Luận văn Phân tích tình hình huy động vốn và hoạt động tín dụng tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Ninh Kiều

Trang CH%&NG 1: GI'I THI(U 1.1 t v"n  nghiên cu . 1 1.1.1 S c n thit nghiên cu 1 1.1.2 Cn c khoa hc và th c tin . 2 1.2 M)c tiêu nghiên cu 2 1.2.1. M)c tiêu chung . 2 1.2.2. M)c tiêu c) th . 3 1.3. Ph m vi nghiên cu 3 1.4. Lưc kh o tài liu có liên quan n  tài 3 CH%&NG 2: PH%&NG PHÁP LU*N VÀ PH%&NG PHÁP NGHIÊN C+U 2.1. Phương pháp lun . 5 2.1.1 Chc nng c a ngân hàng thương m i 5 2.1.2 Nghip v) huy ,ng vn c a ngân hàng thương m i 5 2.1.3 Ho t ,ng tín d)ng c a ngân hàng thương m i . 15 2.2. Phương pháp nghiên cu . 21 2.2.1. Phương pháp thu thp thông tin 21 2.2.2. Phương pháp x lý s liu . 21 2.2.3. Phương pháp phân tích s liu . 21 CH%&NG 3: GI'I THI(U V- NGÂN HÀNG NÔNG NGHIP VÀ PHÁT TRI.N NÔNG THÔN CHI NHÁNH NINH KI-U 3.1. Lch s hình thành và phát trin c a Ngân hàng Nông nghip và Phát trin Nông thôn chi nhánh Ninh Kiu 22 3.2. Cơ c"u t/ chc . 25 3.2.1. Sơ 0 cơ c"u t/ chc . 25 3.2.2. Chc nng và nhim v) c a Ngân hàng Nông nghip và Phát trin Nông thôn chi nhánh Ninh Kiu . 26 3.3. Các ho t ,ng kinh doanh chính 27 3.4. Kt qu ho t ,ng kinh doanh c a ngân hàng qua 3 nm 2005 – 2007 29 CH%&NG 4: PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH HUY 1NG VÀ CHO VAY T2I NGÂN HÀNG NÔNG NGHI(P VÀ PHÁT TRI.N NÔNG THÔN CHI NHÁNH NINH KI-U 4.1.Phân tích tình hình huy ,ng vn c a Ngân hàng Nông nghip và Phát trin Nông thôn chi nhánh Ninh Kiu . 31 4.1.1. Tình hình ngu0n vn t i ngân hàng . 31 4.1.2. ánh giá kt c"u và bin ,ng tình hình huy ,ng vn c a Ngân hàng Nông nghip và Phát trin Nông thôn chi nhánh Ninh Kiu . 34 4.2. Phân tích tình hình tín d)ng c a Ngân hàng Nông nghip và Phát trin Nông thôn chi nhánh Ninh Kiu 37 4.2.1 Tình hình cho vay t i ngân hàng . 37 4.2.2 Phân tích n x"u c a ngân hàng . 49 4.2.3 Phân tích thu nhp chi phí c a ngân hàng . 52 4.3.3 Phân tích các ch s tài chính . 54 CH%&NG 5: BI(N PHÁP NÂNG CAO HI(U QU3 HUY 1NG V4N VÀ CHO VAY T2I NGÂN HÀNG NGÂN HÀNG NÔNG NGHI(P VÀ PHÁT TRI.N NÔNG THÔN CHI NHÁNH NINH KI-U 5.1. ánh giá th c tr ng ho t ,ng c a ơn v 58 5.1.1. %u im 58 5.1.2. Nhng t0n t i 59 5.2. Nhng gi i pháp  nâng cao hiu qu huy ,ng vn và tín d)ng c a Ngân hàng Nông nghip và Phát trin Nông thôn chi nhánh Ninh Kiu . 59 5.2.1. Gi i pháp chung 59 5.2.2. M,t s gi i pháp v huy ,ng vn . 61 5.2.3. M,t s gi i pháp v tín d)ng . 62 5.3. Bin pháp gi m thiu r i ro tín d)ng . 64 Chương 6: K5T LU*N VÀ KI5N NGH6 6.1. Kt lun . 66 6.2. Kin ngh . 67

pdf84 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Lượt xem: 1902 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Phân tích tình hình huy động vốn và hoạt động tín dụng tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Ninh Kiều, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
c triệt để. 4.2.1.4. Phân tích tình hình dư nợ của ngân hàng Dư nợ cho vay có thể được hiểu là hệ số giữa doanh số cho vay và thu nợ. Như vậy, chỉ tiêu dư nợ cho vay là khoản tiền đã giải ngân mà ngân hàng chưa thu hồi về. Dư nợ cho vay là chỉ tiêu xác thực để đánh giá về qui mô hoạt động tín dụng trong từng thời kỳ. Đây là một chỉ tiêu không thể thiếu khi nói đến hoạt động tín dụng của ngân hàng. Tuy nhiên, việc phân tích dư nợ kết hợp với nợ xấu sẽ cho phép ta phản ánh chính xác hơn về hiệu quả hoạt động tín dụng của ngân hàng. Nhìn chung, các ngân hàng thương mại có mức dư nợ cao thường là các ngân hàng có qui mô hoạt động rộng, nguồn vốn mạnh và đa dạng. Để hiểu rõ hơn về tình hình dư nợ của ngân hàng diễn biến như thế nào trong ba năm qua, ta xem xét bảng số liệu sau: Bảng 9: TÌNH HÌNH DƯ NỢ CỦA NGÂN HÀNG QUA 3 NĂM Đơn vị tính: triệu đồng 2005 2006 2007 2006 so với 2005 2007 so với 2006 Chỉ tiêu Số tiền Số tiền Số tiền Số tiền Tỷ lệ (%) Số tiền Tỷ lệ (%) Ngắn hạn 128.901 123.681 178.602 -5220 -4,05 54.921 44,4 Trung hạn 63.927 105.036 191.477 41109 64,3 86.441 82,3 Tổng cộng 192.828 228.717 370.079 35.889 18,61 141.362 61,8 Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S NGUYỄN VĂN NGÂN SVTH: TRANG NGỌC ANH 59 (Nguồn: Phòng kinh doanh của NHNO & PTNT CN. Ninh Kiều ) 0 100000 200000 300000 400000 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Ngắn hạn Trung hạn Tổng cộng Hình 9: ĐỒ THỊ TÌNH HÌNH DƯ NỢ QUA 3 NĂM Với phương châm mở rộng hoạt động tín dụng, tăng dư nợ nhằm thúc đẩy nền kinh tế địa phương phát triển, trong những năm qua doanh số cho vay của ngân hàng liên tục tăng lên góp phần làm cho tổng dư nợ cũng có sự gia tăng đáng kể, trong năm 2006 dư nợ ngắn hạn là 123.681 triệu đồng, và giảm 5.220 triệu đồng tức giảm 4,05% so với cùng kỳ năm ngoái. Nguyên nhân là do doanh số cho vay tăng ít hơn doanh số thu nợ của năm 2006. Sang năm 2007 tổng dư nợ lại tăng lên 178.602 triệu đồng, tương đương tăng thêm 54.921 triệu đồng hay 44,4% so với năm 2006. Với kết quả trên, chi nhánh đã đáp ứng nhu cầu tăng trưởng tín dụng theo chỉ tiêu hàng năm của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam đã đề ra. Hoạt động tín dụng của ngân hàng trong 2006 mặc dù có sự tăng trưởng, tuy nhiên tốc độ tương đối chậm do cơ chế cho vay và quy định của ngành có phần chặt chẽ hơn. Mặt khác, ngân hàng phải khôi phục lại cân đối giữa nguồn vốn và sử dụng vốn nên tổng dư nợ trong năm chỉ tăng 18,61% so với năm 2005. Trong đó, dư nợ trung hạn luôn chiếm tỷ trọng cao và liên tục tăng lên qua các năm. Do vai trò của chi nhánh là bổ sung nguồn vốn lưu động đối với nền kinh tế, hỗ trợ cho các doanh nghiệp có điều kiện mở rộng sản xuất tạo ra nhiều sản phẩm cho xã hội, góp phần Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S NGUYỄN VĂN NGÂN SVTH: TRANG NGỌC ANH 60 tăng trưởng của quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nên trong những năm qua chi nhánh đã tập trung cho vay vốn ngắn hạn.Tổng dư nợ đạt mỗi năm lần lượt là 192.828 triệu đồng năm 2005, 228.717 triệu đồng năm 2006 và 370.079 triệu đồng năm 2007. Bên cạnh đó, dư nợ ngắn hạn có phần tăng chậm lại năm 2006. Nguyên nhân chủ yếu là do chi nhánh đã đề ra mục tiêu tăng trưởng tín dụng từ năm 2005 trở đi theo hướng chậm mà chắc, nhưng cố gắng phấn đấu đạt 40% trên tổng dư nợ. Chi nhánh chỉ chú trọng đến việc mở rộng cho vay đối với những khách hàng có nguồn trả nợ và tài sản đảm bảo chắc chắn, đồng thời tiếp tục duy trì quan hệ tín dụng với những khách hàng truyền thống của ngân hàng, không cho vay theo số lượng, tiến hành sàng lọc thật kỹ khách hàng trước khi quyết định cho vay nhằm giảm thiểu rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân hàng. Mặt khác, nguồn vốn huy động của ngân hàng khá lớn khoảng 95%, trong khi đó dư nợ tín dụng trung hạn luôn chiếm tỷ trọng dưới 40% tổng dư nợ, do đó khả năng thanh toán cho nhu cầu vay trung hạn luôn được đảm bảo 100%. 