Luận văn Bồi dưỡng công chức chính quyền cấp xã trên địa bàn huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi

Nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị cấp cơ sở đã và đang là vấn đề được các cấp ủy Đảng và chính quyền các địa phương rất quan tâm. Đảng ta đã khẳng định, chính quyền cấp xã có vị trí rất quan trọng, là cấp gần dân nhất, sát dân nhất, hiểu tâm tư, nguyện vọng của dân nhất. Để hệ thống chính trị ở cơ sở phát huy được sức mạnh của mình, Đảng ta đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách, đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX về “Đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn”. Để đạt được mục tiêu đó, vấn đề hàng đầu, có tính chất quyết định là chất lượng của đội ngũ CBCC cấp cơ sở. Nhận thức được vị trí và tầm quan trọng của chất lượng đội ngũ CBCC trong sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của huyện, Huyện ủy, chính quyền huyện Nghĩa Hành đã có nhiều giải pháp đẩy mạnh và nâng cao chất lượng ĐTBD cán bộ, công chức của huyện nhằm xây dựng đội ngũ CBCC có đủ năng lực, trình độ và các phẩm chất đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính nhà nước, nhất là đội ngũ công chức chính quyền cấp xã. Một trong những yếu tố quyết định đến tính chuyên nghiệp và hiệu quả hoạt động của nền HCNN là đội ngũ CBCC. Tính chuyên nghiệp và hiệu quả đòi hỏi đội ngũ CBCC phải thông thạo công việc và thực hiện tốt các chức trách, nhiệm vụ được giao. Điều này đặt ra yêu cầu đối với hoạt động ĐTBD như là một trong các giải pháp quan trọng nhất để nâng cao năng lực thực thi công vụ của CBCC, nhất là đội ngũ công chức chính quyền cấp xã - những người trực tiếp triển khai các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước vào thực tiễn cuộc sống. Trong những năm qua, công tác ĐTBD cán bộ, công chức nói chung, bồi dưỡng công chức chính quyền cấp xã của huyện Nghĩa Hành nói riêng93 đã đạt được những kết quả bước đầu, góp phần từng bước nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC của huyện. Tuy nhiên, cải cách hành chính và hội nhập mở cửa khu vực và quốc tế đang đặt ra yêu cầu và áp lực mới đối với công tác ĐTBD cán bộ, công chức.

pdf123 trang | Chia sẻ: yenxoi77 | Ngày: 21/08/2021 | Lượt xem: 277 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Bồi dưỡng công chức chính quyền cấp xã trên địa bàn huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
tổ chức hội thi xử lý tình huống; hoặc tham quan, học hỏi các địa phương điển hình tiên tiến trong và ngoài tỉnh. Nâng cao chất lượng giảng dạy là khâu quan trọng trong việc đổi mới và nâng cao chất lượng bồi dưỡng. Để thực hiện tốt công tác này, giảng viên cần xác định đúng đối tượng học viên của từng lớp để lựa chọn nội dung và phương pháp giảng dạy phù hợp. Tiếp tục đổi mới và áp dụng các phương pháp giảng dạy tích cực như: thuyết trình, làm việc theo nhóm, nghiên cứu tình huống, thảo luận, đóng vai... Hình thức bồi dưỡng kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, chia tổ nhóm thảo luận, làm bài tập tình huống; minh họa quy trình, thao tác thực thi nhiệm vụ bằng hình ảnh trình chiếu, hướng dẫn nghiệp vụ theo cách thức “cầm tay, chỉ việc”. Đổi mới việc ra đề thi, việc tổ chức thi, chấm thi và viết tiểu luận tốt nghiệp. Đây là khâu quan trọng góp phần nâng cao chất lượng công tác bồi dưỡng công chức chính quyền cấp xã. 78 Việc kiểm tra học viên theo hướng học viên “nhớ” được giảng viên nói những gì trên lớp và đánh giá học viên theo điểm kiểm tra chưa phản ánh được chất lượng giảng dạy và học tập. Mục tiêu của các khóa bồi dưỡng công chức chính quyền cấp xã là nhằm thay đổi thái độ và hành vi thực thi công vụ của công chức. Vậy nên việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập nên gắn với mục tiêu của các khóa bồi dưỡng. Có như vậy, học viên mới có thể nhận thức rõ “nhu cầu” bồi dưỡng của mình để chủ động học tập nâng cao trình độ chuyên môn. Việc ra đề kiểm tra, đề thi phải buộc học viên phát huy tính sáng tạo, biết vận dụng lý luận đã học vào giải quyết những vấn đề thực tiễn ở cơ sở. Cụ thể đối với công chức chính quyền cấp xã, kết quả bồi dưỡng cần được đánh giá không chỉ ở việc hoàn thiện các tiêu chuẩn chức danh thông qua số lượng các văn bằng, chứng chỉ mà công chức có được sau các khoá bồi dưỡng, mà bên cạnh đó chất lượng giảng dạy và học tập cần được đánh giá bởi: - Việc đáp ứng của khoá bồi dưỡng đối với nhu cầu bồi dưỡng của công chức chính quyền cấp xã; - Sự tác động của khoá bồi dưỡng đến sự thay đổi thái độ, hành vi và kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ chức danh mà công chức đảm nhận. 3.2.6. Các giải pháp về công tác cán bộ Thực tế cho thấy, trình độ, năng lực của đội ngũ công chức chính quyền cấp xã trên địa bàn huyện Nghĩa Hành chưa đáp ứng được yêu cầu của công cuộc cải cách hành chính nhà nước và còn có sự chênh lệch giữa các xã với nhau. Chính vì vậy, để nâng cao chất lượng đội ngũ công chức chính quyền cấp xã trong những năm tới, huyện cần chủ động và tích cực hơn nữa trong công tác bồi dưỡng công chức chính quyền cấp xã. Trên cơ sở đó, huyện cần xây dựng tiêu chuẩn đội ngũ công chức chính quyền cấp xã của huyện theo hướng chú trọng vào trình độ, năng lực và kết quả thực 79 thi công vụ của công chức và đẩy mạnh bồi dưỡng công chức chính quyền cấp xã nhằm đạt được những tiêu chuẩn đã đề ra. Bên cạnh đó cần thực hiện một số giải pháp cụ thể sau: Thứ nhất, xây dựng bản mô tả công việc cụ thể với từng chức danh công chức chính quyền cấp xã trên địa bàn huyện. Một khó khăn hiện nay là chúng ta vẫn còn thiếu bản mô tả công việc trong nhiều cơ quan HCNN. Chương trình bồi dưỡng hiệu quả phải dựa trên các tiêu chí về kiến thức, các kỹ năng và thái độ mà các công chức cần phải có để thực thi chức trách, nhiệm vụ của họ, nhưng hiện nay chức trách, nhiệm vụ này của công chức lại chưa được liệt kê trong các tiêu chí cụ thể. Mặc dù, đã liệt kê chức trách, nhiệm vụ của các chức danh CBCC cấp xã, nhưng trong đội ngũ CBCC cấp xã hiện nay không thiếu những người vẫn không biết phải thực thi các chức trách, nhiệm vụ đó như thế nào. Việc thiếu những quy trình, thủ tục, cách thức được liệt kê một cách đầy đủ, chi tiết trong bản mô tả công việc đã gây không ít khó khăn trong việc thực thi công vụ, đặc biệt là đối với CBCC cấp xã còn thiếu các kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm thực tiễn. Bản mô tả công việc sẽ là một trong các căn cứ để xác định nhu cầu bồi dưỡng và xây dựng nội dung