Luận văn Quản lý nhà nước tổng hợp về biển và hải đảo tỉnh Quảng Ngãi

* Đối với tỉnh Quảng Ngãi - Tỉnh Quảng Ngãi cần tăng cường các hoạt động giao lưu hợp tác quốc tế trong hoạt động quản lý, khai thác tài nguyên và bảo vệ môi trường biển thông qua việc sử dụng ngân sách địa phương để cử cán bộ đào tạo tập huấn ngắn hạn, tham quan học hỏi kinh nghiệm ở một số quốc gia có trình độ quản lý biển tiên tiến. - Xây dựng cơ chế tài chính bền vững cho hoạt động quản lý tổng hợp vùng bờ của tỉnh. * Đối với Trung ương a) Kiến nghị Chính phủ - Hỗ trợ nguồn vốn Ngân sách Trung ương để đầu tư cơ sở vật chất và hạ tầng kỹ thuật như xây dựng các trạm radar quan trắc môi trường biển, đầu tư phương tiện hoạt động, cải tạo môi trường, biến đổi khí hậu. - Hỗ trợ vốn, cơ chế chính sách để thực hiện công tác bảo tồn biển, bảo vệ, duy trì, phát triển và sử dụng hợp lý các hệ sinh thái, tài nguyên thiên nhiên, môi trường, bảo tồn các giá trị văn hóa lịch sử, phục vụ phát triển bền vững tại huyện Lý Sơn và vùng ven biển tỉnh Quảng Ngãi. b) Kiến nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường - Hoàn thiện các luận cứ khoa học để phân định vùng ranh giới quản lý biển giữa các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có biển; phân định phạm vi quản lý biển giữa Trung ương với địa phương. - Ban hành Thông tư hướng dẫn kỹ thuật về chương trình quản lý tổng hợp vùng bờ cấp địa phương. - Xây dựng các quy định kỹ thuật về đánh giá vật, chất được phép nhận chìm cũng như xác định khu vực nhận chìm; tăng cường năng lực hệ thống quản lý; đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ; đào tạo nâng cao trình107 độ cho đội ngũ cán bộ, chuyên gia các cấp tham gia vào việc cấp phép và quản lý hoạt động nhận chìm ở biển. - Kiến nghị Chính phủ điều chỉnh phạm vi thẩm quyền giao khu vực biển cho các tổ chức, cá nhân, khai thác sử dụng tài nguyên biển của UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có biển ra 6 hải lý (đến vùng biển ven bờ) thay vì 3 hải lý như hiện nay. - Tham mưu Chính phủ trình Quốc hội Quy hoạch, kế hoạch sử dụng biển Việt Nam; tổ chức lập Quy hoạch tổng thể khai thác sử dụng tài nguyên vùng bờ trình Chính phủ phê duyệt. - Thiết lập và công bố đường mép nước biển thấp nhất trung bình trong nhiều năm (18,6 năm) ở vùng ven biển và các đảo làm cơ sở cho địa phương tiến hành giao khu vực biển cho các tổ chức, cá nhân sử dụng tài nguyên biển và lập hồ sơ tài nguyên hải đảo. - Hỗ trợ Quảng Ngãi tham gia các dự án thuộc chương trình hợp tác quốc tế liên quan tới quản lý tổng hợp vùng bờ của PEMSEA,

pdf121 trang | Chia sẻ: yenxoi77 | Lượt xem: 499 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Quản lý nhà nước tổng hợp về biển và hải đảo tỉnh Quảng Ngãi, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
a quy hoạch của các ngành và giữa các ngành với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xă hội, phát triển chưa gắn với bảo tồn hệ sinh thái, phân bổ sử dụng nguồn tài nguyên biển và không gian vùng bờ chưa phù hợp. Vì vậy, cần sử dụng các công cụ để quản lý tổng hợp; tăng cường thực thi, giám sát và điều chỉnh các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo. c) Công tác bảo vệ môi trường biển, hải đảo Công tác bảo vệ môi trường biển, hải đảo được điều chỉnh bởi nhiều luật như Luật Bảo vệ môi trường, Luật Biển, Luật Đa dạng sinh học, Luật Thủy sản, Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo.... với một số nội dung như bảo tồn biển; kiểm soát ô nhiễm, phòng ngừa, ứng phó với sự cố môi trường biển; quản lý việc nhận chìm ở biển.... Trong thời gian qua, lĩnh vực này đã có sự chuyển biến tích cực, đó là thúc đẩy thành lập khu bảo tồn biển Lý Sơn, bản đồ nhạy cảm và kế hoạch ứng phó sự cố tràn dầu trên địa bàn tỉnh đã được phê duyệt. Tổ chức phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường trên biển đặc biệt là cơ chế phối hợp giữa các bên liên quan được thiết lập, tuy nhiên phương tiện ứng phó với các sự cố lớn trên biển chưa được trang bị. Về cơ bản, mạng lưới điểm quan trắc nước biển ven bờ do Trung tâm Trắc địa và Quan trắc môi trường đã bao trùm được toàn bộ bờ biển của tỉnh. 83 Tuy nhiên tần suất quan trắc còn thưa, các thông số đo, phân tích chưa đầy đủ so với QCVN 10:2008/BTNMT; đặc biệt trầm tích biển và môi trường sinh vật biển chưa được đánh giá. Ngoài ra, các yếu tố có ảnh hưởng lớn đến chất lượng nước tại các vùng nước biển ven bờ và cửa sông, như: chế độ thủy triều, chế độ thủy, hải văn, đặc biệt ở những nơi có sự thay đổi lớn về dòng chảy mặt và đáy, yêu cầu kỹ thuật cao nên chưa thực hiện được. Vì vậy, chưa đánh đầy đủ mức độ rủi ro đối với môi trường biển ven bờ. Công tác giám sát, quan trắc môi trường mới chỉ tập trung vào giám sát môi trường nước, không khí, mạng lưới quan trắc điểm rất mỏng không phản ánh chính xác hiện trạng môi trường tỉnh mà chỉ mang tính chất hỗ trợ, tham khảo. Hiện nay, công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường biển, đảo còn phân tán, chủ yếu tập trung khai thác tài nguyên biển phục vụ lợi ích cho từng ngành gây tác động xấu đến môi trường, thiếu tính bền vững, thiếu tính quản lý tổng hợp, nguồn lợi và môi trường biển là không gian chung, mang tính đặc thù, đòi hỏi cần có nguyên tắc, phương pháp và công cụ quản lý riêng trong khi đó Luật tài nguyên, môi trường biển, hải đảo mới được ban hành và cần có những quy định cụ thể. Cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước tổng hợp và thống nhất về biển, hải đảo chưa có đủ tiềm lực để giải quyết các vấn đề phát sinh ở môi trường biển, đòi hỏi có sự tham gia của các cấp, các ngành để giải quyết vấn đề chung. Vì vậy, bảo vệ môi trường biển, hải đảo cần phải được nhìn nhận trên quan điểm toàn diện, đồng bộ và hệ thống đặc biệt là quá trình tác động giữa con người vào hệ thống tự nhiên nhằm đảm bảo hệ sinh thái biển và môi trường biển được duy trì và phát triển. d) Quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng tài nguyên vùng bờ; Quy hoạch sử dụng biển là công cụ khá quan trọng trong quản lý khai thác, sử dụng tài nguyên ở vùng biển và hải đảo của địa phương. Hiện nay, các quy hoạch này do Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện, tuy nhiên triển khai còn chậm, lấy ý kiến của địa phương còn mang tính hình thức. 84 - Về nguồn lực hoạt động quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo: Hiện nay, nguồn tài chính đầu tư cho các hoạt động quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo chủ yếu dựa vào nguồn ngân sách của nhà nước nhưng còn quá ít so với nhu cầu thực tế, nguồn đầu tư vào môi trường từ khối tư nhân, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội, nhiều nguồn tài