Luận văn Giải pháp phát triển làng nghề trên địa bàn tỉnh Nghệ An

Nhờ những chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà nước, nhất là từ năm 1986, khi nước ta thực hiện sự nghiệp Đổi mới đã tạo ra bước ngoặt quan trọng về phát triển sản xuất nói chung và làng ngh ề nói riêng. Sự phát triển làng nghề đã có những đóng góp to lớn cho công cuộc phát triển kinh tế xây dựng đất nước như: tạo việc làm cho lao động nông thôn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng “ly nông bất ly hương” hạn chế di dân tự do ra thành phố, xây dựng nông thôn mới có đời sống vật chất, văn hoá đầy đủ và phong phú.

pdf93 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Lượt xem: 3591 | Lượt tải: 17download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Giải pháp phát triển làng nghề trên địa bàn tỉnh Nghệ An, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
đôn đốc, kiểm tra, giám sát và đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch, báo cáo định kỳ gửi Tỉnh uỷ, UBND tỉnh, Bộ NN&PTNT. Sở Kế hoạch và Đầu tư: có trách nhiệm xây dựng quy hoạch tổng thể, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm, 5 năm, trong đó bao gồm cả nội dung phát triển làng nghề và cân đối, bố trí nguồn vốn cho các chương trình, kế hoạch hàng năm; phối hợp với các sở, ban ngành có liên quan thực hiện dự án hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, các làng nghề. Sở Tài chính: bố trí ngân sách để triển khai thực hiện các chương trình kế hoạch phát triển làng nghề; hướng dẫn cơ chế tài chính đối với các chính sách, dự án của quy hoạch; xây dựng văn bản hướng dẫn, kiểm tra giám sát chế độ tài chính thực hiện các chương trình, dự án của quy hoạch. Sở Công Thương: đẩy mạnh hoạt động khuyến công, xúc tiến thương mại, xây dựng chương trình xúc tiến thương mại sản phẩm làng nghề, xây dựng chính sách hỗ trợ phát triển cụm công nghiệp nhỏ ở các huyện thị và cơ chế hỗ trợ các cơ sở ngành nghề nông thôn đầu tư sản xuất kinh doanh trong các cụm công nghiệp nhỏ. Sở Tài nguyên - Môi trường: đánh giá tác động môi trường các dự án phát triển làng nghề; đề xuất các chính sách hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi về đất đai, mặt bằng sản xuất cho các cơ sở sản xuất trong các làng nghề bảo đảm phát triển ổn định bền vững. Sở Lao động, Thương binh và Xã hội: hướng dẫn, quản lý, thực hiện nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực và hỗ trợ tạo việc làm cho làng nghề, ngành nghề nông thôn; chỉ đạo, thực hiện các chương trình lồng ghép nhằm phát triển ngành nghề khu vực nông nghiệp nông thôn. Sở Khoa học và Công nghệ: đề xuất các giải pháp khuyến khích chuyển giao công nghệ và ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ mới trong lĩnh vực bảo tồn và phát triển làng nghề; ưu tiên bố trí thực hiện các đề tài, dự án nghiên cứu, cải tiến công nghệ kỹ thuật trong lĩnh vực ngành nghề nông thôn và nghề truyền thống. Sở Văn hoá, Thông tin và Du lịch, các cơ quan Báo chí, Đài Phát thanh truyền hình tỉnh: khảo sát, thu thập tư liệu về nghề truyền thống, làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh; xây dựng dự án bảo tồn giá trị văn hoá nghề truyền thống và làng nghề truyền thống; thực hiện phát triển làng nghề gắn với du lịch trên địa bàn tỉnh; giới thiệu, phổ biến các chủ trương chính sách về khuyến khích phát triển làng nghề trên các phương tiện thông tin đại chúng. Định kỳ thông tin về thị trường, giá cả, giới thiệu sản phẩm và các chuyên đề phục vụ cho phát triển làng nghề. Các cấp uỷ Đảng: lãnh đạo chính quyền cụ thể hoá quy hoạch thành những giải pháp cụ thể trên cơ sở khai thác tiềm năng thế mạnh của địa phương; làm tốt công tác tuyên truyền về quy hoạch và các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển làng nghề nhằm chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức của các cấp, các ngành, các tổ chức xã hội và trong toàn thể nhân dân; lãnh đạo, chỉ đạo các tổ chức chính trị xã hội và các tổ chức xã hội khác tích cực triển khai thực hiện quy hoạch; đưa vấn đề phát triển nghề, làng nghề vào những nhiệm vụ trọng tâm của đảng bộ, chi bộ, là nội dung quan trọng để xem xét, đánh giá việc hoàn thành nhiệm vụ của chi bộ, đảng bộ. UBND các huyện, thành phố, thị xã: căn cứ Quy hoạch được phê duyệt, xây dựng các chương trình dự án cụ thể để từng bước đưa vào thực hiện trong các kế hoạch hàng năm, 5 năm. Tổ chức chỉ đạo thực hiện lồng ghép có hiệu quả các chương trình, dự án phát triển làng nghề với các chương trình dự án khác trên địa bàn. Thường xuyên kiểm tra, giám sát việc quản lý thực hiện quy hoạch, theo dõi, cập nhật số liệu và báo cáo định kỳ về phát triển làng nghề để phục vụ cho công tác quản lý làng nghề của tỉnh. Các tổ chức đoàn thể, xã hội: phối hợp với chính quyền cùng cấp tuyên truyền giáo dục, vận động quần chúng nhân dân tích cực tham gia vào các kế hoạch, chương trình dự án về phát triển ngành nghề nông thôn và làng nghề trên địa bàn. 3.2.1.2. Tăng cường bộ máy hoạt động khuyến công Hiện nay tổ chức bộ máy hoạt động khuyến công mới có Trung tâm Khuyến công tỉnh. Trong lúc chưa có quy định của Nhà nước về hệ thống khuyến công đến huyện, cơ sở, trước mắt UBND tỉnh cần giao thêm nhiệm vụ khuyến công cho phòng Công Thương cấp huyện. Đồng thời tiếp tục tăng cường thêm biên chế, cơ sở vật chất cho Trung tâm Khuyến công tỉnh đảm bảo đáp ứng nhu cầu nhiệm vụ. ở các xã, thị trấn, UBND tỉnh đã quyết định thành lập Ban NN&PTNT có chức năng tổ chức, hướng dẫn việc xây dựng và phát triển các ngành nghề, làng nghề nông thôn. Ban có tối đa không quá 4 người, trong đó cán bộ có 1 cán bộ khuyến công và ngành nghề nông thôn, là người trực tiếp tổ chức thực hiện các hoạt động khuyến công và phát triển ngành nghề nông thôn trên địa bàn xã [51]. Tuy nhiên sự phối hợp giữa Sở Công Thương và Sở NN&PTNT để tập huấn nghiệp vụ cho cán bộ khuyến công chưa tốt. Trong thời gian tới cần tăng cường tập huấn nghiệp vụ cho cán bộ khuyến công của Ban NN&PTNT để làm tốt hơn công tác phát triển làng nghề trên địa bàn xã. 3.2.1.3. Điều tra, khảo sát, phân loại làng nghề - Để điều tra, khảo sát, phân loại làng nghề, trước hết UBND tỉnh cần thay thế Quyết định số 93/ QĐ.UB.CN ngày 20 tháng 9 năm 2006, quy định tiêu chí làng nghề của tỉnh thống nhất theo Thông tư số 116/2006/TT-BNN ngày 18 tháng 12 năm 2006 của Bộ NN&PTNT quy định về tiêu chí làng nghề để thống nhất tiêu chí làng nghề cả nước. - Tiến hành điều tra, khảo