Luận văn Nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn - Chi nhánh Nam Hà Nội, thực trạng và giải pháp

- Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát đối với hoạt động tín dụng của các NHTM, từ đó phát hiện sớm các sai sót, xu hướng sai lệch, các vấn đề tồn tại, để chỉ đạo, ngăn chặn, khắc phục một cách triệt để. - Đề xuất với Chính phủ sớm thành lập công ty mua bán nợ, công ty mua bán tài sản đảm bảo nợ vay của NHNo&PTNT giúp Ngân hàng giải tỏa có hiệu quả các khoản nợ quá hạn khê đọng, các tài sản đảm bảo khó phát mại hoặc chưa xử lý được, ngay từ đó lành mạnh hóa chất lượng tín dụng, gỉải phóng nguồn vốn kinh doanh bị ứ đọng. - Có hệ thống thông tin chất lượng cao, cung cấp kịp thời các thông tin cho NHTM tránh rủi ro do thiếu thông tin.

pdf86 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Lượt xem: 9212 | Lượt tải: 31download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn - Chi nhánh Nam Hà Nội, thực trạng và giải pháp, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
hân cả khách quan và chủ quan tác động đến chất lượng tín dụng cụ thể là nợ quá hạn. Sau đây là những nguyên nhân chủ yếu trực tiếp nhất. * Nguyên nhân khách quan: Một là, môi trường kinh tế chưa ổn định. Nền kinh tế bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, từ đầu năm 2008 lạm phát gia tăng nguồn vốn của ngân hàng gặp nhiều khó khăn, lãi suất trên thị trường tăng đột biến đã làm cho phần lớn các doanh nghiệp tài chính khó khăn Cuối năm 2008 và đầu năm 2009 nền kinh tế đi vào suy thoái sản phẩm sản xuất khó tiêu thụ thị trường xuất khẩu thu hẹp, một số mặt hang giảm giá lớn như sắt thép vật liệu xây dựng, nông sản, nhu cầu và giá cước vân tải biển giảm sút nghiêm trọng, thị trường bất động sản đóng băng khó tiêu thụ. Các doanh nghiệp Việt Nam đứng trước nhiều thách thức hội nhập và khó khăn. Nhiều hộ gia đình, cá thể không thể bắt kịp những thay đổi cũng như những đòi hỏi càng cao của thị trường nhất là về chất lượng, chủng loại, giá cả sản phẩm hàng hoá. Đa số doanh nghiệp, hộ sản xuất bị hạn chế năng lực trình độ và kinh nghiệm quản lý. Vốn tích luỹ ban đầu còn nhỏ nên trong điều kiện cạnh tranh gay gắt của thị trường thì việc sản xuất cũng như tiêu thụ sản phẩm gặp không ít khó khăn và điều đó gây ra nợ quá hạn cho ngân hàng. Hai là, sự chỉ đạo, kết hợp của các Ban ngành, các cơ quan chức năng với Chi nhánh còn một số bất cập. Diễn biến phức tạp của thị trường tiền tệ, về lãi suất, tỷ giá vàng, ngoại tệ tăng; Khả năng dự báo và sự phối hợp giữa trụ sở chính và Chi nhánh trong việc điều chỉnh kế hoạch còn chưa kịp thời, chủ động. Chính quyền địa phương, các ngành chức năng còn chậm trễ trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình đặc biệt là việc xây dựng và triển khai thực hiện các kế hoạch chương trình kinh tế xét duyện dự án,… Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chưa kịp thời gây khó khăn cho việc xin vay của khách hàng, về phía ngân hàng không mở rộng được vốn vay. Việc quản lý, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cơ quan chức năng chưa chặt chẽ khiến cho có hộ gia đình có đến hai hồ sơ chứng nhận hợp lý trên cùng một mảnh đất. Việc này có thể dẫn đến tình trạng một khách hàng mang hồ sơ đi vay vốn tại nhiều ngân hàng với cùng một tài sản thế chấp nếu rủi ro tín dụng xảy ra thì vấn đề tài sản thế chấp là rất khó giải quyết. Các cơ quan chức năng tham gia vào việc xử lý tài sản thế chấp của người vay khi bị ngân hàng phát mại tài sản còn nhiều thủ tục phiền hà, thời gian thường bị kéo dài điều này gây khó khăn cho ngân hàng trong việc thu hồi nợ. Ba là, sự tác động của các tiêu cực xã hội đến hoạt động ngân hàng. Khủng hoảng kinh tế, lạm phát tăng cao. Tỷ lệ thất nghiệp tăng lên hàng ngày đã kéo theo các tệ nạn xã hội như: cờ bạc, lô đề, rượu chè,… làm cho một số khách hàng thiếu ý thức đã sử dụng đồng vốn vay vào tệ nạn làm ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng. Mặt khác do sự biến động bất thường của các yếu tố tự nhiên (như thiên tai, khí hậu,…) đã tác động mạnh đến các hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng cũng có ảnh hưởng không ít đến chất lượng tín dụng của ngân hàng. * Nguyên nhân chủ quan: Trước hết, đó là trình độ cán bộ ngân hàng nói chung và trình độ cán bộ tín dụng nói riêng còn nhiều hạn chế ảnh hưởng đến việc thẩm định cho vay. Do địa bàn kinh doanh rộng vì vậy việc thực hiện quy trình tín dụng nhiều khi còn tuỳ tiện, bỏ qua nhất là việc kiểm tra, kiểm soát, không nắm được thông tin về tình hình sử dụng vốn của khách hàng. Những điều này đã làm tăng khả năng rủi ro tín dụng là điều khó tránh khỏi. Một số cán bộ tín dụng đôi khi chỉ chú ý coi trọng tài sản thế chấp, thấy tài sản thế chấp có giá trị lớn là có thể cho vay mà không quan tâm đến phương án sản xuất kinh doanh của khách hàng có hiệu quả hay không. Một số cán bộ tín dụng chưa nhận thức được đầy đủ những thử thách khó khăn phía trước, có tư tưởng ngại khó ngại khổ, sợ quy trách nhiệm, bảo thủ thoả mãn với thành tích, không muốn tăng trưởng tín dụng. Bên cạnh đấy lại có một số cán bộ tín dụng chạy theo dư nợ mở rộng tín dụng ồ ạt không có chất lượng. Trên địa bàn có nhiều NHTM hoạt động, tuy nhiên một số cán bộ tín dụng còn có thái độ thờ ơ, chưa tận tình niềm nở với khách hàng xin vay để cho khách hàng sang ngân hàng khác. Điều này đã làm giảm việc mở rộng tínn dụng của NHNo&PTNT chi nhánh Nam Hà Nội. Thứ hai, công nghệ thông tin vẫn chưa đáp ứng được những yêu cầu, chưa hỗ trợ phát triển thêm chức năng. tiện ích của sản phẩm. Hệ thống thông tin báo cáo chưa phục vụ kịp thời cho hoạt động kinh doanh, các sản phẩm dịch vụ còn nghèo nàn chủ yếu là các sản phẩm truyền thống. Thứ ba, mặc dù ngân hàng đã tổ chức một bộ máy quản lý tách bạch giữa các bộ phận, các phòng ban nhưng vẫn chưa có một bộ phận quản lý rủi ro chuyên biệt về tín dụng để quản trị rủi ro, phân loại các khoản vay theo mức độ rủi ro, xây dựng giới hạn tín dụng đối với từng khách hàng, nhóm khách hàng, ngành kinh tế, khu vực. Thứ tư, chưa có hệ thống thông tin dể kiểm soát danh mục tín dụng khách hàng phục vụ kiểm soát tăng trưởng tín dụng, chuyển dịch cơ cấu, cũng như thực hiện đánh giá khách hàng để quyết định tín dụng. Hồ sơ vay vốn của doanh nghiệp thiếu thông tin từ các báo cáo tài chính được kiểm toán một cách chính xác kịp thời, nhiều doanh nghiệp vẫn chưa tiến