chính khác từ phí thuế, tài nguyên, môi trường mới bước đầu, chưa khai thác thường xuyên, vì vậy trong thời gian tới cần xây dựng cơ chế tài chính bền vững để khuyến khích sự tham gia của toàn xã hội. - Sự tham gia của cộng đồng và các bên liên quan: Quy chế phối hợp quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đã được phê duyệt tại Quyết định số 06/2014/QĐ-UBND ngày 28/02/2014 của UBND tỉnh Quảng Ngãi. Đây là cơ sở cho các cấp, các ngành thiết lập cơ chế phối hợp và nâng cao trách nhiệm cho các bên liên quan; tuy nhiên trong thời gian qua công tác này chưa được thực hiện thường xuyên đặc biệt là chế độ thông tin báo cáo về quản lý khai thác tài nguyên và bảo vệ môi trường thuộc chức năng quản lý của từng ngành. Để cộng đồng hiểu rõ và tham gia vào quản lý tài nguyên và môi trường biển tại địa phương, trong thời gian qua công tác tuyên truyền và khuyến khích cộng đồng tham gia đã được quan tâm đặc biệt là duy trì và phát triển hoạt động các tổ tự quản quản lý nguồn lợi rong mơ tại xã Bình Châu, Bình Hải huyện Bình Sơn; hay các tổ tự quản dân phố tham gia hoạt động bảo vệ môi trường. - Việc thanh kiểm tra, xử lý vi phạm: Sự hạn chế về số lượng và năng lực của những người làm công tác quản lý nhà nước về biển và hải đảo cũng là một trong những nguyên nhân làm hạn chế công tác thanh tra, kiểm tra trong lĩnh vực này. Sở Tài nguyên và Môi trường là cơ quan được giao nhiệm vụ quản lý nhà nước tổng hợp và thống nhất về biển và hải đảo, nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra về tài nguyên và môi trường được tiến hành cả hai không gian lãnh thổ gồm trên đất liền và ở vùng biển, tuy nhiên biên chế chỉ có 06 người, quản lý biển 85 là một hoạt động mới nên gây khó khăn cho những người làm công tác thanh tra, kiểm tra, vừa thiếu về số lượng và vừa hạn chế về chuyên môn nghiệp vụ. Công tác thanh tra không chỉ hoạt động theo ngành với từng lĩnh vực mà còn hoạt động thanh tra liên ngành, có thể nói trong những năm vừa qua, các cơ quan quản lý nhà nước chưa có sự phối hợp để thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra liên ngành trong quản lý biển đảo. Sự hạn chế trong công tác thanh tra, kiểm tra là một trong những nguyên nhân làm cho công tác quản lý nhà nước về biển và hải đảo chưa thật sự hiệu quả, nhiều dự án được triển khai thực hiện nhưng không hoàn thành đúng tiến độ, hoặc không hiệu quả vẫn còn nhiều. - Hợp tác quốc tế về biển: Trong nghiên cứu và hợp tác với các quốc gia có trình độ quản lý biển để triển khai các dự án liên quan tới quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường biển còn nhiều hạn chế. - Phương thức quản lý nhà nước tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo chủ yếu vẫn tiếp cận theo ngành, theo lãnh thổ là chủ yếu, các hoạt động hay công cụ quản lý tổng hợp chưa được lồng ghép vào quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội ở vùng ven biển, hải đảo. Các chính sách và văn bản quy phạm pháp luật còn chưa phù hợp so với thực tiễn, cơ chế điều phối và phối hợp giữa các chủ thể liên quan trong khai thác tài nguyên và môi trường biển; phối hợp liên ngành, địa phương chưa đồng bộ và thiếu chặt chẽ. - Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục: Thiếu một chiến lược hành động truyền thông mang tính chất "tổng hợp", chưa có mạng lưới tuyên truyền nòng cốt, chuyên nghiệp; hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục còn mang tính hình thức, mang tính thời điểm. Mô hình tổ tự quản về quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường mới bước đầu có hiệu quả, chưa nhân rộng và phát triển quy mô. - Hệ thống văn bản pháp luật: Chưa hoàn chỉnh, còn nhiều bất cập, tính thực tiễn chưa cao; việc cụ thể hóa nhiều văn bản chậm; nhiều vấn đề môi trường mới đã phát sinh, vướng mắc hoặc chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn, 86 nhiều văn bản triển khai còn gặp nhiều khó khăn do quy trình hướng dẫn thực hiện còn thiếu, một số văn bản hướng dẫn ban hành còn chậm. 87 TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 Việc phân tích các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội có ý nghĩa nền tảng quan trọng cho các phân tích, nhận xét, đánh giá về quản lý nhà nước tổng hợp về biển, hải đảo. Quảng Ngãi có nhiều tiềm năng lợi thế trong phát triển kinh tế biển, có vị trí và vai trò trọng yếu về địa chính trị, kinh tế, có nhiều thế mạnh để trở thành một tỉnh mạnh về biển, làm giàu từ biển với các ngành kinh tế mũi nhọn như hoạt động du lịch, dịch vụ; khai thác nuôi, trồng thuỷ hải sản; phát triển kinh tế cảng biển. Bên cạnh lợi thế nêu trên, đã đặt ra cho hoạt động QLNN tổng hợp về tài nguyên và bảo vệ môi trường của tỉnh nhiều vấn đề cần giải quyết. Nếu hoạt động QLNN không hiệu quả sẽ tạo ra những hậu quả cho môi trường biển, cản trở sự phát triển bền vững của Tỉnh. Những kết quả, thực trạng được nêu ra ở chương này cũng là cơ sở phân tích và đưa ra các giải pháp quản lý nhà nước tổng hợp về biển, hải đảo ở Chương sau. 88 CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TỔNG HỢP VỀ BIỂN VÀ HẢI ĐẢO TỈNH QUẢNG NGÃI 3.1. Quan điểm và định hướng quản lý nhà nước tổng hợp về biển và hải đảo tỉnh Quảng Ngãi 3.1.1. Quan điểm chỉ đạo Nước ta có một vùng biển đặc quyền kinh tế rộng trên 1 triệu km2, gấp 3 lần diện tích đất liền; có bờ biển dài 3.260 km. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, biển có vai trò, vị trí rất quan trọng, gắn bó mật thiết và ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Sau hơn 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, tiềm lực kinh tế biển của đất nước đã không ngừng lớn mạnh, phát triển với tốc độ khá nhanh đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế - xã hội của đất nước theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Ngày 22 tháng 9 năm 1997, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 20-CT/TW về đẩy mạnh phát triển kinh tế biển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Để tiếp tục phát huy tiềm năng của biển trong thế kỷ XXI, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khoá X) đã thông qua Nghị quyết số 09- NQ/TW ngày 09 tháng 02 năm 2007 “Về Chiến lược Biển Việt Nam đến năm 2020”, trong đó nhấn mạnh "Thế kỷ XXI được thế giới xem là thế kỷ của đại dương”. Nghị quyết đã xác định các quan điểm chỉ đạo về Chiến lược Biển Việt Nam đến năm 2020: Mục tiêu tổng quát là đến năm 2020, phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, bảo đảm vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, đảo, góp phần quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. 