Khóa luận Thực trạng lao động - Việc làm và phương hướng giải quyết việc làm có hiệu quả ở tỉnh Quảng Trị

Để đẩy mạnh công tác xuất khẩu lao động, đề nghị Sở Lao động Thương binh và xã hội, tăng cường công tác tìm kiếm thị trường lao động hấp dẫn hơn với người lao động. Mặt khác cần phối hợp nghiên cứu ban hành cơ chế, chính sách cho người lao động các tỉnh còn nghèo đưa dược nhiều người đi làm việc ở nước ngoài, góp phần giải quyết việc làm tăng trưởng kinh tế , xóa đói giảm nghèo. Thực tế hiện nay, nhiều lao động nghèo có nhu cầu đi làm việc nhưng vốn ít, đa số các hộ gia đình ở nông thôn ít nhiều đang vay vốn ở ngân hàng , nên khi người lao động muốn vay vốn rất khó khăn. Với điều kiện của những địa phương còn khó khăn trong công tác giải quyết việc làm thì chính sách hổ trợ vốn vay với lãi suát thấp giải quyết việc làm đóng vai trò khá quan trọng, là một trong những giải pháp chủ yếu để thực hiện chương trình, mục tiêu việc làm. Do đó phải đề nghị tỉnh nghiên cứu cải tiến cơ chế của chương trình vay vốn quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm để tăng cường hiệu quả các dự án, mục tiêu thu hút lao động việc làm của chương trình. Hàng năm bổ sung nguồn vốn mới nhiều hơn cho các địa phương mà điều kiện giải quyết việc làm cho người lao động còn khó khăn so với các địa phương khác có thuận lợi hơn. Để tạo điều kiện cho các địa phương thực hiện tốt chương trình vay vốn quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm, kính đề nghị chính quyền các cấp xem xét. Để nâng cao chất lượng của đội ngũ lao động thì cần nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng, trang thiết bị giảng dạy, đào tạo đội ngũ giáo viên có trình độ chuyên môn nghiệp vụ . Để góp phần tạo ra nhiều việc làm hơn cho người lao động thì trong kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm (2011-2015) và hàng năm tỉnh cần phải xác định rõ các mục tiêu, các chỉ tiêu về việc làm mới, từ đó có các giải pháp về tạo môi trường Đại học Kinh

pdf54 trang | Chia sẻ: phamthachthat | Lượt xem: 1504 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Khóa luận Thực trạng lao động - Việc làm và phương hướng giải quyết việc làm có hiệu quả ở tỉnh Quảng Trị, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ịa phương cấp xã, phường trên địa bàn. 2.3.3. Tạo việc làm đi ngoại tỉnh Trong những năm qua Sở đã làm tốt công tác phối hợp, tuyên truyền, vận động, tổ chức đưa lao động đi làm việc các tỉnh phía Nam. Trung tâm giới thiệu việc làm tỉnh đã chủ động liên hệ với các khu công nghiệp, cung ứng tìm việc làm cho người lao động thông qua Hội chợ việc làm, Sàn giao dịch việc làm. Qua 5 năm đã có 4.200 lao động vào làm việc các tỉnh ở các tỉnh phía Nam (năm 2006: 1052 người, năm 2007: 976 người, năm 2008: 536 người, năm 2009: 807 người, năm 2010: ước 830 người). Trong thời gian gần đây, do mức lương thiếu hấp dẫn, điều kiện chi phí sinh hoạt ăn ở cao dẫn đến khó khăn, hơn nữa do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính thế giới các doanh nghiệp đã cắt giảm lao động, do đó số lao động đi làm việc các tỉnh phía Nam có chiều hướng giảm dần. Tuy nhiên, vẫn có những nguyên nhân đó là: - Người lao động chủ yếu là lao động phổ thông, tay nghề thấp, mặt khác nhu cầu tiếp nhận lao động có trình độ chuyên môn ngày càng cao, tác phong công nghiệp chưa cao. Phần lớn lao động Quảng Trị có tâm lý muốn làm những công việc nhẹ nhàng, đơn giản nhưng có thu nhập cao đó là vấn đề cần được quan tâm trong công tác giáo dục tư tưởng, nhận thức của người lao động. - Một số doanh nghiệp chưa thực hiện đúng cam kết việc tuyển chọn lao động về tiền lương, điều kiện ăn, ở... Đại ọc Kin h tế Huế Trường Đại Học Kinh Tế Huế Chuyên đề tốt nghiệp SVTH : Lê Thị Diệu Hiền Lớp : K41A KTNN -31 2.3.4. Tạo việc làm thông qua các chương trình mục tiêu hỗ trợ trực tiếp 2.3.4.1. Dự án vay vốn giải quyết việc làm Dự án vay vốn giải quyết việc làm nguồn vốn ngân sách Nhà nước hàng năm, riêng Chương trình mục tiêu Quốc gia về việc làm giai đoạn 2006-2010 nguồn vốn bổ sung là 24.830 tỷ đồng, đạt 99.3% kế hoạch (năm 2006: 4,6 tỷ đồng, năm 2007: 3,6 tỷ đồng, năm 2008: 5,4 tỷ đồng, năm 2009: 6,05 tỷ đồng, năm 2010: 5,2 tỷ đồng), trong đó NSTW 19,88 tỷ đồng, địa phương 4,95 tỷ đồng. Cho đến nay hạn mức cho vay quỹ giải quyết việc làm tại tỉnh trên 65 tỷ đồng, trong NSTW 60 tỷ, NSĐP 5 tỷ. - Số dự án được phê duyệt là 2.010 dự án, bình quân 47 triệu đồng trên một dự án, 83% số dự án tập trung vào nhóm hộ gia đình, số còn lại dự án tiểu thủ công nghiệp, trang trại, doanh nghiệp nhỏ. - Số lao động giải quyết việc làm 5.993 người (đạt 149% KH), bình quân giải quyết việc làm mỗi năm 1.200 lao động. - Tình hình sử dụng vốn đạt mức bình quân 92%, vốn nợ quá hạn ở mức 5,2%, số dự án rủi ro 47 dự án với số tiền 580 triệu đồng, số vốn được xoá nợ 66 triệu đồng. Bên cạnh những kết quả đạt được, còn nhiều mặt hạn chế đó là: - Nguồn vốn bổ sung hàng năm cho nguồn quỹ vốn giải quyết việc làm chưa thực hiện như Nghị quyết của HĐND, đó là nguồn vốn địa phương chỉ đạt 70.7% (4,9 tỷ đồng), còn ngân sách cấp huyện, thị xã chưa lập quỹ này (3 tỷ đồng); - Việc thu hút lao động tạo việc làm mới còn hạn chế, một số địa phương cho vay gần như chia đều và quá nhiều đầu mối dự án, bình quân 20 triệu đồng/hộ gia đình, các dự án sản xuất của các doanh nghiệp nhỏ và vừa có mức vay tương đối lớn và thu hút được lao động nhiều, nhưng trên thực tế một số địa phương khó tìm được dự án loại này, còn các dự án trồng trọt, chăn nuôi chỉ tăng thêm thời gian làm việc tại nông thôn. Mặt khác một số dự án hoạt động tiểu thủ công nghiệp - trang trại hoạt động quy mô nhỏ thì tạo việc làm không ổn định, thường tạo việc làm cho người lao động theo mùa vụ. - Tình hình sử dụng vốn tồn động 4 năm (2006-2009) ở mức bình quân 7,5% (năm 2006: 7,14%, năm 200&:7,73%, năm 2008: 5,77%, năm 2009: 9,15%). Riêng 6 tháng đầu năm 2010 ở mức cao 17,28%, nguyên nhân là nguồn vốn thực chuyển từ TW để giải ngân chậm đến đầu tháng 3/2010 mới cấp vốn về cho ngân hàng CSXH, Đại học Kin h tế Hu ế Trường Đại Học Kinh Tế Huế Chuyên đề tốt nghiệp SVTH : Lê Thị Diệu Hiền Lớp : K41A KTNN -32 mặt khác ngân hàng CSXH chưa tích cực tìm kiếm dự án, chưa có kế hoạch giải ngân cụ thể dẫn đến vốn tồn động cao. Tình hình nợ quá hạn bình quân 4 năm (2006-2009) ở mức quá cao 5,2% (nhóm dự án cơ sở SXKD chiếm trên 33%), nguyên nhân do một số dự án bị rủi ro trong sản xuất kinh doanh, mặt khác công tác thẩm định cho vay thiếu chặt chẽ và công tác đôn đốc thu hồi vốn chưa được thường xuyên. 