4.2.1.5. Phân tích dư nợ theo ngành kinh tế Bảng 10: DƯ NỢ CHO VAY THEO NGÀNH KINH TẾ Đơn vị tính: Triệu đồng Năm Chênh lệch 2005 2006 2007 2006 so với 2005 2007 so với 2006 Chỉ tiêu Số tiền Số tiền Số tiền Số tiền Tỷ lệ (%) Số tiền Tỷ lệ (%) 1. Nông nghiệp 20.599 19.460 17.415 -1.139 -5,53 -2.045 -10,51 - Chăn nuôi 6.784 6.318 9.185 -466 -6,87 2.867 45,38 - Trồng trọt 13.815 13.142 8.230 -673 -4,87 -4.912 -37,38 2. TM & DV 90.186 111.495 154.024 21.309 23,63 42.529 38,14 3. Ngành khác 82.043 97.762 198.619 15.719 19,16 100.857 103,17 Tổng cộng 192.828 228.717 370.079 35.889 18,61 141.362 61,8 (Nguồn: Phòng kinh doanh của NHNO & PTNT CN. Ninh Kiều) Qua bảng số liệu ta thấy: Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S NGUYỄN VĂN NGÂN SVTH: TRANG NGỌC ANH 61 - Lĩnh vực nông nghiệp: ta thấy dư nợ biến động qua 3 năm, năm 2006 dư nợ giảm còn 19.460 triệu đồng tương ứng 5,53% so với năm 2005, năm 2007 giảm 2.045 triệu đồng, con số này giảm liên tục cùng với doanh số cho vay tuy nhiên tỷ lệ giảm rất thấp. Do điều kiện tự nhiên không thuận lợi, dịch bệnh gia cầm làm ảnh hưởng đến việc sản xuất, làm cho sản lượng nông sản và hiệu quả chăn nuôi thấp dẫn đến công việc khó khăn hoặc mất trắng. Một số gia đình không hoàn trả được nợ hay không hoàn trả kịp thời xin thêm gia hạn một chu kỳ hay nữa chu kỳ sản xuất, chính sách ngân hàng vẫn tiếp tục cho vay sản xuất để có khả năng hoàn trả nợ gốc và lãi đến khi đáo hạn nhưng tiềm ẩn nguy cơ nợ xấu là rất nhiều. - Về thương mại và dịch vụ: dư nợ qua 3 năm luôn biến động, năm 2006 đạt 111.495 triệu đồng tăng 21.309 triệu đồng, tương ứng 23,63% so với năm 2005, năm 2007 đạt 154.024 triệu đồng tăng 42.529 triệu đồng, tương ứng 38,14% so với năm 2006 một tín hiệu đáng mừng vì thành phố Cần Thơ đang trên đường công nghiệp hóa, đời sống người dân đang dần được nâng cao qua đòn bẩy tín dụng của ngân hàng, đồng thời với dư nợ này góp phần tăng thêm nguồn thu của ngân hàng. - Ngành khác: Bên cạnh, sự tăng giảm biến động thường xuyên của lĩnh vực nông nghiệp, thương mại và dịch vụ thì tổng dư nợ của ngành khác có chiều hướng tăng nhanh đáng kể, năm 2006 đạt 97.762 triệu đồng tăng thêm 15.719 triệu đồng, tương ứng là 19,16% so với năm 2005, sang năm 2007 tăng thêm 100.857 triệu đồng, tương ứng là 103,17% so với năm 2006. Đây là biểu hiện đáng mừng vì điều này chứng tỏ ngân hàng đã thể hiện được năng lực thực sự của mình không chỉ trong lĩnh vực nông nghiệp mà còn có các lĩnh vực khác. Tóm lại, dư nợ càng cao thì lợi nhuận càng cao, nhưng cũng phải có giới hạn so với nguồn vốn của ngân hàng, nếu dư nợ vượt quá ngưỡng cho phép thì khả năng quay vòng của nguồn vốn ngân hàng chậm. Ngân hàng sẽ thiếu vốn trong cho vay vòng tiếp theo. 4.2.2 Phân tích nợ xấu của ngân hàng 4.1.2.1 Nợ xấu theo thời hạn Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S NGUYỄN VĂN NGÂN SVTH: TRANG NGỌC ANH 62 Bảng 11: BẢNG NỢ XẤU THEO THỜI HẠN Đơn vị tính: Triệu đồng Năm Chênh lệch 2005 2006 2007 2006 so với 2005 2007 so với 2006 Chỉ tiêu Số tiền Tỷ trọng (%) Số tiền Tỷ trọng (%) Số tiền Tỷ trọng (%) Số tiền Tỷ lệ (%) Số tiền Tỷ lệ (%) Ngắn hạn 1.942 1,51 1.576 0,97 1.818 0,81 -366 -18,85 242 15,36 Trung hạn 169 0,26 573 0,86 275 0,19 404 239,05 -298 -52,01 Tổng cộng 2.111 1,09 2.149 0,94 2.093 0,57 38 1,8 -56 -2,61 (Nguồn: Phòng kinh doanh của NHNO & PTNT CN. Ninh Kiều) Nhìn chung, nợ xấu của ngân hàng qua các năm giảm rõ rệt. Đây là một dấu hiệu đáng mừng trong hoạt động tín dụng của ngân hàng. Nếu như tổng nợ xấu từ 2.111 triệu đồng trong năm 2005 đến 2149 triệu đồng trong năm 2006. So với cùng kỳ năm 2005, nợ xấu đã tăng với tốc độ rất nhanh khoảng 1,8%, tương đương 38 triệu đồng về tuyệt đối, nó không làm ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng của ngân hàng, bởi vì so với tổng dư nợ nó chỉ chiếm 0,94% tức giảm 0,15 so với cùng kỳ năm trước, bước qua năm 2007, nợ xấu chỉ còn 2.093 triệu đồng giảm về số tuyệt đối là 56 triệu đồng so với 2006 và chỉ chiếm 0,57% trên tổng dư nợ hữu hiệu, thấp hơn nhiều so với mức cho phép của tổng giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam. Điều này cho thấy chất lượng tín dụng ngày càng nâng cao công tác quản lý món vay được chặt chẽ hơn. 1942 169 2111 1576 573 2149 1818 275 2093 0 500 1000 1500 2000 2500 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Ngắn hạn Trung hạn Tổng cộng Hình 10: NỢ XẤU THEO THỜI HẠN CỦA NGÂN HÀNG Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S NGUYỄN VĂN NGÂN SVTH: TRANG NGỌC ANH 63 Năm 2005, tổng nợ xấu trung hạn tại ngân hàng chiếm khoảng 169 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 0,26%. Sang năm 2006 nợ xấu trung hạn đã tăng lên đến 573 triệu đồng, tức tăng thêm 404 triệu đồng hay 239,05% so với năm 2005. Chính sự gia tăng này góp phần đưa khoản mục nợ xấu trung hạn vượt cao hơn nợ xấu ngắn hạn, chiếm tỷ trọng. Phần nợ xấu ngắn hạn cũng có nhiều biến động, nợ xấu ngắn hạn tăng giảm không đều qua 3 năm dù có giảm về tuyệt đối khoảng 366 triệu đồng so năm 2006, nhưng lại tăng lên 242 triệu đồng tương đương 15,36% vào năm 2007. Nguyên nhân chủ yếu là do khách hàng chưa kịp thu hồi vốn để trả nợ, nguyên nhân khách quan là do thiên tai, dịch bệnh và do nền kinh tế địa phương trong năm này có nhiều biến động, một số đơn vị kinh doanh không hiệu quả nên không có nguồn trả nợ cho ngân hàng khi đến hạn. Mặt khác, do đối tác của các đơn vị thi công không thanh toán kịp thời khối lượng xây dựng cơ bản hoàn thành nên việc lập thủ tục để thanh toán vốn còn chậm. Bên cạnh đó, nợ xấu trong năm tăng một phần cũng là do việc thực hiện cơ cấu lại nợ theo quyết định 1.627 của ngân hàng Nhà nước về việc chuyển nợ xấu, dẫn đến việc chuyển đổi một số khoản nợ sang nợ xấu. Ngành thương mại và dịch vụ có nhiều biến động, nhất là biết động về giá cả làm cho các đơn vị gặp nhiều khó khăn, hoạt động kinh doanh bị thua lỗ. Mặt khác, do các đơn vị thanh toán tiền với nhau chậm hoặc trả gối đầu nên các đơn vị này không có nguồn trả nợ cho ngân hàng khi đến hạn, các đơn vị xin gia hạn không kịp hoặc đã gia hạn nhiều lần thì ngân hàng buộc phải chuyển sang nợ xấu. Tuy nhiên, nợ xấu liên tục tăng qua các năm một phần cũng là do khoản nợ của nhiều năm trước chưa thu hồi hết còn tồn đọng lại đến năm nay. Bên cạnh đó, cũng kể đến nguyên nhân do khách hàng sử dụng số tiền thu được vào mục đích khác, cố ý kéo dài thời gian trả nợ cho ngân hàng. Nếu xét về thời gian thì trong năm này nợ xấu trung hạn vẫn tăng lên