hành kiểm toán, một số doanh nghiệp tiến hành kiểm toán nhưng chậm so với thời gian mà ngân hàng cần có thông tin để có quá trình phân tích. Đối với khách hàng cá nhân, thông tin về thu nhập cơ bản, thu thập khác kê khai không đầy đủ làm cho việc xác định dòng tiền thực của người vay không chính xác. Thứ năm, Hệ thống chấm điểm tín dụng chi nhánh đang áp dụng còn đơn giản chưa đánh giá được tất cả các mặt của khách hàng, chỉ phân khách hàng ra làm 3 loại: khách hàng loại A, loại B, loại C điều này đôi khi làm cho ngân hàng đánh giá chưa đầy đủ về khách hàng và đưa ra quyết định cho vay không phù hợp. Hiện tại việc phân tích, đánh giá khách hàng vẫn chủ yếu dựa trên phương pháp truyền thống là phương pháp tài chính, ngân hàng chưa thực sự quan tâm đến việc xác định vòng đời của dự án trên cơ sở nghiên cứu tình hình biến động của thị trường, khả năng thu hồi vốn, tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ... điều đó dẫn đến việc xác định thời hạn vay vốn cũng như thời gian thu hồi vốn vay không phù hợp. Thứ sáu, Chưa có hệ thống chấm điểm cho tài sản đảm bảo: không chỉ ở hệ thống NHNo&PTNT mà thực trạng chung của các NHTM hiện nay là hầu hết các món cho vay đều dựa trên tài sản đảm bảo nhưng lại chưa có hệ thống chấm điểm chuẩn mực cho những tài sản đó. Vì vậy thời gian định giá tài sản bảo đảm kéo dài và tốn kém chi phí cho việc đánh giá. Hiện nay NHNN Việt Nam cho phép các NHTM tự thoả thuận và tự chịu trách nhiệm xác định giá trị tài sản thế chấp, cầm cố của khách hàng, do đó việc thẩm định giá trị theo giá trị thị trường là một vấn đề khó khăn. Bên cạnh đó ngân hàng chỉ tiến hành định giá lại tài sản khi phát hiện các khoản vay có vấn đề để tiến hành thủ tục thanh lý tài sản mà chưa quan tâm đến việc định giá lại tài sản thế chấp, cầm cố theo định kỳ nên xuất hiện tình trạng giá trị thanh lý thấp hơn so với giá trị thẩm định ban đầu khiến cho ngân hàng không thu hồi đủ nợ và lãi vay từ khách hàng. Cuối cùng, ngân hàng chưa quan tâm đúng mức đến công tác thanh tra, kiểm soát nội bộ. Công tác thanh tra không thường xuyên nhất là kiểm tra sau khi cho vay dẫn đến một số khách hàng sử dụng vốn sai mục đích mà không có biện pháp xử lý, thu hồi kịp thời. Tóm lại, qua đánh giá chất lượng tín dụng của Chi nhánh NHNo&PTNT Nam Hà Nội trong những năm qua đã khẳng định được vai trò của hoạt động tín dụng góp phần vào việc xây dựng và phát triển kinh tế. Chất lượng tín dụng là kết quả tổng hoà của nhiều nhân tố trong đó nợ quá hạn là một nhân tố trực tiếp và cụ thể nhất. Tuy còn một số tồn tại và hạn chế nhưng Chi nhánh Nam Hà Nội vẫn đảm bảo kinh doanh có lãi, góp phần vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế đất nước theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Những vấn đề tồn tại và hạn chế cần được xem xét nghiêm túc để có biện pháp giải quyết hữu hiệu nhằm không ngừng củng cố và nâng cao hơn nữa chất lượng tín dụng, giúp cho hoạt động kinh doanh của NHNo&PTNT chi nhánh Nam Hà Nội ngày càng hiệu quả. Chương 3 GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CHI NHÁNH NAM HÀ NỘI 3.1. ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CHI NHÁNH NAM HÀ NỘI 3.1.1. Định hướng phát triển chung Ngay từ những tháng đầu năm 2011 chi nhánh đã xác định rõ một số các quan điểm phát triển cho toàn bộ các hoạt động kinh doanh nói chung và nhấn mạnh quan điểm tăng cường phát triển và nâng cao chất lượng tín dụng nói riêng. Các quan điểm được xác định dựa trên cơ sở các chủ trương, chính sách của Chính phủ, của NHNN cũng như của Hội đồng quản trị NHNo&PTNT Việt Nam về xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ, chấn chỉnh và nâng cao chất lượng tín dụng phù hợp với tình hình phát triển kinh tế mới. Quan điểm chung của Chi nhánh là: đảm bảo tốc độ tăng trưởng tín dụng phải tương ứng với tốc độ tăng trưởng nguồn vốn, mở rộng quy mô tín dụng hợp lý đi đôi với việc nâng cao chất lượng tín dụng. Đặc biệt cơ cấu tín dụng phải được điều chỉnh theo hướng ưu tiên đầu tư vốn để phát triển nông nghiệp và nông thôn, phát triển sản xuất hàng xuất khẩu, đảm bảo cung ứng vốn kịp thời và đầy đủ cho các dự án trọng điểm đã được ký kết. Những quan điểm chính là: Quan điểm thứ nhất: Linh hoạt trong huy động vốn cho phù hợp với sự phát triển về quy mô yêu cầu sử dụng vốn, trong bất kỳ trường hợp nào cũng phải tuyệt đối đảm bảo khả năng thanh toán trong cả hai loại vốn nội tệ và ngoại tệ. Quan điểm thứ hai: điều chỉnh các hoạt động tín dụng thích nghi nhanh với cơ chế thị trường, đa dạng hóa hoạt động tín dụng vì mục tiêu lợi nhuận trên cơ sở tiết kiệm chi phí và giảm thiểu rủi ro trong khuôn khổ pháp luật quy định, góp phần kiềm chế lạm phát, tăng trưởng kinh tế, ổn định tiền tệ, thực hiện tốt chính sách tín dụng. Quan điểm thứ ba: Từng bước hiện đại hóa quá trình nghiệp vụ tín dụng, trên cơ sở đổi mới công nghệ ngân hàng, tạo tiền đề đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế với chất lượng tốt, góp phần đắc lực vào sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, từng bước quốc tế hóa hoạt động Ngân hàng, hội nhập với cộng đồng và Tài chính tiền tệ Quốc tế. Quan điểm thứ tư: Từng bước hoàn thiện hệ thống tổ chức bộ máy và phương thức điều hành, nâng cao trình độ nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ tín dụng và kiến thức chuyên môn nghiệp vụ, pháp luật, trình độ tin học và ngoại ngữ, rèn luyện phẩm chất và phong cách, đáp ứng đòi hỏi của hoạt động tín dụng trong thời kỳ mới. Cần giao trách nhiệm cụ thể, rõ ràng xử phạt nghiêm minh nhưng cũng cần phải quan tâm hơn nữa đến quyền lợi của cán bộ tín dụng một cách thỏa đáng. Đòi hỏi cán bộ cần phải có một kiến thức nhất định để thẩm định, tái thẩm định dự án đầu tư thật kỹ, trước khi quyết định đầu tư phải nhận thức đầy đủ về đối tượng đầu tư. Quan điểm thứ năm: Tăng cường công tác thanh tra kiểm soát từ nhiều phía, kiểm soát nội bộ, kiểm soát chồng chéo để từ đó có biện pháp khắc phục, sửa chữa sai lầm kịp thời nhằm giảm rủi ro ở mức thấp nhất trong hoạt động kinh doanh của Chi nhánh. Đồng thời nâng cao trình độ quản lý kinh doanh, đảm bảo hoạt động tín dụng theo đúng pháp luật, an toàn và hiệu quả. 3.1.2. Định hướng hoạt động tín dụng tại Chi nhánh Trên cơ sở các quan điểm phát triển nêu trên, những định hướng chủ yếu của chi nhánh trong thời gian sắp tới là: - Tăng cường công tác huy động vốn để đáp ứng