sát để nắm vững số lượng, chất lượng, chủng loại các làng nghề một cách tỉ mỉ, khoa học; quy hoạch, sắp xếp lại các làng nghề cho từng địa phương và từng vùng. Những làng nghề nào có điều kiện thuận lợi cần khuyến khích phát triển và phải có biện pháp chỉ đạo, hỗ trợ có hiệu quả. Nếu làng nghề gặp khó khăn phải tập trung chỉ đạo, tháo gỡ tạo điều kiện cho phát triển. Làng nghề nào nếu thị trường không có nhu cầu, khó tồn tại thì tạo điều kiện cho chuyển đổi nghề mới. Ngành nghề nào có thể phát triển với quy mô lớn, ngành nghề nào chỉ phát triển ở những vùng có lợi thế để tăng sức cạnh tranh, hạn chế đến mức thấp nhất tính tự phát trong việc phát triển làng nghề để từ đó có các biện pháp, chính sách đầu tư cho phù hợp. - Chỉ phê duyệt những dự án xây dựng làng nghề có tính thực tế và gắn với việc xóa đói giảm nghèo, giải quyết công ăn việc làm, phù hợp với quy hoạch. Tránh tình trạng buôn bán, đầu cơ đất đai, sử dụng mục đích, hoặc sử dụng đất không hiệu quả. 3.2.1.4. Đảm bảo đủ nguồn vốn Tổng nhu cầu vốn đầu tư phát triển ngành nghề nông thôn và làng nghề toàn tỉnh giai đoạn 2008 - 2020 dự kiến là 18.461,8 tỷ đồng. Trong đó vốn để bảo tồn, phát triển làng nghề 46,8 tỷ đồng (2008-2010 là 7,5 tỷ; 2011-2015 là 18 tỷ; 2016-2020 là 21,3 tỷ), chiếm 0,25 %. Đây là tỷ lệ quá nhỏ. Tuy vậy trong điều kiện ngân sách của tỉnh có hạn và còn phải chi dùng cho các mục tiêu khác thì để huy động được nguồn vốn đó là sự cố gắng của tỉnh. Do đó phải có giải pháp huy động thêm các nguồn vốn khác đảm bảo cho phát triển làng nghề. Dự kiến nguồn ngân sách chiếm 10 - 12% tổng nhu cầu cho phát triển làng nghề. Ngoài nguồn vốn ngân sách huy động nguồn vốn từ các doanh nghiệp và trong nhân dân (khoảng 40 - 45%); nguồn vốn vay, bao gồm các nguồn vay ưu đãi phát triển từ các chương trình như hỗ trợ giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo, hỗ trợ phát triển sản xuất, nguồn vốn ODA, FDI và nguồn vốn vay tín dụng (khoảng 40 - 45%). Do đó phải có các giải pháp sử dụng có hiệu quản nguồn vốn. Đối với nguồn vốn từ ngân sách, chủ yếu đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, hoạt động khoa học công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực, hoạt động xúc tiến thương mại; tổ chức các hoạt động khuyến nông, khuyến công, khuyến ngư; hỗ trợ xây dựng các mô hình trong phát triển làng nghề. Để huy động được các nguồn vốn ngoài vốn ngân sách, cần thực hiện cải cách hành chính, tạo môi trường thông thoáng trong đầu tư, tạo môi trường tài chính tin cậy, đa dạng hóa các hoạt động tín dụng nhân dân. Đối với các nguồn vốn vay FDI, ODA cần thực hiện tốt công tác xúc tiến đầu tư, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu liên quan đến đầu tư, đồng thời cải cách các thủ tục hành chính và có các chính sách ưu đãi để thu hút đầu tư nước ngoài. Đối với các cơ sở sản xuất, các hộ trong các làng nghề, do đặc thù của ngành nghề, nhu cầu về vốn không lớn như một số ngành nghề sản xuất khác, song nó vẫn có một vai trò hết sức quan trọng vì đó là yếu tố vật chất có ý nghĩa quyết định của quá trình sản xuất. Có thể tập trung vào một số giải pháp chính sau: - Thực hiện đa dạng hoá các hình thức huy động vốn, như vốn tự có trong dân, từ hệ thống ngân hàng, từ ngân sách nhà nước trung ương và địa phương, từ thị trường tài chính phi chính thức, v.v… Trong điều kiện hiện nay, nguồn vốn tự có và huy động từ trong dân là rất quan trọng. Tuy nhiên việc huy động vốn từ trong dân là chưa được nhiều. Một hình thức huy động vốn cần được khuyến khích, đó là hình thức liên kết kinh tế. Hình thức này được phát triển trên cơ sở phân công hiệp tác lao động và chuyên môn hoá sản xuất. Nó được coi là một giải pháp hữu hiệu không chỉ nhằm giải quyết vấn đề vốn thông qua việc cung ứng nguyên, vật liệu hoặc ứng vốn trước cho người sản xuất làm hàng gia công v.v… mà còn nhằm khai thác lợi thế lẫn nhau giữa các bên tham gia liên kết. 3.2.1.5. Tổng kết, điều chỉnh quy hoạch Quy hoạch dù xây dựng khoa học đến đâu thì cũng mang tính tương đối. Hàng năm cần tiến hành tổng kết, rút ra những bài học kinh nghiệm thành công, thất bại của quá trình phát triển làng nghề. Từ đó cập nhật các số liệu cơ bản thực hiện các nội dung quy hoạch để điều chỉnh quy hoạch cho phù hợp với thực tế. 3.2.2. Phát triển thị trường sản phẩm làng nghề Thị trường là một yếu tố cơ bản để phát triển sản xuất, quyết định sự phát triển các làng nghề. Giải pháp chung là phải đào tạo và nâng cao những kiến thức và kỹ năng hoạt động thị trường, cho các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất; tăng cường khả năng tiếp cận và mở rộng thị trường trong nước và thị trường nước ngoài thông qua hình thức quảng cáo, triển lãm, hội trợ trong nước và quốc tế; tổ chức nghiên cứu, nắm bắt và cung cấp thông tin về thị trường như các thông tin hàng hoá, chất lượng và giá cả hàng hoá, khách hàng và điều kiện mua bán của khách hàng, phương thức mua bán và thị hiếu người tiêu dùng. Việc nghiên cứu và dự báo thị truờng cũng phải được coi trọng, nhất là những dự báo dài hạn và trung hạn đối với các loại sản phẩm. Điều này không chỉ có ý nghĩa đối với người sản xuất trong việc xác định chiến lược kinh doanh thích ứng, mà còn có ý nghĩa đối với các ngành các cấp khi xây dựng kế hoạch và chính sách kinh tế vĩ mô. Trung tâm Xúc tiến thương mại tỉnh cần phối hợp chặt chẽ với các cơ quan liên quan trong tỉnh cũng như ngoài tỉnh tăng cường cung cấp các thông tin về thị trường, hỗ trợ các cơ sở sản xuất tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm. Tỉnh và các ngành cần nghiên cứu có chính sách hỗ trợ đối với những sản phẩm được khuyến khích phát triển và đang ở trong thời gian mới tiếp cận thị trường, nhằm hỗ trợ cho các sản phẩm đó vươn lên đứng vững trên thị trường, đồng thời khắc phục rủi ro đối với những người sản xuất khi có sự cố xảy ra. Khuyến khích và phát triển các quan hệ liên kết giữa các cơ sở sản xuất trong làng nghề với nhau, giữa các cơ sở sản xuất của làng nghề đối với các doanh nghiệp ở đô thị hoặc ở các vùng khác, với các tổ chức xúc tiến thương mại, nhằm làm tăng sức mạnh thị trường, tạo ra một hệ thống hoàn chỉnh từ cung cấp nguyên, vật liệu đến sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Hỗ trợ ứng dụng tiến bộ kỹ thuật nhằm nâng cao chất lượng và tính cạnh tranh của sản phẩm được thị trường chấp nhận. Để giải quyết tốt vấn đề thị trường phải có những giải pháp từ cả 2 phía, phía các