với tốc độ nhanh hơn so với nợ ngắn hạn. Trái ngược với sự tăng lên của nợ xấu trung hạn thì nợ xấu ngắn hạn lại có chiều hướng giảm, cụ thể năm 2006 giảm 366 triệu đồng, tương ứng là 18,85%. Nguyên nhân giảm nợ xấu ngắn hạn là do Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S NGUYỄN VĂN NGÂN SVTH: TRANG NGỌC ANH 64 ngân hàng đã có biện pháp xử lý nợ xấu ngắn hạn, ngoài ra do các doanh nghiệp tranh thủ nguồn vốn kịp thời trả nợ và để vay lại. 4.1.2.2 Nợ xấu theo ngành kinh tế Bảng 12: NỢ XẤU CHO VAY THEO NGÀNH KINH TẾ Đơn vị tính: Triệu đồng Năm Chênh lệch 2005 2006 2007 2006 so với 2005 2007 so với 2006 Chỉ tiêu Số tiền Số tiền Số tiền Số tiền Tỷ lệ (%) Số tiền Tỷ lệ (%) 1. Nông nghiệp 589 744 257 155 26,32 -487 -65,46 - Chăn nuôi 339 435 227 96 28,32 -208 -47,82 - Trồng trọt 250 309 30 59 23,6 -279 -90,29 2. TM & DV 1.499 1.325 1.711 -174 -11,6 386 29,13 3. Ngành khác 23 80 125 57 247,83 45 56,25 Tổng cộng 2.111 2.149 2.093 38 1,8 -56 -2,606 (Nguồn: Phòng kinh doanh của NHNO & PTNT CN. Ninh Kiều) Qua bảng nợ xấu trên, ta thấy nợ xấu có xu hướng giảm qua 3 năm. Tuy có tăng vào năm 2006 khoảng 1,8% nhưng lại giảm 2,6% vào năm 2007. cụ thể vào từng ngành như sau: - Nông nghiệp Chăn nuôi: năm 2006 tăng 96 triệu đồng tương đương 28,32% so với năm 2005, nhưng sang 2007 lại giảm đáng kể khoảng 208 triệu đồng về tuyệt đối, 47,82% về tương đối do năm 2007 người dân đã thích nghi với cúm gia cầm và phần nào hạn chế được dịch bệnh. Trồng trọt: vẫn đà tăng vào năm 2006 và giảm mạnh vào năm 2007. Cụ thể năm 2006 tăng 59 triệu đồng tương đương 23,6%; năm 2007 giảm 279 triệu đồng là khoảng 90,29% so với 2006. Nguyên nhân là do năm 2007 người dân được mùa, giá nông sản tăng cao nên khả năng trả nợ cũng tăng theo. - Thương mại và dịch vụ: có xu hướng ngược lại so với ngành nông nghiệp, năm 2006 giảm 174 triệu đồng tương đương 11,6% so với năm 2005, lại tăng 386 triệu đồng vào năm 2007 là khoảng 29,13% so với 2006. Ngành thương mại và dịch vụ biến động nguyên nhân chủ yếu là do lạm phát tăng cao giá cả biến động vụt nhanh làm cho các doanh nghiệp thua lỗ và mất khả năng trả nợ. Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S NGUYỄN VĂN NGÂN SVTH: TRANG NGỌC ANH 65 - Ngành khác: tăng đều qua các năm, năm 2006 tăng 57 triệu dồng tức khoảng 247,83% so với năm 2005 là khá cao. Năm 2007, tốc độ tăng có giảm xuống chỉ còn 56,25% tức 45 triệu đồng so với 2006. Nguyên nhân là do ngân hàng cho vay để xây nhà nên nguồn vốn của ngân hàng cho khách hàng này vay thu lại rất chậm. 4.2.3 Phân tích thu nhập chi phí của ngân hàng Bảng 13: KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG Đơn vị tính: Triệu đồng Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 2006 so với 2005 2007 so với 2006 Chỉ tiêu Số tiền Số tiền Số tiền Số tiền Tỷ lệ (%) Số tiền Tỷ lệ (%) 1. Thu nhập lãi suất 34.565 73.122 98.427 38.557 111,55 25.305 34,61 + Thu lãi cho vay 24.535 37.589 70.677 13.054 53,2 33.088 88,03 + Thu phí điều vốn 10.030 35.533 27.750 25.503 254,26 -7.783 -21,9 2. Chi phí lãi suất 30.067 67.765 91.300 37.698 125,38 23.535 34,73 CP trả lãi tiền gửi 30.067 67.765 91.300 37.698 125,38 23.535 34,73 Lợi nhuận 4.498 5.357 7.127 859 19,09 1.770 33,04 (Nguồn: Phòng kinh doanh của NHNO & PTNT CN. Ninh Kiều) Nhìn chung, lợi nhuận đạt được từ hoạt động tín dụng của ngân hàng liên tục tăng qua ba năm. Cụ thể, năm 2005 hoạt động tín dụng đã mạng lại cho ngân hàng 4.498 triệu đồng lợi nhuận, năm 2006 tăng lên 5.357 triệu đồng, tức tăng thêm 859 triệu đồng (hay 19,09%) so năm 2005. Trong đó chủ yếu là thu lãi từ hoạt động cho vay tăng lên từ 24.535 triệu đồng năm 2005 đến 37.589 triệu đồng năm 2006, đã tăng thêm 13.054 triệu đồng, tương đương 53,2%, còn phần thu phí điều vốn tăng khá mạnh , khoảng 245,26% so với năm 2005. Sang năm 2007, lợi nhuận từ hoạt động tín dụng tăng lên rất nhanh, đạt 7.127 triệu đồng, tức tăng 1.770 triệu đồng, tương đương 33,04% so năm 2006. Trong năm này, hai nguồn thu nhập từ lãi suất chủ yếu là thu lãi cho vay có sự tăng trưởng đáng kể, so với năm trước thu từ lãi cho vay đã tăng thêm 33.088 triệu đồng, tức tăng khoảng 88,03% còn thu từ phí điều vốn giảm nhẹ, giảm 7.783 triệu đồng, tương đương 21,9% so với năm 2006. Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S NGUYỄN VĂN NGÂN SVTH: TRANG NGỌC ANH 66 Kết quả trên, cho thấy nguồn thu của ngân hàng có sự phân tán, không chỉ tập trung chủ yếu vào thu lãi cho vay như năm trước, chứng tỏ sản phẩm ngân hàng rất đa dạng, chất lượng sản phẩm được tăng cao, ngày càng chiếm được lòng tin của khách hàng. Tuy nhiên, trong tổng thu nhập lãi suất của ngân hàng thì thu từ lãi cho vay hàng năm chiếm tỷ trọng rất cao, khoảng 75%, điều này cho thấy tín dụng hoàn toàn là nghiệp vụ kinh doanh chủ yếu ở ngân hàng, đây là nghiệp vụ có khả năng sinh lời cao, song rủi ro gặp phải cũng rất lớn. Về chi phí lãi suất, qua mỗi năm đều có sự gia tăng, xuất phát từ nhu cầu gia tăng nguồn vốn huy động của ngân hàng. Hiện nay, ngân hàng đang chịu sự cạnh tranh gay gắt của các ngân hàng khác trên cùng địa bàn, vì thế rất dể gặp khó khăn trong việc huy động vốn. Bên cạnh đó, cơn sốt giá nhà, đất, giá vàng đang lên cao nên nhiều khách hàng có tiền nhàn rỗi thích đầu tư vào bất động sản, dự trữ kim loại quý bởi lẽ khả năng sinh lời cao hơn nhiều so với gửi tiền vào ngân hàng. Cụ thể, trong năm 2005, chi phí trả lãi tiền gửi là 30.067 triệu đồng, năm 2006 tăng lên 67.765 triệu đồng, tăng thêm 37.698 triệu đồng, tương đương 125,38%. Ta thấy, tỷ lệ tăng lên khá cao, tuy nhiên giảm rõ rệt trong năm 2007, từ tốc độ tăng 125,38% giảm chỉ tăng 34,73% so năm 2006 do trong năm này ngân hàng đã có những chiến lược huy động vốn hiệu quả hơn, đã huy động tối đa lượng tiền nhàn rỗi của các tổ chức kinh tế và dân cư như đã phần nào tự chủ được nguồn vốn của mình, đây cũng chính là điểm mạnh mà ngân hàng cần phải phát huy hơn nữa trong những năm tiếp theo, tiền trả lãi cao vì phần lớn nguồn vốn của ngân hàngchủ yếu là vốn huy động được tại địa phương. Với tiền lãi cao như vậy, cũng không ảnh hưởng nhiều đến hoạt động tín dụng hay lợi nhuận từ hoạt động này. Bên cạnh đó, ngân hàng cần sử dụng nguồn vốn huy động của mình sau cho có hiệu quả nhằm giảm thiểu chi phí, nâng cao thu nhập bù đắp phần chi phí về trả lãi tiền gửi cho khách hàng. Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S NGUYỄN VĂN NGÂN SVTH: TRANG NGỌC ANH 67 3456530067 4498 73122 67765 5357 98427 91300 7127 0 20000 40000 60000 80000 100000 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Thu nhập Chi phí Lợi nhuận Hình 11: KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG 4.3.3 Phân tích các chỉ số tài chính + Hệ số thu nợ Đây là chỉ tiêu được dùng để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn trong cho vay của ngân hàng, tỷ lệ này thể hiện được khả năng thu nợ của ngân hàng cao hay thấp, cũng như xem xét khả năng trả nợ của khách hàng như thế nào. Ta thấy tỷ lệ này năm 2005 là 96%, năm 2006 là 94,0% và năm 2007 là 79%. Tỷ lệ này tăng trưởng ở 2 năm đầu và có biểu hiện giảm vào năm 2007. Bảng 14: CHỈ TIÊU PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG Đơn vị tính: Triệu đồng Năm Chỉ tiêu Đơn vị tính 2005 2006 2007 1. Tổng tài sản Triệu đồng 316.129 345.230 458.991 2. Vốn huy động Triệu đồng 299.008 325.287 444.268 3. Doanh số cho vay Triệu đồng 353.761 449.746 693.931 4. Doanh số thu nợ Triệu đồng 339.420 423.857 552.569 5. Tổng dư nợ Triệu đồng 192.828 228.717 370.079 6. Nợ xấu Triệu đồng 2.111 2.149 2.093 7. Dư nợ bình quân Triệu đồng 176.123 197.453 348.732 8. Hệ số thu nợ % 96 94 79 Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S NGUYỄN VĂN NGÂN SVTH: TRANG NGỌC ANH 68 9. Tổng dư nợ / Tổng tài sản % 61 66 80 10. Dư nợ trên vốn huy động Lần 1,55 1,42 1,2 11. Nợ xấu trên tổng dư nợ % 0,7 0,6 0,47 12. Vòng vay vốn tín dụng Vòng 1,92 2,14 1,58 (Nguồn: Phòng kinh doanh của NHNO & PTNT CN. Ninh Kiều) + Dư nợ/Tổng nguồn vốn Nhìn chung dư nợ cho vay/tổng nguồn vốn luôn đạt ở mức khá cao. Năm 2005 là 1,55 lần năm 2006 là 1,42%, sang năm 2007 là 1,2%. Hai chỉ tiêu doanh số cho vay/tổng nguồn vốn, dư nợ/tổng nguồn vốn là hai chỉ tiêu đi liền nhau tỷ lệ thuận với nhau nên doanh số cho vay tăng hay giảm thì dư nợ cũng tăng hoặc giảm. Hai chỉ tiêu này luôn đạt ở mức cao cho thấy được sự uy tín của ngân hàng, hai tỷ lệ này cao chứng tỏ có nhiều khách hàng đến giao dịch với ngân hàng. Điều này sẽ tác động tích cực đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng. + Tổng dư nợ/Tổng tài sản Đây là chỉ số tính toán hiệu quả tín dụng của một đồng tài sản, đồng thời giúp xác định qui mô hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Từ bảng số liệu trên cho thấy, tỷ lệ tổng dư nợ trên tổng tài sản rất cao (61%) nhưng sang năm 2006 lại có khuynh hướng tăng giảm bất thường, do tốc độ tăng của tổng tài sản lớn hơn tốc độ tăng của tổng dư nợ tại ngân hàng. Tuy nhiên sang năm 2007, tỷ lệ này có khuynh hướng tăng lên từ 66% lên đến 80% kết quả trên cho thấy trong 100 đồng tài sản thì ngân hàng có thể cho vay trên 80 đồng. Đây là sự thành công trong công tác sử dụng tài sản, cũng như sự nổ lực rất lớn của ngân hàng suốt thời gian qua trong quá trình cân đối giữa nguồn vốn và sử dụng vốn. Thực tế trong ba năm qua, dư nợ luôn chiếm tỷ lệ cao trong tổng tài sản của ngân hàng, điều này rất hợp lý, bởi vì đối với các ngân hàng Việt Nam hiện nay, hoạt động dịch vụ phát triển không nhiều, cho vay luôn là nghiệp vụ mang lại lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng. Tuy nhiên, để đánh giá một cách chính xác hiệu quả hoạt động tín dụng của ngân hàng ta cần xét thêm tỷ số nợ xấu trên tổng dư nợ, nhằm hiểu rõ hơn về mức độ rủi ro tín dụng của ngân hàng trong thời gian qua. + Dư nợ/Vốn huy động Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S NGUYỄN VĂN NGÂN SVTH: TRANG NGỌC ANH 69 Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sử dụng vốn huy động của ngân hàng. Nhìn chung 3 năm qua ngân hàng khai thác khá triệt để nguồn vốn huy động của mình, biểu hiện là chỉ tiêu này qua các năm đều lớn hơn 1. Năm 2005 chỉ tiêu này giảm từ 1,55 lần xuống 1,42 lần, điều này không có nghĩa là ngân hàng chưa khai thác triệt để nguồn vốn huy động của mình, mà do doanh số thu nợ tăng lên, làm cho tốc độ tăng của dư nợ trong năm không theo kịp tốc độ tăng của nguồn vốn huy động, so với năm trước thì ngân hàng huy động vốn tốt hơn. Sang năm 2007, chỉ số này vẫn giảm 1,2 lần, mặc dù vốn huy động không ngừng tăng lên nhưng dư nợ lại giảm. Nếu ngân hàng duy trì tình trạng này thì ngân hàng sẽ không lo sợ về vốn huy động không đủ đáp ứng nhu cầu vay khách hàng, tuy nhiên chỉ một mức giới hạn nào đó vì nếu chỉ số này quá thấp thì có nghĩa là khả năng sử dụng nguồn vốn huy động của ngân hàng thấp, điều này làm giảm lợi nhuận, nguồn vốn ngân hàng huy động được dư thừa so với nhu cầu vay của khách hàng. + Nợ xấu/Tổng dư nợ Chỉ tiêu này phản ánh chất lượng nghiệp vụ tín dụng cũng như khả năng thu hồi nợ của ngân hàng, giúp ta đánh giá chính xác thực trạng rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân hàng. Qua số liệu thực tế cho thấy, tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ của 3 năm đều giảm. Cụ thể, trong năm 2005 chất lượng tín dụng của ngân hàng khá tốt, tỷ trọng nợ xấu trên dư nợ chỉ đạt 0,7%, thấp hơn rất nhiều so với mức giới hạn của hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh Ninh Kiều cũng như của toàn ngành, và tiếp tục giảm trong 2 năm tiếp theo. Nhìn chung thì nợ xấu qua các năm vẫn nằm trong mức giới hạn cho phép là 2% của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh Ninh Kiều, 5% của ngân hàng Trung Ương. Điều đó cho thấy, chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng có xu hướng giảm qua các năm. Đánh giá chung, qua quá trình phân tích cho thấy hoạt đông tín dụng tại ngân hàng trong thời gian qua có nhiều chuyển biến tốt đẹp, qui mô tín dụng ngày càng được mở rộng, chất lượng nghiệp vụ tín dụng luôn được đảm bảo. Tuy nhiên, tổng nợ xấu cũng như tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ có xu hướng tăng lên Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S NGUYỄN VĂN NGÂN SVTH: TRANG NGỌC ANH 70 do đó đã có phần nào đi ngược với tình hình chung ngân hàng. + Vòng quay vốn tín dụng Chỉ tiêu này đo lường tốc độ luân chuyển vốn tín dụng, cho biết số vốn đầu tư được quay vòng nhanh hay chậm trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm). Qua bảng số liệu trên, ta thấy vòng quay vốn tín dụng của ngân hàng diễn ra khá tốt, năm 2005 đạt 1,92 vòng, sang năm 2006 đồng vốn của ngân hàng được quay vòng nhanh hơn so với năm 2005, đạt khoảng 2,14 vòng, nguyên nhân là do doanh số thu nợ tăng lên rất nhanh trong khi dư nợ bình quân trong năm lại giảm. Sang năm 2007 vòng quay vốn tín dụng của ngân hàng giảm nhưng trong trạng thái tốt, chỉ đạt 1,58 vòng. Do trong năm này, dư nợ bình quân đã tăng khá cao so với năm 2006, có thể nói là đạt cao nhất trong 3 năm vừa qua, cùng lúc đó doanh số thu nợ cũng có sự gia tăng nhưng tốc độ tăng của doanh số thu nơ không thể theo kịp tốc độ tăng của dư nợ bình quân, chính vì thế vòng quay vốn tín dụng của ngân hàng có khuynh hướng chậm lại so với năm trước. CHƯƠNG 5 BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN VÀ CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CHI NHÁNH NINH KIỀU 5.1. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA ĐƠN VỊ Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S NGUYỄN VĂN NGÂN SVTH: TRANG NGỌC ANH 71 Qua phân tích về tình hình huy động và hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh Ninh Kiều trong giai đoạn 2005 đến 2007 ta có thể nhận thấy được một số vấn đề sau: 5.1.1. Ưu điểm - Cùng với tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, doanh số cho vay Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh Ninh Kiều đã tăng qua các năm, đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn của thị trường. Doanh số cho vay ở năm sau luôn tăng cao hơn so với năm trước. - Song hành cùng với tốc độ tăng trưởng của doanh số cho vay là sự tăng trưởng của tổng dư nợ tín dụng. Tổng dư nợ tăng trung bình hằng năm trên 13%. Tuy nhiên, vẫn được kiểm soát chặt chẽ để đây không phải là mức tăng trưởng tín dụng nóng. - Có tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ cho vay thấp. Ngân hàng đã luôn duy trì một khoản dự phòng để bù đắp rủi ro. - Có chính sách cho vay hợp lý, bảo đảm tính linh hoạt trong hoạt động thực tế; tôn trọng quyền tự quyết của Ban Giám đốc, đảm bảo mục tiêu quản lý rủi ro tín dụng. - Có quy trình tín dụng khá chặt chẽ, rõ ràng tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao dịch giữa khách hàng và nhân viên tín dụng. - Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh Ninh Kiều đã chuyển dịch cơ cấu danh mục cho vay, tăng tỷ trọng cho vay thương mại và dịch vụ, giảm tỷ trọng cho vay nông nghiệp, tăng tỷ trọng cho vay ngắn hạn, giảm tỷ trọng cho vay trung hạn. - Hệ thống văn bản pháp luật có liên quan đến hoạt động của ngân hàng thương mại trong thời gian qua được sữa đổi rất nhiều tạo hành lang pháp lý tương đối ổn định cho ngân hàng. - Đội ngũ cán bộ ngân hàng có trình độ và năng lực cao, nhiệt tình trong công việc, giàu kinh nghiệm, thường xuyên được sự chỉ đạo của cấp trên, tập thể có tinh thần đoàn kết trong công việc. 5.1.2. Những tồn tại Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S NGUYỄN VĂN NGÂN SVTH: TRANG NGỌC ANH 72 Bên cạnh những thành tựu đạt được trong công tác tín dụng nêu trên, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh Ninh Kiều còn gặp phải một số vướng mắc sau: - Tốc độ tăng tín dụng nhanh nhưng kèm theo nó là tốc độ gia tăng nợ xấu cũng nhanh, nhanh nhiều hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng; điều này dể làm rủi ro tín dụng cho ngân hàng nếu không có giải pháp phòng ngừa hợp lý. - Tỷ trọng cho vay ngắn hạn khá cao, kèm theo đó là tỷ lệ nợ xấu đối với các khoản cho vay ngắn hạn chiếm tỷ trọng cao trong nợ xấu. - Thay đổi trước những biến động của ngân hàng còn chậm, do phải chờ công văn của ngân hàng cấp trên. - Cơ sở vật chất, trang thiết bị còn hạn chế, chưa cho phép ngân hàng đáp ứng hết các nghiệp vụ một cách thuận lợi. 5.2. NHỮNG GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN VÀ TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CHI NHÁNH NINH KIỀU 5.2.1. Giải pháp chung Triển khai kịp thời các văn bản có liên quan đến hoạt động kinh doanh, tài chính, thi đua của ngân hàng cấp trên về định hướng, mục tiêu và giải pháp kinh doanh đến từng cán bộ công nhân viên nhằm quán triệt tốt, thực hiện hoàn thành nhiệm vụ được giao. Cần có chính sách lãi suất phù hợp nhằm bảo vệ quyền lợi của người nông dân, chính sách bảo hiểm cho nông dân khi gặp thiên tai bão lụt một mặt giúp nông dân tin vào ngân hàng một mặt tạo được nguồn thu nhập cho ngân hàng thông qua việc thu phí bảo hiểm tiền gởi hoặc tiền vay. Nâng cao chất lượng thanh tra, kiểm tra sẽ làm tăng thêm độ tin cậy cho khách hàng trong quan hệ với ngân hàng, tạo sự lành mạnh về tài chính. Tích cực tăng thu ngoài tín dụng, không ngừng đa dạng hoá các loại hình dịch vụ tài chính tiền tệ, nghiên cứu và tiếp tục triển khai một số dịch vụ như cho thuê, tư vấn, kinh doanh vàng, kiều hối… Quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin… vừa hỗ trợ tốt cho cán bộ ngân hàng, vừa tạo được mặt ngoài đáng tin cậy, Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S NGUYỄN VĂN NGÂN SVTH: TRANG NGỌC ANH 73 tạo được ấn tượng tốt cho khách hàng họ sẽ nghĩ ngân hàng làm ăn có hiệu quả nên yên tâm đầu tư. Đẩy mạnh phong trào thi đua sôi nổi, tiếp tục phát động thi đua đối với các phong trào do Ngân Hàng Nông Nghiệp Việt Nam phát động và phát động những đợt thi đua ngắn ngày theo từng lĩnh vực cụ thể. Tổ chức những cuộc thi về kiến thức ngân hàng nhằm giúp các nhân viên cũng cố lại kiến thức cũng như bổ sung thêm kiến thức nhằm nâng cao khả năng phục vụ của từng nhân viên. Quan tâm giáo dục cán bộ, công nhân viên chức về tinh thần phục vụ và thái độ trong giao dịch với khách hàng, góp phần hoàn thiện văn hoá ngân hàng tác động trực tiếp vào tâm lý khách hàng. Tiết kiệm chi phí: - Về các khoản vật chất như nhà cửa, trang thiết bị máy móc cần được bảo quản cẩn thận tránh những hư hỏng đáng tiếc làm tăng chi phí sữa chữa. - Bố trí nhân sự hợp lý đúng người, đúng việc nhằm làm giảm thiểu những khoản chi lương không hợp lý. Để làm được điều này đòi hỏi sự khéo léo trong công tác lựa chọn và bố trí nhân sự của những nhà quản trị ngân hàng. - Bên cạnh đó, bản thân mỗi cán bộ công nhân viên phải biết tiết kiệm văn phòng phẩm, điện thoại… Có thể nói trong điều kiện cạnh tranh gay gắt như hiện nay thì việc giảm bớt chi phí hoạt động là rất cần thiết, nó góp phần tăng thu nhập cho ngân hàng. Trong khi chi phí trả lãi tiền gửi và tiền vay ngân hàng không chủ động được thì việc tiết kiệm từng khoản chi phí nhỏ nói trên là hoàn toàn cần thiết. 