đủ cho công tác tín dụng. - Công tác chỉ đạo kế hoạch tín dụng bám sát mục tiêu kế hoạch được Hội đồng quản trị phê duyệt, thực hiện cho vay trên cơ sở đã cân đối được nguồn vốn và theo danh mục được đăng ký đầu năm. Tập trung vốn cho nông nghiệp nông thôn, cho vay xuất khẩu tạo tính chủ động hơn trong cân đối vốn và góp phần ổn định tính thanh khoản. - Tăng cường và mở rộng huy động vốn để đáp ứng tối đa các nhu cầu vay vốn, đồng thời chú trọng xây dựng và hình thành một số sản phẩm huy động vốn mới để phù hợp với cơ chế mới của NHNN. - Hoạt động tín dụng cần phải bám sát mục tiêu kế hoạch đã được Hội đồng quản trị phê duyệt, thực hiện cho vay trên cơ sở các cân đối về nguồn vốn và theo danh mục đã được phê duyệt, chú trọng tập trung vốn cho nông nghiệp, nông thôn và sản xuất hàng xuất khẩu. - Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát các hoạt động tín dụng. xây dựng phương án và các giải pháp xử lý các khoản nợ có vấn đề, chấn chỉnh và khắc phục các sai sót, tồn tại sau kiểm tra, thanh tra. - Tăng cường và mở rộng các quan hệ với các đối tác truyền thống nhất là các khách hàng lớn (như Tập đoàn than khoáng sản Việt Nam, Hiệp hội cà phê Việt Nam, Tập đoàn dầu khí Việt Nam,…) đảm bảo triển khai có hiệu quả các chương trình, dự án cho vay đã cam kết với khách hàng (cho vay mua dự trữ cà phê, lương thực, cá da trơn xuất khẩu,…) đồng thời chú trọng mở rộng phát triển thêm khách hàng tiềm năng mới. - Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, quy chế, quy trình tín dụng để phù hợp với luật các TCTD mới sửa đổi (có hiệu lực từ 01/01/2011). Đảm bảo tổ chức hoạt động ăn khớp, nhịp nhàng giữa các bộ phận trong toàn Chi nhánh, nâng cao hiệu quả hoạt động. Trên cơ sở định hướng đó Chi nhánh đã tập trung xây dựng các chỉ tiêu hoạt động chủ yếu như sau: - Về nguồn vốn: phấn đấu nguồn vốn huy động tại địa phương tăng 10% so với năm 2010, tỷ trọng nguồn vốn dân cư đạt 50% tổng nguồn vốn huy động tại địa phương. - Về dư nợ: tốc độ tăng trưởng từ 30 - 35% so với năm 2010, trong đó dư nợ cho vay trung và dài hạn chiếm tỷ trọng 45 - 50%/tổng dư nợ. - Tỷ lệ nợ xấu (từ nhóm 3 đến nhóm 5) giảm về số tuyệt đối và tương đối so với năm 2010, dưới 3%. - Phát triển đa dạng các sản phẩm dịch vụ, phấn đấu tỷ lệ thu dịch vụ trên tổng thu nhập ròng đạt 20% - Đảm bảo quỹ thu nhập để chi lương, thưởng cho cán bộ theo quy định của NHNo&PTNT Việt Nam. 3.2. CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CHI NHÁNH NAM HÀ NỘI Trên cơ sở những đặc điểm, tồn tại của NHNo&PTNT chi nhánh Nam Hà Nội, sau đây là một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng. 3.2.1. Nâng cao hiệu quả từng bước trong quy trình tín dụng 3.2.1.1. Nâng cao chất lượng công tác thẩm định, đánh giá khách hàng Ngân hàng cần quan tâm hơn nữa các nội dung của thẩm định, cần xác định việc thẩm định các dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh là một khâu quan trọng nhất trước khi cho vay. Cán bộ thẩm định cần kiểm tra tư cách pháp nhân của người vay, mức độ tín nhiệm trong quá trình giao dịch với ngân hàng, nếu khách hàng là hộ nông dân thì cần được sự bảo lãnh của các tổ chức chính trị - xã hội, xem xét cơ sở khoa học của việc lập dự án đầu tư, thời gian lập kinh doanh, mặt hàng, dịch vụ, giá thành, thị trường cung ứng vật tư, hàng hóa, tiêu thụ sản phẩm, dự kiến thu nhập, lãi với thời gian hoàn vốn của dự án,... Đối với các báo cáo tài chính, một căn cứ quan trọng để xem xét tình hình hoạt động, kinh doanh, năng lực tài chính của khách hàng vay vốn là phải có xác nhận của kiểm toán nhà nước hoặc các công ty kiểm toán độc lập. Vì thực trạng hiện nay, các báo cáo tài chính của nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân gửi cho ngân hàng thường mang tính chất đối phó hơn là theo chuẩn mực kế toán của Bộ tài chính, thiếu nhiều thông tin quan tọng phục vụ cho việc thẩm định hoặc các chỉ tiêu còn thiếu tính tin cậy,... Đặc biệt là các dự án lớn cần một lượng vốn lớn do đó mà phải thẩm định đánh giá kỹ càng. 3.2.1.2. Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng quản lý trong quá trình cho vay, theo dõi đôn đốc trong quá trình thu nợ và thu lãi Nếu thẩm định dự án là khâu đầu tiên quyết định để cho vay đối với một khách hàng thì quá trình đưa vốn ra theo dõi đôn đốc thu nợ cũng là khâu không kém phần quan trọng. Khi một khách hàng được cho vay theo mục đích, đúng lúc, đúng thời điểm số vốn ghi trong hợp đồng tín dụng thì việc quản lý vốn vay ở đây là theo dõi kiểm tra khách hàng có sử dụng đúng mục đích hay không. Những trường hợp nào sử dụng vốn sai mục đích thì phải xử lý ngay theo chế độ tín dụng. Ngoài ra, phải theo dõi bám sát hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp để đánh giá chính xác những diễn biến trong mối quan hệ giữa doanh nghiệp và khách hàng, phát hiện kịp thời khả năng có thể phát sinh nợ quá hạn, nợ khó đòi, từ đó có biện pháp xử lý ngay. Việc đôn đốc thu nợ thu lãi đúng kỳ hạn và đủ là nghĩa vụ và trách nhiệm, là kỷ luật đối với cán bộ tín dụng. Lịch trả nợ và lãi vay đã cam kết trong hợp đồng tín dụng phải theo dõi hàng ngày. 3.2.1.3. Nâng cao kỹ năng thu thập thông tin Đối với những khách hàng là cá nhân thì chất lượng thông tin khách hàng cung cấp không cao và có nhiều nhân tố tác động, còn khách hàng doanh nghiệp thì cũng muốn làm đẹp các báo cáo tài chính bằng cách làm cho các con số thật đẹp. Để tiếp cận được khoản tín dụng tại chi nhánh thì có rất nhiều khách hàng đã không từ bất cứ thủ đoạn nào trong khi đó nguồn thông tin lại có rất nhiều chiều, cán bộ tín dụng tại Chi nhánh phải luôn cẩn thận trước một khoản vay nên họ thường xuyên kiểm tra rất cẩn thận những thông tin khách hàng cung cấp trên cả văn bản và thực tế. Việc phỏng vấn khách hàng là một việc làm quan trọng và đã được cán bộ tín dụng làm khá tốt và khá thường xuyên tại chi nhánh. Việc phỏng vấn trực tiếp khách hàng sẽ cho cán bộ khá nhiều thông tin quan trọng liên quan đến khoản vay mà không có trong hồ sơ vay vốn. Trong thời gian sắp tới Chi nhánh cần làm việc này thường xuyên hơn vì nó rất hiệu quả mà thông qua sự cảm nhận nhạy bén của mình, thái độ khách hàng khi tham gia phỏng vấn sẽ biết được đôi điều về tính trung thực của những thông tin mà họ cung cấp trong hồ sơ tín dụng. Để tăng cường lượng thông tin này cán bộ tín dụng phải có sự nghi ngờ tương đối và kỹ năng đặt câu hỏi khá tốt làm sao