Luận văn Quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Ninh Bình

Quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch là nhân tố ảnh hưởng quyết định đến sự phát triển của ngành du lịch Việt Nam nói chúng và của tỉnh Ninh Bình nói riêng, có tác động không nhỏ vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa cũng như sự phát triển chung về kinh tế, xã hội của tỉnh. Du lịch của Ninh Bình những năm qua đã có nhiều kết quả đáng khích lệ, tuy nhiên trong quá trình phát triển, nhiều yêu cầu của hoạt động du lịch vẫn chưa được thực hiện đầy đủ. Việc hoàn thiện quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch góp phần quan trọng trong việc phát triển các hoạt động du lịch, qua đó góp phần phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

pdf96 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Lượt xem: 5515 | Lượt tải: 30download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Ninh Bình, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
nh doanh khác, ngoài việc đảm bảo lợi nhuận nhằm góp phần thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế chung của đất nước, còn phải bảo đảm an ninh quốc gia và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Hơn nữa, đây cũng chính là điều kiện cơ bản cho việc phát triển du lịch bền vững và lâu dài. 3.1.2.2. Định hướng phát triển du lịch ở nước ta Đại hội Đảng toàn quốc là sự kiện chính trị mang tính lịch sử, đánh dấu bước phát triển quan trọng của đất nước ta. Mỗi kỳ Đại hội có nhiệm vụ đánh giá và định ra phương hướng phát triển kinh tế - xã hội đất nước nói chung và mỗi ngành, lĩnh vực nói riêng. Nhận thức rõ tầm quan trọng của du lịch trong điều kiện xây dựng phát triển nền kinh tế thị trường. Qua mỗi kỳ Đại hội Đảng toàn quốc, vai trò của ngành Du lịch ngày càng được quan tâm sâu sắc hơn. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV: Coi trọng phát triển kinh doanh du lịch, tổ chức tốt việc cung ứng cho tàu biển nước ngoài và các dịch vụ khác" và "Trong các ngành phục vụ, Nhà nước nắm kinh doanh khách sạn và các công ty du lịch, nhanh chóng quy hoạch lại mạng lưới các cơ sở du lịch, nghỉ mát, tổ chức thành những đơn vị kinh doanh [7]. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V: "Mở rộng kinh doanh du lịch, làm cho du lịch dần dần trở thành một ngành kinh tế quan trọng, xứng đáng với tiềm năng của nước ta về lĩnh vực này" [8]. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI: Đi đôi với đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa, chúng ta hết sức coi trọng và tạo mọi điều kiện thuận lợi để phát triển các hoạt động thu ngoại tệ như du lịch, kiều hối, cung ứng tàu biển, dịch vụ hàng không... Xóa bỏ ngay những chế độ, thể lệ, những thủ tục phiền hà đang gò bó, hạn chế những hoạt động này [9]. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII: "Khai thác sự hấp dẫn của thiên nhiên, di sản văn hóa phong phú và các lợi thế khác của đất nước, mở rộng hợp tác với nước ngoài để phát triển mạnh du lịch" [10]. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII: Triển khai thực hiện quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tương xứng với tiềm năng du lịch to lớn của đất nước theo hướng du lịch văn hóa, sinh thái môi trường. Xây dựng các chương trình và các điểm du lịch hấp dẫn về văn hóa, di tích lịch sử và khu danh lam thắng cảnh. Huy động các nguồn lực tham gia kinh doanh du lịch, ưu tiên xây dựng kết cấu hạ tầng ở những khu vực du lịch tập trung, ở các trung tâm lớn. Nâng cao trình độ văn hóa và chất lượng dịch vụ phù hợp với các loại khách du lịch khác nhau. Đẩy mạnh việc huy động vốn trong nước đầu tư vào khách sạn. Cổ phần hóa một số khách sạn hiện có để huy động các nguồn vốn vào việc đầu tư cải tạo, nâng cấp. Liên doanh với nước ngoài xây dựng các khu du lịch và các khách sạn lớn, chất lượng cao, đòi hỏi nhiều vốn. Chuyển các nhà nghỉ, nhà khách sang kinh doanh khách sạn và du lịch [11]. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX: Nâng cao chất lượng, quy mô và hiệu quả hoạt động du lịch. Liên kết chặt chẽ các ngành liên quan đến hoạt động du lịch để đầu tư phát triển một số khu du lịch tổng hợp và trọng điểm; đưa ngành du lịch thành một ngành kinh tế mũi nhọn. Phát triển và đa dạng hóa các loại hình và các điểm du lịch sinh thái, du lịch văn hóa, lịch sử, thể thao hấp dẫn du khách trong và ngoài nước. Xây dựng và nâng cấp cơ sở vật chất và đẩy mạnh hợp tác liên kết với các nước trong hoạt động du lịch [12]. Ngoài ra, văn kiện Đại hội Đảng IX cũng xác định hướng phát triển cụ thể các loại hình du lịch sinh thái, văn hóa, biển, đảo... cho mỗi khu vực du lịch trọng điểm trên cả nước. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X: "Phát triển mạnh và nâng cao chất lượng hoạt động du lịch, đa dạng hóa sản phẩm và các loại hình du lịch" [14]. Với chủ trương này cùng nỗ lực vượt qua mọi khó khăn, Du lịch Việt Nam đã đạt được kết quả khả quan: năm 2010 đón hơn 5 triệu lượt khách quốc tế; phục vụ 28 triệu lượt khách du lịch nội địa; doanh thu từ dịch vụ du lịch đạt 96.000 tỷ đồng, tốc độ tăng trung bình giai đoạn 2001 - 2010 đạt 16,7%/năm; đóng góp 4,5% GDP cả nước; tạo việc làm cho hơn 1,4 triệu lao động... Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI: "Đa dạng hóa sản phẩm và các loại hình du lịch, nâng cao chất lượng để đạt tiêu chuẩn quốc tế" [15] và: Hình thành các trung tâm thương mại - dịch vụ lớn, vừa là trung tâm giao thương trong nước, vừa là cửa ngõ giao thương với nước ngoài tại thủ đô Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng và Cần Thơ. Xây dựng một số trung tâm du lịch lớn trong nước, gắn kết có hiệu quả với các trung tâm du lịch của các nước trong khu vực [15]. Có thể khẳng định, qua các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc, trong đó nội dung liên quan đến du lịch là nền tảng cơ bản và có vai trò quan trọng nhất để ngành Du lịch cũng như các địa phương trong cả nước xác định rõ phương hướng phát triển ngành kinh tế du lịch. 3.1.3. Mục tiêu phát triển du lịch trên địa bàn Ninh Bình Nghị quyết Đại hội XX Đảng bộ tỉnh đã xác định: "Tập trung đầu tư ngành du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, phát triển nhanh và bền vững" [6]. Được tập trung vào một số nội dung chủ yếu sau: Một là, huy động tổng hợp mọi nguồn lực của các thành phần kinh tế trong tỉnh, trong nước và nước ngoài để khai thác một cách có