Luận văn Đào tạo, bồi dưỡng công chức thanh tra ngành Tư pháp theo yêu cầu của Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Tuy nhiên với những cơ hội thách thức trên cũng mở ra nhiều cơ hội đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức, đó là những thuận lợi trong việc tham khảo và học tập những phương pháp quản lý mới, cách thức tổ chức công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức hiệu quả, phương pháp xây dựng chương trình, giáo trình, tài liệu và phương pháp giảng dạy hiện đại, tiên tiến. Ngoài ra, thực hiện những chủ trương lớn trên đây, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được kết quả tăng trưởng nhanh trong nhiều năm liền, ngân sách đầu tư cho công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức được cải thiện.

pdf89 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Lượt xem: 2879 | Lượt tải: 24download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Đào tạo, bồi dưỡng công chức thanh tra ngành Tư pháp theo yêu cầu của Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
mới của pháp luật hiện hành trong công tác thanh tra và công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo trong giai đoạn hiện nay. b) Những tồn tại, hạn chế trong công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức thanh tra ngành Tư pháp. Qua nghiên cứu thực tế cho thấy, bên cạnh những kết quả đạt được thì công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức Thanh tra ngành Tư pháp còn có những hạn chế cơ bản sau: Thứ nhất, văn bản quản lý công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức của Thanh tra Tư pháp hiện nay chưa được quan tâm. Hiện nay việc đào tạo, bồi dưỡng công chức thanh tra ngành Tư pháp còn đang thiếu một hành lang pháp lý. Các văn bản pháp lý về công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức thanh tra Tư pháp chưa được xây dựng, Kế hoạch đào tạo công chức trong ngành chưa đáp ứng thường xuyên. Chưa khuyến khích, tạo điều kiện để công chức thanh tra trong ngành theo học trình độ thạc sĩ, tiến sĩ các chuyên ngành như xây dựng cơ bản, tài chính kế toán, chuyên ngành luật... Đây cũng là một bất cập lớn nhất của thanh tra ngành Tư pháp trong việc đào tạo cán bộ, công chức thanh tra Tư pháp. Thứ hai, việc đào tạo, bồi dưỡng kiến thức thanh tra chuyên ngành đối công chức thanh tra ngành Tư pháp chưa thường xuyên, chưa mang tính quy hoạch Hiện nay theo văn bản hiện hành như Nghị định số 93/2008/NĐ - CP ngày 22/8/2008, Nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp thì Bộ Tư pháp là cơ quan quản lý Nhà nước các lĩnh vực như: thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác xây dựng và thi hành pháp luật; kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật; phổ biến, giáo dục pháp luật; thi hành án dân sự; hành chính tư pháp; bổ trợ tư pháp và công tác khác trong phạm vi cả nước; quản lý nhà nước các dịch vụ công trong lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ. Theo thông tư Liên tịch số 04/2005/TTLT – TP – NV ngày 05/5/2005 thì Sở Tư pháp là cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tham mưu, giúp Uỷ ban nhân dân cùng cấp thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp luật, thi hành án dân sự, công chứng, chứng thực, hộ tịch, quốc tịch, con nuôi có yếu tố nước ngoài, lý lịch tư pháp, luật sư, tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý, giám định tư pháp, hoà giải cơ sở, bán đấu giá tài sản, trọng tài thương mại và công tác tác tư pháp khác theo quy định của pháp luật... Ở Bộ Tư pháp thì Thanh tra Bộ là đơn vị tham mưu giúp Bộ trưởng quản lý nhà nước về công tác thanh tra; thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn thanh tra hành chính và thành tra chuyên ngành trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ ( Nghị định số 74/2006/NĐ-CP quy định đổi mới về Tổ chức và hoạt động của Thanh tra tư pháp). Ở địa phương Thanh tra Sở Tư pháp có nhiệm vụ, quyền hạn : “Thanh tra chuyên ngành đối với cơ quan, tổ chức cá nhân trong việc chấp hành pháp luật chuyên ngành thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Sở Tư pháp theo quy định của pháp luật gồm: kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật; phổ biến, giáo dục pháp luật; thi hành án dân sự cấp huyện (theo sự uỷ quyền của Bộ trưởng Bộ Tư pháp); công chứng, chứng thực; hộ tịch, quốc tịch; lý lịch tư pháp; nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài; luật sư; tư vấn pháp luật; giám định tư pháp; bán đấu giá tài sản; trọng tài thương mại; trợ giúp pháp lý và công tác tư pháp khác [5]. Với chức năng quản lý của ngành Tư pháp rất rộng, liên quan đến nhiều mặt, nhiều lĩnh vực trong đời sống - xã hội. Vậy mà hoạt động về đào tạo, bồi dưỡng công chức thanh tra chưa được quan tâm. Hoạt động tập huấn bồi dưỡng kiến thức chuyên ngành mới chú trọng vào mục tiêu “ phủ sóng” . Hơn nữa thời gian dành cho tập huấn kiến thức chuyên ngành rất ít chỉ từ bảy đến mười ngày. Việc tập huấn bồi dưỡng kiến thức chuyên ngành lại không thường xuyên. Do vậy công chức mới vào nghề, công chức chuyển công tác sang ngành Thanh tra Tư pháp hầu như không được bồi dưỡng về nghiệp vụ thanh tra Tư pháp mà đa phần số công chức này chủ yếu tự đọc, nghiên cứu văn bản pháp luật chuyên ngành hoặc và hỏi kinh nghiệm của những công chức đi trước để vận dụng vào công tác thanh tra. Thứ ba, các chương trình bồi dưỡng Nghiệp vụ thanh tra cơ bản đối với công chức các Bộ, ngành học tại Trường Cán bộ thanh tra hiện nay còn nặng lý thuyết và chương trình không chuyên sâu cho từng ngành. Các lớp bồi nghiệp vụ Nghiệp vụ thanh tra cơ bản dành cho các công chức thanh tra các Bộ, ngành học tại trường Cán bộ thanh tra với quỹ thời gian khoá học là 2 tháng, nội dung chương trình được xây dựng gồm các phần kiến thức sau: kiến thức về pháp luật và quản lý nhà nước, một số vấn đề về pháp luật, pháp chế xã hội chủ nghĩa, văn bản quản lý nhà nước, Bộ luật dân sự, luật đất đai, luật doanh nghiệp, luật hình sự, Luật ngân sách nhà nước, luật, Luật Phòng, chống tham nhũng và thực hành, tiết kiệm, Những nguyên lý cơ bản về tài chính kế toán, Hoạch toán kế toán TSCĐ, Thanh tra, kiểm tra tài chính, ngân sách cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp. Trong thời gian hai tháng, công chức của các cơ quan Bộ, ngành được trang bị rất nhiều mảng kiến thức chung chung về các lĩnh vực, không có thời gian thực hành. Với thời gian học hạn hẹp và kiến thức thì mang tính tổng hợp không mang tính chuyên sâu cho từng ngành, nên khi