Luận văn Giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh doanh cho nông dân thành phố Hà Nội hiện nay

Giáo dục CMĐĐKD diễn ra trong bối cảnh có nhiều thuận lợi, song cũng không ít khó khăn, phức tạp. Trong bối cảnh đó, giáo dục CMĐĐKD cho ND Hà Nội đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Kết quả quan trọng nhất được thể hiện trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý; trong việc xây dựng, phát triển và phối hợp lực lượng giáo dục; trong thiết kế, xây dựng nội dung, lựa chọn, sử dụng các hình thức, phương pháp, phương tiện giáo dục. Bên cạnh đó, những hạn chế, bất cập về năng lực cán bộ tham gia công tác giáo dục, về nội dung, phương thức giáo dục làm cho hiệu quả giáo dục CMĐĐKD chưa cao. 4. Muốn tăng cường giáo dục CMĐĐKD cho ND thành phố Hà Nội cần tập trung vào các giải pháp nhằm giải quyết triệt để những mâu thuẫn hiện có bao gồm: giải pháp giải quyết các vấn đề về chủ thể, các vấn đề về đối tượng; giải pháp đổi mới nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức và huy động các nguồn lực; giải pháp tạo lập môi trường khách quan. Các giải pháp này có vị trí, vai trò khác nhau nhưng có quan hệ chặt chẽ, thống nhất biện chứng, hỗ trợ tác động thúc đẩy lẫn nhau, đòi hỏi phải tiến hành đồng bộ không được xem nhẹ giải pháp nào. Đồng thời, khi thực hiện các giải pháp cần nghiên cứu, vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với tình hình thực tiễn, nhất là đặc điểm của ND.

pdf25 trang | Chia sẻ: anhthuong12 | Lượt xem: 985 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh doanh cho nông dân thành phố Hà Nội hiện nay, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
năm 2007. 2. Những nghiên cứu về chuẩn mực đạo đức kinh doanh và giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh doanh 2.1. Về chuẩn mực đạo đức kinh doanh 5 - Công trình nghiên cứu nước ngoài: Verne E.Henderson (1996), What’ s ethical in business” , Nxb Văn hóa; Arthur A. Thompson, John E. Gamble (2006), Strategy : Winning in the marketplace : core concepts, analytical tools, cases, Nxb. Boston, McGraw-Hill. - Công trình nghiên cứu trong nước: Các bài viết: “Cơ chế thị trường và những điều cần báo động”, Tạp chí Cộng sản số 10-1990 của tác giả Vũ Hiền; “Đôi điều suy nghĩ về giá trị và sự biến đổi của các giá trị khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường”, Tạp chí Triết học số 1- 1995 của tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn; “Một số chuẩn mực giá trị ưu trội khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường”, Tạp chí Triết học số 1-1995 của Lê Đức Phúc; “Sự biến đổi của thang giá trị đạo đức trong nền kinh tế thị trường với việc xây dựng đạo đức mới cho cán bộ quản lý ở nước ta hiện nay” do tác giả Nguyễn Chí Mỳ (chủ biên), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 1999; Nguyễn Trọng Chuẩn với bài viết “Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay và những biến động trong lĩnh vực đạo đức”, đăng trong Tạp chí Triết học số 9- 2001. Công trình “Những vấn đề đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay” của tập thể tác giả do Nguyễn Trọng Chuẩn và Nguyễn Văn Phúc (đồng chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia, năm 2003.. Công trình nghiên cứu “Văn hóa đạo đức ở nước ta hiện nay- vấn đề và giải pháp” của hai tác giả Lê Quý Đức và Hoàng Chí Bảo do Nxb Văn hóa- Thông tin và Viện Văn hóa ấn hành năm 2007. Giáo trình “Đạo đức kinh doanh và văn hóa doanh nghiệp” của tác giả Phạm Quốc Toản, Nxb Lao động- xã hội, năm 2007 “Văn hóa kinh doanh” của tác giả Dương Thị Liễu, Nxb Đại học kinh tế quốc dân, Hà Nội, năm 2011.. Giáo trình “Môi trường kinh doanh và đạo đức kinh doanh” do Ngô Đình Giao (chủ biên), Nxb Giáo dục, năm 1997. Hội thảo “Đạo đức trong kinh doanh”, tháng 12 năm 2012, do Viện Triết học Việt Nam và Viện Triết học Trung Quốc phối hợp tổ chức 2.2. Về giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh doanh Đề cập tới nội dung giáo dục CMĐĐKD phải kể tới những công trình: Giáo trình Nguyên lý công tác tư tưởng, do Lương Khắc Hiếu (chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia (2008), Tham luận “Đạo đức kinh doanh ở Việt Nam: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của Nguyễn Hữu Đễ, Phạm Văn Đức với tham luận “Đạo đức kinh doanh: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của Việt Nam” đề cập tới trong Hội thảo “Đạo đức trong kinh doanh” do Viện triết học, Viện KHXH Việt Nam phối hợp với Viện Triết học, Viện Khoa học xã hội Trung Quốc (12 / 2012). Những nghiên cứu về giáo dục CMĐĐKD hầu như chưa nhiều. Các nghiên cứu mới chỉ tiếp cận nhỏ lẻ và bước đầu nhấn mạnh tới công tác giáo dục. 6 3. Những nghiên cứu về nông dân, nông dân Hà Nội và giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh doanh cho nông dân Hà Nội “Bước đầu tìm hiểu về tác động của đô thị hoá đến tâm lí người nông dân ven các đô thị”, Tạp chí Tâm lý học số 4/2006 của tác giả Mai Thế Thanh ;“Nông dân và Hội Nông dân Việt Nam trên đường hội nhập kinh tế quốc tế” của Vũ Ngọc Kỳ, Nxb Chính trị quốc gia (2007); “Đô thị hóa và lao động, việc làm ở Hà Nội”, Hoàng Văn Hoa, Nxb Lao động Xã hội, Hà Nội, 2007; Hội thảo “Nông dân Việt Nam trong quá trình hội nhập” do Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn tổ chức vào ngày 18/12/2007; “Việc làm của nông dân trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa vùng đồng bằng sông Hồng đến năm 2020” của Tiến sỹ Trần Minh Ngọc, Viện Kinh tế Việt Nam chủ trì thực hiện đề tài cấp Bộ (2009); “Nông nghiệp, nông thôn, nông dân Việt Nam trong quá trình phát triển đất nước theo hướng hiện đại” của Nguyễn Danh Sơn, Nxb Khoa học xã hội (2010), Báo cáo tổng quan đề tài khoa học cấp Nhà nước: “Một số vấn đề nông thôn Việt Nam trong điều kiện mới”, Đặng Kim Sơn., Hà Nội, 2010; Kỷ yếu hội thảo khoa học: “Những vấn đề kinh tế- xã hội ở nông thôn trong quá trình CNH,HĐH”, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội, 2010, Luận án tiến sĩ: “An sinh xã hội đối với nông dân trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam” của Mai Ngọc Anh, Hoàng Chí Bảo (2010), Dân chủ và dân chủ ở cơ sở nông thôn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 4. Nhận định về các kết quả nghiên cứu và những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu 4.1. Nhận định chung về các công trình nghiên cứu đã tổng quan - Nghiên cứu các vấn đề lý luận về văn hóa kinh doanh, ĐĐKD. - Nghiên cứu về những nhân tố tác động đến ĐĐKD và sự biến đổi các CMĐĐKD trong quá trình CNH,HĐH, phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế. - Nghiên cứu về thực trạng ĐĐKD và thực trạng giáo dục CMĐĐKD trong điều kiện hiện nay, bước đầu đề cập đến thực trạng, xu hướng biến đổi của ĐĐKD; thực trạng, giải pháp giáo dục CMĐĐKD cho các giai tầng xã hội trong đó có ND và ND Hà Nội. Do tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau nên kết quả nghiên cứu của các công trình, tài liệu nói trên còn một số vấn đề chưa thống nhất hoặc còn để ngỏ như sau: Thứ nhất, hầu hết các công trình, tài liệu chỉ đề cập tới ĐĐKD chứ chưa có công trình nào nghiên cứu cơ bản, hệ thống, sâu sắc về giáo dục ĐĐKD, nhất là giáo dục CMĐĐKD. Thứ hai, chưa có sự thống nhất cao về tiêu chí đánh giá các CMĐĐKD. 