hiệu quả các tiềm năng du lịch, đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, phát triển nhanh và bền vững, góp phần đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế của tỉnh. Hai là, tập trung đầu tư có trọng điểm và đồng bộ về xây dựng kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất - kỹ thuật, tôn tạo danh lam thắng cảnh, di tích văn hóa, lịch sử ở các khu du lịch, coi đây là yếu tố quyết định sự phát triển của du lịch. Xây dựng cơ chế, chính sách để vừa ưu đãi các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển cơ sở vật chất - kỹ thuật du lịch, hoạt động kinh doanh du lịch..., vừa bảo đảm môi trường thông thoáng thuận lợi trong kinh doanh dịch vụ trên cơ sở các quy hoạch đã được xây dựng. Ba là, phát triển du lịch phải gắn với giữ gìn và phát huy truyền thống địa phương, bản sắc văn hóa dân tộc, nhân phẩm con người Việt Nam, nâng cao trình độ dân trí, lòng yêu quê hương, đất nước, chống các tệ nạn xã hội và mê tín dị đoan, bảo vệ môi trường sinh thái và cảnh quan thiên nhiên. Bốn là, phát triển du lịch kết hợp chặt chẽ với củng cố và tăng cường quốc phòng, an ninh. Năm là, phát triển thành phố Ninh Bình thành trung tâm du lịch tầm cỡ quốc gia và khu vực với các hình thức dịch vụ chất lượng cao. Đây là một quá trình lâu dài, phải có quy hoạch và bước đi thích hợp, không chủ quan, nóng vội, duy ý chí, nhưng phải kiên quyết và chủ động phối hợp với các ngành Trung ương trong triển khai thực hiện. - Mục tiêu tổng quát: Phát triển du lịch để từng bước nâng cao đời sống cho nhân dân, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, sớm đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh. Phát triển du lịch nhằm phát huy những giá trị văn hóa dân gian, các di tích lịch sử văn hóa, đồng thời góp phần nâng cao trình độ dân trí, tạo thêm công ăn việc làm, góp phần xóa đói giảm nghèo. Từng bước hình thành đa dạng, phong phú, các loại hình du lịch theo đặc điểm, ưu thế của từng vùng, từng khu du lịch, tạo ra các sản phẩm vừa mang tính hiện đại, vừa mang được nét đặc thù của tỉnh. Cơ bản hoàn thành việc xây dựng kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật (đường giao thông, hệ thống điện, sân bay, bến cảng, hệ thống cấp nước sinh hoạt, thông tin liên lạc...) trong tỉnh nói chung và đến các khu, điểm du lịch nói riêng đảm bảo cho sự phát triển bền vững du lịch sính thái và du lịch tâm linh, văn hóa - lịch sử của tỉnh. Đầu tư tu bổ nâng cấp một số cảnh quan, duy tu tôn tạo các di tích lịch sử - văn hóa, đi đôi với đầu tư sáng tạo thêm tài nguyên du lịch mới ở những nơi có điều kiện. Trang bị các phương tiện vận tải đường bộ, đường hàng không, đường thủy hiện đại. Có chính sách ưu đãi để huy động các thành phần kinh tế trong tỉnh, trong nước và nước ngoài đầu tư khách sạn, nhà nghỉ, trong đó có khách sạn đạt tiêu chuẩn quốc tế từ 2 sao trở lên nhằm đáp ứng nhu cầu của khách tham quan du lịch. Phát triển du lịch nội địa gắn liền với phát triển du lịch quốc tế, đặc biệt chú trọng liên kết với các nước trong khu vực ASEAN, xây dựng các tour du lịch liên tuyến, nối tuyến trong nước và nước ngoài bằng đường biển, đường hàng không, đường bộ đi các nước ASEAN và ngược lại. - Mục tiêu cụ thể: Các mục tiêu cụ thể của tỉnh Ninh Bình được xác định trong Nghị quyết số 15- NQ/TU của Tỉnh ủy, Kế hoạch số 07/KH-UBND ngày 17/7/2009 của Ủy ban nhân dân tỉnh về phát triển du lịch Ninh Bình đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 là [41]: Huy động các nguồn lực, tập trung khai thác hợp lý tài nguyên tự nhiên, tài nguyên nhân văn, xây dựng Ninh Bình trở thành một trong những trung tâm du lịch trọng điểm của cả nước. Phấn đấu đến 2015 đón 3.000.000 lượt khách du lịch trở lên trong đó có 1.000.000 lượt khách quốc tế; thu hút 1.000.000 khách lưu trú tại Ninh Bình, trong đó có 400.000 khách quốc tế. Tốc độ tăng trưởng khách du lịch bình quân 10%/năm. Xây dựng đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng cho du lịch, đặc biệt chú trọng đầu tư xây dựng hệ thống cơ sở lưu trú từ 3 sao trở lên. Ưu tiên đầu tư xây dựng các khách sạn, khách sạn nghỉ dưỡng từ 3-5 sao. Đồng thời quan tâm đúng mức tới việc phát triển các làng nghề, biệt thự du lịch, căn hộ du lịch, bãi cắm trại du lịch, nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê để phát triển loại hình du lịch ở nhà dân. Hoàn chỉnh đầu tư xây dựng và phương thức quản lý các khu du lịch lớn, như khu Tràng An, chùa Bái Đính, cố đô Hoa Lư, sông Sào Khê, Kênh Gà - Vân Trình, khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long, sân golf, khu du lịch hồ Đồng Thái, Tam Cốc - Bích Động, Thung Nắng, Hang Bụt. Đào tạo nghề và tạo việc làm cho người lao động đến năm 2015 giải quyết việc làm cho 30.000 lao động. Thu nhập du lịch đến năm 2015 đạt 1.500 tỷ đồng, các năm tiếp theo tăng trưởng bình quân 15%/năm. Thu nhập từ du lịch từ năm 2020 trở đi chiếm trên 10% GDP toàn tỉnh. Tuy nhiên trong thực tế năm 2010 có nhiều sự kiện trọng đại của dân tộc, với việc tổ chức đại lễ kỷ niệm 1.000 Thăng Long - Hà Nội, lượng du khách đến Ninh Bình tăng đột biến. Theo tổng kết 6 tháng đầu năm 2010 lượng khách du lịch đến Ninh Bình đạt 2.304.357 lượt tăng 45,55% so với cùng kỳ năm 2009; Trong đó khách nội địa: 1.859.964 lượt tăng 55,59% so với cùng kỳ năm 2009, khách quốc tế: 444.393 lượt tăng 14,6% so với cùng kỳ năm 2009. Doanh thu đạt 360,6 tỷ đồng tăng 215,89% so với cùng kỳ năm 2009, nộp ngân sách 27,4 tỷ đồng tăng 147,51% so với cùng kỳ năm 2009. 3.1.4. Các quan điểm hoàn thiện quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Ninh Bình Để đạt được mục tiêu phát triển du lịch nói trên, quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch phải được hoàn thiện với phương hướng chung là: "Tiếp tục kiện toàn, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý điều hành của bộ máy chính quyền các cấp; đẩy mạnh cải cách hành chính toàn diện về bộ máy tổ chức, thể chế và thủ tục" [6]. Trên cơ sở đó, các phương hướng cụ thể được xác định như sau: Một là, hoàn thiện quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch gắn liền với đổi mới nhận thức và đổi mới tư duy kinh tế về vai trò của du lịch trong phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Đổi mới nhận thức và đổi mới tư duy kinh tế trước hết phải làm cho mọi người nhận thức được vai trò của du lịch trong sự phát triển kinh tế - xã hội và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Theo xu hướng phát triển đó, tỷ trọng của du lịch sẽ ngày càng tăng lên trong cơ cấu kinh tế của tỉnh. Mặt khác, du lịch được coi là một ngành "công nghiệp không khói", nó không chỉ tạo ra thu nhập mà còn làm thay đổi diện mạo cuộc sống của người dân nơi diễn ra các hoạt động du lịch. Hai là, hoàn thiện quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch phải đặt trong tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế của tỉnh, tạo ra sự phát triển du lịch với tốc độ cao, góp phần thực hiện thắng lợi các Nghị quyết của Đảng bộ tỉnh đã đề ra. Ba là, đổi mới công tác chỉ đạo, điều hành nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước về du lịch. Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, quản lý nhà nước về du lịch của tỉnh Ninh Bình cần hướng vào việc hoàn thiện chiến lược, quy hoạch phát triển và cơ chế, chính sách cho phù hợp với những yêu cầu mới. Vấn đề cần quan tâm trong quản lý nhà nước về du lịch ở tỉnh Ninh Bình là sự vận dụng cơ chế, chính sách của trung ương vào điều kiện đặc thù của địa phương, tăng cường kiểm tra, thanh tra đối với hoạt động du lịch, cải cách thủ tục hành chính tích cực hơn nữa để tạo ra sự thông thoáng trong quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch phù hợp với tình hình hiện nay. Bốn là, đổi mới mạnh mẽ về tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về du lịch. Đổi mới mạnh hơn về tổ chức bộ máy và con người là một trong những nhiệm vụ trọng tâm và ngày càng trở nên quan trọng của công tác hoàn thiện quản lý nhà nước về du lịch hiện nay. Theo đó, bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế nói chung và du lịch nói riêng ở Ninh Bình cần được sắp xếp lại trên cơ sở rà soát lại chức năng, phân công nhiệm vụ cụ thể, rõ ràng; tuyển chọn, bố trí sắp xếp lại đội ngũ cán bộ, công chức; quy định rõ quyền hạn, trách nhiệm, nghĩa vụ và lợi ích. 3.2. CÁC GIẢI PHÁP CƠ BẢN HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NINH BÌNH 3.2.1. Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, chính sách về du lịch Các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể trong tỉnh, nhất là những nơi có tiềm năng du lịch cần phải tiếp thu, quán triệt các quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước và nhận thức về phát triển du lịch một cách nghiêm túc; đồng thời đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến cơ chế, chính sách, pháp luật du lịch, nhất là Luật Du lịch và các văn bản hướng dẫn thực hiện của Chính phủ cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trong tỉnh để vừa góp phần đưa các quy định pháp luật đi vào cuộc sống, tạo môi trường hoạt động du lịch lành mạnh, vừa nâng cao nhận thức của họ về vai trò, ý nghĩa của hoạt động du lịch trong phát triển kinh tế - xã hội, về yêu cầu hoàn thiện quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch trong tình hình mới. Việc giáo dục, tuyên truyền, phổ biến pháp luật và các cơ chế, chính sách về du lịch phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, thông qua nhiều hình thức như: xây dựng chuyên mục phát trên các đài phát thanh - truyền hình tỉnh, huyện, thị, thành phố; đăng tải nội dung trên báo Ninh Bình, Thông tin tư tưởng của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, các tạp chí chuyên đề, tài liệu sinh hoạt tổ nhân dân tự quản; tổ chức các đợt nghiên cứu học tập trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, các đoàn thể, các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh; tổ chức các cuộc tọa đàm, hội thảo chuyên đề; đưa vào chương trình giáo dục học đường, nhất là bậc trung học cơ sở và trung học phổ thông về thái độ đối với môi trường thiên nhiên, thái độ và cung cách ứng xử thân thiện đối với du khách... Ngoài ra, cũng cần nâng cao ý thức pháp luật du lịch cho khách du lịch thông qua việc phát hành các ấn phẩm ngắn gọn và súc tích, trong đó tóm tắt những quy định thiết yếu chỉ dẫn cho khách du lịch khi đến du lịch và thông qua vai trò của hướng dẫn viên du lịch giúp cho khách du lịch tuân thủ pháp luật chặt chẽ hơn. Mặt khác, cần tuyên truyền, vận động nhân dân trong vùng dự án đầu tư phát triển du lịch thực hiện việc giải phóng mặt bằng; khuyến khích, động viên các doanh nghiệp du lịch thành lập các hiệp, hội nhằm bảo vệ lợi ích và chia sẻ trách nhiệm cùng nhau phát triển trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế. Song song với công tác giáo dục, tuyên truyền, phổ biến pháp luật du lịch, tỉnh cần đề ra những biện pháp cụ thể, thiết thực như hỗ trợ phục hồi các làng nghề truyền thống của người dân địa phương, tạo ra sản phẩm thu hút du khách; nghiên cứu cho phép thành lập một số làng du lịch; tiến hành rà soát tất cả các dự án đầu tư trong lĩnh vực du lịch, cần chú trọng đến vấn đề giải quyết việc làm, tạo thu nhập cho các hộ dân và lợi ích của cộng đồng dân cư nơi có dự án để cải thiện cuộc sống của người dân, qua đó nâng cao dần nhận thức cho quần chúng nhân dân về vai trò của hoạt động du lịch trong phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. 3.2.2. Hoàn thiện quy hoạch và nâng cao chất lượng làm quy hoạch du lịch Việc xây dựng Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch của tỉnh, tập trung vào hai nội dung: quy hoạch không gian du lịch và định hướng phát triển các sản phẩm du lịch. Cụ thể hơn là xây dựng và phát triển các khu, điểm du lịch ở các địa bàn có tiềm năng, bao gồm: - Không gian du lịch Tràng An - Bái Đính- Tam Cốc - Bích Động - cố đô Hoa Lư + Về khai thác tài nguyên: Với đặc điểm nổi trội về văn hóa và cảnh quan hiện nay không gian du lịch Tràng An -Tam Cốc - Bích Động - cố đô Hoa Lư đang thu hút một lượng lớn khách du lịch đến Ninh Bình. Có thể nói đây là động lực chính cho du lịch Ninh Bình phát triển. + Về kết cấu hạ tầng và cơ sở vật chất - kỹ thuật du lịch: Nhận thức được ý nghĩa của không gian du lịch này trong phát triển du lịch của tỉnh nói riêng và của Việt Nam nói chung, đặc biệt nhân sự kiện 1000 năm Hoa Lư - Thăng Long - Hà Nội, những năm qua tỉnh Ninh Bình với sự hỗ trợ đầu tư của Chính phủ đã phát triển hạ tầng khu vực này tương đối hoàn chỉnh. Tài nguyên của không gian du lịch này tương đối đa dạng phong phú và đặc sắc với thế mạnh là quần thể di tích lịch sử văn hóa cố đô Hoa Lư, các giá trị cảnh quan, sinh thái, địa chất hang động khu vực Tam Cốc - Bích Động, Tràng An, núi chùa Bái Đính. + Về các sản phẩm du lịch: Các sản phẩm du lịch quan trọng của khu vực này là văn hóa, lễ hội, tín ngưỡng; tham quan, nghiên cứu lịch sử - văn hóa; tham quan thắng cảnh, khám phá hang động. Hướng khai thác chính là du lịch văn hóa, lễ hội, tâm linh; du lịch nghiên cứu, du lịch tham quan danh thắng, du lịch cuối tuần. - Không gian du lịch trung tâm thành phố Ninh Bình + Về khai thác tài nguyên: Đây là không gian du lịch trung tâm, đóng vai trò điều phối hoạt động chung của du lịch Ninh Bình trên cơ sở hạ tầng và cơ sở vất chất du lịch tương đối phát triển. Tại đây du khách có thể tham quan các điểm du lịch như: núi Thúy Sơn, sông Vân Sàng, núi Ngọc Mỹ Nhân, hồ Kỳ Lân. + Về kết cấu hạ tầng và cơ sở vật chất - kỹ thuật du lịch: Với định hướng phát triển thành đô thị loại hai và trở thành đô thị du lịch trong tương lai, thành phố đang tích cực xây dựng và thực hiện theo quy hoạch chung phát triển đô thị bền vững. + Về các sản phẩm du lịch: Sản phẩm du lịch chủ yếu của không gian này gồm: tham quan các di tích lịch sử văn hóa; hội nghị, hội thảo; vui chơi giải trí. Loại hình du lịch chủ yếu là: du lịch văn hóa, du lịch MICE, du lịch vui chơi giải trí, du lịch ẩm thực... - Không gian du lịch Cúc Phương - Kỳ Phú - hồ Đồng Chương + Về khai thác tài nguyên: Đây là không gian du lịch sinh thái truyền thống của Ninh Bình với tâm điểm là vườn quốc gia Cúc Phương. Tài nguyên du lịch chủ yếu ở đây là tài nguyên du lịch tự nhiên với vườn quốc gia, nguồn nước khoáng và cảnh quan vùng hồ. + Về kết cấu hạ tầng và cơ sở vật chất - kỹ thuật du lịch: Cần cải tạo nâng cấp Quốc lộ 12B; 59 và các đường giao thông (tỉnh lộ) nối liền Vườn Quốc gia Cúc Phương với hồ Kỳ Phú, hồ Đồng Chương, các điểm du lịch khác và các trung tâm huyện, thị xã, thành phố; xây dựng hệ thống thông tin liên lạc; có cơ chế, chính sách khuyến khích cư dân địa phương tại khu vực trung tâm của vùng đầu tư các mô hình nhà nghỉ bằng vật liệu địa phương (tuy nhiên, phải đạt chuẩn theo quy định về cở sở lưu trú) để phục vụ du khách; xây dựng một số điểm bảo vệ, đón khách du lịch đến tham quan. + Về các sản phẩm du lịch: Sản phẩm du lịch chủ yếu là: Tham quan, nghiên cứu rừng nguyên sinh; thể thao leo núi, nghỉ dưỡng chữa bệnh tại suối khoáng. Các loại hình du lịch chủ yếu: du lịch sinh thái; du lịch thể thao; du lịch nghỉ dưỡng. - Không gian du lịch suối khoáng nóng Kênh Gà - động Vân Trình - khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long - Chùa Địch Lộng - động Hoa Lư. Khu vực này có nhiều điểm mới được khám phá và đưa vào khai thác cho hoạt động du lịch trong thời gian gần đây, nhưng với nỗ lực của người dân địa phương, các nhà khoa học, các nhà quản lý, hoạt động du lịch đã có kết quả khá, thu hút ngày càng nhiều du khách trong nước và quốc tế. + Về các sản phẩm du lịch: Các sản phẩm tiêu biểu của khu vực này là: tham quan nghiên cứu cảnh quan núi và hệ sinh thái đất ngập nước; tham quan di tích lịch sử - văn hóa; nghỉ dưỡng chữa bệnh. Các loại hình du lịch cần quan tâm phát triển gồm: du lịch sinh thái; du lịch văn hóa- lịch sử; du lịch nghỉ dưỡng, chữa bệnh. - Không gian du lịch thị xã Tam Điệp - phòng tuyến Tam Điệp Biện Sơn Đây là khu du lịch cần được đầu tư để bổ sung đối với du lịch Ninh Bình nhằm đa dạng hóa sản phẩm du lịch với việc tái diễn lịch sử oanh liệt thời Quang Trung - Nguyễn Huệ. Đặc điểm tài nguyên du lịch của khu vực này gắn với lịch sử địa danh và truyền thuyết. Việc phát triển du lịch ở khu du lịch này hết sức thuận lợi và quan trọng nhằm khai thác luồng khách quá cảnh trên quốc lộ 1A, khai thác thế mạnh của các điểm di tích lịch sử văn hóa tín ngưỡng và tự nhiên khác. + Về các sản phẩm du lịch: Sản phẩm du lịch chủ yếu của khu du lịch này có thể là: tham quan di tích lịch sử - văn hóa, tín ngưỡng; thể thao, vui chơi giải trí. Loại hình du lịch cần khai thác là: du lịch văn hóa - lịch sử; du lịch thể thao vui chơi giải trí. - Không gian du lịch Yên Thắng - Đồng Thái Đây là khu có nhiều hồ nước như hồ Yên Thắng, hồ Đồng Thái có cảnh quan đẹp và tương đối khác biệt với các khu vực khác của Ninh Bình, có thể khai thác để đa dạng hóa sản phẩm du lịch của Ninh Bình. Thời gian qua với với nỗ lực chung của toàn tỉnh một sân golf 54 lỗ đã được đầu tư xây dựng ở đây và đã hoàn thành giai đoạn một. Các tài nguyên khác có thể khai thác là động Mã Tiên nơi còn lưu giữ dấu ấn của người tiền sử với những tảng trầm tích và vỏ của những loài nhuyễn thể nước mặn và nước ngọt. + Về các sản phẩm du lịch: Sản phẩm du lịch chủ yếu của không gian này là: vui chơi, giải trí; tham quan thắng cảnh. Loại hình chủ yếu có thể khai thác là: du lịch thể thao; du lịch vui chơi giải trí; du lịch nghỉ dưỡng, vãn cảnh. - Không gian du lịch nhà thờ đá Phát Diệm và vùng ven biển Kim Sơn Vùng ven biển Kim Sơn hiện nay được quy hoạch nuôi trồng thủy sản, thảm thực vật tự nhiên bị suy kiệt do đó khó có điều kiện để phát triển du lịch sinh thái, tuy nhiên với những nỗ lực của các cấp chính quyền và người dân địa phương vẫn có thể phát triển du lịch biển nhằm đa dạng hóa sản phẩm du lịch của Ninh Bình. Nhà thờ đá Phát Diệm là điểm du lịch quan trọng của khu vực này, bên cạnh đó có thể khai thác và phát triển các sản phẩm du lịch làng nghề dệt cói, đan lát. + Về các sản phẩm du lịch: Sản phẩm du lịch chủ yếu: tham quan nhà thờ đá Phát Diệm; tham quan các làng nghề, cảnh quan ven biển. Loại hình du lịch chủ yếu: du lịch văn hóa, tín ngưỡng; du lịch tham quan, nghiên cứu; du lịch biển, ẩm thực hải sản. Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch của tỉnh và các quy hoạch chuyên ngành khác phải được xác định là bộ phận cấu thành của quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội chung của tỉnh. Việc xây dựng, đầu tư phát triển các khu, điểm phục vụ yêu cầu phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh Ninh Bình trước hết phải tuân thủ quy hoạch tổng thể phát triển du lịch, gắn với quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển du lịch của cả nước. Bên cạnh đó, tỉnh cần thực hiện các biện pháp, hình thức thích hợp, linh hoạt để huy động nguồn vốn từ các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế trong và ngoài nước cho đầu tư phát triển du lịch theo định hướng, mục tiêu đã được xác định. Chẳng hạn, xây dựng cơ chế mở đặc thù để thu hút vốn đầu tư cho các dự án. Xây dựng cơ chế ưu đãi đối với doanh nghiệp lữ hành mở các tua, tuyến mới nhằm khai thác tiềm năng du lịch trong tỉnh cũng như thu hút được nguồn khách quốc tế và nội địa đến Ninh Bình. Tiếp tục thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần, tạo môi trường cho các doanh nghiệp cạnh tranh lành mạnh trên thị trường, đảm bảo mọi thành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật, đảm bảo cho các doanh nghiệp dân doanh được hoạt động kinh doanh du lịch ở mọi nơi trên địa bàn tỉnh, không bị hạn chế về quy mô kinh doanh, có thể tồn tại độc lập hoặc liên doanh, liên kết với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác. Khuyến khích các doanh nhân tổ chức và phát triển các mô hình hoạt động kinh doanh khai thác tiềm năng du lịch ở vùng sâu, vùng xa phù hợp với điều kiện của từng vùng. Ngoài ra, bên cạnh việc nghiên cứu, quán triệt các quan điểm, chủ trương chung của Đảng, Nhà nước về thu hút vốn đầu tư phát triển du lịch, cần nghiên cứu tổng kết thực tiễn thu hút vốn đầu tư phát triển du lịch ở tỉnh để rút kinh nghiệm, bổ sung về lý luận và nhân rộng điển hình. 3.2.3. Xây dựng, ban hành các chính sách trọng điểm phát triển du lịch trên địa bàn Xây dựng quy chế quản lý tài nguyên du lịch và quy chế quản lý các khu, điểm du lịch. Tăng cường công tác phối hợp giữa các cấp, các ngành trong phát triển du lịch. Kiện toàn và củng cố, tiến tới xây dựng mô hình quản lý thích hợp tại các khu du lịch lớn của tỉnh như Tràng An, chùa Bái Đính, Tam Cốc - Bích Động, cố đô Hoa Lư, Vân Long, hồ Đồng Thái, hồ Yên Thắng theo hướng đấu thầu. Thành lập Ban quản lý hoặc doanh nghiệp cổ phần có sự tham gia của cộng đồng dân cư địa phương. Hướng dẫn tiến hành xây dựng các quy ước, hương ước ở khu dân cư về tham gia hoạt động du lịch và bảo vệ môi trường du lịch. Tổ chức thực hiện tốt chính sách ưu đãi đầu tư đã ban hành nhằm thu hút vốn đầu tư từ các thành phần kinh tế cho phát triển cơ sở hạ tầng và đa dạng hóa các sản phẩm du lịch. Xây dựng mức phí và giá dịch vụ du lịch phù hợp, đặc biệt là giá vé tham quan thắng cảnh, vé đò tại các khu du lịch lớn của tỉnh. Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát ô nhiễm môi trường và vệ sinh môi trường, đặc biệt là các khu du lịch sinh thái nhạy cảm với môi trường. xây dựng hệ thống quan trắc chất lượng môi trường tại các khu du lịch trọng điểm. Xây dựng hệ thống nhà vệ sinh đạt chuẩn, làm tốt công tác xử lý rác thải trên mặt nước, mặt đất tại các khu điểm du lịch. Xây dựng các quy định chi tiết về bảo vệ tài nguyên rừng, bảo vệ hệ thống núi đá vôi, hang động, nhũ đá và các loài động vật hoang dã. Tăng cường các hoạt động thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm các sai phạm trong hoạt động du lịch, ngăn ngừa các tệ nạn xã hội và các hành vi trái với thuần phong mỹ tục. Nghiêm cấm các hành vi lợi dụng thanh tra, kiểm tra gây phiền hà cho doanh nghiệp và du khách. Thiết lập đường dây nóng xử lý các ý kiến thắc mắc, phản ánh của du khách. Xây dựng phương án tổ chức lực lượng bảo đảm trật tự công cộng tại các điểm du lịch. Triển khai công tác điều tra cơ bản về du lịch, xây dựng phương án thống kê du lịch phù hợp với yêu cầu phát triển du lịch và Luật Du lịch. Thành lập hiệp hội du lịch Ninh Bình hoặc các hiệp hội nghề như hiệp hội cơ sở lưu trú, hiệp hội Lữ hành, hiệp hội hướng dẫn viên, hiệp hội đầu bếp... 3.2.4. Củng cố tổ chức bộ máy, xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước chuyên nghiệp về du lịch Thứ nhất, củng cố tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về du lịch ở tỉnh phải đảm bảo việc tổ chức hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ, thanh tra, kiểm tra hoạt động của các doanh nghiệp trong việc chấp hành chính sách, pháp luật, các quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch; kiểm tra hoạt động của các ban quản lý các khu, điểm du lịch của tỉnh. Tiếp tục đẩy mạnh cải cách các thủ tục hành chính có liên quan: Minh bạch hóa các thủ tục hành chính, áp dụng mô hình một cửa liên thông trong đăng ký đầu tư, kinh doanh du lịch nhằm đảm bảo cho các hoạt động này được thực hiện một cách thuận tiện và tiết kiệm nhất. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ hiện đại trong quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch; tăng cường sử dụng các công nghệ thông tin hiện đại, khai thác hiệu quả Internet, thiết lập hệ thống cơ sở dữ liệu chuyên ngành phục vụ công tác quản lý nhà nước về du lịch. Ngoài ra, cần khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho việc thành lập và hoạt động của Hiệp hội du lịch của tỉnh để làm cầu nối giữa các cá nhân, tổ chức kinh doanh du lịch và Nhà nước trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến phát triển du lịch trên địa bàn. Thứ hai, từng bước xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch trên địa bàn tinh thông về nghề nghiệp, có phẩm chất tốt, có năng lực tổ chức quản lý, điều hành theo mục tiêu đã định. Trên cơ sở định hướng phát triển du lịch của tỉnh. Cần thống kê, phân tích nhu cầu về số lượng cán bộ quản lý nhà nước về du lịch cho từng thời kỳ, từng cấp để xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng với nhiều hình thức thích hợp, kể cả ngắn hạn và dài hạn, kể cả trong nước và ngoài nước về chuyên môn nghiệp vụ du lịch, kiến thức về luật pháp quốc tế, khả năng sử dụng ngoại ngữ và kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin hiện đại... Cần chú trọng đào tạo các chức danh chủ chốt của bộ máy quản lý nhà nước về du lịch. Trong đào tạo, cần định hướng đúng nội dung đào tạo. Mặt khác, phải từng bước thực hiện xã hội hóa công tác đào tạo; thực hiện chế độ Nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí đào tạo, mua tài liệu học tập... Bên cạnh đó, khuyến khích cán bộ tự rèn luyện, học tập để trưởng thành, hạn chế sự trông chờ, ỷ lại, dựa dẫm vào sự bao cấp của Nhà nước. Xây dựng và thực hiện cơ chế thi tuyển, tuyển chọn cán bộ và sử dụng cán bộ đúng khả năng và trình độ chuyên môn được đào tạo để phát huy sở trường, dần loại bỏ những cán bộ có phẩm chất đạo đức kém và năng lực chuyên môn yếu. 3.2.5. Đẩy mạnh công tác đào tạo phát triển nguồn nhân lực cho hoạt động du lịch ở tỉnh Ninh Bình Công tác đào tạo nguồn nhân lực cho hoạt động du lịch phải vừa đảm bảo chất lượng chuyên môn, vừa đảm bảo sự hiểu biết về văn hóa du lịch để nâng cao chất lượng phục vụ du khách. Xây dựng và khẩn trương đưa vào thực hiện chương trình nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ, nhân viên làm du