thực thi công việc đa phần các công chức thanh tra Tư pháp còn lúng túng, xử lý tình huống trong công việc chưa tốt. Thứ tư, đội ngũ giảng viên và cơ sở vật chất Trong các chương trình bồi dưỡng kiến thức quản lý hành chính nhà nước, lớp bồi dưỡng Nghiệp vụ thanh tra, lớp tập huấn bồi dưỡng kiến thức chuyên ngành phần lớn các giảng viên giảng bài một chiều theo kiểu thầy đọc - trò chép, chưa có được những phương pháp giảng dạy tích cực phù hợp với đối tượng công chức. Giáo viên được đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức chưa được chú trọng bồi dưỡng phương pháp đào tạo hiện đại, đa phần giáo viên chưa qua các khóa học về sư phạm, về tâm lý – giáo dục học. Tâm lý của nhiều giáo viên ngại phải chuẩn bị, tìm hiểu, tham gia vào việc áp dụng các phương pháp mới. Có thể tâm lý này bắt nguồn từ việc quá thiên về lý thuyết, xa rời những điều thiết thực cho công việc của công chức, nên việc học chỉ được coi là để lấy chứng chỉ cho đủ tiêu chuẩn cần thiết. Trang thiết bị cho các phòng học còn thiếu, ít được trang bị những thiết bị hiện đại. Phòng học chưa đảm bảo chất lượng. Vì vậy, số lượng người học trong một khóa, một lớp học thường rất đông khoảng trên 100 người. Thứ năm, ngành Tư pháp chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng và tính cấp thiết của công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức thanh tra. Chưa có hướng dẫn cụ thể của ngành Tư pháp trong việc xây dựng cơ chế tài chính phục vụ cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức thanh tra. Chính sách, chế độ đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng còn thiếu và chưa được khuyến khích công chức tham gia tốt. Bản thân công chức thanh tra chưa thực sự coi trọng tự đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao nghiệp vụ, đại đa số mới dừng ở mức hoàn chỉnh bằng cấp cho đủ tiêu chuẩn yêu cầu của ngạch công chức thanh tra. Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC THANH TRA NGÀNH TƯ PHÁP THEO YÊU CẦU CỦA NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM 3.1. QUAN ĐIỂM ĐỔI MỚI CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC THANH TRA NGÀNH TƯ PHÁP 3.1.1. Quán triệt, nhận thức sâu sắc quan điểm của Đảng và chủ trương của Nhà nước về công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức thanh tra ngành Tư pháp Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực thực hiện nhiệm vụ, công vụ là con đường hiệu quả nhất, nhanh nhất để đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức. Các nhà nghiên cứu hành chính cho rằng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức là một trong bốn yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng và hiệu quả của bộ máy hành chính nhà nước đó là: Cải cách thể chế; Cải cách tổ chức bộ máy hành chính; Đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ công chức; Cải cách tài chính công. Đây cũng là quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong việc xây dựng nền hành chính trong sạch, hoạt động hiệu quả. Tại Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 – 2010 (ban hành kèm theo Quyết định số 136/2001/QĐ -TTg ngày 17 tháng 9 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ), xác định việc nâng cao chất lượng đội ngũ công chức là một trụ cột quan trọng để cải cách nền hành chính nhà nước. Gần đây, Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khoá X về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước tiếp tục đặt ra yêu cầu: Đổi mới phương thức và nội dung các chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức sát với thực tế, hướng vào các vấn đề thiết thực đặt ra từ quá trình thực thi công vụ, nâng cao kỹ năng hành chính. Thông qua đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ và kỹ năng hành chính bảo đảm tính thống nhất trong hoạt động của cơ quan hành chính, nhất là trong giải quyết các yêu cầu của nhân dân, doanh nghiệp. Thực hiện cơ chế đào tạo tiền công vụ và đào tạo, bồi dưỡng trong công vụ theo định kỳ bắt buộc hàng năm; thực hiện chế độ đào tạo, bồi dưỡng trước khi bổ nhiệm. Để thực hiện có hiệu quả những nhiệm vụ công vụ trên, các cơ quan Nhà nước đang đứng trước những đòi hỏi cần phải đổi mới sâu sắc và toàn diện về tổ chức, về phương thức hoạt động, đặc biệt là công tác xây dựng nguồn nhân lực, trong đó có công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức. Trước tình hình đó, công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực ở Việt Nam đang được chuyển đổi từ mô hình đào tạo cứng nhắc, mang nặng tính áp đặt sang đào tạo, bồi dưỡng theo yêu cầu của vị trí công việc và theo nhu cầu của đối tượng. Đối với ngành Thanh tra nói chung và Thanh tra Tư pháp nói riêng, Hội nhập quốc tế, cải cách hành chính, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa cũng đang đặt ra những yêu cầu mới đối với công tác thanh tra. Trong bối cảnh đó, ngành Tư pháp cần thay đổi mạnh mẽ hoạt động đào tạo, bồi dưỡng công chức của mình để từ đó góp phần thực hiện tốt những nhiệm vụ đã được Đảng và Nhà nước giao phó. Những yêu cầu và giải pháp về đào tạo, bồi dưỡng công chức thanh tra ngành Tư pháp được xây dựng trên cơ sở hệ thống các chức năng, nhiệm vụ của ngành Tư pháp và coi đó là một bộ phận trong hệ thống đào tạo, bồi dưỡng công chức theo mục tiêu, yêu cầu của Đảng và Nhà nước nhằm làm đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức thanh tra ngành Tư pháp. Những quan điểm, chỉ đạo, định hướng công tác đào tạo, bồi dưỡng công nói chung và công chức thanh tra nói riêng do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng nêu ra, cần phải quán triệt là: - Đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp dạy và học. - Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng. - Tăng cường đào tạo tập trung, đồng thời mở nhiều hình thức đào tạo, bồi dưỡng khác. - Đào tạo bồi dưỡng toàn diện: chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; kiến thức quản lý Nhà nước; kỹ năng thực hành công vụ; đạo đức và trách nhiệm công vụ trình độ tin học, ngoại ngữ. - Tăng cường đào tạo cán bộ nữ, cán bộ nguồn, cán bộ trẻ - Đào tạo theo quy hoạch. 