làng nghề và các doanh nghiệp, phía Nhà nước. * Về phía các làng nghề, các doanh nghiệp: - Nghiên cứu, cải tiến mẫu mã, bao bì, chất lượng sản phẩm, xây dựng thương hiệu, khẳng định vị trí và uy tín sản phẩm trên thị trường. Thực tế cho thấy một số sản phẩm làng nghề của Nghệ An chất lượng tốt nhưng mẫu mã, bao bì kém, sản phẩm chưa đa dạng, chưa có thương hiệu nên không cạnh tranh được các sản phẩm cùng loại của các tỉnh khác trên thị trường. Chẳng hạn nước mắm làng nghề Phú Lợi, Quỳnh Dị ngon nổi tiếng nhưng màu sắc kém, mẫu mã kém, bao bì, nhãn hiệu đơn giản, chủ yếu đóng vào các can nhựa các loại từ 0,5 lít đến 20 lít, do đó giá bán rẻ. - Tổ chức tiếp thị thông qua thị trường du lịch. Đây là thị trường có tiềm năng lớn của tỉnh. Lâu nay các làng nghề, các doanh nghiệp của Nghệ An chưa quan tâm đến thị trường này, để cho sản phẩm từ khác tỉnh lấn át. - Tích cực tham gia các hội chợ trong tỉnh, trong nước. Đây là một biện pháp quảng cáo, chào hàng rất hiệu quả. - Tích cực tìm kiếm thị trường mới, khách hàng mới. Sản phẩm mây tre đan xuất khẩu hiện nay thị trường rất lớn. Trong lúc các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh chưa có đủ điều kiện xuất khẩu trực tiếp, cần phải tìm kiếm thêm các cơ sở xuất khẩu lớn, đảm bảo việc làm thường xuyên cho các làng nghề. - Thành lập các hiệp hội theo ngành, nghề để giúp đỡ nhau về sản xuất kinh doanh, thiết lập các quan hệ với các doanh nghiệp. - Các doanh nghiệp cần tổ chức bộ phận nghiên cứu thị trường để nắm được thông tin nhanh nhất, chính xác nhất về thị trường đặc biệt là thị trường xuất khẩu. Chú ý nghiên cứu khai thác thị trường "ngách", phát triển quan hệ gia công cho các doanh nghiệp lớn. Tham gia giới thiệu trên các trang web của tỉnh. Các doanh nghiệp cần phải thường xuyên cập nhật được với những thông tin mới nhất trên thị trường thế giới; chủ động tìm hiểu nhu cầu thị trường thế giới. Ngày nay mạng lưới thông tin giữa Việt Nam và quốc tế đã thông suốt. Các doanh nghiệp cần nhanh chóng thúc đẩy phát triển thương mại làm ăn buôn bán qua mạng toàn cầu internet, bởi đây là phương thức giao dịch ngày càng phổ biến và được ưa chuộng trên thế giới. Sản phẩm làng nghề, nhất là sản phẩm TCMN không phải là những mặt hàng thiết yếu và cấp bách, vì vậy không làm tốt công tác tiếp thị và chào bán hàng hoá thì khách hàng sẽ không thể có đủ những thông tin và hiểu biết cần thiết. Hiện nay có rất nhiều cách chào bán hàng hoá. Các doanh nghiệp phải làm công tác này một cách chủ động, thường xuyên và tổ chức. Doanh nghiệp phải đầu tư làm catalogue cũng như các mẫu hàng hoá để chào hàng và thường xuyên phải bổ sung những mặt hàng mới. - Tổ chức điểm trưng bày giới thiệu và bán hàng hóa tại nơi sản xuất, hình thành khu vực bán hàng riêng cho từng loại sản phẩm tại làng nghề. - Hình thành phường, hội, HTX. Các HTX có tư cách pháp nhân có thể giao dịch với các cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp, quan hệ với các hiệp hội, các tổ chức xúc tiến thương mại để quảng bá sản phẩm của làng nghề. HTX có thể liên kết với các doanh nghiệp, hợp đồng gia công và đóng vai trò vệ tinh cho các doanh nghiệp này. * Về phía UBND tỉnh và các ngành chức năng của tỉnh - Hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho các làng nghề, các cơ sở sản xuất làng nghề tiếp cận, tìm kiếm, khai thác mở rộng thị trường trong và ngoài nước, tạo các cơ hội giao lưu thương mại. - Hướng dẫn các làng nghề, ngành nghề lập hiệp hội ngành nghề để tăng sức cạnh tranh, hỗ trợ trong sản xuất kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm. - Tăng cường việc tổ chức các giao lưu văn hoá- thương mại giữa các cơ sở sản xuất, làng nghề trong tỉnh, trong khu vực và các tỉnh khác với nhiều hình thức phong phú như: tọa đàm, trao đổi kinh nghiệm, trình diễn kỹ thuật chế tác sản phẩm, hội chợ triển lãm TCMN, trình bày giới thiệu các sản phẩm thủ công. - Tăng cường tổ chức hội chợ. Hàng năm dành một phần ngân sách cho hoạt động này. Các huyện, thị nên dành vị trí thuận lợi để tổ chức các trung tâm, các cửa hàng bán và giới thiệu sản phẩm của các ngành nghề. - Tổ chức thông tin, dự báo thị trường tiêu thụ sản phẩm. Sở Công Thương chủ trì phối hợp với các cơ quan quản lý chuyên ngành và các đơn vị sản xuất để có biện pháp cùng nhau tháo gỡ những vướng mắc về thị trường. Ngày nay với sự phát triển của công nghệ thông tin, các thông tin về làng nghề được thông tin rộng rãi trên các trang web. Nhiều tỉnh, huyện, các làng nghề, hiệp hội làng nghề, doanh nghiệp đã xây dựng các trang web về làng nghề riêng, hoặc dành lượng thông tin lớn về làng nghề trên trang web như www.dongnai.gov.vn/ của Đồng Nai, chaukhe.com/ của Hiệp hội vàng bạc làng nghề Châu Khê; www.thangbinh.gov của huyện Thăng Bình, Quảng Nam... Nhất là www.baohatay.vn của tỉnh Hà Tây và www.hatay.gov.vn báo điện tử Hà Tây phản ánh rất nhiều hoạt động của các làng nghề trên địa bàn tỉnh. Cục Xúc tiến Thương mại cũng đã xây dựng trang web giới thiệu về sản phẩm và làng nghề Việt Nam www.vietnam.ovop.com. ở Nghệ An đã có trang www.baonghean.vn của tỉnh và báo điện tử Nghệ An www.baonghean.vn nhưng thông tin về làng nghề rất ít. Cần tăng cường thông tin về các làng nghề trên các trang thông tin điện từ này và dần dần xây dựng trang web riêng về làng nghề của tỉnh. - Tăng cường quản lý chất lượng sản phẩm ở các làng nghề, thông qua đó giúp cho các cơ sở sản xuất cải tiến công tác quản lý chất lượng sản phẩm, cải tiến công tác điều hành, nâng cao chất lượng, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững cho các làng nghề. - Tổ chức các hoạt động khảo sát, nghiên cứu thị trường trong và ngoài nước đối với sản phẩm làng nghề, đặc biệt các sản phẩm thủ công truyền thống. 