chương trình bồi dưỡng công chức chính quyền cấp xã. Trong bản mô tả công việc những yêu cầu về việc phải làm; những yêu cầu cần có về phía CBCC để thực hiện công việc đó và kết quả của việc thực thi các chức trách cụ thể sẽ được cụ thể hoá, chi tiết hoá. Căn cứ vào đó, CBCC sẽ đối chiếu xem bản thân mình còn thiếu và yếu những gì? Cần được bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng gì để có thể nâng cao năng lực, hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao. Từ đó hình thành nhu cầu bồi dưỡng của công chức và chương trình, nội dung bồi dưỡng công chức chính quyền cấp xã sẽ được xây dựng trên chính các nhu cầu này. Nếu làm được như vậy, việc xác định nhu cầu bồi dưỡng và mục tiêu 80 bồi dưỡng sẽ đảm bảo “vừa đúng” lại “vừa trúng”; vừa đảm bảo bồi dưỡng theo chức danh (nhằm thực hiện các chức trách mà chức danh đảm nhiệm), vừa đảm bảo đào tạo bồi dưỡng theo nhu cầu (nhu cầu của công chức và yêu cầu của công việc). Mặt khác, bản mô tả công việc còn là một trong các căn cứ để đánh giá mức độ hoàn thành công việc của công chức cấp xã. Việc cụ thể hoá, chi tiết hoá các công việc phải làm và yêu cầu kết quả của những công việc đó sẽ là những tiêu chí để so sánh những gì mà công chức chính quyền cấp xã làm được trong thực tiễn và yêu cầu công việc mà chức danh công chức đảm nhận, lấy đó làm một trong những căn cứ để đánh giá mức độ hoàn thành chức trách của công chức. Chỉ khi đó, chúng ta mới đánh giá năng lực công tác của công chức một cách chính xác, công bằng. Thứ hai, đổi mới công tác quy hoạch cán bộ làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch bồi dưỡng. Quy hoạch cán bộ là khâu quan trọng trong công tác cán bộ, tránh tình trạng hụt hẫng nguồn cán bộ, giúp chủ động được nguồn cán bộ lâu dài, làm cơ sở quan trọng cho công tác ĐTBD cán bộ, công chức. Lâu nay công tác quy hoạch cán bộ của huyện Nghĩa Hành đã được chú trọng, đảm bảo theo yêu cầu, hướng dẫn của cơ quan quản lý cán bộ. Tuy nhiên, vẫn còn một số địa phương quy hoạch cán bộ còn mang tính hình thức, đối phó hoặc có quy hoạch thì cũng không xác định rõ các tiêu chuẩn, điều kiện cho mỗi chức danh quy hoạch để làm căn cứ cho công tác bồi dưỡng cán bộ. Để thực hiện tốt công tác quy hoạch cán bộ, định kỳ hằng năm các cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương phải thực hiện tốt công tác nhận xét, đánh giá cán bộ trong diện quy hoạch, từ đó tiến hành rà soát, đưa ra khỏi quy hoạch những người không đủ tiêu chuẩn và điều kiện theo quy định, đồng thời bổ sung đưa vào quy hoạch những người đủ phẩm chất và năng lực. Cần quan 81 tâm đến cán bộ trẻ có triển vọng đưa vào quy hoạch dự nguồn để có kế hoạch ĐTBD thích hợp. Quy hoạch cán bộ phải đảm bảo phương châm “mở” và “động”, khắc phục tình trạng khép kín trong nội bộ. Trong quá trình thực hiện phải đảm bảo công khai, dân chủ, đảm bảo mục đích, yêu cầu, chất lượng cán bộ. Sau khi công bố quy hoạch, cần thực hiện sớm và đúng thứ tự ưu tiên trong việc cử CBCC đi đào tạo, bồi dưỡng. Cần chấm dứt tình trạng cử CBCC đi ĐTBD không có trong quy hoạch. Thứ ba, thực hiện tốt công tác tuyển dụng công chức chính quyền cấp xã. Về cơ bản, hệ thống tiêu chuẩn chức danh công chức cấp xã định hướng “đầu vào” của công chức. Mỗi công chức phải đảm bảo có đầy đủ tiêu chuẩn nhất định của một chức danh công chức cấp xã khi được tuyển chọn vào chức danh đó. Nhiệm vụ của bồi dưỡng chỉ là bổ trợ (sau khi được tuyển dụng) để công chức chính quyền cấp xã thực hiện tốt hơn, hiệu quả hơn chức trách, nhiệm vụ do mình đảm nhận. Vì vậy, để công tác bồi dưỡng công chức chính quyền cấp xã đạt được chất lượng cao hơn cần thực hiện tốt công tác tuyển dụng công chức chính quyền cấp xã. Đảm bảo những người được tuyển dụng giữ các chức danh của công chức chính quyền cấp xã phải đảm bảo các tiêu chuẩn chức danh. Trong những năm gần đây, hàng năm huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi đều tổ chức thi tuyển công chức chính quyền cấp xã một cách công khai. Các công dân có đủ điều kiện tiêu chuẩn chức danh ở vị trí mình muốn thi tuyển đều có quyền dự thi. Điều đó đã giảm bớt một phần áp lực cho công tác bồi dưỡng công chức chính quyền cấp xã sau tuyển dụng. Tuy nhiên với cách thức thi tuyển nặng về lý thuyết như hiện nay không đảm bảo rằng số công chức chính quyền cấp xã trên địa bàn huyện được tuyển dụng là những người có năng lực, trình độ thỏa mãn các yêu cầu đối với công chức chính quyền cấp xã trên địa bàn huyện. Chính vì vậy, cần có các giải pháp để thực 82 hiện tốt hơn nữa công tác tuyển dụng công chức chính quyền cấp xã cho huyện Nghĩa Hành trong những năm tới. Các cơ quan tuyển dụng công chức cấp xã trên địa bàn huyện phải đảm bảo rằng đội ngũ công chức chính quyền cấp xã được tuyển dụng là những người không những đảm bảo các tiêu chuẩn chức danh mà còn là những người có khả năng thực hiện tốt các công việc đã được mô tả cụ thể trong bản mô tả công việc, có ý thức và mong muốn góp sức mình xây dựng quê hương Nghĩa Hành ngày càng giàu đẹp. Bên cạnh việc thực hiện tốt công tác tuyển dụng, cần thực hiện việc đổi mới quy trình quản lý, bổ nhiệm, miễn nhiệm công chức theo hướng khuyến khích những công chức mẫn cán, có phẩm chất đạo đức, được nhân dân tin yêu, quý trọng, luôn hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao. Tập trung xây dựng đội ngũ công chức theo hướng chính quy, chuyên nghiệp đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước ở cơ sở. Thứ tư, có cơ chế đánh giá công chức chính quyền cấp xã theo đúng năng lực làm việc. Việc đánh giá công chức vào hai dịp sơ kết, tổng kết với hình thức bình bầu, bỏ phiếu kín đã bộc lộ nhiều hạn chế. Năng lực của công chức chính quyền cấp xã chưa được đánh giá chính xác, công bằng. Nhiều lúc, nhiều nơi, nhiều công chức chính quyền trên địa bàn huyện được đánh giá không đúng với năng lực thực tế, bởi việc bình bầu, bỏ phiếu còn mang nặng cảm tính. Hậu quả là người có năng lực và uy tín không được đánh giá tốt, người không có năng lực và uy tín thì được đánh giá cao hơn. Điều này đã dẫn đến tâm lý chán nản, mất lòng tin, không muốn phấn đấu trong công tác và tu dưỡng để nâng cao năng lực, trình độ trong đội ngũ công chức chính quyền cấp xã. Ngược lại, công chức có năng lực yếu kém mà được đánh giá cao hơn so với năng lực thực tế thì phát sinh tâm lý tự phụ, không nghĩ tới việc học tập, bồi dưỡng. Cần có cơ chế đánh giá công chức chính quyền cấp xã theo đúng năng 83 lực làm việc, để công chức tự nhận thấy được