7 Thứ ba, đối tượng nghiên cứu của đa số các công trình chủ yếu là tầng lớp doanh nhân. Cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện về giáo dục CMĐĐKD cho ND Việt Nam và ND thành phố Hà Nội. Những công trình nêu trên là cơ sở lý luận vững chắc để tiếp tục đi sâu nghiên cứu những nội dung, phương thức và phương hướng, giải pháp giáo dục CMĐĐKD cho ND thành phố Hà Nội hiện nay. 4.2. Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu - Nghiên cứu cơ bản, hệ thống những vấn đề lý luận của giáo dục ĐĐKD. Xác định rõ các hướng tiếp cận khái niệm ĐĐKD để đưa ra khái niệm ĐĐKD chuẩn xác. - Nghiên cứu những yếu tố tác động đến sự hình thành ĐĐKD và giáo dục ĐĐKD. - Nghiên cứu về ĐĐKD, CMĐĐKD, giáo dục CMĐĐKD cho từng nhóm đối tượng tham gia hoạt động SXKD. - Nghiên cứu thực trạng và sự biến đổi của các CMĐĐKD trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế; thực trạng giáo dục ĐĐKD, thực trạng giáo dục CMĐĐKD và kinh nghiệm, những vấn đề đặt ra trong giáo dục CMĐĐKD XHCN. - Nghiên cứu về mục tiêu, phương hướng, quan điểm, giải pháp giáo dục CMĐĐKD XHCN cho ND nói chung và ND ở các vùng miền đất nước, ND hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau của ngành nông nghiệp nước ta. Với việc chỉ ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, có thể khẳng định, đề tài luận án đã xác định được một hướng đi riêng, không trùng lặp với bất cứ công trình nào đã nghiên cứu trước đây. Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC CHUẨN MỰC ĐẠO ĐỨC KINH DOANH CHO NÔNG DÂN VIỆT NAM 1.1. Đạo đức kinh doanh và chuẩn mực đạo đức kinh doanh 1.1.1. Đạo đức kinh doanh 1.1.1.1. Một vài nét về sự phát triển của phạm trù đạo đức kinh doanh Ở phương Tây, ĐĐKD xuất phát từ những tín điều của Tôn giáo. Trước thập kỷ 60 của thế kỷ trước, khởi đầu bằng các vấn đề do các giáo phái đưa ra. Những năm 70, 80 của thế kỷ XX ĐĐKD trở thành một lĩnh vực nghiên cứu độc lập. Vào những năm 90 người ta đã bắt đầu thể chế hóa ĐĐKD. Từ năm 2000 đến nay ĐĐKD trở thành lĩnh vực nghiên cứu mới đang được phát triển. 1.1.1.2. Khái niệm đạo đức kinh doanh ĐĐKD là hệ thống các nguyên tắc, chuẩn mực, tiêu chuẩn trong lĩnh vực kinh doanh được con người thừa nhận nhằm kiểm soát, đánh giá, phán 8 xét và điều chỉnh hành động, hành vi kinh doanh của các cá nhân, một nhóm người hay một nhóm nghề nghiệp nhất định trong mối quan hệ kinh doanh. 1.1.2. Chuẩn mực đạo đức kinh doanh 1.1.2.1. Quan niệm về chuẩn mực đạo đức kinh doanh CMĐĐKD là hệ thống những nguyên tắc, quy tắc, yêu cầu trong hoạt động SXKD, được xã hội thừa nhận trở thành những khuôn mẫu nhằm kiểm soát, xem xét, đánh giá, điều chỉnh hành vi của các nhà kinh doanh hướng tới mục tiêu phát triển bền vững. 1.1.2.2. Nội dung các chuẩn mực đạo đức kinh doanh xã hội chủ nghĩa - Kinh doanh đúng pháp luật Kinh doanh cần hướng tới mục tiêu lợi nhuận, nhưng quan trọng hơn phải bảo đảm an toàn pháp lý. - Kinh doanh trung thực và ngay thẳng, đáp ứng các nhu cầu chính đáng, tiến bộ của cuộc sống. Tiêu chí này bao gồm: Thứ nhất, không dùng các thủ đoạn gian dối, xảo trá để kiếm lời; Thứ hai, cung cấp thông tin trung thực về sản phẩm; Thứ ba, trung thực, ngay thẳng trong giao tiếp với bạn hàng; Thứ tư, trung thực ngay cả với bản thân mình. - Giữ đúng chữ tín trong SXKD Chữ tín, về cơ bản là giữ lời, thực hiện cam kết, có được lòng tin từ những người khác. Chính vì vậy, chữ tín vừa thuộc về phạm trù kinh tế, vừa thuộc về phạm trù đạo đức. - Xây dựng mối quan hệ hợp tác bình đẳng, thực hiện cạnh tranh lành mạnh. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có. Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi, nhưng trên cơ sở phải là lành mạnh, cạnh tranh theo đúng quy định của pháp luật, đạo đức xã hội, ĐĐKD. - Sử dụng nguồn lực một cách hợp lý và có hiệu quả. Các nguồn lực đưa vào kinh doanh có vai trò quyết định, quan trọng trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Kinh doanh tức là đầu tư nguồn lực vào một lĩnh vực nào đó nhằm tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp. Nguồn lực sử dụng một cách tiết kiệm, hợp lý cũng là biểu hiện của ĐĐKD. - Nâng cao về chất lượng, hạ giá thành sản phẩm Nâng cao chất lượng sản phẩm gắn với việc hạ giá thành sản phẩm không chỉ nâng cao uy tín của chủ thể, làm tăng khả năng cạnh tranh của 9 sản phẩm mà còn đảm bảo sử dụng tiết kiệm, hợp lý nguồn nguyên vật liệu, sức lao động, nguồn vốn của xã hội, giảm khả năng gây ô nhiễm môi trường để thoả mãn nhu cầu của khách hàng. Đây là một trong những tiêu chuẩn của ĐĐKD. - Tìm kiếm lợi nhuận trên cơ sở quan tâm đến lợi ích cộng đồng và xã hội. Vấn đề này liên quan mật thiết với khái niệm “trách nhiệm xã hội”. Cụ thể, các doanh nghiệp phải tuân thủ các nguyên tắc sau: Thứ nhất, bảo vệ môi trường tự nhiên; Thứ hai, bảo vệ môi trường văn hóa- xã hội; Thứ ba, tham gia hoạt động xã hội từ thiện. - Tích cực tham gia vào cuộc đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực trong đạo đức kinh doanh. Cuộc đấu tranh khắc phục các hiện tượng tiêu cực trong hoạt động SXKD và trong ĐĐKD không chỉ là một đòi hỏi khách quan của quá trình xây dựng nền kinh tế mới ở nước ta, mà còn là đòi hỏi của sự nghiệp xây dựng nền đạo đức mới XHCN. Đây là một tiêu chí, một chuẩn mực của ĐĐKD trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. 