3.2.3. Phát triển làng nghề gắn với du lịch Nghệ An có nhiều tiềm năng phát triển du lịch, nhất là có quê hương của Chủ tịch Hồ Chí Minh, danh nhân văn hoá thế giới. Tỉnh cần tiếp tục quy hoạch, đầu tư và hoàn thiện các tuyến giao thông cùng với hệ thống kết cấu hạ tầng nông thôn ở một số làng nghề. Triển khai tích cực các dự án đầu tư khu du lịch, cùng với việc trùng tu các di tích lịch sử để thu hút nhiều khách du lịch. Hoạt động du lịch làng nghề ở Nghệ An phải được quy hoạch, chỉ đạo một cách đồng bộ. Vai trò của các hiệp hội làng nghề phải được nâng lên. Đẩy mạnh hoạt động quảng cáo, chào hàng, mạnh dạn mở cửa hàng giới thiệu sản phẩm ở các điểm du lịch... Mặt khác, đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại, du lịch và đầu tư, quảng bá cho các sản phẩm làng nghề ra các nước, tổ chức những tour du lịch đưa khách nước ngoài về tham quan làng nghề... Du lịch làng nghề là hướng đi mới tất yếu, cần được nghiên cứu, tổng kết nghiêm túc, có những giải pháp và vận động nhiều thành phần kinh tế tham gia. Trước mắt có thể xây dựng một số chương trình: - Sản phẩm và làng nghề thêu ren gắn với khu du lịch quê hương Bác Hồ -Kim Liên, Nam Đàn. - Sản phẩm dệt thổ cẩm bản người Thái xã Châu Tiến gắn với lễ hội Hang Bua. - Sản phẩm dệt thổ cẩm Con Cuông gắn với du lịch Vuờn quốc gia Pù Mát. - Sản xuất hàng lưu niệm Cửa Lò, làng nghề mây tre đan Nghi Lộc gắn với du lịch biển Cửa Lò. 3.2.4. Đào tạo nguồn nhân lực Muốn phát triển làng nghề, phải có đội ngũ lao động. Do đó phải tăng cường công tác đào tạo, bao gồm đào tạo lao động làm nghề, thợ giỏi, nghệ nhân, chủ hộ, các doanh nghiệp, cán bộ quản lý của địa phương. Coi đào tạo nghề là sự nghiệp của toàn xã hội như Nghị quyết Trung ương 2 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII), kết luận Hội nghị TW6 (khoá IX) về tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục đã xác định. Trước hết các ngành, các cấp, các đoàn thể và các tổ chức xã hội quán triệt và có nhận thức đúng đắn đối với công tác đào tạo nghề. Phải phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, các thành phần kinh tế cùng tham gia. Trước mắt, các làng nghề cần chủ động đào tạo tay nghề cho người lao động. Việc đào tạo nghề và đào tạo nâng cao tay nghề phải xuất phát từ đặc điểm và nhu cầu của địa phương. Thực tế triển khai các chương trình đào tạo nghề từ kinh phí khuyến công của tỉnh cũng như khuyến công quốc gia cho thấy nhiều địa phương tổ chức đào tạo nghề nhưng không xuất phát từ đặc điểm cụ thể của địa phương mình nên không tổ chức sản xuất được sau đào tạo. Để chất lượng lao động tốt hơn, đáp ứng được sự thay đổi của nhu cầu thị trường, cần có sự kết hợp các hình thức và sự tham gia của các thành phần kinh tế trong quá trình đào tạo. Có thể áp dụng các hình thức sau: - Dạy nghề theo lối truyền nghề: tổ chức lớp và mời các nghệ nhân hoặc thợ giỏi ở địa phương và các nơi khác đến dạy nghề. Khuyến khích hình thức học nghề trực tiếp tại chính các cơ sở sản xuất của làng nghề phù hợp với đặc thù nghề truyền thống của địa phương. - Phát triển các trung tâm dạy nghề của tư nhân và Nhà nước để tăng nhanh số lượng lao động tay nghề, đáp ứng nhu cầu và mở rộng phát triển các nghề truyền thống. - Kết hợp với các trường đại học trên địa bàn mở lớp nâng cao trình độ kỹ thuật và trình độ mỹ thuật cho các thợ giỏi, nhất là công tác thiết kết mẫu mã sản phẩm - Thông qua các hiệp hội, các quỹ phát triển để mở lớp và tạo nguồn kinh phí đào tạo. Đây là hình thức cần được khuyến khích phát triển để đáp ứng nhu cầu đào tạo nghề, nhất là đối với lực lượng lao động trẻ.. - Khuyến khích các tổ chức chính trị, chính trị xã hội, nghề nghiệp, hội kinh tế, kỹ thuật, nghề nghiệp (Hội Nông dân, Hội Phụ nữ,…) mở lớp đào tạo nghề. Ngoài hình thức đào tạo, truyền nghề cần tăng cường tập huấn chuyển giao kỹ thuật… - Thông qua các hình thức phổ biến kiến thức học nghề từ xa qua hệ thống thông tin đại chúng như đài, báo, sóng phát thanh truyền hình tỉnh. Khuyến khích các doanh nghiệp đào tạo nghề, tạo việc làm cho người lao động. - Tăng chính sách ưu đãi đối với giáo viên dạy nghề giỏi, các chuyên gia dạy nghề và truyền nghề. Trong làng nghề truyền thống, các thợ giỏi, nghệ nhân có vai trò quyết định đối với việc duy trì và phát triển nghề. Hiện nay, Nghệ An chưa phong tặng được nghệ nhân nào. Do đó ở một chừng mực nhất định đã làm giảm tâm huyết của những người có công trong trong việc truyền nghề. Vì vậy, cần xây dựng quy chế công nhận thợ giỏi, nghệ nhân của tỉnh và thực hiện chính sách đãi ngộ đối với nghệ nhân. Hàng năm hoặc vài năm cần tổ chức xét và công nhận trao tặng danh hiệu cao quý tôn vinh nghề nghiệp cũng như thưởng vật chất xứng đáng cho những người thợ giỏi, nghệ nhân, những tập thể và cá nhân có nhiều đóng góp cho phát triển làng nghề. - Tăng tỷ lệ cho đào tạo nghề từ các nguồn trong chương trình khuyến công, khuyến nông, khuyến lâm, từ chương trình dạy nghề cho người lao động nông thôn của tỉnh. Ngoài các nguồn kinh phí từ ngân sách, khai thác các nguồn kính phí từ các tổ chức, các nhà tài trợ nước ngoài, các doanh nghiệp và khu vực dân cư để tổ chức nhiều hình thức dạy nghề. - Từng bước nâng cao chất lượng đào tạo. Cần phải trang bị cho thợ thủ công các kiến thức văn hoá, xã hội, khoa học kỹ thuật tương xứng với trình độ chung trong xã hội, đồng thời phải trang bị cho họ những kiến thức về thẩm mỹ, kỹ năng, kỹ xảo phù hợp với nghề, trong đó hết sức chú trọng đào tạo thợ bậc cao, giáo viên dạy nghề, người sáng tác mẫu và thợ phục chế. - Mở rộng và nâng cấp các trung tâm dạy nghề các huyện để tăng quy mô đào tạo nghề. Trong đó đặc biệt chú ý tới các nghề có xu hướng phát triển mạnh. Tập trung chủ yếu đào tạo những kiến thức thiết thực cho việc phát triển của làng nghề thủ công. Cần hỗ trợ xây dựng và phát triển một vài cơ sở đào tạo cho làng nghề cho các vùng miền núi, vùng các huyện phía tây. Kết hợp chặt chẽ giữa lý thuyết và thực hành, giữa truyền nghề trực tiếp với đào tạo cơ bản. Đối với những nghề đòi hỏi kỹ thuật hơn như thêu, khảm, kim hoàn, đúc đồng... nhất thiết phải có quy trình đào tạo công phu. - Đối với các chủ hộ và chủ doanh nghiệp, thường xuyên mở các lớp bồi dưỡng kiến thức về quản lý, kiến thức kinh tế thị trường. Nội dung và hình thức đào tạo cần tập trung vào những vấn đề mới như cung cấp thông tin, những kiến thức cập nhật, phương thức quản lý tiên tiến và đặc biệt là kiến thức của nền kinh tế thị trường. Việc đào tạo và bồi dưỡng kiến thức về quản lý kinh tế cho các chủ doanh nghiệp phải xuất phát từ nhu cầu thị trường. Nội dung đào tạo bồi dưỡng cần đặc biệt quan tâm đến việc phổ biến hệ thống luật pháp có liên quan đến tổ chức sản xuất kinh doanh của làng nghề truyền thống. Bởi vì nhiều doanh nghiệp trong làng nghề có trình độ hiểu biết luật pháp còn hạn chế, nhất là luật kinh tế và luật lao động... Có thể đào tạo thông qua một số hình thức sau: - Mở các lớp tập huấn ngắn hạn cho các chủ doanh nghiệp về chuyên môn nghiệp vụ, quản lý, kế toán, thị trường, tiếp thị... - Đào tạo bồi dưỡng kiến thức thông qua hình thức mở các câu lạc bộ. Với phương thức này, các chủ doanh nghiệp vừa tiếp thu được