Luận án Nghiên cứu các giải pháp marketing áp dụng vào công tác vận chuyển hành khách trên đường sắt

- Marketing trong vận tải hành khách đường sắt là một vấn đề lớn liên quan đến nhiều yếu tố phức tạp như: quy phạm, quy trình, sở hữu nhà nước, kiểm định, sản xuất mang tính công ích, quy trình công nghệ đặc biệt và các chính sách vĩ mô khác. Những vấn đề rộng lớn này cần được tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện ở các công trình tiếp theo.

doc173 trang | Chia sẻ: toanphat99 | Lượt xem: 1638 | Lượt tải: 5download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận án Nghiên cứu các giải pháp marketing áp dụng vào công tác vận chuyển hành khách trên đường sắt, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ạn.Bên cạnh đó, hết sức chú trọng việc xây dựng luồng khách tiềm năng và có giải pháp cụ thể thu hút người dân sử dụng dịch vụ đường sắt, đồng thời chú trọng liên kết hợp tácvới các đơn vị du lịch lữ hành nhằm tạo sản phẩm mới.Trên cơ sở hiện có về đầu máy, toa xe,năng lực tuyến đường tổ chức lẩy ý kiến hành khách để bố trí sắp xếp lại thành phần đoàn tàu nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu đi lại của hảnh khách. - Phương pháp tổ chức xin ý kiến hành khách Căn cứ các nội dung thăm dò trên cơ sở nhu cầu của hành khách để thiết kế bảng các câu hỏi cho các loại phiếu thăm dß. Mỗi loại phiếu xin ý kiến hành khách đều tập hợp thành bảng câu hỏi giống như hình thức thi trắc nghiệm tạo cho hành khách cảm giác dễ dàng khi trả lời. Từng câu hỏi đều có từ 3 đến 6 đáp án sẵn kèm theo ô vuông trống hành khách chỉ cần đánh dấu vào ô được chọn. Ngoài ra mỗi phiếu có một khung riêng giành cho hành khách tuỳ ý tự ghi thêm ý kiến của bản thân mình. Các phiếu xin ý kiến hành khách được đưa trực tiếp với hành khách trên các đoàn tàu SP1/2, LC1/2 SP3/4, LC3/4. Nhân viên đường sắt hướng dẫn giải thích cho hành khách nội dung và cách thức ghi phiếu. Hành khách tự mình điền vào phiếu và ghi các nhận xét. Nhân viên thu nhận lại phiếu xin ý kiến hành khách chuyển về cơ quan đường sắt phân loại và xử lý. Các loại phiếu xin ý kiến hành khách Gồm 3 loại: (1). Về việc tổ chức bán vé (2). Về công tác phục vụ ở ga đón tiễn khách (3). Về công tác phục vụ trên tàu. Bảng câu hỏi cho từng loại phiếu xin ý kiến hành khách được thiết kế theo các nội dung như sau: Ngày..tháng. năm 200.. Tàu số: Ga đi: ga đến:.......... PHIẾU XIN Ý KIẾN HÀNH KHÁCH Quý khách vui lòng điền hoặc đánh dấu (X) theo các nội dung dưới đây Quý khách là: 1. CBCNV Nhà nước 2. Công nhân 3. Học sinh - sinh viên 4. Khách du lịch Nơi ở của Quý khách: Quận (huyện) Tỉnh (TP):................... Nơi mua vé tàu: 1. Tại ga 2. Tại đại lý 3. Nhờ mua hộ Thái độ nhân viên bán vé: 1. Lịch sự 2. Bình thường 3. Thiếu nhiệt tình Loại tàu Quý khách ưa thích hoặc thường xuyên mua vé: Mác tàu: 1. SP1/2 3. LC1/2, ¾ 2. SP3/4 4. Tàu khác Toa xe: 1. Có máy điều hoà 2. Không có máy điều hoà Loại chỗ: 1. Giường mềm 3. Ghế mềm 2. Giường cứng 4. Ghế cứng Các ý kiến bổ sung thêm của Quý khách: CHÂNTHÀNH CẢM ƠN SỰ HỢP TÁC NHIỆT TÌNH CỦA QUÝ KHÁCH - Qua khảo sát do tác giả thực hiện về sở thích một số mác tàu theo BĐCT ta có: Bảng 3.4. Tổng hợp kết quả thông qua ý kiến hành khách Danh mục khảo sát Ý kiến khảo sát Số lượng Tỷ lệ (%) Ghi chú Tổng số phiếu 1000 100% - Đối tượng CBCNV Nhà nước 426 46.00 Công nhân 156 14.40 Học sinh, sinh viên 208 20, 20 Khách du lịch 125 12.00 Không thuộc 4 trường hợp trên 85 7.40 - Nơi ở Thành phố Hà Nội, Lào Cai 610 62.63 Các tỉnh có đường sắt đi qua 288 38.25 Các tỉnh xa đường sắt 91 11.12 - Nơi mua vé Tại ga 755 70.30 Tại đại lý 226 21.80 Nhờ mua hộ 58 7.20 - Thái độ NV bán vé Lịch sự 488 47.80 Bình thường 381 38.20 Thiếu nhiệt tình 27 3.60 - Loại tàu HK thích SP1/2 277 27.70 SP3/4 316 31.60 LC1/2, 3/4 365 36.50 Tàu khác 42 4, 20 - Toa xe HK thích Có máy điều hoà 682 68.20 Không có máy điều hoà 318 31, 80 Giường mềm 332 33, 20 Giường cứng 213 21, 30 Ghế mềm 305 30, 50 Ghế cứng 150 15, 00 - SP1/2 với 277 ý kiến = 27, 70% - SP3/4 với 316 ý kiến = 31, 60% - LC1/2, 3, 4 với 365 ý kiến = 36, 5% - Tàu khác với 42 ý kiến = 4, 2% - Khảo sát sở thích toa xe khách có máy điều hoà: - Toa xe có máy điều hòa: 682 ý kiến = 68, 2% - Toa xe không có máy điều hoà: 318 ý kiến = 31, 8% - Khảo sát sở thích loại ghế ngồi, giường nằm: - Giường nằm mềm: 332 = 33, 2% - Giường nằm cứng: 213 = 21, 3% - Ghế mềm: 305 = 30, 5% - Ghế cứng: 150 = 15, 0% Căn cứ vào khối lượng vận chuyển hành khách,căn cứ vào số lượng, chủng loại, đầu máy, toa xe, công lệnh tải trọng, công lệnh tốc độ trên tuyến đường sắt Hà Nội – Lào Cai. Tác giả xin đề xuất phương án thay đổi thành phần đoàn tàu của một số SP1/2, SP3/4, LC5/6, LC1/2, 3/4 để đáp ứng nhu cầu vận chuyển đồng thời nâng cao chất lượng phục vụ hành khách. Bảng 3.5. Thành phần đoàn tàu SP1/2 ; SP3/4 LC5/6, LC1/2, 3/4 Mác tàu HL-PĐ HC-PĐ PĐ HC C.hl B80L B80 A64L AN24L AN28L BN42 BN42L TS xe TS chỗ SP1/2 1 2 10 2 1 16 454 SP3/4 1 3 5 4 13 500 LC5/6 1 4 2 7 448 LC1/2 1 1 1 2 7 1 2 15 868 LC3/4 1 1 1 2 7 1 13 784 Cộng 1 3 1 3 4 18 7 15 4 5 68 3054 Chú thích: An: Toa nằm mềm (28 hoặc 24 giường); Bn: Toa nằm cứng (42 hoặc 48 giường) ; A: Toa ngồi mềm (64 ghế); B: Toa ngồi cứng (64 hoặc 80 ghế); C: Toa ngồi ghế dọc + Hành lí; HC: Toa Hàng Cơm; HL: Toa Hành lý; CV-PĐ: Toa Công vụ phát điện. Bảng 3.6 Bố trí toa xe trong thành phần đoàn tàu trong phương án 1 Mác tàu HL-PĐ HC-PĐ PĐ HC C.hl B80l B80 A64L AN24L AN28L BN42 BN42L TS xe TS chỗ SP1/2 1 2 12 2 17 548 SP3/4 1 1 3 8 1 3 17 664 LC5/6 1 1 3 3 3 2 4 17 728 LC1/2 1 1 2 8 2 4 17 1096 LC3/4 1 1 1 2 8 4 17 1056 Cộng 1 4 1 3 4 20 14 3 22 9 5 85 4092 Bảng 3.7. Bố trí toa xe trong thành phần đoàn tàu trong phương án 2 Mác tàu HL-PĐ HC-PĐ PĐ HC C.hl B80l B80 A64L AN24L AN28L BN42 BN42L TS xe TS chỗ SP1/2 1 2 10 4 17 576 SP3/4 1 1 2 10 1 2 17 614 LC5/6 1 1 4 3 3 2 3 17 766 LC1/2 1 1 1 7 3 2 2 17 923 LC3/4 1 1 1 2 8 4 17 1006 Cộng 1 4 1 3 3 20 14 5 22 6 6 85 3885 Chú thích: An: Toa nằm mềm (28 hoặc 24 giường); Bn: Toa nằm cứng (42 hoặc 48 giường) ; A: Toa ngồi mềm (64 ghế); B: Toa ngồi cứng (64 hoặc 80 ghế); C: Toa ngồi ghế dọc + Hành lí; HC: Toa Hàng Cơm; HL: Toa Hành lý; CV-PĐ: Toa Công vụ phát điện. Bảng 3.8. Tổng số toa xe trong thành