2.3.4.2. Dự án hỗ trợ người lao động đi làm việc ở nước ngoài Chính sách của chương trình mục tiêu về việc làm là hỗ trợ và tạo mọi điều kiện cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài ngày càng nhiều, nhằm giải quyết việc làm, ổn định đời sống của nhân dân. Trong những năm qua, chính sách về xuất khẩu lao động của TW, cũng như địa phương đã tạo mọi thuận lợi cho người lao động tiếp cận thị trường xuất khẩu lao động, đồng thời hỗ trợ cho người lao động một phần kinh phí đó là: - Thực hiện chính sách đối với lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, Chi nhánh ngân hàng CSXH, đã cho người lao động (đối tượng chính sách) đi là việc ở nước ngoài vay vốn là 373 người/4.135 người đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, với tổng số tiền vay là gần 7 tỷ đồng. - Năm 2008-2009 ngân sách tỉnh đã bố trí 350 triệu đồng, hỗ trợ ban đầu cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài về khám sức khoẻ, giáo dục định hướng. Tuy nhiên kinh phí hỗ trợ ban đầu cho người lao động đang còn hạn chế, chưa đáp ứng kịp thời, đến nay số lao động chưa được hưởng chính sách này. 2.3.4.3. Dự án phát triển thị trường lao động Hoạt động đầu tư nâng cao năng lực hệ thống TTGTVL đã được phê duyệt, đến nay bằng nguồn vốn NSNN từ nguồn vốn hỗ trợ TW và địa phương, đến nay Trung tâm được đầu tư nâng cấp trang thiết bị đáp ứng nhu cầu hoạt động. Đội ngũ cán bộ được đào tạo cơ bản, được tăng cường cả chất lượng và số lượng đáp ứng được yêu cầu phục vụ tốt công tác giới thiệu và cung ứng lao động cho người lao động trên địa bàn tỉnh. Đến nay đầu tư Trung tâm giới thiệu việc làm: 9.473 triệu đồng, trong đó NSTW 5.500 triệu đồng, NS địa phương 3.937 triệu đồng. Thông qua việc đầu tư và nâng cấp trang thiết bị, hoạt động của trang Website "vieclamquantri.vn" đã cung cấp thông tin thị trường lao động cho hàng ngàn lượt Đại học Kin h tế Hu ế Trường Đại Học Kinh Tế Huế Chuyên đề tốt nghiệp SVTH : Lê Thị Diệu Hiền Lớp : K41A KTNN -33 người truy cập. Việc đầu tư trọng tâm đã góp phần nâng cao năng lực của Trung tâm vừa là địa chỉ quen thuộc cho người lao động cần tìm kiếm việc làm, doanh nghiệp cần tuyển lao động. Từ năm 2006-2010 TTGTVL số người, số lao động được đào tạo nghề 2.780 người. Sàn giao dịch việc làm: Đây là loại hình tổ chức, hoạt động phù hợp với đổi mới phát triển thị trường lao động, tạo điều kiện thuận lợi, tiết kiệm chi phí, đáp ứng nhu cầu của người lao động tìm kiếm việc làm và các đơn vị tuyển dụng. Từ năm 2008-2010 từ nguồn với của địa phương và TW đã hỗ trợ Sàn giao dịch việc làm 1.030 triệu đồng (NSTW: 600 triệu đồng, NSĐP: 430 triệu đồng). Từ năm 2006 đến nay đã tổ chức 02 phiên hội chợ việc làm và tổ chức 14 phiên sàn giao dịch việc làm, có 765 doanh nghiệp tham gia tuyển lao động (trực tiếp 302 doanh nghiệp, gián tiếp 463 doanh nghiệp) đã thu hút 5.558 lao động tham gia, số lao động được tuyển trực tiếp tại sàn 2.633 người, số lao động hệ phỏng vấn tại doanh nghiệp 1.432 người. Phát triển thị trường lao động: Trung tâm giới thiệu việc làm của tỉnh, trong những năm qua mặc dù cơ sở vật chất đang khó khăn, cán bộ làm công tác giới thiệu việc làm còn yếu, nhưng với sự quyết tâm cao của tập thể và cán bộ đã nỗ lực, bằng nhiều biện pháp, tuyển chọn cho lao động học nghề, liên kết với các khu công nghiệp phía nam để đưa lao động đi làm việc các tỉnh phía nam. Kết hợp thông tin tuyên truyền, vận động và trực tiếp đến từng địa phương tuyển chọn, đào tạo ngoại ngữ giải quyết tốt vấn đề lao động đi làm việc ở nước ngoài. Với những kết quả đạt được, song còn nhiều hạn chế đó là: - Người lao động chưa có thói quen tìm kiếm việc làm qua Sàn giao dịch. - Một số địa phương chưa phối hợp tốt với TTGTVL trong việc tổ chức triển khai Sàn giao dịch việc làm tại địa phương, công tác tuyên truyền, vận động của các tổ chức đoàn thể chưa được thường xuyên. - Mặt khác tổ chức hoạt động của Trung tâm GTVL chưa được đổi mới, chưa thực sự đóng vai trò cầu nối giữa người lao động tìm việc làm và người sử dụng lao động tuyển dụng lao động; cơ sở vật chất chưa đáp ứng được nhu cầu là chưa kết nối Đại học Kin h tế Hu ế Trường Đại Học Kinh Tế Huế Chuyên đề tốt nghiệp SVTH : Lê Thị Diệu Hiền Lớp : K41A KTNN -34 được với các Trung tâm GTVL khác trên toàn quốc, cán bộ làm công tác thị trường còn thiếu và yếu. 2.3.4.4. Hoạt động nâng cao năng lực quản lý lao động - việc làm Từ nguồn vốn Chương trình mục tiêu Quốc gia về việc làm đã bố trí 840 triệu đồng (2006: 60 triệu đồng, 2007: 60 triệu đồng, 2008: 170 triệu đồng, 2009: 190 triệu đồng, 2010: 360 triệu đồng), hàng năm đã tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kiến thức cho cán bộ làm công tác lao động việc làm từ cấp thôn, phường (xã), huyện đến tỉnh. Kết quả đã bồi dưỡng nâng cao năng lực quản lý lao động - việc làm cho 2.694 lượt người, (tỉnh 87 người, huyện, thị 287 người, xã phường 2.320 người) riêng năm 2010 tập huấn cho trên 1700 điều tra viên. 2.3.4.5. Hoạt động giám sát, đánh giá Từ năm 2008 đến nay, Chương trình mục tiêu Quốc gia về việc làm đã bố trí kinh phí hoạt động giám sát, đánh giá từ nguồn vốn 830 triệu đồng (2008: 250 triệu đồng, 2009: 290 triệu đồng, 2010: 290 triệu đồng), trong đó NSTW: 230 triệu, NSĐP: 600 triệu đồng. Bên cạnh những vấn đề đạt được, công tác giám sát, đánh giá các dự án một số ban ngành, đoàn thể, tổ chức chính trị - xã hội chưa thực sự quan tâm, không báo cáo, đánh giá việc thực hiện dự án do mình quản lý. 2.3.4.6. Điều tra thống kê lao động, xây dựng hệ thống thông tin thị trường lao động Điều tra thống kê lao động nhằm đánh giá thực hiện các chỉ tiêu lực lượng lao động đang hoạt động trong các ngành kinh tế, số lượng lao động mới có việc làm, tỷ lệ thất nghiệp, tỷ lệ thời gian sử dụng lao động ở nông thôn. Trong giai đoạn này ngân sách đã bố trí 1.837 triệu đồng, trong đó NSTW 387 triệu đồng, NSĐP 1.450 triệu đồng (năm 2008: 200 triệu đồng, năm 2009: 200 triệu đồng, năm 2010: 1.437 triệu đồng). Mặc dù ngân sách tỉnh đang khó khăn, nhưng đã bố trí 1.000 triệu đồng (NSTW 387 triệu) cho các công tác thu thập thông tin cung cầu lao động. Tuy nhiên, vẫn còn một số tồn tại: Do kinh phí chưa đáp ứng yêu cầu (200 triệu mỗi năm), nên chỉ thực hiện việc điều tra mẫu tỷ lệ 4% (6000 hộ/150.000 hộ) vì vậy độ chính xác bị hạn chế. Đại học Kin h tế Hu ế Trường Đại Học Kinh Tế Huế Chuyên đề tốt nghiệp SVTH : Lê Thị Diệu Hiền Lớp : K41A KTNN -35 2.4. Một số đánh giá chung 2.4.1. Kết quả đạt được và nguyên nhân Kết quả Cùng với việc chuyển đổi nền kinh tế, Nhà nước đã từng bước thiết lập các thể chế thị trường lao động phù hợp với nền kinh tế thị trường, thể hiện vai trò Nhà nước từ tạo việc làm trực tiếp sang trực tiếp hỗ trợ giúp giải quyết việc làm, khuyến khích tạo việc làm thông qua hỗ trợ hoạt động Trung tâm giới thiệu việc làm. Kết quả cung lao động dần dần được kiểm soát, cầu lao động được tăng lên rõ rệt về cả chất lượng và số lượng, thất nghiệp và thiếu việc làm đã được cải thiện, thị trường lao động ngày càng mở rộng, linh hoạt và tính cạnh tranh cao. Nhận thức của người lao động ngày được nâng cao, năng động và chủ động tự tìm việc làm, không trông chờ vào Nhà nước; người sử dụng lao động được Nhà nước ban hành cơ chế, chính sách tạo môi trường thuận lợi để đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh thì nhu cầu thu hút lao động ngày càng nhiều. Nguyên nhân thành công Trong những năm gần đây, chất lượng của đội ngũ lao động ngày càng được nâng cao, nên cũng góp phần vào việc sử dụng có hiệu quả nguồn lao động và xuất khẩu lao động. Mặt khác do nền kinh tế đã có sự chuyển đổi nên các ngành nghề xuất hiện nhiều hơn đó cũng là lí do mà lao động được tạo việc làm . Nhận thức về việc làm và cách thức giải quyết việc làm của người lao động đã có bước chuyển biến cơ bản nên họ đã có nhiều phương hướng chủ động tìm kiếm việc làm, không bị phụ thuộc và bó buộc như thời kỳ trước. Những năm gần đây nền kinh tế của tỉnh đã có sự tiến bộ và ngày càng thay da đổi thịt, nên nhiều ngành nghề mới xuất hiện, đó cũng là lí do mà lao động được thu hút vào làm việc ngày càng nhiều hơn. Được sự quan tâm giúp đỡ của nhà nước và chính quyền địa phương, nên việc đầu tư mở rộng các chương trình, các mô hình, các dự án ngày càng tăng do đó đã thu hút được một số lao động vào làm việc. Đặc biệt là ở các vùng đồng bào dân tộc miền núi, họ đã có sự tiến bộ hơn trong nhận thức. Vì thế mà họ cũng đã biết cách làm ăn buôn bán kinh doanh. Đại học Kin h tế Hu ế Trường Đại Học Kinh Tế Huế Chuyên đề tốt nghiệp SVTH : Lê Thị Diệu Hiền Lớp : K41A KTNN -36 Những năm gần đây nền kinh tế của tỉnh đã có sự tiến bộ và ngày càng thay da đổi thịt, nên nhiều ngành nghề mới xuất hiện, đó cũng là lí do mà lao động được thu hút vào làm việc ngày càng nhiều hơn. Mặt khác tin tức ngày càng hiện đại, hệ thống trung tâm dịch vụ việc làm ngày càng hoạt động có hiệu quả hơn, nên người lao động sẽ có nhiều cơ hội để tìm việc hay được tư vấn cụ thể hơn. Đảng và Nhà nước có nhiều sự thay đổi theo hướng tích cực, thu hút nhiều nguồn lực, đặc biệt trong điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn, Trung ương đã dành nguồn kinh phí bố trí cho Chương trình, đặc biệt là Bộ LĐTB&XH có nhiều phần quan tâm đến công tác lao động - việc làm của tỉnh. Bên cạnh đó phải kể đến sự quan tâm chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng, chính quyền các cấp và sự tham gia tích cực của các tổ chức đoàn thể trong việc thực hiện Chương trình mục tiêu việc làm. Cùng với sự tham mưu, phối hợp chặt chẽ của các sở, ban ngành: Lao động thương binh và xã hội, Kế hoạch đầu tư, Tài chính đã cùng tham gia kiểm tra, giám sát đánh giá các dự án thuộc chương trình, đến nay Chương trình mới đạt được những thắng lợi lớn. 2.4.2. Những tồn tại và nguyên nhân Những tồn tại Quảng Trị là một tỉnh còn nghèo, nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, nên lao động nông nghiệp - nông thôn vẫn chiếm số đông so với tổng lực lượng lao động xã hội. Mặt khác số lượng lao động ngày càng tăng, trong khi đó chất lượng thì lại thấp cụ thể là: Thiếu lao động có trình độ tay nghề, thiếu công nhân kĩ thuật, thiếu cán bộ quản lý... đặc biệt là những năm gần đây khi mà nền kinh tế có xu hướng chuyển dịch cơ cấu từ Nông - Lâm - Ngư nghiệp sang Công Nghiệp - Xây Dựng và Dịch vụ, xu hướng này diển ra ngày càng mạnh. Bên cạnh đó thị trường sức lao động hình thành, phát triển đã và đang dẫn đến sự cạnh tranh gay gắt về việc làm, trong đó chất lượng lao động có ý nghĩa quyết định, đặt ra vấn đề đào tạo và đào tạo lại đội ngũ lao động kỹ thuật là vấn đề bức bách để làm cho cơ cấu lao động phù hợp với cơ cấu kinh tế mới. Đại học Kin h tế Hu ế Trường Đại Học Kinh Tế Huế Chuyên đề tốt nghiệp SVTH : Lê Thị Diệu Hiền Lớp : K41A KTNN -37 Việc xây dựng Chương trình mục tiêu: Dân số, dân số trong độ tuổi lao động chênh lệch quá lớn (tăng trên 40.000 người/năm) so với thực tế sau khi tổng điều tra dân số và nhà ở từ 1/4/2009. Số liệu được lấy từ số liệu thống kê. Do vậy dự báo tỷ lệ thất nghiệp thấp so với thực hiện. Nguồn kinh phí chưa đảm bảo việc thực hiện chương trình 10.3 tỷ/28 tỷ: Lập quỹ giải quyết việc làm, nguồn vốn địa phương bổ sung chỉ đạt 49,5% KH, trong đó NS cấp tỉnh đạt 70.7% (4,9 tỷ đồng/ tỷ đồng), còn ngân sách cấp huyện, thị xã chưa lập quỹ này (3 tỷ); Vốn vay xuất khẩu lao động chưa lập quỹ (0/7 tỷ); Ngân sách cấp huyện, thị xã 8,5 tỷ đồng hiện nay chưa có địa phương nào thực hiện. Chính sách xuất khẩu lao động chưa được quán triệt để thực hiện sâu rộng trong các cấp, ngành. Công tác đào tạo nghề chuẩn bị cho nguồn xuất khẩu chưa được chú trọng, nên khả năng cạnh tranh thấp, chỉ xuất khẩu những thị trường có thu nhập thấp, rủi ro cao, chưa có chính sách thu hút những doanh nghiệp xuất khẩu lao động trên địa bàn. Chất lượng lực lượng lao động thấp. Lực lượng lao động phân bố không đồng đều nên rất khó khăn cho việc sử dụng và huy động nguồn nhân lực. Hệ thống cơ sở hạ tầng, các trung tâm dạy nghề còn thiếu thốn chưa đủ điều kiện để tiến hành đào tạo một cách có hệ thống đạt chất lượng cao Mặt khác người lao động họ chưa coi trọng việc học nghề và đào tạo nghề, đa số người lao động muốn làm những công việc nhàn nhã mà có thu nhập cao và còn ảnh hưởng tâm lí muốn làm thầy, không muốn làm thợ Nguyên nhân của những hạn chế Về tổ chức bộ máy: sự phối hợp giữa các thành viên trong các cơ quan quản lý chương trình chưa chặt chẽ, từ cấp tỉnh đến huyện, thị xã, thành phố; chưa kiện toàn lại Ban chỉ đạo cấp tỉnh (trước đây Ban chỉ đạo Chương trình mục tiêu Quốc gia xoá đói giảm nghèo, việc làm và phát triển kinh tế xã hội). Việc triển khai thực hiện chương trình còn chậm, thiếu đồng bộ, một số địa phương, ban ngành chưa thực sự vào cuộc, chưa coi trọng việc giải quyết việc làm, một số địa phương chưa xây dựng chương trình mục tiêu việc làm. Việc phân bố lực lượng lao động không đồng đều giữa các vùng trong tỉnh, gây bất lợi cho những nhà đầu tư muốn xây dựng các nhà máy, xí nghiệp. Vì đa số những Đại ọc Kin h tế Huế Trường Đại Học Kinh Tế Huế Chuyên đề tốt nghiệp SVTH : Lê Thị Diệu Hiền Lớp : K41A KTNN -38 vùng núi thì dân cư ít, nên lực lượng lao động ít khi đó việc thuê mướn lao động sẽ gặp khó khăn hơn. Do đó sẽ làm cho chi phí tiền lương tăng lên. Mặt khác tâm lí người lao động lại không thích đi làm xa nhà