kiến thức, vừa học hỏi và trao đổi kinh nghiệm, đồng thời tìm kiếm bạn hàng. 3.2.5. Nâng cao nhận thức của người dân Do đặc điểm lịch sử tự nhiên, chính trị, xã hội, kinh tế của Nghệ An, nhất là nền sản xuất nông nghiệp lạc hậu đã tồn tại lâu đời ảnh hưởng đến cách nghĩ, cách làm, cách sống của rất nhiều người nông dân Nghệ An. Mặc dù những năm vừa qua đã có sự thay đổi đáng kể nhưng vẫn còn ảnh hưởng rất lớn. Đó là tư duy manh mún, thụ động, ỷ lại, yên phận, ăn xổi, không dám mạo hiểm; sợ rủi ro; tác phong làm ăn tuỳ tiện, ý thức kỷ luật kém; tư tưởng bình quân chủ nghĩa. Một số người, một số địa phương còn có tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước, có một số người lại nôn nóng, thiếu kiên trì chịu khó,... Kinh tế thị trường trong xu thế hội nhập đòi hỏi các chủ doanh nghiệp, các hộ sản xuất phải có kiến thức về kinh tế thị trường và khả năng quản lý sản xuất kinh doanh, hiểu biết khoa học công nghệ, pháp luật trong nước và quốc tế; có ý thức tuân thủ pháp luật, có tính năng động, nhạy bén và sáng tạo, tính quyết đoán cao, dám mạo hiểm… Để nâng cao nhận thức của người dân về phát triển làng nghề cần thực hiện một số giải pháp: - Làm tốt công tác tuyên truyền không chỉ trong người dân mà ở cả các cấp, các ngành để có sự thống đồng nhất nhận thức về vấn đề phát triển nghề, làng nghề. Trên cơ sở đó thu hút sự quan tâm của các cấp, các ngành, đặc biệt là các tổ chức đoàn thể. - Các tổ chức liên quan của tỉnh có trách nhiệm cung cấp, tư vấn một cách đều đặn các thông tin liên quan đến ngành nghề, chỉ ra những cơ hội, thách thức, thuận lợi, cũng như những dự báo cho các doanh nhân, người dân làm nghề nắm bắt được tình hình để yên tâm sản xuất... - Tổ chức đào tạo, huấn luyện kiến thức quản lý kinh tế, quản lý doanh nghiệp và bồi dưỡng kiến thức về thị trường cho cơ sở, xây dựng chủ doanh nghiệp; - Tăng cường tổ chức tham quan, giao lưu trong và ngoài tỉnh. Qua đó người dân trực tiếp học tập kinh nghiệm sản xuất của các địa phương khác. 3.2.6. Phát triển đa dạng hoá các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh trong các làng nghề Thực tế làng nghề ở Nghệ An cho thấy các hình thức tổ chức sản xuất như HTX, tổ hợp, DNTN, công ty cổ phần, CT. TNHH chiếm một tỷ lệ rất nhỏ, hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh chủ yếu là hộ gia đình cá thể. Vì vậy tính chất sản xuất nhỏ trong nông thôn còn thể hiện khá đậm nét, người sản xuất chỉ quen lối sản xuất khép kín trong hộ, việc phân công hợp tác trên phạm vi rộng ít được làm quen. Mặt khác, với những hạn chế vốn có của hình thức hộ thì sản xuất không thể đạt kết quả cao. Vì vậy cần tạo môi trường và tạo điều kiện thúc đẩy hình thành các loại hình tổ chức sản xuất, khuyến khích thành lập các loại hình doanh nghiệp như HTX, CT. TNHH, DNTN... trong làng nghề để có điều kiện tích tụ, tập trung năng lực sản xuất, đổi mới công nghệ phát triển sản xuất. Mỗi làng nghề ở nông thôn nếu như có được các cơ sở doanh nghiệp (bao gồm các loại hình) làm hạt nhân chắc chắn sẽ trở thành động lực thúc đẩy phát triển mạnh mẽ. Trong điều kiện thực tế ở Nghệ An, các làng nghề chưa xuất hiện nhiều doanh nhân, cơ sở có tiềm lực mạnh, các cấp chính quyền địa phương, các ngành càng tích cực hỗ trợ, khuyến khích những đối tượng này để họ sớm trở thành hạt nhân của làng nghề. 3.2.7. Cải thiện môi trường trong các làng nghề Trước hết, tiến hành thống kê, đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường trong các làng nghề. Đối với các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm cần tổ chức di dời ra khỏi khu dân cư, khu du lịch. Tuy nhiên không phải tất cả các làng nghề đều gây ra ô nhiễm, có một số ngành nghề như mây tre đan, thêu ren, rèn, đúc, cơ khí quy mô nhỏ,vv... có mức độ gây ô nhiễm ít thì tìm biện pháp xử lý môi trường tại chỗ sớm. Những làng nghề gây ô nhiễm lớn bởi nước thải, khí thải thì phải có phương án chuyển vào một khu quy hoạch riêng, có hệ thống xử lý, thoát khí thải, nước thải tập trung để việc xử lý chất thải có hiệu quả và ít tốn kém hơn. Khi đã có khu quy hoạch, tỉnh cần kết hợp các biện pháp khuyến khích về thuế, tiền thuê đất, phí để hỗ trợ cho các cơ sở sản xuất có thể vào khu quy hoạch được và có điều kiện phục hồi sản xuất kinh doanh nhanh chóng. Đồng thời, cần dự kiến khả năng phát triển và mức độ gây ô nhiễm của những làng nghề đang tồn tại để có quy hoạch kịp thời. Khuyến khích và hỗ trợ cho các cơ sở áp dụng công nghệ sản xuất hiện đại giảm thiểu gây ô nhiễm môi trường nhưng vẫn giữ được nét đặc trưng của làng nghề. Cần quy định chế tài và các biện pháp mạnh xử lý những vi phạm, gây ô nhiễm môi trường của các cơ sở sản xuất, giao cho chính quyền địa phương trực tiếp kiểm tra, xử lý những vi phạm này. Tăng cường công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức về tình trạng ô nhiễm môi trường và tác động tiêu cực của ô nhiễm môi trường. Trước hết cần thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như báo, đài, tivi, hệ thống truyền thanh ở các địa phương để tuyền truyền rộng rãi đến tận các xã, các làng. Nội dung cần thông tin về tình hình ô nhiễm môi trường, tác hại của ô nhiễm môi trường và các quy định pháp luật về quản lý môi trường tại địa phương làm cho người dân và người sản xuất hiểu và nắm rõ hơn để họ có ý thức hơn, trách nhiệm hơn trong việc hạn chế ô nhiễm môi trường. Xử lý nghiêm những cơ sở, những hộ sản xuất gây ô nhiễm lớn. Phát huy tốt hơn nữa vai trò của cấp xã trong việc xử lý, phạt những người gây ô nhiễm trong các làng nghề. Thúc đẩy áp dụng và chuyển giao công nghệ sản xuất mới thân thiện với môi trường hơn. Các làng nghề thường hạn chế về công nghệ và khó khăn về vốn để đổi mới công nghệ. Do đó, thông qua các cơ quan quản lý khoa học và công nghệ khuyến khích việc sáng chế, cải tiến và ứng dụng các biện pháp kỹ thuật, quy trình công nghệ sản xuất mới tiết kiệm đầu vào, hiệu suất cao hơn. Khuyến khích giải pháp công nghệ xử lý ô nhiễm phù hợp về điều kiện kinh tế của người dân (chi phí ít) và phù hợp với điều kiện tự nhiên của mỗi làng. Huy động các nguồn vốn khác nhau để xử lý ô nhiễm môi trường. Xử lý ô nhiễm môi trường cho các làng nghề có thể được coi là một loại dịch vụ công cộng mà tất cả người dân được hưởng thụ, trong đó người sản xuất được hưởng lợi nhiều hơn. Do đó, Nhà nước thông qua chính quyền địa phương và cơ quan quản lý môi trường xác định những công trình xử lý ô nhiễm chung, có ý nghĩa thiết