phần đoàn tàu SP1/2, SP3/4, LC5/6, LC1/2, 3/4 theo biểu đồ chạy tàu Mác tàu HL-PĐ HC-PĐ PĐ HC C.hl B80l B80 A64L AN24L AN28L BN42 BN42L TS chỗ SP1/2 48 280 84 42 454 Sp3/4 192 140 168 500 LC5/6 320 128 448 LC1/2 160 560 64 84 868 LC3/4 160 560 64 784 Cộng 320 1440 438 48 420 168 210 3054 Bảng 3.9. Tổng số toa xe sau khi bố trí lại theo phương án 1 Mác tàu HL-PĐ HC-PĐ PĐ HC C.hl B80l B80 A64L AN24L AN28L BN42 BN42L TS chỗ SP1/2 128 336 84 548 Sp3/4 80 192 224 42 126 664 LC5/6 240 192 72 56 168 728 LC1/2 160 640 128 168 1096 LC3/4 160 640 256 1056 Cộng 320 1600 896 72 616 378 210 4092 Bảng 3.10. Tổng số toa xe sau khi bố trí lại theo phương án 2 Mác tàu HL-PĐ HC-PĐ PĐ HC C.hl B80l B80 A64L AN24L AN28L BN42 BN42L TS chỗ SP1/2 128 280 168 576 SP3/4 80 128 280 42 84 614 LC5/6 320 192 72 56 126 766 LC1/2 55 480 256 48 84 923 LC3/4 110 640 256 1006 Cộng 165 3885 Chú thích: An: Toa nằm mềm (28 hoặc 24 giường); Bn: Toa nằm cứng (42 hoặc 48 giường) ; A: Toa ngồi mềm (64 ghế); B: Toa ngồi cứng (64 hoặc 80 ghế); C: Toa ngồi ghế dọc + Hành lí; HC: Toa Hàng Cơm; HL: Toa Hành lý; CV-PĐ: Toa Công vụ phát điện. Trên cơ sở tổ chức bố trí lại thành phần đoàn tàu đã mang lại những kết quả sau: - Đáp ứng nhu cầu phục vụ hành khách tối đa nhất theo khả năng hiện có. - Lượng hành khách đi tàu cao hơn, hiệu quả cao hơn. - Doanh thu cao hơn. Đối với các tuyến khác cũng tiến hành khảo sát và tính toán bố trí lại thành phần toa xe để đáp ứng nhu cầu hành khách, tăng doanh thu toàn ngành. 3.5. Chính sách giá và phân phối sản phẩm 3.5.1. Phân phối sản phẩm dịch vụ vận tải hành khách Phân phối sản phẩm dịch vụ vận tải hành khách là các hoạt động đưa sản phẩm dịch vụ vận tải hành khách từ ngành đường sắt đến hành khách. Thông qua các kênh phân phối khác nhau, có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp. Tham gia vào kênh phân phối bao gồm: ngành đường sắt, các doanh nghiệp trung gian, hành khách. Các doanh nghiệp trung gian tham gia vào kênh phân phối do họ thực hiện chức năng phân phối tốt hơn ngành đường sắt. Các doanh nghiệp này lại hoạt động rất phức tạp, đòi hỏi ngành đường sắt phải lựa chọn được doanh nghiệp trung gian có uy tín. Trên cơ sở duy trì hợp tác hiệu quả giữa các thành viên trong kênh phân phối. Đây là bộ phận quan trọng của chiến lược Marketing hỗn hợp và có ảnh hưởng trực tiếp đến các mặt hoạt động khác của Marketing. Cũng như chiến lược dài hạn về phát triển thị phần vận tải hành khách đường sắt. Đối với vận tải hành khách đường sắt sản phẩm là sự di chuyển của hành khách từ nơi đi đến nơi đến, sản phẩm cơ bản của vận tải hành khách đường sắt là HK.Km và sản phẩm này có thể được bán trực tiếp cho hành khách tại ga hoặc bán thông qua các đại lý bán vé. Tuy nhiên hành khách đi tàu vẫn quen với việc mua vé tại các cửa bán vé ở ga, hình thức bán vé đi tàu thông qua các đại lý bán vé mặc dù đã có từ lâu nhưng hoạt động rất hạn chế cả về mác tàu bán vé, số lượng vé bán và chất lượng dịch vụ cung cấp. Hành khách đi du lịch có thể ủy thác cho các công ty du lịch mua vé khi họ tham gia vào một chuyến du lịch nào đó do công ty tổ chức và các công ty này cũng phải đến ga đăng ký mua vé đi tàu. Do vậy, ngành đường sắt nên đa dạng hóa hình thức phân phối sản phẩm dịch vụ vận tải hành khách. Thay vì bán hàng trực tiếp chúng ta đã tổ chức bán chuyến tàu, bán toa tàu, tổ chức bán vé cho hành khách đi tàu qua mạng Internet, qua điện thoại hay qua hệ thống đại lý bán vé. Về sản phẩm ngành cũng phải đa dạng hóa với nhiều sản phẩm khác nhau với các mức giá khác nhau để hành khách có thể lựa chọn như vé ngồi hay nằm, ghế cứng hay ghế mềm, toa có điều hòa hay không có điều hòa, Thời gian gần đây với chủ trương xã hội hóa công tác vận chuyển hành khách thông qua việc bán chuyến, bán toa cho các công ty ngoài ngành. ĐSVN đã kêu gọi được 17 đơn vị đầu tư kinh phí để nâng cấp cải tạo các toa xe từ không có điều hòa thành có điều hòa không khí. Hiện trên các tuyến Hà Nội – Lào Cai, Hà Nội – Hải Phòng, Hà Nội – Vinh, Sài gòn – Nha Trang.. có gần 100 toa xe được thuê, mua theo hình thức trọn gói. Đó là Công ty Cổ phần Tân Hoa Việt; Công tyTNHH một thành viên khách sạn Victory; Công ty cổ phần dịch vụ đường sắt Hoa Phượng; Công ty Cổ phần Dịch vụ du lịch Đường sắt; Công ty Cổ phần Vận tải và Thương mại Liên Việt;Công ty TNHH Dược phẩm Tư Linh (Tulico);Công ty TNHH sản xuất hàng tiêu dùng Bình Tiên (Bitis); Công ty Cổ phần Vận tải và Thương mại đường sắt (Ratraco);Ga Hà Nội và Xí Nghiệp VDTXK Hà Nội;Công ty TNHH Du lịch dịch vụ và Thương mại TSC; Công ty TNHH Thương mại và du lịch Hoàng Gia Việt ;Công ty Cổ phần thương mại du lịch Việt á;Công ty cổ phần vận tải và thương mại Đông Việt; Công ty cổ phần thương mại du lịch DV và VT Anh Vũ; Công ty cổ phần thương mại và du lịch Tàu Việt Nam;Công ty Cổ phần du lịch thương mại Đông Á;Công ty cổ phần đầu tư Thương mại Khám Phá Việt. Bước đầu việc kinh doanh hành khách của các công ty này đều ổn định, do chủ động trong việc bán vé, nhất là hành khách đi du lịch, nên đảm bảo công tác kinh doanh được thuận lợi. Với đặc thù riêng của vận tải hành khách là chạy theo biểu đồ chạy tàu cố định, luồng hành khách đường dài tương đối ổn định, chủ trương xã hội hóa trong vận tải hành khách đem lại nhiều lợi ích đối với khách hàng, tăng thu nhập cho ngành Vận tải đường sắt đồng thời cũng giúp giảm sức ép về toa xe do thiếu kinh phí đầu tư. Để chủ trương này phát huy hiệu quả cao, ngành cần phải quản lý hiệu quả các kênh phân phối này, tránh tình trạng các công ty tăng giá vé lên quá cao mỗi khi đông khách, hoặc hạ giá vé xuống quá thấp mỗi khi ít khách ảnh hưởng đến uy tín của ngành trong vận chuyển hành khách. Có như vậy, việc phân phối sản phẩm dịch vụ vận tải hành khách đường sắt mới đạt hiệu quả cao, góp phần làm tăng thị phần vận tải hành khách cũng như tăng doanh thu cho ngành trong lĩnh vực vận tải hành khách. 