Luận án Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền các xã miền núi đặc biệt khó khăn trên địa bàn tỉnh Bắc Giang hiện nay

Sự nghiệp đổi mới đặt ra những yêu cầu cấp bách về việc cải cách bộ máy nhà nước, cải cách nền hành chính nhà nước trong đó vai trò quyết định thuộc về yếu tố con người, thuộc về phẩm chất, năng lực và trình độ của đội ngũ CBCC nói chung và đội ngũ CBCC CQCX nói riêng. Thực tế những năm tiến hành công cuộc đổi mới toàn đất nước do Đảng khởi xướng và lãnh đạo càng chứng minh sâu sắc vai trò quan trọng của đội ngũ CBCC CQCX. Chính quyền cấp xã, phường, thị trấn có một vị trí rất quan trọng, là cầu nối trực tiếp giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, là nơi tổ chức thực hiện trên thực tế mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, biến chúng thành hoạt động thực tế của nhân dân địa phương. Phẩm chất chính trị, trình độ năng lực, trí tuệ của đội ngũ cán bộ Đảng và chính quyền là yếu tố làm nên sức mạnh ưu việt của chế độ XHCN. Vì thế không ngừng nâng cao năng lực, trình độ cho đội ngũ cán bộ cơ sở là một yêu cầu bức thiết trong giai đoạn hiện nay.

pdf115 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Lượt xem: 5489 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận án Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền các xã miền núi đặc biệt khó khăn trên địa bàn tỉnh Bắc Giang hiện nay, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
đầy đủ những bằng chứng được kiểm nghiệm làm thước đo phẩm chất và năng lực. Ba là, đặt cán bộ trong môi trường, điều kiện công tác cụ thể, trong mối quan hệ biện chứng với đường lối, chính sách, với tổ chức và cơ chế để xem xét đánh giá toàn diện trong cả quá trình phát triển của CBCC. Bốn là, kết hợp tốt việc CBCC tự nhận xét, đánh giá với ý kiến nhận xét của quần chúng. Căn cứ vào kết quả đánh giá mà phân loại cán bộ công chức theo ba mức: Hoàn thành xuất sắc, hoàn thành và chưa hoàn thành chức trách nhiệm vụ. Cần phân tích thêm số lượng, cơ cấu các loại cán bộ theo lĩnh vực công tác; về trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ, lý luận chính trị, tuổi đời, thâm niên công tác, những thành tích, khuyết điểm. Từ đó, phân thành bốn loại theo yêu cầu quy hoạch: CBCC được đào tạo cơ bản, hoàn thành tốt nhiệm vụ, có khả năng đảm nhiệm chức vụ cao hơn; có triển vọng phát triển nhưng cần được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ kiến thức, năng lực tổ chức thực tiễn; hoàn thành nhiệm vụ, ổn định công tác; cần phân công bố trí lại công tác khác. - Xác định nguồn và tạo nguồn để quy hoạch CBCC. Quy hoạch CBCC phải có nguồn CBCC. Nếu không có nguồn, công tác quy hoạch cán bộ vẫn chỉ là chắp vá, thụ động. Cần nhận thức công tác quy hoạch không thể làm như trước, chỉ có việc lựa chọn quy hoạch một số cán bộ công chức dự bị để bổ sung, thay thế, mà quan trọng hơn là chuẩn bị đội ngũ đồng bộ, đông đảo, nhiều triển vọng cho những yêu cầu khác nhau, làm tiền đề để xây dựng, lựa chọn CBCC giỏi. Có xây dựng và tạo nguồn CBCC cho trước mắt và lâu dài trên cơ sở rà soát, đánh giá, xác định thì mới có quy hoạch cụ thể, phù hợp với công tác đào tạo, bồi dưỡng đúng đối tượng về sau. Thực tế các xã MNĐBKK của tỉnh Bắc Giang trong những năm qua cho thấy, nguồn cán bộ đủ điều kiện, tiêu chuẩn để thay thế khi cần thiết gặp không ít khó khăn. Tình trạng đó do nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân quan trọng nhất là do chưa tạo ra được nguồn dự trữ cho cán bộ ở cơ sở. Vì vậy, xác định nguồn và tạo ra được nguồn CBCC để quy hoạch là một đòi hỏi thực tế trong xây dựng đội ngũ CBCC CQCX MNĐBKK trên địa bàn tỉnh Bắc Giang hiện nay. Nguồn cán bộ cung cấp cho đội ngũ CBCC CQCX không được phong phú như các ngành, các cấp khác, song điều cần khẳng định trước hết phải tìm cán bộ ngay ở địa phương. Nhận thức và thực hiện công tác quy hoạch cán bộ là một quá trình, là nhiệm vụ thường xuyên của các cấp ủy và tổ chức đảng, nhưng cần xác định trọng tâm, trọng điểm để phục vụ cho nhiệm vụ chính trị trong từng thời gian. Phương hướng chọn nguồn trong quy hoạch ngắn hạn là những cán bộ, nhân viên trong mỗi ngành, mỗi tổ chức ở xã, làng, bàn có triển vọng phát triển, những người được thử thách và trưởng thành trong quân ngũ, từ phong trào lao động sản xuất, xây dựng phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương. Đó là những người ít nhiều tích luỹ được vốn sống, kinh nghiệm trong công tác, quản lý, sản xuất và vận động quần chúng ở cơ sở, đang làm việc gần với tính chất công việc của từng chức danh quy hoạch, hoặc cùng với chức danh quy hoạch. Trách nhiệm tạo nguồn cán bộ ngắn hạn trước hết thuộc về bản thân những người cán bộ chủ chốt trong từng tổ chức ở cơ sở. Phải coi việc phát hiện, giới thiệu những người có phẩm chất và năng lực cho CQCX là một trong những nhiệm vụ tất yếu. Đồng thời nuôi dưỡng, duy trì nguồn cán bộ này qua phong trào thi đua, giao việc đi đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao nhận thức, trình độ các mặt cho cán bộ. Nguồn CBCC lâu dài ở CQCX MNĐBKK trên địa bàn tỉnh Bắc Giang là những con em nông dân trong vùng đang học ở các trường phổ thông, trường dân tộc nội trú và các trường đại học, cao đẳng khác... Đây là nguồn đông đảo và cơ bản, họ là những người trẻ, có học vấn cơ bản, sinh ra và lớn lên trên mảnh đất quê hương sâu nặng nghĩa tình. Trong lớp trẻ này, chú ý con em các gia đình cách mạng, người dân tộc thiểu số, những người có công với nước, những gia đình tiêu biểu, nêu gương tốt, trong số đó chọn những em có năng khiếu chính trị, lãnh đạo, tổ chức, quản lý và hoạt động xã hội như tham gia ban cán sự lớp, cán bộ Đoàn đội... Hàng năm mỗi xã chọn 5-10 em đưa học lớp "tạo nguồn" tại Trường Chính trị tỉnh hoặc tạo điều kiện giúp đỡ để các em học tập có hệ thống ở các trường trên cơ sở các tổ chức, cá nhân có trách nhiệm ở tỉnh, huyện và cơ sở phải nắm chắc đối tượng, quan tâm đến công tác hướng nghiệp, từ đó địa phương có chính sách đào tạo phù hợp, dần hình thành nguồn CBCC trong tương lai. Mỗi cán bộ lâu dài này có thể quy hoạch cho 1 đến 3 chức danh trong CQCX có tính chất công việc gần giống nhau. CBCC CQCX là con em của nông dân cử ra, cuộc sống và gia đình của họ gắn liền với bà con lối xóm, với họ hàng ở nông thôn. Họ không "xa lạ" với nhân dân, nhân dân hiểu rất rõ cán bộ. Vì vậy, nếu nơi nào phát huy được trí tuệ tập thể, có sự tham gia rộng rãi, tích cực của cán bộ, đảng