1.2. Quan niệm và các yếu tố cấu thành hoạt động giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh doanh cho nông dân Việt Nam 1.2.1. Quan niệm về giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh doanh cho nông dân 1.2.1.1. Khái niệm giáo dục Giáo dục là quá trình tổ chức có ý thức, hướng tới mục đích khơi gợi hoặc biến đổi nhận thức, năng lực, tình cảm, thái độ của chủ thể và đối tượng theo hướng tích cực. 1.2.1.2. Khái niệm giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh doanh Giáo dục CMĐĐKD là sự tác động có mục đích, có định hướng của chủ thể giáo dục đến các cá nhân, tổ chức tham gia hoạt động SXKD nhằm hình thành ở họ nhận thức, tình cảm, thái độ, động cơ và hành vi ĐĐKD phù hợp với các chuẩn mực đạo đức hiện hành trong xã hội. 1.2.1.3. Khái niệm nông dân, nông dân kinh doanh và giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh doanh cho nông dân Giai cấp ND là giai cấp những người lao động sản xuất trong nông nghiệp (bao gồm cả lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp), trực tiếp sử dụng một tư liệu sản xuất cơ bản và đặc thù, gắn với thiên nhiên là đất, rừng và biển để sản xuất ra sản phẩm nông nghiệp. Giáo dục CMĐĐKD cho ND là sự tác động có mục đích, có định hướng của chủ thể giáo dục đến người ND tham gia hoạt động SXKD nhằm hình thành ở họ nhận thức, tình cảm và hành vi ĐĐKD phù hợp với các chuẩn mực đạo đức hiện hành trong xã hội. 10 1.2.2. Các yếu tố cấu thành giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh doanh cho nông dân 1.2.2.1. Chủ thể giáo dục Ở nước ta có nhiều chủ thể tham gia giáo dục CMĐĐKD cho ND. Các chủ thể giáo dục CMĐĐKD cho ND bao gồm: chủ thể lãnh đạo, quản lý; chủ thể tham mưu, chỉ đạo, kiểm tra; chủ thể trực tiếp giáo dục; chủ thể là người ND. 1.2.2.2. Đối tượng giáo dục Đối tượng giáo dục CMĐĐKD cho ND là những người ND tham gia hoạt động SXKD hoặc có liên quan đến hoạt động SXKD. 1.2.2.3. Nội dung giáo dục Thứ nhất, giáo dục những quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng ta về đạo đức, ĐĐKD và CMĐĐKD. Thứ hai, giáo dục các CMĐĐKD XHCN. Thứ ba, giáo dục những giá trị ĐĐKD truyền thống tốt đẹp của dân tộc và những giá trị ĐĐKD tiến bộ của nhân loại. Thứ tư, giáo dục ý thức và tính tích cực đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực trong SXKD của người ND. 1.2.2.4. Phương pháp giáo dục Phương pháp sử dụng trong giáo dục CMĐĐKD bao gồm các phương pháp như: nhóm phương pháp giáo dục dùng lời nói, nhóm phương pháp giáo dục trực quan và nêu gương, nhóm phương pháp thực tiễn, nhóm phương pháp giáo dục cá nhân và giáo dục nhóm, nhóm phương pháp giáo dục đại chúng 1.2.2.5. Hình thức giáo dục Trong giáo dục CMĐĐKD cho ND, xuất phát từ đặc điểm ND, nhất là đặc điểm SXKD, đặc điểm sinh hoạt và lối sống nông thôn, đặc điểm về trình độ nhận thức, tình cảm, truyền thống, tập quán cũng như trình độ, khả năng sử dụng các hình thức của các chủ thể giáo dục, các lực lượng tham gia giáo dục, môi trường, không gian văn hóa nông thôn, có thể sử dụng các hình thức sau: hình thức cá nhân, hình thức nhóm, hình thức đại chúng, hình thức trực tiếp và hình thức gián tiếp. 1.2.2.6. Phương tiện giáo dục Trong giáo dục CMĐĐKD cho ND thường sử dụng phương tiện sau: tuyên truyền miệng và hệ thống báo cáo viên, tuyên truyền viên; các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội, xã hội – nghề nghiệp, xã hội và sinh hoạt, hội họp cũng như những hình thức đào tạo, bồi dưỡng của các tổ chức trên; các thiết chế văn hóa và hoạt động của các thiết chế đó, coi trọng thiết chế và hoạt động truyền thống, phù hợp đặc điểm nông thôn, ND, các phương tiện truyền thông đại chúng, các loại hình giao tiếp xã hội 11 1.2.2.7. Kết quả giáo dục Kết quả giáo dục CMĐĐKD cho ND được thể hiện ở những tiêu chí sau: (1) Tri thức về ĐĐKD của nông dân; (2) Tình cảm ĐĐKD của ND; (3) Hành vi ĐĐKD đúng đắn của người ND. 1.3. Sự cần thiết phải giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh doanh cho nông dân 1.3.1. Xuất phát từ vai trò của giai cấp nông dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ND là lực lượng sản xuất chính tạo ra của cải vật chất, là lực lượng quan trọng góp phần làm nên những thắng lợi to lớn trong lịch sử đấu tranh cách mạng, là lực lượng trực tiếp nhất thực hiện những chủ trương, chính sách về nông nghiệp, nông thôn trong thời kỳ đổi mới và là lực lượng góp phần quan trọng sáng tạo, duy trì và bảo tồn những giá trị vật chất, tinh thần truyền thống văn hoá của dân tộc. 1.3.2. Xuất phát từ vai trò của giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh doanh cho nông dân trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN - Giáo dục CMĐĐKD là một điều kiện đảm bảo cho nền kinh tế phát triển theo đúng định hướng XHCN, là một nội dung của quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta. - Giáo dục CMĐĐKD cho người ND là một yêu cầu của quá trình CNH, HĐH nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới. - Giáo dục CMĐĐKD XHCN cho ND là biện pháp cơ bản nhằm hạn chế những tác động tiêu cực từ mặt trái của kinh tế thị trường. 1.3.3. Xuất phát từ vai trò của giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh doanh cho nông dân trong việc xây dựng giai cấp ND và xây dựng nền đạo đức mới- XHCN - Giáo dục CMĐĐKD cho ND- một nội dung quan trọng của việc xây dựng giai cấp ND nước ta hiện nay - Giáo dục CMĐĐKD cho ND nhằm phát huy những giá trị ĐĐKD truyền thống tốt đẹp của người ND và góp phần xây dựng nền đạo đức mới XHCN Kết luận chương 1 CMĐĐKD là hệ thống những nguyên tắc, quy tắc, yêu cầu trong hoạt động SXKD, được xã hội thừa nhận như là những khuôn mẫu nhằm kiểm soát, đánh giá, điều chỉnh hành vi của người kinh doanh hướng tới mục tiêu phát triển bền vững. Các CMĐĐKD từ góc độ nghiên cứu của khoa học công tác tư tưởng bao gồm: (1) Kinh doanh đúng pháp luật; (2) Kinh doanh trung thực, ngay thẳng, đáp ứng nhu cầu chính đáng, tiến bộ của con người; (3) Giữ 12 đúng chữ tín trong kinh doanh; (4) Xây dựng mối quan hệ hợp tác, bình đẳng, thực hiện cạnh tranh lành mạnh; (5) Sử dụng nguồn lực hợp lý, hiệu quả; (6) Chất lượng sản phẩm cao, giá thành sản phẩm hạ; (7) Tìm kiếm lợi nhuận trên cơ sở quan tâm đến lợi ích cộng đồng; (8) Tích cực tham gia vào cuộc đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực trong SXKD. Giáo dục CMĐĐKD cho ND là sự tác động có mục đích, có định hướng của chủ thể giáo dục đến người ND tham gia hoạt động SXKD nhằm hình thành ở họ nhận thức, tình cảm và hành vi ĐĐKD phù hợp với các chuẩn mực đạo đức hiện hành trong xã hội. Giáo dục CMĐĐKD từ góc độ của khoa học công tác tư tưởng được cấu thành bởi các yếu tố: chủ thể, đối tượng, mục đích, nội dung, hình thức, phương pháp, phương tiện và kết quả hoặc hiệu quả giáo dục. Giáo dục CMĐĐKD cho ND nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển giai cấp ND và hướng biến đổi của bản thân giai cấp ND trong thời kỳ mới. Giáo dục CMĐĐKD để nâng cao trình độ nhận thức cho ND, tạo điều kiện để họ nhận thức sâu sắc hơn vị thế, vai trò của mình trong phát triển kinh tế - xã hội. Giáo dục CMĐĐKD cho ND còn xuất phát từ yêu cầu xây dựng nền đạo đức XHCN. Giáo dục CMĐĐKD được thực hiện đồng bộ, thường xuyên, hiệu quả sẽ là biện pháp cơ bản nhằm hạn chế những biểu hiện tiêu cực do mặt trái cơ chế thị trường sản sinh ra. Chương 2 THỰC TRẠNG GIÁO DỤC CHUẨN MỰC ĐẠO ĐỨC KINH DOANH CHO NÔNG DÂN HÀ NỘI 2.1. Những yếu tố tác động tới giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh doanh cho nông dân Hà Nội hiện nay 2.1.1 Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế là xu thế tất yếu của thời đại, đang ảnh hưởng lớn đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Hoạt động kinh doanh chịu ảnh hưởng trực tiếp nhất của xu hướng toàn cầu hóa. Mặt trái của toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế cùng những tác động tiêu cực của chúng đặt ra bài toán phải giáo dục CMĐĐKD cho các chủ thể kinh doanh. 