3.5.2. Xây dựng chính sách giá vé hợp lý - Để có thể xây dựng chính sách giá vé hợp lý trước hết ta phải hiểu Giá cả - giá vé hành khách là gì: + Với hoạt động trao đổi giá cả được định nghĩa giá là mối tương quan trao đổi trên thị trường. Với người mua giá cả của một dịch vụ là khoản tiền mà người mua phải trả cho người bán để được quyền sử dụng dịch vụ. Với người bán giá cả của một dịch vụ là khoản thu nhập của người bán nhận được nhờ tiêu thụ dịch vụ. + Giá vé vận tải hành khách là giá cả của sản phẩm vận tải hành khách, là số tiền mà hành khách phải trả cho chủ phương tiện ứng với một cự ly vận chuyển nhất định. Giá vé là biểu hiện bằng tiền của giá trị sản phẩm vận tải. Giá vé vận chuyển hành khác bằng đường sắt được tính dựa trên cơ sở chi phí vận chuyển hành khách, khi vận chuyển các toa xe khác nhau, loại tàu khác nhau thì giá thành vận tải khác nhau, do vậy giá vé phụ thuộc vào loại toa xe (A, B, An, Bn) và loại tàu (SE, TN, HP, LP). - Quan niệm của marketing khi đánh giá về tầm quan trọng của giá, thì giá là biến số duy nhất của Marketing – mix tạo doanh thu cho ngành vận tải đường sắt. Các quyết định về giá luôn gắn với kết quả hoạt động của ngành. Thông tin về giá luôn giữ vị trí quan trọng trong việc đề xuất các quyết định kinh doanh. Quản trị giá được coi là một trọng tâm của quản trị marketing. - Giá vé vận tải hành khách đường sắt trong những năm qua không ngừng thay đổi dưới sự tác động của quan hệ cung - cầu trên thị trường, tuy nhiên giá vé này vẫn còn thiếu linh hoạt, hành khách ít khi được giảm giá, nếu có thì chỉ là một số đối tượng thuộc loại đương nhiên phải được xã hội ưu đãi như “bà mẹ Việt Nam anh hùng”, “người có công “, thực sự được giảm giá chỉ có một số đối tượng như mua vé tập thể, học sinh đi thinhưng điều kiện cũng rất hạn chế. Những khách hàng thường xuyên sử dụng dịch vụ của đường sắt, những khách hàng tiềm năng chưa được chú ý trong chính sách giá. Một điểm yếu nữa của giá vé vận tải hành khách đường sắt là chưa tính đến sự bền vững, vẫn còn ở mức độ cao và chưa có được các yếu tố cạnh tranh thuyết phục như các phương tiện vận tải khác. Xây dựng một chính sách cước hợp lý trong cả vận chuyển hành khách là công việc quan trọng đảm bảo được sự phát triển bền vững trong tương lai. Để xây dựng một chính sách giá cước hợp lý, ngoài việc căn cứ vào giá thành vận tải hành khách, ngành Vận tải đường sắt còn phải xem xét đến các yếu tố bên ngoài như hành khách, các đối thủ cạnh tranh, các chính sách của nhà nước, tính mùa vụ trên nguyên tắc thu hút nhu cầu vận chuyển và có lãi. Việc điều chỉnh giá vé hành khách ngoài đảm bảo tính linh hoạt, còn phải xuất phát từ các mục tiêu ngành. Mục tiêu có thể là: Định giá vé để tồn tại, định giá để đạt được lợi nhuận tối đa, định giá để đạt được mức doanh thu tối đa, định giá để đạt mức sản lượng tối đa. Như vậy, xây dựng chính sách hợp lý cũng phải đảm bảo được sự ổn định về giá càng lâu càng tốt để giữ chữ tín và lòng tin đối với hành khách.Việc điều chỉnh giá vé chỉ được thực hiện khi ngành cần đổi mục tiêu kinh doanh hoặc khi giá cả của các yếu tố chi phí đầu vào tăng cao đến mức ngành không thể đảm bảo lấy thu nhập bù đắp chi phí sản xuất. Không nên lạm dụng cơ chế giá linh hoạt vì nó có thể đến quyết định hành khách lựa chọn hình thức vận tải khác thay vì sử dụng dịch vụ vận tải hành khách đường sắt. 3.6. Công tác marketing tiếp thị. 3.6.1. Công tác tiếp thị Tiếp thị là một công tác quan trọng của ngành vận tải các nước có kinh tế thị trường. Công tác này phải được thực hiện, theo một kế hoạch có tính chiến lược và được cụ thể hóa bằng các bài bản của công tác Marketing. Để xây dựng chiến lược tiếp thị cho ngành vận tải đường sắt, điều quan trọng là hiểu được thị trường, nắm được môi trường kinh doanh của ngành. Cụ thể phải nắm được những vấn đề sau: - Các nhu cầu, khả năng và sở thích của hành khách. - Các chế độ, chính sách kinh tế của nhà nước. - Các đối thủ cạnh tranh trên thị trường vận tải. - Đánh giá đúng khả năng, vai trò của đơn vị mình trên thị trường vận tải. - Xác định mục tiêu cần đạt trong sản xuất kinh doanh. Những vấn đề trên cần được tìm hiểu thấu đáo để có những hiểu biết sâu rộng trước khi xây dựng chiến lược tiếp thị. Trong đó, vấn đề tìm hiểu các nhu cầu, khả năng và sở thích cũng như đứng vào vị trí của họ để biết được họ cần những gì trở lên vô cùng quan trọng. Thí dụ để thực hiện chuyến đi từ nơi đi đến nơi đến hành khách của đường sắt phải thực hiện các bước sau: + Đi từ nhà đến ga đường sắt. + Đi trên tàu. + Đi từ ga đến địa điểm cần thiết. Ở trên, khâu vận chuyển ở hai đầu phần lớn vẫn do hành khách tự tổ chức cho mình. Nhiều khi hành khách phải tốn nhiều tiền cho việc đi lại ở hai đầu. Bởi vậy các ga đường sắt có thể tổ chức các đội vận chuyển để phục vụ hành khách và tăng thu nhập cho ngành. Điều này được làm rất tốt ở ngành vận tải hàng không có các tuyến xe bus sân bay, taxi sân bay, ngành vận tải ô tô đón hành khách tại nơi đi trả hành khách tại nơi đến. Hơn nữa, hành khách đi trên đường đều có tâm lý chung là mong chóng tới nơi đến. Để làm được việc này ngoài việc đầu tư hiện đại hóa các trang thiết bị kỹ thuật, phương tiện vận chuyển Ngành vận tải phải cải tiến công nghệ vận chuyển của mình bằng cách tổ chức các chuyến tàu tốc hành, tàu nhanh. Trong quá trình cạnh tranh trên lĩnh vực vận tải hành khách ngành đường sắt phải đánh giá được chi phí sản xuất của các đối thủ cạnh tranh với mình. Từ đó mới phát huy các mặt mạnh là vận chuyển đường trung, đường dài và biết nhường những chỗ không phải sở trường của mình là vận chuyển đường ngắn cho các doanh nghiệp khác. Cũng cần phải tổ chức vận chuyển trọn gói để giúp hành khách chủ động được công việc của họ. Để việc cạnh tranh có hiệu quả cần phải xây dựng một chiến lược tiếp thị. Chiến lược này bao gồm các nội dung sau: - Nghiên cứu môi trường sản xuất kinh doanh. - Xác định mục tiêu của chiến lược sản xuất kinh doanh. - Xây dựng kế hoạch chiến lược về giá cả sản phẩm trên thị trường. - Xây dựng kế hoạch điều chỉnh giá theo từng thời điểm để tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp vận tải đường sắt. - Xây dựng các biện pháp đảm bảo cho sự phát triển lâu dài của doanh nghiệp vận tải đường sắt. 3.6.2. Xây dựng thương hiệu và quảng cáo sản phẩm Quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế đã cho thấy mức độ hiệu quả của việc doanh nghiệp xây dựng thương hiệu và quảng cáo sản phẩm. Thông qua việc xây dựng thương hiệu và quảng cáo sản phẩm dịch vụ, doanh nghiệp khẳng định được đẳng cấp của mình, được nhiều khách hàng biết đến hơn, phạm vi thị trường