thực để đầu tư xây dựng. Tuy nhiên, một số hoạt động xử lý ô nhiễm thường đòi hỏi những khoản kinh phí lớn, nhất là những công trình hạ tầng xử lý ô nhiễm như hệ thống thoát nước thải, hệ thống xử lý nước thải chung,... Vì thế, ngoài nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước, cần huy động nhiều nguồn vốn khác nhau. Trước hết là huy động khoản đóng góp của các hộ và các cơ sở sản xuất tại các làng nghề. Ngoài ra huy động nguồn thu từ phí môi trường, phí xử phạt hành chính các cơ sở gây ô nhiễm. Như vậy vừa giảm bớt được gánh nặng cho ngân sách nhà nước, vừa phát huy được ý thức và trách nhiệm của người dân trong giải quyết ô nhiễm môi trường của chính mình. Điều này rất cần hoạt động có hiệu quả của chính quyền cấp xã, thôn nơi có làng nghề. Đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát các nguồn thải ra môi trường của các cơ sở sản xuất và làng nghề; kiểm tra, đánh giá hiệu quả các hệ thống xử lý chất thải các dự án đã hoạt động, kịp thời phát hiện và xử lý các yếu tố gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng sức khoẻ người lao động và cộng đồng dân cư. 3.2.8. Phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn Phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn vừa là một nội dung quan trọng của CNH, HĐH nông thôn, là điều kiện cần thiết phát triển làng nghề. Việc xây dựng và phát triển đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng sẽ có tác dụng kích thích sự phát triển các làng nghề. Trên cơ sở thúc đẩy nhanh kinh tế hàng hoá, mở rộng giao lưu trao đổi hàng hoá giữa các vùng và các địa phương, góp phần giải quyết việc làm tại chỗ. Trong những năm qua, hệ thống kết cấu hạ tầng ở nông thôn ở Nghệ An đã có những bước phát triển nhất định. Tuy nhiên nhìn tổng thể, hệ thống này vẫn còn trong tình trạng thấp kém, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển sản xuất ở nông thôn, là trở ngại trong việc phát triển các làng nghề. Vì vậy, cần thiết phải có các chính sách và giải pháp tổng thể, đồng bộ về phát triển kết cấu hạ tầng ở nông thôn nói chung và làng nghề truyền thống nói riêng. Cần thực hiện một số giải pháp sau: - Đẩy mạnh việc khảo sát và quy hoạch phát triển đồng bộ hệ thống giao thông trong các làng nghề và khu vực nhằm đảm bảo sự lưu thông hàng hoá giữa các làng nghề và thị trường. - Kết hợp xây dựng mới với việc cải tạo, duy trì và bảo dưỡng hệ thống đường xá hiện có. Cần nâng cấp chất lượng đường giao thông liên huyện, xã và các đường nối với các tụ điểm kinh tế, dịch vụ và thương mại. Bê tông hoá, nhựa hoá hệ thống đường xá trong những làng nghề để đảm bảo yêu cầu giao thông vận tải. - Tiếp tục hoàn thiện và mở rộng hệ thống cung cấp điện đến tất cả các làng nghề, đảm bảo cung cấp điện ổn định và có chất lượng đến tất cả các hộ sản xuất và các doanh nghiệp. - Hệ thống thông tin liên lạc. Tăng cường đầu tư nâng cấp công trình, đổi mới thiết bị kỹ thuật của các trung tâm bưu điện, liên lạc ở huyện, trạm khu vực. Nâng cao hiệu quả khai thác các điểm bưu điện văn hoá xã, giúp nông dân thường xuyên nắm được các thông tin kinh tế giá cả thị trường. - Tiến hành quy hoạch và xây dựng các hệ thống công trình kết cấu hạ tầng về cấp, thoát nước, xử lý chất thải và giảm thiểu gây ô nhiễm môi trường. - Phát triển hệ thống y tế và phúc lợi xã hội nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của làng nghề. Các cấp chính quyền địa phương cần có kế hoạch và chính sách ưu tiên đầu tư thích đáng cho việc xây dựng và tăng cường trang bị cơ sở vật chất cho các cơ sở y tế để phục vụ tốt việc chăm sóc sức khỏe cho người dân làng nghề, nhất là khi sức khoẻ của người dân làng nghề ngày càng bị ảnh hưởng do tác động của ô nhiễm môi trường. Bên cạnh đó, cần khai thác và kết hợp các nguồn vốn ngân sách và ngoài ngân sách để xây dựng các công trình phúc lợi khác cho làng nghề như các nhà văn hoá, thư viện, câu lạc bộ hiệp hội ngành nghề của làng nghề... 3.2.9. Hỗ trợ ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất Việc đổi mới và đưa công nghệ hiện đại vào sản xuất của làng nghề cần sự giúp đỡ, hỗ trợ của các cơ quan quản lý nhà nước như sở Khoa học công nghệ, sở Tài nguyên-Môi trường, sở Công Thương là rất quan trọng. Ngoài ra có sự tham gia của các hiệp hội ngành nghề, các trung tâm tư vấn và các tổ chức liên quan khác. Cần tập trung vào các nội dung chủ yếu sau: - Tăng cường phổ biến kiến thức khoa học, công nghệ, kỹ năng sản xuất kinh doanh và kiến thức quản lý cho khu vực nông thôn. - Từng bước đưa tiến bộ kỹ thuật công nghệ, thiết bị cơ khí vào một số ngành nghề làm tăng năng suất lao động, tiết kiệm nguyên vật liệu, nâng cao chất lượng sản phẩm và hạ giá thành . - Kết hợp công nghệ truyền thống với công nghệ hiện đại theo phương châm "thủ công tinh xảo, tiểu công nghiệp hiện đại" để tăng năng suất lao động, tiết kiệm nguyên vật liệu, nâng cao chất lượng sản phẩm nhưng không làm mất đi vẻ độc đáo và tính truyền thống của sản phẩm. - Khuyến khích đầu tư đổi mới công nghệ trang bị kỹ thuật và điều kiện lao động vào một số ngành, nghề. Trước mắt chú trọng đến những công nghệ còn ít vốn đầu tư, sử dụng nhiều lao động phù hợp với điều kiện của hộ gia đình và cơ sở sản xuất. 3.2.10. Tiếp tục bổ sung, hoàn thiện các cơ chế, chính sách về phát triển làng nghề Trên cơ sở các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển làng nghề, tỉnh và các ngành cần cụ thể thành chính sách phù hợp với điều kiện cụ thể của tỉnh nhưng không được trái với quy định chung. Chính sách về thuế Thực hiện triệt để các chính sách ưu đãi về thuế đối với các cơ sở kinh doanh, hộ cá thể sản xuất ngành nghề nông thôn như: thuộc lĩnh vực được hưởng ưu đãi đầu tư miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp (tại Nghị định số 24/2007/NĐ-CP ngày 14/2/2007 của Chính phủ); miễn giảm thuế xuất nhập khẩu (tại Nghị định 49/2005/NĐ-CP ngày 8/12/2005 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu); các cơ sở ngành nghề nông thôn và làng nghề được phép khai thác tài nguyên phục vụ sản xuất, chế biến được miễn, giảm thuế tài nguyên theo quy định (tại Nghị định 68/1998/NĐ-CP ngày 3/9/1998 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh thuế tài nguyên). Chính sách hỗ trợ tài chính Tổ chức thực hiện có hiệu quả các chính sách hỗ trợ kinh phí từ ngân sách nhà nước đối với các cơ sở ngành nghề nông thôn và làng nghề như: - Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng làng nghề và xử