lịch hiện nay để nâng cao trình độ và kỹ năng, văn hóa ứng xử. Thu hút mạnh mẽ lao động chất lượng cao về du lịch trên cơ sở chuẩn bị tốt hạ tầng, các chính sách về thu nhập để phát triển du lịch, đảm bảo đến giai đoạn sau quy hoạch đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Chú trọng đào tạo về lĩnh vực quản lý, đặc biệt là giám đốc điều hành, hướng dẫn viên du lịch và ngoại ngữ (tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nhật, tiếng Hàn, tiếng Trung Quốc), tin học cũng như tài chính, ngân hàng. Tăng cường thăm quan học hỏi kinh nghiệm về sản xuất ra các mặt hàng thủ công mỹ nghệ; biểu diễn các loại hình văn hóa, nghệ thuật, phục vụ phát triển du lịch để gia tăng chi tiêu của du khách. Trong đào tạo phát triển nguồn nhân lực phục vụ cho hoạt động du lịch cần phải đảm bảo nguyên tắc cân đối về số lượng, chất lượng và cơ cấu của từng đối tượng thực hiện các chức năng quản lý nhà nước về du lịch và chức năng kinh doanh du lịch. Đối với nhân lực thực hiện chức năng quản lý nhà nước về du lịch: Cần tiến hành bồi dưỡng, nâng cao, đào tạo lại và tuyển dụng mới theo hướng chuẩn hóa trình độ từ cử nhân chuyên ngành trở lên, có kiến thức sâu rộng về du lịch, thông thạo ít nhất một ngoại ngữ và tin học văn phòng để có thể đảm đương các công việc như: xúc tiến du lịch, hợp tác quốc tế trong du lịch, quản lý lữ hành, quản lý khách sạn, quản lý các điểm, khu du lịch, thanh tra du lịch, kế hoạch đầu tư du lịch. Thực hiện nội dung này thì Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch cần tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh có đề án và lộ trình cụ thể. Nguồn kinh phí đào tạo từ Ngân sách nhà nước và hỗ trợ của các tổ chức quốc tế thông qua các dự án phát triển nguồn nhân lực cho du lịch Việt Nam. Đối với nhân lực thực hiện chức năng kinh doanh về du lịch: Bao gồm nguồn nhân lực thực hiện vai trò quản lý doanh nghiệp, quản trị tác nghiệp, trực tiếp cung ứng dịch vụ và đảm bảo các điều kiện kinh doanh. Về nguồn nhân lực thực hiện quản lý doanh nghiệp và quản trị tác nghiệp cần phải được quan tâm đào tạo bồi dưỡng thường xuyên. Các doanh nghiệp cũng cần có chính sách đãi ngộ thỏa đáng để thu hút nguồn nhân lực này. Các cơ quan quản lý nhà nước cũng cần phải có các chính sách ưu đãi để các doanh nghiệp du lịch có thể tuyển dụng được nguồn nhân lực có chất lượng cao. Về nguồn nhân lực trực tiếp thực hiện công việc cung cấp dịch vụ cho khách hàng và hỗ trợ đảm bảo điều kiện kinh doanh, đây là nguồn nhân lực chiếm tỷ trọng lớn trong hoạt động kinh doanh du lịch, nhưng trong thời gian qua, theo khảo sát thực tế số lượng đã qua đào tạo còn thấp. Thêm vào đó công việc đào tạo bồi dưỡng chưa thường xuyên và chưa được các chủ sử dụng lao động quan tâm đúng mức, dẫn tới tình trạng kỹ năng phục vụ chưa cao, chưa chuyên nghiệp; tinh thần, thái độ và khả năng giao tiếp ứng xử với khách du lịch còn hạn chế nhất là khả năng sử dụng tiếng nước ngoài. Để khắc phục tình trạng này cần phải xác định đào tạo nghề một cách cơ bản ở trình độ cao đẳng, trung cấp hoặc công nhân kỹ thuật. Cần phối hợp liên kết với một số trường cao đẳng, trung cấp, cơ sở dạy nghề để bồi dưỡng nâng cao kỹ năng nghề cho đối tượng này. 3.2.6. Tăng cường xúc tiến du lịch, kêu gọi đầu tư, liên kết hợp tác trong phát triển du lịch Phối hợp với Tổng cục Du lịch xây dựng chiến lược quảng bá cho du lịch Ninh Bình. Đầu tư kinh phí thích đáng cho công tác quảng bá. Trước hết cần tập trung các thị trường trọng điểm quốc tế đã được xác định. Tổ chức các hoạt động liên kết và tập trung quảng bá ở hai trung tâm phân phối khách lớn của Việt Nam là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Tranh thủ thời cơ hội nhập quốc tế, liên kết với các nước để mở rộng thị trường quốc tế, tham dự các hội chợ, các chương trình xúc tiến du lịch trong nước và quốc tế. Hàng năm có kế hoạch mời các phóng viên du lịch, các hãng hàng không, hãng lữ hành lớn trong nước và quốc tế tới khảo sát, tuyên truyền về các sản phẩm du lịch của Ninh Bình. Tăng cường công tác xúc tiến du lịch. Trước mắt tổ chức một điểm cung cấp thông tin miễn phí cho khách du lịch tại trung tâm thành phố Ninh Bình. Nâng cấp trang web du lịch Ninh Bình. Tổ chức các cuộc thi ảnh, thi sáng tác các tác phẩm báo chí, tác phẩm văn học nghệ thuật giới thiệu về các điểm, khu du lịch của Ninh Bình, lựa chọn các tác phẩm đặc sắc để xây dựng hệ thống ấn phẩm quảng bá hấp dẫn cho du lịch như bản đồ, tập gấp, ảnh, sách hướng dẫn, sách dư địa chí, phim tài liệu, phim truyện, các quà tặng đặc trưng của miền đất Ninh Bình. Nâng cao chất lượng phát thanh, truyền hình quảng bá về du lịch Ninh Bình, tiến tới phủ sóng vệ tinh để quảng bá rộng rãi trong nước và quốc tế. Xây dựng hệ thống tích hợp số liệu thông tin liên quan đến đầu tư phát triển du lịch, tăng cường chức năng tư vấn, đầu tư du lịch để hỗ trợ các nhà đầu tư thực hiện quy trình thủ tục đơn giản hiệu quả. Xác định đầu tư tập trung cho hoạt động xúc tiến du lịch của Ninh Bình coi đây là một biện pháp quan trọng để phát triển du lịch. Trong quảng bá và xúc tiến du lịch cần xác định vai trò chính của Nhà nước và chính quyền địa phương. Bên cạnh đó các doanh nghiệp cũng đóng vai trò không kém phần quan trọng trong quảng bá, giới thiệu hình ảnh du lịch Ninh Bình. - Đối với các cơ quan nhà nước: Xây dựng chiến lược xúc tiến du lịch đến năm 2020 tầm nhìn đến 2030 với các mục tiêu, định hướng cho từng giai đoạn gắn với các thị trường truyền thống và các thị trường có tiềm năng. Xây dựng kế hoạch, chương trình quảng bá xúc tiến du lịch hàng năm. Củng cố bộ máy của Trung tâm Thông tin Xúc tiến Du lịch đủ sức để hoàn thành nhiệm vụ. Thiết lập các cơ chế phối hợp giữa các cơ quan ban ngành của tỉnh trong quảng bá du lịch. Cần phải có những chính sách thu hút các hãng lữ hành mạnh trong ngành để họ đưa Ninh Bình vào chương trình tour chào bán cho khách. Thông qua tiếp xúc, học tập kinh nghiệm của các hãng lữ hành quốc tế sẽ nâng cao năng lực của lữ hành Ninh Bình, nâng cao tính hấp dẫn của sản phẩm du lịch Ninh Bình. Có kế hoạch, chương trình hợp tác với các quốc gia trong khu vực, giới thiệu Việt Nam là điểm đến, là cửa ngõ đến Đông Dương và các nước ASAEN. Tăng cường tham gia các hội chợ, diễn đàn du lịch, các sự kiện quốc tế chuyên nghiệp do Tổng cục Du lịch và Hiệp hội Du lịch tổ chức. Đẩy mạnh thực hiện các hoạt động quan hệ công chúng như tạo sự kiện, tổ chức hội nghị, hội thảo… - Đối với các doanh nghiệp: Cần tuân thủ các quy định của pháp luật và có trách nhiệm trong hoạt động tuyên truyền quảng bá. Nâng cao kỹ năng tuyên truyền quảng bá song phải đảm bảo quảng bá đúng sự thật và không hứa hẹn những điều mà doanh nghiệp không thể thực hiện được, nhằm tạo uy tín và lòng tin, thu hút khách du lịch. Phối hợp và tham gia các chương trình xúc tiến du lịch trong và ngoài nước do địa phương và quốc gia tổ chức. Tổ chức đào tạo và tham gia các khóa đào tạo nhằm nâng cao kỹ năng nghề nghiệp cho đội ngũ lao động trong doanh nghiệp thực hiện chức năng quản trị tác nghiệp cũng như nhân viên trực tiếp cung cấp dịch vụ cho khách du lịch. 3.2.7. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra đối với hoạt động du lịch Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực du lịch, coi đây là nhiệm vụ thường xuyên của tỉnh nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch. Cần đẩy mạnh việc thanh tra, kiểm tra tình hình thực hiện các quy định của Chính phủ về tăng cường quản lý công tác trật tự trị an, bảo vệ môi trường tại các điểm tham quan du lịch, tình hình thực hiện quy chế bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch của Bộ Tài nguyên và Môi trường tại các khu, điểm du lịch trên địa bàn tỉnh; nâng cao chất lượng công tác thẩm định các cơ sở lưu trú; thực hiện nghiêm túc việc xét, cấp thẻ hướng dẫn viên du lịch theo đúng quy định của pháp luật; đẩy mạnh việc giáo dục ý thức pháp luật cho nhân dân, khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân nghiêm chỉnh chấp hành các quy định của pháp luật về du lịch; tổ chức quán triệt và chỉ đạo thực hiện các văn bản pháp luật của các cơ quan nhà nước các cấp cho các doanh nghiệp du lịch; xây dựng môi trường hoạt động kinh doanh lành mạnh, nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra trong lĩnh vực du lịch Để đạt được những nội dung trên, cần tập trung vào một số công việc chủ yếu như: Một là, hoạt động thanh tra, kiểm tra nhằm mục đích vừa thúc đẩy các doanh nghiệp kinh doanh trung thực, minh bạch, vừa giúp Nhà nước phát hiện những sai sót của doanh nghiệp để có những biện pháp xử lý kịp thời, đảm bảo sự tôn nghiêm của pháp luật. Vì vậy, để công tác thanh tra, kiểm tra nói riêng, quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch nói chung có hiệu lực, hiệu quả cũng như đảm bảo quyền lợi hợp pháp của doanh nghiệp kinh doanh du lịch, phải xác định một cách chính xác phạm vi thanh tra, kiểm tra đối với các doanh nghiệp. Hai là, đổi mới phương thức thanh tra, kiểm tra. Trình tự, thủ tục thanh tra, kiểm tra phải được nghiên cứu và thiết kế lại một cách hết sức khoa học để làm sao vừa đảm bảo được mục đích, yêu cầu thanh tra, kiểm tra, vừa có sự kết hợp, phối hợp với các cơ quan chức năng khác để tiến hành gọn nhẹ, không trùng lặp chồng chéo, giảm bớt thời gian, không gây phiền hà cho doanh nghiệp kinh doanh du lịch. Ba là, đào tạo, lựa chọn một đội ngũ những người làm công tác thanh tra, kiểm tra có đủ năng lực, trình độ, đáp ứng được yêu cầu của công tác thanh tra, kiểm tra trong tình hình mới. Vấn đề này đòi hỏi người lãnh đạo quản lý và những người làm công tác thanh tra, kiểm tra phải thay đổi nhận thức về công tác thanh tra, kiểm tra. Năng lực của người cán bộ làm công tác thanh tra, kiểm tra không đơn giản chỉ dừng lại ở kiến thức chuyên môn mà đòi hỏi phải có một sự hiểu biết toàn diện về tình hình phát triển kinh tế - xã hội và có quan điểm đúng đắn khi tiến hành thanh tra, kiểm tra để có thể đánh giá nhanh chóng, chính xác, khách quan bản chất của vấn đề được thanh tra, kiểm tra, tránh sự khô cứng, máy móc. KẾT LUẬN Quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch là nhân tố ảnh hưởng quyết định đến sự phát triển của ngành du lịch Việt Nam nói chúng và của tỉnh Ninh Bình nói riêng, có tác động không nhỏ vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa cũng như sự phát triển chung về kinh tế, xã hội của tỉnh. Du lịch của Ninh Bình những năm qua đã có nhiều kết quả đáng khích lệ, tuy nhiên trong quá trình phát triển, nhiều yêu cầu của hoạt động du lịch vẫn chưa được thực hiện đầy đủ. Việc hoàn thiện quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch góp phần quan trọng trong việc phát triển các hoạt động du lịch, qua đó góp phần phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Luận văn đã đạt được những kết quả chính sau đây: 1) Hệ thống hóa và làm sáng tỏ thêm những vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động du lịch và quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch của chính quyền cấp tỉnh hiện nay. Theo đó, luận văn đã nêu rõ khái niệm, đặc điểm hoạt động du lịch; ý nghĩa kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và môi trường của hoạt động du lịch; các yếu tố tác động tới hoạt động du lịch; quan niệm, đặc điểm của quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch trong nền kinh tế thị trường; vai trò của quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch trong nền kinh tế thị trường; nội dung quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch của chính quyền cấp tỉnh; yêu cầu đối với quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch ở nước ta hiện nay. 2) Nghiên cứu kinh nghiệm của các địa phương làm tương đối tốt về công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch, rút ra bài học cho tỉnh Ninh Bình. 3) Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động du lịch và quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch ở tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2001-2010, từ đó rút ra những mặt tích cực, hạn chế và nguyên nhân. 4) Đề xuất phương hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch ở tỉnh Ninh Bình hiện nay. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Phạm Đức Ánh (2002), "Du lịch Ninh Bình phát triển bền vững", Du lịch Việt Nam, (3). 2. Nguyễn Thái Bình (2003), "Để du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn", Du lịch Việt Nam, (6). 3. Chính phủ (2004), Quyết định số 204/2006/QĐ-TTg ngày 17/8 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam, Hà Nội. 4. Đảng bộ tỉnh Ninh Bình (2000), Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ XVIII, Ninh Bình. 5. Đảng bộ tỉnh Ninh Bình (2005), Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ XIX, Ninh Bình. 6. Đảng bộ tỉnh Ninh Bình (2010), Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ XX, Ninh Bình. 7. Đảng Cộng sản Việt Nam (1977), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, Nxb Sự thật, Hà Nội. 8. Đảng Cộng sản Việt Nam (1981), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, Nxb Sự thật, Hà Nội. 9. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội. 10. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội. 11. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2004), Nghị quyết số 41-NQ/TƯ ngày 15/11 của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, Hà Nội. 14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 16. Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa (2004), Giáo trình Kinh tế du lịch, Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội. 17. Nguyễn Đình Hòa (2004), "Du lịch sinh thái - thực trạng và giải pháp để phát triển ở Việt Nam", Kinh tế và phát triển, (8). 18. Hội đồng Biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam (1966), Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, Hà Nội. 19. Đinh Trung Kiên (2003), "Đào tạo nguồn nhân lực du lịch trước yêu cầu mới", Du lịch Việt Nam, (7). 20. Nguyễn Thị Hoa Lệ (2003), "Để du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn", Du lịch Việt Nam, (11). 21. Phạm Trung Lương (2002), Du lịch sinh thái, những vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển ở Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 22. Nguyễn Duy Mạnh và Lê Trung Kiên (2005), "Du lịch sinh thái và kinh doanh sản phẩm du lịch sinh thái tại các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên của Việt Nam", Kinh tế phát triển, (8). 23. Bùi Xuân Nhàn (2003), "Đào tạo nguồn nhân lực thực hiện thắng lợi chiến lược phát triển du lịch giai đoạn 2001 - 2010", Du lịch Việt Nam, (12). 24. Trần Phương (2003), "Bảo tồn văn hóa duyên hải để phát triển du lịch", Văn hóa Nghệ thuật, (6). 25. Quốc hội (1992), Hiến pháp, Hà Nội. 26. Quốc hội (2001), Luật Di sản văn hóa, Hà Nội. 27. Quốc hội (2005), Luật du lịch, Hà Nội. 28. Quốc hội (2005), Luật Bảo vệ môi trường, Hà Nội. 29. Sở Du lịch Ninh Bình (2001), Chương trình phát triển du lịch Ninh Bình 2001 - 2005, Ninh Bình. 30. Sở Du lịch Ninh Bình (2002), Phát triển du lịch Ninh Bình bền vững trong tương quan hợp tác - hỗ trợ của các tỉnh bạn, Kỷ yếu hội thảo khoa học, Ninh Bình. 31. Sở Du lịch Ninh Bình (2003), Báo cáo dự án tổ chức tour du lịch sinh thái núi chùa Bái Đính Gia Sinh - Gia Viễn, Ninh Bình. 32. Sở Du lịch Ninh Bình (2004), Tóm tắt báo cáo quy hoạch chi tiết xây dựng khu du lịch Tràng An, Ninh Bình. 33. Sở Du lịch Ninh Bình (2004), Thuyết minh quy hoạch khu du lịch sinh thái hồ Đồng Thái, hồ Đoòng Đèn, huyện Yên Mô, thị xã Tam Điệp, Ninh Bình. 34. Sở Du lịch Ninh Bình - Viện Nghiên cứu Quy hoạch phát triển Du lịch (1995), Đề án quy hoạch tổng thể phát triển Du lịch Ninh Bình đến 2010, Ninh Bình. 35. Sở Du lịch Ninh Bình (2001-2010), Báo cáo tổng kết hoạt động du lịch Ninh Bình các năm 2001, 2002, 2003, 2004, 2005, 2006, 2007, 2008, 2009, 2010, Ninh Bình. 36. Stephanie Thullen (SNV-Việt Nam) (2006), "Du lịch sinh thái không đơn thuần chỉ là du lịch thiên nhiên", Du lịch Việt Nam, (10). 37. Nguyễn Thị Thanh Tâm (2005), "Du lịch Ninh Bình: phấn đấu trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh", Kinh tế và dự báo, (4). 38. Nguyễn Xuân Thảo - Lã Đăng Bật (2005), Xây dựng thành phố Hoa Lư du lịch, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội. 39. Doãn Quang Thiện (1993), Đổi mới cơ chế quản lý ngành du lịch nước ta trong giai đoạn hiện nay, Luận án phó tiến sĩ khoa học Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội. 40. Tỉnh ủy Ninh Bình (2001), Nghị quyết số 03-NQ/TƯ của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về phát triển du lịch từ nay đến 2010, Ninh Bình. 41. Tỉnh ủy Ninh Bình (2009), Nghị quyết số 15-NQ/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về phát triển du lịch đến năm 2020, định hướng đến năm 2030, Ninh bình. 42. Tổng cục Du lịch (2000), Sổ tay hướng dẫn đánh giá tác động môi trường cho phát triển du lịch, Công ty in Tiến bộ, Hà Nội. 43. Tổng cục Du lịch (2004), Kỷ yếu hội thảo bảo vệ môi trường du lịch, Hà Nội. 44. Tổng cục Du lịch (2004), Tài liệu Hội thảo xây dựng luật du lịch Việt Nam, Hà Nội. 45. Tổng cục Du lịch - IUCN - ESCAP (1999), Xây dựng chiến lược quốc gia về phát triển du lịch sinh thái tại Việt Nam, Tuyển tập báo cáo hội thảo khoa học, Hà Nội. 46. Tổng cục Du lịch và Quỹ phát triển bền vững Tây Ban Nha (2003), Dự án xây dựng năng lực cho phát triển du lịch ở Việt Nam, Hà Nội. 47. Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình (2009), Báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội tỉnh Ninh Bình đến 2020, Ninh Bình. 48. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (1999), Pháp lệnh Du lịch, Hà Nội. MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 1 Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 8 1.1. Khái niệm, đặc điểm các loại hình hoạt động du lịch 8 1.2. Quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch và phân cấp quản lý đối với chính quyền cấp tỉnh 17 1.3. Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch ở một số tỉnh, thành phố điển hình 29 Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NINH BÌNH 37 2.1. Tình hình hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2001-2010 37 2.2. Thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2001-2010 52 2.3. Đánh giá chung về quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Ninh Bình 62 Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NINH BÌNH 69 3.1. Dự báo phát triển ngành và quan điểm hoàn thiện quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Ninh Bình đến năm 2020 69 3.2. Các giải pháp cơ bản hoàn thiện quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Ninh Bình 80 KẾT LUẬN 95 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 96 DANH MỤC CÁC BẢNG Số hiệu bảng Tên bảng Trang 2.1 Một số chỉ tiêu kinh tế chủ yếu của Ninh Bình so với vùng đồng bằng sông Hồng và cả nước 47 2.2 Cơ cấu khách quốc tế giai đoạn 2001-2010 49 2.3 Cơ cấu khách nội địa giai đoạn 2001-2010 50 2.4 Hiện trạng cơ sở lưu trú giai đoạn 2001-2010 50 2.5 Chất lượng nguồn lao động ngành du lịch 2001-2010 51

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfLUẬN VĂN- Quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Ninh Bình.pdf
Luận văn liên quan