89 Mục tiêu cụ thể là xây dựng và phát triển toàn diện các lĩnh vực kinh tế, xã hội, khoa học-công nghệ, tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh; phấn đấu đến năm 2020, kinh tế trên biển và ven biển đóng góp khoảng 53-55% tổng GDP của cả nước. Giải quyết tốt các vấn đề xã hội, cải thiện một bước đáng kể đời sống nhân dân vùng biển và ven biển; có thu nhập bình quân đầu người cao gấp hai lần so với thu nhập bình quân chung của cả nước. Cùng với xây dựng một số thương cảng quốc tế có tầm cỡ khu vực, hình thành một số tập đoàn kinh tế mạnh, xây dựng một số khu kinh tế mạnh ở ven biển; xây dựng cơ quan quản lý tổng hợp thống nhất về biển có hiệu lực, hiệu quả, mở rộng hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực về biển. Để tiếp tục phát huy các tiềm năng của biển trong thế kỷ XXI, Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 09/02/2007 “Về Chiến lược Biển Việt Nam đến năm 2020” đã xác định quan điểm chỉ đạo như sau: Một là, nước ta phải trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển trên cơ sở phát huy mọi tiềm năng từ biển, phát triển toàn diện các ngành, nghề biển với cơ cấu phong phú, hiện đại, tốc độ phát triển nhanh, bền vững, hiệu quả cao với tầm nhìn dài hạn. Hai là, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc phòng - an ninh, hợp tác quốc tế và bảo vệ môi trường, kết hợp giữa phát triển vùng biển, ven biển, hải đảo với phát triển vùng nội địa theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Ba là, khai thác mọi nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường biển trên tinh thần chủ động, tích cực mở cửa, phát huy đầy đủ và có hiệu quả các nguồn lực bên trong; tranh thủ hợp tác quốc tế, thu hút mạnh các nguồn lực bên ngoài theo nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước. Một số quan điểm về quản lý nhà nước tổng hợp về biển, hải đảo được thể hiện qua các văn bản chỉ đạo của Trung ương như sau: 90 - Củng cố, hoàn thiện thể chế, chính sách và pháp luật về quản lý tổng hợp góp phần vào quá trình vận hành thông suốt thể chế quản lý tổng hợp, thống nhất trên cơ sở phân vùng chức năng, quy hoạch không gian biển và thực hiện cơ chế giám sát tổng hợp là giải pháp quan trọng nhất để đẩy nhanh và nâng cao hiệu quả khai thác, sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên nhằm thực hiện có hiệu quả Chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường biển đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. - Điều tra cơ bản tài nguyên và môi trường biển phải đi trước một bước, đặc biệt đối với các đảo, cụm đảo tiền tiêu, các đảo có tầm quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng. Ưu tiên điều tra nghiên cứu các vùng biển sâu, biển xa và vùng biển quốc tế liền kề để phát hiện các nguồn tài nguyên mới, tạo lập cơ sở dữ liệu tài nguyên và môi trường biển, hải đảo, phục vụ năng lực dự báo, cảnh báo các tai biến tự nhiên, tác động của biến đổi khí hậu trên các vùng biển. - Đổi mới tư duy và phương thức quản lý tài nguyên biển nhằm khắc phục tính phân tán trong cách tiếp cận quản lý đơn ngành, theo lãnh thổ; tập trung vào giải quyết các vấn đề đa ngành, đa mục tiêu, liên vùng để hướng tới phát triển bền vững ở đới bờ về mặt môi trường, kinh tế và xã hội. Hạn chế đến mức thấp nhất xung đột giữa bảo vệ, bảo tồn với khai thác tài nguyên, phát triển kinh tế; tạo lập sinh kế bền vững cho cộng đồng dân cư ven biển, tăng cường năng lực và khả năng ứng phó với sự cố môi trường, thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu. - Thúc đẩy hơn nữa sự tham gia của các tổ chức xã hội và cộng đồng vào các hoạt động quản lý, bảo vệ tài nguyên và môi trường đới bờ; các quá trình lập kế hoạch, quy hoạch khai thác, sử dụng tài nguyên và không gian của đới bờ. - Thích ứng với biến đổi khí hậu dựa trên hệ sinh thái; khai thác tài nguyên trong giới hạn phục hồi, bảo đảm hiệu quả tổng hợp cả về kinh tế, xã hội và môi trường; hạn chế đến mức thấp nhất xung đột giữa bảo vệ, bảo tồn biển 91 đảo với khai thác tài nguyên, phát triển kinh tế; quan tâm đến nhóm cộng đồng dân cư khó khăn, dễ bị tổn thương giúp thích nghi để sống chung với biến đổi khí hậu là những nguyên tắc cơ bản để phát triển bền vững. - Biển Việt Nam là một phần không tách rời của Biển Đông, biển và các đại dương trên thế giới; nỗ lực thúc đẩy khai thác, sử dụng tài nguyên theo hướng phát triển bền vững, bảo vệ môi trường biển của Việt Nam là một phần trong nỗ lực chung của toàn nhân loại bảo vệ tài nguyên, môi trường biển vì mục tiêu phát triển bền vững. Kết hợp chặt chẽ, hữu cơ giữa các hoạt động điều tra, khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế biển với quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển. 3.1.2. Định hướng phát triển về biển, hải đảo - Về kinh tế - xã hội Đến năm 2020, phát triển thành công, có bước đột phát về kinh tế biển, ven biển như sau: (1) Khai thác, chế biến dầu, khí; (2) Kinh tế hàng hải; (3) Khai thác và chế biến hải sản; (4) Du lịch biển và kinh tế hải đảo; (5) Xây dựng các khu kinh tế, các khu công nghiệp tập trung và khu chế xuất ven biển gắn với phát triển các khu đô thị ven biển. Sau năm 2020, thứ tự phát triển kinh tế biển có sự thay đổi: (1) Kinh tế hàng hải; (2) Khai thác, chế biến dầu, khí và các loại khoáng sản; (3) Khai thác và chế biến hải sản; (4) Du lịch biển và kinh tế hải đảo; (5) Các khu kinh tế, các khu công nghiệp tập trung và khu chế xuất ven biển gắn với phát triển các khu đô thị ven biển. Trước mắt, tập trung đầu tư phát triển du lịch biển, xây dựng cảng biển, phát triển công nghiệp đóng tàu, xây dựng đội tàu mạnh, phát triển những ngành dịch vụ mũi nhọn như vận tải biển, các khu kinh tế ven biển; tạo các điều kiện cần thiết bảo đảm an ninh, an toàn cho những người dân hoạt động trên biển, đảo, người dân sinh sống ở những vùng thường bị thiên tai. 92 Đến năm 2020, tỉnh Quảng Ngãi phát triển có bước đột phát về kinh tế biển, góp phần quan trọng nâng cao đời sống nhân dân vùng ven biển và hải đảo theo 4 định hướng lớn (1) Xây dựng, phát triển KKT Dung Quất và các khu đô thị ven biển trong đó tập trung xây dựng KKT Dung Quất thành một trung tâm công nghiệp hàng đầu của miền Trung, phát triển tổng hợp, đa ngành, đa lĩnh vực, trọng tâm là phát triển công nghiệp lọc hóa dầu, các ngành công nghiệp có quy mô lớn; (2) Phát triển mạnh khai thác, nuôi trồng, chế biến sản phẩm từ biển trong đó xây dựng đội tàu thuyền đánh bắt thủy sản có số lượng, công suất lớn, được trang bị kỹ thuật hiện đại, từng bước tham gia khai thác vùng biển quốc tế gắn với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền quốc gia; (3) Phát triển du lịch biển với các loại hình dịch vụ biển, trọng tâm là dịch vụ cảng biển vận tải biển, đóng, sữa chữa tàu thuyền và dịch vụ nghề cá; (4) Phát