Luận án Hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

Để thu thập chứng cứ, người bào chữa có quyền gặp người mà mình bào chữa, bị hại, người làm chứng và những người khác biết về vụ án để hỏi, nghe họ trình bày về những vấn đề liên quan đến vụ án; đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử liên quan đến việc bào chữa. Trong quá trình người bào chữa thu thập chứng cứ, cơ quan, tổ chức, cá nhân không hợp tác mà không có lý do chính đáng thì tùy mức độ sẽ bị xử lý theo quy định tại Chương XXXII của Bộ luật này

pdf215 trang | Chia sẻ: tueminh09 | Ngày: 09/02/2022 | Lượt xem: 88 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận án Hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
n sĩ luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia, Hà Nội. 35. Nguyễn Ngọc Kiện (2014), “So sánh các quy định về thủ tục xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm của Mỹ, Pháp, Nga và Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (07). 36. Nguyễn Ngọc Kiện (2015), “Mối quan hệ giữa các chủ thể tranh tụng tại phiên tòa hình sự sơ thẩm - Thực trạng và đề xuất”, Tạp chí Nghề luật, (06). 37. Nguyễn Ngọc Kiện (2015), “Thủ tục xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm ở Nhật Bản và gợi mở đối với Việt Nam”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, (324). 38. Nguyễn Hiển Khanh (2006), “Một số giải pháp để nâng cao chất lượng hoạt động tranh tụng của kiểm sát viên tại hiên tòa sơ thẩm hình sự”, Tạp chí Kiểm sát, (23). 39. Bùi Thị Hà (2010), “Tranh tụng tại phiên tòa theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội. 40. Phạm Hồng Hải (2003), Mô hình lý luận Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội. 41. Nguyễn Mạnh Hùng (2012), Các chức năng trong tố tụng hình sự Việt Nam- Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận án tiến sĩ luật học, Học viện khoa học xã hội, Hà Nội. 42. Nguyễn Văn Huyên (2004), Kĩ năng xét xử vụ án hình sự, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội. 43. Nguyễn Thị Thúy Hằng (2014), “Một số kiến nghị góp phần thực hiện có hiệu quả nguyên tắc tranh tụng tại phiên tòa hình sự”, Tạp chí Tòa án nhân dân, (11). 44. Nguyễn Văn Hiển (2010), “Thực trạng vai trò của luật sư trong tranh tụng tại các phiên tòa ở nước ta thời gian qua”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, (7). 45. Nguyễn Văn Hiển (2011), Về nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng hình sự, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội. 46. Tô Văn Hòa (chủ biên) (2012), Những mô hình tố tụng hình sự điển hình trên thế giới, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội. 47. Phan Trung Hoài (2012), Hành nghề luật sư trong vụ án hình sự, Nxb. Tư pháp, Hà Nội. 48. Nguyễn Thị Hiền (2011), “Cơ sở lý luận và thực tiễn của nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay”, Luận án Tiến sĩ luật học, Học viện chính trị - hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. 49. Nguyễn Quốc Hưng (1956), Hình sự - Tố tụng lược giảng, Sài Gòn. 50. Trần Thị Hương (2018), Chất lượng tranh tụng của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự ở Việt Nam, Luật án Tiến sĩ luật học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. 51. Nguyễn Tiến Long (2005), “Một số giải pháp để đảm bảo quyền và nghĩa vụ của người bào chữa khi tranh tụng tại phiên tòa xét xử hình sự”, Tạp chí Kiểm sát, (17). 52. Lê Huy Liệu (2002), “Bàn về việc xét hỏi của Viện kiểm sát tại phiên tòa xét xử hình sự”, Tạp chí Kiểm sát, (8). 53. Vũ Gia Lâm (2015), “Hoàn thiện quy định của Bộ luật tố tụng hình sự bảo đảm nguyên tắc tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm”, Tạp chí Luật học, (1). 54. Uông Chu Lưu (2006), “Cải cách các cơ quan tư pháp, hoàn thiện hệ thống các thủ tục tư pháp, nâng cao hiệu quả và hiệu lực xét xử của Tòa án trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân”, Đề tài cấp Nhà nước KX.04.06, Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp, Hà Nội. 55. Võ Thị Hồng Luyến (2011), “Một số vấn đề về hoạt động tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa hình sự sơ thẩm”, Tạp chí Kiểm sát, (18). 56. Nguyễn Đức Mai (2009), “Đặc điểm của mô hình tố tụng tranh tụng và phương hướng hoàn thiện mô hình tố tụng hình sự Việt Nam”, Tạp chí Tòa án nhân dân, (22). 57. Nguyễn Đức Mai (2008), “Hoàn thiện một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành nhằm nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm”, Tạp chí Luật học, (07). 58. Nguyễn Đức Mai (2011), đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở “Hoàn thiện các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 liên quan đến tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm - Cơ sở lý luận và thực tiễn”, Tòa án nhân dân tối cao, Hà Nội. 59. Nguyễn Nông (2002), “Bàn về vấn đề tranh tụng trong tố tụng hình sự Việt Nam”, Tạp chí Kiểm sát, (9). 60. Trần Đình Nhã (2013), “Một số vấn đề về quyền tư pháp, hoạt động tư pháp, cơ quan tư pháp, kiểm sát hoạt động tư pháp”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (16). 61. Từ Văn Nhũ (2002), “Đổi mới thủ tục xét xử nhằm nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa hình sự”, Tạp chí Tòa án nhân dân, (11). 62. Nhà pháp luật Việt – Pháp (1997), Tố tụng hình sự và vai trò của Viện công tố trong tố tụng hình sự, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội. 63. Nguyễn Thị Hằng Như (2009) “Tranh tụng giữa kiểm sát viên và người bào chữa tại phiên tòa hình sự Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ luật học, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội. 64. Nguyễn Thị Hồng Nhung (2014),“Cơ sở lý luận và thực tiễn về tranh tụng tại phiên tòa trong xét xử vụ án hình sự ở tỉnh Bắc Ninh”, Luận văn Thạc sĩ luật học, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội. 65. Võ Thị Kim Oanh (2012), Xét xử sơ thẩm trong tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. 66. Võ Thị Kim Oanh (2006), “Nguyên tắc tranh tụng, giải pháp nâng cao chất lượng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự”, Tạp chí Kiểm sát, (17). 67. Nguyễn Như Phát (2004), “Một số ý kiến về cải cách tư pháp ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, (3). 