có thể khai thác thông tin hiệu quả mà vẫn duy trì được mối quan hệ tốt đẹp. Để cho thông tin được hoàn toàn chính xác độ tin cậy cao thì chi nhánh không chỉ đơn thuần thu thập thông tin từ một phía khách hàng mà cần phải thu thập thông tin từ nguồn bên ngoài như trung tâm thông tin tín dụng, cơ quan hữu quan như thuế, trung tâm đăng ký giao dịch bảo đảm, công chứng nhà nước, hải quan, quản lý thị trường, nhà đất, địa chính; tổ chức, người thường xuyên có quan hệ với khách hàng như nhà cung cấp, chủ nợ, người tiêu thụ; phương tiện thông tin đại chúng; thông tin lưu trữ tài chính ngân hàng. Bên cạnh những thông tin về bản thân khách hàng, ngân hàng cần thu thập thông tin về ngành kinh doanh của khách hàng để dự đoán được khuynh hướng phát triển, áp lực cạnh tranh từ các đối thủ của khách hàng, trên cơ sở đó đánh giá vị thế, khả năng kinh doanh và khả năng trả nợ của khách hàng. Tăng cường trao thông tin giữa các NHTM trên địa bàn để tìm hiểu khách hàng trước khi cho vay nhằm giảm thiểu rủi ro. Muốn vậy Chi nhánh phải thực hiện chế độ kiểm toán bắt buộc đối với chủ đầu tư có thể là kiểm tra bất ngờ cũng có thể là báo trước, xây dựng trang web cung cấp thông tin tín dụng trực tuyến cho toàn hệ thống, kết nối với hệ thống thông tin khác của NHNN, bộ công thương… 3.2.2. Tổ chức bộ phận quản trị rủi ro chuyên biệt Hiện nay NHNo&PTNT Chi nhánh Nam Hà Nội không có bộ phận chuyên riêng biệt kiểm tra giám sát tín dụng độc lập chi nhánh mà chỉ có bộ phận kiểm tra kiểm soát nội bộ tại chi nhánh. Cán bộ phòng kiểm tra kiểm soát nội bộ không có kỹ năng quản trị rủi ro chuyên sâu mà chủ yếu chịu trách nhiệm kiểm tra, giám sát. Vì vậy, ngân hàng cần thành lập bộ phận quản trị rủi ro riêng biệt về tín dụng để quản trị rủi to, phân loại các khoản vay theo mức độ rủi ro, xây dựng giới hạn tín dụng đối với từng khách hàng, ngành kinh tế và khu vực. Bộ phận quản lý rủi ro thực hiện phân loại nợ theo phương pháp định lượng hàng quý để xác định đúng chất lượng tín dụng và làm cơ sở trích lập dự phòng để hạn chế rủi ro tín dụng. Sau đó kết hợp áp dụng phương pháp định tính nhằm đánh giá chất lượng tín dụng chính xác hơn. Bộ phận quản trị rủi ro tư vấn cho cán bộ tín dụng khi thực hiện tái thẩm định những khoản vay lớn, phức tạp đồng thời còn có nhiệm vụ quản trị rủi ro đối với những khoản vay của từng cán bộ tín dụng. Trực tiếp đề xuất sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng các khoản nợ thuộc nhóm 5 và các trường hợp doanh nghiệp bị giải thể, phá sản theo quy định của pháp luật hoặc cá nhân bị chết, mất tích. 3.2.3. Hoàn thiện công tác bảo đảm tiền vay Bả0 đảm tiền vay được coi là nguồn trả nợ thứ hai của khách hàng, vì vậy để nâng cao chất lượng tín dụng chi nhánh cần thiết phải thực hiện các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ trả nợ của khách hàng đi vay. Trong thực tế, thời gian qua chi nhánh đã thực hiện theo đúng quyết định 1300/QĐ-HĐQT-TDHo ngày 03/12/2007 ban hành quy định việc thực hiện các biện pháp bảo đảm tiền vay do đó mà chất lượng tín dụng phần nào được nâng cao. Mặc dù bảo đảm có ý nghĩa lớn trong việc hạn chế rủi ro tín dụng, nhưng tại Chi nhánh một số bộ phận tín dụng đặt vai trò của bảo đảm không đúng chỗ, có bảo đảm là cơ sở để quyết định cho vay, còn các yếu tố khác không chú trọng đúng mức, đây chính là nguyên nhân làm giảm chất lượng tín dụng bởi bảo đảm chất lượng tín dụng chỉ là biện pháp phòng vệ khi gặp các sự cố trong thực hiện hợp đồng tín dụng chứ không phải là cơ sở để quyết định cho vay. Hiện nay chi nhánh thực hiện các biện pháp bảo đảm tiền vay theo quyết định 1300/QĐ-HĐQT-TDHo ngày 03/12/2007. Nhưng để cho bảo đảm tiền vay phát huy đúng nghĩa của nó thì ngân hàng phải: 3.2.3.1. Thường xuyên đánh giá lại giá trị của tài sản bảo đảm Với tốc độ phát triển khoa học công nghệ như hiện nay, tài sản dễ hao mòn vô hình nhanh chóng. Bên cạnh đó phần lớn tài sản đảm bảo tại chi nhánh là các máy móc thiết bị xây dựng thường xuyên ở ngoài trời, cường độ sử dụng cao do đó tốc độ hao mòn rất nhanh. Đối với tài sản đảm bảo là máy móc, thiết bị, nhà xưởng cán bộ tín dụng phải thường xuyên kiểm tra trên hồ sơ đảm bảo tiền vay, và kiểm tra tài sản tại hiện trường để kịp thời xử lý các vấn đề phát sinh như: mất mát, hư hòng, giảm giá trị, có sự chuyển nhượng người sở hữu, những biến động về giá trị thị trường của tài sản,… Do đó việc đánh giá lại giá trị tài sản bảo đảm cần được tiến hành thường xuyên qua đó để có biện pháp hạn chế rủi ro. Từ việc xem xét thực trạng tài sản và tham khảo thông tin trên thị trường như giá cả, xu hướng phát triển, các mặt hàng thay thế. Đặc biệt là các tài sản bảo đảm là các chứng khoán, giấy tờ có giá trên thị trường có sự biến động lớn, vì vậy phải thường xuyên theo dõi, cập nhật và định giá. 3.2.3.2. Yêu cầu khách hàng mua bảo hiểm cho tài sản bảo đảm Đối với những tài sản bảo đảm mà pháp luật quy định phải mua bảo hiểm, chi nhánh nên yêu cầu khách hàng phải mua bảo hiểm, việc thẩm định tài sản đảm bảo lại càng phải được thực hiện chặt chẽ, kỹ lưỡng. Kết quả thẩm định là cơ sở để khách hàng mua bảo hiểm với mức phù hợp. Việc quản lý tài sản đảm bảo dù tốt đến đâu cũng khó tránh khỏi những rủi ro bất ngờ xảy ra như lũ lụt, lốc, bão, và những nguyên nhân bất khả kháng khác. Khi đó công ty bảo hiểm sẽ đứng ra thanh toán những tổn thất xảy ra đối với tài sản bảo đảm. Việc mua bảo hiểm cho tài sản bảo đảm cũng là biện pháp nhằm hạn chế rủi ro cho ngân hàng để đảm bảo thu nợ khi mua bảo hiểm cho chi nhánh cần phải thỏa thuận với khách hàng vay, bên nhận được bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm là chi nhánh mình. 3.2.3.3. Tổ chức bộ phận chuyên trách định giá tài sản bảo đảm Ngân hàng cần lập bộ phận chuyên trách thực hiện nghĩa vụ định giá, đăng ký giao dịch bảo đảm và phát mại tài sản bảo đảm. Cán bộ thẩm định giá phải được đào tạo chuyên ngành thẩm định giá. Bên cạnh đó muốn có được sự chuyên nghiệp, chính xác trong quá trình định giá ngân hàng có thể ký hợp đồng với các doanh nghiệp thực hiện thẩm định giá thay cho ngân hàng và gánh chịu toàn bộ trách nhiệm khi thẩm định giá thiếu chính xác. 3.2.4. Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát đối với những khoản tín dụng Để nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng thì chi nhánh thường xuyên tổ chức các cuộc kiểm tra tại hội sở chi nhánh, các phòng giao dịch trực thuộc chi nhánh để kịp thời khắc phục và ngăn ngừa những sai sót phát sinh, tránh những sai sót được lặp đi lặp lại nhiều lần. Trong công tác kiểm tra, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh thương mại được đặc biệt quan tâm do đặc thù lĩnh vực này có nhiều biến động, đòi hỏi ngân hàng sau khi cho vay phải theo sát, nắm vững tình hình trên cơ sở đó đưa ra những biện pháp quản lý phù hợp. Đối tượng thường được quan tâm trong các cuộc kiểm tra không chỉ dừng lại ở mặt hồ sơ mà còn kiểm tra thực tế tình hình kinh doanh của khách hàng, tình hình thực hiện phương án kinh doanh, thực trạng tài sản bảo đảm…. Việc làm này có ý nghĩa quan trọng trong công tác tín dụng. Tuy nhiên một thực tế xảy ra tại chi nhánh là không được cung cấp đầy đủ và thường xuyên thông tin từ phía khách hàng nhất là thông tin về kế toán tài chính, thị trường tiêu thụ sản phẩm, do vậy cán bộ tín dụng phải tập trung triệt để những lần tiếp xúc khi họ đến ngân hàng trả lãi, khi cán bộ tín dụng đến thăm trực tiếp cơ sở sản xuất kinh doanh của khách hàng để biết được phương án xin vay với thực tế, chiều hướng tốt hay xấu, đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng như thế nào, giá trị thực tế của tài sản đảm bảo nợ vay ra sao. Trong quá trình giám sát, nếu có phát hiện khách hàng sử dụng vốn vay sai mục đích cán bộ giám sát có thể kiến nghị thu hồi nợ trước hạn hoặc chuyển nợ quá hạn. Như vậy, kiểm tra giám sát tín dụng được thực hiện trước, trong và sau để xác định xem khách hàng có khả năng trả nợ không, có thực hiện đúng theo hợp đồng tín dụng không, là cơ sở để đánh giá chất lượng khoản vay, trích lập dự phòng và xử lý rủi ro tín dụng. Sau khi kiểm tra tín dụng (bao gồm kiểm tra của chi nhánh, của NHNo, NHNN và các cuộc kiểm tra, thanh tra khác) chi nhánh tổ chức kiểm điểm lại những việc chưa làm được, những việc sai sót từ đó có biện pháp khắc phục kịp thời. 3.2.5. Không ngừng nâng cao trình độ cán bộ tín dụng Một thực tế cho thấy tín dụng ngân hàng không chỉ là một khoa học mà còn là một nghệ thuật, người cán bộ tín dụng cần phải vận dụng kiến thức tổng hợp về kinh tế vi mô, kinh tế vĩ mô, hoạt động tài chính, hoạt động kinh tế cùng với những thực nghiệm để đưa ra những quyết định tín dụng chính xác. Bởi họ chính là như thể đảm nhiệm mọi công việc từ khâu tiếp xúc khách hàng đến khâu thẩm định, xét duyệt và thu nợ. Hơn nữa, đội ngũ cán bộ tín dụng của chi nhánh còn tương đối trẻ, chưa có nhiều kinh nghiệm và kiến thức thực tiễn. Do vậy để hạn chế rủi ro cho ngân hàng trình độ chuyên môn nghiệp vụ và phẩm chất đạo đức cho cán bộ tín dụng tại chi nhánh là cần thiết. Mở rộng hơn các lớp tập huấn nghiệp vụ và chuyên sâu về tín dụng, về pháp luật, thị trường và môi trường kinh doanh, hàng tuần chi nhánh có thể tổ chức những cuộc họp để cùng nhau nghiên cứu văn bản pháp luật, trao đổi kinh nghiệm nghiệp vụ. Chi nhánh có thể tự mở các lớp học nghiệp vụ cho cán bộ mình,… nhằm giúp cho công tác tín dụng đạt kết quả tốt và mang lại hiệu quả cao hơn, cử cán bộ đi đào tạo tại nước ngoài để đáp ứng yêu cầu mới khi ngân hàng hội nhập kinh tế thế giới. Ngoài việc quan tâm nhiều hơn đến công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ nhân viên, ngân hàng phải chú trọng nhiều hơn, đòi hỏi cao hơn, có thái độ rõ ràng hơn đối với nhân viên của mình. Một là về năng lực công tác yêu cầu mỗi cán bộ tín dụng không những phải thường xuyên nghiên cứu, học tập và thực hiện đúng các quy định hiện hành mà còn phải nâng cao năng lực công tác, nhất là khả năng phát hiện, ngăn chặn những thủ đoạn lợi dụng của khách hàng. Hai là về phẩm chất đạo đức, ý thức trách nhiệm yêu cầu mỗi cán bộ ngân hàng phải luôn tự bồi dưỡng về phẩm chất đạo đức, nêu cao ý thức trách nhiệm công việc. Bên cạnh đó, chi nhánh cũng phải coi trọng công tác thi đua khen thưởng cho những cán bộ tín dụng giỏi, và đồng thời phải có những biện pháp xử lý những cán bộ tín dụng bị biến chất. Có như vậy mới có những cán bộ giỏi chuyên môn nghiệp vụ, nắm vững quy trình cho vay, có đạo đức tốt, trung thực khách quan có ý thức cao trong công việc bởi chỉ có thi đua khen thưởng thì họ mới tự trau dồi cho mình những kiến thức về kinh tế, xã hội trong nước cũng như quốc tế, tìm hiểu các kiến thức về những ngành nghề lĩnh vực mà minh cho khách hàng vay vốn. 3.2.6. Tăng cường công tác thu hồi nợ và chủ động giải quyết nợ có vấn đề Vấn đề này sẽ không phải đặt ra nếu khoản tín dụng được hoàn trả đầy đủ và đúng hạn. Không thu được vốn đúng hạn hoặc đầy đủ như cam kết ban đầu là điều không ai mong muốn. Tại chi nhánh thì tổng nợ xấu năm sau luôn giảm hơn năm trước nhưng đến năm 2010 thì lại tăng lên nhưng vẫn thấp hơn kế hoạch đặt ra. Sở dĩ chi nhánh đạt được kết quả đó là do đã có một bộ phận chuyên phụ trách mạng xử lý nợ xấu, nợ có vấn đề, và điều quan trọng là chi nhánh đã thực hiện phân loại nợ, trích lập dự phòng và xử lý rủi ro tín dụng theo đúng quy định. Trong thời gian tới, nên tiếp tục phát huy khả năng này và cần tiếp tục tăng cường hơn nữa chủ động giải quyết nợ có vấn đề. Trước hết phải có biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn nợ quá hạn như chấn chỉnh lại các thiết sót ở các khâu trong quá trình cho vay, thiết lập bổ sung đầy đủ hồ sơ pháp lý, hạn chế đến mức tối đa những kẽ hở trong khâu nghiệp vụ để phòng lừa đảo, chiếm đoạt vốn của ngân hàng. Trong trường hợp phát hiện một khoản vay có vấn đề, việc đầu tiên mà cán bộ tín dụng phải làm là xác định tính nghiêm trọng của vấn đề thông qua việc kiểm tra, phân tích từ các nguồn thông tin khác nhau. Ngân hàng có thể dựa vào kết quả phân tích để đưa ra các biện pháp xử lý thích hợp. Đối với những khoản vay có vấn đề được xác định là có mức nghiêm trọng tương đối thấp thì ngân hàng có thể sử dụng nhóm biện pháp khai thác như sau: + Tư vấn cho khách hàng nhằm khôi phục tình hình tài chính: thông qua hoạt động này ngân hàng có thể tư vấn cho khách hàng nhằm thực hiện các biện pháp thích hợp để khôi phục tình hình tài chính của khách hàng. Cụ thể là: cán bộ tín dụng có thể trực tiếp tư vấn hoặc mời chuyên gia tư vấn cho khách hàng về một số chính sách kinh doanh như: chính sách bán hàng, cách thức tổ chức hoạt động,… Đối với các doanh nghiệp gặp căng thẳng về mặt tài chính do theo đuổi chính sách mở rộng hoạt động kinh doanh quá mức, ngân hàng có thể tư vấn cho khách hàng nên tạm dừng kế hoạch này