nên gây ra tình trạng “thiếu việc làm nhưng lại thừa nhân lực” ở những vùng dân cư đông. Vì những nơi mà tập trung nhiều lực lượng lao động thì lại quá đông nên việc tìm kiếm việc làm sẽ rất khó khăn. Đó cũng là một nguyên nhân khiến cho tỉ lệ thất nghiệp cao. Chất lượng lực lượng lao động thấp là do các cơ sở dạy nghề, đào tạo nghề còn thiếu, trang bị các phương tiện học và giảng dạy chưa đủ cho nên chất lượng đào tạo thấp. Do người lao động còn nhận thức sai về lao động - việc làm , thường thì họ có tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào việc làm ở các doanh nghiệp nhà nước mà ít đi tìm việc ở khu vực tư nhân. Mặt khác những người lao động khi làm việc ở các công ty nhà nước thì họ ỷ lại nên không lo học tập trau dồi kiến thức. Vì thế một khi những công ty này phá sản hoặc sát nhập thì những lao động này rất khó tìm kiếm việc làm hoặc nếu tìm được thì cũng khó khăn và vất vả do phải cạnh tranh với đội ngũ lao động trẻ có trình độ tri thức. Do nguồn vốn cho vay người nghèo thì lại không phân bổ trọng điểm nên kết quả mang lại chưa cao. Ở nông thôn thì người nông dân họ không đủ can đảm để vay vốn làm ăn. Còn những người có thể vay thì lại quá ít vốn, nên rất khó trong việc lựa chon loại hình sản xuất kinh doanh. Một số hộ gia đình vay vốn rồi lại không dùng vào sản xuất mà dùng vào việc tiêu dùng sắm sửa. Trong khi đó, ngân sách tỉnh hạn chế cho nên kinh phí bố trí cho các dự án đầu tư, khu công nghiệp, các làng nghề truyền thống, kinh tế trang trại, kinh tế hợp tác, kinh tế hộ gia đình phát triển chậm, nên thu hút lao động quá ít, do vậy công tác giải quyết việc làm từ nội lực của tỉnh ít lợi thế. Đại học Kin h tế Hu ế Trường Đại Học Kinh Tế Huế Chuyên đề tốt nghiệp SVTH : Lê Thị Diệu Hiền Lớp : K41A KTNN -39 CHƯƠNG III CÁC GIẢI PHÁP TẠO VIỆC LÀM GIAI ĐOẠN 2011-2015 3.1. Quan điểm về giải quyết việc làm của tỉnh Giải quyết việc làm cho người lao động vừa là nhiệm vụ chiến lược lâu dài, vừa mang tính cấp bách, là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, của các cấp, các ngành, các tổ chức chính trị, xã hội và của chính người lao động. Nhà nước, các cấp có trách nhiệm xây dựng chương trình giải quyết việc làm hàng năm và từng thời kỳ, đề ra các chỉ tiêu tạo việc làm, các giải pháp thực hiện, có hệ thống các chính sách ưu đãi khuyến khích có liên quan đến tạo nhiều chỗ việc làm mới thu hút lực lượng lao động và có trách nhiệm đối với người lao động. Giải quyết việc làm phải gắn liền với việc không ngừng nâng cao chất lượng lao động, do đó phải xây dựng kế hoạch đào tạo và đào tạo lại nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu giải quyết việc làm, yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước hiện nay. Phải thống nhất quan điểm về việc làm trong nền kinh tế thị trường nhiều thành phần ở nước ta hiện nay. Đó là những hoạt động cụ thể của người lao động mang lại lợi ích cho xã hội, thu nhập cho bản thân và gia đình mà pháp luật không cấm. Người lao động có thể làm việc ở bất cứ thành phần kinh tế nào, tổ chức sản xuất nào, tự do lựa chọn nghề nghiệp, việc làm thích hợp với bản thân. 3.2. Mục tiêu giải quyết việc làm đến 2015 3.2.1. Mục tiêu chung Để có thể đạt và vượt các chỉ tiêu đề ra về lao động - việc làm trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh giai đoạn 2011-2015 thì phải đạt được các mục tiêu sau: - Cần phải đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu lao động cho phù hợp với cơ cấu kinh tế. - Nâng cao năng suất lao động, tăng thu nhập, cải thiện chất lượng cuộc sống cho người dân. Đại học Kin h tế Hu ế Trường Đại Học Kinh Tế Huế Chuyên đề tốt nghiệp SVTH : Lê Thị Diệu Hiền Lớp : K41A KTNN -40 - Tăng cường các chương trình, các dự án phát triển kinh tế - xã hội về các vùng còn nghèo nàn lạc hậu, có như vậy thì mới đẩy mạnh được mặt bằng dân trí góp phần khai thác những tiềm năng sẵn có mà chưa khai thác. 3.2.2. Mục tiêu cụ thể Căn cứ vào tình hình thực tế của địa phương, vào các chương trình mục tiêu Quốc gia về việc làm, trọng tâm các chương trình dự án hỗ trợ trực tiếp đó là: Dự án vay vốn giải quyết việc làm, Dự án hỗ trợ người lao động đi làm việc ở nước ngoài, Dự án phát triển thị trường lao động, Hoạt động nâng cao năng lực quản lý lao động việc làm, Hoạt động giám sát, tạo nhiều việc làm cho người lao động, kết hợp đào tạo nghề, nâng cao chất lượng lao động, phù hợp với thị trường tương lai. Giải quyết việc làm cho 17.500 lao động (bình quân mỗi năm 2.300 lao động) thông qua dự án của chương trình mục tiêu Quốc gia về việc làm đó là : - Giải quyết việc làm thông qua dự án vay vốn giải quyết việc làm: 7.000 người. - Giải quyết việc làm thông qua dự án hỗ trợ người lao động đi làm việc nước ngoài: 2.000 người. - Giải quyết việc làm thông qua dự án phát triển thị trường lao động: 8.500 người. - Giữ tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị ở mức dưới 4,2%. Tăng thời gian lao động ở nông thôn từ 85% trở lên. 3.3. Phương hướng giải quyết việc làm Để thực hiện mục tiêu giải quyết việc làm, thời kỳ 2011-2015 của tỉnh cần được triển khai theo các hướng cơ bản sau: 3.3.1. Giải quyết việc làm tại địa phương - Đây là hướng cơ bản và lâu dài, thông qua chuyển dịch kinh tế, hướng dẫn sản xuất kinh doanh, hổ trợ vốn tạo điều kiện mở mang dịch vụ du lịch, phát triển ngành nghề, thu hút lao động giải quyết việc làm tại chỗ. - Tiếp tục thực hiện chương trình về phát triển kinh tế-xã hội miền biển và vùng cát; miền Tây; phát triển nông, lâm, thủy sản; phát triển công nghiệp; phát triển thương mại - dịch vụ; phát triển doanh nghiệp; bảo tồn và phát triển các làng nghề Đại học Kin h tế Hu ế Trường Đại Học Kinh Tế Huế Chuyên đề tốt nghiệp SVTH : Lê Thị Diệu Hiền Lớp : K41A KTNN -41 - Xây dựng chính sách ưu tiên giải quyết lao động tại địa phương trong các dự án đầu tư sản xuất kinh doanh và xây dựng cơ bản trên địa bàn. - Xây dựng chính sách di chuyển lao động, hỗ trợ trực tiếp và việc vay vốn cho đối tượng di dân, cho những vùng do chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp. 3.3.2. Hỗ trợ xuất khẩu lao động Xuất khẩu lao động là một hướng đi thích hợp đối với một bộ phận xuất ngủ trở về hay lao động có trình độ đào tạo còn thấp. Vì trong điều kiện nền kinh tế của tỉnh hiện nay thì Nông - Lâm - Ngư nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng chủ yếu, sản xuất công nghiệp còn chậm phát triển, nên việc thu hút lao động vào làm việc trong khu vực này là rất khó khăn. Do đó vấn đề tìm kiếm thị trường lao động để đưa đi xuất khẩu lao động cũng rất quan trọng, mà Trung tâm Giới thiệu việc làm đảm nhận nhiệm vụ này. Quảng Trị có cửa khẩu Quốc tế Lao Bảo nên lao động chủ yếu đi làm việc ở Lào, Malaisia, Đài Loan... còn ở trong nước thì thành phố Hồ Chí Minh là thị trường chính. Để công tác xuất khẩu lao động được thành công thì tỉnh phải hướng dẫn, chỉ đạo cụ thể cho người lao động đặc biệt là tiếp tục thực hiện chính sách hỗ trợ cho vay vốn cho người nghèo, gia đình khó khăn, gia đình chính sách để họ có thể đi làm việc nước ngoài. Hỗ trợ khám sức khỏe, giáo dục định hướng từ nguồn ngân sách địa phương hàng năm. Đào tạo nghề cho người lao động phù hợp với yêu cầu của bên sử dụng lao động, đáp ứng thị trường xuất khẩu lao động. Đặc biệt triển khai tốt đề án hỗ trợ các huyện nghèo, đẩy mạnh công tác xuất khẩu, theo quyết định số 71/2009 QĐ-TTg ngày 29/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án hỗ trợ các huyện nghèo đẩy mạnh xuất khẩu lao động góp phần giảm nghèo bền vững giai đoạn 2009-2020 tại huyện Đakrông. 