viên, quần chúng thì chọn CBCC vào quy hoạch có chất lượng, công khai hóa có tác động tích cực. Song, trên thực tế cũng cho thấy nơi nào chuẩn bị không tốt thì công khai hóa quy hoạch CBCC CQCX sẽ đưa lại tác động tiêu cực. Do đó, tùy từng nơi, việc công khai hóa đến mức độ, phạm vi nào thì phải tính sao cho thích hợp. - Thường xuyên kiểm tra, tổng kết nâng cao chất lượng công tác quy hoạch CBCC CQCX: Quy hoạch cán bộ không chỉ tiến hành một lần, tình hình CBCC lại luôn có biến động; CBCC cũng còn một số mặt hạn chế, có khoảng cách với yêu cầu tiêu chuẩn về chất lượng chức danh sẽ đảm nhiệm. Vì những lẽ đó, công tác quy hoạch cán bộ phải được cấp ủy và chính quyền thường xuyên kiểm tra, rà soát, theo dõi chặt chẽ để điều chỉnh kịp thời. Phải khắc phục sự chủ quan, thỏa mãn, những biểu hiện không đúng đắn và quan niệm coi sự quy hoạch CBCC là đã được bố trí rồi, không cần bổ sung thêm. Hàng năm, các cơ quan chức năng và cá nhân có trách nhiệm về công tác quy hoạch CBCC phải kiểm điểm nhiều mặt: Tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển; đưa CBCC dự nguồn vào vị trí cần thiết. Sau mỗi nhiệm kỳ cần kiểm điểm, đánh giá việc thực hiện các nội dung của quy hoạch để có biện pháp điều chỉnh, bổ sung phù hợp với yêu cầu của nhiệm vụ chính trị như: nhận xét đánh giá CBCC dự nguồn; điều chỉnh, bổ sung kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển cán bộ, tiếp tục đưa CBCC dự nguồn vào vị trí quy hoạch. Đồng thời, cũng xem xét việc thực hiện quy trình, biện pháp quy hoạch cũng như quy chế, chính sách đãi ngộ đối với CBCC. b) Trên cơ sở quy hoạch phải gắn với đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng CBCC. Có CBCC dự nguồn thì phải có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng. Đối với đội ngũ CBCC CQCX MNĐBKK trên địa bàn tỉnh Bắc Giang càng phải coi trọng vấn đề này. CBCC được quy hoạch phải được tạo điều kiện thuận lợi để yên tâm học tập, rèn luyện nâng cao phẩm chất và năng lực để có đủ các yếu tố cần thiết theo tiêu chuẩn. Đối với những người trên 40 tuổi thì không nhất thiết phải đưa đi đào tạo mà chỉ cần bồi dưỡng, cập nhật kiến thức cơ bản cũng như đối với nghiệp vụ của từng lĩnh vực và kỹ năng thực hành. Đối với CBCC dưới 40 tuổi, còn trẻ, giữ các cương vị công tác khác nhau trong bộ máy chính quyền cần được đưa đi đào tạo toàn diện gồm các kiến thức về lý luận chính trị, quản lý hành chính nhà nước, pháp luật, quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội từ trung cấp, cao đẳng, đại học. Mục tiêu là chất lượng đội ngũ CBCC CQCX MNĐBKK được nâng lên tương đương với mặt bằng chung của toàn tỉnh hiện nay. Đối với CBCC chuyên môn: là những người trực tiếp chỉ đạo quản lý các lĩnh vực hoạt động của địa phương (tư pháp, tài chính, hành chính, văn hóa, kinh tế, xã hội...) phải đào tạo để 100% có trình độ sơ cấp trở lên theo các chuyên môn mà họ đảm nhận. Đồng thời, số đã có trình độ nhất định có thể đưa đi bồi dưỡng ngắn hạn để nâng cao trình độ mọi mặt, dự nguồn cho cán bộ chủ chốt. Đối với cán bộ chính quyền từ Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND, UBND và các trưởng, phó công an, nhất thiết phải được đào tạo có trình độ sơ cấp quản lý nhà nước trở lên, đồng thời bồi dưỡng về lý luận chính trị và kiến thức kinh tế và kỹ thuật nông nghiệp. Những người có trình độ nhất định cần phải được bồi dưỡng để cập nhật thông tin và rèn luyện kỹ năng thực hành liên quan đến công việc được phân công. Lập kế hoạch đào tạo nguồn đối với những cán bộ trẻ trải qua hoạt động thực tiễn ở cơ sở, có khả năng phát triển, tạo nguồn cho đội ngũ cán bộ kế cận, trước mắt nhằm thay thế ngay số CBCC CQCX không đủ năng lực bị thoái hóa, biến chất. Lựa chọn những người có trình độ, có năng lực, có phẩm chất, đạo đức tốt trong hàng ngũ đoàn viên thanh niên và cả số thiếu niên là con em ở địa phương đang học ở các trường dân tộc huyện, tỉnh, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học, hoặc đã ra trường nay đang công tác hay bố trí việc làm để đào tạo, tạo nguồn cán bộ kế cận lâu dài. Đối với những người đang hoạt động trong các phong trào thi đua lao động sản xuất, công tác thực tế ở các làng, thôn, bản, các cơ sở sản xuất cần đưa vào quy hoạch và có chính sách đào tạo, tạo nguồn lâu dài: Nhóm thứ nhất là số cán bộ có thành tích trong lao động sản xuất, trong công tác, hoạt động trong các phong trào quần chúng ở cơ sở, còn ít tuổi, nhưng trình độ văn hóa và chính trị thấp. Số này, trước hết cho đi học lớp bổ túc văn hóa do tỉnh, huyện tổ chức hoặc tổ chức mở lớp bổ túc văn hóa ở xã, cụm xã. Nhóm thứ hai là số cán bộ tuy có trình độ văn hóa cao, nhưng cần được bồi dưỡng về trình độ lý luận chính trị. Họ được cử đi đào tạo và bồi dưỡng về lý luận chính trị theo ba hướng: cử đi học các lớp đào tạo có hệ thống tại Trường Chính trị tỉnh; hướng thứ hai, cử đi học các lớp tại chức tại huyện do Trường Chính trị tỉnh mở; hướng thứ ba, cho đi học các lớp do huyện ủy mở theo cụm liên xã, liên thôn để bồi dưỡng lý luận chính trị sơ cấp cho tất cả cán bộ, đảng viên ở cơ sở. Nhóm thứ ba: gồm số cán bộ có trình độ văn hóa và chính trị nhưng chưa qua thực tế công tác. Trước mắt phải đi vào phong trào thi đua lao động sản xuất, công tác ở cơ sở, xuống thực tập công việc cụ thể ở xã, thôn hoặc cử làm cán bộ ở các đơn vị sản xuất để rèn luyện, thử thách. Căn cứ vào tình hình thực tế của địa phương mình, ngoài việc đào tạo cán bộ trong diện quy hoạch thông qua thực tế và ở trường lớp cần phải lập kế hoạch đào tạo nguồn đối với số thanh niên đã qua công tác chiến đấu, học tập trong quân đội. Nhiều thanh niên rất dũng cảm, chịu khó học tập, thông minh trong nhận thức, sau khi hết hạn nhập ngũ được các cấp ủy đảng, chính quyền cử đi học các lớp đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ, ngành nghề hoặc đào tạo theo chức danh để thay thế khi cần thiết. Đối với đội ngũ CBCC CQCX MNĐBKK trên địa bàn tỉnh Bắc Giang, muốn nâng cao chất lượng để đáp ứng công cuộc CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, tỉnh cần đầu tư thêm kinh phí (ít nhất là tăng gấp đôi) để chi cho công tác đào tạo, bồi dưỡng trong đó ưu tiên đào tạo, bồi dưỡng những người ưu tú trong diện quy hoạch của CQCX đi học tập trung ở các trường trung học chuyên nghiệp. Đối với những cán bộ là người dân tộc cần được miễn thi tuyển, thực hiện chế độ cử tuyển, song cán bộ phải cam kết bằng văn bản khi học song phải trở về địa phương, nếu