2.1.2. Phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN Kinh tế thị trường vừa tạo ra những cơ hội nhưng cũng không ít thách thức đối với ND trong hoạt động SXKD. Đặc biệt mặt trái của kinh tế thị trường là mảnh đất tốt mà từ đó những mặt tiêu cực trong đạo đức, lối sống của họ có cơ hội hồi sinh, phát triển. Nó biểu hiện ở lối sống thực dụng, chỉ coi trọng những giá trị vật chất và xem thường những giá trị tinh thần, đạo đức. 2.1.3. Đổi mới hệ thống chính trị và dân chủ hóa các lĩnh vực đời sống xã hội 13 Dân chủ hóa đời sống xã hội đem lại sự phát triển thuận chiều đối với đạo đức. Nhờ thực hiện dân chủ hóa, đổi mới hệ thống chính trị, những biến đổi tích cực về đạo đức như tinh thần trách nhiệm, tính tích cực trong hoạt động kinh tế và hoạt động chính trị - xã hội được nâng cao, nếp sống văn hóa, thuần phong mỹ tục được gìn giữ và phát huy. Điều này tạo thuận lợi cho giáo dục CMĐĐKD cho ND. 2.1.4. Quá trình đô thị hóa và xây dựng nông thôn mới Đô thị hóa cũng như quá trình xây dựng nông thôn mới đã mang lại cho người ND diện mạo mới. Đời sống kinh tế - xã hội của người ND đang dần được cải thiện. Tuy nhiên nhiều vấn đề đã, đang và sẽ nảy sinh đòi hỏi giải quyết để đảm bảo sự phát triển bền vững của thủ đô. Những vấn đề cấp bách như việc làm, phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội, sự phân hóa giàu nghèo, các tệ nạn xã hội, ô nhiễm môi trường, vi phạm ĐĐKD đang đặt ra cho các nhà giáo dục, các nhà quản lý và hoạch định chính sách những thách thức mới. 2.1.5. Đặc điểm tình hình sản xuất kinh doanh của nông dân Hà Nội ND Hà Nội hiện nay chiếm khoảng 60- 63% lực lượng lao động trên địa bàn. ND thành phố tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành của Chính phủ, tích cực thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về hoạt động SXKD nông nghiệp. Trước bối cảnh kinh tế, xã hội trong nước có nhiều biến động, ND vẫn giữ được những tập quán SXKD truyền thống. Tuy nhiên, hoạt động SXKD của ND thành phố vẫn còn một số đặc điểm như: trình độ thâm canh sản xuất nông nghiệp bị chi phối, ảnh hưởng bởi tư duy kinh nghiệm, bởi tập quán cổ truyền; năng lực cạnh tranh còn hạn chế; thiếu thông tin thị trường và kiến thức về pháp luật; việc ND liên kết, hỗ trợ lẫn nhau trong sản xuất và tiêu thụ nông sản còn rời rạc, chưa chặt chẽ; một bộ phận ND còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước 2.2. Giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh doanh cho nông dân Hà Nội hiện nay: Thành tựu, hạn chế 2.2.1. Thành tựu 2.2.1.1. Sự quan tâm ngày càng tăng và cụ thể của cấp ủy đảng, chính quyền đối với giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh doanh cho nông dân Hà Nội Sự quan tâm của cấp ủy đảng, chính quyền được thể hiện: một là, thường xuyên quán triệt các nghị quyết, văn bản quy phạm pháp luật tới các cán bộ, đảng viên, các cơ sở SXKD của ND; hai là, đội ngũ cán bộ giáo dục được quan tâm xây dựng và củng cố; ba là, tăng cường các nguồn lực để nâng cao hiệu quả của hoạt động giáo dục CMĐĐKD cho ND. 2.2.1.2. Đội ngũ cán bộ làm công tác giáo dục tăng về số lượng và từng bước nâng cao về chất lượng 14 Về số lượng: cán bộ Hội ND với 65 báo cáo viên pháp luật cấp thành phố, 212 báo cáo viên pháp luật cấp huyện, 1.834 tuyên truyền viên cán bộ cấp xã; 386/584 xã, phường, thị trấn có cấp Hội cơ sở với 3.318 chi hội; gần 300 cán bộ khuyến nông. Bên cạnh đó các tổ chức như Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh cũng là những lực lượng tham gia tích cực vào công tác giáo dục CMĐĐKD. Về chất lượng: đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên của thành phố đều có trình độ đại học trở lên. Hằng năm, các cán bộ chủ chốt của Hội ND được đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ hoạt động. Từ năm 2011 đến năm 2016 Hội ND thành phố phối hợp với Trường Đào tạo cán bộ Lê Hồng Phong mở 34 lớp cho 5.500 cán bộ chuyên trách từ thành phố đến cơ sở với nhiều nội dung thiết thực, phù hợp với yêu cầu mới. 2.2.1.3. Nội dung giáo dục phù hợp với đối tượng, thuyết phục và từng bước đổi mới Một là, thường xuyên giáo dục quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về ĐĐKD và CMĐĐKD. Trong 2 năm 2015, 2016 đã tổ chức hơn 100 cuộc hội thảo, hội nghị lớn, nhỏ trên địa bàn thành phố với sự tham gia của các sở, ban ngành, các chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực nông nghiệp cùng nhiều đại biểu nông dân. Các phương tiện truyền thông đại chúng tích cực tuyên truyền, giáo dục các quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Hai là, tập trung giáo dục nội dung các CM ĐĐKD. - Giáo dục pháp luật trong SXKD Nội dung giáo dục tập trung vào các văn bản Luật; phối hợp tuyên truyền, giáo dục ý thức tích cực tham gia giám sát, phát hiện, tố giác các tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật đồng thời phát hiện những nhân tố mới để phổ biến, nhân rộng. - Giáo dục người ND kinh doanh trung thực, giữ chữ tín Các nội dung giáo dục tính trung thực, ngay thẳng , giữ chữ tín được thể hiện thông qua các đề án, các chương trình như : liên kết “4 nhà”, bảo hộ nhãn hiệu nông sản hay chính sách tiêu thụ nông sản thông qua hợp đồng tiêu thụ. - Giáo dục người ND sử dụng nguồn lực một cách hợp lý và có hiệu quả, hướng tới việc nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm, đảm bảo lợi ích người tiêu dùng. Tập trung giáo dục những vấn đề về bảo vệ môi trường, hướng tới mô hình nông nghiệp “sạch”. - Tạo ra các mô hình, phong trào ND thi đua kinh doanh, sản xuất theo hướng vươn lên làm giàu chính đáng. 15 Với 