5.2.2. Một số giải pháp về huy động vốn Với lợi thế tiềm năng của Cần Thơ về nguồn vốn nhàn rỗi nên cần khai thác triệt để tối đa nguồn vốn này đối với những khách hàng truyền thống lâu nay, đối với hộ kinh doanh mua bán, hộ có thu nhập thường xuyên và nhất là những hộ có thân nhân Việt kiều vận động chuyển và gửi tiền vào ngân hàng. Vận động tuyên truyền quãng cáo bằng nhiều hình thức như đọc trên đài truyền thanh, treo pano áp phích kể cả tuyên truyền bằng miệng nhằm giải thích Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S NGUYỄN VĂN NGÂN SVTH: TRANG NGỌC ANH 74 thêm về các thể thức và lãi suất gửi tiền. Đồng thời vận động những hộ nhận tiền giải phóng mặt bằng chưa có nhu cầu sử dụng gửi tiền vào ngân hàng. Tiếp tục phát huy các chương trình khuyến mãi bằng vật chất có hiệu quả trong thời gian qua như xổ số, trúng vàng… Giao chỉ tiêu huy động vốn cụ thể đến từng cán bộ công nhân viên hàng tháng và quý có bình xét cụ thể để làm cơ sở xét thi đua. Đa dạng hóa các hình thức huy động vốn sao cho các hình thức mới này phải thỏa mãn được các điều kiện sau: + Nhanh chóng và tiện lợi: nghĩa là bất cứ lúc nào khách hàng có nhu cầu ngân hàng có thể chi trả ngay, không mất nhiều thời gian. + Tính kinh tế cao: phải thõa mãn mục tiêu lợi ích của khách hàng, đáp ứng các cơ hội kinh doanh. Mở thêm các dịch vụ thanh toán hộ cho khách hàng và các tổ chức trên địa bàn như trả tiền điện nước, điện thoại… vừa tranh thủ được nguồn thu dich vụ vừa tạo được mối quan hệ chặt chẽ giữa ngân hàng và khách hàng. Ngân hàng có thể đưa ra nhiều hình thức huy động vốn mới thu hút khách hàng như khách hàng có thể gửi tiền một lần rút nhiều lần, gửi nhiều lần rút một lần, gửi nhiều lần rút nhiều lần với một số tiền vào các khoảng thời gian đã được thỏa thuận. Trong công tác huy động vốn thì lãi suất huy động là vấn đề quan trọng hàng đầu. Trong giai đoạn hiện nay, với tình trạng lạm phát của nền kinh tế cần có chính sách lãi suất hấp dẫn phù hợp trong từng thời kỳ và từng mục tiêu kinh doanh, không được thấp hơn hay quá cao so với các ngân hàng khác và phải nằm trong khung lãi suất quy định của Ngân Hàng Nhà Nước. Áp dụng chính sach ưu đãi đối với khách hàng có số tiền gửi lớn và thường xuyên. 5.2.3. Một số giải pháp về tín dụng Qua thực tế về phân tích hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh Ninh Kiều trong ba năm qua nợ xấu vẫn phát sinh và tăng qua các năm. Đây là một điều hiển nhiên vì bất cứ một khoản cho vay nào cũng có một xác suất nhất định là sẽ không thu hồi được nợ. Tuy nhiên, tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh Ninh Kiều, tỷ lệ Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S NGUYỄN VĂN NGÂN SVTH: TRANG NGỌC ANH 75 nợ xấu trên tổng dư nợ vẫn chiếm một tỷ lệ rất thấp. Đây là kết quả của việc ngân hàng đã thực hiện tốt công tác cho vay; chính sách tín dụng thay đổi phù hợp với tình hình thực tế của nền kinh tế và những thay đổi của các văn bản pháp luật; thực hiện tốt và có sự phối hợp nhịp nhàng giữa các khâu trong quy trình cho vay; đội ngũ cán bộ đã từng bước tự hoàn thiện, học hỏi nâng cao trình độ học vấn và hiểu biết xã hội. Nhưng thực trạng nợ xấu vẫn phát sinh và tồn tại ở bất cứ đơn vị cho vay nào. Do đó, làm thế nào để có thể phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro một cách thấp nhất. Trong bối cảnh nhu cầu về vốn phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội ngày càng tăng, để nâng cao được chất lượng, đạt hiệu quả trong hoạt động tín dụng thì cần phải có nhiều biện pháp được thực hiện đồng bộ. Sau đây, em xin đưa ra một số biện pháp nhằm nâng cao nghiệp vụ tín dụng, phòng ngừa rủi ro. + Xây dựng chính sách cho vay có hiệu quả * Tìm kiếm thị trường để mở rộng thị phần Giữ cho được thị phần của thị trường truyền thống (hay còn gọi thị trường tốt) bằng cách tăng vốn đầu tư, ưu tiên lãi suất, giảm bớt thủ tục trong cho vay. Tập trung các hộ sản xuất giỏi, chú trọng đầu tư chiều sâu tăng mức cho vay đối với những dự án có hiệu quả khả thi, thực hiện cho vay mô hình kinh tế tổng hợp. Tìm kiếm, cạnh tranh ở các thị trường mới bằng cách tiếp thị quảng cáo về các hoạt động và dịch vụ của ngân hàng mình. * Phân loại khách hàng truyền thống, tìm kiếm các khách hàng mới để mở rộng tín dụng Đối với các loại khách hàng mới các ngân hàng cần phải tìm kiếm để cho vay, tuy nhiên việc nhận diện loại khách hàng này phải dựa vào những yếu tố ban đầu cần thiết: - Tư cách người vay (thông qua tri thức tính nết của họ khi tiếp xúc). - Phương án vay vốn. - Tài sản đảm bảo tiền vay (dự phòng để xử lý nợ khi có vấn đề). Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S NGUYỄN VĂN NGÂN SVTH: TRANG NGỌC ANH 76 * Mở rộng đối tượng vay vốn theo cơ chế cho phép: theo quyết định 1627/02/QĐ-NHNN của Thống Đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã cho phép các tổ chức tín dụng được mở rộng các đối tượng vay vốn, chỉ trừ những đối tượng mà luật pháp cấm – đã tạo điều kiện thuận lợi để các ngân hàng thương mại mở rộng tín dụng của mình, tuy nhiên để mở rộng tín dụng cho các đối tượng mới cần phải thận trọng trong việc đánh giá thẩm định phương án vay vốn và giá trị tài sản đảm bảo tiền vay để tránh rủi ro sau này. * Mở rộng mạng lưới từng bước đưa ngân hàng về gần khách hàng Các chương trình dự án cần tập trung cho vay như: cho vay chuyển đổi giống mới, cải tạo vườn tạp, khôi phục chuyển đổi vườn cây có giá trị kinh tế cao, phát triển chăn nuôi gia súc và nuôi trồng thủy sản, cho vay phát triển ngành nghề truyền thống, tiểu thủ công nghiệp như đan thảm, chiếu lát, gạch ngói, gốm sứ… Đối với ngành nông nghiệp: đáp ứng đầy đủ nhu cầu vay vốn hợp lý của khách hàng, đối với các ngành tiểu thủ công nghiệp tiếp cận đầu tư mở rộng sản xuất. Kiên quyết từ chối cho vay các dự án phương án qua thẩm định xét thấy hiệu quả không chắc chắn. Trong hệ thống ngân hàng nông nghiệp khách hàng chủ yếu là nông dân và hộ sản xuất nông nghiệp đó là những người trực tiếp lao động nên việc cải tiến thủ tục cho vay cũng như phong cách làm việc là hết sức cần thiết. * Có chế độ đãi ngộ thỏa đáng đối với cán bộ tín dụng, đào tạo để nâng cao trình độ cho đội ngũ làm công tác này nhất là trong việc thẩm định dự án đầu tư Đánh giá năng lực quản lý của từng cán bộ tín dụng dựa trên cơ sở thâm niên, kinh nghiệm nghề nghiệp, trình độ thành thạo công việc làm cơ sở cho việc giao chỉ tiêu thực hiện cũng như có kế hoạch đào tạo bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ cán bộ tín dụng cả đức lẫn tài. 5.3. BIỆN PHÁP GIẢM THIỂU RỦI RO TÍN DỤNG Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S NGUYỄN VĂN NGÂN SVTH: TRANG NGỌC ANH 77 Trên cơ sở phân loại khách hàng, duy trì khách hàng truyền thống có quan hệ tín dụng lâu năm và trả nợ sòng phẳng, hạn chế và loại bỏ dần khách hàng có quan hệ xấu. Đối với cho vay có tài sản thế chấp, ngân hàng không nên xem việc thế chấp là yếu tố quyết định cho vay mà chủ yếu xét mục đích vay có mang lại hiệu quả không, xem xét khả năng trả nợ từ hiệu quả kinh tế của mục đích đó. Ngân hàng cần tăng cường thu thập thông tin về tình hình tài chính của khách hàng nhất là đối với những khách hàng là doanh nghiệp. Phát huy hiệu quả của các dự án đã cho vay, rút ra những mặt hạn chế khắc phục, bổ sung cho hoàn chỉnh, nhất là các dự án phục vụ cho sản xuất, chế biến, tiêu thụ trong lĩnh vực nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, cơ sở hạ tầng ở nông thôn. Đồng thời phối hợp với các ngành có liên quan xây dựng các dự án cho vay mới, chủ yếu là đầu tư cho việc thay