triển du lịch biển và kinh tế hải đảo; xây dựng đảo Lý Sơn thành đảo du lịch và phát triển kinh tế thủy sản trong đó phát triển các khu điểm, du lịch ven biển và đảo Lý Sơn gắn với khu vực miền Trung và Tây Nguyên để tạo thành những tour du lịch biển. - Về chiến lược quốc phòng an ninh đối ngoại Nhiệm vụ cơ bản, lâu dài và xuyên suốt là xác lập chủ quyền đầy đủ, quản lý và bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán vùng biển, thềm lục địa, hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và các quần đảo, đảo khác thuộc chủ quyền của nước ta. Nhiệm vụ trước mắt là phải bảo vệ toàn vẹn chủ quyền và lợi ích quốc gia trên vùng biển, đảo, duy trì hòa bình, ổn định và hợp tác phát triển. Định hướng chiến lược về quốc phòng, an ninh, đối ngoại vùng biển và ven biển là: (1) Phát huy sức mạnh tổng hợp, giữ vững độc lập, chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán, toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải, vùng trời của Tổ quốc. (2) Kết hợp chặt chẽ các hình thức, biện pháp đấu tranh chính trị, ngoại giao, pháp lý, kinh tế, quốc phòng trong quản lý vùng trời, bảo vệ biển, đảo của Tổ quốc. (3) Phát triển kinh tế biển gắn liền với quản lý vùng trời, bảo vệ biển, đảo và xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh 93 nhân dân. Xây dựng lực lượng vũ trang, nòng cốt là hải quân, không quân, cảnh sát biển, biên phòng, dân quân tự vệ biển mạnh, làm chỗ dựa vững chắc cho ngư dân và các thành phần kinh tế sản xuất và khai thác biển. (4) Sớm xây dựng chính sách đặc biệt để thu hút và khuyến khích mạnh mẽ nhân dân ra đảo định cư lâu dài và làm ăn dài ngày trên biển, vừa phát triển kinh tế, vừa làm nhiệm vụ bảo vệ vùng biển của Tổ quốc. Theo đó, Quảng Ngãi đã định hướng chiến lược quốc phòng – an ninh, đối ngoại như (1) Phát huy sức mạnh tổng hợp, giữ vững độc lập chủ quyền vùng lãnh hải thuộc địa bàn tỉnh; (2) Xây dựng và thực hiện đề án bảo đảm an ninh trật tự tuyến biển, đảo của tỉnh theo Chiến lược Biển Việt Nam đến năm 2020; (3) Phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành Trung ương và các tỉnh bạn để thực hiện tốt các biện pháp đấu tranh chính trị, ngoại giao, pháp lý, kinh tế, quốc phòng, an ninh trong quản lý vùng trời, bảo vệ biển, đảo trên địa bàn tỉnh; (4) Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân ven biển và hải đảo. (5) Xây dựng lực lượng vũ trang, nòng cốt là biên phòng, hải quân, cảnh sát biển, dân quân tự vệ ven biển vững mạnh. - Về bảo vệ môi trường biển, phòng, chống thiên tai Hạn chế, ngăn chặn ô nhiễm và suy thoái môi trường biển; bảo vệ và phát triển bền vững các hệ sinh thái biển và ven biển, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế, xã hội phục vụ sự nghiệp phát triển bền vững đất nước. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực phòng, chống và cảnh báo thiên tai, cứu hộ, cứu nạn, từng bước hiện đại hóa lĩnh vực này, đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế, bảo đảm an toàn đời sống dân cư và các thành phần kinh tế hoạt động trên biển, đảo và ven biển. Tỉnh Quảng Ngãi đã định hướng nội dung này như sau (1) Hạn chế, ngăn chặn ô nhiễm môi trường ven bờ biển, trong KKT Dung Quất, các khu du lịch ven biển, huyện đảo Lý Sơn và các vùng nuôi trồng hải sản, nuôi tôm (trên cát, vùng triều). Có kế hoạch chủ động phòng, chống xử lý sự cố tràn dầu trên biển. 94 (2) Xây dựng kế hoạch, chủ động di chuyển các hộ dân nằm trong vùng có nguy cơ sạt lở đến định cư ở vùng an toàn. Có các dự án chống sạt lở ở một số vùng trọng điểm. (3) Triển khai ứng dụng các thành tựu khoa học trong dự báo thiên tai; trang bị các phương tiện cứu hộ, cứu nạn, thiết bị kỹ thuật về thông tin trên biển và giữa đất liền với các tàu đánh cá trên biển nhằm bảo đảm tính an toàn cho người và phương tiện hoạt động trên biển. - Về phát triển khoa học công nghệ biển Phát triển khoa học-công nghệ biển phải trở thành động lực của phát triển các lĩnh vực liên quan đến biển. Xây dựng tiềm lực khoa học-công nghệ biển đáp ứng yêu cầu sự nghiệp đổi mới, phục vụ hiệu quả quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đẩy mạnh nghiên cứu và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực ứng dụng khoa học-công nghệ, phục vụ công tác điều tra cơ bản, dự báo thiên tai và khai thác tài nguyên biển; nhanh chóng nâng cao tiềm lực khoa học-công nghệ cho nghiên cứu và khai thác tài nguyên biển, đáp ứng được yêu cầu giai đoạn phát triển mới của đất nước. Đẩy mạnh nghiên cứu và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực ứng dụng khoa học công nghệ trong quản lý nhà nước về biển, hải đảo. Vùng biển và ven biển duyên hải Trung bộ (Thanh Hóa-Bình Thuận). Xây dựng Đà Nẵng thành trung tâm phát triển các lĩnh vực liên quan đến biển của vùng, là một trong ba trung tâm kinh tế biển lớn của nước ta. Xây dựng hành lang kinh tế trên cơ sở tuyến cao tốc Bắc – Nam, các cảng nước sâu, sân bay quốc tế, phát triển các đô thị ven biển. Xây dựng các khu kinh tế tổng hợp; chú trọng phát triển kinh tế hàng hải, du lịch. 3.2. Một số giải pháp quản lý nhà nước tổng hợp về biển và hải đảo 3.2.1. Xây dựng và hoàn thiện cơ chế quản lý tổng hợp về biển và hải đảo Quản lý nhà nước tổng hợp về biển và hải đảo chính là sự quản lý về mặt hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm hoạch định và tổ chức thực hiện các chính sách, cơ chế, công cụ điều phối liên ngành, liên vùng để bảo 95 đảm tài nguyên biển và hải đảo được khai thác, sử dụng hiệu quả, duy trì chức năng và cấu trúc của hệ sinh thái nhằm phát triển bền vững, bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia của Việt Nam trên biển, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Do đó yêu cầu đầu tiên là phải xây dựng và hoàn thiện khung thể chế quản lý tổng hợp và thống nhất về biển và hải đảo theo hướng: Xác lập đầy đủ quy chế quản lý tổng hợp phù hợp với đặc thù của vùng biển, ven biển, hải đảo của tỉnh Quảng Ngãi. Một số giải pháp được đưa ra như sau: - Tổ chức thực hiện “Phân vùng chức năng vùng bờ tỉnh Quảng Ngãi”, đề xuất hệ thống các quy định sử dụng các vùng, xây dựng kế hoạch triển khai phân vùng nhằm giảm thiểu mâu thuẫn về lợi ích giữa các bên trong khai thác, sử dụng tài nguyên, không gian biển; Tổ chức “Thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển” trong đó cần xác định đường mực nước triều cao trung bình nhiều năm, xác định ranh giới hành lang bảo vệ bờ biển, đồng thời quy định việc quản lý hành lang bảo vệ bờ biển, phổ biến, giáo dục pháp luật về quản lý hành lang bảo vệ bờ biển. Đây là cơ sở để xây dựng, điều chỉnh và triển khai các quy hoạch, kế hoạch liên quan phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, kết hợp