3.3.3. Hướng lao động đi làm việc ở ngoại tỉnh Vấn đề tìm kiếm thị trường để đưa lao động đi làm việc ở các tỉnh bạn là một hướng giải quyết việc làm quan trọng. Tiếp tục đầu tư trang thiết bị, nhân lực Trung tâm Giới thiệu việc làm, hoàn thiện hệ thống thông tin thị trường lao động, tổ chức sàn giao dịch việc làm. Đại học Kin h tế Huế Trường Đại Học Kinh Tế Huế Chuyên đề tốt nghiệp SVTH : Lê Thị Diệu Hiền Lớp : K41A KTNN -42 3.4. Các giải pháp và hoạt động để thực hiện mục tiêu giải quyết việc làm đến năm 2015 Quá trình sử dụng nguồn lao động và giải quyết việc làm cũng chính là quá trình tạo ra sự phù hợp giữa cung cầu lao động. Vấn đề đặt ra là lực lượng lao động ngày càng gia tăng trong khi nhu cầu sử dụng lao động thì có hạn, cho nên để đảm bảo sử dụng nguồn lao động có hiệu quả thì tinh cần phải đưa ra một số giải pháp để giải quyết việc làm cho người lao động. Trong những năm qua, tỉnh cũng đã cố gắng rất nhiều trong công tác giải quyết việc làm cho người lao động, nhưng hiệu quả mang lại vẫn chưa cao, vì thế để giảm tỷ lệ thất nghiệp xuống thì cần phải có biện pháp cụ thể gắn liền với thực trạng của tỉnh nhà. 3.4.1. Điều tra thống kê lao động Giao cho Sở LĐTB&XH chủ trì, phối hợp với UBND huyện, thị xã, thành phố xây dựng kế hoạch thu thập thông tin, hướng dẫn thu thập và xử lý thông tin cung cầu lao động. 3.4.2. Hoạt động cho vay vốn giải quyết việc làm Trong điều kiện khó khăn của công tác giải quyết việc làm hiện nay, việc thực hiện tốt chương trình vay vốn quỹ Quốc gia giải quyết việc làm được coi là giải pháp mũi nhọn. Trong những năm qua được sự hỗ trợ của Nhà nước cho vay vốn tạo việc làm thông qua nguồn vốn quỹ Quốc gia, tỉnh đã triển khai thực hiện có hiệu quả. Đến nay tổng nguồn vốn quỹ đến hết năm báo cáo trong dự án vay vốn giải quyết việc làm là 72 tỷ đồng, trong đó ngân sách Trung Ương là 45,9 tỷ, ngân sách địa phương là 26,1 tỷ đồng, dự kiến nguồn vốn quỹ được bổ sung hàng năm để giải quyết việc làm là 8 tỷ đồng, trong đó NSTW là 5 tỷ đồng, ngân sách địa phương là 3 tỷ đồng. Như vậy dự kiến tổng nguồn vốn đến năm 2015 là 101 tỷ đổng. Thông qua hoạt động cho vay vốn tạo việc làm, số lao động được tạo việc làm qua quỹ là 1.300 người, và dự kiến hàng năm số lao động được giải quyết việc làm sẽ tăng lên 100 người. Cho vay vốn để phục vụ cho công tác đào tạo: Các ban ngành chức năng cần tổ chức thực hiện việc cho vay vốn để hổ trợ công tác đào tạo nghề, xây dựng hệ thống trường lớp đào tạo, cũng như chi phí đào tạo. Đồng thời hỗ trợ tài chính để bố trí việc làm tạm thời cho những người đăng ký việc làm, giúp người sử dụng lao động giảm Đại học Kin h ế Hu ế Trường Đại Học Kinh Tế Huế Chuyên đề tốt nghiệp SVTH : Lê Thị Diệu Hiền Lớp : K41A KTNN -43 một phần chi phí tiền lương khi tiếp tục bố trí số lao động này vào làm việc, tránh cho họ khỏi bị thất nghiệp dài hạn. Tổ chức thực hiện việc hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp nhà nước trong trường hợp khó khăn, để trợ cấp cho những người lao động giúp họ tìm việc ở các thành phần kinh tế khác tránh nguy cơ mất việc làm. Cho vay vốn nhằm tạo việc làm tại địa phương: Thực hiện việc cho vay vốn với các đối tượng thu nhập thấp, gia đình khó khăn muốn phát triển kinh tế nhưng không có vốn để sản xuất, nhằm mục đích giải quyết việc làm ngay tại địa phương. Với những đối tượng này cần cho vay vốn với lãi suất thấp, để tạo công ăn việc làm, tạo thu nhập và nâng cao chất lượng cuộc sống. Cho vay vốn và hỗ trợ một phần kinh phí cho các đối tượng đi xuất khẩu lao động. Để tăng cường hiệu quả công tác cho vay vốn quỹ quốc gia hổ trợ việc làm, áp dụng các giải pháp sau : - Tăng cường công tác tuyên truyền thông qua các lớp tập huấn nghiệp vụ thông qua các hội, đoàn thể quần chúng, phương tiện thông tin đại chúng để mọi người dân hiểu rõ và tham gia thực hiện chương trình có hiệu quả. - Tiến hành rà soát lại danh sách các cơ sở, các doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH mới thành lập trên địa bàn tỉnh có nhu cầu vay vốn. Còn đối với các dự án của chương trình 120 nếu năm sau mà không có phương án mở rộng quy mô thì không tiếp tục hổ trợ vốn vay. - Đối với các huyện, thị xã thì nên ưu tiên tập trung nguồn vốn vay cho các dự án phát triển nghề tiểu thủ công nghiệp, trang trại, làng nghề...mà có quy mô tương đối lớn nhằm vừa thu hút việc làm mới cho người lao động vừa góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động ở khu vực nông thôn. Đối với dự án chăn nuôi, trồng trọt có quy mô nhỏ lẽ, phân tán với mức vốn thấp thì nên bố trí cho vay theo kênh phục vụ người nghèo. - Tăng cường sự phối hợp chặt chẻ giữa Ban chỉ đạo cấp tỉnh và các huyện, thị xã, các cơ quan với các địa phương để kịp thời điều chuyển vốn. Đại học Kin h tế Hu ế Trường Đại Học Kinh Tế Huế Chuyên đề tốt nghiệp SVTH : Lê Thị Diệu Hiền Lớp : K41A KTNN -44 3.4.3. Tìm kiếm và mở rộng thị trường lao động Tổ chức tìm kiếm thị trường lao động, đặc biệt là cơ sở sản xuất kinh doanh ở thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía nam, thị trường lao động ở Lào, Malaisia, Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản...để đưa lao động đi làm việc. Đồng thời kiểm tra nắm bắt những thông tin về lao động đã tìm được việc làm, giúp họ có công việc ổn định. 3.4.4. Hỗ trợ xuất khẩu lao động Muốn đẩy mạnh công tác xuất khẩu thì tỉnh cần phải: - Hỗ trợ kinh phí và cho lao động được vay vốn. - Tổ chức công tác dạy nghề, đào tạo nghề, đào tạo ngoại ngữ cho người lao động. - Thường xuyên nắm bắt thông tin và quan hệ chặt chẻ với các đơn vị được phép xuất khẩu lao động để có chỉ tiêu đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài. Công ty xuất nhập khẩu và trung tâm dịch vụ cần hoạt động tích cực hơn trong việc tìm kiếm thị trường, tìm đối tác để đưa lao động đi làm việc. - Các cơ quan chức năng cần có sự phối hợp chặt chẻ, đơn giản hóa các thủ tục hành chính, sơ tuyển, vay vốn...nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động. - Lựa chọn các cơ quan, doanh nghiệp có uy tín để giới thiệu về địa bàn trực tiếp tuyển chọn lao động đi làm việc nước ngoài. - Về cơ chế chính sách thì cần nâng cao vai trò, trách nhiệm của các ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách cho người lao động vay vốn đi xuất khẩu. - Hổ trợ chi phí học tập ngoại ngữ, giáo dục định hướng nghề nghiệp và khám sức khoẻ cho người lao động tham gia xuất khẩu lao động. - UBND các huyện, thị xã chỉ đạo các phòng ban liên quan, xây dựng đề án chính sách hổ trợ cho người lao động: làm hộ chiếu, khám sức khoẻ và bảo lãnh tín chấp cho lao động thuộc địa phương được vay vốn qua ngân hàng thương mại và ngân hàng chính sách. Đồng thời phối hợp với ở LĐ-TB & XH đẩy mạnh công tác tuyên truyền sâu rộng hơn để người lao động hiểu rõ chính sách về xuất khẩu lao động của Đảng và Nhà nước Đại ọ Kin h tế Hu ế Trường Đại Học Kinh Tế Huế Chuyên đề tốt nghiệp SVTH : Lê Thị Diệu Hiền Lớp : K41A KTNN -45 - Các trung tâm dịch vụ việc làm, các cơ sở dạy nghề tổ chức giáo dục tìm kiếm thêm những đơn vị làm nhiệm vụ xuất khẩu lao động để mở rộng thị trường đưa lao động trên địa bàn đi làm việc ở nước ngoài. 3.4.5. Đầu tư vào công tác đào tạo nghề cho người lao động Do thực trạng của lực lượng lao động tỉnh còn thấp, cho nên không thể đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi trình độ ngày càng cao. Vì vậy mà chất lượng của lực lượng lao động là rất quan trọng, đặc biệt ngày nay khi mà khoa học công nghệ hiện đại, tin tức cập nhật nhanh chóng, thì đòi hỏi lực lượng lao động phải có trình độ thì mới bắt kịp được xu thế thay đổi đó. Để nâng cao chất lượng của đội ngũ lực lượng lao động thì tỉnh cần phải quan tâm nhiều hơn cho giáo dục, vì giáo dục đào tạo nhân lực khoa học có ý nghĩa trong việc hình thành bộ phận nguồn lao động có kỹ thuật, mặt khác còn giúp cho việc thực hiện các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động tự đi tìm công việc phù hợp với mình cụ thể: - Phát triển và quản lí tốt các trung tâm dịch vụ việc làm, vì các trung tâm này có vai trò trong việc đào tạo, nâng cao tay nghề cho người lao động đáp ứng được yêu cầu của thị trường sức lao động. - Trang bị cho người học các kiến thức và kĩ năng nghề nhất định về các ngành nghề nông thôn, giúp họ tạo việc làm mới, phát triển làng nghề, phát triển các cụm hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, đưa công nghiệp sơ chế và chế biến về nông thôn và vùng nguyên liệu. Cung cấp nguồn lao động đã có trình độ tay nghề qua đào tạo cho các thành phần kinh tế để đáp ứng nhu cầu giải quyết việc làm trong nước và xuất khẩu lao động thì cần tăng cường hệ thống đào tạo, dạy nghề cho người lao động. Chẳng hạn: tỉnh phải đổi mới phương pháp, nội dung đào tạo cho phù hợp với yêu cầu phát triển của thị trường sức lao động, đồng thời kết hợp giữa học và hành, gắn cơ sở đào tạo với các cơ sở sản xuất, khuyến khích mở rộng đào tạo dưới nhiều hình thức, nhiều lực lượng tham gia, đáp ứng yêu cầu lao động kỹ thuật cho thị trường. Tùy từng vùng mà có hình thức đào tạo cho phù hợp: Đại họ Kin h tế Hu ế Trường Đại Học Kinh Tế Huế Chuyên đề tốt nghiệp SVTH : Lê Thị Diệu Hiền Lớp : K41A KTNN -46 - Hình thức đào tạo ngắn hạn (dưới 1 năm): bao gồm Đào tạo theo hình thức lưu động đến tận xã, thôn, bản làng để giải quyết việc làm tại chổ (áp dụng cho các nghề trồng trọt: trồng hoa, cây ăn quả, cây công nghiệp, cây lương thực, thực phẩm trồng rừng...) hình thức này rất thích hợp cho các vùng đồng bào dân tộc, vùng núi, vùng biển (trung du, Mò ó, Gio An, Hải Sơn...) Đào tạo theo hình thức tổ chức các lớp dạy nghề, truyền nghề thông qua kèm cặp vừa học, vừa làm tại các cơ sở sản xuất: nghề mộc, đan lát, may, thêu ren, nấm..... Đào tạo theo hình thức tổ chức các lớp học tại các trường, trung tâm dạy nghề của tỉnh Đào tạo theo hình thức tổ chức các lớp tập huấn hướng dẫn kỹ thuật, thao tác sản xuất, kết hợp đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới vào để nâng cao chất lượng sản phẩm. Hình thức này thích hợp cho các ngành tiểu thủ công nghiệp, chế biến. - Hình thức dài hạn (1-3 năm): Tổ chức các lớp học tại các trường, trung tâm dạy nghề của tỉnh. Tổ chức các lớp học tại các trường, trung tâm dạy nghề của tỉnh bạn. + Hổ trợ một phần kinh phí để giúp đở cho việc đào tạo nghề nghiệp cho cán bộ, công nhân kỹ thuật đang làm việc để họ có thể nắm bắt yêu cầu mới. + Tích cực phối hợp và cộng tác chặt chẻ với các nhà khoa học, các viện nghiên cứu, các trường đại học trong và ngoài nước trong việc giải quyết những vấn đề thực tế lao động sản xuất và trong lĩnh vực phát triển nguồn nhân lực, như mở các lớp học tại chức cho cán bộ công nhân viên, các lớp đào tạo nghề ngắn hạn cho công nhân... + Có chính sách ưu đãi để thu hút giáo viên về giảng dạy trong các cơ sở dạy nghề. động viên khuyến khích người lao động tham gia học nghề, khảo sát nhu cầu sử dụng lao động của các doanh nghiệp trên địa bàn toàn tỉnh để có chương trình, kế hoạch đào tạo nghề và cung ứng lao động. + Khuyến khích các nguồn lực từ các doanh nghiệp, các tổ chức, các cá nhân đầu tư cho dạy nghề, mở rộng ngành nghề đào tạo theo hướng xã hội hóa về dạy nghề. + Các cấp ủy Đảng, chính quyền, các tổ chức đoàn thể phải tuyên truyền, giáo dục về đào tạo nghề đến mọi tầng lớp nhân dân để họ nhận thức được muốn thoát khỏi đói nghèo, muốn làm giàu thì ít nhất phải có một nghề tinh thông. Đại học Kin h tế Hu ế Trường Đại Học Kinh Tế Huế Chuyên đề tốt nghiệp SVTH : Lê Thị Diệu Hiền Lớp : K41A KTNN -47 + Các địa phương phải có chính sách đầu tư cho đào tạo nguồn nhân lực để khuyến khích dạy nghề, học nghề, đặc biệt là đào tạo công nhân kỹ thuật có tay nghề thực hành cao. Thực hiện xã hội hóa công tác đào tạo nghề, riêng con em các đối tượng thuộc diện chính sách, con thương binh, bệnh binh, con em hộ nghèo, các đối tượng tệ nạn xã hội thì tỉnh cần phải có chính sách đào tạo miễn phí một phần cho người học. + Tăng cường công tác tư vấn việc làm để định hướng cho người lao động lựa chọn nghề để đào tạo và bản thân họ tự lựa chọn hình thức đào tạo, tìm kiếm cơ hội có việc làm. Do đó cần phải đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, coi trọng dân trí, chú ý đào tạo lực lượng lao động kỹ thuật, đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật và cán bộ quản lý đầu đàn cho sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa. Mặt