khả năng làm việc của mình từ đó tạo động lực cho công chức có nhu cầu được học tập, bồi dưỡng hoàn thiện bản thân, nâng cao năng lực làm việc. Đánh giá công chức chính quyền cấp xã phải dựa vào năng lực thực thi công vụ (khả năng hoàn thành các công việc được giao và chất lượng, hiệu quả của các công việc đó). Lấy bản mô tả công việc làm thước đo mức độ hoàn thành nhiệm vụ của công chức chính quyền cấp xã để nhận xét, đánh giá. Đánh giá công chức chính quyền cấp xã phải đảm bảo tính công bằng nhằm tạo động lực cho công chức có nhu cầu được bồi dưỡng nhằm tiếp thu các kiến thức, kỹ năng làm việc mới hiệu quả hơn. Trong đánh giá công chức tránh tình trạng cào bằng, người làm được việc cũng như người không làm được việc. Thứ năm, có chế độ đãi ngộ công chức chính quyền cấp xã một cách hợp lý. ĐTBD liên quan đến các vấn đề về cơ cấu tổ chức, đề bạt, mô tả công việc và trả lương. Chừng nào các vấn đề liên quan đến các vấn đề trên chưa được giải quyết theo hướng hỗ trợ ĐTBD thì chưa thể mang lại hiệu quả như chúng ta mong muốn. Công chức chính quyền cấp xã làm việc cho chính quyền cơ sở - một trong bốn cấp chính quyền trong hệ thống cơ quan HCNN. Nhưng hiện nay, công chức chính quyền cấp xã có ít cơ hội để phát triển chức nghiệp. Bên cạnh đó, chế độ lương và phụ cấp trách nhiệm của công chức chính quyền cấp xã lại rất thấp. Để bồi dưỡng công chức chính quyền cấp xã đạt hiệu quả cần có những chính sách đãi ngộ về lương và đãi ngộ về cơ hội phát triển chức nghiệp, tạo động lực cho đội ngũ công chức chính quyền cấp xã phấn đấu học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực. Học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ là quyền lợi và nghĩa vụ của công chức cấp xã. Nhưng chừng 84 nào cái “quyền lợi” đó không mang lại những lợi ích thiết thực như hiệu quả công tác, tiền lương hay cơ hội thăng tiến thì người ta cũng dễ dàng lãng quên hoặc từ bỏ. Lúc đó quyền lợi không còn là động lực mà nghĩa vụ sẽ được công chức thực hiện một cách đối phó. Một trong những nguyên nhân cơ bản được nêu trong Báo cáo tổng kết công tác ĐTBD cán bộ, công chức của tỉnh Quảng Ngãi nói chung và huyện Nghĩa Hành nói riêng khiến cho công tác này chưa thu được kết quả như mong đợi đó là chưa có một cơ chế chính sách phù hợp để khuyến khích CBCC tích cực tham gia các khóa ĐTBD. Thực tế cho thấy, 85,39% công chức được khảo sát cho rằng chế độ hỗ trợ kinh phí đào tạo, bồi dưỡng hiện nay theo Quyết định số 481/2008/QĐ-UBND ngày 31/12/2008 của UBND tỉnh Quảng Ngãi ban hành Quy định chế độ hỗ trợ đối với cán bộ, công chức trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi được cử tham gia các khóa ĐTBD là quá ít, chưa đủ trang trải cho các chi phí cần thiết. Để có một cơ chế, chính sách khuyến khích CBCC tham gia các khóa ĐTBD, UBND huyện Nghĩa Hành cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp sau: Cân đối nguồn ngân sách của huyện, xây dựng thành nghị quyết đưa ra lấy ý kiến HĐND huyện để có thể hỗ trợ thêm kinh phí cho công chức chính quyền cấp xã được cử đi bồi dưỡng; đặc biệt lưu ý hỗ trợ cho công chức trẻ, lương thấp, những công chức có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Có chính sách khen thưởng, phát triển chức nghiệp đối với những công chức cấp xã tích cực tham gia các khóa bồi dưỡng và có thành tích tốt trong học tập; đồng thời phê bình đối với những công chức không chấp hành quyết định cử đi bồi dưỡng hoặc có thành tích kém trong học tập, từ đó động viên, khuyến khích công chức cấp xã tích cực tham gia các khóa bồi dưỡng và có thái độ đúng đắn học tập. 3.2.7. Giải pháp về kinh phí bồi dưỡng 85 Xây dựng và triển khai kế hoạch bồi dưỡng công chức chính quyền cấp xã trên địa bàn huyện đòi hỏi một nguồn kinh phí đủ lớn. Do đó, huyện cũng cần có những cơ chế, chính sách về tài chính phù hợp để động viên, khuyến khích các giảng viên, học viên cũng như đội ngũ các chuyên viên, báo cáo viên,... tham gia vào đội ngũ giảng viên chuyên trách. Mặt khác chương trình phải xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, vì vậy phải tổ chức điều tra, khảo sát để xác định nhu cầu bồi dưỡng làm cơ sở thiết kế các chương trình đào tạo bồi dưỡng phù hợp với thực tế. Để làm tốt công tác này, cần có chính sách đầu tư thích đáng cho việc xây dựng chương trình, biên soạn tài liệu, bài tập tình huống, bài giảng... đặc biệt là đầu tư một khoản kinh phí hợp lý để tổ chức nghiên cứu khảo sát (kể cả học tập kinh nghiệm của các điển hình tiên tiến ở các xã khác ở ngoài tỉnh), thuê chuyên gia tư vấn thiết kế xây dựng nội dung chương trình bồi dưỡng. Ngoài ra, đầu tư về các phương tiện hỗ trợ thích hợp cho việc bồi dưỡng theo yêu cầu cũng hết sức cần thiết, bao gồm cả hệ thống các phương tiện kỹ thuật phục vụ giảng dạy, hệ thống thiết bị và phần mềm công nghệ thông tin thích hợp để có thể làm các bài tập mô phỏng, tìm kiếm các thông tin trên mạng và cả một “ngân hàng” các bài tập tình huống, các băng hình mô tả các kỹ năng, các mô hình giúp học viên có thể học bằng trực quan.... 3.2.8. Nâng cao chất lượng hoạt động của Trung tâm Bồi dưỡng chính trị huyện Nghĩa Hành Cùng với sự ra đời của hệ thống chính trị huyện, năm 1996 Trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện Nghĩa Hành được thành lập tại Quyết định số 17-QĐ/HU ngày 17/01/1996 với nhiệm vụ chính là bồi dưỡng sơ cấp lý luận chính trị cho đội ngũ CBCC trên địa bàn huyện, tổ chức các lớp nhận thức về Đảng và bồi dưỡng lý luận chính trị cho đảng viên mới; bồi dưỡng các lớp chuyên đề và nghiệp vụ dành cho cán bộ Mặt trận và các hội đoàn thể ở cơ sở. Đồng thời Trung tâm được giao nhiệm vụ phối hợp với Trường 86 Chính trị tỉnh Quảng Ngãi mở các lớp trung cấp lý luận chính trị - hành chính. Trong đó, Trung tâm Bồi dưỡng chính trị huyện làm công tác quản lý lớp học và phối hợp điều phối giảng viên. Nhiều năm qua, hoạt động của Trung tâm Bồi dưỡng chính trị huyện đã mang lại hiệu quả tích cực, đã thực hiện nhiều khóa ĐTBD cán bộ, công chức trên địa bàn huyện. Nhiều thế hệ CBCC đã trưởng thành sau khi tham gia các khóa ĐTBD tại Trung tâm và đang góp phần tích cực trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội và giữ vững an ninh - quốc phòng của địa phương. Tuy nhiên trong quá trình hoạt động của mình, Trung tâm Bồi dưỡng chính trị huyện Nghĩa Hành vẫn còn bộc lộ nhiều tồn tại, hạn chế như: chậm đổi mới chương trình, phương pháp giảng dạy, chương trình học còn nặng về lý thuyết chưa gắn với thực tế, ít tổ chức các chương trình ngoại