68. Phạm Văn Phiếm (2015), “Tranh tụng trong xét xử theo luật tố tụng hình sự Việt Nam” (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắk Nông), Luận văn Thạc sĩ luật học, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội. 69. Cao Xuân Phong (2003), “Một số bất cập của các quy định về tranh tụng và hướng khắc phục”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, (8). 70. Nguyễn Thái Phúc (2015), “Bình luận về nguyên tắc tranh tụng trong Dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi)”, Tạp chí Kiểm sát, (9). 71. Nguyễn Thái Phúc (2003), “Vai trò, trách nhiệm của Kiểm sát viên và thủ tục tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm”, Tạp chí Thông tin khoa học pháp lý, (9). 72. Nguyễn Thái Phúc (2008), “Vấn đề tranh tụng và tăng cường tranh tụng trong tố tụng hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, (8). 73. Ngô Hồng Phúc (2003), “Vấn đề nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa”, Tạp chí Tòa án nhân dân, (2). 74. Tôn Thiện Phương (2003), “Cần có nhận thức đúng đắn về mối quan hệ giữa Viện kiểm sát và Tòa án trong xét xử vụ án hình sự”, Tạp chí Kiểm sát, (3). 75. Hồ Nguyễn Quân (2014), “Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa hình sự”, Tạp chí Tòa án nhân dân, (1). 76. Đinh Văn Quế (1999), “Lời luận tội của Viện kiểm sát tại phiên tòa”, Tạp chí Kiểm sát, (7). 77. Đinh Văn Quế (2001), Thủ tục xét xử sơ thẩm trong luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia. 78. Đinh Văn Quế (2004), “Vai trò Hội đồng xét xử trong việc tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm hình sự”, Tạp chí Tòa án nhân dân, (1). 79. Đinh Văn Quế (2006), “Những vấn đề lý luận và thực tiễn về việc xét hỏi của Kiểm sát viên tại phiên tòa hình sự”, Tạp chí Kiểm sát, (8). 80. Lương Thị Mỹ Quỳnh (2013), Quyền có người bào chữa trong tố tụng hình sự Việt Nam, Đức và Hoa Kì, Nxb. Chính trị quốc gia. 81. Quốc hội (1988), Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988, Hà Nội. 82. Quốc hội (2003), Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, Hà Nội. 83. Quốc hội (2013), Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2013, Hà Nội. 84. Quốc hội (2014), Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, Hà Nội. 85. Quốc hội (2015), Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. 86. Huỳnh Sáng (2004), “Về việc thực hiện thủ tục xét hỏi kết hợp với tranh tụng tại phiên tòa”, Tạp chí Tòa án nhân dân, (3). 87. Hồ Hồng Sâm (2005), “Hoàn thiện mối quan hệ giữa Tòa án và Viện kiểm sát trong quá trình giải quyết vụ án hình sự”, Tạp chí Kiểm sát, (2). 88. Hoàng Thị Sơn, Bùi Kiên Điện (2000), Những nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân. 89. Hoàng Thị Minh Sơn (2009), “Hoàn thiện một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về thủ tục phiên tòa sơ thẩm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp”, Tạp chí Luật học, (10). 90. Hoàng Thị Minh Sơn (2015), Khái niệm, vị trí, vai trò, ý nghĩa của các chức năng tố tụng hình sự, Kỉ yếu hội thảo khoa học, Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội. 91. Học viện Tư pháp (2004), Đề tài cấp Bộ “Tranh tụng tại phiên tòa - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Hà Nội. 92. Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh, Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản Jica (2012), Sổ tay quy trình giải quyết án hình sự, Nxb. Thanh niên. 93. Nguyễn Văn Tuân (2015), Một số vấn đề về luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb. Tư pháp, Hà Nội. 94. Phạm Văn Tuấn (2013), “Các điều kiện đảm bảo hoạt động tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự”, Tạp chí Kiểm sát, (11). 95. Đỗ Thị Ngọc Tuyết (2004), “Bàn về nguyên tắc độc lập xét xử của Tòa án và việc tăng cường tranh luận tại phiên tòa xét xử hình sự”, Tạp chí Kiểm sát, (7). 96. Phạm Minh Tuyên (2014), “Bàn về tranh tụng tại các phiên tòa hình sự”, Tạp chí Kiểm sát, (12). 97. Nguyễn Trương Tín (2008), “Một số vấn đề về mối quan hệ giữa tranh tụng trong tố tụng hình sự với chức năng xét xử của tòa án trong bối cảnh cải cách tư pháp”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, (10). 98. Trần Quang Tiệp (2003), Lịch sử Luật Tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội. 99. Lê Nguyên Thanh (2015), “Hoàn thiện các quy định về chứng minh trong tố tụng hình sự nhằm đảm bảo quyền bào chữa và đảm bảo tranh tụng”, Tạp chí Khoa học pháp lý, (8). 100. Liên đoàn Luật sư Việt Nam, Báo cáo tổng kết công tác năm 2010, 2011, 2012, 2013, 2014, 2015, 2016, 2017, 2018, 2019, Hà Nội. 101. Hoàng Văn Thành (2015), “Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam”, Luận án Tiến sĩ luật học, Học viện chính trị - hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. 102. Lê Hữu Thể, Đỗ Văn Đương, Nguyễn Thị Thủy (đồng chủ biên) (2013), Những vấn đề lí luận và thực tiễn cấp bách của việc đổi mới thủ tục tố tụng hình sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội. 103. Nguyễn Thị Thủy (2014), “Mô hình tố tụng hình sự Việt Nam và vấn đề áp dụng tố tụng tranh tụng”, Luận án Tiến sĩ luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội. 104. Nguyễn Văn Trượng (2008), “Bàn về việc bảo đảm quyền bình đẳng của luật sư bào chữa thi tham gia tranh tụng tại phiên tòa hình sự”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, (5). 105. Nguyễn Văn Trượng (2008), “Thực trạng tranh tụng tại phiên tòa hình sự và việc nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa theo tinh thần cải cách tư pháp”, Tạp chí Tòa án nhân dân, (13). 106. Nguyễn Văn Trượng (2013), “Hoàn thiện thủ tục xét xử vụ án hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, (số chuyên đề). 107. Lê Tài Triển (chủ biên), Nguyễn Văn Lượng, Trần Thúc Linh (1971), Nhiệm vụ của Công tố Viện, Sài Gòn. 108. Tòa án nhân dân tối cao, Báo cáo tổng kết công tác ngành Tòa án năm 2010, 2011, 2012, 2013, 2014, 2015, 2016, 2017, 2018, 2019, Hà Nội. 109. Trịnh Khắc Triệu (2003), “Vai trò, nhiệm vụ và việc tranh luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm hình sự”, Tạp chí Kiểm sát, (10). 