2.709 hộ ND đạt danh hiệu SXKD giỏi chiếm 61% so với số hộ nông nghiệp trong đó có 150 hộ ND đạt danh hiệu SXKD giỏi cấp thành phố, 420 hộ SXKD giỏi cấp huyện và 2.139 hộ cấp cơ sở cho thấy những năm qua phong trào ND thi đua SXKD giỏi mang lại không chỉ kết quả trong GDCMĐĐKD mà còn mang lại hiệu quả kinh tế, xã hội. - Giáo dục người ND ý thức trách nhiệm, quan tâm đến lợi ích của cộng đồng và xã hội. Với việc triển khai dự án “Nâng cao nhận thức, kiến thức bảo vệ môi trường cho cán bộ, hội viên, ND Việt Nam” do Trung ương Hội ND Việt Nam phát động đã tác động đến nhận thức, thay đổi hành vi, thói quen lạc hậu ảnh hưởng xấu đến môi trường tại các làng nghề, góp phần bảo vệ môi trường xanh, sạch, đẹp, nâng cao sức khỏe, đời sống của người dân, đảm bảo môi trường sinh thái phát triển bền vững. Ba là, giáo dục những giá trị ĐĐKD truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Các hoạt động như: ND với phong trào thi đua yêu nước; ND thi đua xây dựng nông thôn mới; phong trào ND tham gia đoàn kết, bảo đảm quốc phòng, anh ninh.đã trở thành những hoạt động giúp người ND phát huy những giá trị đạo đức truyền thống trong kinh doanh như lòng yêu nước, yêu quê hương; tính cộng đồng; tính trung thực; cần cù, tiết kiệm. Bốn là, giáo dục ND tích cực tham gia vào cuộc đấu tranh chống tiêu cực và các hiện tượng vi phạm CMĐĐKD. Trong 199 người được hỏi về thái độ khi chứng kiến hiện tượng vi phạm ĐĐKD có 90 người (chiếm 45,2%) cho rằng họ sẽ góp ý trực tiếp, 58 người (chiếm 29,1%) nêu quan điểm họ sẽ báo cáo với chính quyền địa phương, có 10 người (chiếm 5%) cho rằng họ làm thì mình cũng làm theo. Tuy nhiên, có tới 41 người (chiếm 20,7%) có thái độ dửng dưng và không quan tâm. Điều đó, chứng tỏ tuyệt đại đa số người ND đã có ý thức trong cuộc đấu tranh với những tiêu cực, nhưng một bộ phận không nhỏ còn có biểu thờ ơ, vô cảm trước các hiện tượng vi phạm CMĐĐKD. 2.2.1.4. Phương pháp, hình thức giáo dục khá đa dạng, phong phú; phương tiện tương đối đầy đủ, đảm bảo về cơ bản yêu cầu giáo dục - Về phương pháp: các phương pháp được sử dụng nhiều và có hiệu quả được đánh giá như sau: phương pháp hiệu quả với nhóm phương pháp dùng lời (64,8 %), nhóm phương pháp trực quan (63,8%), nhóm phương pháp thực tiễn (62,8%). - Về hình thức: tổ chức tập huấn, cung cấp tài liệu sinh hoạt chi hội, phát tờ rơi, sổ tay hỏi đáp và tư vấn pháp luật, tổ chức các cuộc thi tìm hiểu pháp luật, thành lập các câu lạc bộ “ND với pháp luật”, thông qua mạng lưới truyền thanh cơ sở, thông qua qui ước, hương ước của làng văn hóa, xây dựng tủ sách pháp luật 16 - Về phương tiện: phát huy ưu thế của tất cả các phương tiện như: tuyên truyền miệng, các hoạt động văn hóa- văn nghệ nhất là văn nghệ truyền thống, sinh hoạt, hội họp của các tổ chức. Ưu tiên phát huy vai trò của các phương tiện truyền thông đại chúng, đặc biệt là báo in, phát thanh, truyền hình với nội dung phong phú, thời lượng phù hợp với đặc điểm ND, tần suất ngày càng tăng. 2.2.1.5. Đạo đức kinh doanh của nông dân từng bước được nâng cao rõ rệt Về nhận thức đạo đức. Theo số liệu điều tra, trong 199 ND được hỏi, có 80,4% cho rằng đã được nghe tới khái niệm ĐĐKD, 49,7% cho rằng: ĐĐKD là kinh doanh đúng pháp luật, 23,6% cho rằng ĐĐKD là góp phần bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng, 13,1% cho biết: ĐĐKD là những nguyên tắc, chuẩn mực điều chỉnh hành vi của chủ thể kinh doanh và 11,6% người cho rằng đó là hoạt động kiếm lời dựa trên những giá trị nhân văn. Về tình cảm đạo đức: 82,4 % người ND quan tâm tới vấn đề phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn; 72,5% bày tỏ thái độ bất bình trước các biểu hiện tiêu cực trong hoạt động SXKD nông nghiệp; 65 % trả lời quan tâm đến việc tìm hiểu quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với nông nghiệp, nông thôn. Về hành vi đạo đức kinh doanh: Theo tài liệu thống kê của Hội ND thành phố Hà Nội, hàng năm có hàng trăm ND tham gia các hoạt động, phong trào như: ND thi đua SXKD giỏi, đoàn kết giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững; phong trào ND thi đua xây dựng nông thôn mới; phong trào ND tham gia bảo đảm quốc phòng, an ninh 2.2.2. Hạn chế 2.2.2.1. Nhận thức của cấp ủy và chính quyền cùng các tổ chức chính trị- xã hội về giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh doanh cho nông dân chưa thật sự đầy đủ, đúng mức Trong cuộc khảo sát đối với các chủ thể tiến hành giáo dục CMĐĐKD cho ND, số liệu điều tra cho thấy: 65% cơ quan, đơn vị có thực hiện công tác giáo dục ĐĐKD cho ND, 35% trả lời chưa thực hiện công tác này. Điều này cho thấy, trên 1/3 số đơn vị trên địa bàn, cấp ủy đảng và chính quyền chưa nhận thức hết tầm quan trọng của giáo dục CMĐĐKD cho ND. 2.2.2.2. Năng lực cán bộ làm công tác giáo dục còn hạn chế, bất cập Số cán bộ trực tiếp làm công tác khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, giáo dục, phổ biến kinh nghiệm, kiến thức, đạo đức trong SXKD còn rất ít. Nhiều xã, thôn chưa có báo cáo viên, tuyên truyền viên, khuyến nông viên. Chất lượng hoạt động của một số báo cáo viên, tuyên truyền viên chưa cao. Đa số cán bộ cơ sở nông thôn mới chỉ đáp ứng được nhu cầu quản lý một nền sản xuất nhỏ, phạm vi hẹp với một số lượng dân cư không 17 nhiều; quản lý theo mệnh lệnh hành chính, theo những kế hoạch từ trên xuống. 2.2.2.3. Nội dung giáo dục chưa thật sự cụ thể, thiết thực, còn mang tính chung chung, thiếu sâu sắc Hiện nay, do chưa có sự thống nhất trong việc xây dựng bộ nguyên tắc về CMĐĐKD nên công tác giáo dục gặp rất nhiều khó khăn. Nội dung giáo dục còn mang tính thụ động, máy móc, có phần khiên cưỡng, chưa sát thực tiễn nên phần lớn ND khó tiếp thu, thậm chí còn không biết, không quan tâm. Số liệu khảo sát cho thấy 45,3% cho rằng nội dung giáo dục ít bổ ích. 2.2.2.4. Hình thức, phương pháp, phương tiện tuyên truyền, giáo dục nhìn từ nhiều phương diện còn đơn điệu, thiếu tính thuyết phục, chưa thật sự hấp dẫn Các hình thức mới chỉ dừng lại ở tính phong trào, thi đua, chưa thực chất đi vào đời sống của bà con ND. Phương pháp, giáo dục vẫn mang tính một chiều, áp đặt, khô cứng, chưa tạo được sự hấp dẫn tới ND. Phương tiện giáo dục còn đơn điệu, chưa thu hút được sự quan tâm của người ND. 2.2.2.5. Nhận thức, tình cảm và hành vi đạo đức của người nông dân trong hoạt động sản xuất kinh doanh còn nhiều mặt hạn chế Về nhận thức, một bộ phận ND còn mơ hồ về thực hiện các chuẩn mực đạo đức trong hoạt động SXKD. Biểu hiện rõ nhất là nhận thức hạn chế về pháp luật, về chữ tín, về cạnh tranh lành mạnh và