bảo vệ tài nguyên, môi trường biển và hải đảo. - Tổ chức triển khai Quy hoạch, kế hoạch sử dụng biển sau khi được Quốc hội thông qua; Quy hoạch tổng thể khai thác sử dụng tài nguyên vùng bờ sau khi Chính Phủ phê duyệt. Tiếp tục thực hiện Kế hoạch quản lý tổng hợp đới bờ tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2016 – 2020 được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 187/QĐ-UBND ngày 27/01/2016, và tổ chức đánh giá hoạt động quản lý tổng hợp vùng bờ với các tiêu chí, chỉ thị tại Quyết định 877/QĐ-UBND ngày 04/6/2015 của UBND tỉnh Quảng Ngãi. - Thỏa thuận và xác lập ranh giới quản lý biển giữa các tỉnh, thành phố có biển giáp ranh và phạm vi quản lý giữa Trung ương với địa phương. - Hoàn thiện cơ chế giao quyền sử dụng khu vực biển cho các tổ chức, cá nhân sử dụng tài nguyên biển trong đó xây dựng quy chế phối hợp trong quản 96 lý, kiểm soát khai thác sử dụng, đặc biệt là nêu rõ vai trò và trách nhiệm của cộng đồng trong việc tham gia giám sát, kiểm soát các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên biển đảm bảo quyền tiếp cận của người dân đối với biển chẳng hạn các hoạt động về cấp phép cần có sự tham gia của cộng đồng địa phương ven biển. - Bổ sung các nhiệm vụ về bảo vệ môi trường biển theo hướng tăng cường các nhiệm vụ thực thi pháp luật đối với các hoạt động trên biển, đảm bảo kiểm soát các nguồn chất thải gây ô nhiễm biển liên quan đến hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên biển cũng như hoạt động phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường biển, biến đổi khí hậu và nước biển dâng. - Xây dựng lại cơ chế phối hợp, điều phối trong quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước và các quy định hiện hành. - Xây dựng quy chế phối hợp giữa các cơ quan trong hoạt động thanh tra, kiểm tra liên ngành. Trong đó cần phải xác định rõ: cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp thực hiện, hướng xử lý khi có vi phạm, đồng thời phải có các văn bản hướng dẫn cụ thể để thực hiện thống nhất và đồng bộ, tránh chồng chéo, mâu thuẫn trong quản lý. - Tiếp tục hoàn thiện các quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan quản lý nhà nước về biển và hải đảo theo hướng: Tăng cường vai trò, sự tham gia của các cơ quan này trong việc tham gia xây dựng, thẩm định liên quan đến quy hoạch, kế hoạch phát triển các ngành kinh tế biển, phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương ven biển. 3.2.2. Kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước tổng hợp về biển và hải đảo Xuất phát điểm về trình độ và năng lực quản lý tổng hợp của bộ máy quản lý nhà nước về biển từ Trung ương, Tỉnh, huyện, xã còn nhiều hạn chế; việc hoàn thiện mô hình thể chế về tổ chức quản lý biển, hải đảo theo hướng “Xây 97 dựng cơ quan quản lý nhà nước về biển để quản lý biển có hiệu lực, hiệu quả”. Chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường biển đến năm 2030 được Thủ tướng ban hành tại Quyết định số 1570/QĐ-TTg ngày 06/9/2013 đã chỉ ra những phương hướng để hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước tổng hợp về biển như sau “Tiếp tục hoàn thiện cơ cấu tổ chức về quản lý tổng hợp và thống nhất tài nguyên và môi trường biển, hải đảo từ Trung ương đến địa phương theo hướng thống nhất, tập trung đầu mối; xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, khắc phục triệt để tình trạng phân tán, chồng chéo. Tập trung củng cố, kiện toàn tổ chức, nâng cao năng lực quản lý nhà nước của Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam. Nghiên cứu hình thành cơ chế phối hợp liên ngành, liên vùng; phát triển các tổ chức sự nghiệp, các tập đoàn nhà nước mạnh về điều tra cơ bản, khảo sát tổng hợp tài nguyên và môi trường biển, hải đảo. Thiết lập cơ chế tổ chức thực hiện giám sát tổng hợp và thống nhất các hoạt động liên quan đến tài nguyên và môi trường biển, hải đảo. Tăng cường năng lực và phát huy vai trò của các lực lượng chức năng trong thực hiện Quy chế phối hợp quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo”. Như vậy, để kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước tổng hợp về biển, tăng cường năng lực, củng cố và hoàn thiện cơ chế điều phối hợp tác đa ngành, một số giải pháp được đưa ra như sau: - Đối với cấp tỉnh, cần phải tăng cường năng lực công chức ở các cơ quan chuyên môn giúp UBND tỉnh quản lý nhà nước về biển, hải đảo theo ngành và quản lý nhà nước tổng hợp và thống nhất đặc biệt là Chi cục Biển và Hải đảo. Ngoài ra, quản lý biển và hải đảo là một lĩnh vực quản lý rộng nên hoạt động thanh tra, kiểm tra cũng khá phức tạp do vậy để đảm bảo hoạt động này diễn ra thường xuyên và có hiệu quả cần thiết bổ sung nhân sự, trong quá trình tuyển dụng phải đảm bảo có trình độ, chuyên môn sâu rộng. - Kiện toàn Ban Chỉ đạo quản lý tổng hợp đới bờ, Tổ Chuyên viên kỹ thuật liên ngành quản lý tổng hợp đới bờ. Ngoài Ban Chỉ đạo Quản lý tổng hợp 98 đới bờ, Tổ chuyên viên kỹ thuật liên ngành cần Thành lập Hội đồng tư vấn khoa học gồm: các nhà khoa học, các chuyên gia thuộc các lĩnh vực khác nhau ở trong và ngoài tỉnh đảm bảo cho hoạt động tham mưu được toàn diện và hiệu quả. - Đối với cấp huyện, củng cố và tăng cường năng lực cho các phòng, ban chuyên môn giúp việc cho Uỷ ban nhân dân huyện quản lý nhà nước về biển theo ngành, theo hướng tổng hợp và thống nhất; bổ sung và có quy định về nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn liên quan đến quản lý biển, hải đảo, tránh tình trạng điều chuyển nhân sự từ các phòng ban khác, chuyên môn không phù hợp hoặc thiếu kinh nghiệm. Thành lập Ban Chỉ đạo quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường của các huyện ven biển, hải đảo. Chức năng, nhiệm vụ của ban này bao gồm triển khai các chương trình quản lý tổng hợp tài nguyên và chỉ huy ứng phó sự cố tràn dầu, hóa chất độc xảy ra trên địa bàn huyện. - Đối với các xã ven biển và hải đảo, cần phải có cán bộ chuyên trách quản lý tổng hợp về tài nguyên và bảo vệ môi trường biển; bổ sung chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước tổng hợp và thống nhất biển, hải đảo cho Uỷ ban nhân dân các xã có biển. 3.2.3. Phát triển nguồn nhân lực quản lý nhà nước về biển và hải đảo Quản lý nhà nước tổng hợp về biển và hải đảo là lĩnh vực mới mẻ, nhạy cảm, tích hợp chuyên môn ở nhiều lĩnh vực khác nhau, vì vậy để nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, trước hết cần xây dựng và triển khai kế hoạch phát triển nguồn nhân lực đủ mạnh để thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước tổng hợp, thống nhất về biển và hải đảo. Xác định tổng số biên chế công chức theo vị trí việc làm, bảo đảm đủ biên chế, tuyển chọn đội ngũ công chức có phẩm