khóa nên không tạo được hứng thú cho học viên khi tham gia các khóa ĐTBD. Công tác quản lý các khóa ĐTBD còn chưa nghiêm, việc kiểm tra, chấm thi còn chưa chặt chẽ Những hạn chế này ảnh hưởng đến chất lượng ĐTBD của Trung tâm, chưa đáp ứng được mong muốn của lãnh đạo huyện. Trong giai đoạn hiện nay, trước yêu cầu nâng cao chất lượng của đội ngũ CBCC đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính nhà nước thì trách nhiệm ĐTBD của Trung tâm Bồi dưỡng chính trị huyện ngày càng nặng nề, đòi hỏi Trung tâm cần phải nỗ lực nhiều hơn nữa, đổi mới nội dung, hình thức và phương pháp giảng dạy thì mới thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị được giao. Để thực hiện tốt công tác ĐTBD cán bộ, công chức trong thời gian đến, Trung tâm Bồi dưỡng chính trị huyện Nghĩa Hành cần kết hợp chặt chẽ với Ban Tổ chức Huyện ủy, Phòng Nội vụ và các xã, thị trấn để xây 87 dựng kế hoạch, nội dung chương trình bồi dưỡng thích hợp, trong đó cần lưu ý các nội dung: Xây dựng nội dung chương trình xuất phát từ nhu cầu của công chức chính quyền cấp xã và yêu cầu của cơ quan quản lý công chức. Coi trọng việc khảo sát nắm bắt nhu cầu của công chức và khả năng bồi dưỡng của các cơ sở ĐTBD cán bộ, công chức để có chương trình liên kết tổ chức các khóa bồi dưỡng tại huyện, tạo điều kiện thuận lợi cho công chức tham gia. Phối hợp với các cơ sở ĐTBD cán bộ, công chức xây dựng lại các chương trình, giáo trình dành cho các chức danh công chức chính quyền cấp xã, chọn lọc các nội dung phù hợp nhất để bồi dưỡng gắn với công việc mà công chức đang thực hiện. Đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng tạo hứng thú và chủ động cho người học, gắn lý thuyết với thực hành. Cần tổ chức các buổi sinh hoạt ngoại khóa, tham quan, học tập kinh nghiệm tại các điển hình tiên tiến tại các địa phương. Tổ chức tốt việc chiêu sinh, quản lý học viên, thực hiện nghiêm túc việc lên lớp, kiểm tra, thi tốt nghiệp. Cần làm tốt việc quản lý học viên được cử đi tham gia các khóa bồi dưỡng. Bố trí hợp lý giữa giảng viên cơ hữu và giảng viên kiêm chức để tham gia giảng dạy tại các khóa bồi dưỡng công chức cấp xã. Công chức chính quyền cấp xã là những đối tượng đã trải qua thực tiễn công tác, tham gia các khóa bồi dưỡng là dịp để họ kiểm nghiệm lại việc làm trong thực tế nên cần chú trọng cung cấp những kỹ năng giải quyết các tình huống trong quản lý. Huyện Nghĩa Hành cần tăng cường đầu tư cơ sở vật chất và các trang bị kỹ thuật cần thiết để đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp giảng dạy tích cực, như máy chiếu, máy quay phim, máy ảnh, máy ghi âm... 88 Thường xuyên đối thoại với học viên, lắng nghe ý kiến, tâm tư nguyện vọng của học viên, từ đó có sự điều chỉnh kịp thời nội dung chương trình và phương pháp giảng dạy. 3.3. Một số đề xuất và kiến nghị 3.3.1. Đề xuất Sớm ban hành các văn bản quy phạm pháp: Chính phủ cần sớm ban hành các văn bản về nhóm đối tượng áp dụng một số nội dung của Luật CBCC như: Nghị định về tiêu chuẩn, về việc liên thông công chức cấp xã; Nghị định về tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng CBCC cấp xã. Sau khi nghị định ban hành các Bộ, ngành trung ương cần sớm ban hành các thông tư hướng dẫn để các địa phương sớm thực hiện các chính sách. Cải cách chế độ hỗ trợ đối với hoạt động đào tạo bồi dưỡng CBCC xã, phường, thị trấn. Do đặc điểm của đội ngũ công chức cấp xã, không nên chỉ quy định cứng về kinh phí đào tạo bằng nguồn ngân sách Nhà nước cấp mà cần được bổ sung điều chỉnh (phần mềm) bằng việc trích phần từ các khoản tiết kiệm chi phí thường xuyên theo cơ chế khoán thu, chi ngân sách và tự chủ tài chính ở cơ sở, các quỹ Phần mềm này vừa có tác dụng động viên, khuyến khích cán bộ, công chức cấp xã vừa cho phép khắc phục những bất hợp lý của chế độ, chính sách chung. Xây dựng và thực hiện các chương trình, đề án về tăng cường năng lực thực thi công vụ cho CBCC cấp xã, nhất là chương trình bồi dưỡng kỹ năng, cập nhật kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ cho công chức cấp xã. Sửa đổi, bổ sung quy trình ban hành các văn bản quy phạm pháp luật đối với cán bộ, công chức cấp xã: Khắc phục tình trạng Bộ, ngành nào cũng tham mưu cho Trung ương, Quốc hội, Chính phủ ban hành các quy định về chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức cấp xã, trong đó có chế độ chính sách đối với đào tạo bồi dưỡng CBCC cấp xã, không đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của các văn bản trong hệ 89 thống pháp luật hiện hành. 3.3.2. Khuyến nghị * Đối với huyện Nghĩa Hành và các Phòng ban có liên quan Sau khi có các văn bản hướng dẫn của Trung ương về công tác đào tạo bồi dưỡng CBCC, cần sớm ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể, tổ chức triển khai, quán triệt để các đơn vị cơ sở thực hiện. Xây dựng chương trình đào tạo bồi dưỡng CBCC cấp xã phù hợp với điều kiện của từng xã, thị trấn trên toàn huyện. Tham mưu, kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền theo quy định về chế độ, chính sách khuyến khích, đãi ngộ đối với CBCC cấp xã. Hỗ trợ, bổ sung và nghiên cứu tăng kinh phí đào tạo bồi dưỡng CBCC cấp xã cho phù hợp với điều kiện giá cả hiện nay. Cần tiếp tục chú trọng và đẩy mạnh hơn nữa công tác đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức nói chung và cán bộ, công chức cấp xã nói riêng. Phải đặt công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ công chức cấp xã ở huyện Nghĩa Hành trong sự nghiệp nâng cao dân trí của huyện nhà. Vì vậy, nâng cao dân trí để tạo ra nền học vấn phổ thông rồi tiếp tục bồi dưỡng, đào tạo nghiệp vụ chuyên môn và lý luận chính trị cho công chức cấp xã. Từ đó, hạn chế dần đến chấm dứt hẳn việc tuyển dụng công chức cấp xã chưa đạt chuẩn học phổ thông. Khi thực hiện chính sách đào tạo bồi dưỡng CBCC cấp xã, cần có chính sách ưu đãi đối với các xã nghèo, còn nhiều khó khăn, các xã miền núi. Thực hiện quy hoạch, đào tạo chuẩn hóa CBCC cơ sở. Mỗi địa phương, đơn vị phải xây dựng kế hoạch, có mục tiêu, bước đi cụ thể để thực hiện việc chuẩn hóa đội ngũ CBCC cơ sở phù hợp với từng chức danh CBCC từng vùng, miền khác nhau. Sớm khắc phục tình trạng sử dụng CBCC không đủ chuẩn và sử dụng cán bộ hưu trí, mất sức làm việc 90 trong bộ máy hệ thống chính trị cơ sở. Tăng dần kinh phí đầu tư cho công tác đào tạo CBCC. Khuyến khích CBCC tự học tập nâng cao trình độ ngoài giờ hành chính bằng kinh phí cá nhân. Có chính sách ưu đãi nhằm thu hút những người có trình độ chuyên môn về làm việc tại các