không thực hiện cam kết sẽ phải bồi thường kinh phí đào tạo. Chỉ đạo các trường trung học chuyên nghiệp của tỉnh tăng cường mở lớp đào tạo tập trung cho riêng đội ngũ CBCC CQCX MNĐBKK cho cả đương chức và kế cận, mở lớp tại chức ở huyện để sớm phổ cập trình độ trung cấp về chuyên môn nghiệp vụ cho CBCC cấp xã. Tăng cường mở lớp bồi dưỡng ngắn ngày về kiến thức quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, kiến thức chuyên ngành cho CBCC CQCX MNĐBKK, có chính sách hàng năm đưa CBCC CQCX MNĐBKK đi thăm quan học tập kinh nghiệm ở tỉnh bạn. Tuy nhiên, việc đào tạo, bồi dưỡng cũng cần phải chống xu hướng hình thức, mở lớp tràn lan, chạy theo bằng cấp mà không chú trọng đến chất lượng đào tạo, bồi dưỡng. Bố trí, sử dụng phải do yêu cầu công việc, trên cơ sở quy hoạch và kế hoạch công tác cán bộ. Xuất phát từ yêu cầu của tổ chức và của địa phương đang yếu về mặt gì so với đòi hỏi của nhiệm vụ, từ đó cần bố trí, sử dụng CBCC theo quy hoạch là việc làm quan trọng trong công tác cán bộ, đảm bảo từng bước nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC CQCX, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị trong giai đoạn mới. Do vậy, sau khi xây dựng quy hoạch cho các chức danh của CQCX cấp Đảng ủy và chính quyền xã phải dựa vào quy hoạch để bố trí, sử dụng và luân chuyển cán bộ. Việc bố trí, sử dụng CBCC thuộc diện quy hoạch cho các chức danh của CQCX MNĐBKK trên địa bàn tỉnh Bắc Giang trong từng thời điểm, từng trường hợp cụ thể phải xuất phát từ nhiệm vụ chính trị, từ yêu cầu của địa phương và phải căn cứ vào mức độ phấn đấu của CBCC. Nếu bố trí máy móc theo quy hoạch đã xác định từ trước thì không phải là một phương án tốt, nhưng nếu thoát ly hoàn toàn quy hoạch, không đối chiếu với dự kiến thì cũng không đúng, vừa gây lãng phí công sức đào tạo, vừa vô tình vô hiệu hóa quy hoạch. Việc bố trí, sử dụng cán bộ theo quy hoạch cho các chức danh của CQCX MNĐBKK trên địa bàn tỉnh Bắc Giang phải đảm bảo các yêu cầu sau: Trước hết phải căn cứ vào yêu cầu công tác. Trên cơ sở đảm bảo tiêu chuẩn thực hiện trẻ hóa đội ngũ CBCC CQCX, đồng thời tích cực bồi dưỡng để tiếp tục phát huy năng lực và kinh nghiệm của CBCC lớn tuổi, bảo đảm tính liên tục và kế thừa trong đội ngũ CBCC CQCX. Bố trí, sử dụng CBCC phải dựa trên kết quả đánh giá, tuyển chọn để bố trí đúng người, đúng việc, đúng sở trường của CBCC, tránh việc bố trí thiếu căn cứ. Trước khi đề bạt cần qua một thời gian tập sự để xem xét năng lực CBCC qua kết quả hoạt động thực tiễn và xử lý những công việc được giao để có căn cứ đề bạt hay chưa đề bạt. Bố trí, sử dụng CBCC là công việc phức tạp, nhạy cảm, do vậy không thể làm một cách sự vụ, riêng rẻ từng trường hợp mà phải đi vào quy hoạch. Cần phải đổi mới nhận thức trong việc bố trí, sử dụng cán bộ trong nguồn quy hoạch cho các chức danh của CQCX hiện nay. Không nhất thiết trường hợp nào cũng phải xếp thứ tự đối với số cán bộ quy hoạch. Mọi cán bộ trong diện quy hoạch đều có điều kiện và cơ hội phấn đấu như nhau. Khi cần bổ sung CBCC cho một chức danh nào đó thì lựa chọn một cách dân chủ, tập thể, có tham khảo sự tín nhiệm của những cán bộ, đảng viên, quần chúng có liên quan. Cần quan niệm, không phải bất cứ cán bộ nào trong diện được quy hoạch cũng đều được sử dụng, đề bạt; không phải cứ người được quy hoạch trước thì bố trí, sử dụng trước,mà việc bố trí, sử dụng CBCC; đưa CBCC vào các chức danh của CQCX là căn cứ vào tiêu chuẩn, năng lực, hiệu quả công việc thực tế, uy tín và khả năng phát triển của cán bộ công chức. Tránh tình trạng thực hiện quy hoạch CBCC một cách gò ép, cứng nhắc và máy móc, lồng động cơ cá nhân trong việc bố trí, sử dụng CBCC. Bố trí, sử dụng cán bộ sao cho có hiệu quả là một vấn đề lớn. Điều này cần phải phát huy đầy đủ trách nhiệm và quyền hạn của tổ chức và người lãnh đạo có thẩm quyền trong việc bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm, điều động, luân chuyển CBCC trong thời kỳ mới, đòi hỏi phải ngày càng chặt chẽ, khoa học và đi vào nề nếp hơn. c) Sau khi bố trí, sử dụng CBCC, phải luôn theo dõi, hướng dẫn và kiểm tra công tác của CBCC. Nếu thấy CBCC, nhất là cán bộ chủ chốt có khuyết điểm thì tổ chức, người lãnh đạo giúp họ sửa chữa ngay, giúp họ thêm kinh nghiệm, làm cho CBCC thêm cố gắng, thêm lòng hăng hái, tăng lòng tự tin, tự trọng đối với bản thân và đối với công việc. Nếu "giao công việc mà không kiểm tra, đến lúc thất bại mới chú ý đến, thế là không biết yêu dấu cán bộ". "Khi cất nhắc rồi không giúp đỡ họ. Khi họ sai lầm thì đẩy xuống, chờ lúc họ làm khá lại cất nhắc lên. Một cán bộ bị nhắc lên thả xuống ba lần như thế là hỏng cả đời" [34, 76, 282]. Để làm tốt điều đó phải quán triệt và vận dụng thực hiện Quy chế 53- QĐ/TW của Trung ương về chế độ kiểm tra cán bộ và công tác cán bộ, nhằm đánh giá đúng, kịp thời nêu gương những cán bộ và tổ chức làm tốt, giúp đỡ CBCC và tổ chức gặp khó khăn, ngăn chặn những biểu hiện lệch lạc của CBCC và công tác cán bộ, kịp thời xử lý những vi phạm. Bồi dưỡng, rèn luyện CBCC CQCX trong quá trình công tác là việc làm thường xuyên, liên tục và lâu dài. Vì vậy, ngoài việc phấn đấu rèn luyện của bản thân CBCC và sự giúp đỡ, kèm cặp của tổ chức thì việc bồi dưỡng, rèn luyện của CBCC CQCX MNĐBKK trên địa bàn tỉnh Bắc Giang hiện nay còn được thông qua việc sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm các hoạt động và phong trào công tác của địa phương, đơn vị một cách toàn diện và nghiêm túc. Đây là một hạn chế trong thời gian qua ở CQCX MNĐBKK trên địa bàn tỉnh Bắc Giang, giờ cần phải khắc phục. "Tổng kết kinh nghiệm nó là một phương pháp tốt để nâng cao trình độ lý luận của CBCC. Việc sơ kết, tổng kết thực tiễn không chỉ đơn giản chỉ ra kết quả, những cái được và chưa được mà điều quan trọng hơn là xác định rõ nguyên nhân, bài học kinh nghiệm và hướng giải quyết như thế nào trong thời gian tới. Thực hiện tốt điều này chắc chắn giúp cho trình độ, năng lực của đội ngũ CBCC CQCX được nâng lên không ngừng. Mặt khác, thông qua các cuộc sinh hoạt thường kỳ trong các tổ chức, nhất là sinh hoạt chi bộ, trở thành nề nếp tự phê bình và phê bình, chỉ rõ mặt mạnh, yếu, nguyên nhân và kế hoạch phấn đấu sửa chữa khuyết điểm, phát huy ưu điểm một cách cụ thể, thiết thực. Vấn đề tự phê bình và phê bình có ý nghĩa quan trọng trong việc bồi dưỡng, giáo dục và rèn luyện nâng cao chất lượng của đội ngũ CBCC. Trong thời gian qua nhiều xã ở khu vực MNĐBKK tỉnh Bắc Giang thực