bảo vệ, quan tâm lợi ích cộng đồng Về tình cảm đạo đức, thái độ bàng quan, vô cảm, không dám đấu tranh trước những hành vi vi phạm đạo đức trong SXKD cũng là những biểu hiện sự xuống cấp về đạo đức trong một bộ phận ND hiện nay. Về hành vi đạo đức. Biểu hiện rõ nhất là hiện tượng vi phạm pháp luật trong SXKD. Sản xuất nông sản phẩm với bất cứ giá nào, xem thường pháp luật, xem thường lợi ích và sức khỏe cộng đồng. Kết luận chương 2 Giáo dục CMĐĐKD cho ND Hà Nội, cũng như nhiều hoạt động giáo dục tư tưởng, đạo đức khác, chịu sự tác động của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan. Những năm qua, giáo dục CMĐĐKD cho ND Hà Nội đạt được nhiều kết quả quan trọng trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, trong việc xây dựng, phát triển và phối hợp lực lượng giáo dục, trong thiết kế, xây dựng nội dung, lựa chọn, sử dụng, phối hợp, cải tiến, đổi mới các hình thức, phương pháp, phương tiện giáo dục. Kết quả là trình độ nhận thức, tình cảm và hành vi ĐĐKD của ND Hà Nội từng bước được nâng cao hơn. Các chuẩn mực, các nguyên tắc ĐĐKD XHCN được hình thành, được định hình và chính chúng đã trở thành yếu tố quan trọng, tạo 18 nên động lực và sự lành mạnh cho sự phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Hà Nội. Tuy nhiên, nhận thức của cấp ủy, chính quyền và các tổ chức chính trị - xã hội về giáo dục CMĐĐKD vẫn chưa đầy đủ, xứng tầm với vai trò quan trọng của nó trong phát triển kinh tế - xã hội; năng lực cán bộ tham gia công tác giáo dục còn nhiều hạn chế, bất cập; nội dung giáo dục chưa thật cụ thể, thiết thực, thiếu tính hệ thống; hình thức, phương pháp, phương tiện còn nghèo nàn, đơn điệu, chưa phong phú, sinh động, phù hợp với ND và môi trường nông thôn; nhận thức, tình cảm và hành vi ĐĐKD của người ND có nhiều mặt chưa đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới, người ND mới và nền đạo đức XHCNKhắc phục những hạn chế này cần có hệ thống quan điểm, giải pháp đồng bộ và được tiến hành thường xuyên, liên tục. Chương 3 NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG GIÁO DỤC CHUẨN MỰC ĐẠO ĐỨC KINH DOANH CHO NÔNG DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY 3.1. Những vấn đề đặt ra trong giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh doanh cho nông dân Hà Nội hiện nay Một là, mâu thuẫn giữa yêu cầu ngày càng bức thiết của giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh doanh cho nông dân trong thời kỳ phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập với nhận thức chưa đầy đủ của các chủ thể giáo dục về vai trò của hoạt động này. Hai là, mâu thuẫn giữa những đòi hỏi mang tính chuẩn mực của giáo dục đạo đức kinh doanh với những biến đổi theo xu hướng tiêu cực của môi trường giáo dục. Ba là, mâu thuẫn giữa tính mới mẻ, toàn diện của nội dung giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh doanh với sự hiểu biết chưa thật đầy đủ, sâu sắc của các chủ thể về nội dung giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh doanh. Bốn là, mâu thuẫn giữa yêu cầu về tính đa dạng, thường xuyên đổi mới của phương pháp, hình thức giáo dục với sự đơn điệu, sáo mòn, lạc hậu của các phương pháp, hình thức hiện được sử dụng trong giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh doanh. Năm là, mâu thuẫn giữa tính tích cực, chủ động, tự giác của người nông dân với tư cách chủ thể tiếp nhận tác động giáo dục với tính thụ động, thờ ơ của chính người nông dân với tư cách là đối tượng của hoạt động giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh doanh. 3.2. Quan điểm về giáo dục đạo đức kinh doanh cho nông dân Hà Nội hiện nay 19 3.2.1. Giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh doanh cho nông dân Hà Nội là trách nhiệm của Đảng, của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội và của bản thân mỗi người nông dân Giáo dục CMĐĐKD cho ND là công việc của nhiều chủ thể, nhiều cấp, nhiều ngành, đòi hỏi phải phát huy đầy đủ vai trò và sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị. Tuy nhiên, tính chủ động, tích cực của người ND trong nhận thức và xây dựng các CMĐĐKD đóng vai trò quyết định. 3.2.2. Giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh doanh cho nông dân gắn liền với xây dựng giai cấp nông dân và xây dựng nông thôn mới Gắn liền việc giáo dục CMĐĐKD cho ND với xây dựng giai cấp ND và xây dựng nông thôn mới cũng có nghĩa là phải coi nội dung giáo dục đạo đức mới trong đó có giáo dục CMĐĐKD cho ND là một bộ phận không tách rời của giáo dục ý thức XHCN cho ND và của chính sách xây dựng giai cấp ND Việt Nam hiện nay. 3.2.3. Giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh doanh gắn với giáo dục và xây dựng đạo đức xã hội Giáo dục CMĐĐKD góp phần trực tiếp tạo nên lực lượng ND có đủ chất lượng nhân văn, nhân đạo, nhân bản để sống và lao động trong CNXH và vì CNXH, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn. Gắn giáo dục CMĐĐKD với đạo đức xã hội cần phải làm cho mỗi người ND tự giác, hăng say và trách nhiệm với hoạt động SXKD của mình; làm nảy nở trong họ những tình cảm trong sáng, cao đẹp của sự hướng thiện, khát vọng đạt tới cái đúng, cái tốt, cái đẹp. Gắn giáo dục CMĐĐKD với giáo dục đạo đức xã hội còn góp phần đấu tranh khắc phục sự suy thoái đạo đức trong xã hội ta. 3.2.4. Giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh doanh phải kế thừa truyền thống tốt đẹp trong đạo đức kinh doanh của dân tộc và tiếp thu tinh hoa đạo đức kinh doanh nhân loại Trong xu thế đổi mới, hội nhập, những giá trị về ĐĐKD truyền thống càng phải được giữ gìn và phát huy. Đây là vũ khí sắc bén giúp các nhà kinh doanh đứng vững trên thị trường và chiến thắng đối thủ cạnh tranh. Hơn nữa, giáo dục CMĐĐKD phải kế thừa những giá trị đạo đức truyền thống nói chung và ĐĐKD truyền thống nói riêng. Đây là những giá trị cốt lõi làm nên bản sắc trong hoạt động SXKD của người Việt. 3.2.5. Giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh doanh là quá trình lâu dài, được tiến hành thường xuyên nhưng phải thực hiện ngay và quyết liệt 20 Hiện nay, những vi phạm CMĐĐKD đã đến mức báo động, do đó hoạt động giáo dục phải thực hiện ngay và thường xuyên, nhiều lần với nội dung phong phú và bằng nhiều hính thức, phương pháp, phương tiện. 3.3. Giải pháp tăng cường giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh doanh cho nông dân Hà Nội hiện nay 3.3.1. Nhóm giải pháp tác động vào điều kiện xã hội khách quan 3.3.1.1. Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với tính chất là cơ sở của đạo đức kinh doanh Thứ nhất, hoàn thiện thể chế về huy động, phân bổ, sử dụng có hiệu quả nguồn lực và thể chế về phân phối kết quả làm ra để giải phóng sức sản xuất, tạo động lực cho tăng trưởng, phát triển, bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, quốc phòng, anh ninh quốc gia Thứ hai, hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh Thứ ba, hoàn thiện thể chế về phát triển và ứng dụng khoa học- công nghệ, về giáo dục- đào tạo, phát triển nguồn nhân lực. Thứ tư, đổi mới vai trò, chức năng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nền kinh tế và năng lực kiến tạo sự phát triển của Nhà nước, đặc biệt là năng lực, hiệu quả thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật của Nhà nước. Năm là, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, hoàn thiện thể chế kiểm soát quyền lực, tinh giản bộ máy, biên chế, xây dựng đội ngũ cán bộ có năng lực, phẩm chất, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ; nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của toàn hệ thống chính trị. 3.3.1.2. Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn, tích cực thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới ở ngoại thành Hà Nội Trước hết, cần phân tích rõ ràng những khó khăn, nguyên nhân và tìm ra những điểm mấu chốt cần phải tác động để tạo ra những chuyển biến đáng kể nhằm đưa đời sống địa phương đi lên. Cấp ủy Đảng, chính quyền cần giúp đỡ một cách thiết thực cho ND như đầu tư giống cây, con; tạo điều kiện cho bà con vay vốn phát triển kinh tế; cán bộ khuyến nông giúp đỡ bà con về kinh nghiệm SXKD những nông sản sạch, có chất lượng; mở các lớp dạy nghề, hướng nghiệp, giúp bà con ND vượt khó. Bên cạnh đó cần tạo bước chuyển tích cực trên lĩnh vực văn hóa - xã hội bằng cách: tiếp tục thực hiện phong trào “Toàn dân xây dựng đời sống văn hóa”, “Xây dựng nông thôn mới”, bảo đảm cho phát triển bền vững; nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, nâng cao dân trí cho ND. 3.3.1.3. Xây dựng môi trường kinh doanh lành mạnh, bình đẳng theo pháp luật 21 Hoàn thiện hệ thống pháp luật là vấn đề cấp bách đặt ra cho việc đảm bảo môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp nói chung và các cho các doanh nghiệp của nông dân. Để xây dựng môi trường kinh doanh lành mạnh, bình đẳng trước pháp luật thì một yêu cầu đặt ra là xây dựng mối quan hệ kinh doanh lành mạnh, uy tín, chất lượng giữa các bên: nhà cung ứng vật tư, nhà kinh doanh, người tiêu dùng, người nông dân. 3.3.2 Nhóm giải pháp tác động vào các yếu tố của công tác giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh doanh cho nông dân Hà Nội 3.3.2.1. Nâng cao nhận thức của các cấp ủy Đảng, chính quyền thành phố Hà Nội về giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh doanh cho nông dân hiện nay - Các cấp ủy đảng, chính quyền cần phải nhận thức được vị thế, vai trò trung tâm của giai cấp ND trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn hiện nay. - Các cấp ủy đảng. chính quyền cụ thể hóa đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước về nông nghiệp, ND, nông thôn và tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả ở địa phương. - Đội ngũ cán bộ, đảng viên ở nông thôn phải thực sự tiên phong, gương mẫu về mọi mặt để ND noi theo. - Các cấp ủy đảng, trực tiếp là chi bộ ở nông thôn phải thường xuyên phân công, giao nhiệm vụ cho từng cán bộ, đảng viên làm công tác dân vận, phụ trách từng nhóm gia đình ND. 3.3.2.2. Phát huy vai trò của ban tuyên giáo cấp ủy, hội nông dân và các tổ chức đoàn thể nhân dân khác trong việc giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh doanh cho nông dân Giáo dục CMĐĐKD cần có sự phối hợp của nhiều lực lượng, trong đó vai trò của ban tuyên giáo các cấp, hội nông dân và các tổ chức đoàn thể khác là rất quan trọng. 3.3.2.3. Xây dựng hệ thống văn bản thống nhất các quy định về chuẩn mực đạo đức kinh doanh và hoàn thiện nội dung giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh doanh cho nông dân Để xây dựng được nội dung làm cơ sở cho việc giáo dục CMĐĐKD ở ND- đối tượng đặc thù, phải bắt đầu bằng việc xây dựng nội dung, chương trình một cách khoa học, có hệ thống, cụ thể, thiết thực. Trong xây dựng và hoàn thiện nội dung giáo dục CMĐĐKD cho ND cần chú ý tới tính cụ thể, thiết thực, gắn chặt với thực tiễn nghề nghiệp, với lĩnh vực SXKD. Đặc biệt, người ND về mặt xã hội, tâm lý, văn hóa nên nội dung càng dễ hiểu, càng gần gũi sẽ khiến họ dễ tiếp nhận và chủ động, tự giác thực hiện. 22 3.3.2.4. Đa dạng, thường xuyên đổi mới các hình thức, phương pháp, hiện đại hóa và đồng bộ hóa các phương tiện giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh doanh cho nông dân Phát huy vai trò của các phương tiện giáo dục, trong đó coi trọng vai trò các phương tiện truyền thông đại chúng, các tổ chức cơ quan; tăng cường các hình thức sân khấu hóa, các hình thức sinh hoạt văn nghệ ở nông thôn; kết hợp phương pháp giáo dục truyền thống với hiện đại trong giáo dục CMĐĐKD cho nông dân. 3.3.2.5. Phát huy tính tích cực, chủ động của bản thân người nông dân trong quá trình giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh doanh Trong giáo dục CMĐĐKD cho ND rất cần phải khơi dậy, phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo của họ. Vai trò chủ động của người ND thể hiện ở chỗ chủ động, tự giác tìm hiểu kiến thức, nâng cao hiểu biết về CMĐĐKD; tự giác tham gia học tập và thực hiện hành vi ĐĐKD; chủ động trở thành một chủ thể giáo dục mới tham gia vào việc tác động, lan tỏa về ĐĐKD đến người ND khác; chủ động sáng tạo ra nhiều phương pháp, hình thức giáo dục, nhiều cách tham gia vào quá trình học tập, rèn luyện, tạo nên những giá trị, những CMĐĐKD mới. 3.3.2.6. Tăng cường vai trò của pháp luật đồng thời với giáo dục, xây dựng chuẩn mực đạo đức kinh doanh cho nông dân Để phát huy vai trò của pháp luật, cần tiếp tục xây dựng và bổ sung, hoàn thiện pháp luật về hoạt động SXKD, về ĐĐKD. Các văn bản pháp luật sẽ tạo cơ sở pháp lý, định hướng cho các hành vi ĐĐKD, nâng cao trách nhiệm của mỗi người ND trong việc thực hiện các CMĐĐKD. Cùng với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật cần quan tâm đến công tác giáo dục pháp luật, đưa pháp luật vào cuộc sống. 3.3.2.7. Triển khai sâu rộng các phong trào tôn vinh những nông dân sáng tạo, làm kinh tế giỏi, gương mẫu trong thực hiện đạo đức kinh doanh, phát huy vai trò của dư luận xã hội trong giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh doanh cho nông dân Giáo dục đạo đức nói chung và giáo dục CMĐĐKD nói riêng