cho đến khi tình hình tài chính được cải thiện. Khuyến khích các doanh nghiệp thu hồi các khoản nợ chậm trả tức là giảm bớt lượng vốn đang bị chiếm dụng. + Gia hạn nợ cho khách hàng: biện pháp này sẽ giúp khách hàng duy trì hoạt động đồng thời giúp ngân hàng thu hồi đầy đủ khoản tín dụng sau này. + Cho vay thêm: trong trường hợp phương án đầu tư của khách hàng đang gặp khó khăn, có thể ảnh hưởng đến việc thu nợ và nguyên nhân chủ yếu là do thiếu vốn và ngân hàng xem xét thấy khả năng phương án đó có thể phát triển tốt nếu được đầu tư thêm vốn. Trường hợp này cán bộ tín dụng phải tiền hành giám sát chặt chẽ phương án sản xuất kinh doanh, từng khoản chi phí, điều phối cán bộ tín dụng trực tiếp cùng doanh nghiệp điều hành phương án cho có hiệu quả và qua đó thu hồi nợ dần. Trong trường hợp các biện pháp khác không mang lại hiệu quả, khách hàng cố ý dây dưa, để nợ quá hạn kéo dài ngân hàng cần sử dụng những biện pháp cứng rắn, kết hợp với sự hỗ trợ của chính quyền địa phương, cơ quan chức năng để phát mại tài sản thế chấp, khởi kiện, cưỡng chế để thu hồi nợ. 3.2.7. Thực hiện tốt hoạt động marketing Hoạt động marketing có vai trò vô cùng quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng. Để tăng quy mô, tăng khả năng cạnh tranh, thu hút được nhiều khách hàng thì ngân hàng cần phải tạo ra sự khác biệt so với ngân hàng khác. Càng nhiều khách hàng đến với ngân hàng thì ngân hàng càng có nhiều cơ hội để lựa chọn những khách hàng tốt, hoạt động đầu tư, cho vay của ngân hàng ngày càng được mở rộng và phát triển, chất lượng tín dụng của ngân hàng sẽ ngày càng được cải thiện. Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh là quy luật tất yếu nên để tồn tại các ngân hàng cần phải đưa ra được chiến lược marketing phù hợp. Thực tế trong năm 2008 tại chi nhánh phòng dịch vụ marketing đã được thành lập nhưng hoạt động này chưa mang đúng ý nghĩa của nó mà mới chỉ dừng lại ở việc thực hiện một số chương trình quảng cáo khuyến mại hay tiết kiệm dự thưởng. Còn bản chất của marketing là đi nghiên cứu sâu nhu cầu của khách hàng, phân loại thị trường mục tiêu thì hầu như là không có và đây là một hạn chế của chi nhánh. Trong bối cảnh như hiện nay, khi Việt Nam đã gia nhập WTO tức là sẽ thực hiện đối xử bình đẳng, không phân biệt với các ngân hàng nước ngoài, các ngân hàng nước ngoài được hoạt động như các NHTM trong nước, như vậy môi trường hoạt động của ngân hàng ngày càng cạnh tranh gay gắt và khốc liệt. Do vậy trong thời gian tới để nâng cao chất lượng tín dụng cần chú trọng hơn đến hoạt động marketing. Cụ thể chi nhánh phải: + Chủ động tăng cường tìm kiếm khách hàng, cán bộ chi nhánh cần tăng cường tìm hiểu về nhu cầu của khách hàng, tiến hành phân loại khách hàng, lựa chọn những khách hàng mục tiêu. Từ đó chi nhánh sẽ có cơ sở để đưa ra những sản phẩm tín dụng đáp ứng nhu cầu của khách hàng về thời gian, lãi suất,… tạo được sự khác biệt hơn so với đối thủ cạnh tranh gay gắt như hiện nay. + Tăng cường công tác tuyên truyền, quảng bá hình ảnh, uy tín của ngân hàng, giới thiệu các sản phẩm mà ngân hàng cung cấp đến khách hàng tạo điều kiện cho khách hàng tiếp cận các sản phẩm của ngân hàng. + Thực hiện chính sách giá cả hợp lý: chi nhánh nên thực hiện việc phân loại khách hàng để từ đó có chính sách hợp lý với từng đối tượng. Đối với những khách hàng truyền thống, uy tín chi nhánh nên có chính sách lãi suất phù hợp, nên áp dụng với mức lãi cho vay thấp hơn các nhóm khách hàng khác. + Tạo ra sự khác biệt trong sản phẩm: Chi nhánh có thể tạo ra sự khác biệt trong sản phẩm theo hướng thỏa mãn tối đa nhu cầu lợi ích của khách hàng. Ví dụ như tư vấn, giúp đỡ khách hàng thực hiện các phương án kinh doanh, miễn phí các dịch vụ kèm theo,… + Phân tích đánh giá các đối thủ cạnh tranh trên địa bàn: chi nhánh cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng các đối thủ cạnh tranh trên địa bàn để hiểu rõ đối thủ. Từ đó xây dựng chiến lược cạnh tranh có hiệu quả. Có như vậy chi nhánh sẽ có những giải pháp kịp thời, phù hợp để thỏa mãn nhu cầu của khách hàng và kịp thời loại bỏ những món vay không hợp lý, những lĩnh vực đầu tư nhiều rủi ro từ đó đưa ra nhiều sản phẩm có chất lượng cao, những khoản tín dụng lành mạnh. 3.2.8. Đa dạng hóa danh mục sản phẩm tín dụng của ngân hàng Đặc thù riêng của ngành ngân hàng là có rủi ro cao hơn so với các ngành khác, trong đó rủi ro tín dụng thường gây ra cho ngân hàng những tổn thất lớn, thường xuyên và khó có thể tránh khỏi. Để phân tán rủi ro trong hoạt động tín dụng, việc đa dạng hóa danh mục tín dụng là biện pháp tất yếu. Là NHTM nhà nước, NHNo&PTNT Nam Hà Nội có dư nợ cho vay doanh nghiệp nhà nước quá cao, ngân hàng cần có chính sách phân tán danh mục cho vay tránh tập trung quá cao vào một đối tượng khách hàng. Việc tài trợ cho nhiều nhóm khách hàng sẽ ít rủi ro hơn việc tập trung cho vay với một nhóm khách hàng như chi nhánh vẫn tiến hành hiện nay. Như vậy không có nghĩa là chính sách phải hương tới giảm cho vay doanh nghiệp nhà nước mà cần xem xét kỹ có nên cho vay hay không cho vay căn cứ vào điều kiện của doanh nghiệp, không nên giữ cách nhìn bao cấp cứ doanh nghiệp nhà nước là cho vay, chính sách của ngân hàng cần nêu rõ chủ trương mở rộng thêm khách hàng, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đặc biệt tại chi nhánh có dư nợ cho vay tiêu dùng còn thấp nên tập trung vào thị trường này bởi khi mà nhu cầu về hàng hóa lâu bền như nhà ở, xe hơi, đồ gỗ cao cấp,… ngày càng tăng. Cùng với việc thị phần cho vay doanh nghiệp bị giảm sút do môi trường cạnh tranh gay gắt, do việc các doanh nghiệp tự tài trợ bằng cách phát hành cổ phiếu, trái phiếu thì việc mở rộng cho vay tiêu dùng là hoàn toàn có cơ sở. Nhưng không phải lĩnh vực nào chi nhánh cũng thoải mái trong việc cho vay mà chỉ chú trọng vào những ngành mũi nhọn của nền kinh tế, những ngành đang có tiềm năng phát triển. 