chất và năng lực thực thi nhiệm vụ. Cần phải thường xuyên tổ chức các lớp bồi dưỡng để nâng cao kiến thức chuyên môn như: quản lý tổng hợp vùng bờ, quy hoạch không gian biển; khảo sát, điều tra tài nguyên - môi trường biển và hải đảo; nghiên cứu khoa học biển, các giải pháp kỹ thuật tiên tiến để giám sát, quan 99 trắc, giảm thiểu xử lý các thảm họa thiên tai và sự cố môi trường biển; bên cạnh đó, bồi dưỡng kiến thức về quản lý hành chính nhà nước, pháp luật về biển cũng rất cần thiết và quan trọng đối với quản lý tổng hợp về biển, hải đảo cần phải đổi mới tư duy trong quản lý nhằm bảo đảm hài hòa giữa khai thác và bảo tồn. Hoàn thiện và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ cho công tác quản lý nhà nước biển là một yêu cầu cần thiết, đặc biệt là lực lượng kế cận, điều này đòi hỏi sự phối hợp giữa chương trình đào tạo chuyên sâu của các trường đại học với nhu cầu thực tiễn của công việc. Việc xây dựng và triển khai kế hoạch đào tạo cần phải thống kê, dự báo về nhu cầu nguồn nhân lực. Để có chiến lược phát triển nguồn nhân lực hiệu quả, điều quan trọng nhất là phải dự báo đúng nhu cầu của các cơ quan quản lý và của xã hội, xây dựng một bảng thống kê đội ngũ nhân sự của tất cả ngành, lĩnh vực quản lý biển trong đó nêu rõ yêu cầu về trình độ, bằng cấp từ đó xây dựng một kế hoạch đào tạo, bổ sung nguồn nhân lực cho phù hợp. Do sự phát triển rất nhanh của các lĩnh vực liên quan đến biển, đảo và do tính đặc trưng của ngành nghề quản lý (liên quan đến hầu khắp các lĩnh vực) nên nguồn nhân lực phục vụ quản lý biển, đảo có những yêu cầu đặc biệt. Vì vậy, để có một nguồn nhân lực đảm bảo đáp ứng yêu cầu quản lý, tỉnh cần liên kết với các viện, trường đại học, cao đẳng chuyên nghiệp trong nước hoặc quốc tế để đặt hàng đào tạo ở các ngành nghề cần thiết như: quản lý tổng hợp vùng bờ, quản lý rủi ro môi trường, quản lý dựa vào chức năng của hệ sinh thái biển, biến đổi khí hậu. 3.2.4. Đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị (vật lực) Để quản lý có hiệu lực và mang lại hiệu quả cao đòi hỏi phải có nguồn lực lớn như khoa học - công nghệ biển, có trang thiết bị chuyên dụng và cơ sở vật chất hiện đại. Vì vậy, tăng cường đầu tư tài chính và cơ sở vật chất cho quản lý nhà nước về biển và hải đảo là hết sức cần thiết. Hiện nay, trang thiết bị phục vụ công tác quản lý nhà nước tổng hợp về biển và hải đảo còn thiếu, đặc biệt là 100 các trang thiết bị chuyên dụng nên cần phải tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị để phục vụ công tác quản lý. Chú trọng đổi mới công nghệ, trang thiết bị phục vụ công tác điều tra cơ bản, khảo sát, kiểm soát, thăm dò, nghiên cứu biển, hải đảo và đại dương. Việc đầu tư trang thiết bị, tài chính cần thực hiện ở các khía cạnh: Đầu tư nâng cấp trang thiết bị chuyên ngành, đổi mới công nghệ, ứng dụng tiến bộ khoa học nhằm nâng cao chất lượng điều tra, dự báo, quan trắc về tài nguyên, môi trường biển phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ quốc phòng an ninh; trang bị hệ thống giám sát tích hợp radar đặt tại huyện Lý Sơn phục vụ công tác cảnh báo thiên tai, ứng phó với sự cố tràn dầu góp phần bảo vệ tài sản ngư dân, bảo vệ môi trường biển, đảm bảo quốc phòng an ninh, bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển. Phối hợp với các cơ quan Trung ương khảo sát và xây dựng các trạm quan trắc môi trường, trạm radar trên biển, trạm phao biển theo Quyết định số 90/QĐ- TTg ngày 12/01/2016 của Thủ tướng về việc phê duyệt Quy hoạch mạng lưới quan trắc tài nguyên và môi trường quốc gia giai đoạn 2016 – 2025, tầm nhìn đến 2030, và nâng cấp các trạm quan trắc khí tượng thủy văn, các thiết bị quan trắc trên biển để đảm bảo cung cấp đầy đủ số liệu, thông tin phục vụ công tác dự báo, cảnh báo thiên tai và sự cố môi trường biển. Ngoài ra, cần có cơ chế chia sẻ thông tin giữa các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành và các bên liên quan. 3.2.5. Hợp tác quốc tế về biển và hải đảo Tăng cường công tác đối ngoại và hợp tác quốc tế về biển để khai thác có hiệu quả mọi tiềm năng kinh tế biển, đồng thời, bảo đảm tốt nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trong mọi tình huống, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia. Mở rộng hợp tác quốc tế và tăng cường công tác ngoại giao, đặc biệt với các nước lân cận trong khu vực Biển Đông và những nước có tiềm lực kinh tế, khoa học - công nghệ mạnh về biển để bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển, phát triển kinh tế biển và vùng ven biển, khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên 101 biển, trên nguyên tắc giữ vững độc lập chủ quyền quốc gia, bảo đảm an ninh, quốc phòng, góp phần gìn giữ hoà bình, hợp tác hữu nghị ở Biển Đông. Đối với cơ quan nhà nước của tỉnh, cần tăng cường các hoạt động giao lưu hợp tác quốc tế trong hoạt động quản lý, khai thác, bảo vệ môi trường biển. Hàng năm, cử thành viên Ban Chỉ đạo, Tổ chuyên viên kỹ thuật liên ngành và đội ngũ công chức quản lý về biển, hải đảo giao lưu hợp tác thông qua việc thăm quan, học hỏi kinh nghiệm ở một số quốc gia có trình độ quản lý biển tiên tiến để học tập, nghiên cứu phương thức quản lý, chuyển giao khoa học công nghệ, ứng dụng kỹ thuật ở một số ngành, lĩnh vực. Triển khai ký kết hợp tác với tỉnh Palawan (Philipine) trong các lĩnh vực khai thác thủy hải sản, dịch vụ hậu cần nghề cá và tiêu thụ sản phẩm, bảo hộ ngư dân tàu thuyền và tìm kiếm cứu nạn, ứng phó với thiên tai và sự cố tràn dầu trên biển. Hợp tác với một số địa phương của các nước Palau, Papua New Guinea và Micronesia trong các lĩnh vực đưa tàu cá của tỉnh sang các nước để khai thác thủy sản và hỗ trợ kỹ thuật nuôi trồng thủy, hải sản. Đối với một số dự án mà chúng ta chưa có kinh nghiệm, chưa đủ tầm để thực hiện, cần có sự tham gia, hỗ trợ của các chuyên gia đến từ các nước. Tăng cường hợp tác quốc tế để tranh thủ sự giúp đỡ của các nước thông qua việc xây dựng và thực hiện các chương trình, đề tài, dự án hợp tác đặc biệt là mạng lưới Quản lý tổng hợp đới bờ của PEMSEA, Cơ quan hợp tác Quốc tế Hàn Quốc (KOICA), Tổ chức Hợp tác Phát triển Đức (GIZ), Ngân hàng Thế giới (WB). Ngoài ra, sự phối hợp chặt chẽ với các đơn vị trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, học hỏi trao đổi kinh nghiệm với các tỉnh bạn là cần thiết. 