lý môi trường cho các làng nghề, cụm cơ sở ngành nghề nông thôn; - Hoạt động nghiên cứu, xây dựng mô hình, chuyển giao khoa học công nghệ phục vụ phát triển ngành nghề nông thôn; - Hoạt động thông tin tuyên truyền; bồi dưỡng, tập huấn và đào tạo; tư vấn và dịch vụ; triển lãm, hội chợ giới thiệu sản phẩm, tiếp thị và tìm kiếm thị trường trong lĩnh vực ngành nghề nông thôn và làng nghề. - Hoạt động đào tạo nghề, truyền nghề của các cơ sở ngành nghề nông thôn; đào tạo nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn. Thông qua các hoạt động khuyến nông, khuyến công, khuyến ngư; các chương trình xoá đói giảm nghèo, chương trình xúc tiến thương mại, và các chương trình lồng ghép khác để thực hiện các chính sách hỗ trợ trong các lĩnh vực ngành nghề nông thôn và làng nghề. Chính sách về ưu đãi đầu tư và tín dụng - Khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư trong lĩnh vực phát triển ngành nghề nông thôn và làng nghề; các dự án sản xuất kinh doanh có hiệu quả được hưởng ưu đãi đầu tư theo Luật Đầu tư, được vay vốn từ Quỹ hỗ trợ giải quyết việc làm (theo quy định tại quyết định số 71/2005/QĐ-TTg ngày 05/4/2005 của Thủ tướng Chính phủ), được hưởng các chính sách tín dụng đầu tư của nhà nước. - Thực hiện các chính sách thu hút đầu tư vào lĩnh vực ngành nghề nông thôn và làng nghề, ban hành cơ chế ưu đãi đầu tư vào một số địa bàn vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa và ở một số ngành nghề sản xuất hàng xuất khẩu. Chính sách về đất đai - Các cơ sở ngành nghề nông thôn và làng nghề được hưởng ưu đãi về tiền thuê đất, thuê mặt nước theo quy định (tại Nghị định số 142/2005/NĐCP ngay 14/11/2005 của Chính phủ; Quyết định 40/2005/QĐ.UBND về giao đất, cho thuê đất). - Thực hiện công khai minh bạch các quy hoạch sử dụng đất, các chính sách ưu đãi trong thuê đất, ưu đãi về giá thuê đất, miễn giảm tiền thuê đất của nhà nước và địa phương cải thiện môi trường đầu tư thông thoáng cho nhà đầu tư. - Khi di dời ra khỏi khu dân cư đến địa điểm quy hoạch, cơ sở ngành nghề nông thôn được ưu đãi về tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thuế sử dụng đất và hỗ trợ kinh phí để di dời theo quy định (tại Quyết định số 74/2005/QĐTTg ngày 06/4/2005 của Thủ tướng Chính phủ). Kết luận Nghiên cứu đề tài “Giải pháp phát triển làng nghề trên địa bàn tỉnh Nghệ An”, tác giả rút ra một số kết luận sau: 1. Làng nghề nước ta đã hình thành và phát triển lâu đời trong lịch sử. Hiện nay phát triển làng nghề là một nội dung của CNH, HĐH nông thôn, là nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược kinh tế - xã hội của cả nước. Sự phát triển của làng nghề không chỉ mang ý nghĩa kinh tế mà có ý nghĩa to lớn về văn hoá, xã hội, là một trong những nhân tố giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá của mỗi địa phương và của cả dân tộc. 2. Nhờ những chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà nước, nhất là từ năm 1986, khi nước ta thực hiện sự nghiệp Đổi mới đã tạo ra bước ngoặt quan trọng về phát triển sản xuất nói chung và làng nghề nói riêng. Sự phát triển làng nghề đã có những đóng góp to lớn cho công cuộc phát triển kinh tế xây dựng đất nước như: tạo việc làm cho lao động nông thôn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng “ly nông bất ly hương” hạn chế di dân tự do ra thành phố, xây dựng nông thôn mới có đời sống vật chất, văn hoá đầy đủ và phong phú... Tuy nhiên sự phát triển làng nghề ở nước ta đang còn nhiều hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng. 3. Nước ta đã gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới, trong xu thế hội nhập, mở rộng các hoạt động kinh tế, du lịch và giao lưu văn hoá trên toàn thế giới đã tạo ra những điều kiện thuận lợi cho việc phát triển làng nghề. Tuy nhiên sự phát triển của làng nghề cũng đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn. Để phát triển làng nghề cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp về kinh tế, xã hội. Đây là nhiệm vụ to lớn mà Đảng, Nhà nước và các cấp uỷ Đảng, chính quyền, các đoàn thể và toàn thể nhân dân phải ra sức thực hiện vì mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội. 4. Nghệ An là tỉnh có diện tích lớn, dân số đông. Làng nghề ở Nghệ An hình thành sớm và có thời kỳ phát triển khá mạnh. Nghệ An có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển làng nghề. Trong những năm qua, được sự quan tâm chỉ đạo của các cấp, làng nghề ở Nghệ An bước đầu đã có bước phát triển nhanh và đạt được những kết quả nhất định. Đến năm 2007 cả tỉnh có 55 làng nghề. Bên cạnh việc khôi phục những nghề truyền thống tỉnh đã du nhập thêm một số nghề mới có sức phát triển nhanh, góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu, giải quyết việc làm cho hàng ngàn lao động, tạo nguồn thu nhập góp phần nâng cao đời sống, biến những tiềm năng của tỉnh thành hàng hoá, góp phần vào sự tăng trưởng của kinh tế của tỉnh. Tuy vậy, phát triển làng nghề ở Nghệ An vẫn còn nhiều hạn chế như: số lượng làng nghề còn ít, quy mô nhỏ, sản phẩm tuy chưa phong phú, hầu hết là sản phẩm thông dụng, thị phần hẹp và sức cạnh tranh thấp, nhiều làng nghề đang gặp khó khăn về thị trường tiêu thụ, thiết bị công nghệ lạc hậu, thiếu vốn sản xuất, ảnh hưởng môi trường sinh thái... Sự phát triển của làng nghề Nghệ An chưa tương xứng với tiềm năng và yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH và còn khá xa mục tiêu về phát triển làng nghề mà Đại hội Đảng bộ tỉnh Nghệ An lần thứ XVI (2005) đề ra đến năm 2010 cả tỉnh có 100 làng nghề [11]. Để thực hiện được mục tiêu đó đòi hỏi phải có thực hiện nhiều giải pháp phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương. Danh mục Tài liệu tham khảo 1. Báo Khoa học và Đời sống (2003) số 29. 2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2002), Dự thảo Thông tư hướng dẫn thực hiện công nhận sản phẩm thủ công truyền thống, làng nghề và làng nghề truyền thống. 3. Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Tổng cục Thống kê (2006), Điều tra Lao động-Việc làm giai đoạn 2001-2005. 4. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2006), Thông tư số 116/2006/TT- BNN Hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07 tháng 7 năm 2006 của Chính phủ “Về phát triển ngành nghề nông thôn". 5. Chính phủ (2006), Nghị định số 66/2006/NĐ-CP về phát triển ngành nghề nông thôn. 6. Cục Thống kê Nghệ An (2005), Kết quả tổng điều tra làng nghề và làng có nghề Nghệ An năm 2004. 