3.2.9. Đẩy mạnh công tác huy động vốn Huy động vốn là hoạt động cung cấp nguồn cho hoạt động tín dụng. Sự ổn định về nguồn vốn sẽ tạo tiền đề để hoạt động tín dụng hiệu quả. Chính vì vậy, đẩy mạnh công tác huy động vốn góp phần nâng cao chất lượng tín dụng của ngân hàng. Trong những năm qua, công tác huy động vốn của chi nhánh đều tương đối phát triển, song không vì thế mà trong thời gian tới chi nhánh không cần để ý đến nó nữa mà cần phải quan tâm nhiều hơn nữa. Có như vậy thì mới thu hút được khách hàng đến vay vốn bởi khách hàng là những người marketing tuyệt vời nhất. Để cà nguồn tiền gửi phát triển ổn định và bền vững chi nhánh cần: - Tiếp tục cải tiến phong cách và phương thức cũng như kỹ thuật giao dịch để phục vụ khách hàng ngày càng tốt hơn. - Đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại. áp dụng công nghệ tiên tiến vào các sản phẩm thanh toán, tiền gửi, đẩy mạnh việc mở tài khoản tiền gửi cá nhân giúp cho khách hàng tiết kiệm được thời gian và chi phí an toàn tiện lợi từ đó tạo niềm tin nơi khách hàng, giúp cho ngân hàng dễ dàng hơn trong việc huy động vốn. - Mở rộng mạng lưới huy động vốn đến các địa bàn mới, tăng cường công tác tiếp thị quảng bá kết hợp với phong cách tận tình, lịch sự, chu đáo nhằm tạo phong cách riêng cũng như hình ảnh của chi nhánh. - Xây dựng kế hoạch chăm sóc khách hàng thường xuyên, chủ động tiếp xúc nắm bắt thông tin doanh nghiệp trên địa bàn để chủ động đưa ra những sản phẩm dịch vụ doanh nghiệp. - Bên cạnh đó thì ngân hàng cũng phải có một chính sách lãi suất phù hợp, linh hoạt để thu hút khối lượng vốn cần thiết. 3.2.10. Các biện pháp khác - Chứng khoán hóa tài sản thế chấp: Chứng khoán hóa tài sản là một quá trình tài chính cơ cấu, tại đó các tài sản thế chấp khác nhau của những người đi vay được tập hợp và đóng gói rồi được dùng làm đảm bảo để phát hành các trái phiếu (gọi chung là trái phiếu đảm bảo bằng tài sản). Tiền từ người mua các chứng khoán này sẽ được chuyển đến các tôt chức tài chính cho vay thế chấp để các tổ chức này cho người đem thế chấp tài sản vay tiền. Chứng khóa hóa chính là quá trình dưa tài sản thế chấp sang thị trường thứ cấp nơi mà chúng có thể trao đi đổi lại. Nó đã biến các tài sản kém thanh khoản thành những chứng khoán thanh khoản cao. Có bốn loại chủ thể kinh tế chủ yếu liên quan đến quá trình chứng khoán hóa, đó là: người thế chấp và đi vay; tổ chức tập hợp và đóng gói tài sản rồi phát hành chứng khoán; nhà đầu tư mua bán chứng khoán; ngân hàng cho vay. Với bốn loại chủ thể kinh tế thay vì hai loại là người thế chấp - đi vay và ngân hàng cho vay, rủi ro được chuyển từ tổ chức tài chính sang nhà đầu tư trái phiếu đảm bảo bằng tài sản. Việc gộp nhiều loại tài sản thế chấp khác nhau vào một tập hợp cũng là một hình thức phân tán rủi ro. Vì thế, đã có cách gọi các trung gian tài chính tham gia vào chứng khoán hóa là những người tạo ra và phân tán rủi ro. Chính vì thế chứng khoán hóa tạo thuận lợi cho việc vay và cho vay có thế chấp. Do đó, trong tương lai, ngân hàng nên tính toán để áp dụng phương pháp này tuy nó chưa phổ biến tại Việt Nam nhưng nếu chi nhánh vận dụng thì sẽ cho kết quả tốt. - Thực hiện liên kết với công ty bảo hiểm: Với việc liên kết với các công ty bảo hiểm đem lại cho ngân hàng rất nhiều tiện ích: Thứ nhất, việc chuyển một phần rủi ro mà nhà bảo hiểm đảm bảo độ tin cậy của người vay cao hơn, tạo tiền đề giảm thiểu rủi ro tín dụng cho ngân hàng và nâng cao chất lượng tín dụng cho ngân hàng. Ngân hàng có thể tập trung thời gian, nguồn lực vào việc trực tiếp cung cấp dịch vụ ngân hàng, tạo khả năng hoạt động theo một cơ chế linh hoạt hơn trong việc xác định cân đối lợi ích giữa rủi ro và thu nhập. Thứ hai, các chuyên gia của công ty bảo hiểm có nhiều điều kiện hơn trong việc chuyên môn hóa đánh giá khách quan rủi ro và xây dựng chiến lược quản trị rủi ro. Nhờ vậy, tính bền vững, độ tin cậy của ngân hàng được tăng cường và tác động tích cực đến việc nâng cao uy tín, thương hiệu của ngân hàng. - Ngân hàng cần tiền hành liên doanh, liên kết với các ngân hàng hay các TCTD khác đối với các món vay có giá trị lớn thông qua hình thức cho vay hợp vốn. Hình thức này vẫn chưa được áp dụng phổ biến tại chi nhánh. Cho vay hợp vốn là quá trình cho vay, bảo lãnh một nhóm ngân hàng cho một dự án, do một NHTM làm đầu mối phối hợp với bên tài trợ để thực hiện, nhằm nâng cao hiệu lực và hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và ngân hàng. Việc ngân hàng cho vay hợp vốn là để cung cấp các khoản tín dụng lớn mà một ngân hàng khó có đủ khả năng cho vay, khó xác định mức độ rủi ro, mạo hiểm hoặc có mức độ rủi ro, mạo hiểm cao nhằm san sẻ rủi ro giữa các ngân hàng cùng tham gia tài trợ. 3.3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ Qua phân tích thực trạng hoạt động tín dụng tại NHNo&PTNT Chi nhánh Nam Hà Nội trong những năm qua có thể thấy rằng hoạt động kinh doanh của Ngân hàng hiện nay vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn. Một mặt, Chi nhánh phải giải quyết tốt vấn đề tăng khối lượng tín dụng nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho các doanh nghiệp để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế. Mặt khác, phải có những biện pháp sử dụng vốn thích hợp, có hiệu quả cao, tạo cơ cấu đầu tư vốn hợp lý, chất lượng tín dụng phải đảm bảo. Như vậy, muốn nâng cao chất lượng tín dụng đòi hỏi phải có những biện pháp hữu hiệu từ phía Nhà nước, NHNN, NHNo&PTNT Việt Nam, doanh nghiệp và các cơ quan có liên quan. 3.3.1. Kiến nghị đối với Nhà nước Để tạo điều kiện cho hoạt động Ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng tại Chi nhánh nói riêng, giúp Ngân hàng mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng, đề nghị Nhà nước: - Hoàn thiện và ổn định các chính sách kinh tế - xã hội, trên cơ sở đó tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động kinh doanh, hoạt động tín dụng. Một trong những nguyên nhân gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, giảm hiệu quả sử dụng vốn, dẫn đến khó khăn trong trả nợ Ngân hàng là môi trường kinh tế không ổn định, các chính sách và cơ chế quản lý vĩ mô của Nhà nước thay đổi, đang trong quá trình điều chỉnh, đổi mới và hoàn thiện. Các doanh nghiệp phải chuyển hướng, điều chỉnh hoạt động, Nếu doanh nghiệp nào không thay đổi kịp sự thay đổi của cơ chế chính sách sẽ dẫn tới kinh doanh thua lỗ, ứ đọng hàng hóa, mất khả năng thanh toán, phát sinh nợ quá hạn. Nhà nước cần có biện pháp tạo ra môi trường kinh doanh ổn định và thuận lợi, tạo điều kiện cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, trong đó có các NHTM. Nhà nước cần có chính sách ưu tiên đối với hoạt động Ngân hàng, thực sự coi Ngân hàng là đòn bẩy của nền kinh tế. Nếu hoạt động Ngân hàng không tốt, không phát huy hiệu quả sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến tăng trưởng, phát triển kinh tế. Trong quá trình điều chỉnh