110. Ngô Thị Ngọc Vân (2016), Hoạt động bào chữa của luật sư trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, Luận án tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội. 111. Trịnh Tiến Việt (2003), “Nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa hình sự”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (7). 112. Hoàng Tiến Vỹ (1999), “Để lời luận tội có chất lượng cao”, Tạp chí Kiểm sát, (7). 113. Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2006), Sổ tay Kiểm sát viên hình sự (Tập I), Nxb. Văn hóa dân tộc, Hà Nội. 114. Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2008), Nghiên cứu những cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xây dựng mô hình tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát ở Việt Nam theo yêu cầu cải cách tư pháp, Kỷ yếu đề tài cấp bộ, Hà Nội. 115. Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2011), “Hoàn thiện mô hình tố tụng hình sự Việt Nam đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp - kinh nghiệm CHLB Đức”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học, Hà Nội. 116. Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2014), “Tranh tụng và những giải pháp nâng cao chất lượng tranh tụng của Kiểm sát viên trong xét xử hình sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp”, Chuyên đề tổng hợp báo cáo của 63 Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và 3 Viện phúc thẩm. 117. Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2015), Báo cáo số 11/BC-VKSTC, Báo cáo tổng kết thực tiễn 10 năm thi hành Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, ngày 19/01/2015, Hà Nội 118. Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Báo cáo tổng kết công tác ngành kiểm sát năm 2010, 2011, 2012, 2013, 2014, 2015, 2016, 2017, 2018, 2019, Hà Nội. Tài liệu nước ngoài 119. Congressionnal Quarterly Incorporated (2004) “Outline of the U.S Legal system”. 120. Carig M. Bradley (2007), Criminal Procedure a worldwide study, Carolina Academic Press, Durham - North Carolina. 121. Christine Schuon (2010), International Criminal Procedure - A clash of legal culture, T-M-C Asser Press. 122. E. Allan Farnswarth (1963), An introduction to the legal system of the United States, Columbia law University, New York. 123. H.L.Packer (1964),“Two models of the criminal process”. 124. Hiroshi Oda (2009), Japanese Law, Oxford University Press, New York. 125. J.W.Diehm (2001),“The introduction of jury trials anh adversarial elements into the former soviet union and other inquisitorial countries”. 126. Jerold H.Israel (1991), “Criminal procedure constitutionl limitations”, Wayne R.LaFave. 127. Leadingsupreme court cases and introductory text (1992), “Criminal procedure and the constitutions”. 128. Stephen Seabrooke, John Sprack (2004), Criminal Evidence and Procedure: The essential framewwork, Black stone Press limited. 129. Phillip E.Johnson (1940), “Cases and material on criminal procedure”. 130. DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ 1. Nguyễn Thị Mai (2020) “Bản chất hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự và một số yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng tranh tụng”, Tạp chí Khoa học kiểm sát, (05). 2. Nguyễn Thị Mai (2020) “Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tranh tụng tại phiên tòa hình sự sơ thẩm”, Tạp chí Tòa án nhân dân, (12). 3. Nguyễn Thị Mai (2020) “Một số vấn đề về chủ thể tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự”, Tạp chí Giáo dục và xã hội, số đặc biệt tháng 5. Phụ lục DANH MỤC BIÊN BẢN PHIÊN TÒA ĐƯỢC KHẢO SÁT ĐỂ ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TRANH TỤNG TẠI PHIÊN TÒA XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ STT Biên bản phiên tòa hình sự sơ thẩm Luận tội của Kiểm sát viên Quan điểm bào chữa 1 Biên bản ngày 12/4/2018 của TAND TP Hà Nội, bị cáo Bùi Đức Quý và đồng phạm bị truy tố về tội “Giả mạo trong công tác” theo điểm a, b, c khoản 2 Điều 284 BLHS Giữ nguyên quan điểm truy tố Các bị cáo tự bào chữa, đề nghị xem xét lại mức hình phạt là quá nặng; Luật sư cũng đề nghị xem xét lại các tình tiết của vụ án 2 Biên bản ngày 15/6/2018 của TAND TP Hà Nội, bị cáo Bùi Kim Thành bị truy tố về tội “Giết người, Cố ý gây thương tích” theo điểm n khoản 1 Điều 123, điểm h khoản 1 Điều 134 BLHS Giữ nguyên quan điểm truy tố Các luật sư đều tranh luận về các tình tiết liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo 3 Biên bản ngày 23/4/2018 của TAND TP Hà Nội, bị cáo Lê Thị Hồng Lý bị truy tố về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo điểm a khoản 4 Điều 139, điểm b khoản 2 Điều 267 BLHS 1999 Giữ nguyên quan điểm truy tố Luật sư không có ý kiến về tội danh, đề nghị xem xét thêm tình tiết giảm nhẹ 4 Biên bản ngày 23/4/2018 của TAND TP Hà Nội, bị cáo Nguyễn Thị Minh Lợi bị truy tố về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 BLHS 2015. Giữ nguyên quan điểm truy tố Đề nghị xem xét thêm tình tiết giảm nhẹ, xét xử bị cáo dưới khung hình phạt thấp nhất của khung liền kề 5 Biên bản ngày 24/1/2018 của TAND TP Hà Nội, bị cáo Phạm Văn Hùng bị truy tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm e khoản 4 Điều 194 BLHS Giữ nguyên quan điểm truy tố Luật sư không tranh luận về tội danh. Đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo mức án thấp hơn đề nghị của VKS 6 Biên bản ngày 20/5/2018 của TAND TP Hà Nội, bị cáo Chử Tuấn Sơn bị truy tố về tội "Giết người; Cướp tài sản” theo quy định tại điểm g, n khoản 1 Điều 123 và điểm đ khoản 2 Điều 168 BLHS Giữ nguyên quan điểm truy tố Luật sư không có ý kiến gì về tội danh nhưng VKS đề nghị áp dụng điểm g khoản 1 Điều 123 BLHS là không phù hợp 7 Biên bản ngày 11/6/2018 của TAND TP Hà Nội, bị cáo Trần Thị Ngọc và đồng phạm, bị truy tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy; Vận chuyển trái phép chất ma túy; Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm b, h khoản 4, khoản 1 Điều 194 của BLHS 1999; điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015 Giữ nguyên quan điểm truy tố Tội danh thì Luật sư không ý kiến, mức hình phạt quá nặng, đề nghị xem xét thêm tình tiết giảm nhẹ 8 Biên bản ngày 31/01/2018 của TAND TP Hà Nội, bị cáo Vũ Quang Thuận và đồng phạm, bị