3.2. CÁC GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC THANH TRA NGÀNH TƯ PHÁP Vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền đang đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ thanh tra. Trước những yêu cầu đó đòi hỏi ngành Tư pháp cần phải đổi mới một cách tổng thể công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực của mình. Để thực hiện nghiêm túc các quy định về đào tạo, bồi dưỡng công chức của Đảng và Nhà nước đã đề ra, khắc phục những tồn tại, hạn chế trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ thanh tra hiện nay và những năm tiếp theo thì phải được xây dựng trên cơ sở những định hướng chung, có tính chất dài hạn. Trong gần 10 năm qua, Việt Nam đã đẩy mạnh việc đào tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn cho công chức các ngạch từ chuyên viên và tương đương trở lên. Cụ thể là chuyển mục tiêu từ đào tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn sang đào tạo theo năng lực, đào tạo theo chức danh. Đáp ứng yêu cầu này, trước hết ngành Tư pháp phải đào tạo, bồi dưỡng trang bị và nâng cao năng lực chuyên môn trong lĩnh vực hoạt động của Ngành cho đội ngũ công chức. 3.2.1. Xây dựng, hoàn thiện hệ thống thể chế Để đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức thanh tra nhằm thực hiện nghiêm túc các quy định về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức, khắc phục những tồn tại, hạn chế hiện nay và đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền, ngành Tư pháp cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau: Thể chế là hành lang pháp lý, là cơ sở để tổ chức và thực hiện hoạt động đào tạo, bồi dưỡng công chức. Xây dựng thể chế về công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức trước hết phải căn cứ vào thẩm quyền quản lý công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ thanh tra, trên cơ sở sự phân cấp của Chính phủ trong công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức nói chung. Thể chế của ngành Tư pháp về công tác đào tạo, bồi dưỡng nói chung và đào tạo đội ngũ công chức Thanh tra Tư pháp nói riêng phải được xây dựng thống nhất với tổ chức và hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị trong Ngành. Trong những năm tới, ngành Tư pháp cần tổ chức xây dựng và ban hành các văn bản sau: 3.2.1.1. Quy chế đào tạo, bồi dưỡng công chức ngành Tư pháp trong đó có đội ngũ công chức Thanh tra Quy chế đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ngành Tư pháp sẽ là văn bản điều chỉnh toàn bộ công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức trong toàn ngành. Trong quy chế đó phân định rõ vai trò, nhiệm vụ của Vụ Tổ chức cán bộ trong quản lý nhà nước về công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên ngành; quy định những vấn đề chung về mục tiêu, chương trình, nội dung, đội ngũ giảng viên, phân cấp, tổ chức đào tạo, bồi dưỡng và chế độ thanh tra, kiểm tra công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức của ngành.v.v. 3.2.1.2. Thanh tra Bộ Tư pháp chủ trì phối hợp với các Sở Tư pháp rà soát quy hoạch cán bộ, công chức thanh tra trong ngành Tư pháp, xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức thanh tra Tư pháp Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức trước hết phải rà soát lại toàn bộ đội ngũ công chức thanh tra của toàn ngành Tư pháp, nắm vững quá trình đào tạo, trình độ thực tiễn của họ. Trên cơ sở đó phải xây dựng được Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ công chức. Kế hoạch đào tạo này đương nhiên phải dựa trên quy hoạch cán bộ của ngành Tư pháp. Xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng công chức của ngành dài hạn, trung hạn và ngắn hạn phải bảo đảm chất lượng và tính khả thi Kế hoạch. Việc xây dựng các kế hoạch cần phải bám sát nhu cầu của đội ngũ cán bộ thanh tra dựa trên những kết quả khảo sát thực tế. Ngoài ra, các kế hoạch cần xác định rõ mục tiêu, đối tượng ưu tiên cho từng giai đoạn. Khi các kế hoạch đã được Lãnh đạo Thanh tra duyệt, cần tổ chức thực hiện nghiêm chỉnh để đạt được các mục tiêu đặt ra. 3.2.1.3. Các chế độ khuyến khích, hỗ trợ công chức Đó là các chế độ khuyến khích, hỗ trợ công chức tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng như hỗ trợ học, khen thưởng, khuyến khích những công chức học bằng Đại học chuyên ngành như đại học tài chính - kế toán, Đại học xây dựng, Đại học kinh tế quốc dân phục vụ công tác thanh tra ngành Tư pháp. Có chế độ đãi ngộ thoả đáng đối với công chức trong ngành đã học Thạc sỹ, tiến sĩ chuyên ngành. Hiện nay trong các cơ quan nhà nước có hiện tượng công chức đã thi trúng tuyển qua các kỳ thi tuyển công chức nhưng không được bố trí các vị trí làm việc đúng chuyên môn mà phải làm các công việc như văn thư, lưu trữ hồ sơ...Qua thực tế này Lãnh đạo ngành Tư pháp nên quan tâm để tránh tình trạng lãng phí chất xám. 3.2.2. Tăng cường biên chế và bổ nhiệm thanh tra viên cho các Sở Tư pháp Theo quy định của pháp luật hiện hành, Sở Tư pháp là cơ quan chuyên chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức và biên chế và công tác của Uỷ ban nhân dân tỉnh, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ của Bộ Tư pháp, thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật, phổ biến giáo dục pháp luật, thi hành án dân sự, công chứng, chứng thực, hộ tịch, quốc tịch, con nuôi có yếu tố nước ngoài, lý lịch tư pháp, luật sư, tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý, giám định tư pháp, hoà giải ở cơ sở, bán đấu giá tài sản, trọng tài thương mại và công tác tư pháp khác theo quy định của pháp luật; thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn trong lĩnh vực công tác Tư pháp theo sự ủy quyền của Uỷ ban nhân dân tỉnh. Với chức năng, nhiệm vụ như vậy nhưng việc thanh Thanh tra Sở hầu hết hoạt động chủ yếu là công tác tiếp dân, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân. Một vài Thanh tra Sở có tổ chức được cuộc thanh tra nhưng rất lẻ tẻ, thiếu thống nhất, nơi thì thanh tra thi hành án, nơi thì thanh tra về công chứng, nơi thì thanh tra về tài chính...Việc thanh tra các Sở Tư pháp không tổ chức được các cuộc thanh tra theo Kế hoạch vì hiện nay các Sở Tư pháp có nơi chưa bổ nhiệm lãnh đạo thanh tra, phần lớn các Sở Tư pháp thiếu đội ngũ thanh tra viên nên việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Tư pháp không được thực hiện. Chính vì vậy công tác quản lý nhà nước các Sơ Tư pháp nhiều nơi chưa đi vào nề nếp, chưa đem lại hiệu quả cao trong hoạt động của ngành. Do vậy Giám đốc các Sở Tư pháp phải chủ động phối hợp với Giám đốc Sở Nội vụ trình Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định biên chế và có đề xuất với Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương bổ nhiệm các ngạch thanh tra viên của các Sở Tư pháp. Tuy nhiên khi có biên chế của Sở thì hơn ai hết Lãnh đạo Sở Tư pháp phải quan tâm tới công tác thanh tra, điều động biên chế về tổ chức thanh