khác đứng trước xu thế tiến bộ của khoa học kỹ thuật, công nghệ hiện đại, giao lưu quốc tế diễn ra ngày càng mạnh mẽ, đòi hỏi người lao động phải thường xuyên học tập, trau dồi kiến thức, vì nếu không thì sẽ trở nên lỗi thời, lạc hậu không còn phù hợp nữa. Ở khu vực nông thôn, ở vùng núi: Nên đào tạo tại chổ các nghề gắn liền với nông nghiệp, chăn nuôi, trồng trọt hoặc một số nghề tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ để sử dụng có hiệu quả thời gian nhàn rỗi của người dân như: chổi đót (Gio Linh, Cam Lộ), mây giang đan (Triệu Phong, Hải Lăng), chăn nuôi trâu bò, lợn nạc (Hướng Hóa, Gio Linh, Cam Lộ), nón lá (Bố liêu-Triệu Phong, Trà lộc-Hải Lăng), bún bánh (phường lang-Hải Lăng), khôi phục các làng nghề truyền thống: dệt thổ cẩm (Cam Lộ, Hướng Hóa), thêu ren xuất khẩu (Hải Lăng), rượu Kim long (Hải Lăng). Còn ở khu vực thành phố, thị xã: Nên đào tạo các nghề thuộc về sản xuất cơ khí, chế biến.Chú trọng chọn ngành nghề để đào tạo cho người lao động phù hợp với thực tế nhu cầu sử dụng lao động, chú trọng đào tạo các ngành nghề phục vụ cho các lĩnh vực: chế biến lương thực, thực phẩm, sản xuất hàng tiêu dùng, cắt gọt kim loại, vật liệu xây dựng, sữa chửa cơ khí, dịch vụ điện-điện tử, trồng hoa cây cảnh (Đông Giang, Đông Thanh-Đông Hà), nghề trồng nấm (Đông Thanh, Đông Giang). Ở khu vực ven biển: thì chú ý đào tạo, tập huấn cho các lớp chế biến, xử lý bảo quản hải sản sau thu hoạch, nghề đan lưới (Thâm Khê-Hải Lăng), nghề chế biến nước mắm, nghề đóng tàu, sửa chửa tàu thuyền. Đặc biệt là muốn khai thác được thế mạnh Đại học Kin h tế Hu ế Trường Đại Học Kinh Tế Huế Chuyên đề tốt nghiệp SVTH : Lê Thị Diệu Hiền Lớp : K41A KTNN -48 của các bãi biển thì đòi hỏi người dân ở đây phải có cách nhìn mới hơn về ngành du lịch, về các hoạt động thu hút du khách do đó yêu cầu người dân phải có trình độ. Tuy nhiên để nâng cao chất lượng của lực lượng lao động không chỉ về mặt trình độ, tri thức mà cả về mặt sức khỏe, thể lực, do sức khỏe là một yếu tố rất quan trọng không thể thiếu được. Vì một khi con người ta có đủ sức khỏe thì mới đủ khả năng để làm việc và để học tập. Do đó tỉnh phải quan tâm hơn nữa đến chất lượng cuộc sống cho người lao động. Vì một số công việc rất cần sức khỏe, nếu như có trình độ mà không có sức khỏe cũng không thể làm được các công việc độc hại, nặng nhọc như: sản xuất xi măng, vật liệu xây dựng 3.4.6. Giải pháp về mặt tổ chức Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, vấn đề việc làm và giải quyết việc làm rất khác xa so với cơ chế cũ, Nhà Nước không còn trực tiếp lo tạo việc làm và giải quyết việc làm cho từng người lao động mà chủ yếu là tạo điều kiện, môi trường thuận lợi để mọi tổ chức, mọi cá nhân tự tạo việc làm. Vì vậy phải có sự chỉ đạo sát sao của các cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương, của các cơ quan ban ngành nhằm tạo được một phong trào quần chúng thật sự sôi nổi và rộng khắp, toàn dân tham gia tạo việc làm cho mình, cho gia đình và cho cộng đồng, góp phần phát triển kinh tế, đẩy mạnh sự nghiệp CNH-HĐH đất nước. Các cơ quan chức năng, các Sở, ban, ngành địa phương phải cùng phối hợp chặt chẽ trong công tác giải quyết việc làm của tỉnh. Đồng thời tham mưu, kiểm tra, giám sát, đánh giá các chương trình, kết quả đạt được để trên cơ sở đó tổng hợp phân tích đưa ra những giải pháp thiết thực cho công tác giải quyết việc làm nói riêng và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội nói chung. Kiện toàn bộ máy tổ chức cùng với ban chỉ đạo các dự án, chương trình mục tiêu việc làm của tỉnh và địa phương. Các cơ quan và thành viên phải xác định rõ quyền hạn và trách nhiệm, để hoàn thành tốt công tác nhiệm vụ được giao. Cụ thể: Đại học Kin h tế Hu ế Trường Đại Học Kinh Tế Huế Chuyên đề tốt nghiệp SVTH : Lê Thị Diệu Hiền Lớp : K41A KTNN -49 Ở cấp xã, phường Chủ tịch UBND xã, phường là người chịu trách nhiệm xây dựng chương trình việc làm của các xã, phường trình hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định về tổ chức thực hiện. Ở cấp huyện, thị xã: Chủ tịch UBND Huyện, thị xã có trách nhiệm tổ chức xây dựng chương trình giải quyết việc làm lập quỹ việc làm ở cấp mình để trình hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định và tổ chức thực hiện. Ở cấp Tỉnh, Thành phố: Ban chỉ đạo chương trình giải quyết việc làm của tỉnh chịu trách nhiệm xây dựng chương trình việc làm của tỉnh hàng năm và từng thời kỳ báo cáo UBND Tinh. Đổng thời giúp UBND Tỉnh chỉ đạo thực hiện chương trình việc làm của cấp tỉnh, thành phố trên địa bàn. Xây dựng quy chế, quy trình để thực hiện chương trình; kiểm tra đánh giá hiệu quả chương trình trong từng thời kỳ. Đại học Kin h tế Hu ế Trường Đại Học Kinh Tế Huế Chuyên đề tốt nghiệp SVTH : Lê Thị Diệu Hiền Lớp : K41A KTNN -50 PHẦN III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ I. KẾT LUẬN Giải quyết việc làm là một trong những chính sách xã hội cơ bản, là nhiệm vụ kinh tế - chính trị trọng yếu trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Đảng, Nhà nước ta. Nó vừa là biện pháp quan trọng để sử dụng có hiệu quả nguồn lực lao động - một nguồn lực quý giá phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Chính vì vậy, vấn đề giải quyết việc làm nếu không được giải quyết tốt không những để lãng phí nguồn nhân lực, hạn chế sự phát triển mà còn là nguyên nhân làm nảy sinh tiêu cực trong đời sống xã hội và các tệ nạn xã hội khác, lúc đó sẽ trở thành gánh nặng cho xã hội. Quảng Trị tuy có nguồn lao động trẻ lại dồi dào, nhưng do chất lượng vẫn còn thấp, mặt khác tỉnh đi lên từ xuất phát điểm thấp, hạ tầng cơ sở kém phát triển, nền công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ của tỉnh chậm phát triển, là một tỉnh thuần nông lại chịu ảnh hưởng của điều kiện thiên nhiên không mấy thuận lợi. Do đó ảnh hưởng đến sự phát triển sản xuất, đời sống của nhân dân, đồng thời làm cho công tác giải quyết việc làm thêm khó khăn và phức tạp. Vì thế muốn tạo ra việc làm ngày càng nhiều thì đòi hỏi phải có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động nhanh chóng, phát triển mạnh hệ thống đào tạo, dạy nghề nhằm nâng cao chất lượng nguồn lao động, đa dạng hóa các thành phần kinh tế, mở rộng nhiều ngành nghề mới. Tăng cường nguồn nhân lực cho Quỹ việc làm Quốc Gia nhằm đáp ứng nhu cầu vay vốn phát triển sản xuất kinh doanh, tăng thu nhập cho người lao động. Đồng thời phải có những chính sách, giải pháp đồng bộ có hiệu quả thiết thực đối với các thành phần kinh tế để thu hút lao động. Có như vậy mới giải quyết được một cách cơ bản lao động thất nghiệp và thiếu việc làm. Đại