của doanh nghiệp mở rộng hơn và nhờ vậy bán được nhiều sản phẩm dịch vụ hơn. Tuy nhiên, hiện nay trong ngành vận tải đường sắt hầu như không có các kế hoạch nhằm xây dựng hình ảnh và thương hiệu cũng như quảng cáo sản phẩm dịch vụ của mình. Phải chăng mới chỉ dừng lại ở các cẩm nang đi tàu, báo đường sắt phát cho hành khách trên tàu và một số băng rôn ở một số ga và trên các chuyến tàu khách. Quan điểm đó đã được thay đổi, thể hiện từ tháng 4/2013 ngành đường sắt đã thí điểm giao các mác tàu SE cho các công ty vận tải (ram SE3/4;SE7/8 cho Công ty Vận tải hành khách đường sắt Sài gòn, ram SE1/2;SE5/6 cho Công ty Vận tải hành khách đường sắt Hà nội) quản lý nhằm tạo sự chủ động trong cạnh tranh giữa các công ty. Nhằm nâng cao chất lượng phục vụ hành khách cũng như xây dựng củng cố thương hiệu cho từng công ty vận tải hành khách. Hiện tại, thị phần vận tải hành khách của ngành đường sắt chiếm một tỷ lệ rất nhỏ trên thị trường vận tải hành khách. Đảm nhiệm công việc kinh doanh vận tải hành khách của ngành hiện nay ngoài 2 công ty vận tải đường sắt còn có thêm một số doanh nghiệp trong và ngoài ngành đang tham gia kinh doanh theo hình thức xã hội hóa đầu tư, khai thác đường sắt. Bởi vậy, nếu chúng ta vẫn giữ suy nghĩ ĐSVN là duy nhất, không cần phải quảng bá, quảng cáo, xây dựng hình ảnh thương hiệu thì quả là một sai lầm trong bối cảnh thị trường đang có đủ loại phương tiện vận tải (vận tải hàng không giá rẻ, vận tải ô tô giường nằm), với đủ các thương hiệu đang cạnh tranh nhau (Vietjet airlines, indochina airlines, Hoàng Long, Mai Linh, Văn Minh,...). Trong bối cảnh đó, việc xây dựng hình ảnh và thương hiệu riêng cho ngành ĐSVN và đưa thương hiệu đó vào ý thức của hành khách là việc cần làm ngay. Để thực hiện được việc này, với kinh phí hạn hẹp ngành đường sắt ngoài đặt các pano quảng cáo ở ga đường sắt và trên các chuyến tàu nên đặt các pano ở cả các nơi khác của thành phố, cân nhắc việc đầu tư các show quảng cáo trên truyền hình. Bên cạnh việc thiết kế các show quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng hay lựa chọn vị trí thích hợp để đặt pano quảng cáo với những mẫu quảng cáo thú vị, những thông điệp đủ sức ảnh hưởng để xây dựng thương hiệu. Ngành vận tải đường sắt cần phải đi sâu hơn nữa đến truyền thông công chúng- Public Relation (PR) vốn được coi như một công cụ có sức mạnh vô hình trong quá trình gây dựng hình ảnh, thương hiệu trong lòng công chúng. Quảng cáo và quan hệ công chúng (PR) được thực hiện song song sẽ làm tăng sức lan tỏa thương hiệu của ngành ĐSVN. 3.7. Các biện pháp khác 3.7.1. Ứng dụng công nghệ thông tin,truyền thông vào trong công tác Marketing Thế kỷ 21, thế kỷ của công nghệ, nhiều công nghệ mới trong lĩnh vực công nghệ thông tin ra đời và được ứng dụng trong tất cả các lĩnh vực sản xuất, ngành vận tải cũng không nằm ngoài xu thế đó. Đối với vận tải hàng không, vận tải ô tô: các phương tiện để hành khách theo dõi hành trình đi, các thiết bị giải trí cho hành khách (điện tử, video flim), thiết bị tiếp nhận ý kiến phản hồi của hành khách được trang bị đầy đủ. Còn đối với đường sắt, tuy các toa tàu trên tuyến Bắc – Nam đã trang bị các thiết bị giải trí (tivi ở trên toa xe), thiết bị định vị toàn cầu ở đầu máy, nhưng các thiết bị để hành khách theo dõi hành trình, thiết bị tiếp nhận ý kiến hành khách tại các chỗ ngồi, chỗ nằm của hành khách thì chưa có. Điều này làm kéo dài thời gian tiếp nhận và xử lý thông tin Marketing. Do vậy, để việc tiếp nhận và xử lý thông tin Marketing trong vận tải đường sắt được nhanh chóng phải ứng dụng công nghệ thông tin vào trong công tác Marketing. Bằng cách xây dựng một hệ thống tiếp nhận, chuyển dữ liệu, phân tích và xử lý dữ liệu từ cấp Tổng công ty, đến công ty và các xí nghiệp thành viên theo một quy trình như sau: Tiếp nhận thông tin của hành khách từ các thiết bị tại các chỗ ngồi hoặc chỗ nằm của hành kháchà Dữ liệu được chuyển đến trung tâm phân tíchà Trung tâm phân tích dữ liệuàRa quyết định để nâng cao chất lượng dịch vụ. Việc này có thể làm cho từng chuyến tàu, từng loại tàu và tất cả các đoàn tàu. Từ đó, mọi nhu cầu của hành khách sẽ được thỏa mãn ngay và đem lại lòng tin của hành khách đối với đường sắt. Ngoài ra, việc ứng dụng truyền thông vào trong công tác marketing là yếu tố quan trọng, giúp cho ngành có thể tự giới thiệu mình, về các sản phẩm, dịch vụ ngành cung cấp. Quá trình truyền thông có thể thông qua các kênh truyền hình VTV, VTC, AVG, các tạp chí Giao thông vận tải, Đường sắt, Thanh Niên,. Để cho hành khách hiểu về đường sắt, nhận thức được sự đổi mới của ngành và quyết định lựa chọn đường sắt là phương tiện vận chuyển. 3.7.2. Chính sách đào tạo, phát triển nguồn nhân lực Vấn đề con người luôn là vấn đề khó giải quyết nhất đối với mọi doanh nghiệp. Khi mà hiện nay Marketing đối với thị trường đã được hầu hết các doanh nghiệp thầu hiểu tầm quan trọng và tập trung phát triển thì đến nay không nhiều doanh nghiệp nhận thức hết được vấn đề tầm quan trọng của con người – hay Marketing đối nội. Việc duy trì một hệ thống người lao động có kiến thức, có trình độ, nhiệt huyết và gắn bó với doanh nghiệp là một tiền đề quan trọng giúp cho doanh nghiệp vượt qua khó khăn và có sức mạnh cạnh tranh. Nguồn nhân lực của ngành đóng một vai trò quan trọng quyết định đến thành công hoạt động của mình. Cán bộ có trình độ, chuyên môn, năng lực, nhanh nhẹn, óc sáng tạo tốt, có đạo đức nghề nghiệp và có khả năng làm việc theo nhóm cũng như riêng biệt sẽ làm cho hoạt động kinh doanh của ngành ngày càng phát triển vững mạnh. Từ ý nghĩa đó, ngành cần chú trọng hơn nữa công việc đào tạo lại, đào tạo mới nhân viên, kỹ sư, kỹ thuật viên, đào tạo và bổ sung cán bộ quản lý, nâng cao chất lượng cán bộ công nhân viên làm công tác vận tải. Tuy nhiên trong tình hình thực tế đội ngũ cán bộ công nhân viên làm công tác vận tải còn bộc lộ một số tồn tại như: một số cán bộ công nhân viên có kinh nghiệm thực tiễn, nhưng trình độ quản lý và ngoại ngữ còn hạn chế; lực lượng cán bộ trẻ được đào tạo cách cơ bản nhưng lại thiếu kinh nghiệm thực tế, cán bộ chủ chốt trong một số phòng ban còn thiếu và một số chưa đáp ứng được nhu cầu, có những hụt hẫng nhất định về lực lượng cán bộ kế cận. Để làm tốt công tác này, cần thực hiện