đổi giống cây trồng, vật nuôi để sản phẩm đủ tiêu chuẩn xuất khẩu. Nâng cao chất lượng tín dụng, mở rộng tín dụng nhưng phải đi đôi với ngăn chặn nợ xấu phát sinh bằng cách tăng cường công tác thẩm định trước, trong và sau khi cho vay: kiểm tra chặt chẽ hồ sơ trước khi phát tiền vay, kiểm tra trong quá trình sử dụng tiền vay cho đúng mục đích, kiểm tra kết quả sản xuất kinh doanh, chất lượng sản phẩm, theo dõi thời hạn tiêu thụ và thanh toán sản phẩm để đôn đốc thu nợ, thu lãi. Thực hiện công việc này còn nhằm phát hiện kịp thời những thiếu sót và tiêu cực có thể xảy ra, từ đó có biện pháp chỉnh sửa để đưa ra các giải pháp xử lý thích hợp. Xét cho vay và theo dõi chặt chẽ món vay là điều cần thiết nhưng bên cạnh đó ngân hàng phải thực hiện các biện pháp phòng ngừa bằng việc phân tán khách hàng để tránh rủi ro, thực hiện đầu tư vào các mục đích kinh doanh khác nhau, thường xuyên tuyên truyền những kiến thức về pháp luật đặc biệt là về quyền được vay vốn cũng như trách nhiệm phải trả nợ… Hàng tháng, quý trên cơ sở phân tích chất lượng nợ của từng địa bàn có giao chỉ tiêu cụ thể về việc giảm dần nợ xấu, nợ kém tiêu chuẩn. Cán bộ tín dụng phải nắm sát và phân loại theo từng dạng hộ, nắm từng thời điểm có nguồn thu để bám sát thu hồi đảm bảo theo kế hoạch giao. Từ đó làm cơ sở đánh giá mức Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S NGUYỄN VĂN NGÂN SVTH: TRANG NGỌC ANH 78 độ hoàn thành công việc, năng lực công tác của từng cán bộ tín dụng trên từng địa bàn được phân công để luân chuyển địa bàn hợp lý. Thường xuyên tổ chức các khoá huấn luyện, các buổi báo cáo kinh nghiệm, các cuộc hội thảo chuyên đề về tín dụng như thảo luận về các văn bản Luật, dưới Luật có tính chất hướng dẫn nghiệp vụ thường áp dụng trong hoạt động tín dụng. Đánh giá khả năng quản lý nợ ở mỗi cán bộ tín dụng, phải gắn việc tăng trưởng tín dụng với mức an toàn của vốn vay. CHƯƠNG 6 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 6.1. KẾT LUẬN Thực hiện phương châm “thành công của khách hàng là thành công của ngân hàng” thì trong những năm qua Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh Ninh Kiều trên cơ sở bám sát mục tiêu, những giải pháp cụ thể Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S NGUYỄN VĂN NGÂN SVTH: TRANG NGỌC ANH 79 của ngân hàng về hoạt động kinh doanh đã đạt được những thành công nhất định góp phần vào sự phát triển chung của thành phố. Cụ thể: Về nguồn vốn: ngân hàng đã thu hút lượng vốn đáng kể từ tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm từ dân cư. Tuy chiếm tỷ trọng tương đối thấp trong tổng nguồn vốn của ngân hàng do đây là loại tiền gửi không ổn định, mục đích chính của người gởi tiền không nhằm sinh lời mà xem ngân hàng là nơi cất hộ tiền nhằm giảm bớt rủi ro. Ta thấy, qua 3 năm liền tiền gửi có kỳ hạn chiếm tỷ trọng khá cao 60 – 80% tổng nguồn vốn huy động. Loại tiền gửi này giảm trong 3 năm do Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh Ninh Kiều năm 2006 ban lãnh đạo ngân hàng đã cho phát hành 3 đợt kỳ phiếu trả lãi trước để cung ứng kịp thời cho sản xuất kinh doanh kỳ hạn 7 tháng và 13 tháng với mức lãi suất tương ứng 0,7% và 0,71% nên dã thu hút khá mạnh người dân. Tuy nhiên để đạt được tăng trưởng cao hơn ngân hàng đã có được các định hướng sau: - Tiền gửi có kỳ hạn được chia theo những khoảng thời gian khác nhau như 1 tháng, 2 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng, 12 tháng và lớn hơn 12 tháng nó rất thuận tiện cho việc lựa chọn hình thức gửi tiền. - Lãi suất tiền gửi có kỳ hạn 2006, 2007 liên tục tăng. Cuộc sống người dân đã khấm khá và đặc điểm sống của người dân Cần Thơ nói riêng và các tỉnh Nam Bộ nói chung họ ưa thích lãi suất cao và đa số khi gửi tiền vào ngân hàng họ đã có cuộc sống ổn định. - Để thu hút khách hàng đến giao dịch với ngân hàng, ngân hàng đã đưa ra một chiến lược mới, cho phép khách hàng được rút tiền ra trước thời hạn, với điều kiện là khách hàng được hưởng lãi suất có kỳ hạn thấp hơn hay lãi suất không kỳ hạn nếu khách hàng đã gửi tiền được một khoảng thời gian nhất định. Khách hàng rất yên tâm và ưa thích loại tiền gửi này. - Sự phục vụ ân cần tận tình của cán bộ công nhân viên và cùng với nhiều hình thức khuyến mãi ngân hàng đã thu hút nhiều khách hàng trong và ngoài tỉnh đến giao dịch. Trên cơ sở nguồn vốn huy động được cùng với nguồn vốn vay thêm từ ngân hàng cấp trên và các tầng lớp dân cư thông qua phát hành các loại giấy tờ Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S NGUYỄN VĂN NGÂN SVTH: TRANG NGỌC ANH 80 có giá ngân hàng – thu hút khá nhiều vốn trong 3 năm - đã đầu tư cho vay vào các lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, chú trọng mở rộng đầu tư trong lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng, thương mại dịch vụ, thu mua,… góp phần đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo định hướng đã đề ra. Đặc biệt, chính nhờ những đồng vốn này mà nhiều hộ nông dân đã có điều kiện đầu tư và mở rộng sản xuất, giải quyết việc làm, ổn định cuộc sống, từng bước thoát nghèo, có tích lũy, có cơ hội vươn lên làm giàu chính đáng. Từ những hiệu quả của hai hoạt động huy động và cho vay là cơ sở cho việc ngân hàng tăng được lợi nhuận qua các năm, cụ thể là qua ba năm vừa phân tích năm 2005, năm 2006, năm 2007. Bên cạnh đó, để đánh giá đúng hiệu quả huy động và cho vay của ngân hàng ngoài việc phân tích dư nợ và nợ xấu thì các chỉ số tài chính cũng được đề cập đến cụ thể là dư nợ/tổng nguồn vốn; tổng dư nợ/tổng tài sản; vòng quay vốn tín dụng; dư nợ/vốn huy động đều ở tỷ lệ tốt qua các năm. Điều này cho thấy ngân hàng hoạt động có hiệu quả qua 3 năm. Tỷ lệ nợ xấu/tổng dư nợ đều giảm qua 3 năm cho thấy hoạt động tín dụng của ngân hàng có những chuyển biến tốt đẹp. 6.2. KIẾN NGHỊ + Với ngân hàng Qua thời gian thực tập tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh Ninh Kiều, em luôn nhận thấy sự tất bật làm việc nhiệt tình, tận tụy trong công việc của toàn thể nhân viên ngân hàng. Trong thời gian tới, hoạt động tín dụng vẫn là hoạt động chính, là nghiệp vụ chủ yếu mang lại thu nhập cho hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam nói chung, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh Ninh Kiều nói riêng. Do đó, công tác nâng cao chất lượng tín dụng, quản lý rủi ro càng phải được thắt chặt hơn nữa trong tình hình cạnh tranh ngày càng gay gắt. Để thực hiện điều này em xin đề xuất một vài kiến nghị với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh Ninh Kiều như sau: Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S NGUYỄN VĂN NGÂN SVTH: TRANG NGỌC ANH 81 - Hoạt động kinh doanh của