học Kin h tế Hu ế Trường Đại Học Kinh Tế Huế Chuyên đề tốt nghiệp SVTH : Lê Thị Diệu Hiền Lớp : K41A KTNN -51 Bên cạnh đó phải có sự chỉ đạo của đảng ủy, của các cơ quan ban ngành nhằm vạch ra những chính sách, giải pháp đồng bộ có hiệu quả thiết thực, nhất là phải phù hợp với tình hình thực tế của tỉnh. Phải tạo điều kiện cho mọi người lao động tham gia tạo việc làm cho mình và cho người khác vừa góp phần giải quyết khó khăn trước mắt, vừa đẩy mạnh nền kinh tế tỉnh nhà phát triển thoát khỏi cảnh nghèo nàn lạc hậu. II. KIẾN NGHỊ Để đẩy mạnh công tác xuất khẩu lao động, đề nghị Sở Lao động Thương binh và xã hội, tăng cường công tác tìm kiếm thị trường lao động hấp dẫn hơn với người lao động. Mặt khác cần phối hợp nghiên cứu ban hành cơ chế, chính sách cho người lao động các tỉnh còn nghèo đưa dược nhiều người đi làm việc ở nước ngoài, góp phần giải quyết việc làm tăng trưởng kinh tế , xóa đói giảm nghèo. Thực tế hiện nay, nhiều lao động nghèo có nhu cầu đi làm việc nhưng vốn ít, đa số các hộ gia đình ở nông thôn ít nhiều đang vay vốn ở ngân hàng , nên khi người lao động muốn vay vốn rất khó khăn. Với điều kiện của những địa phương còn khó khăn trong công tác giải quyết việc làm thì chính sách hổ trợ vốn vay với lãi suát thấp giải quyết việc làm đóng vai trò khá quan trọng, là một trong những giải pháp chủ yếu để thực hiện chương trình, mục tiêu việc làm. Do đó phải đề nghị tỉnh nghiên cứu cải tiến cơ chế của chương trình vay vốn quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm để tăng cường hiệu quả các dự án, mục tiêu thu hút lao động việc làm của chương trình. Hàng năm bổ sung nguồn vốn mới nhiều hơn cho các địa phương mà điều kiện giải quyết việc làm cho người lao động còn khó khăn so với các địa phương khác có thuận lợi hơn. Để tạo điều kiện cho các địa phương thực hiện tốt chương trình vay vốn quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm, kính đề nghị chính quyền các cấp xem xét. Để nâng cao chất lượng của đội ngũ lao động thì cần nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng, trang thiết bị giảng dạy, đào tạo đội ngũ giáo viên có trình độ chuyên môn nghiệp vụ ... Để góp phần tạo ra nhiều việc làm hơn cho người lao động thì trong kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm (2011-2015) và hàng năm tỉnh cần phải xác định rõ các mục tiêu, các chỉ tiêu về việc làm mới, từ đó có các giải pháp về tạo môi trường Đại học Kin h tế Hu ế Trường Đại Học Kinh Tế Huế Chuyên đề tốt nghiệp SVTH : Lê Thị Diệu Hiền Lớp : K41A KTNN -52 cũng như hổ trợ về tài chính nhằm khuyến khích mọi người tự tạo việc làm cho mình và cho người khác. đặc biệt cho những đối tượng yếu thế trong việc tìm kiếm hoặc tự tạo việc làm. Quảng Trị là một tỉnh còn nghèo, đặc biệt là ở khu vực nông thôn và miền núi hệ thống cơ sỏ hạ tầng còn thấp kém nên kinh tế chậm phát triển. Vì vậy mà người lao động còn gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm, do đó đề nghị tỉnh xem xét hổ trợ vốn, tạo các điều kiện thuận lợi để đầu tư nâng cấp hơn nữa cho các khu vực này, phải có sự ưu đãi để khuyến khích các nhà đầu tư. Tạo điều kện thuận lợi và nhiều chính sách ưu đãi để thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào đầu tư, có như vậy thì mới thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo mở việc làm, phát triển thị trường lao động. Đây cũng là cơ hội đẩy mạnh xuất khẩu lao động. Tăng cường vai trò quản lý của UBND trong việc quản lý-sử dụng có hiệu quả nguồn lao động, nhằm tạo điều kiện quán triệt công tác giải quyết việc làm của các huyện thị xã. Mở rộng kinh tế đối ngoại, đẩy mạnh xuất khẩu lao động, hình thành các khu du lịch, các cụm công nghiệp...kết hợp giữa giải quyết việc làm tại chổ và bố trí phân lại lao động trên địa bàn toàn tỉnh thông qua việc thực hiện chương trình dự án kinh tế xã hội. Trên đây là toàn bộ nội dung chuyên đề của tôi, tôi đã cố gắng trình bày một cách đầy đủ về lý luận, mục tiêu, phương hướng, cùng với thực trạng của công tác giải quyết việc làm ở tỉnh Quảng Trị trong những năm gần đây. Tuy nhiên, do thời gian và trình độ có hạn nên không thể tránh khỏi sai sót trong cách hành văn và sắp xếp ý, rất mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô và bạn đọc, khi có điều kiện tôi sẽ nghiên cứu hoàn thiện hơn. Đại học Kin h tế H ế Trường Đại Học Kinh Tế Huế Chuyên đề tốt nghiệp SVTH : Lê Thị Diệu Hiền Lớp : K41A KTNN -53 DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Niên giám thống kê tỉnh quảng trị năm 2009 - Cục thống kê Quảng Trị. 2. Báo cáo tổng kết thực hiện chương trình mục tiêu việc làm giai đoạn 2006-2010, dự kiến chương trình mục tiêu việc làm giai đoạn 2011-2015. 3. Hướng dẫn nghiệp vụ giải quyết việc làm. (Bộ lao động thương binh và xã hội - Vụ lao động việc làm). 4. Bộ luật lao động (1983) NXBTG, Hà Nội. 5. Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2011-2015 của UBND tỉnh Quảng Trị. 6. Kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở 1/4/2009 - Cục thống kê Quảng Trị. 7. Hệ thống các văn bản pháp quy về lao động xã hội. Chính sách lao động việc làm- tập 1. NXB lao động. 8. Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2001-2005 của UBND tỉnh Quảng Trị. 9. Phân tích giải pháp tài chính giải quyết việc làm trong điều kiện hội nhập kinh tế. - PGS.TS. Ngô Thế Chi, TS. Nguyễn Văn Dần. - NXB thống kê Hà Nội. Đại học Kin h tế Hu ế Trường Đại Học Kinh Tế Huế Chuyên đề tốt nghiệp SVTH : Lê Thị Diệu Hiền Lớp : K41A KTNN -54 DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Niên giám thống kê tỉnh quảng trị năm 2009 - Cục thống kê Quảng Trị. 2. Báo cáo tổng kết thực hiện chương trình mục tiêu việc làm giai đoạn 2006-2010, dự kiến chương trình mục tiêu việc làm giai đoạn 2011-2015. 3. Hướng dẫn nghiệp vụ giải quyết việc làm. (Bộ lao động thương binh và xã hội - Vụ lao động việc làm). 4. Bộ luật lao động (1983) NXBTG, Hà Nội. 5. Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2011-2015 của UBND tỉnh Quảng Trị. 6. Kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở 1/4/2009 - Cục thống kê Quảng Trị. 7. Hệ thống các văn bản pháp quy về lao động xã hội. Chính sách lao động việc làm- tập 1. NXB lao động. 8. Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2001-2005 của UBND tỉnh Quảng Trị. 9. Phân tích giải pháp tài chính giải quyết việc làm trong điều kiện hội nhập kinh tế. - PGS.TS. Ngô Thế Chi, TS. Nguyễn Văn Dần. - NXB thống kê Hà Nội. Đại học Kin h tế Hu ế

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfthuc_trang_lao_dong_viec_lam_va_phuong_huong_giai_quyet_viec_lam_co_hieu_qua_o_tinh_quang_tri_6673.pdf
Luận văn liên quan