thác các tiềm năng sẵn có, tạo việc làm cho người lao động, thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo của Đảng và nhà nước. II. KIẾN NGHỊ. - Đối với chính quyền địa phương. Xác định đúng thực tế, đúng đối tượng, đủ điều kiện cụ thể đối với từng hộ xin vay vốn ở Ngân hàng. Tham gia cùng với Ngân hàng trong việc kiểm tra, giám sát quá trình sử dụng vốn vay của các hộ vay vốn. Giám sát và quản lý quá trình thế chấp. Phối hợp với các ngành chức năng tổ chức tập huấn về kiến thức khoa học kỹ thuật và chuyển giao công nghệ mới cho các hộ nông dân. Đại học Kin h tế Hu ế SVTH: Nguyễn Thị Châu 68 Quy hoạch các vùng và chỉ đạo các hộ lập các phương án và dự án đầu tư thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn. Chỉ đạo các hội kết hợp chặt chẽ hơn nữa với Ngân hàng trong việc cho vay, đôn đốc thu nợ, thu lãi của các hộ vay. - Đối với Ngân hàng NN&PTNT huyện Gio Linh. Ngân hàng cần đơn giản hoá các thủ tục vay vốn, tạo điều kiện thuận lợi cho các hộ nông dân khi có nhu cầu vay vốn để phát triển sản xuất. Thường xuyên tổ chức các hội nghị khách hàng, mở các lớp tập huấn nghiệp vụ cho các tổ trưởng tổ vay vốn. Hướng dẫn và kiểm tra khách hàng sử dụng vốn vay đúng mục đích. Tăng cường các hoạt dộng tuyên truyền quảng cáo các chính sách của Ngân hàng đến với các hộ nông dân. - Đối với hộ nông dân. Các hộ nông dân phải có ý thức trong việc chủ động xây dựng phương án sản xuất kinh doanh trên cơ sở những khả năng, tiềm năng sẵn có của mình. Cung cấp đầy đủ, đúng các thông tin về tình hình tài chính, tình hình sản xuất kinh doanh của mình để Ngân hàng xem xét, tư vấn cho khách hàng và xác định mức vốn đầu tư hợp lý phù hợp với năng lực quản lý của từng hộ. Phải có ý thức tích luỹ kinh nghiệm trong quá trình sản xuất kinh doanh, kinh nghiệm của những người xung quanh. Tham gia các buổi tập huấn chuyển giao công nghệ để học tập và tích luỹ kinh nghiệm, tích luỹ những kiến thức khoa học kỹ thuật về những đối tượng mà mình sắp đầu tư trước khi vay vốn Ngân hàng để đầu tư có như vậy mới có đủ khả năng quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả. Quá trình sản xuất và tiêu dùng phải có kế hoạch tiết kiệm để tích luỹ vốn thực hiện vốn tự có tối thiểu phải tham gia đủ tỷ lệ quy định, vốn vay Ngân hàng chỉ là vốn bổ sung. Chấp hành nghiêm túc các quy định, điều kiện, thể lệ tín dụng của Ngân hàng. Có ý thức trách nhiệm trong quá trình quản lý và sử dụng vốn vay, sòng phẳng trong quan hệ tín dụng. Đại học Kin h tế Hu ế SVTH: Nguyễn Thị Châu 69 DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. TS Hoàng Văn Liêm, Giáo trình tài chính tiền tệ, 2008. 2. TS Bùi Đức Tín, Giáo trình kinh tế nông hộ và trang trại, 2009. 3. Niêm giám thống kê huyện Gio Linh, 2008. 4. Luật các tổ chức tín dụng, Hà Nội, 1998. 5. Báo cáo tổng kết 15 năm cho vay hộ sản xuất, Ngân hàng NN&PTNT tỉnh Quảng Trị, 2007. 6. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng NN&PTNT huyện Gio Linh qua 3 năm 2007-2009. 7. Một số khóa luận các năm trước. 8. Một số thông tin trên internet. Đại học Kin h tế Hu ế

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfphan_tich_tinh_hinh_cho_vay_va_su_dung_von_vay_cua_cac_ho_nong_dan_tai_ngan_hang_nn_ptnt_huyen_gio_l.pdf
Luận văn liên quan