cần hết sức coi trọng phương pháp nêu gương. Với đặc điểm người ND, thì những tấm gương sống sẽ có tác động và ảnh hưởng mạnh mẽ tới việc thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi ĐĐKD của họ. Trong giáo dục đạo đức cũng như trong giáo dục CMĐĐKD, vai trò của dư luận xã hội là rất lớn, rất quan trọng, do đó phải cung cấp thông tin thật sự khách quan, chính xác, kịp thời về các hành vi ĐĐKD đúng- sai để dư luận xã hội có căn cứ đưa ra sự phán xét đánh giá của mình, thông qua đó thực hiện chức năng giáo dục CMĐĐKD của dư luận cho người ND. Kết luận chương 3 23 Giáo dục CMĐĐKD cho ND Hà Nội đang đặt ra những yêu cầu mới trong tình hình đất nước ta và thế giới có nhiều biến động. Nhìn nhận thực trạng giáo dục CMĐĐKD cho ND Hà Nội, theo những yêu cầu của thời kỳ phát triển mới, có thể thấy những vấn đề đặt ra cần giải quyết. Muốn tăng cường và nâng cao chất lượng giáo dục CMĐĐKD cho ND thành phố Hà Nội hiện nay cần tập trung thực hiện các quan điểm, đó là: giáo dục CMĐĐKD cho ND Hà Nội là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, của bản thân người ND; nó gắn liền với xây dựng giai cấp ND và xây dựng nông thôn mới; với giáo dục đạo đức xã hội và phải biết kế thừa , phát huy truyền thống ĐĐKD tốt đẹp của dân tộc và nhân loại. Đồng thời phải thực hiện đồng bộ giải pháp sau: giải pháp giải quyết các vấn đề về chủ thể; giải pháp giải quyết các vấn đề về đối tượng; giải pháp đổi mới nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức và huy động các nguồn lực; giải pháp tạo lập môi trường khách quan. Thực hiện đồng bộ các giải pháp trên cơ sở bám sát mục tiêu xây dựng, củng cố nhận thức, niềm tin của người ND trong các hoạt động SXKD sẽ mang lại hiệu quả trong giáo dục CMĐĐKD cho ND Hà Nội. Quá trình thực hiện các giải pháp chính là quá trình giải quyết các mâu thuẫn, xử lý các vấn đề đặt ra nhằm tăng cường và nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục CMĐĐKD cho ND Hà Nội trong thời kỳ mới. KẾT LUẬN 1. Giáo dục CMĐĐKD là một vấn đề quan trọng thu hút nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu. Mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực này nhưng sự đồng thuận về mặt lý luận còn chưa cao. Đặc biệt nghiên cứu về giáo dục CMĐĐKD cho ND là vấn đề còn khá mới mẻ, đòi hỏi phải đi sâu nghiên cứu, luận giải sâu sắc, toàn diện dưới góc độ khoa học công tác tư tưởng. Những đóng góp, bổ sung về mặt lý luận, cùng những đánh giá, phân tích thực trạng giáo dục CMĐĐKD cho ND Hà Nội sẽ góp phần kiến giải những giải pháp nâng cao chất lượng công tác giáo dục này. 2. Giáo dục CMĐĐKD cho ND là quá trình xây dựng, hình thành các chuẩn mực và nguyên tắc đạo đức kinh doanh; quá trình truyền bá những nội dung giáo dục của chủ thể đến người ND tham gia hoạt động SXKD nhằm hình thành ở họ quan điểm, thái độ, động cơ và hành vi kinh doanh theo đúng CMĐĐKD mới. Giáo dục CMĐĐKD từ góc độ của khoa học công tác tư tưởng được cấu thành bởi các yếu tố: chủ thể, đối tượng, mục đích, nội dung, hình thức, phương pháp, phương tiện và kết quả/ hiệu quả. Tăng cường, nâng cao chất lượng giáo dục CMĐĐKD cho ND thực chất là tăng cường, đổi mới và nâng cao chất lượng của từng yếu tố cấu thành. 24 3. Giáo dục CMĐĐKD diễn ra trong bối cảnh có nhiều thuận lợi, song cũng không ít khó khăn, phức tạp. Trong bối cảnh đó, giáo dục CMĐĐKD cho ND Hà Nội đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Kết quả quan trọng nhất được thể hiện trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý; trong việc xây dựng, phát triển và phối hợp lực lượng giáo dục; trong thiết kế, xây dựng nội dung, lựa chọn, sử dụng các hình thức, phương pháp, phương tiện giáo dục. Bên cạnh đó, những hạn chế, bất cập về năng lực cán bộ tham gia công tác giáo dục, về nội dung, phương thức giáo dục làm cho hiệu quả giáo dục CMĐĐKD chưa cao. 4. Muốn tăng cường giáo dục CMĐĐKD cho ND thành phố Hà Nội cần tập trung vào các giải pháp nhằm giải quyết triệt để những mâu thuẫn hiện có bao gồm: giải pháp giải quyết các vấn đề về chủ thể, các vấn đề về đối tượng; giải pháp đổi mới nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức và huy động các nguồn lực; giải pháp tạo lập môi trường khách quan. Các giải pháp này có vị trí, vai trò khác nhau nhưng có quan hệ chặt chẽ, thống nhất biện chứng, hỗ trợ tác động thúc đẩy lẫn nhau, đòi hỏi phải tiến hành đồng bộ không được xem nhẹ giải pháp nào. Đồng thời, khi thực hiện các giải pháp cần nghiên cứu, vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với tình hình thực tiễn, nhất là đặc điểm của ND. 5. Giáo dục CMĐĐKD cho ND là vấn đề bức thiết hiện nay, phải giải quyết đồng bộ nhiều nội dung liên quan đến chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn của nhiều tổ chức, nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều lực lượng. Thực tiễn sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, của phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, của hội nhập quốc tế tiếp tục vận động, phát triển; tình hình giáo dục CMĐĐKD nói chung và ĐĐKD cho ND Hà Nội nói riêng sẽ có sự thay đổi và sẽ làm xuất hiện nhiều vấn đề mới về lý luận và thực tiễn cần được tiếp tục giải quyết. Vì vậy, cần đi sâu nghiên cứu những biến đổi của các CMĐĐKD và đổi mới giáo dục ĐĐKD cho các thành phần giai cấp ND trong điều kiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế trên quy mô toàn quốc và ở từng địa phương, từng vùng miền đất nước. DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Đinh Thị Thanh Tâm (2015), “Đạo đức và pháp luật trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta”, Tạp chí Lý luận chính trị và Truyền thông, số tháng 1, tr45-47. 25 2. Đinh Thị Thanh Tâm (2015), “Xu hướng biến đổi của hệ giá trị đạo đức ở nước ta trong bối cảnh hội nhập”, Tham luận Hội thảo khoa học quốc tế, tr75-76. 3. Đinh Thị Thanh Tâm (2015), “Giáo dục đạo đức kinh doanh trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, Tạp chí Tuyên giáo, số 10, tr34-36. 4. Đính Thị Thanh Tâm (2017), “Những vấn đề đặt ra trong giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh doanh cho nông dân thành phố Hà Nội hiện nay, Tạp chí Lý luận chính trị và Truyền thông, số tháng 8. 5. Đinh Thị Thanh Tâm (2017), “Vận dụng Nghị quyết TW5 (khóa XII) về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vào bài giảng “Giáo dục kinh tế và sự hình thành văn hóa kinh tế”. Tham luận Hội thảo khoa học cấp Học viện.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdftom_tat_luan_an_tieng_viet_19_12_774_6473_2118496.pdf