xã, thị trấn. Thường xuyên kiểm tra, đánh giá hiệu quả công tác của những cán bộ, công chức được đào tạo, bồi dưỡng. * Đối với các xã, thị trấn Tổ chức thực hiện tốt công tác quy hoạch, sử dụng CBCC cấp xã theo phân cấp. Thường xuyên tổ chức đánh giá hiệu quả công tác đối với CBCC được cử đi đào tạo bồi dưỡng, báo cáo về trình độ CBCC cấp xã tại địa phương, kiến nghị với cấp trên có thẩm quyền về những vướng mắc, khó khăn trong công tác đào tạo bồi dưỡng CBCC cấp xã. Tuyên truyền, vận động, tạo điều kiện để đội ngũ CBCC, đặc biệt là CBCC chuyên môn cấp xã nâng cao ý thức tự giác học tập, rèn luyện nâng cao trình độ lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ và năng lực công tác. Tiểu kết chương 3 Từ yêu cầu của công cuộc đổi mới và cải cách hành chính nhà nước, huyện Nghĩa Hành cần xây dựng và nâng cao chất lượng của đội ngũ công chức chính quyền cấp xã trên địa bàn huyện. Trên cơ sở nhu cầu, mục tiêu ĐTBD cán bộ, công chức và tình hình phát triển kinh tế - xã hội của huyện Nghĩa Hành, luận văn mạnh dạn đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng ĐTBD công chức chính quyền cấp xã trên địa bàn huyện trong những năm tới. Để công tác bồi dưỡng công chức chính quyền cấp xã trên địa bàn huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi đạt chất lượng cao cần tiến hành đồng bộ các giải pháp: Từ việc quy hoạch cán bộ, xây dựng bản mô tả công việc cho từng 91 chức danh, đến xác định nhu cầu bồi dưỡng của từng công chức để xây dựng chương trình, nội dung phù hợp tới nâng cao năng lực giảng dạy cho đội ngũ giảng viên (bao gồm giảng viên cơ hữu, giảng viên kiêm chức và báo cáo viên). Bên cạnh đó cần tăng cường năng lực của các cơ sở ĐTBD trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi và huyện Nghĩa Hành, đổi mới hình thức mở lớp, đổi mới phương pháp giảng dạy, học tập; kiểm tra, khen thưởng, kỷ luật công chức trong quá trình bồi dưỡng. Các khóa bồi dưỡng công chức sẽ không mang lại hiệu quả nếu sau khi kết thúc khoá bồi dưỡng, học viên quay trở lại tổ chức để làm việc nhưng tổ chức lại không tạo điều kiện cho học viên áp dụng các kỹ năng mới được bồi dưỡng; hoặc khi bồi dưỡng không phù hợp với chuyên môn hoặc các kỹ năng cần thiết giúp người học thực hiện công việc. Chính vì vậy, bên cạnh những chương trình bồi dưỡng với những nội dung thiết thực, phù hợp với nhu cầu nhằm nâng cao năng lực thực thi công vụ cho đội ngũ công chức chính quyền cấp xã, huyện Nghĩa Hành cần có những chế độ đãi ngộ về lương và cơ hội phát triển, đồng thời cơ quan chủ quản cũng nên mạnh dạn tạo điều kiện để công chức áp dụng những điều đã được học tập vào thực tiễn công tác. Các giải pháp này có mối liên hệ mật thiết với nhau, do đó trong quá trình thực hiện phải tiến hành đồng bộ thì mới mang lại hiệu quả. Thực hiện tốt các giải pháp được nêu ra trong luận văn, chắc chắn trong những năm tới huyện Nghĩa Hành sẽ có đội ngũ công chức chính quyền cấp xã đạt chuẩn, có đủ kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ, phương pháp làm việc phù hợp để thực thi tốt các chức trách, nhiệm vụ được giao, góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh - quốc phòng của địa phương. 92 KẾT LUẬN Nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị cấp cơ sở đã và đang là vấn đề được các cấp ủy Đảng và chính quyền các địa phương rất quan tâm. Đảng ta đã khẳng định, chính quyền cấp xã có vị trí rất quan trọng, là cấp gần dân nhất, sát dân nhất, hiểu tâm tư, nguyện vọng của dân nhất. Để hệ thống chính trị ở cơ sở phát huy được sức mạnh của mình, Đảng ta đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách, đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX về “Đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn”. Để đạt được mục tiêu đó, vấn đề hàng đầu, có tính chất quyết định là chất lượng của đội ngũ CBCC cấp cơ sở. Nhận thức được vị trí và tầm quan trọng của chất lượng đội ngũ CBCC trong sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của huyện, Huyện ủy, chính quyền huyện Nghĩa Hành đã có nhiều giải pháp đẩy mạnh và nâng cao chất lượng ĐTBD cán bộ, công chức của huyện nhằm xây dựng đội ngũ CBCC có đủ năng lực, trình độ và các phẩm chất đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính nhà nước, nhất là đội ngũ công chức chính quyền cấp xã. Một trong những yếu tố quyết định đến tính chuyên nghiệp và hiệu quả hoạt động của nền HCNN là đội ngũ CBCC. Tính chuyên nghiệp và hiệu quả đòi hỏi đội ngũ CBCC phải thông thạo công việc và thực hiện tốt các chức trách, nhiệm vụ được giao. Điều này đặt ra yêu cầu đối với hoạt động ĐTBD như là một trong các giải pháp quan trọng nhất để nâng cao năng lực thực thi công vụ của CBCC, nhất là đội ngũ công chức chính quyền cấp xã - những người trực tiếp triển khai các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước vào thực tiễn cuộc sống. Trong những năm qua, công tác ĐTBD cán bộ, công chức nói chung, bồi dưỡng công chức chính quyền cấp xã của huyện Nghĩa Hành nói riêng 93 đã đạt được những kết quả bước đầu, góp phần từng bước nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC của huyện. Tuy nhiên, cải cách hành chính và hội nhập mở cửa khu vực và quốc tế đang đặt ra yêu cầu và áp lực mới đối với công tác ĐTBD cán bộ, công chức. Nâng cao chất lượng ĐTBD cán bộ, công chức cấp xã đã được chính quyền huyện Nghĩa Hành đề cập đến nhiều. Huyện ủy, UBND huyện đã ban hành nhiều nghị quyết và quyết định để chỉ đạo, tuy nhiên do nhiều nguyên nhân, chất lượng ĐTBD cán bộ, công chức trên địa bàn huyện vẫn còn nhiều hạn chế, chưa có những chuyển biến tích cực. CBCC tham gia nhiều các khóa ĐTBD nhưng chất lượng của đội ngũ CBCC chưa được nâng lên tương ứng. Vấn đề quan trọng nhất trong hoạt động bồi dưỡng công chức chính quyền cấp xã là bồi dưỡng theo chức danh. Đây là một loại hình bồi dưỡng có nhiều ưu điểm, vừa đảm bảo các tiêu chuẩn chức danh công chức cấp xã, vừa đảm bảo cho công chức chính quyền cấp xã được bồi dưỡng những kiến thức, kỹ năng, thái độ theo yêu cầu công việc được giao nhằm hoàn thành tốt nhất chức trách, nhiệm vụ của mình. Thực trạng đội ngũ công chức chính quyền cấp xã trên địa bàn huyện Nghĩa Hành hiện nay cho thấy, còn một số lượng không nhỏ công chức chính quyền cấp xã chưa đảm bảo các tiêu chuẩn chức danh mà mình đang đảm nhận; một số khác tuy hoàn thiện đủ tiêu chuẩn chức danh nhưng thực tế năng lực, trình độ còn yếu kém, chưa đạt yêu cầu. Để nâng cao chất lượng bồi dưỡng công chức chính quyền cấp xã trên