3.2.6. Nâng cao hiệu quả tuyên truyền, giáo dục về biển và hải đảo Nội dung tuyên truyền cần phải đa dạng, tập trung phổ biến kiến thức pháp lý, các quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước, các văn bản quy phạm pháp luật, các thỏa thuận Quốc tế có liên quan đến biển, đảo của nước ta. Ngoài ra, cần nâng cao nhận thức cho cộng đồng về vị trí, tiềm năng của biển, đảo; tuyên truyền, hướng dẫn và phổ biến kỹ thuật về phòng ngừa, ứng phó, kiểm 102 soát và xây dựng phương án khắc phục hậu quả thiên tai, sự cố môi trường biển. Mặt khác, cần quảng bá thương hiệu, vị thế quốc gia biển trong đó huy động sự tham gia tích cực, sự phối hợp của các ngành, địa phương, doanh nghiệp và cộng đồng dân cư ven biển trong việc xây dựng, quảng bá thương hiệu biển, quảng bá Khu bảo tồn biển Lý Sơn, bảo đảm khai thác hiệu quả tài nguyên biển và tuyên truyền, phổ biến những cơ sở pháp lý, chứng cứ lịch sử và thực tiễn khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Phương thức tuyên truyền như tổ chức các buổi nói chuyện, mít tinh, sẽ tác động tích cực làm thay đổi ý thức của cộng đồng dân cư và những người làm công tác quản lý. Phương thức tuyên truyền phải phù hợp với đối tượng cần tuyên truyền: đối với công chức thì tổ chức tập huấn, lớp bồi dưỡng; cộng đồng dân cư tổ chức các lớp truyền thông, các buổi nói chuyện thông qua các đài, chiếu phim tư liệu ở các buổi họp tổ dân phố, khu dân cư. Bên cạnh các hình thức tuyên truyền đã làm trước đây, cần đa dạng hóa hình thức như đầu tư làm những bộ phim tư liệu hay tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về tiềm năng của biển, bảo vệ chủ quyền biển đảo, đối tượng tham gia các cuộc thi bao gồm công chức, cộng đồng dân cư ven biển; tuyên truyền thông qua việc tổ chức các lễ hội như Lễ Khao Lề thế lính Hoàng Sa... nhằm nâng cao nhận thức cho người dân trân trọng những giá trị từ biển, ý thức bảo vệ chủ quyền biển đảo. Các cấp, các ngành cần phải có sự phối hợp chặt chẽ trong công tác tuyên truyền đảm bảo hoạt động được đa dạng, bao quát hầu hết các nội dung. Bên cạnh đó, các hoạt động tuyên truyền cần tổ chức ở môi trường giáo dục sẽ tác động lớn đến nhận thức của học sinh, sinh viên, giáo viên như lồng ghép vào chương trình chính khóa ở các môn học như Địa lí, Giáo dục công dân giúp học sinh có cái nhìn toàn diện và hiểu biết về biển, đảo Việt Nam. Vì vậy, cần bổ sung các bài học về vị trí địa lí, tìm hiểu đặc điểm tự nhiên, nguồn tài nguyên, lịch sử phát triển lãnh thổ và truyền thống văn hóa, lịch sử của các vùng biển, 103 đảo thuộc chủ quyền Việt Nam; tổ chức nhiều hoạt động giáo dục ngoại khóa với nhiều hình thức khác nhau như: thi văn nghệ, thi vẽ tranh, thi viết, thi kể chuyện, hùng biện với chủ đề biển đảo, nhằm tạo sân chơi sôi nổi, hấp dẫn và lôi cuốn học sinh tham gia; in các ấn phẩm, xuất bản sách giới thiệu về biển đảo Việt Nam. 104 TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 Ở Chương này, từ các quan điểm, định hướng của Nhà nước, tác giả đã đưa ra các giải pháp quản lý nhà nước tổng hợp về biển, hải đảo ở tỉnh Quảng Ngãi. Mỗi giải pháp nêu ra ở chương này có vai trò khác nhau nhưng trong quá trình thực hiện quản lý nhà nước tổng hợp đòi hỏi phải kết hợp đồng bộ các giải pháp để phát huy tối đa sức mạnh và hiệu quả. Trong quá trình công tác tại Chi cục Biển và Hải đảo tỉnh Quảng Ngãi, tác giả cũng không ngừng hoàn thiện về mặt lý luận về quản lý thống nhất và tổng hợp về biển, hải đảo và vận dụng vào thực tiễn, góp phần giải quyết những hạn chế trong công tác quản lý nhà nước về biển, hải đảo ở tỉnh Quảng Ngãi. 105 KẾT LUẬN 1. Kết luận Quản lý nhà nước tổng hợp về biển, hải đảo được quan tâm trong những năm gần đây đặc biệt là sự ra đời của Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo đã thể hiện những quan điểm đổi mới về tư duy quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường biển. Quảng Ngãi đã xây dựng Chương trình hành động số 15-CTr/TU ngày 29/6/2007 của Tỉnh ủy thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa X về Chiến lược Biển Việt Nam đến năm 2020. Từ những nội dung lý luận khoa học được phân tích ở Chương 1, thực trạng những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân cơ bản ở Chương 2, kết hợp với các quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật về quản lý nhà nước tổng hợp về biển, hải đảo tại Chương 3. Đề tài “Quản lý nhà nước tổng hợp về biển, hải đảo tỉnh Quảng Ngãi” đã đề xuất những giải pháp có tính cơ bản, then chốt để giải quyết vấn đề thực tiễn đặt ra. Có thể khái quát những điểm nổi bật của các nhóm giải pháp như sau: Xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách về quản lý tổng hợp về biển và hải đảo; Kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước tổng hợp (từ tỉnh đến huyện, xã); Phát triển nhân lực quản lý nhà nước về biển và hải đảo; Đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị (vật lực); Hợp tác quốc tế về biển và hải đảo; ngoài ra còn có các nhiệm vụ mang tính cụ thể như: tăng cường áp dụng các công cụ quản lý nhà nước tổng hợp về biển, hải đảo; triển khai kế hoạch quản lý tổng hợp vùng bờ tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2020 để kết nối quản lý theo ngành và theo lãnh thổ. Trong mỗi giải pháp là những đề xuất cơ bản, có đề xuất là mang tính bổ sung mới, có đề xuất là mang tính cụ thể hóa và làm rõ các giải pháp, biện pháp giải quyết trong điều kiện thực tiễn ở Quảng Ngãi. Để thực hiện có hiệu quả các giải pháp trên, kiến nghị với tỉnh Quảng Ngãi, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Chính phủ một số vấn đề về kinh phí, luật pháp, tổ chức bộ máy, công cụ kỹ thuật, thanh tra, kiểm tra, giám sát. 106 2. Kiến nghị * Đối với tỉnh Quảng Ngãi - Tỉnh Quảng Ngãi cần tăng cường các hoạt động giao lưu hợp tác quốc tế trong hoạt động quản lý, khai thác tài nguyên và bảo vệ môi trường biển thông qua việc sử dụng ngân sách địa phương để cử cán bộ đào tạo tập huấn ngắn hạn, tham quan học hỏi kinh nghiệm ở một số quốc gia có trình độ quản lý biển tiên tiến. - Xây dựng cơ chế tài chính bền vững cho hoạt động quản lý tổng hợp vùng bờ của tỉnh. * Đối với Trung ương a) Kiến nghị Chính phủ - Hỗ trợ nguồn vốn Ngân sách Trung ương để đầu tư cơ sở vật chất và hạ tầng kỹ thuật như xây dựng các trạm radar quan trắc môi trường biển, đầu tư phương tiện hoạt động, cải tạo môi trường, biến đổi khí hậu. - Hỗ trợ vốn, cơ chế chính sách để thực hiện công tác bảo tồn biển, bảo vệ, duy trì, phát triển và sử dụng hợp lý các hệ sinh thái, tài nguyên thiên nhiên, môi trường, bảo tồn các giá trị văn hóa lịch sử, phục vụ phát triển bền vững tại huyện Lý Sơn và vùng ven biển tỉnh Quảng Ngãi. b) Kiến nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường - Hoàn thiện các luận cứ khoa học để phân định vùng ranh giới quản lý biển giữa các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có biển; phân định phạm vi quản lý biển giữa Trung ương với địa phương. - Ban hành Thông tư hướng dẫn kỹ thuật về chương trình quản lý tổng hợp vùng bờ cấp địa phương. - Xây dựng các quy định kỹ thuật