ngân hàng qua ba năm đều đạt kết quả rất tốt. Tuy nhiên, ngân hàng cần có những biện pháp tích cực hơn để gia tăng thu nhập và giảm thiểu chi phí đến mức thấp nhất. Trong những năm tới ngân hàng cần cố gắng hơn nữa để giữ vững kết quả đạt được, đồng thời phát huy tích cực những mặt mạnh của mình để có thể đứng vững trên thị trường và phục vụ ngày càng tốt hơn cho nhu cầu đầu tư phát triển kinh tế nước nhà. - Trước áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt, để nguồn vốn huy động của ngân hàng ngày càng tăng và chiếm thị phần nhất định trong tổng huy động trên địa bàn thì ngân hàng cần có những hướng đi đúng đắn, có những biện pháp tích cực hữu hiệu hơn trong công tác huy động vốn hỗ trợ phát triển sản xuất, kinh doanh cho doanh nghiệp, cho nền kinh tế. Cần có giải pháp tốt để mở rộng thị phần tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng như: mở rộng mạng lưới giao dịch một phần tạo thế cạnh tranh, một phần giải quyết tình trạng thiếu hụt vốn, mặt khác tạo uy tín và nâng cao chất lượng cho ngân hàng.Đẩy mạnh việc thanh toán không dùng tiền mặt, trả lương qua thẻ và các dịch vụ ngân hàng như phonebanking, internetbanking, thanh toán tiền điện nước, điện thoại qua ngân hàng. Đẩy mạnh việc tiếp thị ngân hàng. - Qua số liệu 3 năm cho thấy nguồn vốn khác luôn luôn biến động, do đó ngân hàng cần có biện pháp để tạo ra nguồn vốn ổn định nhằm đảm bảo phục vụ tốt và kịp thời cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Ngân hàng đã sử dụng nguồn vốn huy động (vốn huy động của ngân hàng chủ yếu là trung và dài hạn) cho vay ngắn hạn trong điều kiện lãi suất thấp so với các ngân hàng khác trong điều kiện lạm phát như hiện nay sẽ có khả năng ảnh hưởng phần nào đến lợi nhuận của chi nhánh ngân hàng năm 2008, bởi các khoản đầu tư ngắn hạn luôn mang lại lợi nhuận thấp hơn đầu tư trung hạn. Chính vì thế ngân hàng cần chú trọng hơn trong công tác tìm kiếm và đầu tư vào các dự án trung hạn một cách có hiệu quả nhằm cân đối giữa huy động và sử dụng nguồn vốn trung hạn. Với tốc độ tăng nợ xấu như trên ngân hàng cần có biện pháp khắc phục hiệu quả nhất, nhằm làm giảm nợ xấu góp phần làm tăng chất lượng tín dụng của ngân hàng, nhất là phải có biện pháp hữu hiệu đối với khoản nợ xấu trung hạn. Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S NGUYỄN VĂN NGÂN SVTH: TRANG NGỌC ANH 82 Ngân hàng cần có sự chú ý hơn trong việc sử dụng vốn cho vay để cải thiện tình hình thu nợ cho năm 2008. Tóm lại, trong 3 năm qua nguồn vốn huy động của khách hàng luôn tăng trưởng nhưng ngân hàng vẫn chưa sử dụng triệt để nguồn vốn này. Do đó, trong thời gian tới ngân hàng cần quan tâm hơn nữa đến tình hình cho vay nhằm giúp cho ngân hàng luôn cân đối được hoạt động kinh doanh của mình. Điều này, đòi hỏi đội ngũ cán bộ tín dụng cần phải xem xét kỹ lưỡng hơn công tác thẩm định, cho vay, thu nợ, cũng như việc sử dụng vốn vay của khách hàng,… để đảm bảo tỷ lệ nợ xấu phù hợp với mục tiêu của ngân hàng đề ra là ngày càng giảm nợ xấu, đồng thời năng cao chất lượng nghiệp vụ tín dụng của ngân hàng. Bên cạnh đó, trong thời gian tới ngân hàng cần tiếp tục phát huy hơn nữa điểm mạnh của mình để huy động vốn, cho vay trong lĩnh vực ngắn hạn cũng như tìm các biện pháp mở rộng hoạt động dịch vụ,… để nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng của ngân hàng, xứng đáng là một trong những ngân hàng quốc doanh lớn nhất trên địa bàn Cần Thơ. Do đó, trong định hướng sắp tới của ngân hàng cần quan tâm hơn nữa đến những món nợ đã đến hạn thu hồi, cần có những biện pháp hữu hiệu để đôn đốc khách hàng trả nợ đúng hạn, giúp gia tăng doanh số thu nợ, đẩy nhanh tốc độ quay vòng vốn tín dụng, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động và chất lượng tín dụng của ngân hàng. + Đối với Nhà Nước - Ngân hàng Nhà Nước cần rà soát lại văn bản chồng chéo, thiếu đồng bộ, không còn phù hợp với thực tế để hệ thống các văn bản của ngành mang tính hợp lý cao. - Tiếp tục lộ trình sắp xếp, cải cách mạnh mẽ lại các doanh nghiệp, các công ty để phân loại, đánh giá chính xác về năng lực quản lý và kinh doanh của các doanh nghiệp và các công ty đó. - Tạo điều kiện thuận lợi cho sự ra đời của thị trường mua bán nợ, thị trường bảo hiểm tín dụng để có thể giảm thiểu, phòng ngừa và phân tán rủi ro tín dụng; cần có các chính sách thích hợp để thị trường chứng khoán nước ta phát Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S NGUYỄN VĂN NGÂN SVTH: TRANG NGỌC ANH 83 triển mạnh và sôi động hơn nữa nhằm làm giảm sức ép lên ngân hàng trong việc cấp vốn hoạt động cho doanh nghiệp. - Cơ chế, chính sách của Nhà nước phải được đổi mới theo hướng cho phép các tín dụng áp dụng các thông lệ quốc tế trong việc xác định trước và trích lập dự phòng rủi ro. Quỹ dự phòng rủi ro hiện được trích theo nợ “trong hạn” và “quá hạn” là không hợp lý mà cần phải được tính toán theo mức độ rủi ro của khoản vay. - Cần tổ chức thiết lập hệ thống các tiêu chuẩn để đánh giá về hiệu quả kinh tế của các ngành kinh tế, tạo cơ sở thuận lợi cho ngân hàng thẩm định, đánh giá khách hàng, chu trình đầu tư một cách thích đáng. - Các ngành chức năng cần tạo điều kiện hỗ trợ ngân hàng thu hồi nợ, nếu xảy ra tranh chấp thì sử dụng lực dân sự, không nên hình sự hóa các quan hệ tín dụng. Luật các tổ chức tín dụng là hành lang pháp lý cao nhất buộc các tổ chức tín dụng phải tuân thủ, đồng thời bảo vệ quyền lợi chính đáng của các tổ chức tín dụng theo đúng pháp luật. Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.S NGUYỄN VĂN NGÂN SVTH: TRANG NGỌC ANH 84 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1) Thái Văn Đại (2007). Bài giảng nghiệp vụ kinh doanh ngân hàng thương mại, trường đại học Cần Thơ. 2) Thái Văn Đại, Nguyễn Thanh Nguyệt (2007). Bài giảng quản trị ngân hàng thương mại, tủ sách trường đại học Cần Thơ. 3) Lâm Phước Hậu (2006). Phân tích hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh Ninh Kiều, luận văn tốt nghiệp, trường đại học Cần Thơ. 4) Trần Văn Hưởng (2006). Phân tích tình hình huy động vốn và cho vay hộ nông dân tại ngân hàng thương mại cổ phần nông nghiệp Miền Tây, luận văn tốt nghiệp, trường đại học Cần Thơ. 5) Nguyễn Thị Hồng Yến (2006). Phân tích hoạt động tín dụng và các biện pháp nâng cao hiệu quả tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Quận Ninh Kiều, tiểu luận tốt nghiệp, trường đại học Cần Thơ. 6) Thời báo Kinh tế VN (2006). Mở cửa cho Ngân hàngnước ngoài đến đâu. .

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfPhân tích tình hình huy động vốn và hoạt động tín dụng tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh ninh kiều.pdf
Luận văn liên quan