hiện chưa triệt để, thiếu trung thực, thẳng thắn trong đấu tranh với những sai lầm, khuyết điểm, ngại va chạm, ngại mất lòng, không ít trường hợp bao che khuyết điểm cho nhau. Để khắc phục những hiện tượng trên, tự phê bình, phê bình phải thực hiện tốt tư tưởng chỉ đạo của Trung ương Đảng trong đợt sinh hoạt tự phê bình và phê bình theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII đã chỉ ra. Muốn vậy, phải nghiêm túc tự phê bình và phê bình thẳng thắn, làm rõ đúng, sai từ nhận thức, tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, đến tinh thần trách nhiệm và động cơ, phương pháp, hiệu quả công tác. Đội ngũ CBCC phải tự giác, gương mẫu tự phê bình và phê bình trong tập thể và từng cá nhân, đồng thời tổ chức cho nhân viên, quần chúng phê bình CBCC. Luôn luôn dùng và khéo dùng cách phê bình và tự phê bình, thì khuyết điểm nhất định hết dần, ưu điểm nhất định thêm lên. Tự phê bình và phê bình là hoạt động có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC CQCX. Đây là biện pháp thiết thực và cụ thể trong bồi dưỡng, giáo dục và rèn luyện CBCC. Quản lý, giám sát hoạt động của đội ngũ CBCC CQCX là vấn đề quan trọng, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: "Khi có chính sách đúng thì sự thành công hoặc thất bại của chính sách đó là do nơi cách tổ chức công việc, nơi lựa chọn cán bộ và nơi kiểm tra. Nếu ba điểm ấy sơ sài, thì chính sách đúng ấy cũng vô ích" [32, tr.95]. Vì vậy, nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC CQCX MNĐBKK trên địa bàn tỉnh Bắc Giang cần phải tăng cường quản lý, kiểm tra, giám sát để xây dựng đội ngũ có phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu cầu của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. 3.2.3. Đổi mới nội dung chương trình, hình thức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức chính quyền cấp xã miền núi đặc biệt khó khăn Đào tạo, bồi dưỡng là yếu tố quan trọng cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC CQCX. Vì vậy, đòi hỏi luôn luôn phải đổi mới cả nội dung, phương pháp, hình thức đào tạo, bồi dưỡng để đáp ứng yêu cầu về nâng cao trình độ, năng lực của đội ngũ CBCC. - Trước hết là đổi mới nội dung đào tạo, bồi dưỡng: Nội dung phải thiết thực, phù hợp với yêu cầu từng chức danh CBCC; chú trọng cả phẩm chất đạo đức và kiến thức, cả lý luận và thực tiễn, bồi dưỡng kiến thức cơ bản và kỹ năng thực hành. Chú trọng bồi dưỡng kiến thức về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, các kiến thức về lịch sử, địa lý, văn hóa. Bồi dưỡng về kiến thức quản lý nhà nước, quản lý xã hội, quản lý kinh tế, khoa học, công nghệ, chuyên môn nghiệp vụ, phong cách lãnh đạo... Nội dung đào tạo, bồi dưỡng nói trên là rất toàn diện, phù hợp với tính chất hoạt động của CBCC CQCX. Trong quá trình tổ chức thực hiện cần chú ý ba vấn đề: một là bên cạnh các môn học theo chương trình trung học tại Trường Chính trị tỉnh hiện nay, tùy theo điều kiện của từng địa phương mà đưa thêm vào chương trình một số môn như xã hội học, tâm lý, dân tộc học, tôn giáo và môn địa phương học. Địa phương học là môn nghiên cứu về đặc điểm địa lý, kinh tế, văn hóa, xã hội, truyền thống địa phương... để người học hiểu sâu sắc nơi mảnh đất mình đang sống, củng cố tình yêu, lòng quý trọng cũng như có ý thức trách nhiệm với quê hương mình hơn. Hai là, do công việc của CBCC CQCX phải giải quyết rất cụ thể, nên phải quan tâm nhiều hơn đến việc đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng thực hành, hình thành năng lực hoạt động thực tiễn cho CBCC CQCX MNĐBKK trên địa bàn tỉnh Bắc Giang, bớt đi sâu vào lý luận hay học thuật, tăng lượng tri thức thực hành, những phương pháp giải quyết các tình huống, những việc làm cụ thể trong nhiều mặt công tác ở cơ sở như: Lập các dự án xóa đói giảm nghèo, xây dựng phát triển kinh tế - xã hội trong 5, 10 năm đối với xã, kiến thức quản lý đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn... Sinh thời, Bác Hồ đã từng dạy cán bộ làm việc gì phải học việc nấy. Vô luận ở quân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, tổ chức tuyên truyền, công an... Cán bộ ở môn nào phải học cho thạo công việc ở môn ấy. Ba là, phải chú trọng hơn nữa việc đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về quản lý nhà nước, quản lý kinh tế cho CBCC CQCX. Nghiên cứu giảng dạy kỹ thuật hành chính và những vấn đề quản lý nhà nước cụ thể của các mặt kinh tế - xã hội ở cơ sở trong các Trường Chính trị tỉnh hoặc trường khu vực. Tóm lại: đào tạo, bồi dưỡng CBCC CQCX MNĐBKK trên địa bàn tỉnh Bắc Giang nên theo phương châm: những gì cơ sở cần thì cán bộ ở đó phải học. Yêu cầu và nội dung đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ CBCC CQCX MNĐBKK trên địa bàn tỉnh Bắc Giang phải thông qua việc kết hợp nhiều phương thức, hình thức đào tạo, bồi dưỡng. ở đây chỉ đề cập hai loại hình đào tạo cơ bản: đào tạo, bồi dưỡng chính quy ở trường chính trị và bồi dưỡng, rèn luyện ở thực tế công tác, lao động sản xuất và trong các phong trào cách mạng của quần chúng ở nông thôn. Đào tạo, bồi dưỡng ở nhà trường sẽ có điều kiện đào tạo, bồi dưỡng cơ bản, toàn diện và có hệ thống, có tài liệu, phương tiện và đội ngũ giáo viên giúp người học nâng cao phẩm chất, năng lực. ở trường, người học có điều kiện nghiên cứu để nắm vững và có hệ thống những kiến thức cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, lý luận và nghiệp vụ chuyên môn, giúp người học có cơ sở vận dụng vào thực tiễn. Đồng thời, đến trường học, CBCC còn có điều kiện đánh giá lại hoạt động, kiểm tra tư tưởng, quan điểm của mình và học tập lẫn nhau. Đó là con đường đào tạo ngắn nhất, nhanh nhất và tập trung nhất để tạo ra hệ thống kiến thức cho đội ngũ CBCC CQCX MNĐBKK. Đào tạo, bồi dưỡng CBCC CQCX MNĐBKK trên địa bàn tỉnh Bắc giang được thực hiện ở nhiều nơi: Trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện, Trường Chính trị tỉnh... Trong đó, Trường Chính trị tỉnh đóng vai trò chủ yếu trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo của Đảng, CBCC chính quyền, các đoàn thể chính trị - xã hội cơ sở. Vì vậy, luận án chỉ tập trung đề cập đến việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ở Trường Chính trị tỉnh. Nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng cần tiếp tục đổi mới đáp ứng yêu cầu mà Nghị quyết Trung ương 3 (khóa VIII) đã chỉ ra, phải thường xuyên rà soát lại để loại bỏ những nội dung lạc hậu, không phù hợp với sự phát triển của