tốt những nội dung sau: - Cần có chính sách tuyển người thật sự khoa học, trong bất kỳ yêu cầu tuyển người vào cho bất cứ bộ phận nào cũng cần thiết phải thực hiện cơ chế thi tuyển rõ ràng, tránh tối đa việc đưa người vào thông qua sự quen biết, gửi gắm. Nội dung thi tuyển cần được xây dựng thực sự sát với nội dung mà người được tuyển phải thực hiện sau này, kết hợp với khả năng linh hoạt trong giải quyết công việc, có tính công cộng - Cần xây dựng cơ cấu phân công lao động hợp lý, tạo mối quan hệ tốt giữa tất cả các nhân viên trong công tác vận tải có sự giúp đỡ nhau trong quá trình làm việc. Môi trường làm việc lành mạnh làm cho công việc được thực hiện trong sự hứng khởi, thoải mái. - Đối với lực lượng lao động đã có của đơn vị, cần có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng về chăm sóc khách hàng, về tinh thần thái độ cán bộ công nhân viên trong tình hình hiện nay, về xây dựng văn hóa doanh nghiệp nhằm tạo sự chuyển biến về chất trong công việc hàng ngày, có khả năng, có kiến thức trong ứng xử, trong chăm sóc khách hàng, trong tiếp thị kinh doanh thông qua công việc hàng ngày. - Đổi mới quy trình, chế độ tuyển dụng công chức CBCNV. Đây là khâu đầu tiên của chu trình quản trị nhân sự, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, có tính chất quyết định đến chất lượng công chức CBCNV sau này. Tuyển dụng công chứcCBCNV thời gian tới phải thực sự xuất phát từ yêu cầu công việc, từ đòi hỏi của công tác quản lý, phát triển nguồn nhân lực, trên cơ sở phân tích đánh giá, dự báo về nguồn nhân lực hiện tại và tương lai trong từng cơ quan, đơn vị. Công tác tuyển dụng công chức CBCNV có vị trí, vai trò rất quan trọng, vì đây là bước khởi đầu cho con đường chức nghiệp của một người, do đó đòi hỏi phải được thực hiện nghiêm túc để tạo lòng tin, niềm tự hào cho những người đó được tuyển chọn vào làm công chức. những năm qua, mỗi năm các cơ quan, đơn vị tuyển dụng mới trung bình khoảng 3% so với tổng số cán bộ công chức chưa bàn về chất lượng công chức được tuyển dụng, chỉ riêng số lượng tuyển dụng mới hàng năm như vậy là chưa đáp ứng được yêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức. Nhu cầu tuyển dụng công chức trẻ, có năng lực, trình độ và phẩm chất để bổ sung cho đội ngũ cán bộ, công chức không thực hiện được như mong muốn ; giải pháp tình giản biên chế theo Nghị quyết số 16/2000/NQ-CP ngày 18/10/2000 của Chính phủ và nghị định số 132/2007/NĐ-CP ngày 8/8/2007 của Chính phủ nhằm thay thế dần số cán bộ, công chức yếu kém về năng lực, trình độ không đạt mục tiêu đề ra. Yêu cầu phát triển đội ngũ cán bộ, công chức để đáp ứng đòi hỏi của phát triển kinh tế - Xã hội thời kỳ mới đặt ra rất cấp thiết, phải có những giải pháp đột phá để đẩy mạnh phát triển đội ngũ cán bộ, công chức. Để tạo nguồn nhân lực bổ sung cho đội ngũ cán bộ, công chức phải xây dựng kế hoạch lựa chọn những người tuổi trẻ có phẩm chất tốt, học giỏi và định hướng cho họ theo học các trường đại học có liên quan đến các ngành, lĩnh vực cần thiết đối với các cơ quan quản lý nhà nước. Quá trình nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức thông qua biện pháp thay thế dần những cán bộ, công chức yếu kém về năng lực, trình độ chuyên môn bằng những cán bộ, công chức trẻ, giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, có kiến thức khoa học- công nghệ hiện đại phải có lộ trình cụ thể từ 05 đến 10 năm. Trong quá trình này cần trú trọng thường xuyên công tác đào tạo lại, bồi dưỡng để nâng cao trình độ, cập nhật kiến thức, tình hình kinh tế - xã hội cho đội ngũ cán bộ, công chức đương nhiệm, giúp họ có đủ khả năng hoàn thành tốt nhiệm vụ. Công tác đào tạo lại, bồi dưỡng cán bộ, công chức cần phải được đổi mới cả về nội dung và hình thức. Riêng về hình thức, có thể đào tạo, bồi dưỡng theo cách thức truyền thống là tập trung, những cũng có thể đào tạo từ xa hoặc tự đào tạo, điều quan trọng phải có biện pháp kiểm tra, đánh giá kiến thức chính xác, khách quan. - Chính sách lương thưởng đối với người lao động là động lực rất quan trọng thúc đẩy người lao động phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ. Trước đây tiền lương, thưởng hầu như là được xây dựng dựa chủ yếu vào việc hoàn thành nhiệm vụ, chưa thực sự chú trọng đến kinh doanh. Ngành lưu ý chú trọng đến việc giao kế hoạch thị phần cho từng đơn vị, từng bộ phận, từng nhân viên. Qua đó điều chỉnh các chính sách, thưởng phải gắn kết với công việc được giao, hiệu quả kinh doanh mang lại. Muốn thực hiện tốt các yêu cầu về nguồn nhân lực như đã nêu trên là một vấn đề lớn, cần có quyết tâm cao, bởi vì khi có chính sách nguồn nhân lực như nêu một số vấn đề cốt lõi trên đây, cần thiết phải thay đổi một số nhân sự, ảnh hưởng đến tâm tư tình cảm, đến quan hệ cá nhân – tập thể, đến quan hệ nhân viên – lãnh đạo. Vì vậy, trước tiên là phải có quyết tâm của ban lãnh đạo ngành và có trách nhiệm của bộ phận tham mưu về nhân sự, phải thật sự hiểu biết, thực sự khoa học và tận tâm mới làm được. Trong lĩnh vực tham mưu, người làm công tác tổ chức, nhân sự là một người quan trọng đầu tiên trong quá trình xây dựng ý thức văn hóa doanh nghiệp, một yếu tố hết sức cần thiết hiện nay của bất kỳ doanh nghiệp nào. 3.7.3 Chính sách an toàn cho vận chuyển hành khách -Trong công tác vân tải nói chung vân tải hành khách trên đường sắt nói riêng công tác an toàn được đặt ra hàng đầu, là sự sống còn của ngành.Công tác an toàn phải đảm bảo an toàn cho hành khách trong suốt hành trình. Trong quá trình thiết kế các sản phẩm dịch vụ vận tải hành khách thì yếu tố này phải được ưu tiên hàng đầu. *Các nhân tố ảnh hưởng đến tại nạn GTĐS. + Sự phối hợp giữa ngành đường sắt với các cấp chính quyền địa phương trong công tác tuyên truyền vận động quần chúng nhân dân tuân thủ chấp hành luật đường bộ ,đường sắt còn mang hình thức ,chưa sâu,chưa tiến hành thường xuyên và liên tục. + Cơ sở hạ tầng GTĐS cũ kỹ,lạc hậu. + Phương tiện đầu máy toa xe : phần lớn đã sử dụng lâu năm,vật tư phụ tùng thay thế còn hạn chế do kinh phí hạn hẹp. + Hệ thống thông tin, tín hiệu đường sắt chưa được đầu tư một cách đồng bộ khoa học. + Do một số CBCNV chủ quan, thiếu ý thức ,cắt xén quy trình quy phạm trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. + Do thiếu sự