truy tố về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” theo điểm a, c khoản 1 Điều 88 BLHS Giữ nguyên quan điểm truy tố Các luật sư đều tranh luận về các tình tiết liên quan đến vụ án, đề nghị phải làm rõ, xem xét khách quan, công bằng 9 Biên bản ngày 29/01/2018 của TAND TP Hà Nội, bị cáo Vũ Thanh Thúy và đồng phạm, bị truy tố về tội “Cố ý làm trái các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng” theo khoản 3 Điều 165 BLHS Giữ nguyên quan điểm truy tố Các luật sư đều tranh luận về các tình tiết liên quan đến vụ án, đề nghị phải làm rõ, 10 Biên bản ngày 21/01/2018 của TAND TP Hà Nội, bị cáo Vũ Văn Minh và đồng phạm, bị truy tố về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 138 BLHS Giữ nguyên quan điểm truy tố Luật sư không có ý kiến về tội danh, Đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo thấp hơn đề nghị của VKS để bị cáo được sớm trở về với gia đình 11 Biên bản ngày 24/8/2018 của TAND TP Hà Nội, bị cáo Bùi Quang Hòa bị truy tố về tội “Giết người” theo Điều 123 BLHS Giữ nguyên quan điểm truy tố Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lại tội danh cho bị cáo, giảm nhẹ hình phạt và xử phạt bị cáo với mức hình phạt thấp hơn Viện kiểm sát đề nghị. 12 Biên bản ngày 26/4/2019 của TAND TP Hà Nội, bị cáo Bùi Quốc Đức bị truy tố về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo khoản 4 Điều 250 BLHS Giữ nguyên quan điểm truy tố Về tội danh của bị cáo, luật sư không tranh luận, đề nghị xem xét thêm tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo 13 Biên bản ngày 24/4/2019 của TAND TP Hà Nội, bị cáo Đinh Văn Công và đồng phạm bị truy tố về tội “Giết người” và “Gây rối trật tự công cộng” theo Điều 123 BLHS Giữ nguyên quan điểm truy tố Về tội danh của bị cáo, luật sư không tranh luận, đề nghị xem xét thêm tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo 14 Biên bản ngày 29/8/2019 của TAND TP Hà Nội, bị cáo Hoàng Trạch Thú bị truy tố về tội “Giết người” theo Điều 123 BLHS Giữ nguyên quan điểm truy tố Về tội danh của bị cáo, luật sư không tranh luận, đề nghị xem xét thêm tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo 15 Biên bản ngày 26/9/2019 của TAND TP Hà Nội, bị cáo Lại Thành Dũng và đồng phạm bị truy tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” Giữ nguyên quan điểm truy tố Về tội danh của bị cáo, luật sư không tranh luận, đề nghị xem xét thêm tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo 16 Biên bản ngày 27/5/2019 của TAND TP Hà Nội, bị cáo Mai Giữ nguyên quan điểm Về tội danh của bị cáo, luật sư không Nguyệt Giang, bị truy tố về tội “Giết người” và “Hủy hoại tài sản” truy tố tranh luận, đề nghị xem xét thêm tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo 17 Biên bản ngày 22/10/2019 của TAND TP Hà Nội, bị cáo Nguyễn Đình Hòa bị truy tố về tội “Giết người” Giữ nguyên quan điểm truy tố Về tội danh của bị cáo, luật sư không tranh luận, đề nghị xem xét thêm tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo 18 Biên bản ngày 11/3/2019 của TAND TP Hà Nội, bị cáo Nguyễn Ngọc Bảo bị truy tố về tội “Giết người” và “Không tố giác tội phạm” Giữ nguyên quan điểm truy tố Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét kĩ các tình tiết có liên quan để bảo đảm đúng người đúng tội 19 Biên bản ngày 29/1/2019 của TAND TP Hà Nội, bị cáo Đặng Thị Kim Dung và đồng phạm, bị truy tố về tội "Bắt, giữ người trái pháp luật” theo quy định tại khoản 1 Điều 123 của BLHS năm 1999 và tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 168 BLHS 2015 Giữ nguyên quan điểm truy tố Luật sư không có ý kiến về tội danh, đề nghị xem xét thêm tình tiết giảm nhẹ 20 Biên bản ngày 04/9/2019 của TAND TP Hà Nội, bị cáo Đỗ Phương Tây và đồng phạm bị truy tố về tội "Mua bán trái phép Giữ nguyên quan điểm truy tố Luật sư không tranh luận về tội danh và điều luật áp dụng, đề nghị xem xét thêm chất ma túy; Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251, điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS tình tiết giảm nhẹ 21 Biên bản ngày 07/5/2019 của TAND TP Hà Nội, bị cáo Đỗ Thị Bích Hằng và đồng phạm, bị truy tố về tội "Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 BLHS Giữ nguyên quan điểm truy tố Các luật sư tranh luận, đề nghị xét xử về tội cố ý gây thương tích 22 Biên bản ngày 02/7/2019 của TAND TP Hà Nội, bị cáo Đoàn Vũ Thanh Nghĩa, bị truy tố về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 BLHS Giữ nguyên quan điểm truy tố Các luật sư tranh luận nhiều về các tình tiết, đề nghị làm rõ thêm, không đồng tình với truy tố của VKS 23 Biên bản ngày 22/3/2019 của TAND TP Hà Nội, bị cáo Lê Thanh Nhiều và đồng phạm, bị truy tố về tội "Mua bán trái phép chất ma túy; Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại điểm h khoản 4 Điều 251, khoản 1 Điều 304 BLHS Giữ nguyên quan điểm truy tố Các luật sư không tranh luận về tội danh, đề nghị xem xét thêm các tình tiết giảm nhẹ 24 Biên bản ngày 19/3/2019 của TAND TP Hà Nội, bị cao Lương Thị Lan Phương bị truy tố về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” Giữ nguyên quan điểm truy tố Luật sư không tranh luận về tội danh, đề nghị xem xét thêm các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 139 BLHS 25 Biên bản ngày 19/3/2019 của TAND TP Hà Nội, bị cáo Lưu Thị Hoàng Mai và đồng phạm, bị truy tố về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 139 BLHS 1999 Giữ nguyên quan điểm truy tố Luật sư đề nghị xem xét thêm các tình tiết giảm nhẹ, đề nghị cho bị cáo ở khung hình phạt liền kề ở mức thấp nhất 26 Biên bản ngày 17/01/2019 của TAND TP Hà Nội, bị cáo Nguyễn Chí Dũng, bị truy tố về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 BLHS Giữ nguyên quan điểm truy tố Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo có phạm tội như cáo trạng truy tố hay không 27 Biên bản ngày 18/6/2019 của TAND TP Hà Nội, bị cáo Nguyễn Chiến Thắng và đồng phạm, bị truy tố về tội "Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 BLHS Giữ nguyên quan điểm truy tố Luật sư không ý kiến gì về tội danh, đề nghị xem xét thêm tình tiết giảm nhẹ 28 Biên bản ngày 18/01/2019 của TAND TP Hà Nội, bị cáo Nguyễn Đình Độ và đồng phạm, bị truy tố về tội "Giết người; Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 2 Điều 123, khoản 1 Điều 318 BLHS Giữ nguyên quan điểm truy tố Luật sư đề nghị xem xét thêm tình tiết giảm nhẹ, cho bị cáo mức hình phạt thấp hơn đề nghị của VKS. 29 Biên bản ngày 12/4/2019 của TAND TP Hà Nội, bị cáo Nguyễn Hoài Nam và đồng phạm, bị truy tố về các tội "Mua bán trái phép chất ma túy; Tàng trữ trái phép chất ma túy; Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251, điểm n khoản 2 Điều 249, điểm b khoản 4 Điều 250 BLHS Giữ nguyên quan điểm truy tố Luật sư không đồng ý với Cáo trạng và quan điểm của VKS, đề nghị trả hồ sơ để điều tra bổ sung 30 Biên bản ngày 07/8/2019 của TAND TP Hà Nội, bị cáo Nguyễn Hồng Ngọc và đồng phạm bị truy tố về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 BLHS Giữ nguyên quan điểm truy tố Các bị cáo và các luật sư đều không đồng tình với cáo trạng truy tố, đề nghị làm rõ thêm các tình tiết của vụ án 31 Biên bản ngày 23/7/2019 của TAND TP Hà Nội, bị cáo Nguyễn Văn Bắc bị truy tố về tội "Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 250 BLHS Giữ nguyên quan điểm truy tố Về tội danh, Luật sư không ý kiến. Tuy nhiên đề nghị HĐXX xem xét đối với bị cáo về định lượng ma túy, đề nghị xem xét thêm tình tiết giảm nhẹ 32 Biên bản ngày 12/12/2019 của TAND TP Hà Nội, bị cáo Nguyễn Văn Đông bị truy tố về Giữ nguyên quan điểm truy tố VKS truy tố có căn cứ, đề nghị xem xét giảm nhẹ một phần tội "Giết người” theo quy định tại điểm a, b, n khoản 1 Điều 123 BLHS hình phạt cho bị cáo 33 Biên bản ngày 14/3/2019 của TAND TP Hà Nội, bị cáo Nguyễn Văn Hiếu và đồng phạm bị truy tố về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 139 BLHS Giữ nguyên quan điểm truy tố Vụ án đã trả đi trả lại điều tra 7 lần, căn cứ kết tội các bị cáo là rất khiên cưỡng, đề nghị tuyên các bị cáo không có tội 34 Biên bản ngày 25/4/2019 của TAND TP Hà Nội, bị cáo Nhâm Kỳ Hoàng và đồng phạm, bị truy tố về tội "Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm e khoản 4 Điều 194 BLHS năm 1999, điểm b, p khoản 2 Điều 251 BLHS năm 2015 Giữ nguyên quan điểm truy tố Luật sư bào chữa mờ nhạt. Đề nghị HĐXX cân nhắc kỹ trước khi quyết định. 35 Biên bản ngày 17/4/2019 của TAND TP Hà Nội, bị cáo Trần Quang Vũ và đồng phạm, bị truy tố về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức” theo điểm a khoản 4 Điều 139, khoản 3 Điều 267 BLHS 1999 Giữ nguyên quan điểm truy tố Đề nghị xem xét thêm tình tiết giảm nhẹ, cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất dưới khung hình phạt liền kề 36 Biên bản ngày 31/10/2019 của TAND TP Hà Nội, bị cáo Trần Trọng Quyền và đồng phạm, bị truy tố về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại Giữ nguyên quan điểm truy tố Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội nên Luật sư không tranh luận về tội danh, đề nghị xem xét thêm điểm a khoản 4 Điều 139 BLHS tình tiết giảm nhẹ 37 Biên bản ngày 17/01/2019 của TAND TP Hà Nội, bị cáo Trịnh Quang Long bị truy tố về tội "Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 BLHS Giữ nguyên quan điểm truy tố Bị cáo đã nhận tội, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ. Luật sư đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ một phần cho bị cáo. 38 Biên bản ngày 10/5/2019 của TAND TP Hà Nội, bị cáo Vũ Đức Thuận và đồng phạm bị truy tố về các tội "Tổ chức đánh bạc; Đánh bạc” theo quy định tại điểm c, d khoản 1 Điều 322 BLHS năm 2015, khoản 1 Điều 248 BLHS 1999 Giữ nguyên quan điểm truy tố Luật sư bào chữa vắng mặt, các bị cáo không tranh luận 39 Biên bản ngày 28/9/2019 của TAND TP Hà Nội, bị cáo Vũ Đức Trọng và đồng phạm, bị truy tố về tội "Mua bán trái phép chất ma túy; Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy; Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251, điểm i khoản 2 Điều 251,điểm b, d khoản 2 Điều 256, điểm b khoản 2 Điều 249, khoản Giữ nguyên quan điểm truy tố Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố nên Luật sư không có ý kiến về tội danh, đề nghị xem xét thêm tình tiết giảm nhẹ 1 Điều 251, điểm i khoản 1 Điều 249 và điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS 40 Biên bản ngày 25/3/2019 của TAND tỉnh Vĩnh Phúc, bị cáo Nguyễn Văn T và đồng phạm bị truy tố về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 BLHS 2015 Giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị xử phạt tương ứng với từng bị cáo Chỉ một bị cáo có luật sư, đồng ý về tội danh, xin miễn TNHS cho bị cáo vì có nhiều tình tiết giảm nhẹ 41 Biên bản ngày 29/3/2019 của TAND tỉnh Hà Tĩnh, bị cáo Nguyễn Thị O bị truy tố về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 139 BLHS 1999 Giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị xử phạt bị cáo từ 15 đến 17 năm tù Nhất trí về tội danh, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét thêm các tình tiết giảm nhẹ, đề xuất mức án là 15 năm tù 42 Biên bản ngày 27/3/2019 của TAND TP Hà Nội, bị cáo Đinh Khắc T bị truy tố về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 BLHS năm 2015 Giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị xử phạt bị cáo từ 14 - 15 năm tù Bị cáo cho rằng hành vi của bị cáo thuộc sự điều chỉnh của luật dân sự; Luật sư đồng ý với tội danh, đề nghị xem xét thêm các tình tiết giảm nhẹ 43 Biên bản ngày 27/3/2019 của TAND tỉnh Hòa Bình, bị cáo Nguyễn Thị B và đồng phạm bị truy tố về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm b khoản 4 Điều 139 BLHS 1999 Giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị xử phạt tương ứng với từng bị cáo Các luật sư có mặt nhất trí với cáo trạng, đề nghị xem xét thêm các tình tiết giảm nhẹ; một luật sư vắng mặt gửi trước bản bào chữa 44 Biên bản ngày 22/3/2019 của TAND TP Hà Nội, bị cáo Đàm Đức Trần Siêu A, Đinh Anh Q, Mai Phúc A bị truy tố về tội “Cướp tài sản” theo khoản 2 Điều 168 BLHS 2015; bị cáo Trần Tuấn Anh về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 BLHS 2015 Giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị xử phạt tương ứng với từng bị cáo Các luật sư có mặt nhất trí với cáo trạng, đề nghị xem xét thêm các tình tiết giảm nhẹ 45 Biên bản ngày 25/3/2019 của TAND tỉnh Thanh Hóa, bị cáo Phan Thị P bị truy tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm e khoản 4 Điều 194 Bộ luật Hình 1999 Giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị xử phạt hình phạt tử hình Luật sư nhất trí về khung, khoản, điều luật truy tố, đề nghị xem xét các tình tiết giảm nhẹ để áp dụng hình phạt tù chung thân 46 Biên bản ngày 26/3/2019 của TAND tỉnh Thanh Hóa, bị cáo Đào L bị truy tố về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 4 Điều 250 BLHS 2015 Giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị xử phạt hình phạt tù chung thân Luật sư thống nhất quan điểm của VKS về tội danh, đề nghị xem xét thêm các tình tiết giảm nhẹ để giảm hình phạt cho bị cáo 47 Biên bản ngày 26/3/2019 của TAND tỉnh Bắc Giang, bị cáo Hà Thị M bị truy tố về tội “Giết người” theo điểm a, b, l, n khoản 1 Điều 123 BLHS 2015 Giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị xử phạt bị cáo từ 9 đến 10 năm tù Luật sư đồng ý với bản luận tội của KSV, đề nghị xem xét thêm các tình tiết giảm nhẹ để giảm mức hình phạt 48 Biên bản ngày 18/4/2019 của TAND TP Hải Phòng, bị cáo Giữ nguyên quan điểm Không có NBC; bị cáo hoàn toàn bác bỏ Nguyễn Xuân T, Nguyễn Văn T bị truy tố về tội “Sản xuất hàng giả” theo khoản 3 Điều 192 BLHS 2015 và tội “Sản xuất hàng giả là thực phẩm” theo khoản 3 Điều 193 BLHS 2015 truy tố, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T từ 22- 25 năm tù, Nguyễn Văn T từ 17-20 năm tù. quan điểm của KSV 49 Biên bản ngày 08/4/2019 của TAND TP Hà Nội, bị cáo Trịnh Anh M bị truy tố về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 139 BLHS 1999 Giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị xử phạt hình phạt tù chung thân Bị cáo không đồng ý nội dung kết luận KSV công bố; có 6 luật sư tranh luận rất tích cực, đề nghị Hội đồng xét xử trả hồ sơ để ĐTBS 50 Biên bản ngày 11/4/2019 của TAND tỉnh Nghệ An, bị cáo Nguyễn Văn H bị truy tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 3 Điều 251 BLHS 2015 Giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị xử phạt bị cáo 12 đến 13 năm tù Luật sư nhất trí với tội danh, đề nghị xem xét thêm các tình tiết giảm nhẹ để giảm mức hình phạt 51 Biên bản ngày 11/4/2019 tại TAND tỉnh Nghệ An, bị cáo Nguyễn Văn T bị truy tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 4 Điều 251 BLHS 2015 Giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị xử phạt bị cáo 20 năm tù Luật sư không tranh luận về tội danh, đề nghị xem xét thêm các tình tiết giảm nhẹ để giảm mức hình phạt 52 Biên bản ngày 17/4/2019 của TAND tỉnh Sơn La, bị cáo Vạ A P bị truy tố về tội “Mua bán trái Giữ nguyên quan điểm truy tố, đề Luật sư nhất trí quan điểm truy tố của VKS, đề nghị xem phép chất ma túy” theo điểm b khoản 4 Điều 251 BLHS 2015 nghị xử phạt bị cáo tù chung thân, không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) xét thêm các tình tiết giảm nhẹ để giảm nhẹ hình phạt tù và miễn hình phạt bổ sung 53 Biên bản ngày 12 và 16/4/2019 của TAND TP Hải Phòng, bị cáo Hoàng Đình M và các bị cáo khác bị truy tố về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 4 Điều 134 BLHS 2015 và tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 390 BLHS 2015 Giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị xử phạt tương ứng với từng bị cáo Tất cả người bào chữa đều là trợ giúp viên pháp lý, nhất trí tội danh mà VKS truy tố, đề nghị xem xét thêm các tình tiết giảm nhẹ 54 Biên bản ngày 12/4/2019 của TAND tỉnh Thanh Hóa, bị cáo Trịnh Văn N, Lê Đình P bị truy tố về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 3 Điều 104 BLHS 1999 Đề nghị áp dụng khoản 4 Điều 134 BLHS, xử phạt bị cáo 13-14 năm tù Luật sư bào chữa không đồng tình với cáo trạng VKS truy tố 55 Biên bản ngày 02/4/2019 của TAND tỉnh Tuyên Quang, bị cáo Hoàng Thọ S và đồng phạm bị truy tố về tội “Trộm cắp tài sản” theo Điều 173 BLHS 2015 Giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị xử phạt tương ứng với từng bị cáo Không có NBC; Hai bị cáo không nhất trí với bản luận tội, không tranh luận với KSV, không thừa nhận đã thực hiện HVPT; hai bị cáo còn lại không có ý kiến tranh luận 56 Biên bản ngày 11/4/2019 của TAND tỉnh Quảng Ninh, bị cáo Nguyễn Văn T bị truy tố về tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” theo điểm c khoản 3 Điều 142 BLHS 2015 Giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị xử phạt bị cáo 13-14 năm tù Nhất trí với luận tội và mức đề nghị hình phạt, đề nghị xem xét thêm tình tiết giảm nhẹ để áp dụng hình phạt thấp nhất dưới khung hình phạt cho bị cáo 57 Biên bản ngày 09/4/2019 của TAND TP Hà Nội, bị cáo Kiều Đức Ân bị truy tố về tội “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 355 BLHS 2015 Giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị xử phạt bị cáo 18-20 năm tù Một luật sư cho rằng hành vi của bị cáo chỉ là vi phạm hành chính; luật sư còn lại đề nghị quyết định một mức hình phạt dưới mức hình phạt nhẹ nhất 58 Biên bản ngày 11/4/2019 của TAND tỉnh Nam Định, bị cáo Vũ Đức H và đồng phạm bị truy tố về tội “Đánh bạc” theo điểm b khoản 2 Điều 321 BLHS 2015 Giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị xử phạt tương ứng với từng bị cáo Không có người bào chữa, các bị cáo không tranh luận 59 Biên bản ngày 04/4/2019 của TAND tỉnh Vĩnh Phúc, bị cáo Lưu Văn N, Hoàng Anh T, Nguyễn Đức Thành và các bị cáo khác về tội “Đánh bạc”, “Tổ chức đánh bạc” Giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị xử phạt tương ứng với từng bị cáo Không có người bào chữa, các bị cáo không tranh luận 60 Biên bản ngày 04/4/2019 của TAND TP Hà Nội, bị cáo Phạm Phú T và Nguyễn Thị T bị truy tố về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” Giữ nguyên quan điểm truy tố Luật sư cho rằng hành vi của bị cáo chưa đủ để CTTP, đề nghị trả hồ sơ để điều tra bổ sung 61 Biên bản ngày 03/4/2019 của TAND tỉnh Thái Bình, bị cáo Tạ Thị K, Lê Quảng P bị truy tố về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo khoản 4 Điều 175 BLHS 2015 Giữ nguyên quan điểm truy tố Luật sư nhất trí với tội danh, đề nghị xem xét thêm các tình tiết giảm nhẹ để giảm mức hình phạt 62 Biên bản ngày 09/4/2019 của TAND tỉnh Hưng Yên, bị cáo Nguyễn Thị Kim O và Phạm Thị L bị truy tố về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” Giữ nguyên quan điểm truy tố Luật sư đề nghị xem xét thêm các tình tiết giảm nhẹ, xử phạt bị cáo mức thấp nhất của khung hình phạt; bị cáo tranh luận cho rằng mình chỉ phạm tội “Vô ý gây thiệt hại tài sản” theo Điều 180 BLHS 63 Biên bản ngày 11/4/2019 của TAND TP Hà Nội, bị cáo Trần Thị Ngọc M, Nguyễn Thành L bị truy tố về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 139 BLHS 1999 Giữ nguyên quan điểm truy tố Bị cáo M kêu oan, bị cáo L nhận tội; Luật sư đề nghị trả hồ sơ để điều tra bổ sung 64 Biên bản ngày 10/4/2019 của TAND TP Hà Nội, bị cáo Kiểu Văn T và đồng phạm bị truy tố về tội “Hiếp dâm” và “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” theo điểm c khoản 2 Điều 141 và điểm b khoản 3 Điều 142 BLHS 2015 Giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị xử phạt tương ứng với từng bị cáo Luật sư nhất trí với tội danh, đề nghị xem xét thêm các tình tiết giảm nhẹ để giảm mức hình phạt 65 Biên bản ngày 18 tháng 4 năm 2019 của TAND tỉnh Tuyên Quang, bị cáo Hoàng Văn S, Bàn Sài L bị truy tố về tội “Tổ chức người khác trốn đi nước ngoài” theo Điều 275 BLHS 1999 Giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị xử phạt tương ứng với từng bị cáo Luật sư nhất trí với tội danh, đề nghị xem xét thêm các tình tiết giảm nhẹ để giảm mức hình phạt 66 Biên bản ngày 24/4/2019 của TAND TP Hà Nội, bị cáo Mùi Văn T và đồng phạm về tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” theo khoản 1 Điều 304 BLHS 2015 Giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị xử phạt tương ứng với từng bị cáo Chỉ có một bị cáo có luật sư bào chữa , cho rằng bị cáo không có tiền sự như cáo trạng, đề nghị xem xét các tình tiết giảm nhẹ 67 Biên bản ngày 19/4/2019 của TAND TP Hà Nội, bị cáo Thân Thái P và đồng phạm bị truy tố về tội “Nhận hối lộ”, “Môi giới hối lộ”, “Đưa hối lộ” theo điểm b khoản 2 Điều 354, điểm a khoản 1 Điều 365, điểm a khoản 1 Điều 364 BLHS 2015 Giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị xử phạt tương ứng với từng bị cáo Các bị cáo nhận tội, Luật sư đồng ý quan điểm truy tố; đề nghị xem xét thêm các tình tiết giảm nhẹ 68 Biên bản ngày 16/4/2019 của TAND tỉnh Thanh Hóa, bị cáo Phạm Thị Q bị truy tố về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 4 Điều 194 BLHS 1999 Giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị xử phạt tù chung thân Luật sư đồng ý với tội danh, khung hình phạt; đề nghị xem xét các tình tiết giảm nhẹ xử phạt bị cáo tù có thời hạn 69 Biên bản ngày 09/4/2019 của TAND tỉnh Thái Bình, bị cáo Phạm Văn H, Dương Văn A bị truy tố về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 255 BLHS 2015 Giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị xử phạt tương ứng với từng bị cáo Bị cáo không có người bào chữa; bị cáo không tranh luận 70 Biên bản ngày 11/4/2019 của TAND tỉnh Hà Giang, bị cáo Lương Sơn Q cùng đồng phạm bị truy tố về tội “Giết người” theo điểm a khoản 1 Điều 123 BLHS 2015 Giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị xử phạt tương ứng với từng bị cáo Luật sư đồng ý quan điểm truy tố; đề nghị xem xét thêm các tình tiết giảm nhẹ 71 Biên bản ngày 16/4/2019 của TAND TP Hà Nội, bị cáo Trần Đức L, Nguyễn Huy S bị truy tố về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 BLHS 2015 Giữ nguyên tội danh đã truy tố, đề nghị xử phạt bị cáo L tù chung thân, bị cáo S 12-14 năm tù Luật sư đồng ý quan điểm truy tố; đề nghị xem xét thêm các tình tiết giảm nhẹ 72 Biên bản ngày 11/4/2019 của TAND tỉnh Hà Tĩnh, bị cáo Lê Anh T, Nguyễn Công T bị truy tố Giữ nguyên quan điểm truy tố, đề Bị cáo không có người bào chữa; bị cáo không tranh luận về tội “Tham ô tài sản”, “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” theo điểm a khoản 3 Điều 353, điểm c khoản 2 Điều 360 BLHS 2015 nghị xử phạt tương ứng với từng bị cáo 73 Biên bản ngày 17/4/2019 của TAND tỉnh Cao Bằng, bị cáo Trần Văn T bị truy tố về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a, b khoản 3 Điều 260 BLHS 2015 Giữ nguyên quan điểm truy tố Bị cáo không có người bào chữa; bị cáo không tranh luận 74 Biên bản ngày 19/4/2019 tại TAND tỉnh Quảng Ninh, bị cáo Bùi Thị N bị truy tố về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 139 BLHS 1999 Giữ nguyên quan điểm truy tố Luật sư đồng ý quan điểm truy tố; đề nghị xem xét thêm các tình tiết giảm nhẹ 75 Biên bản ngày 18/4/2019 của TAND tỉnh Bắc Giang, bị cáo Dương Văn C và đồng phạm bị truy tố về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 BLHS 2015 Giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị xử phạt tương ứng với từng bị cáo Luật sư đồng ý quan điểm truy tố; đề nghị xem xét thêm các tình tiết giảm nhẹ 76 Biên bản ngày 16/4/2019 của TAND tỉnh Vĩnh Phúc, bị cáo Nguyễn Văn C bị truy tố về tội “Tham ô tài sản” theo theo điểm a khoản 3 Điều 353 BLHS 2015 Đại diện VKS rút một phần quyết định truy tố Luật sư đồng ý quan điểm truy tố; đề nghị xem xét thêm các tình tiết giảm nhẹ 77 Biên bản ngày 26/2/2020 của TAND tỉnh Nghệ An, bị cáo Ốc Thị Phòng và đồng phạm bị truy tố về tội “Mua bán người” theo điểm đ khoản 2 Điều 119 BLHS 1999 Giữ nguyên quan điểm truy tố Luật sư không có ý kiến về nội dung, đề nghị thêm các tình tiết giảm nhẹ, đề xuất HĐXX cho bị cáo mức án nhẹ hơn mức VKS đề nghị 78 Biên bản ngày 27/2/2020 của TAND tỉnh Bắc Ninh, bị cáo Đỗ Việt Thắng bị truy tố về tội “Giết người” và “Cướp tài sản” theo điểm g, n khoản 1 Điều 123 và khoản 1 Điều 168 BLHS 2015 Đại diện VKS rút truy tố bị cáo Thắng theo điểm n khoản 1 Điều 123 BLHS Luật sư đồng ý với cáo trạng và đề nghị rút một phần truy tố của VKS, đưa thêm tình tiết giảm nhẹ, cho rằng hình phạt VKS đề nghị là nặng, đề nghị cho bị cáo ở mức khởi điểm của khung hình phạt 79 Biên bản ngày 26/2/2020 của TAND tỉnh Bắc Kạn, bị cáo Dương Thị Ánh bị truy tố về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” theo điểm a khoản 2 Điều 244 BLHS. Đại diện VKS giữ nguyên quan điểm truy tố Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo vắng mặt tại phiên tòa, gửi trước bản bào chữa đề nghị cho bị cáo hưởng án treo 80 Biên bản ngày 02/3/220 của TAND TP Hà Nội, bị cáo Đặng Văn Dương bị truy tố về tội “Giết người” theo điểm a, n khoản 1 Đại diện