tình hình, làm cho nội dung đào tạo luôn tiếp cận với những thành tựu mới mẻ khoa học công nghệ và bám sát với sự vận động, phát triển của thực tiễn cuộc sống. Để đổi mới nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng ở Trường Chính trị tỉnh cần làm tốt mấy việc sau đây: Một là: Xây dựng chương trình phải xuất phát từ nhu cầu thực tiễn công tác của người học. Cần coi trọng việc khảo sát nắm bắt nhu cầu đặc điểm của đối tượng đào tạo và khả năng thực tế của từng trường. Hai là: Trên cơ sở nghiên cứu chương trình, giáo trình hiện có, chọn lọc những nội dung hợp lý để tiếp tục xây dựng và hoàn thiện chương trình. Ba là: Cần xác định rõ hệ thống các loại chương trình, giáo trình, kế hoạch xây dựng, biên soạn cho từng bài trong từng môn học. Bốn là: Tổ chức rút kinh nghiệm về việc thực hiện chương trình, giáo trình thường xuyên, tham khảo ý kiến của nhiều chuyên gia, nhà quản lý, ý kiến người dạy, người học. Năm là: Làm tốt khâu biên soạn, kiểm tra, thẩm định, biên tập thật kỹ từng bài viết trong từng nội dung môn học. Ngoài việc tổ chức đào tạo, bồi dưỡng về chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, đội ngũ CBCC CQCX cần được đi tham quan các địa phương khác để học hỏi kinh nghiệm lãnh đạo, quản lý và sản xuất kinh doanh để nâng cao thêm kiến thức và năng lực công tác. Hiện nay, các lớp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp xã không quá một năm (lớp tạo nguồn có thể 18 tháng). Nhưng, để đảm bảo chương trình đi thực tập ở cơ sở (đối với các lớp tạo nguồn) và đi tham quan, học tập, trao đổi kinh nghiệm của cán bộ cơ sở ở những xã trong huyện, trong tỉnh, các tỉnh trong nước, có thể quy định thời gian học tập là 24 tháng. Thời gian đó cũng phù hợp với một chương trình "trung cấp" như các trường khác. Cùng với việc đổi mới nội dung, chương trình, cần quan tâm nâng cao chất lượng các khâu tuyển sinh, quản lý, kiểm tra và thi tốt nghiệp. Từ việc xác định tiêu chuẩn đầu vào, tỷ lệ, số lượng lớp học, đến việc hoàn thiện nội quy, quy chế đối với học viên, đối với giảng dạy và học tập trong nhà trường. Tuyển sinh không đủ tiêu chuẩn; quản lý, kiểm tra không nghiêm túc, thiếu khoa học thì công tác đào tạo bồi dưỡng cũng không thu được kết quả cao. Đồng thời phải đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học, tổng kết công tác đào tạo của nhà trường, tổng kết thực tiễn các công tác điển hình của công tác xây dựng Đảng, thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở về cải cách thủ tục hành chính ở địa phương; về các mô hình xây dựng nông thôn mới; phát triển công nghiệp nông thôn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xây dựng hợp tác xã... Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất và phương tiện dạy học cho Trường Chính trị đạt tiêu chuẩn trường trung học, đặc biệt phải không ngừng nâng cao chất lượng của đội ngũ giáo viên. Đội ngũ giáo viên có số lượng đủ, chất lượng cao, phương pháp giảng dạy tốt là nhân tố trực tiếp quyết định chất lượng và hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng ở nhà trường. Nhiệm vụ giai đoạn hiện nay, đòi hỏi đội ngũ giảng dạy ở Trường Chính trị tỉnh ít nhất có trình độ cử nhân chuyên ngành, nắm vững kiến thức khoa học và bộ môn, đồng thời phải có kiến thức nhất định ở nhiều lĩnh vực khác, phải có nhân cách người thầy, yêu nghề, say mê nghiên cứu khoa học, có kỹ năng sư phạm tốt. Để đáp ứng yêu cầu nói trên, một mặt phải đẩy mạnh đào tạo bồi dưỡng trình độ sau đại học cho số giáo viên hiện có, tuyển chọn những người trẻ, có khả năng phát triển đưa đi đào tạo thành giáo viên lý luận chính trị, đảm bảo sự kế thừa, liên tục. Mặt khác, bản thân từng giáo viên phải được bồi dưỡng thường xuyên hàng năm trong dịp hè, nhất là những vấn đề mới về lý luận và kinh nghiệm dạy học bộ môn; nêu cao tinh thần trách nhiệm tự giác rèn luyện nâng cao tay nghề, tích cực nghiên cứu thực tế, nghiên cứu tài liệu, biên soạn đề cương bài giảng tham gia các đề tài nghiên cứu khoa học ở địa phương và trong nước. Đồng thời, nên định kỳ tổ chức kiểm tra, phân loại đánh giá chất lượng giảng dạy, nghiên cứu của từng giáo viên, cũng như những chính sách, chế độ thỏa đáng về tiền lương, giờ giảng..., được dự các cuộc họp sơ, tổng kết tình hình kinh tế - xã hội và các chương trình công tác ở địa phương. Tóm lại, việc đào tạo, bồi dưỡng ở trường Chính trị phải luôn đổi mới toàn diện, trên tất cả các mặt, tạo cho người học không chỉ tiếp thu kiến thức, nâng cao trình độ mà còn được rèn luyện cả phẩm chất đạo đức, học tập rèn luyện phong cách làm việc khoa học ngay từ trong nhà trường. Đào tạo, bồi dưỡng CBCC CQCX ở nhà trường cốt để họ có thể áp dụng vào công việc thực tế ở địa phương. "Lúc học rồi, họ có thể tự mình tìm ra phương hướng chính trị để có thể làm những công việc thực tế. Hoạt động thực tiễn trong cuộc đấu tranh cách mạng là nhân tố cực kỳ quan trọng để hình thành, hoàn thiện và củng cố phẩm chất, năng lực của người cán bộ. Môi trường và hoạt động của đội ngũ CBCC CQCX là những vấn đề thực tiễn hết sức phong phú, rất mới mẻ và diễn ra liên tục, nếu không trải qua quá trình làm quen, tập sự thực tế thì cán bộ khó trưởng thành và khó bộc lộ những ưu điểm, khuyết điểm. Vì vậy, việc bồi dưỡng, rèn luyện CBCC CQCX thông qua hoạt động thực tiễn ở cơ sở là rất quan trọng và cần thiết, có tác dụng trực tiếp góp phần hình thành đội ngũ CBCC có chất lượng cao, hoàn thành tốt nhiệm vụ. Chưa qua thực tiễn công tác thì chưa có thể kiểm nghiệm được phẩm chất năng lực của CBCC. Vì vậy, để việc đào tạo, bồi dưỡng CBCC CQCX trong thực tế công tác có tác dụng tích cực thực sự, phải thực hiện và kết hợp tốt việc sau: - Trước hết, phát huy vai trò của bản thân CBCC CQCX. Thực tế ở khu vực MNĐBKK trên địa bàn tỉnh Bắc Giang đã chứng minh, những CBCC nào thực sự có tài, được rèn luyện trong quá trình đấu tranh lâu dài, những phẩm chất của những CBCC đó đều do họ tự rèn luyện trong môi trường công tác và hoạt động cách mạng. Ngược lại, những CBCC thoái hóa, biến chất là họ không biết giữ mình, không khiêm tốn, không ham học hỏi, kém tu dưỡng phấn đấu. Công cuộc CNH, HĐH nông nghiệp, phát triển kinh tế nông thôn khu vực MNĐBKK tỉnh Bắc Giang hiện nay đang đặt ra nhiều vấn đề kinh tế - xã hội phải tổ chức sao cho có hiệu quả. Những vấn đề trên là trách nhiệm nặng nề mà lịch sử giao phó, đồng thời cũng là thời cơ, thử thách đối với đội ngũ CBCC CQCX. Một khi người cán bộ có ý thức và nhu