phối hợp đồng bộ trong quy hoạch phát triển giao thông đường bộ đường sắt ở mỗi thời kỳ làm cho hành lang an toàn giao thông đường bộ đường sắt chồng chéo,không phân định được. + Tâm lý chủ quan,thiếu ý thức,không tuân thủ luật đường bộ đường sắt của nhân dân sinh sống dọc hai bên tuyến đường sắt. + Do sự thiếu trách nhiệm thờ ơ của chính quyền địa phương các cấp nơi có các tuyến đường sắt đi qua có các hành vi vi phạm công trình thuộc phạm vi bảo vệ an toàn giao thông đường sắt: lấn chiếm ,mở đường ngang trái phép + Sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế làm gia tăng các phương tiện GTVT đặc biệt phương tiện cá nhân. + Do nguồn đầu tu dành cho đường sắt còn hạn hẹp do đó không đủ kinh phí hiện đại hóa cơ sở hạ tầng. * Các giải pháp : Công tác tuyên truyền vận động: đẩy mạnh công tác tuyên truyền phổ biến luật đường bộ,đường sắt đến mọi người dân về đảm bảo ATGT,bảo vệ hành lang ATGT đường sắt.Tổ chức các phong trào tuyên truyền sâu rộng như “em yêu đường sắt quê em” -Tăng cường công tác phát thanh tuyên truyền luật đường sắt,điều lệ đường ngang cho hành khách đi tàu để hành khách chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của ngành. -Phối hợp chính quyền địa phương các cấp có tuyến đường sắt chạy qua tăng cường chỉ đạo tuyên truyền vận động các hộ dân sống hai bên đường sắt ký cam kết thực hiện không lấn chiếm,vi phạm khổ giới hạn đường sắt. -Phối hợp các bộ,ngành tăng cường công tác phổ biến luật đường bộ đường sắt vào các cấp học hệ giáo dục.Đưa luật đường sắt,điều lệ đường ngang trở thành nội dung học tập bắt buộc trong các cơ sở đào tạo trên cả nước. -Vận động chính quyền địa phương và các lực lượng :thanh niên tình nguyện,dân quân tự vệ,hội cựu chiến binh.tình nguyện thường trực ở các địa điểm đường bộ giao cắt đường sắt không có gác chắn. -Thường xuyên tổ chức kiểm tra,giám sát nâng cao ý thức chấp hành luật giao thông đường sắt,quy trình quy phạm đối với CBCNV trong ngành. -Phối hợp với chính quyền địa phương và các cơ quan bảo vệ pháp luật nâng cao năng lực quản lý nhà nước thực hiện nghiêm minh pháp luật về đường sắt xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm các quy định về trật tự an toàn giao thông đường sắt,hành lang an toàn giao thông đường sắt. -Hoàn thiện việc cắm mốc chỉ giới hành lang an toàn giao thông đường sắt trên các tuyến đường sắt,tiến tới xây dựng đường gom dọc đường sắt khu vực dân cư đông. -Kiến nghị bộ GTVT đề nghị chính phủ Quốc hội sớm thông qua và ra quyết định đầu tư nâng cấp cải tạo hệ thống giao thông đường sắt theo quyết định số 1436QĐ_TTG của thủ tướng chính phủ ban hành ngày 10/09/2009 về việc phê duyệt điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển ngành GTVTĐS đến năm 2020 tầm nhìn đến 2030. Kết luận: Trong chương ba các giải pháp trên đây xuất phát từ lí thuyết marketing được soi sáng bởi thực tiễn sinh động của hoạt động sản xuất kinh doanh trên ĐSVN. Các giải pháp đó phù hợp với đặc thù vừa kinh doanh vừa phục vụ, làm giảm bớt độ lệch về cung và cầu theo các giai đoạn trong mỗi năm, kích thích nhu cầu đi lại của hành khách bằng đường sắt trong các tháng không phải là cao điểm, làm giảm bớt sự mất cân đối về doanh thu và sản lượng, và đương nhiên là hướng tới lợi nhuận cao nhất như mục đích chung của các doanh nghiệp. Tuy được trình bày chặt chẽ về lí thuyết, song các đề xuất nêu trên còn phải được kiểm nghiệm qua thực tế sản xuất mới có thể từng bước hoàn thiện. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1. Kết luận Hiện nay trong nền kinh tế thị trường có nhiều loại hình vận tải hành khách khác nhau, chất lượng phục vụ khác nhau, để cạnh tranh về vận tải hành khách thì loại hình vận tải nào có chất lượng phục vụ tốt hơn, an toàn hơn thì sẽ chiếm ưu thế hơn. Ngành vận tải đường sắt muốn cạnh tranh được với các ngành vận tải khác thì cần chú trọng đến vấn đề cải tiến công nghệ, thiết bị, cải tiến về tổ chức sản xuất và không ngừng nâng cao chất lượng phục vụ hành khách. Sự cạnh tranh giữa các loại hình vận tải diễn ra trên mọi phương diện nhằm nâng cao ưu thế của từng loại hình và hạn chế những yếu kém của mình. Cũng như các ngành vận tải khác, ngành vận tải Đường Sắt cũng phải luôn đổi mới nhằm thu hút nhiều hành khách và hàng hóa.Vì vậy việc nghiên cứu các giải pháp ứng dụng Marketing vào công tác vận tải hành khách trên đường săt có ý nghĩa rất quan trọng. Trên cơ sở sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu, kế thừa có chọn lọc các kinh nghiệm ứng dụng marketing của các ngành khác, nghiên cứu lý luận và thực tiễn các giải pháp marketing ứng dụng vào trong công tác vận chuyển hành khách của ngành đường sắt. Tác giả có một số kết luận như sau: - Luận án đã đánh giá, phân tích thực trạng công tác vận chuyển hành khách và công tác marketing tại Tổng công ty ĐSVN qua các mặt: Sản lượng, doanh thu vận tải đường sắt, thị trường, sản phẩm, đối thủ cạnh tranh, phân phối sản phẩm vận tải đường sắt. Phân tích môi trường sản xuất kinh doanh, chứng minh được sự tất yếu phải đổi mới công tác sản xuất kinh doanh vận tải đường sắt đặc biệt trong công tác vận tải hành khách theo hướng gắn với kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. - Ứng dụng Marketing vào công tác vận chuyển hành khách của ngành Đường sắt là vấn đề cấp thiết giúp cho việc nâng cao hiệu quả của sản xuất kinh doanh và phù hợp với xu thế chung của nền kinh tế thị trường, đây cũng là một trong các yếu tố quan trọng để cho ngành Đường sắt tồn tại và phát triển trong điều kiện cạnh tranh hiện nay. - Hệ thống hóa những vấn đề cơ bản về marketing vận tải đường sắt: Khái niệm, nội dung marketing, các chính sách marketing, quan điểm mới của marketing dưới góc độ vận tải, thị trường, đo lường thị trường vận tải. Từ những nghiên cứu thực tế công tác vận tải hành khách, Marketing trên đường sắt đã làm sáng tỏ các quy luật phát triển vận tải đường sắt trong kinh tế thị trường. - Xây dựng cơ sở lý luận cho việc đổi mới áp dụng marketing vào công tác vận tải hành khách trên đường sắt theo hướng gắn với thị trường. - Căn cứ vào những đặc điểm của công tác vận chuyển hành khách trên đường sắt như: quy trình công nghệ đặc biệt, sở hữu tập thể, sản xuất mang tính công ích luận án đã xác định khung lý thuyết