VKS đưa ra các căn cứ khẳng định cáo trạng là Luật sư đồng tình về tội danh, đề xuất thêm tình tiết giảm nhẹ Điều 123 BLHS đúng, ghi nhận việc bị cáo đầu thú, thành khẩn khai báo 81 Biên bản ngày 20/2/2020 của TAND tỉnh Nghệ An, bị cáo Nguyễn Doãn Huấn và đồng phạm bị truy tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 4 Điều 251 BLHS Giữ nguyên quan điểm truy tố Đồng tình với tội danh, điều khoản truy tố, đề nghị thêm tình tiết giảm nhẹ 82 Biên bản ngày 24/2/2020 của TAND tỉnh Quảng Ninh, bị cáo Nguyễn Thành Luân bị truy tố về tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” theo điểm đ khoản 2 Điều 142 BLHS Giữ nguyên cáo trạng truy tố Đồng ý với quan điểm của VKS về tội danh, chứng cứ, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS, đề nghị xem xét thêm tình tiết giảm nhẹ khác. 83 Biên bản ngày 24/2/2020 của TAND TP Hà Nội, bị cáo Nguyễn Mạnh Tùng bị truy tố về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo khoản 4 Điều 250 BLHS Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh và điều luật Đề nghị xem xét thêm tình tiết giảm nhẹ bị cáo ăn năn hối cải, có bác ruột là liệt sĩ 84 Biên bản ngày 27/2/2020 của TAND tỉnh Lai Châu, bị cáo Lý Chỉn Mìn và đồng phạm bị truy tố về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 4 Điều 134 BLHS Giữ nguyên quan điểm truy tố Tranh luận nhiều về các tình tiết liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, đề xuất thêm tình tiết giảm nhẹ 85 Biên bản ngày 26/2/2020 của TAND tỉnh Bắc Ninh, bị cáo Quách Thị Thơ và đồng phạm bị truy tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, “tàng trữ trái phép chất ma túy”. Giữ nguyên cáo trạng Đề xuất tình tiết giảm nhẹ bị cáo là người dân tộc thiểu số, trình độ văn hóa, hiểu biết xã hội hạn chế 86 Biên bản ngày 28/2/2020 của TAND tỉnh Thái Bình, bị cáo Lê Thành Minh T bị truy tố về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo khoản 4 Điều 250 BLHS Giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị mức án tử hình Bị cáo không tranh luận, Luật sư yêu cầu trả hồ sơ để điều tra bổ sung 87 Biên bản ngày 26/2/2020 của TAND tỉnh Sơn La, bị cáo Tếnh A Ch bị truy tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 4 Điều 251 BLHS Giữ nguyên quan điểm như cáo trạng Luật sư nhất trí với cáo trạng, đề nghị xem xét thêm tình tiết giảm nhẹ 88 Biên bản ngày 24/2/2020 của TAND TP Hà Nội, bị cáo Điinh Thị Như, Khuất văn quảng bị truy tố về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 BLHS Giữ nguyên quan điểm như cáo trạng Luật sư đề nghị trả hồ sơ đề điều tra bổ sung 89 Biên bản ngày 17/2/2020 của TAND tỉnh Bắc Ninh, bị cáo Nguyễn Thế Tiền và đồng phạm bị truy tố về tội “Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản” Giữ nguyên quan điểm như cáo trạng Luật sư tranh luận nhiều về các tình tiết liên quan đến vụ án chưa được làm rõ, đề nghị trả hồ sơ đề điều tra bổ sung 90 Biên bản ngày 21/2/2020 của TAND tỉnh Thái Bình, bị cáo Nguyễn Hữu Hưng, Đỗ Hoàng Giữ nguyên quan điểm như cáo trạng Đề nghị áp dụng mức hình phạt nhẹ hơn mức đề nghị của đại Đạt bị truy tố về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 4 Điều 250 BLHS diện VKS, không áp dụng hình phạt tiền 91 Biên bản ngày 10/3/2020 của TAND TP Hà Nội, bị cáo Trần Văn Lịch bị truy tố về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo khoản 4 Điều 175 BLHS Giữ nguyên quan điểm như cáo trạng Luật sư không có ý kiến về tội danh và khung hình phạt, đề nghị xem xét thêm tình tiết giảm nhẹ 92 Biên bản ngày 4/3/2020 của TAND TP Hà Nội, bị cáo Lê Quang Tiến bị truy tố về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, “Tham ô tài sản” Giữ nguyên quan điểm như cáo trạng Luật sư không có ý kiến về tội danh, đề nghị xử phạt mức án thấp nhất và thấp hơn mức VKS đề xuất, xem xét thêm tình tiết giảm nhẹ 93 Biên bản ngày 26/2/2020 của TAND tỉnh Hà Tĩnh, bị cáo Dương Doanh Thương bị truy tố về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo khoản 4 Điều 250 BLHS Giữ nguyên quan điểm như cáo trạng Luật sư khẳng định việc định tội danh là đúng người đúng tội, đề nghị xem xét thêm tình tiết giảm nhẹ 94 Biên bản ngày 13/3/2020 của TAND TP Hà Nội, bị cáo Vũ Đức Chính và đồng phạm bị truy tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, “Tàng trữ trái phép chất Giữ nguyên quan điểm như cáo trạng Luật sư không có ý kiến về tội danh, đề nghị xem xét thêm các tình tiết giảm nhẹ ma túy” 95 Biên bản ngày 6/3/2020 của TAND TP Hà Nội, bị cáo Vũ Chí Chung và đồng phạm bị truy tố về tội “Cướp tài sản, Che giấu tội phạm” theo điểm a khoản 4 Điều 168, khoản 1 Điều 389 BLHS Giữ nguyên quan điểm truy tố Luật sư không đồng ý truy tố về điểm a khoản 4 Điều 168 vì quá nặng, đề nghị xem xét áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168 BLHS 96 Biên bản ngày 10/3/2020 của TAND TP Hà Nội, bị cáo Lê Hữu Thường bị truy tố về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo khoản 4 Điều 175 BLHS Giữ nguyên quan điểm truy tố Đề nghị xem xét thêm tình tiết giảm nhẹ, cho bị cáo được hưởng án treo 97 Biên bản ngày 5/3/2020 của TAND tỉnh Vĩnh Phúc, bị cáo Nguyễn Văn Cường bị truy tố về tội “Mua bán người dưới 16 tuổi” theo điểm đ khoản 2 Điều 151 BLHS Giữ nguyên quan điểm truy tố Luật sư không có ý kiến về tội danh, đề nghị xem xét thêm tình tiết giảm nhẹ, bị cáo kêu oan, đề nghị trả hồ sơ để điều tra bổ sung 98 Biên bản ngày 18/3/2020 của TAND tỉnh Thái Nguyên, bị cáo Phạm Văn Sang bị truy tố về tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” theo điểm c khoản 3 Điều 142 Bộ luật Hình sự Giữ nguyên quan điểm truy tố Đề nghị xem xét thêm tình tiết giảm nhẹ 99 Biên bản ngày 23/3/2020 của TAND tỉnh Sơn La, bị cáo Giàng A Vàng bị truy tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 4 Điều 251 BLHS Giữ nguyên quan điểm truy tố Nhất trí tội danh mà VKS truy tố, đề nghị xem xét thêm tình tiết giảm nhẹ 100 Biên bản ngày 18/2/2020 của TAND tỉnh Hà Tĩnh, bị cáo Trịnh Sỹ Hưng và đồng phạm bị truy tố về tội “Buôn lậu” theo Điều 188 BLHS Giữ nguyên quan điểm truy tố Đề nghị xem xét thêm tình tiết giảm nhẹ

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfluan_an_hoat_dong_tranh_tung_tai_phien_toa_xet_xu_so_tham_vu.pdf