địa bàn huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi trong những năm tới cần thực hiện đồng bộ các giải pháp: quy hoạch cán bộ; xây dựng bản mô tả công việc cho từng chức danh; nghiên cứu xác định nhu cầu bồi dưỡng của công chức; nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên. Bên cạnh đó cần tăng cường năng lực của các cơ sở ĐTBD trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi và huyện 94 Nghĩa Hành, đổi mới hình thức mở lớp, đổi mới phương pháp giảng dạy, học tập; kiểm tra, khen thưởng, kỷ luật công chức trong quá trình bồi dưỡng. Tất cả các giải pháp này phải được xây dựng trên cơ sở hỗ trợ, bổ sung cho nhau để tăng tính hiệu quả của mỗi giải pháp và các giải pháp được thực hiện thống nhất, hướng tới thực hiện mục tiêu nâng cao chất lượng bồi dưỡng công chức chính quyền cấp xã trên địa bàn huyện. Qua nghiên cứu lý luận và phân tích, đánh giá thực trạng đội ngũ CBCC cấp xã và những kết quả đã đạt được cũng như những hạn chế trong hoạt động bồi dưỡng công chức chính quyền cấp xã trên địa bàn huyện Nghĩa Hành, học viên đã mạnh dạn đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng bồi dưỡng công chức chính quyền cấp xã trên địa bàn huyện trong những năm tới. Do hạn chế về thời gian và khả năng của học viên nên luận văn chắc chắn còn một số hạn chế. Với sự cầu thị và cả ý thức trách nhiệm của mình, học viên rất mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của các thầy, cô giáo và các bạn học viên. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Đặng Khắc Ánh, Đào tạo, bồi dưỡng theo vị trí việc làm - những khó khăn và kiến nghị, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 193 (2/2012). 2. Bộ Nội vụ (2011), Thông tư số 03/2011/TT-BNV ngày 25/01/2011 hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định 18/2010/NĐ-CP ngày 05 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng công chức. 3. Bộ Nội vụ (2012), Thông tư số 06/2012/TT-BNV ngày 30/11/2012 hướng dẫn về chức trách, tiêu chuẩn cụ thể, nhiệm vụ và tuyển dụng công chức xã, phường, thị trấn. 4. Bộ Nội vụ (2013), Thông tư số 05/2013/TT-BNV ngày 25/6/2013 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 36/2013/NĐ-CP ngày 22/4/2013 của Chính phủ về vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức. 5. Chính phủ (2009), Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách cấp xã. 6. Chính phủ (2010), Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05/3/2010 về việc đào tạo, bồi dưỡng công chức. 7. Chính phủ (2011), Nghị định số 112/2011/NĐ-CP ngày 05/12/2011 về công chức xã, phường, thị trấn. 8. Chính phủ (2011), Nghị quyết 30c/NQ-CP ngày 08 tháng 11 năm 2011 về Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 – 2020. 9. Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương khoá VIII về Chiến lược cán bộ thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1997. 10. Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương khoá X về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2007. 11. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011. 12. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, NXB. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tháng 4/2016. 13. Nguyễn Hữu Hải (2008), Những vấn đề đặt ra về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức theo nhu cầu, Tạp chí Tổ chức Nhà nước, Bộ Nội vụ, số 11/2008. 14. Tạ Ngọc Hải (2009), Vị trí việc làm theo Luật Cán bộ, công chức, Tạp chí Tổ chức Nhà nước, số tháng 7/2009. 15. Lê Thị Vân Hạnh (2009), Trách nhiệm của cơ quan sử dụng lao động trong việc đánh giá các khóa đào tạo, bồi dưỡng, tạp chí Tổ chức nhà nước, số 2/2009. 16. Bùi Huy Khiên (2015), Đào tạo, bồi dưỡng theo vị trí việc làm cho cán bộ, công chức, viên chức các tỉnh khu vực Tây Nguyên, Đề tài khoa học cấp Bộ. 17. Kỷ yếu Hội thảo quốc tế do Bộ Nội vụ và Ngân hàng Phát triển Châu Á tổ chức: Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam, Hà Nội, ngày 14-15/12/2005. 18. Kỷ yếu hội thảo khoa học đào tạo, bồi dưỡng theo vị trí việc làm ngành Nội vụ, Hà Nội, 2011. 19. Hồ Chí Minh, Bàn về cán bộ, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1974. 20. Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh toàn tập (tập 5), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000. 21. Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh toàn tập (tập 10), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000. 22. Nghị quyết số 20-NQ/TU ngày 28/5/2010 của Tỉnh ủy Quảng Ngãi về đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức giai đoạn 2011 – 2020. 23. Thang Văn Phúc (2007), Đổi mới chương trình, giáo trình giảng dạy kiến thức hành chính cho cán bộ, công chức nhà nước, Tạp chí Tổ chức nhà nước, số tháng 7/2007. 24. Nguyễn Đăng Quế (2013), Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cơ sở ở Tây Nguyên, Tạp chí Xây dựng Đảng, số tháng 9/2013. 25. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật Cán bộ, công chức năm 2008. 26. Quyết định số 161/2003/QĐ-TTg ngày 04/8/2003 của Thủ tướng Chính phủ ban hành quy chế đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức. 27. Quyết định số 96/2008/QĐ-UBND ngày 29/4/2008 của UBND tỉnh Quảng Ngãi quy định cụ thể về chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn. 28. Tài liệu hội nghị tổng kết 5 năm (2006 - 2010) thực hiện Quyết định số 40/2006/QĐ-TTg và triển khai Quyết định số 1374/QĐ-TTg về việc phê duyệt kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức giai đoạn 2011 – 2015. 29. Lưu Kiếm Thanh (2012), Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức: một hình thức giáo dục - đào tạo đặc thù và chuyên biệt, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 201 (10/2012). 30. Huỳnh Văn Thới (2010), Cần đào tạo cán bộ, công chức theo nhu cầu công việc, Báo Pháp luật, Thành phố Hồ Chí Minh, số 254. 31. Thủ tướng Chính phủ (2011), Quyết định số 1374/2011/QĐ-TTg ngày 12/8/2011 về việc phê duyệt kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức giai đoạn 2011 – 2015. 32. Thủ tướng Chính phủ (2012), Quyết định số 1557/2012/QĐ-TTg ngày 18/10/2012 về việc phê duyệt Đề án đẩy mạnh cải cách chế độ công vụ, công chức. 33. Thủ tướng Chính phủ (2016), Quyết định số 163/2016/QĐ-TTg ngày 25/01/2016 về việc phê duyệt Đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức giai đoạn 2016 - 2025. 34. Trần Thị Thanh Thủy (2010), Triết lý giáo dục và hoạt động đào tạo, bồi dưỡng công chức, Tạp chí Tổ chức Nhà nước, số tháng 6/2010. 