tra để tổ chức này hoạt động theo đúng chức năng mà pháp luật đã đề ra nhằm góp phần nâng cao hoạt động công tác thanh tra của ngành Tư pháp. 3.2.3. Ngành Tư pháp cần xác định mục tiêu của hoạt động đào tạo, bồi dưỡng Hiện nay trên thực tế công chức thanh tra Tư pháp kiến thức về lý luận chính trị, tin học, ngoại ngữ còn hạn chế. Hơn nữa ngành Tư pháp chưa xác định rõ mục tiêu cụ thể của hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ thanh tra. Do vậy ngành cần xác định các mục tiêu đó là: + Đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị, cập nhật đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ thanh tra có lập trường chính trị vững vàng, thái độ chính trị đúng đắn. + Đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về hành chính nhà nước nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ thanh tra vững mạnh, tăng cường khả năng thích ứng trước yêu cầu của tình hình mới. + Đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về quản lý nhà nước trong nền kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội chủ nghĩa, theo yêu cầu Nhà nước pháp quyền nhằm trang bị những kiến thức, kỹ năng cơ bản về nền kinh tế thị trường và vai trò của Nhà nước trong cơ chế mới. + Đào tạo, bồi dưỡng về kiến thức quản lý các lĩnh vực chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng nghề nghiệp để xây dựng đội ngũ chuyên gia giỏi, có năng lực xây dựng hoạch định chính sách, chiến lược và tổ chức thực hiện các chính sách, quản lý các chương trình dự án của ngành Thanh tra Tư pháp có hiệu quả, đáp ứng được các mục tiêu phát triển. + Đào tạo, bồi dưỡng ngoại ngữ cho cán bộ thanh tra để tăng cường giao dịch, nghiên cứu tài liệu nước ngoài trong các lĩnh vực: Con nuôi quốc tế, Hợp tác quốc tế. Thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng. + Trang bị những kiến thức cơ bản về tin học, sử dụng công cụ tin học nhằm từng bước hiện đại hoá ngành Thanh tra Tư pháp. 3.2.4. Đổi mới phương pháp, chương trình, thời gian đào tạo, bồi dưỡng kiến thức chuyên ngành Tư pháp đối với công chức thanh tra Tư pháp a) Thay đổi phương pháp đào tạo, bồi dưỡng Trong các nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo, bồi dưỡng, ngoài tinh thần, thái độ học tập của công chức, thì phương pháp giảng dạy được đánh giá là khâu mấu chốt, có tác động mạnh đến chất lượng đào tạo bồi dưỡng. Phương pháp giảng dạy là vấn đề rất khó và phức tạp, đòi hỏi có một đội ngũ cán bộ giảng dạy có năng lực trình độ cao; có phương pháp sư phạm tốt; trình độ lý luận, nghiệp vụ về công tác thanh tra sâu rộng, có hiểu biết thực tiễn về hoạt động thanh tra kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng; về tiếp công dân, xử lý đơn thư và giải quyết khiếu nại, tố cáo... Đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ thanh tra, bên cạnh phương pháp truyền thống: “thày đọc – trò ghi”, cần áp dụng các phương pháp giảng dạy hiện đại, kết hợp với việc rèn luyện khả năng lực học, tự nghiên cứu của cán bộ thanh tra. Để đổi mới phương pháp giảng dạy, cần chú ý đến những nội dung sau: Thứ nhất, xác định tự học là phẩm chất tối cần thiết của cán bộ thanh tra, nhất là trong điều kiện xã hội thông tin ngày càng rộng mở. Để khuyến khích tinh thần tự học của công chức, phương pháp giảng dạy cũng cần thay đổi cho phù hợp. Thay bằng việc đưa ra những nhận định mang nặng tính lý luận- dù chính thống, thì giảng viên đòi hỏi ở học viên tinh thần tự học, tự tìm câu trả lời cho chính mình, khơi dậy ở họ lòng ham hiểu biết, lòng say mê học tập, phương pháp học thích hợp, khuyến khích nỗ lực tự học, tự nghiên cứu thông qua các hoạt động nghiên cứu khoa học dưới nhiều hình thức: viết bài thu hoạch, làm tiểu luận, đề án, viết bài cho các tạp chí khoa học chuyên ngành.... Vì vậy, giảng viên cần tiếp tục đổi mới cách dạy, phát triển các hình thức dạy-học tích cực, chuyển hướng trọng tâm sang người hướng dẫn, gợi mở, khuyến khích học viên học tập, sáng tạo. Trong học tập, bồi dưỡng, từng cán bộ thanh tra phải đặt mục tiêu và thái độ học tập của mình lên hàng đầu, vì cá nhân luôn gặp những cản trở khách quan (môi trường, tiềm lực, thời gian…) và chủ quan (sự sợ hãi, tức giận, thói quen an phận, để quá khứ chi phối). Thứ hai, học viên cần được rèn luyện làm việc theo nhóm, nhằm giúp học viên làm quen với tinh thần hợp tác, chia sẻ kinh nghiệm, tri thức và tổng hợp tri thức của nhiều người, đồng thời biết thỏa hiệp và dàn xếp với nhau để đạt tới mục đích chung. Đây là phương pháp rất cần thiết đối với việc đào tạo, bồi dưỡng công chức làm công tác thanh tra. Ngoài ra, làm việc theo nhóm còn giúp công chức trẻ phát triển kỹ năng lãnh đạo, và có lối sống vì cộng đồng và phù hợp với các chương trình đào tạo, bồi dưỡng theo chức danh. Trong quá trình giảng dạy nên phân lớp thành những nhóm nhỏ, học viên tự lựa chọn lãnh đạo nhóm. Thường xuyên thay đổi lãnh đạo nhóm, tạo điều kiện cho mỗi người đều có cơ hội làm lãnh đạo. Các nhóm tiến hành thảo luận theo chủ đề giảng viên đưa ra dưới sự điều hành của trưởng nhóm. Đại diện cho nhóm báo cáo kết quả, thảo luận với giảng viên và các nhóm khác. Học tập theo nhóm đã và đang áp dụng rộng rãi ở các nước có nền giáo dục tiên tiến. Nó không những nâng cao chất lượng đào tạo mà còn giúp hình thành tính cách (sống chung với cộng đồng) không thể thiếu đối với mỗi người nói chung. Thứ ba, sử dụng các phương pháp mới và phương tiện hỗ trợ giảng dạy. Việc áp dụng hoàn toàn các phương pháp sư phạm hiện đại như: lớp học với số lượng học viên ít; sử dụng phương tiện hiện đại: đèn chiếu, Powerpoint; bằng các phương pháp hiện đại: đóng vai, giải quyết tình huống, hỏi đáp, thuyết trình là rất cần thiết đáp ứng yêu cầu đổi mới về phương pháp giảng dạy. Để áp dụng có chọn lọc phương pháp sư phạm hiện đại trong điều kiện và tính đặc thù của ngành Thanh tra, có thể sử dụng theo mô hình đào tạo sau: Lớp học có thể mở với số lượng trong khoảng từ 45 đến 50 người, có cùng một nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng về một hoặc một vài chủ đề liên quan, để mở lớp như thế tất nhiên chi phí cho hoạt động này phải tăng gấp đôi (trước đây khoảng 100 người). Thời lượng, nội dung bồi dưỡng phải phù hợp với chương trình được ban hành. b) Đổi mới chương trình Việc xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng kiến chuyên sâu của ngành cần chú ý các nội dung sau: Thứ nhất, thống nhất tên gọi của các chương trình bồi dưỡng trên cơ sở phân loại theo tên gọi của các ngạch: Thanh tra viên, Thanh tra viên chính, Thanh tra