để giải quyết vấn đề marketing trong vận tải hành khách đường sắt đã bổ sung các yếu tố mới làm thay đổi khung marketing Mix và lấy đó làm cơ sở để giải quyết các vấn đề tiếp theo. - Đã đưa ra các đặc điểm, nguyên tắc lựa chọn giải pháp marketing, đưa ra mô hình bài toán lựa chọn hành trình của hành khách. Xây dựng hành vi người tiêu dùng sản phẩn và sản phẩm mới của dịch vụ vận tải đường sắt. - Đề xuất các biện pháp đổi mới công tác vận tải đường sắt, tổ chức bộ máy làm công tác marketing trong Tổng công ty Đường sắt. - Xây dựng các giải pháp ứng dụng Marketing vào công tác vận tải hành khách trên đường sắt như: Giải pháp năng cao thị phần vận tải, Xây dựng quy trình đi lại và xác định các nhu cầu của hành khách. - Xây dựng hệ thống thông tin marketing, thiết kế sản phẩm mới cho dịch vụ vận tải hành khách, xây dựng chính sách giá cước, phân phối sản phẩm, các biện pháp cải tiến công tác bán vé, áp dụng công nghệ thông tin và truyền thông,... vào trong công tác marketing. - Chú trọng việc thiết kế sản phẩm mới cho vận tải hành khách trên Đường sắt. Vận tải hành khách Đường sắt vừa làm công tác kinh doanh vừa làm công tác công ích phục vụ an sinh xã hội, qua so sánh biểu đồ thì rất nhiều sản phẩm Đường sắt không đem lợi nhuận nhưng không bỏ vì trách nhiệm với xã hội.Lối thoát duy nhất của đường sắt là đưa ra các sản phẩm mới. Tuy nhiên cần chú ý qui trình và thách thức như đã đề xuất chương 2 của luận án. - Các sản phẩm mới trong công tác vận tải hành khách bằng Đường sắt mà trong đề tài đề xuất mặc dù xem xét nghiên cứu về lý luận nhưng vẫn cần được kiểm nghiệm trong thực tế và có phương án bổ sung kịp thời khi các điều kiện sản xuất thay đổi. 2. Kiến nghị - Các vấn đề liên quan đến marketing vận tải hành khách trên đường sắt phải được giải quyết bằng cách nhìn toàn diện và cụ thể. Cần chú trọng tất cả các yếu tố như đã nêu trong khung marketing Mix đã được đề xuất ở Chương 2. - Về mặt tổ chức đối với Tổng công ty ĐSVN thành lập Phòng Marketing thuộc Ban kế hoạch-kinh doanh do Phó tổng giám đốc vận tải phụ trách trực tiếp. Đối với Các công ty vận tải thành lập các bộ phận marketing, còn đối với các xí nghiệp vận tải có thể phân công nhân viên phụ trách marketing. Xây dựng quy chế hoạt động của Phòng, bộ phận, nhân viên marketing từ cấp Tổng công ty cho đến xí nghiệp vận tải thành viên. - Mở các lớp bồi dưỡng nâng cao trình độ cho cán bộ công nhân viên marketing cả về lý luận lẫn thực tiễn sản xuất. - Không ngừng áp dụng công nghệ thông tin và truyền thông vào trong công tác marketing, đặc biệt là quá trình thu thập và xử lý thông tin. - Từng bước nâng cao đời sống cho cán bộ công nhân viên ngành đường sắt, để họ yên tâm tư tưởng công tác, say mê nghề nghiệp vì sự phát triển của ĐSVN. - Marketing trong vận tải hành khách đường sắt là một vấn đề lớn liên quan đến nhiều yếu tố phức tạp như: quy phạm, quy trình, sở hữu nhà nước, kiểm định, sản xuất mang tính công ích, quy trình công nghệ đặc biệt và các chính sách vĩ mô khác. Những vấn đề rộng lớn này cần được tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện ở các công trình tiếp theo. Với những đề xuất của mình, tác giả hy vọng sẽ đóng góp phần công sức của mình vào công cuộc đổi mới công tác vận tải hành khách nhằm phục vụ cho mục tiêu phát triển và phát triển bền vững của ngành Vận tải đường sắt. Tuy nhiên do hạn chế về tư liệu và khả năng nên luận án không thể tránh khỏi những thiếu sót. Tác giả rất mong nhận được những góp ý của các nhà khoa học, các chuyên gia để luận án được hoàn thiện và có ý nghĩa thực tiễn cao hơn. Quá trình hoàn thành luận án, tác giả đã nhận được sự hướng dẫn tận tình của Thầy giáo hướng dẫn, sự giúp đỡ của bộ môn Vận tải kinh tế sắt trường Đại học Giao thông vận tải, sự đóng góp của các chuyên gia, các nhà khoa học, các cán bộ công tác tại đơn vị thuộc Tổng công ty ĐSVN, sự giúp đỡ của phòng đào tạo sau đại học trường Đại học Giao thông vận tải. Tác giả xin chân thành cảm ơn những giúp đỡ quí báu đó. CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ TS Huỳnh Cường, Th.S Lê Tiến Dũng (3/2013), Nâng cao chất lượng vận tải hành khách góp phần tăng thị phần vận tải đường sắt Việt Nam, Tạp chí Giao thông Vận tải (trang61- 62) GS.TSKH Nguyễn Hữu Hà, Th.S Lê Tiến Dũng (6/2013), Nghiên cứu phương pháp phân tích hành vi người tiêu dùng sản phẩm vận tải hành khách, Tạp chí Giao thông Vận tải (Trang39- 40). GS.TSKH Nguyễn Hữu Hà, Th.S Lê Tiến Dũng (7/2013), Thiết kế sản phẩm mới của dịch vụ vận tải đường sắt, Tạp chí Giao thông Vận tải (Trang37- 38) GS.TSKH Nguyễn Hữu Hà, Th.S Lê Tiến Dũng (8/2013), Môt số vấn đề của việc Nghiên cứu áp dụng Marketing vào ngành đường sắt Việt Nam, Tạp chí Giao thông Vận tải (Trang44- 46) TÀI LIỆU THAM KHẢO I. Tài liệu tiếng Việt Huỳnh Cường, Lê Tiến Dũng (3/2013), Nâng cao chất lượng vận tải hành khách góp phần tăng thị phần vận tải đường sắt Việt Nam Tạp chí Giao thông Vận tải (trang61-62) Trần Minh Đạo - chủ biên (2006), Giáo trình Marketing căn bản, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân. Nguyễn Hữu Hà, Hoàng Thế Hải (2001), Nghiên cứu sự biến động của khối lượng vận chuyển và các giải pháp marketing cho XNLHVTĐSKVII. Nguyễn Hữu Hà (2000), Một số vấn đề nâng cao thị phần Vận Tải đường sắt, Kỷ yếu hội thảo khoa học của Liên hiệp ĐSVN, trang 39-48. Nguyễn Hữu Hà (2008), Marketing với các doanh nghiệp vận tải, NXB GTVT. Nguyễn Hữu Hà (2001), Tổ chức công tác marketing trong XNVTĐSLH1II. Đề tài nghiên cứu theo hợp đồng phục vụ. Nguyễn Hữu Hà,Lê Tiến Dũng (6/2013), Nghiên cứu phương pháp phân tích hành vi người tiêu dùng sản phẩm vận tải hành khách, Tạp chí Giao thông Vận tải (Trang39-40) Nguyễn Hữu Hà, Lê Tiến Dũng (7/2013), Thiết kế sản phẩm mới của dịch vụ vận tải đường sắt, Tạp chí Giao thông Vận tải (Trang37-38). Nguyễn Hữu Hà, Lê Tiến Dũng (8/2013), Môt số vấn đề của việc Nghiên cứu áp dụng Marketing vào ngành đường sắt Việt Nam, Tạp chí Giao thông Vận tải (Trang37-38) Lưu Văn Nghiêm (2008), Marketing dịch vụ, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân. Nguyễn Xuân Phong (2007), Giáo trình Marketing thương mại, NXB Đại học Kinh Tế quốc dân. Chính phủ (2003), QĐ số 34/2003/QĐ-TTg ngày 04 tháng 03 năm 2003, Về việc thành lập Tổng công ty ĐSVN. Chính phủ (2009), QĐ số 35/2009/QĐ-TTg ngày 03 tháng 03 năm 2009, Phê duyệt điều chỉnh Chiến lược phát triển Giao Thông vận tải đường sắt Việt Nam đến năm 2020 tầm nhìn 2030 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2005), Luật Đường sắt Việt Nam. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2004), Luật cạnh tranh. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2005), Luật Đầu tư Cao minh Trường (2002), Nghiên cứu hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh đối với doanh nghiệp VTĐS trong nền kinh tế thị trường, Luận án Tiến sĩ kinh tế, Trường Đại học GTVT. Lê Trọng Tuấn (2005), Tổ chức kinh doanh Vận tải đường sắt trong nền kinh tế thị trường, Luận án Tiến sỹ kinh tế, trường đại học GTVT Hà Nội Trikhunkov (2001), Marketing giao thông vận tải. Trikhunkov Giáo trình trường đường sắt Matxcơva. II. Tiếng Anh 20. E.W. Cundiff, R.R. Still, N.A.P. Govoni. Prentice Hall (1985), Fundamentals of Modern Marketing. 21. M.Morrison (1993), Hospitality and Travel Marketing. 22. Philip Kotler. Prentice Hall (1990), Marketing Management. PHỤ LỤC Phụ lục 1: HIỆN TRẠNG KẾT CẤU HẠ TẦNG ĐƯỜNG SẮT (Nguồn: Tác giả tổng hợp từ số liệu của Tổng công ty ĐSVN) 1. Chiều dài đường sắt trên toàn mạng lưới: Đường lồng (km) Đường 1000 (km) Đường 1435 (km) Tổng số (km) Đường chính (km) 219, 66 2.261, 06 188, 988 2669, 708 Đường ga, nhánh (km) 72, 523 371, 188 33, 218 476, 93 Tổng số 292, 183 2.632, 248 222, 206 3.146, 638 2. Chiều dài các loại ray trên đường chính: Tuyến Chiều dài các loại ray trên đường chính (Km) Tổng cộng (km) 24 25 26 30 38 43 50 ĐSTN 78, 87 6, 648 1.600,853 30, 182 1.725, 553 GL-HP 96, 642 96, 642 HN-ĐĐ 163, 725 163, 725 Y.viên-Lcai 285, 05 285, 05 ĐA- QT 54, 675 54, 675 P lý-K.khê 4, 516 4, 516 C/giát-N/đàn 17, 087 12, 913 30 DT-QN 10, 3 10, 3 Nba-B ngòi 4, 836 4, 836 Đ.lạt-T mát 6, 724 6, 724 MM-PT 12 12 Kép-L.Xá 55, 687 55, 687 Kép- HL 105, 656 105, 656 MP-ND 9.904 19, 845 29, 749 B.hồng-Vđiến 45, 822 5.667 51, 489 PL-PH 12, 848 12, 848 CL-PL 14, 885 14, 885 CANGHP 4, 19 4, 19 Vòng 2 T/my 1, 183 1, 183 Tổng cộng (km) 17, 087 16, 836 6, 724 99, 074 5, 648 2.478, 49 45, 849 2.669, 708 3.Chiều dài loại tà vẹt trên đường chính: Tuyến Chiều dài đặt loại tà vẹt (km) Tổng cộng (Km) BT Gỗ Sắt ĐSTN 879.3899 13.2891 832.874 1725.553 GL -HP 96.642 96.642 HN - ĐĐ 100.892 62.833 163.725 Y.viên- L cai 235.483 6.055 43.512 285.05 ĐA-QT 54.675 54.675 P lý- K khê 4.516 4.516 C/giát- N/đàn 8.862 21.138 30 DT- QN 10.3 10.3 Nba-B ngòi 4.836 4.836 Đ.lạt-T mát 3.124 3.6 6.724 MM-PT 12 12 Kép-L.Xá 55.687 55.687 Kép- HL 105.656 105.656 MP-ND 29.749 29.749 CL-PL 14.885 14.885 PL-PH 12.448 0.4 12.848 B.hồng-Vđiển 40.908 10.581 51.489 CANGHP 4.19 4.19 Vòng 2 T/my 1.183 1.183 Tổng cộng (km) 1592.6029 169.5831 907.522 2669.708 4. Nền đá ba lát: TT Khổ đường HIện trạng Tiêu chuẩn 1 1000mm 600 - 700 m3/km 1250 m3/km 2 1435mm 800 - 900 m3/km 1550 m3/km 5. Số lượng bán kính đường cong trên các tuyến: TT Bán kính đường cong (m) Số lượng (cái) Chiều dài (m) Tỷ lệ so với Toàn tuyến (%) Tốc độ cho phép (km/h) 1 R<100 7 813, 00 0, 03 V<40 2 100≤ R≤ 150 197 19.680, 87 0, 74 40 -50 3 150≤ R≤ 215 758 100.922, 00 3, 78 50 - 60 4 215≤ R ≤ 292 169 24.135, 47 0, 91 60 - 70 5 292 ≤ R ≤381 335 65.285, 42 2, 45 70- 80 6 381≤ R ≤ 482 231 49.934, 74 1, 87 80- 90 7 482≤ R≤ 595 462 111.626, 43 4, 18 90 - 100 8 R>595 1325 311.338, 02 11, 7 V>100 Tổng số 3484 663.242, 08 25, 66 6. Các tuyến có độ dốc lớn: TT Tuyến đường/ đoạn đường Độ dốc lớn nhất (%) Tốc độ hạn chế (km/h) Hà Nội- TP Hồ Chí Minh Ghềnh - Đồng Giao 12 30 Lăng Cô- HảI Vân Bắc 17 15 HảI Vân Nam- Kim Liên -17 15 Nha Trang- Mương Mán 15 30 Đà Lạt- Trại Mát 24 15 Hà Nội- Lào Cai Yên Bái- Lào Cai 12 30 Phố Lu- Xuân Giao 17 15 Hà Nội- Đồng Đăng Đồng Mỏ- Bản Thí 17 15 Bản Thí- Đồng Đăng 15 30 7. Ghi: Tuyến Tổng ghi theo loại đường (Bộ) Tổng cộng Chính Ga (Bộ) ĐSTN 626 652 1278 GL-HP 54 115 169 HN- ĐĐ 105 153 258 Y.viên- L.cai 170 100 270 ĐA- QT 33 12 45 P.lý- T châu 7 7 CG-NĐ 11 11 DT- QN 5 10 15 NB-BN 2 2 MM-PT 4 4 ĐL-TM 4 5 9 BH-VĐ 7 7 14 CL-PL 4 2 6 Kép-HL 46 45 91 Kép-L xá 7 2 9 MP- ND 14 6 20 Tổng cộng (Bộ) 1086 1122 2208 8. Nhà ga: TT Tên thiêt bị Diện tích (m2) 1 Nhà ga vĩnh cửu 61.234 2 Nhà ga bán vĩnh cửu 39.968 3 Kho hàng 31.542 4 Bãi hàng 508.306 5 Chòi gác chắn, cầu hầm 8.800 6 Chòi ghi 5.340 7 Sân, ke ga 465.001 8 Công trình kiến trúc khác 136.413 9. Đường ngang: TT Tuyến đường sắt Chiều dài (km) Tổng số đường ngang Mật độ Km/ĐN 1 Đường sắt Việt nam 2.669, 70 1427 2 Đường sắt Thống nhất 1.726, 26 976 1, 77 3 Yên viên-Lào Cai 285, 14 80 3, 66 4 Phú Lu- Pom Hán 12, 83 9 1, 43 5 Đông Anh-Quán Triều 54, 68 31 1, 76 6 Bắc Hồng- Văn Điển 43, 52 24 1, 44 7 Hà Nội-Đồng Đăng 165, 43 89 1, 88 8 Kép- Hạ Long 105, 66 86 1, 23 9 Mai Pha-Na Dương 29, 75 8 3, 72 10 Chí Linh-Phả Lại 14, 88 20 0, 74 11 Gia Lâm-Hải phòng 96, 77 70 1, 38 12 Cầu Giát –Nghĩa Đàn 30, 00 17 1, 76 13 Diêu Trì-Quy Nhơn 10, 31 4 2, 58 14 Đà Lạt- Trại Mát 6, 73 - - Tổng số: 1427 đường ngang Có người gác: 532 đường ngang Có THCBTĐ: 932 đường ngang Cấp 3 có biển báo: 37 đường ngang Đường dân sinh: 4042 đường ngang Thiết bị thông tin đường sắt; 10. Truyền dẫn: Đơn vị quản lý Dây trần (km) Cáp đồng (km) Cty TTTH Bắc Giang 429 Cty TTTH Hà Nội 519 Cty TTTH Vinh 422 Cty TTTH Đà nẵng 609 Cty TTTH Sài gòn 641 Tổng số 2620 370 Phụ lục 2: KHỐI LƯỢNG VẬN CHUYỂN HÀNH KHÁCH TRÊN CÁC TUYẾN (NĂM 2012) Số HK Tuyến 2009 2010 2011 Ghi chú HN- LC 3.408.281 3.087.473 3.324.144 HN- ĐĐ 279.034 250.955 254.196 HN- HP 1.191.955 1.241.572 1.372.154 HN- QT 116.934 75.057 94.820 Kép – HL 80.561 35.968 52.437 HN- SG 5.995.681 6.832.268 6.884.098 Tổng trên toàn tuyến 11.072.375 11.523.293 11.981.849 Phụ lục 3: SỐ LƯỢNG HÀNH KHÁCH VÀ LƯỢT LUÂN CHUYỂN HÀNH KHÁCH NĂM 2012 LƯỢT HK ĐVT: triệu HK LƯỢT HK- KM ĐVT: Tỷ HK- Km VT hành khách năm 2012 2862, 3 2123, 2 Vận tải trung ương 42, 1 29, 4 Vận tải địa phương 2820, 2 93, 8 Vận tải HK đường bộ 2646, 7 91, 7 Vận tải HK đường sông 183, 8 4 Vận tải HK đường hàng không 13, 5 22, 5 Vận tải HK đường biển 6, 1 0, 3479 Vận tải HK đường sắt 12, 2 4, 9 Phụ lục 4:

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docluan_an_moi_nhat_26_9_14_9631.doc