35. Trần Anh Tuấn (2006), Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới, Tạp chí Tổ chức Nhà nước, số tháng 5/2006. 36. Nguyễn Ngọc Vân (2008), Cơ sở khoa học của đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức hành chính theo nhu cầu công việc, Đề tài khoa học cấp Bộ, Bộ Nội vụ. 37. Nguyễn Ngọc Vân (2009), Bồi dưỡng theo nhu cầu công việc - giải pháp cải tiến, nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, Tạp chí Tổ chức Nhà nước, số tháng 3/2009. 38. Nguyễn Thị Thu Vân (2009), Đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học tập trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, Tạp chí Quản lý Nhà nước, số 166 (11/2009). 39. Vụ Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nhà nước, Báo cáo kết quả nghiên cứu Đề tài “Cơ sở khoa học của đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức hành chính theo nhu cầu công việc”, Đề tài khoa học cấp Bộ, Bộ Nội vụ, 2006. 40. Lại Đức Vượng (2007), Bàn về chức năng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, Tạp chí Tổ chức Nhà nước, số tháng 5/2007. 41. Lại Đức Vượng (2009), Đào tạo, bồi dưỡng đáp ứng tiêu chuẩn công chức hành chính, Tạp chí Tổ chức Nhà nước, số tháng 10/2009. 42. Nguyễn Thanh Xuân (2006), Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức theo vị trí chức danh, Đề tài khoa học cấp Bộ, Bộ Nội vụ. PHỤ LỤC Bảng 2.1. Số lượng công chức cấp xã của huyện Nghĩa Hành (đến 01/12/2016) STT Chức danh công chức Định biên (người) Hiện có (người) So sánh (%) 1 Trưởng công an 12 12 100 2 Chỉ huy trưởng quân sự 12 12 100 3 Văn phòng – Thống kê 24 20 83,33 4 Địa chính – Xây dựng 24 24 100 5 Tài chính – kế toán 24 21 87,50 6 Tư pháp – Hộ tịch 24 22 91,67 7 Văn hóa xã hội 24 21 87,50 Tổng cộng 144 126 87,50 Nguồn: Phòng Nội vụ huyện Nghĩa Hành Bảng 2.2. Tuổi đời, năm công tác chung và năm công tác đang đảm nhận của công chức cấp xã (đến 01/12/2016) Tiêu chí Số lượng (người) Tỉ lệ (%) 1. Độ tuổi Dưới 35 tuổi 45 35,71 Từ 35 đến 50 tuổi 56 44,44 Trên 50 tuổi 25 19,85 2. Số năm công tác chung Từ 01 đến 05 năm 14 11,11 Từ 06 đến 10 năm 40 31,75 Từ 11 đến 15 năm 29 23,02 Từ 16 đến 20 năm 16 12,70 Từ 21 đến 25 năm 10 7,94 Từ 26 đến 30 năm 8 6,35 Từ 31 đến 35 năm 6 4,75 Từ 35 đến 40 năm 3 2,38 3. Số năm làm công việc hiện tại Từ 01 đến 05 năm 46 36,51 Từ 06 đến 10 năm 37 29,37 Từ 10 đến 15 năm 43 34,12 Nguồn: Phòng Nội vụ huyện Nghĩa Hành Bảng 2.3. Trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn nghiệp vụ và trình độ lý luận chính trị của công chức xã qua các năm 2013, 2014, 2015, 2016 Chỉ tiêu Năm 2013 Năm 2014 Năm 2015 Năm 2016 SL (người) Tỉ lệ (%) SL (người) Tỉ lệ (%) SL (người) Tỉ lệ (%) SL (người) Tỉ lệ (%) Tổng 118 100 118 100 126 100 126 100 Trình độ văn hóa THCS - - - - - - - - THPT 118 100 118 100 126 100 126 100 Trình độ CMNV Thạc sĩ - - - - - - - - Đại học, cao đẳng 34 28,81 34 28,81 42 33,33 42 33,33 Trung cấp 72 61,02 72 61,02 74 58,73 80 63,49 Sơ cấp - 0 12 10,17 10 7,94 4 3,18 Chưa đào tạo 12 10,17 - 0 - 0 - 0 Trình độ Cao cấp, cử nhân - - - - - - - - LLCT Trung cấp 22 18,64 30 25,42 60 47,62 71 56,35 Sơ cấp 56 47,46 58 49,16 37 29,37 44 34,92 Chưa đào tạo 40 33,90 30 25,42 29 23,01 11 8,73 Nguồn: Phòng Nội vụ huyện Nghĩa Hành Bảng 2.4. Chuyên môn nghiệp vụ của công chức cấp xã qua các năm Lĩnh vực đào tạo Năm 2013 Năm 2014 Năm 2015 Năm 2016 SL (người) Cơ cấu (%) SL (người) Cơ cấu (%) SL (người) Cơ cấu (%) SL (người) Cơ cấu (%) Tài chính, kinh tế 34 32,07 37 31,36 53 42,06 53 42,06 Luật 9 8,49 10 8,47 11 8,73 11 8,73 Sư phạm, khoa học xã hội 18 16,98 21 17,80 24 19,05 24 19,05 Xây dựng, kỹ thuật 16 15,09 16 13,56 16 12,70 16 12,70 Khác 29 27,37 34 28,81 22 17,01 22 17,01 Tổng 106 100 118 100 126 100 126 100 Nguồn: Phòng Nội vụ huyện Nghĩa Hành Bảng 2.5. Tình hình sử dụng chuyên môn của công chức cấp xã qua các năm (đối với hệ cao đẳng, đại học) Tiêu chí Năm 2013 Năm 2014 Năm 2015 Năm 2016 SL (người) Cơ cấu (%) SL (người) Cơ cấu (%) SL (người) Cơ cấu (%) SL (người) Cơ cấu (%) Đào tạo hệ 5 14,71 6 17,65 8 19,05 11 26,19 chính quy Đào tạo hệ vừa học vừa làm 29 85,29 28 82,35 34 80,95 31 73,81 Tổng 34 100 34 100 42 100 42 100 Làm đúng chuyên môn đào tạo 13 38,24 18 52,94 24 57,14 31 73,81 Làm không đúng chuyên môn đào tạo 21 61,76 16 47,06 18 42,86 11 26,19 Tổng 34 100 34 100 42 100 42 100 Nguồn: Phòng Nội vụ huyện Nghĩa Hành Bảng 2.6. Tổng hợp kinh phí đào tạo, bồi dưỡng từ năm 2013 – 2016 ĐVT: Triệu đồng Năm Tổng kinh phí thực hiện Chia theo nguồn kinh phí Chia theo loại hình đào tạo Ngân sách tỉnh Ngân sách huyện Các chương trình, dự án Kinh phí đào tạo Kinh phí bồi dưỡng 2013 2.480 1.650 680 150 1.013 1.467 2014 2.665 1.800 700 165 1.074 1.591 2015 2.687 1.800 700 187 1.156 1.531 2016 4.177 2.200 1.725 252 1.235 2.942 Tổng 12.009 7.450 3.805 754 4.478 7.531 Nguồn: Báo cáo công tác bồi dưỡng công chức cấp xã giai đoạn 2013- 2016 - Phòng Tài chính huyện Nghĩa Hành Bảng 2.7. Tình hình đào tạo, bồi dưỡng cho công chức xã của huyện Nghĩa Hành các năm 2013, 2014, 2015 và 2016. Tiêu chí Năm 2013 2014 2015 2016 SL (người) Tỉ lệ (%) SL (người) Tỉ lệ (%) SL (người) Tỉ lệ (%) SL (người) Tỉ lệ (%) Tham gia các khóa ĐTBD 49 41,53 51 43,22 66 52,38 48 30,10 Không tham gia các khóa ĐTBD 69 58,47 67 56,78 60 47,62 78 61,90 Tổng 118 100 118 100 126 100 126 100 Nguồn: Phòng Nội vụ huyện Nghĩa Hành Bảng 2.8. Kết quả bồi dưỡng nghiệp vụ QLNN cho công chức cấp xã Năm Tổng số CC được ĐTBD về QLNN Trong đó Bồi dưỡng nghiệp vụ QLNN Đào tạo nghiệp vụ QLNN hệ cán sự Đào tạo nghiệp vụ QLNN hệ chuyên viên 2013 51 51 0 0 2014 64 64 0 0 2015 50 48 2 0 2016 89 87 2 0 Tổng cộng 254 250 4 0 Nguồn: Báo cáo công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã giai đoạn 2012-2016 – Phòng Nội vụ huyện Nghĩa Hành Bảng 2.9. Kết quả đào tạo lý luận chính trị cho CBCC cấp xã Năm Số CC được đào tạo LLCT Chia theo trình độ đào tạo BD ngắn ngày Sơ cấp Trung cấp Cao cấp Cử nhân 2013 86 62 12 12 0 0 2014 75 51 10 14 0 0 2015 147 113 17 17 0 0 2016 142 120 5 17 0 0 Tổng 450 346 44 60 0 0 Nguồn: Báo cáo công tác đào tạo bồi dưỡng CBCC cấp xã giai đoạn 2013-2016 - Phòng Nội vụ huyện Nghĩa Hành Bảng 2.10. Đánh giá của đội ngũ công chức cấp xã ở huyện Nghĩa Hành về một số tiêu chí trong công tác bồi dưỡng TT Các tiêu chí đánh giá Mức độ đánh giá(%) Tốt Khá TB Kém 1 Điều kiện, cơ sở vật chất của cơ sở ĐT 8,1 48,3 40,7 2,9 2 Đội ngũ giáo viên 44,3 52,7 3 0 3 Ý thức của người học 43,3 32,5 12,1 12,1 4 Sự quan tâm tạo điều