viên cao cấp, Trưởng đoàn Thanh tra... hoặc theo lĩnh vực: thanh tra hành chính, thanh tra chuyên ngành; khiếu nại, tố cáo; phòng, chống tham nhũng. Thứ hai, xác định khung chương trình và nội dung đào tạo đảm bảo tính khoa học và hiệu quả. Những vấn đề cụ thể, thiết thực cần được đề cập sâu hơn, tập trung hơn vào những vấn đề nghiệp vụ. Cần xác định lại khung chương trình, cần biên tập lại, xây dựng giáo trình, tài liệu chuẩn dựa trên cơ sở quy trình chuẩn về nghiệp vụ . Các chương trình bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng phải được tổ chức thường xuyên hơn, thời gian kéo dài hơn để đảm bảo trong giờ học công chức có thời gian tham gia các cuộc hội thảo, trao đổi, tranh luận, hỏi đáp về nghiệp vụ chuyên môn. Tăng cường Chương trình đào tạo, bồi dưỡng tiền công vụ và tổ chức bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng chuyên ngành cho các đối tượng thuộc quyền quản lý, công chức chuyên môn trong ngành. Chương trình, trang bị kiến thức, nghiệp vụ quản lý chuyên ngành cần được đổi mới trên nguyên tắc: dựa trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và đặc điểm, tính chất họat động của các tổ chức Thanh tra chuyên ngành đó; căn cứ yêu cầu tiêu chuẩn chức danh Thanh tra viên và yêu cầu tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ đối với cán bộ, Thanh tra viên; phù hợp với trình độ đội ngũ cán bộ thanh tra hiện nay. 3.2.5. Xây dựng đội ngũ giảng viên có chất lượng cao, chuyên nghiệp Xây dựng đội ngũ giảng viên đủ về số lượng và nâng cao chất lượng theo hướng phát triển đội ngũ giảng viên cơ hữu và giảng viên kiêm chức phù hợp với từng giai đoạn và yêu cầu phát triển của Ngành. Trong đó, về lâu dài cần tập trung vào việc xây dựng và kiện toàn đội ngũ giảng viên kiêm chức, coi đó là khâu đột phá. Xây dựng đội ngũ giảng viên kiêm chức thông qua việc xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách thu hút những người có kinh nghiệm và kiến thức thực tiễn, đặc biệt là cán bộ làm công tác thanh tra Tư pháp lâu năm, các chuyên gia trên những lĩnh vực có liên quan đến công tác thanh tra, chuyên ngành về lĩnh vực thanh tra Tư pháp (bao gồm cả những cán bộ, chuyên gia có nhiều kinh nghiệm nhưng đã nghỉ hưu); tổ chức đào tạo trang bị kiến thức và phương pháp sư phạm cho đội ngũ cán bộ này. Tổ chức đào tạo, trang bị kinh nghiệm và kiến thức thực tiễn cho đội ngũ giảng viên cơ hữu thông qua việc điều động, biệt phái về công tác tại cơ sở; tổ chức các khoá thảo luận, trao đổi thông tin; tổ chức đào tạo, bồi dưỡng trang bị kiến thức và kỹ năng sư phạm. 3.2.6. Tăng cường công tác nghiên cứu khoa học; tổng kết thực tiễn Để nâng cao chất lượng thực thi nhiệm vụ công vụ của công chức thanh tra, ngành Tư pháp cần thường xuyên được cập nhật những vấn đề liên quan đến hoạt động của Ngành. Do đó, công tác nghiên cứu khoa học và tổng kết thực tiễn phải được nâng cao và được coi như một trong những cơ sở để xây dựng nội dung đào tạo, bồi dưỡng cán bộ thanh tra; đảm bảo sự phối, kết hợp chặt chẽ giữa Trường cán bộ Thanh tra trong việc xác định khung nội dung các chương trình đào tạo, bồi dưỡng. 3.2.7. Thực hiện liên kết, hợp tác trong đào tạo, bồi dưỡng công chức thanh tra Việc liên kết trong hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ thanh tra cần thực hiện theo 2 hướng: Thứ nhất, tăng cường liên kết và tranh thủ sự hỗ trợ của các cơ quan nghiên cứu, các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng công chức trong nước. Ngành Tư pháp cần tăng cường liên kết và tranh thủ sự hỗ trợ của các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng công chức trong nước bằng cách thống nhất cơ chế phối hợp với Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh để tổ chức các khoá đào tạo, bồi dưỡng trang bị kiến thức lý luận chính trị, quản lý nhà nước theo tiêu chuẩn và đào tạo theo tiêu chuẩn các chức danh lãnh đạo các cấp cho công chức thanh tra Tư pháp; liên kết với các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng khác để cử cán bộ, công chức đi học các khoá đào tạo, bồi dưỡng trang bị kiến thức lý luận chính trị, quản lý nhà nước và những kiến thức bổ trợ theo tiêu chuẩn. Việc trang bị những kiến thức, nghiệp vụ thanh tra chuyên ngành cũng cần có sự liên kết, phối hợp giữa Trường Cán bộ Thanh tra với các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng công chức của các bộ, ngành. Thứ hai, đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong hoạt động đào tạo, bồi dưỡng. Hợp tác quốc tế trong hoạt động đào tạo, bồi dưỡng phải đảm bảo yêu cầu về chiều rộng và chiều sâu trên cơ sở xác định rõ thế mạnh của mỗi nước trong từng lĩnh vực; qua đó xây dựng những kế hoạch hợp tác mang tính chiến lược trung và dài hạn. Liên kết với các cơ quan, cơ sở đào tạo, bồi dưỡng có kinh nghiệm ở nước ngoài là nội dung rất cần thiết, bởi vì, trên thực tế, ngành Tư pháp còn thiếu kinh nghiệm trong việc tổ chức đào tạo trong công vụ về lĩnh vực Thanh tra, từ việc xác định nội dung cho đến phương pháp tổ chức, giảng dạy .v.v. Tăng cường và đa dạng hoá, đa phương hoá hoạt động hợp tác quốc tế trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ngành Tư pháp, đặc biệt trong việc nghiên cứu xây dựng nội dung chương trình và tổ chức các khoá đào tạo, khảo sát kinh nghiệm ở ngoài nước giúp cho ngành Tư pháp có thể lựa chọn một số cán bộ có kinh nghiệm thực tiễn để cử đi học nâng cao ở nước ngoài và phát triển là rất cần thiết đáp ứng yêu cầu đổi mới về phương pháp giảng dạy. 3.2.8. Tiếp tục đổi mới công tác giáo dục đạo đức cho đội ngũ công chức thanh tra, nâng cao tinh thần trách nhiệm và phẩm chất đạo đức công chức thanh tra Tư pháp nhằm ngăn chặn có hiệu quả nạn quan liêu, tham nhũng, lãng phí xây dựng đội ngũ thanh tra trong sạch, vững mạnh Xuất phát của việc nhận thức thanh tra là một công cụ thiết yếu của quyền lực nhà nước, hoạt động thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo luôn được trú trọng trong quá trình cải cách hành chính nhà nước nói riêng, trong cải cách Tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước nói chung, ngày 17/9/2001, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 136/2001-TTg kèm theo chương trình công tác cải cách hành chính giai đoạn 2001-2010 xác định rõ mục tiêu của cải cách là xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại, hoạt động có hiệu quả theo nguyên tắc nhà nước pháp quyền XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ công chức có phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng phát triển đất nước. Thanh tra phải khẳng định là một mắt xích quan trọng trong quá trình thực hiện hoá các mục tiêu về đổi mới trên. Tầm quan trọng này đòi hỏi ngành Tư pháp phải xây dựng một đội ngũ công chức thanh tra tinh thông về nghiệp vụ. Cán bộ thanh tra có phẩm chất đạo đức, tác phong, gương mẫu trong công việc cũng như trong lối sống. Người đảng viên, người cán bộ muốn trở thành người cách mạng chân chính phải có 5 điều: Nhân , nghĩa, trí, dũng, liêm [7]. Chính vì vậy, cán bộ làm công tác thanh tra cần phải phấn đấu rèn luyện về đạo đức cách mạng, về phẩm chất đạo đức, chuyên môn nghiệp vụ, có bản lĩnh vững vàng thể hiện ở những điểm dưới đây: Thứ nhất, trước hết phải rèn luyện đạo đức cách mạng Rèn luyện đạo đức cách mạng, có nghĩa là người công chức phải ra sức học tập, tu dưỡng, tự cải tạo mình để tiến bộ. Vì lợi ích chung của Đảng, của nhân dân mà không ngần ngại hy sinh lợi ích riêng của cá nhân mình. Khi tổ quốc cần người cán bộ, công chức dám hy sinh cả tính mạng mình cho sự nghiệp của Đảng, của dân tộc, đó là biểu hiện của đạo đức cách mạng. Có đạo đức Cách mạng thì khi gặp khó khăn không nản chí, lùi bước, khi thành công không kiêu ngạo, mà là khiêm tốn. Đạo đức cách mạng được thể hiện ở một số điểm sau: + Quyết tâm suốt đời đấu tranh giành thắng lợi cho Đảng, cho Cách mạng, đây là điều chủ chốt nhất; + Ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng; + Đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lên trên lợi ích của bản thân mình. Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc; + Ra sức học tập chủ nghĩa Mác-Lê nin, luôn luôn tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác của mình và cùng đồng chí mình tiến bộ. + Tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân. Đạo đức Cách mạng đó là những chuẩn mực ứng xử trong quan hệ của con người, nó là thước đo giá trị cần có của mỗi con người. Thứ hai, rèn luyện, tu dưỡng về phẩm chất đạo đức: Người cán bộ làm công tác thanh tra phải thường xuyên rèn luyện những đức tính cần thiết như Nghị quyết Trung ương khoá VIII nêu rõ 5 đức tính của con người Việt nam trong giai đoạn Cách mạng hiện nay + Có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có ý trí vươn lên đưa đất nứơc thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, đoàn kết với nhân dân… + Có ý thức tập thể, đoàn kết, phấn đấu vì lợi ích chung + Có lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh, cần kiệm, trung thực, nhân nghĩa, tôn trọng kỷ cương phép nước, quy ước của công đồng; có ý thức bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái + Lao động chăm chỉ với lương tâm nghề nghiệp, có kỹ thuật, sáng tạo năng suất cao vì lợi ích của bản thân, gia đình, tập thể và xã hội + Thường xuyên học tập, nâng cao hiểu biết trình độ chuyên môn, trình độ thẩm mỹ và thể lực Thứ ba, rèn luyện về đạo đức nghề nghiệp thanh tra Đạo đức nghề nghiệp của cán bộ, công chức làm công tác thanh tra được hình thành trên cơ sở hoạt động nghề nghiệp chuyên ngành thanh tra. Do đó, đạo đức của công chức thanh tra ngoài các đặc điểm của đạo đức cách mạng, có phẩm chất đạo đức của con người còn được tạo nên bởi bản lĩnh nghề nghiệp, tính trung thực, tinh thần trách nhiệm và hoạt động dựa trên nền tảng của pháp luật. Ngoài ra đạo đức nghề nghiệp còn được đặt ra là có lương tâm nghề nghiệp và tính nhân đạo. Hiện nay, ở nước ta nhiều cơ quan nhà nước đều ban hành Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức của từng ngành nghề (như Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức Hải quan; Quy tắc ứng xử của công chức, viên chức thuộc Tổng cục đo lường Chất lượng trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ; Quy tắc đạo đức nghề nghiệp Luật sư; Quy tắc đạo đức Thẩm phán, Quy tắc đạo đức Chấp hành viên…) và đặc biệt vừa qua Tổng Thanh tra Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1860/QĐ-TTCP-TCCB ngày 06/9/2007 ban hành Quy tắc ứng xử của cán bộ thanh tra, theo đó quy định việc ứng xử trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ; ứng xử trong thực hiện nhiệm vụ thanh tra; ứng xử trong tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo; ứng xử trong thực hiện nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng; ứng xử với đồng nghiệp, với cán bộ lãnh đạo, trong việc ứng xử với nhân dân nơi cư trú và ứng xử trong gia đình…vv Chuẩn mực đạo đức của công chức làm công tác thanh tra được xác định là tiêu chuẩn chung của thanh tra viên và các quy tắc ứng xử của người cán bộ thanh tra được đánh giá về phẩm chất chính trị là phải tuyệt đối trung thành với tổ quốc và Hiến pháp; về phẩm chất đạo đức tốt, có ý thức trách nhiệm, liêm khiết, trung thực, công minh, khách quan. Trong hoạt động thanh tra phải thực hiện đúng quy định của pháp luật, thận trọng, khách quan, toàn diện. Khi thanh tra không được lợi dụng là cán bộ thanh tra để sách nhiễu, gây khó khăn, phiền hà cho đối tượng thanh tra để nhận tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác, có như vậy thì khi thanh tra mới phát hiện ra những bất cập, thiếu sót hoặc những vi phạm của tổ chức, cá nhân để tham mưu cho cấp có thẩm quyền xem xét xử lý. Trong công tác tiếp công dân đến khiếu nại, tố cáo hoặc được giao thanh tra xác minh, kết luận, kiến nghị giải quyết khiếu nại, tố cáo. Khi tiếp công dân cán bộ tiếp công dân phải chấp hành đúng quy định của Quy chế tiếp công dân, có thái độ hoà nhã, không gây phiền hà, sách nhiễu hoặc cản trở, trì hoãn việc khiếu nại, tố cáo, phản ánh của dân. Không được tiết lộ những thông tin, tài liệu, bút tích của người tố cáo. Cán bộ làm công tác thanh tra, phải thường xuyên tu dưỡng rèn luyện đạo đức, tác phong, phải cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư. Muốn được như vậy, công chức thanh tra trước hết phải tự phê bình và phê bình để giúp cán bộ thanh tra cũng như đồng nghiệp tiến bộ. Ngày nay, đất nước ta ngày càng phát triển, ổn định. Với nền kinh tế thị trường, tự do cạnh tranh nhưng đi đôi với nó là những tiêu cực phát sinh. Đó là những cám dỗ của lợi ích vật chất, nó giống như những viên đạn bọc đường tấn công vào đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước và đã làm gục ngã nhiều người. Đó là sự suy thoái đạo đức xã hội nói chung và đạo đức của người cán bộ, công chức nhà nước nói riêng. Mặt khác thanh tra luôn phải tiếp xúc với những mặt trái xã hội, những biểu hiện tiêu cực, do đó công chức thanh tra vừa là tai mắt của trên, vừa là người bạn của dưới, giúp cấp trên nắm được tình hình, giúp cấp