cơ chế, chính sách cần có những bước đệm hoặc biện pháp tháo gỡ khó khăn xuất hiện do thay đổi cơ chế. Trong lĩnh vực Ngân hàng hiện nay, luật NHNN và luật các TCTD, cùng các luật khác đã được ban hành, tạo ra hành lang pháp lý rất quan trọng. Tuy nhiên, Nhà nước cần chỉ đạo việc ban hành, triển khai thực hiện các nghị định, thông tư hướng dẫn một cách nhanh chóng, đồng bộ giữa các cấp, các ngành, tránh gây ách tắc, không hình sự hóa, đảm bảo quyền lợi chính đáng cho các NHTM. Xây dựng mối quan hệ chặt chẽ giữa chính quyền Nhà nước từ trung ương đến địa phương, kết hợp lợi ích của Nhà nước, của Ngân hàng và của người lao động, tăng cường cơ sở vật chất, nâng cao phúc lợi cho người lao động, gắn chặt nhiệm vụ phát triển kinh tế của địa phương với hoạt động Ngân hàng. Chính phủ cần quy định rõ trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp, các bộ ngành có liên quan tham gia thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư sản xuất kinh doanh và trách nhiệm của Ngân hàng khi đầu tư vốn, tránh tình trạng khi có rủi ro xảy ra quy mọi trách nhiệm về phía Ngân hàng. - Nhà nước cần tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động Ngân hàng, thường xuyên phân tích, đánh giá chất lượng hoạt động của từng NHTM. Ngoài ra Chính phủ cần thiết lập hệ thống cảnh báo sớm các nguy cơ có thể xảy ra và hoàn thiện các hệ thống giải pháp giải quyết, tháo gỡ các vấn đề phát sinh trong hoạt động của các NHTM. - Các cơ quan chức năng như tòa án, viện kiểm sát, thanh tra Nhà nước,… có sự quan tâm hỗ trợ Ngân hàng trong việc xử lý thu hồi nợ, nhất là các khoản vay cố ý chây ỳ, trốn tránh trách nhiệm trả nợ và lừa đảo. - Có chính sách hỗ trợ toàn diện cho NHNo&PTNT Việt Nam. Để giúp Ngân hàng có đủ thế lực nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ nặng nề trong phát triển nông nghiệp, nông thôn, nâng cao chất lượng tín dụng. giảm thấp rủi ro, ổn định đời sống cán bộ,… Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ toàn diện về nguồn vốn kinh doanh, trang bị hoạt động, xử lý rủi ro, hỗ trợ chi phí, có chính sách cán bộ phù hợp. 3.3.2. Kiến nghị với Ngân hàng nhà nước Để giúp NHTM nâng cao chất lượng tín dụng, ngăn chặn nợ quá hạn, đề nghị NHNH Việt Nam: - Tăng cường chỉ đạo các NHTM trong việc thực hiện các chính sách tiền tệ, chính sách tín dụng, định hướng đầu tư trong từng thời kỳ. Đặc biệt là không ngừng bổ sung, hoàn thiện chế độ, thể lệ cho vay đối với khách hàng. - Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát đối với hoạt động tín dụng của các NHTM, từ đó phát hiện sớm các sai sót, xu hướng sai lệch, các vấn đề tồn tại,… để chỉ đạo, ngăn chặn, khắc phục một cách triệt để. - Đề xuất với Chính phủ sớm thành lập công ty mua bán nợ, công ty mua bán tài sản đảm bảo nợ vay của NHNo&PTNT giúp Ngân hàng giải tỏa có hiệu quả các khoản nợ quá hạn khê đọng, các tài sản đảm bảo khó phát mại hoặc chưa xử lý được, ngay từ đó lành mạnh hóa chất lượng tín dụng, gỉải phóng nguồn vốn kinh doanh bị ứ đọng. - Có hệ thống thông tin chất lượng cao, cung cấp kịp thời các thông tin cho NHTM tránh rủi ro do thiếu thông tin. 3.3.3. Kiến nghị đối với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - Tăng cường công tác huấn luyện nghiệp vụ cho cán bộ, như tập huấn về quản trị kinh doanh, kiến thức pháp luật, kỹ năng kỹ thuật thẩm định các dự án lớn,… - Hỗ trợ nguồn vốn cho chi nhánh để đáp ứng nhu cầu vốn trên địa bàn. - Hiện nay Nhà nước đang thực hiện sắp xếp lại doanh nghiệp nên một số doanh nghiệp Nhà nước trở thành doanh nghiệp quốc doanh. Gần đây nhất theo Quyết định 528/QĐ-HĐQT-TDDN ngày 21/05/2010 của HĐQT NHNo&PTNT Việt Nam mức phân quyền phán quyết được quy định trên cơ sở xếp loại doanh nghiệp A,B đối với các chi nhánh và Sở giao dịch còn một số bất cập như: Hết một năm hoạt động, kinh doanh các doanh nghiệp (ở đây là các Chi nhánh loại 1, 2 hạng 1, 2…và Sở Giao dịch) mới tổng kết trình lên để xếp loại. Khi có quy định mức phán quyết mới ban hành thì được áp dụng cho năm sau. Như vậy sẽ không phù hợp với những thời điểm cụ thể, hoặc mức phán quyết với Chi nhánh loại 1 còn thấp. Đề nghị NHNo&PTNT Việt Nam nâng mức phán quyết cho các Chi nhánh cấp một, và có những quy định cụ thể hơn sớm hơn đối với từng thời điểm, từng khách hàng, dự án lớn để giải quyết cho vay được nhanh chóng. 3.3.4. Kiến nghị đối với thành phố Hà Nội - Đẩy nhanh tiến trình sắp xếp và đổi mới các doanh nghiệp Nhà nước, tạo môi trường ổn định cho hoạt động kinh doanh của các NHTM. - Có biện pháp tích cực ngăn chặn các tệ nạn xã hội, đảm bảo cho môi trường tín dụng phát huy hiệu quả cao. - Tăng cường chỉ đạo các quận, huyện và các tổ chức đoàn thể tại cơ sở phối hợp, giúp đỡ Ngân hàng thực hiện tốt các chương trình vay vốn của các hội viên trong các hiệp hội, tổ chức xã hội trong quận huyện. - Có biện pháp hỗ trợ về tiêu thụ sản phẩm trong nông nghiệp cho nông dân như: chè, cây ăn quả,… - Có biện pháp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhanh chóng, đồng thời phải có biện pháp quản lý chặt chẽ, tránh trường hợp một người có đến hai giấy chứng nhận hợp pháp. - Chỉ đạo các cơ quan chức năng giúp đỡ Ngân hàng trong việc xử lý nợ quá hạn và phát mại tài sản thế chấp. KẾT LUẬN Trong quá trình hình thành và phát triển của mỗi ngân hàng, chất lượng tín dụng luôn là vấn đề mang tính thời sự, cấp thiết được quan tâm và đặt lên hàng đầu của các NHTM nói chung và NHNo&PTNT Nam Hà Nội nói riêng. Việc nghiên cứu đề xuất ra các giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng để phát huy hiệu quả kinh doanh là hết sức cần thiết đối với hầu hết các NHTM hiện nay. Qua nghiên cứu, luận văn đã hoàn thành được một số những nội dung cơ bản sau đây: 1. Nêu được những vấn đề cơ bản về tín dụng và nâng cao chất lượng tín dụng trong nền kinh tế thị trường về mặt lý luận. 2. Luận văn đã phân tích làm rõ được thực trạng chất lượng tín dụng tại NHNo&PTNT Nam Hà Nội. Trên cơ sở đó rút ra được những kết quả, tồn tại và nguyên nhân dẫn đến những tồn tại đó. 3. Trên cơ sở phân tích thực trạng để khắc phục những tồn tại, luận văn đã đưa ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng tín dụng trong hoạt động kinh doanh Ngân hàng.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfLUẬN VĂN- Nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn - Chi nhánh Nam Hà Nội, thực trạng và giải pháp.pdf
Luận văn liên quan