về đánh giá vật, chất được phép nhận chìm cũng như xác định khu vực nhận chìm; tăng cường năng lực hệ thống quản lý; đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ; đào tạo nâng cao trình 107 độ cho đội ngũ cán bộ, chuyên gia các cấp tham gia vào việc cấp phép và quản lý hoạt động nhận chìm ở biển. - Kiến nghị Chính phủ điều chỉnh phạm vi thẩm quyền giao khu vực biển cho các tổ chức, cá nhân, khai thác sử dụng tài nguyên biển của UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có biển ra 6 hải lý (đến vùng biển ven bờ) thay vì 3 hải lý như hiện nay. - Tham mưu Chính phủ trình Quốc hội Quy hoạch, kế hoạch sử dụng biển Việt Nam; tổ chức lập Quy hoạch tổng thể khai thác sử dụng tài nguyên vùng bờ trình Chính phủ phê duyệt. - Thiết lập và công bố đường mép nước biển thấp nhất trung bình trong nhiều năm (18,6 năm) ở vùng ven biển và các đảo làm cơ sở cho địa phương tiến hành giao khu vực biển cho các tổ chức, cá nhân sử dụng tài nguyên biển và lập hồ sơ tài nguyên hải đảo. - Hỗ trợ Quảng Ngãi tham gia các dự án thuộc chương trình hợp tác quốc tế liên quan tới quản lý tổng hợp vùng bờ của PEMSEA, KOICA... DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (2007), Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 09 tháng 02 năm 2007 về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, Hà Nội. 2. Ban Tuyên giáo Trung ương và Quân chủng hải quân (2007), Biển và Hải đảo Việt Nam, Hà Nội. 3. Ban Tuyên giáo Trung ương (2014), 100 câu hỏi - đáp về biển, hải đảo, Nxb Thông tin và Truyền thông, Hà Nội. 4. Đỗ Hòa Bình (2005), Phân định biển theo Công ước của liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 và thực tiễn Việt Nam, Quảng Ninh. 5. Nguyễn Chu Hồi (2005), Cơ sở tài nguyên và môi trường biển, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội. 6. Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam (2012), Quản lý tổng hợp đới bờ kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn triển khai tại Việt Nam, Hà Nội. 7. TS. Nguyễn Lê Tuấn, Đặng Xuân Phương (2014), Quản lý nhà nước tổng hợp và thống nhất về biển, hải đảo, Nxb Chính trị Quốc gia-Sự thật, Hà Nội. 8. Học viện Hành chính Quốc gia (2006), Hành chính công, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội. 9. Học viện Hành chính Quốc gia (2006), Hoạch định và phân tích chính sách công, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 10. Học viện Hành chính Quốc gia (2009), Tài liệu bồi dưỡng về quản lý hành chính nhà nước (chương trình chuyên viên), Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội. 11. Học viện Hành chính Quốc gia, Viện nghiên cứu Khoa học Hành chính (2009), Thuật ngữ hành chính, Hà Nội. 12. Học viện Hành chính Quốc gia (2010), Lý luận hành chính nhà nước, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội. 13. Học viện Hành chính Quốc gia (2012), Quản lý học đại cương, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội. 14. Liên hợp quốc (1982) Công ước của Liên hợp quốc về Biển 1982, Jamaica. 15. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2012), Luật Biển Việt Nam, Hà Nội. 16. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2015), Luật tài nguyên, môi trường biển, hải đảo, Hà Nội. 17. Thủ tướng Chính phủ (2006), Quyết định số 47/QĐ-TTg ngày 01 tháng 3 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt “Đề án tổng thể về điều tra cơ bản và quản lý tài nguyên-môi trường biển đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020”, Hà Nội. 18. Thủ tướng Chính phủ (2013), Quyết định số 1570/QĐ-TTg ngày 06 tháng 9 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường biển đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, Hà Nội. 19. Thủ tướng Chính phủ (2014), Quyết định số 43/2014/ QĐ-TTg ngày 01 tháng 8 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, Hà Nội. 20. Thủ tướng Chính phủ (2014), Quyết định số 2295/QĐ-TTg ngày 17/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quản lý tổng hợp đới bờ Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, Hà Nội 21. Bùi Thị Lan Anh (2015), Quản lý nhà nước về biển, hải đảo ở Việt Nam, Luận văn thạc sỹ Quản lý công. 22. Lê Sơn Tùng (2014), Hoàn thiện tổ chức bộ máy và cơ cấu hoạt động của Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam, Luận văn thạc sỹ Quản lý công. 23. Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam (2012), Hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững tài nguyên và môi trường biển, hải đảo, Nxb Tài nguyên-Môi trường và Bản đồ Việt Nam, Hà Nội. 24. Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam (2012), Hướng dẫn thi hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững tài nguyên và môi trường biển, hải đảo, Nxb Tài nguyên-Môi trường và Bản đồ Việt Nam, Hà Nội. 25. Viện Chiến lược, chính sách tài nguyên và môi trường (2011), Khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường biển: thực trạng, những tồn tại và các gợi ý chiến lược cho giai đoạn sắp tới (Báo cáo phục vụ xây dựng chiến lược phát triển bền vững biển Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030), Hà Nội. 26. Tổng cục Thống kê tỉnh Quảng Ngãi (2015), Niên giám thống kê năm 2015, Quảng Ngãi. 27. UBND tỉnh Quảng Ngãi (2015), Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội 5 năm (2011-2015) và phương hướng phát triển 5 năm (2016-2020) tỉnh Quảng Ngãi, Quảng Ngãi. 28. UBND tỉnh Quảng Ngãi (2016), Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh năm 2015, kế hoạch phát triển năm 2016, Quảng Ngãi. 29. Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Ngãi (2013), Đặc điểm khí hậu - thủy văn tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2010, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng. 30. Sở Kế hoạch và Đầu tư Quảng Ngãi (2017), Đề án phát triển kinh tế biển, đảo tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2020, Quảng Ngãi. 31. Sở Tài nguyên và Môi trường Quảng Ngãi (2015), Hồ sơ vùng bờ tỉnh Quảng Ngãi, Quảng Ngãi. 32. Sở Tài nguyên và Môi trường Quảng Ngãi (2015), Tài liệu hội thảo truyền thông Quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo, Quảng Ngãi. 33. Sở Tài nguyên và Môi trường Quảng Ngãi (2012, 2013, 2014, 2015, 2016), Báo cáo kết quả công tác quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường, Quảng Ngãi. 34. Sở Tài nguyên và Môi trường Quảng Ngãi (2015), Báo cáo công tác tuyên truyền về quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững biển và hải đảo Việt Nam trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2010 – 2015, Quảng Ngãi.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfluan_van_quan_ly_nha_nuoc_tong_hop_ve_bien_va_hai_dao_tinh_q.pdf
Luận văn liên quan