dưới sửa chữa, uốn nắn những sai lầm, lệch lạch và quan trọng nhất là phải tự mình nghiêm chỉnh rèn luyện, phải có đạo đức cách mạng, tự mình tu dưỡng đức. Hiện nay, cùng với sự phát triển đi lên của đất nước, quan hệ xã hội và quan hệ pháp luật trở nên đa dạng và phong phú hơn nhưng trong đó cũng tiềm ẩn những khó khăn và hành vi tham nhũng cũng phát triển ở mức độ tinh vi hơn, đòi hỏi cán bộ thanh tra phải thông minh, tài trí, không ngừng nâng cao năng lực, phẩm chất chính trị để hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ. Để trở thành một tấm gương sáng về đạo đức cách mạng thì công chức thanh tra phải luôn rèn luyện, tu dưỡng và có ý thức tự phê bình, không ngừng cập nhật, thấm thía các chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, nắm bắt kịp thời những đổi thay của tình hình kinh tế - xã hội của đất nước để theo kịp yêu cầu của quản lý nhà nước và thích ứng với sự phát triển các quan hệ xã hội. KẾT LUẬN Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, thực hiện cải cách hành chính, xây dựng Nhà nước pháp quyền và hội nhập quốc tế, việc đào tạo, bồi dưỡng xây dựng đội ngũ công chức có đủ trình độ năng lực và phẩm chất đạo đức đã trở thành một đòi hỏi thực tiễn cấp bách đối với Việt Nam nói chung và ngành Tư pháp nói riêng. Trong những năm gần đây Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức, như Quyết định số 161/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức, Quyết định số 137/2003/QĐ-TTg Phê duyệt Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho công tác hội nhập kinh tế quốc tế giai đoạn 2003 – 2010, Quyết định số 40/2006/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng công chức giai đoạn 2006 – 2010 .v.v. Trong các văn bản đó một đòi hỏi xuyên suốt được đặt ra là phải đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức. Sự chỉ đạo của Chính phủ dần từng bước làm thay đổi công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức của cả nước theo hướng tốt hơn. Tuy nhiên, do những mục tiêu mà Chính phủ đặt ra mới chỉ được đề cập ở cấp ra chính sách, quản lý vĩ mô nên để tạo ra những thay đổi căn bản, cần có sự tổ chức thực hiện nghiêm túc và sáng tạo của các bộ, ngành địa phương. Nói cách khác, từ sự chỉ đạo chung của Chính phủ, các Bộ, Ban ngành và địa phương phải có những sự đổi mới về nhận thức và cách thức tổ chức thực hiện phù hợp với đặc thù của mình trong công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức thì mới có thể xây dựng đội ngũ công chức có chất lượng. Phát triển kinh tế thị trường, cải cách hành chính, xây dựng Nhà nước pháp quyền và hội nhập quốc tế là những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước và đang được thực hiện từ nhiều năm nay. Những chủ trương đó cùng đan xen lẫn nhau và tác động mạnh mẽ đến nhiều mặt của đời sống xã hội và đặt ra những đòi hỏi cấp thiết đối với hoạt động công vụ. Trước những yêu cầu đó đặt ra đòi hỏi trực tiếp đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức của Việt Nam nói chung và đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ thanh tra Tư pháp nói riêng. Nhiều nội dung, yêu cầu của các chủ trương lớn trên đã và đang được Đảng và Nhà nước đáp ứng bằng việc hoàn thiện thể chế và chỉ đạo tổ chức thực hiện. Vì vậy, việc đổi mới tư duy và tổ chức thực hiện công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức thanh tra phải hướng đến mục tiêu đáp ứng các yêu cầu chung của kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, cải cách hành chính và những chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng công chức . Tuy nhiên với những cơ hội thách thức trên cũng mở ra nhiều cơ hội đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức, đó là những thuận lợi trong việc tham khảo và học tập những phương pháp quản lý mới, cách thức tổ chức công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức hiệu quả, phương pháp xây dựng chương trình, giáo trình, tài liệu và phương pháp giảng dạy hiện đại, tiên tiến. Ngoài ra, thực hiện những chủ trương lớn trên đây, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được kết quả tăng trưởng nhanh trong nhiều năm liền, ngân sách đầu tư cho công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức được cải thiện. Đây là những điều kiện rất thuận lợi cho việc xây dựng trường, lớp, đa dạng hoá các loại hình đào tạo, xây dựng đội ngũ giảng viên có chất lượng cao, tạo điều kiện thuận lợi cho đội ngũ công chức học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức bao gồm nhiều nội dung, vì vậy, việc nghiên cứu để đưa ra các nhận xét, đánh giá và giải pháp đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức phải được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau. Đứng trước các yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền và hội nhập quốc tế của kinh tế thị trường, công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức thanh tra ngành Tư pháp phải được đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Ngành, gắn liền với công tác cán bộ và phù hợp với trình độ, nhu cầu của đội ngũ công chức thanh tra ngành Tư pháp. Đội ngũ công chức thanh tra Tư pháp là nguồn nhân lực phục vụ cho hoạt động quản lý nhà nước của Ngành, góp phần phục vụ cho hoạt động của bộ máy Nhà nước nói chung. Điều đó đòi hỏi mỗi công chức thanh tra phải có phẩm chất chính trị, tinh thông nghiệp vụ, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, có tác phong làm việc chuyên nghiệp, hiện đại. Muốn xây dựng một đội ngũ công chức thanh tra như vậy thì công tác đào tạo, bồi dưỡng, nhất là bồi dưỡng trình độ nghiệp vụ, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp cần phải được tổ chức thực hiện một cách căn bản. Đó là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài, đòi hỏi ngành Tư pháp phải quan tâm một cách đặc biệt. Từ những kết qủa nghiên cứu về chất lượng đội ngũ công chức, thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức thanh tra ngành Tư pháp và kinh nghiệm của một số bộ, ngành cho thấy trong thời gian tới ngành Tư pháp phải xây dựng và thực hiện các giải pháp đồng bộ trong đào tạo, bồi dưỡng công chức thanh tra để đạt được các mục tiêu cụ thể sau: - Đào tạo, bồi dưỡng xây dựng đội ngũ công chức Thanh tra ngành Tư pháp giỏi về kỹ năng nghiệp vụ và thực hiện đào tạo theo yêu cầu chức danh cho cán bộ lãnh đạo, quản lý của Ngành. Sớm trang bị kiến thức, kỹ năng về nghiệp vụ thanh tra theo quy định cho công chức thanh tra ngành Tư pháp và tổ chức đào tạo, tăng cường bồi dưỡng tiền