cầu từ bản thân trở thành người cán bộ lãnh đạo, quản lý ở cơ sở sẽ xuất hiện các hoạt động tự trau dồi, tự rèn luyện, bồi dưỡng trong công việc cụ thể hàng ngày để đáp ứng nhu cầu đó. Đây cũng là một hình thức đào tạo (tự đào tạo) nhằm đáp ứng được yêu cầu về nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC CQCX MNĐBKK trên địa bàn tỉnh Bắc Giang hiện nay. 3.2.4. Tiếp tục hoàn thiện và đẩy mạnh thực hiện hệ thống chế độ, chính sách đối với đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền cấp xã miền núi đặc biệt khó khăn a) Chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ: Tỉnh cần đầu tư thêm kinh phí (ít nhất là tăng gấp đôi) để chi cho công tác đào tạo, bồi dưỡng những người ưu tú trong diện quy hoạch cho các chức danh của CQCX MNĐBKK đi học các lớp tập trung trung học chuyên nghiệp (gồm các chuyên ngành kinh tế, nông lâm nghiệp) và các lớp trung học chính trị tại Trường Chính trị tỉnh. Đối với những cán bộ là người dân tộc ít người cần được miễn thi tuyển, thực hiện chế độ cử tuyển song cán bộ phải cam kết bằng văn bản khi học song phải trở về địa phương, nếu không thực hiện cam kết sẽ phải đền bù kinh phí đào tạo. Các huyện miền núi cần có kế hoạch mở lớp học bổ túc văn hóa để sớm hoàn thành phổ cập trung học phổ thông cho CBCC CQCX MNĐBKK. Kinh phí mở lớp do ngân sách tỉnh và huyện cấp, không thu học phí của học viên. Thực hiện tốt các quy định về chế độ cho các CBCC trong thời gian đi học, tạo điều kiện tốt để họ an tâm học tập. Nghiên cứu tham mưu đề xuất cơ quan nhà nước có thẩm quyền bổ sung một số quy định cho hợp lý đối với cán bộ đi học. Chỉ đạo các trường trung học chuyên nghiệp của tỉnh tăng cường mở lớp đào tạo tập trung cho CBCC CQCX đã đương chức và kế cận, mở các lớp tại chức ở huyện hoặc một cụm gồm một số huyện để sớm phổ cập trình độ trung cấp về chuyên môn nghiệpvụ cho CBCC CQCX nói chung CBCC CQCX MNĐBKK nói riêng. Tăng cường mở các lớp bồi dưỡng ngắn ngày về kiến thức quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, kiến thức quản lý chuyên ngành cho các chức danh CQCX, có chính sách hàng năm đưa cán bộ chủ chốt CQCX đi thăm quan học tập kinh nghiệm ở tỉnh bạn. b) Chính sách bảo đảm lợi ích vật chất và động viên tinh thần Chính sách đãi ngộ bảo đảm lợi ích vật chất và động viên tinh thần đối với đội ngũ cán bộ, chế độ phụ cấp, sinh hoạt phí và bảo hiểm xã hội đối với cán bộ cơ sở có ý nghĩa quyết định đến tinh thần và chất lượng công tác của cán bộ. Theo tinh thần Nghị định số 09/1998/NĐ-CP ngày 23-1-1998 và Nghị định 175/1999/NĐ-CP ngày 15-12-1999 của Chính phủ, sinh hoạt phí của CBCC CQCX đã có bước cải thiện đáng kể song vẫn còn nhiều bất cập. Cán bộ CQCX trong hệ thống chính quyền 4 cấp nhưng vẫn không được hưởng lương và chỉ được hưởng sinh hoạt phí. Hệ thống chính sách của chúng ta chưa đồng bộ và thiếu tính thống nhất. Để đổi mới hệ thống chính sách đãi ngộ đối với cán bộ xã, Chính phủ đã ban hành Nghị định 121/2003/NĐ-CP ngày 21-10-2003 "Về chế độ, chính sách đối với CBCC xã, phường, thị trấn" thay thế Nghị định 09/1998/NĐ-CP, áp dụng chế độ tiền lương, chế độ bảo hiểm y tế và xã hội, chế độ phụ cấp cho cán bộ chuyên trách và không chuyên trách. Đây là một sự hợp lý, góp phần làm tăng thêm lòng nhiệt tình, sự say mê cống hiến, sáng tạo trong công việc và hạn chế được những biểu hiện tiêu cực của cán bộ. Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện văn bản trên của Đảng bộ, chính quyền các cấp tỉnh Bắc giang còn chậm. Nhiệm vụ trước mắt là cần triển khai thực hiện văn bản trên nhằm đảm bảo chế độ cho CBCC CQCX. Ngoài việc quan tâm về vật chất và tinh thần cho đội ngũ CBCC đương chức còn phải quan tâm đến đội ngũ CBCC CQCX đã nghỉ hưu dưới các hình thức khác nhau: Tổ chức gặp mặt giữa cán bộ hưu với lãnh đạo huyện để động viên, tọa đàm trao đổi. Phối hợp với các cơ quan chức năng tổ chức cho cán bộ hưu của xã đi điều dưỡng, thăm quan... Thực hiện đồng bộ các chính sách chế độ để bảo đảm lợi ích vật chất và động viên tinh thần đối với đội ngũ cán bộ đương chức và cán bộ hưu ở cơ sở, tạo điều kiện cho cán bộ có cuộc sống vật chất và tinh thần tương xứng với mặt bằng chung sẽ góp phần làm cho cán bộ an tâm công tác, hết lòng xây dựng quê hương, hạn chế được những tiêu cực dễ phát sinh ở cơ sở nhằm xây dựng đội ngũ CBCC ở cơ sở thực sự trong sạch, vững mạnh có trình độ năng lực đáp ứng được yêu cầu của nhiệm vụ mới. d) Đổi mới chính sách sử dụng CBCC, đặc biệt là cán bộ công chức sau đào tạo. Trong chính sách sử dụng CBCC CQCX cần chú ý phải đúng tiêu chuẩn, bố trí đúng người, đúng việc. Cần có chính sách đoàn kết tập hợp cán bộ, trọng dụng những người có đức, có tài. Cần xây dựng chính sách nhằm điều động tăng cường cán bộ cho CQCX MNĐBKK nhằm đáp ứng yêu cầu cán bộ cấp thiết trước mắt, mặt khác tạo điều kiện để học hỏi lẫn nhau. Tuy nhiên, tránh tình trạng sử dụng cán bộ có tính chất tình thế, bố trí cán bộ không phù hợp chuyên môn, đưa những cán bộ không đủ tiêu chuẩn lên công tác ở khu vực MNĐBKK. Một số năm tới dù có cố gắng nhiều thì tình trạng thiếu cán bộ ở CQCX MNĐBKK chưa thể khắc phục một sớm một chiều được, nên việc điều động, tăng cường cán bộ người Kinh, cán bộ vùng thấp lên công tác ở khu vực này là yêu cầu khách quan, không những vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt mà còn tạo điều kiện tăng cường, giúp đỡ lẫn nhau, thúc đẩy sự phát triển của khu vực MNĐBKK. Ngoài ra, Đảng bộ chính quyền các cấp tỉnh Bắc Giang cần điều chỉnh và hoàn thiện chính sách nhằm thu hút nhân tài vào khu vực MNĐBKK, như: Đối với cán bộ từ nơi khác đến, hiện đang hoạt động ở cơ sở, phải có chế độ đãi ngộ thích hợp để động viên họ an tâm với công tác được giao, trước hết là chế độ lương, phụ cấp. Đối với tri thức trẻ cần ban hành nhiều chính sách ưu đãi nhằm huy động được nhiều hơn tri thức trẻ lên làm việc ở khu vực MNĐBKK. Các chính sách này được thể hiện trên các lĩnh vực thu nhập, bảo hiểm và điều kiện lao động cho họ. Kết luận chương 3 Thực tiễn đội ngũ CBCC CQCX MNĐBKK trên địa bàn tỉnh Bắc Giang và yêu cầu của công tác cán bộ trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn đòi hỏi phải có hệ thống các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ này để có thể ngang tầm với nhiệm vụ. Trên cơ sở những quan điểm chỉ đạo - một số giải pháp được đề ra ở trên vừa mang tính cơ bản, vừa mang tính cụ thể nhằm đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC CQCX MNĐBKK trên địa bàn tỉnh Bắc Giang hiện nay. Các giải pháp này có mối liên hệ mật thiết với nhau, không tách rời nhau tạo thành một hệ thống giải pháp không thể cắt rời. Do đó trong tổ chức thực hiện phải tiến hành đồng bộ và có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành từ Trung ương đến cơ sở, tạo nên sự nhất quán. Kết luận Sự nghiệp đổi mới đặt ra những yêu cầu cấp bách về việc cải cách bộ máy nhà nước, cải cách nền hành chính nhà nước trong đó vai trò quyết định thuộc về yếu tố con người, thuộc về phẩm chất, năng lực và trình độ của đội ngũ CBCC nói chung và đội ngũ CBCC CQCX nói riêng. Thực tế những năm tiến hành công cuộc đổi mới toàn đất nước do Đảng khởi xướng và lãnh đạo càng chứng minh sâu sắc vai trò quan trọng của đội ngũ CBCC CQCX. Chính quyền cấp xã, phường, thị trấn có một vị trí rất quan trọng, là cầu nối trực tiếp giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, là nơi tổ chức thực hiện trên thực tế mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, biến chúng thành hoạt động thực tế của nhân dân địa phương. Phẩm chất chính trị, trình độ năng lực, trí tuệ của đội ngũ cán bộ Đảng và chính quyền là yếu tố làm nên sức mạnh ưu việt của chế độ XHCN. Vì thế không ngừng nâng cao năng lực, trình độ cho đội ngũ cán bộ cơ sở là một yêu cầu bức thiết trong giai đoạn hiện nay. Để góp phần vào việc kiện toàn đội ngũ CBCC CQCX MNĐBKK trên địa bàn tỉnh Bắc Giang, luận văn đã tập trung phân tích làm sáng tỏ một số vấn đề sau: - Để có được những giải pháp hữu hiệu nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC CQCX MNĐBKK trên địa bàn tỉnh Bắc Giang, trước hết cần nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của đội ngũ CBCC CQCX nói chung, đặc biệt là CBCC ở các xã miền núi, vùng cao. Đây là điểm khởi đầu, là cơ sở để tìm ra những hướng đi đúng đắn, những giải pháp thiết thực để nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC CQCX trong giai đoạn cách mạng hiện nay. - Luận văn cũng đã tập trung phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ CBCC CQCX MNĐBKK để tìm ra những giải pháp hữu hiệu nhằm không ngừng nâng cao chất lượng cho đội ngũ cán bộ cấp xã MNĐBKK. - Phân tích thực trạng của đội ngũ CBCC CQCX MNĐBKK trên địa bàn tỉnh Bắc Giang. Mặc dù đã có sự quan tâm, chỉ đạo kịp thời của các cấp ủy Đảng và cơ quan từ Trung ương đến địa phương, nhưng nhìn chung chất lượng đội ngũ CBCC CQCX MNĐBKK vẫn còn nhiều bất cập, còn tình trạng yếu kém về năng lực, trình độ, phẩm chất chính trị đạo đức. Luận văn cũng đã chỉ một số nguyên nhân cơ bản của tình trạng đó. Trên cơ sở đó, luận văn đã đưa ra một hệ thống các giải pháp cơ bản, đồng bộ với mục đích phát huy những yếu tố tích cực, khắc phục những hạn chế tồn tại nhằm không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC CQCX MNĐBKK trên địa bàn tỉnh Bắc Giang, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đặt trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC CQCX nói chung, đội ngũ CBCC CQCX MNĐBKK nói riêng là một vấn đề lớn, việc thực hiện đòi hỏi phải có thời gian và sự phối hợp của các cấp ủy đảng, chính quyền và các ngành các cấp từ Trung ương đến địa phương. Với phạm vi nghiên cứu của một luận văn thạc sĩ trong một địa bàn cụ thể, tác giả xin được đóng góp một phần nhỏ bé của mình vào sự nghiệp này, với hy vọng chúng ta sẽ xây dựng được một đội ngũ CBCC CQCX vừa hồng, vừa chuyên, đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Danh mục tài liệu tham khảo 1. Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ (1999), Báo cáo kết quả điều tra cơ bản, đánh giá thực trạng, đề xuất các giải pháp xây dựng và nâng cao chất lượng cán bộ hệ thống chính trị cơ sở, Hà Nội. 2. Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ - Viện Khoa học tổ chức nhà nước (2000), Chính quyền cấp xã và quản lý nhà nước ở cấp xã, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 3. Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ (2001), Đề án kiện toàn hệ thống chính trị ở cơ sở, Hà Nội. 4. Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ (2000), Khuyến nghị chính sách đối với cán bộ xã, phường, thị trấn, Hà Nội. 5. Ban Tổ chức chính quyền tỉnh Bắc Giang (2002), Đề tài Nghiên cứu một số biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động của đội ngũ cán bộ cấp xã, Bắc Giang. 6. Bộ Chính trị (1989), Nghị quyết số 22-NQ/TW về một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi, Hà Nội. 7. Bộ Công an (2001), Những văn bản của Đảng, Nhà nước và Hồ Chí Minh về vùng miền núi và dân tộc thiểu số ở Việt Nam từ 1930 đến nay, Hà Nội. 8. Bộ Nội vụ (2004), Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV ngày 16/01 về việc ban hành quy định tiêu chuẩn cụ thể đối với cán bộ công chức xã, phường, thị trấn. 9. Chính phủ (1993), Nghị định 46/CP ngày 23/6 về chế độ sinh hoạt phí đối với cán bộ xã, phường, thị trấn. 10. Chính phủ (1995), Nghị định 50/CP ngày 26/7 về chế độ sinh hoạt phí đối với cán bộ xã, phường, thị trấn. 11. Chính phủ (2003), Nghị định 114/2003/NĐ-CP ngày 10/10 về cán bộ công chức xã, phường, thị trấn. 12. Chính phủ (2003), Nghị định 121/2003/NĐ-CP ngày 21/10 về chế độ, chính sách đối với cán bộ công chức xã, phường, thị trấn. 13. Chính phủ (2004), Nghị định 107/2004/NĐ-CP ngày 01/4 quy định số lượng phó chủ tịch và cơ cấu thành viên ủy ban nhân dân các cấp. 14. Chính phủ (1995), Quyết định 97/CP-UB ngày 15/10 về củng cố tổ chức bộ máy làm việc của cấp xã, phường,t hị trấn. 15. Chính phủ (2004), Quyết định số 03/2004/QĐ-TTg ngày 07/01 phê duyệt định hướng quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức xã, phường, thị trấn đến năm 2010. 16. Nguyễn Đăng Dung (1997), Tổ chức chính quyền nhà nước ở địa phương, Nxb Đồng Nai, Đồng Nai. 17. Phan Đại Doãn (1996), Quản lý xã hội ở nước ta hiện nay - Một số vấn đề và giải pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 18. Đảng Cộng sản Việt Nam (1982), Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V, Nxb Sự thật, Hà Nội. 19. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội. 20. Đảng Cộng sản Việt Nam (1995), Văn kiện Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương khóa VII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 21. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 22. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Nghị quyết Trung ương 3, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 23. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Hội nghị lần 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 24. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 25. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương khóa IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 26. Đảng Cộng sản Việt Nam (2003), Văn kiện Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khóa IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 27. Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980 và 1992 (1995), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 28. Học viện Hành chính quốc gia (1997), Giáo trình quản lý hành chính nhà nước, Nxb Thống kê, Hà Nội. 29. Luật tổ chức Hội đồng nhân dân - ủy bn nhân dân (sửa đổi), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 30. V.I.Lênin (1974), Toàn tập, tập 4, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva. 31. V.I.Lênin (1974), Toàn tập, tập 44, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva. 32. V.I.Lênin (1978), Toàn tập, tập 45, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva. 33. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia. 34. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị quốc gia. 35. Lê Hữu Nghĩa, Nguyễn Văn Mạnh (2001), 55 năm xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 36. Hoàng Phê (chủ biên) (2002), Từ điển tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng. 37. Nguyễn Văn Sáu, Hồ Văn Thông (đồng chủ biên) (2003), thực hiện quy chế dân chủ và xây dựng chính quyền cấp xã ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 38. Dương Hương Sơn (2003), Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức chính quyền cấp xã tỉnh Quảng Trị, Luận văn thạc sĩ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. 39. Nguyễn Phú Trọng, Trần Xuân Sầm (đồng chủ biên), (2003), Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 40. Tỉnh ủy Bắc Giang (2002), Đề án Đẩy mạnh quy hoạch cán bộ và thực hiện luân chuyển cán bộ lãnh đạo quản lý trong tỉnh, Bắc Giang. 41. Trường Đại học Kinh tế quốc dân (2000), Báo cáo tổng hợp dự án điều tra, khảo sát hiện trạng nhu cầu đào tạo cán bộ ở các xã thuộc Chương trình 135, Hà Nội. 42. ủy ban dân tộc và miền núi (1996), Thông tư 41/UB-TT quy định và hướng dẫn thực hiện tiêu chí từng khu vực ở vùng dân tộc - miền núi, Hà Nội. 43. ủy ban dân tộc và miền núi (1999), Báo cáo thực hiện những nhiệm vụ chủ yếu triển khai chương trình phát triển kinh tế - xã hội ở các xã miền núi đặc biệt khó khăn và vùng sâu, vùng xa, Hà Nội. 44. ủy ban dân tộc và miền núi (2001), 55 năm công tác dân tộc và miền núi (1946- 2001), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 45. ủy ban dân tộc và miền núi, Về vấn đề dân tộc và công tác dân tộc ở nước ta, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 46. ủy ban dân tộc và miền núi (2003), Danh sách các xã miền núi đặc biệt khó khăn thuộc diện hỗ trợ đầu tư của Chương trình 135 từ kế hoạch năm 2003, Hà Nội. 47. ủy ban dân tộc và miền núi (2004), Kỷ yếu Hội nghị sơ kết năm năm (1999-2003) thực hiện chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã vùng đồng bào dân tộc miền núi, biên giới, vùng sâu, vùng xa (C13) và triển khai kế hoạch hai năm (2004 - 2005), Hà Nội. 48. ủy ban Thường vụ Quốc hội, Pháp lệnh cán bộ công chức (đã được sửa đổi bổ sung năm 2000 và 2003), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 49. Trần Khắc Việt, Tô Huy Rứa, Nguyễn Cúc (đồng chủ biên) (2003), Giải pháp đổi mới hoạt động của hệ thống chính trị ở các tỉnh miền núi nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Phụ lục Phụ lục 1 Thống kê số lượng cán bộ chính quyền cấp xã MNĐBKK Kết quả điều tra số CBCQ các xã MNĐBKK phân theo thành phần dân tộc Dân tộc Bắc Cạn Lào Cai Phú Thọ Sơn La Số lượng (người) Tỷ lệ (%) Số lượng (người) Tỷ lệ (%) Số lượng (người) Tỷ lệ (%) Số lượng (người) Tỷ lệ (%) 1. Dáy 4 4,30 2. Dao 1 2,56 11 10,58 1 1,0 3. Khơ Mú 1 1,0 4. Kinh 18 19,35 17 16,35 1 1,0 5. H'mông 51 54,84 8 8,0 6. Mường 76 73,08 7. Nùng 7 17,95 16 17,20 8. Pa Dí 4 4,3 9. Tày 31 79,48 10. Thái 89 89,0 Tổng 39 100 93 100 104 100 100 100 Nguồn: Số liệu điều tra của Viện Nghiên cứu Kinh tế và Phát triển, Đại học Kinh tế quốc dân, năm 2000. Phụ lục 2 Kết quả điều tra cơ cấu cán bộ chuyên môn ở CQCX các xã MNĐBKK phân theo giới tính Đơn vị tính: % Tỉnh Xã 135 Xã ngoài 135 Nam Nữ Tổng Nam Nữ Tổng Bắc Kạn 100 0,00 100,00 Lào Cai 82,76 17,24 100,0 66,67 33,33 100,00 Phú Thọ 97,3 2,7 100,0 100 0,00 100,00 Sơn La 92,31 7,69 100,00 100 0,00 100,00 Nguồn: Số liệu điều tra của Viện Nghiên cứu Kinh tế và Phát triển, năm 2000. Phụ lục 3 Kết quả điều tra CBCC CQCX MNĐBKk phân theo trình độ văn hóa Cấp học Bắc Cạn Lào Cai Phú Thọ Sơn La Số lượng (người) Tỷ lệ (%) Số lượng (người) Tỷ lệ (%) Số lượng (người) Tỷ lệ (%) Số lượng (người) Tỷ lệ (%) 1. Cấp 1 1 2,56 53 56,99 - - 42 42,0 2. Cấp 2 27 69,23 30 32,26 59 56,73 54 54,0 3. Cấp 3 11 28,11 10 10,75 45 43,27 4 4,0 Tổng 39 100 93 100 104 100 100 100 Nguồn: Số liệu điều tra của Viện Nghiên cứu Kinh tế và Phát triển, Đại học Kinh tế quốc dân, năm 2000. 113 Phụ lục 4 Biểu thống kê số lượng, chất lượng CBCC CQCX của 44 xã MNĐBKK địa bàn tỉnh Bắc Giang tính đến thời điểm 30/6/2004 Đơn vị tính: người STT Năm sinh Chức danh Dân tộc ít người Tôn giáo Độ tuổi Dưới 35 Từ 35 đến 44 Từ 45 đến 50 Trên 50 Nam Nữ 1. Chủ tịch HĐND c. trách 7 3 7 7 2. 03 Phó CT HĐND c.trách 17 6 18 12 3 3. Chủ tịch UBND 17 5 23 15 1 4. Phó Chủ tịch UBND 30 06 32 16 0 5. Chỉ huy trưởng quân sự 18 9 16 13 6 6. Trưởng công an 22 9 24 7 2 7. 1 Văn phòng - Thống kê 18 18 19 5 2 8. Tư pháp - hộ tịch 20 18 15 9 2 9. Tài chính - kế toán 14 8 24 11 1 10. Địa chính - xây dựng 12 12 17 8 4 11. 1 Văn hóa - xã hội 16 25 13 2 1 Tổng cộng 114 Tiếp Trình độ văn hóa Trình độ chuyên môn Trình độ LLCT Quản lý nhà nước CB tăng cường CB hưu, MSLĐ Đại biểu HĐ Tiểu học THCS THPT Chưa qua đào tạo Sơ cấp TC, CĐ ĐH Trên ĐH Sơ cấp TC C.cấp cử nhân Bồi dưỡng Trung cấp Cao đẳng ĐH, trên ĐH Cấp xã Cấp huyện Cấp tỉnh 10 7 11 2 4 0 0 2 4 0 12 2 25 12 28 10 1 12 26 19 1 1 31 12 18 6 9 1 0 5 36 28 1 35 19 38 10 6 9 24 33 2 17 25 33 5 3 8 20 21 1 22 20 29 9 4 11 19 19 2 30 14 31 9 4 10 7 17 3 1 35 8 22 17 5 11 9 21 1 30 14 19 8 17 8 5 19 2 21 20 14 22 5 10 9 14 0 29 12 38 3 1 0 8 Cộng Nguồn: Sở Nội vụ tỉnh Bắc Giang. 115

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdf119_3933.pdf
Luận văn liên quan