7. Cục Thống kê Nghệ An (2007), Niên giám thống kê 2007. 8. Đặng Ngọc Dinh (1997), Vấn đề phát triển công nghiệp nông thôn ở nước ta, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 9. Đỗ Quang Dũng (2006), Phát triển làng nghề trong quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở Hà Tây, Luận án tiến sỹ kinh tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. 10. Đảng bộ tỉnh Nghệ An (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XV, Nhà in Báo Nghệ An. 11. Đảng bộ tỉnh Nghệ An (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI, Nhà in Báo Nghệ An. 12. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 14. Nguyễn Văn Đại - Trần Văn Luận (1997), Tạo việc làm thông qua khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội. 15. Nguyễn Điền (1997), Công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn các nước Châu á và Việt Nam. 16. Nguyễn Đình Gấm (2003), Những vấn đề tâm lý xã hội trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 17. Học viện Tài chính (2004), Hoàn thiện các giải pháp kinh tế - tài chính nhằm khôi phục và phát triển làng nghề ở nông thôn vùng ĐBSH, Đề tài khoa học. 18. Mai Thế Hởn (2000), Phát triển làng nghề truyền thống trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở vùng ven thủ đô Hà Nội, Luận án Tiến sỹ kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. 19. (2008), Mục tiêu phát triển hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam đến 2010. 20. (2008), Vốn đầu tư 6 tháng đầu năm 2008. 21. (2008), Mật độ dân số Việt Nam gần gấp đôi mật độ dân số Trung Quốc. 22. Vũ Kiểm (2008), Phát triển làng nghề nông thôn ở tỉnh Thái Bình, 23. Liên minh Hợp tác xã Nghệ An (2007), Báo cáo sơ kết 5 năm thực hiện xây dựng và phát triển làng nghề theo mục tiêu Nghị quyết 06/ nq.tu. 24. Ngành nghề nông thôn Việt Nam (1998), Nxb Nông nghiệp, Hà Nội. 25. Hữu Nghĩa (2008), "Xuất khẩu trực tiếp, Đức Phong vững lái ra biển lớn", Bản tin Công nghiệp Nghệ An. 26. Nguyễn Thị Nhiễu (2008), Sản phẩm làng nghề của Hà Tây trong bức tranh xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam, tapchicongsan. 27. Bùi Bíc Phương (2008), Nâng cao hơn nữa tỷ trọng buôn bán của Việt Nam với Nhật Bản, 28. Dương Bá Phượng (2001), Bảo tồn và phát triển làng nghề trong quá trình CNH, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 29. Nguyễn Thị Minh Phượng (2004), Thực trạng và một số giải pháp chủ yếu phát triển ngành nghề của hộ nông dân ở huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Đại học Nông nghiệp I. 30. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2005), Luật Bảo vệ môi trường số 52/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005. 31. Sở Công nghiệp Nghệ An (1999), Lịch sử Công nghiệp Nghệ An. 32. Sở Công Thương Nghệ An (2008), Báo cáo đánh giá nửa nhiệm kỳ thực hiện các mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Nghệ An lần thứ XVI về phát triển công nghiệp. 33. Sở Khoa học - Công nghệ - Môi trường, Hội Văn nghệ dân gian Nghệ An (1998), Nghề, làng nghề thủ công truyền thống Nghệ An, Nxb Nghệ An. 34. Sở Lao động Thương binh và Xã hội Nghệ An (2008), Báo cáo tình hình thực hiện Nghị quyết 07 của Ban thường vụ Tỉnh uỷ về phát triển dạy nghề. 35. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nghệ An (2007), Đề án xây dựng mô hình nông thôn mới cấp thông giai đoạn 2008-2009. 36. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nghệ An (2007), Báo cáo kết quả 2 năm thực hiện Nghị định 66/2006/NĐ-CP ngày 07/7/2006 về phát triển ngành nghề nông thôn. 37. Nguyễn Quốc Thịnh (2003), "Giải pháp cho đào tạo nghề TCMN", Tạp chí Thương mại, (28). 38. Nguyễn Thị Hồng Thuý (2008), "Phát triển ngành nghề nông thôn tăng thu nhập cho phụ nữ", Tạp chí Tuyên giáo, (5). 39. Tỉnh uỷ Nghệ An (2001), Nghị quyết 06/ NQ.TU về phát triển công nghiệp, TTCN và xây dựng làng nghề thời kỳ 2001-2010. 40. Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh (2002), Bắc Ninh, thế và lực mới trong thế kỷ XXI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 41. Tổ chức hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA), Bộ NN & PTNT (2002), Quy hoạch phát triển ngành nghề thủ công phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn Việt Nam. 42. Tổng cục Thống kê (2003), Niên giám thống kê 2002, Nxb Thống kê, Hà Nội. 43. Tổng cục Thống kê (2004), Niên giám Thống kê 2003, Nxb Thống kê, Hà Nội. 44. Tổng cục thống kê (2008), Báo cáo chính thức kết quả điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm 2006, http: www.gso.gov.vn. 45. Trung tâm Khuyến công Nghệ An (2008), Báo cáo tổng kết khuyến công 2002-2007. 46. Trung tâm Triển lãm văn hóa nghệ thuật Việt Nam (2000), Làng nghề phố nghề Thăng Long - Hà Nội, Hà Nội. 47. Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ An (2002), Quy hoạch phát triển ngành nghề nông thôn Nghệ An thời kỳ 2001-2010. 48. Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ An (2003), Quyết định số 70/2003/QĐ.UB ngày 07/ 8/2003 về việc ban hành quy định tạm thời về làng nghề TTCN tỉnh Nghệ An. 49. Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ An (2004), Quy hoạch phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản tỉnh Nghệ An thời kỳ 2004 – 2015. 50. Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ An (2006), Chương trình phát triển du lịch Nghệ An giai đoạn 2006-2010. 51. Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ An (2006), Đề án tổ chức Ban nông nghiệp và PTNT cấp xã. 52. Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ An (2006), Quyết định số 93/2003/QĐ.UB quy định về tiêu chuẩn làng có nghề, làng nghề TTCN trên địa bàn tỉnh Nghệ An. 53. Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ An (2007), Báo cáo tổng kết 5 năm xây dựng và phát triển mô hình làng nghề theo Nghị quyết 06/ NQ.TU (Khoá XV) của Tỉnh uỷ Nghệ An. 54. Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ An (2007), Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Nghệ An đến năm 2020. 55. Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ An (2007), Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội năm 2007 và kế hoạch phát triển năm 2008. 56. Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ An (2008), Quy hoạch phát triển ngành nghề nông thôn Nghệ An đến 2020.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfLUẬN VĂN-Giải pháp phát triển làng nghề trên địa bàn tỉnh Nghệ An.pdf
Luận văn liên quan