công vụ cho tất cả công chức dự bị mới được tuyển dụng vào Ngành; tổ chức bồi dưỡng cập nhật kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ định kỳ hàng năm theo nhu cầu và vị trí công việc; - Tiến hành đào tạo, bồi dưỡng nâng cao nhận thức lý luận chính trị cho đội ngũ công chức làm công tác thanh tra ngành Tư pháp để trang bị trình độ lý luận chính trị theo quy định; - Tăng cường hoạt động đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về quản lý nhà nước cho công chức làm công tác thanh tra theo tiêu chuẩn ngạch. - Tổ chức đào tạo trang bị trình độ tin học cho công chức thanh tra ngành Tư pháp có khả năng ứng dụng vào hoạt động công vụ; tổ chức đào tạo ngoại ngữ phù hợp với vị trí công tác của công chức của ngành. - Đào tạo, bồi dưỡng hình thành đội ngũ chuyên gia đầu ngành, có đủ trình độ, năng lực nghiên cứu, đề xuất, xây dựng các chính sách, chiến lược của Ngành. Hệ thống các giải pháp được đặt ra nhằm đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức thanh tra để đạt được những mục tiêu trên cần được thực hiện với lộ trình phù hợp, phân theo giai đoạn tương ứng với năng lực tổ chức thực hiện và điều kiện kinh tế - xã hội. Trong hệ thống các giải pháp đó, có những giải pháp chỉ được thực hiện khi đã thực hiện tốt các giải pháp khác trước đó. Điều đó đòi hỏi Lãnh đạo ngành Tư pháp phải xây dựng đề án nhằm đổi mới tổng thể công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức ngành Tư pháp, trong đó xác định rõ lộ trình thực hiện và vai trò, trách nhiệm của các vụ, đơn vị của ngành Tư pháp để nâng cao công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức thanh tra Tư pháp ngày càng hiệu quả tốt hơn. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Ban Bí thư Trung ương Đảng (1984), Chỉ thị số 38/CT-TW ngày 20-2-1984 về việc "tăng cường sự lãnh đạo của Đảng với công tác thanh tra”. 2. Ban Tổ chức Chính phủ (1993), Tài liệu nghiên cứu về chế độ công chức các nước. 3. Nguyễn Mạnh Bình (2001), Đào tạo bồi dưỡng công chức hành chính Nhà nước tại thành phố Hồ Chí Minh theo yêu cầu cải cách nền hành chính ở nước ta hiện nay. 4. Chính phủ (1945), Sắc lệnh số 64/SL ngày 23/11/1945. 5. Chính phủ (2006), Nghị định số 74/2006/NĐ- CP ngày 01/8/2006 về Tổ chức và hoạt động của Thanh tra Tư pháp thì thanh tra viên Thanh tra Tư pháp. 6. Chủ tịch Hồ Chí Minh huấn thị Tại Hội nghị Cán bộ thanh tra toàn miền Bắc tháng 4 năm 1957. 7. Chủ tịch Hồ Chí Minh với xây dựng nhà nước và công tác cán bộ. 8. Bộ Nội vụ (2003), Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng quy chế đào tạo bồi dưỡng công chức hành chính trong giai đoạn hiện nay. 9. Đảng Cộng sản Việt Nam (1986), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 10. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 11. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 12. Đảng Cộng sản Việt Nam (1999), Quy định số 54/QĐ/TW ngày 12/5/1999 về chế độ học tập lý luận chính trị trong Đảng. 13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 15. Tô Tử Hạ (1998), Công chức và vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 16. Hoàn Văn Hảo (1995), “Về Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân”, Tạp chí Cộng sản, (3). 17. Hội đồng Bộ trưởng (1984), Nghị quyết số 26/HĐBT ngày 15/2/1984 về tăng cường tổ chức thanh tra và nâng cao hiệu lực thanh tra. 18. Hội đồng Chính phủ (1970), Nghị quyết 164/HĐCP ngày 31/8/1970 về tăng cường công tác thanh tra và chấn chỉnh hệ thống cơ quan thanh tra Nhà nước. 19. Hội đồng Nhà nước (1980), Sắc lệnh số 33 LCT/HĐNN ngày 1/4/1980. 20. V.I.Lênin (1978), Toàn tập, tập 32, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva. 21. V.I.Lênin (1978), Toàn tập, tập 33, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva. 22. V.I.Lênin (1978), Toàn tập, tập 44, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva. 23. C.Mác- Ph.Ăng ghen (1995), Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 24. Hồ Chí Minh (1974), Bàn về cán bộ, Nxb Sự thật, Hà Nội. 25. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 26. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 27. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 28. Đỗ Mười (1989), Phát hiển tại Hội nghị Thanh tra toàn quốc ngày 26/5/1989. 29. Lê Hữu Nghĩa, Nguyễn Văn Mạnh (2001), 55 năm xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 30. TS. Thang Văn Phúc, TS. Nguyễn Minh Phương (2005), Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng đội ngũ cán bộ công chức, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 31. Đào Duy Quát (2004), Về giáo dục đạo đức cách mạng trong cán bộ đảng viên hiện nay, thực trạng và giải pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 32. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1995), Hiến pháp Việt Nam 1946, 1959, 1980, 1992, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 33. TS.Nguyễn Hữu Thanh (2000), "Đổi mới nâng cao chất lượng đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ công chức", Tạp chí Nghiên cứu lý luận, (9). 34. TS. Trần Hậu Thành (2005), Cơ sở lý luận và thực tiến xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 35. Thủ tướng Chính phủ (1996), Quyết định 874/TTg ngày 20/11/1996 của Thủ tướng Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức. 36. Thủ tướng Chính phủ (2001), Quyết định 74/2001/QĐ-TTg ngày 7/5 về việc phê chuẩn kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, cán bộ công chức giai đoạn 2001-2005. 37. Thủ tướng Chính phủ (2001), Quyết định 136/2001/QĐ-TTg ngày 17/9 phê duyệt chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2001-2010. 38. Thủ tướng Chính phủ (2003), Quyết định 161/2003/QĐ-TTg ngày4/8 về quy chế đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. 39. Thủ tướng Chính phủ (2006), Quyết định số 40/2006/QĐ -TTg ngày 15/02/2006 về việc phê duyệt Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, cán bộ công chức giai đoạn 2006- 2010. 40. Đoàn Trọng Truyến (1997), Hành chính học đại cương, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 41. Từ điển Luật học (1999), Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội. 42. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (1998), Pháp lệnh Cán bộ, công chức, Hà Nội. 43. Viện Ngôn ngữ học (2005), Từ điển Bách khoa toàn thư, từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfLUẬN VĂN- Đào tạo, bồi dưỡng công chức thanh tra ngành Tư pháp theo yêu cầu của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.pdf
Luận văn liên quan