kiện của cơ quan cử đi học 62,5 34,2 3,3 0 5 Phương pháp giảng dạy và phương tiện giảng dạy 37,2 45,5 17,3 0 6 Chương trình và nội dung 41,6 55,3 3,1 0 7 Chế độ, chính sách hỗ trợ cho người đi học 65 32,5 2,5 0 8 Ý kiến khác 0 0 0 0 Nguồn: Khảo sát của tác giả Phụ lục 1 PHIẾU ĐIỀU TRA (Dùng cho công chức chính quyền cấp xã) Kính thưa ông/bà, Tôi là: Nguyễn Thị Thanh Hà, học viên lớp Cao học HC20.T4, Chuyên ngành Quản lý công, Học viện Hành chính Quốc gia. Hiện tại, tôi đang thực hiện luận văn tốt nghiệp với đề tài “Bồi dưỡng công chức chính quyền cấp xã trên địa bàn huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi”. Để phục vụ cho đề tài trên kính mong ông/bà vui lòng cho tôi biết về một số thông tin cũng như ý kiến của ông/bà theo các nội dung dưới đây. Tôi xin cam đoan tất cả những thông tin này đều phục vụ cho mục đích nghiên cứu, nếu có mục đích khác phải có sự đồng ý của ông/bà. Xin chân thành cảm ơn! Họ và tên: Chức vụ: Đơn vị công tác: . Địa chỉ: ........................................................................................................... Điện thoại:....................................................................................................... Xin ông/bà đánh dấu (x) vào ô lựa chọn tương ứng hoặc ghi nội dung vào chỗ trống: Câu 1. Giới tính: □ Nam □ Nữ Câu 2. Tuổi: □ Dưới 35 □ từ 35 - 50 tuổi □ Từ 51 - 60 tuổi Câu 3: Chức danh □ Cán bộ □ Công chức Câu 4: Trình độ chuyên môn □ Chưa qua đào tạo □ Sơ cấp □ Trung cấp □ Cao đẳng □ Đại học □ Thạc sỹ Trình độ lý luận chính trị □ Chưa qua đào tạo □ Sơ cấp □ Trung cấp □ Cử nhân, cao cấp Trình độ quản lý nhà nước □ Chưa qua đào tạo □ Cán sự □ Chuyên viên □ Chuyên viên chính Câu 5: Thâm niên công tác □ Dưới 5 năm □ 5- 9 năm □ 10 – 30 năm □ Trên 30 năm Câu 6: Chuyên môn chính mà ông/bà được đào tạo.......................... Câu 7: Ông/bà đã tham gia khoá bồi dưỡng nào do cơ quan tổ chức? □ Tên khoá học: □ Độ dài thời gian đào tạo: .. □ Hình thức đào tạo: Câu 8: Trước khoá bồi dưỡng, ông/bà được cung cấp thông tin về chương trình ĐTBD ở mức độ nào? □ Thường xuyên □ Bình thường □ Ít khi Câu 9: Khi tham gia vào các khóa bồi dưỡng của cơ quan tổ chức nhằm mục đích: □ Nâng cao trình độ chuyên môn □ Nâng cao trình độ chính trị, quản lý nhà nước □ Cơ hội thăng tiến □ Ý kiến khác: Câu 10: Độ dài thời gian khoá đào tạo có phù hợp với ông/bà? □ Phù hợp □ Không phù hợp □ Ý kiến khác Câu 11: Hình thức bồi dưỡng của khoá học có phù hợp với ông/bà? □ Phù hợp □ Không phù hợp □ Ý kiến khác Câu 12: Cách thức truyền đạt của giảng viên: □ Dễ hiểu □ Không dễ hiểu □ Bình thường □ Ý kiến khác: Câu 13: Kiến thức, kỹ năng của khoá bồi dưỡng đó có phù hợp với nhu cầu của ông/bà hay không? □ Phù hợp □ Không phù hợp □ Ý kiến khác Câu 14: Ông/bà thấy nhu cầu cần được bổ sung kiến thức, kỹ năng thuộc lĩnh vực nào? □ Đào tạo chuyên môn, kiến thức bổ trợ □ Đào tạo quản lý nhà nước □ Đào tạo lý luận chính trị Câu 15: Mức độ phù hợp của kiến thức được cơ quan bồi dưỡng so với công việc: Mức độ phù hợp Đào tạo chuyên môn, kiến thức bổ trợ Đào tạo lý luận chính trị Đào tạo quản lý nhà nước Nhiều Trung bình Ít Câu 16: Sau khi được bồi dưỡng mức độ hài lòng của ông/bà với công việc đảm nhiệm: □ Nhiều □ Ít □ Trung bình Câu 17: Những lợi ích do bằng cấp, chứng chỉ nhận được do bồi dưỡng của cơ quan: □ Tăng thu nhập □ Tăng cơ hội thăng tiến □ Không có lợi ích gì □ Khác Câu 18: Theo ý kiến của ông/bà, việc bồi dưỡng của cơ quan hiện nay đáp ứng tới mức độ nào so với yêu cầu đặt ra: □ Tốt □ Đạt yêu cầu □ Chưa đạt yêu cầu Xin chân thành cảm ơn sự cộng tác, giúp đỡ của ông/bà! Phụ lục 2 PHIẾU PHỎNG VẤN (Dành cho giảng viên) Kính thưa ông/bà! Tôi là: Nguyễn Thị Thanh Hà, học viên lớp Cao học HC20.T4, Chuyên ngành Quản lý công, Học viện Hành chính Quốc gia. Hiện tại, tôi đang thực hiện luận văn tốt nghiệp với đề tài “Bồi dưỡng công chức chính quyền cấp xã trên địa bàn huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi”. Để phục vụ cho nghiên cứu đề tài trên kính mong ông/bà vui lòng cho tôi biết về một số thông tin cũng như ý kiến của ông/bà theo các nội dung dưới đây. Kết quả phỏng vấn này chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu, không phục vụ cho mục đích nào khác. Rất mong nhận được sự hợp tác và giúp đỡ của ông/bà. Xin chân thành cảm ơn sự hợp tác và giúp đỡ của ông/bà! I. THÔNG TIN CÁ NHÂN Họ và tên: .. Giới tính: Nam  Nữ  II. THÔNG TIN KHẢO SÁT 1. Ông/bà vui lòng cho biết ý kiến của ông/bà về công tác ĐTBD cán bộ, công chức từ 2012 – 2016? - Sự quan tâm của lãnh đạo địa phương, cơ sở đào tạo: . - Điều kiện cơ sở vật chất phục vụ cho công tác giảng dạy và học tập: . - Chế độ, chính sách cho người dạy, học tập: - Ý thức, thái độ của người học: 2. Theo ông/bà để nâng cao chất lượng ĐTBD cán bộ, công chức trong thời gian tới cần có những giải pháp nào? - Nhóm các giải pháp mang tính khách quan - Nhóm các giải pháp mang tính chủ quan 3. Ông/bà gặp những thuận lợi, khó khăn gì khi giảng dạy các các lớp ĐTBD cán bộ, công chức? Xin chân thành cảm ơn ông/bà. Phụ lục 3 PHIẾU PHỎNG VẤN (Dành cho lãnh đạo UBND xã) Kính thưa ông/bà, Tôi là: Nguyễn Thị Thanh Hà, học viên lớp Cao học HC20.T4, Chuyên ngành Quản lý công, Học viện Hành chính Quốc gia. Hiện tại, tôi đang thực hiện luận văn tốt nghiệp với đề tài “Bồi dưỡng công chức chính quyền cấp xã trên địa bàn huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi”. Để phục vụ cho đề tài trên kính mong ông/bà vui lòng cho tôi biết về một số thông tin cũng như ý kiến của ông/bà theo các nội dung dưới đây. Kết quả phỏng vấn này chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu, không phục vụ cho mục đích nào khác. Rất mong nhận được sự hợp tác và giúp đỡ của ông/bà. Xin chân thành cảm ơn sự hợp tác và giúp đỡ của ông/bà! I. THÔNG TIN CÁ NHÂN 1. Ông/bà cho biết trong thời gian từ năm 2012 - 2016 việc tổ chức các khóa bồi dưỡng công chức chính quyền cấp xã gặp những thuận lợi, khó khăn gì? - Thuận lợi - Khó khăn 2. Ông/bà đánh giá công tác bồi dưỡng công chức chính quyền cấp xã trong thời gian qua? Cơ sở đào tạo: - Đội ngũ giảng viên: ... Người học: 3. Với tư cách là lãnh đạo cơ quan sử dụng công chức sau các khóa bồi dưỡng ông/bà vui lòng cho biết ý kiến về chất lượng các khóa bồi dưỡng như thế nào? □ Tốt □ Đạt yêu cầu □ Chưa đạt yêu cầu Xin chân thành cảm ơn ông/bà.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfluan_van_boi_duong_cong_chuc_chinh_quyen_cap_xa_tren_dia_ban.pdf
Luận văn liên quan