Tiếp tục đa dạng hóa các hình thức PBPL, đảm bảo sự kết hợp hài hòa85
giữa hình thức PBPL truyền thống và những hình thức mới đang áp dụng
có hiệu quả trong thực tiễn, triển khai trên diện rộng những hình thức PBPL
đạt hiệu quả cao; lựa chọn nội dung phù hợp với từng đối tượng, địa bàn.
Tập trung tuyên truyền những văn bản pháp luật liên quan trực tiếp đến đời
sống của đồng bào DTTS.
Củng cố, kiện toàn, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ hoạt
động PBPL tại vùng đồng bào DTTS. Đặc biệt chú ý, ngoài việc bồi dưỡng
về nâng cao kỹ năng, nghiệp vụ cần đào tạo tiếng dân tộc và những phong
tục tập quán của địa phương trong PBPL. Tận dụng tối đa nguồn nhân lực
tại địa phương, phát huy vai trò của già làng, trưởng thôn, bản trong hoạt
động PBPL.
Kết hợp hoạt động PBPL gắn với giáo dục đạo đức, văn hóa truyền
thống tốt đẹp của người dân, rèn luyện ý thức tự giác tìm hiểu, chấp hành
pháp luật của người dân. Hoạt động PBPL phải được tiến hành đồng bộ
thường xuyên với việc đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo
đức, phong cách Hồ Chí Minh.
Phát huy tối đa vai trò, nâng cao ý thức trách nhiệm của Hội đồng
phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật vốn là nơi tập trung sức lực và trí
tuệ tập thể trong hoạt động này. Đặc biệt, ngành Tư pháp các cấp với tư
cách là cơ quan thường trực của Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo
dục pháp luật có trách nhiệm tham mưu cho chính quyền cấp mình chỉ đạo,
hướng dẫn, kiểm tra, theo dõi và tổng kết hoạt động PBPL tại địa phương.
Đảm bảo kinh phí từ ngân sách để thực hiện hoạt động PBPL. Xác
định rõ khoản ngân sách hàng năm cho hoạt động này theo hướng tăng thêm
để đáp ứng kịp thời về kinh phí, cơ sở vật chất, phương tiện phục vụ hoạt
động PBPL đặc biệt là những địa bàn xảy ra nhiều vi phạm pháp luật và
những vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn
104 trang |
Chia sẻ: yenxoi77 | Lượt xem: 607 | Lượt tải: 0
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Quản lý nhà nước về phổ biến pháp luật đối với đồng bào dân tộc thiểu số huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ế khách quan, các điều
kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội nêu trên cần phải được nghiên cứu đánh giá
đúng đắn những khó khăn và thuận lợi để từ đó tìm biện pháp khắc phục
trong khi tiến hành hoạt động quản lý nhà nước về PBPL .
Các yếu tố về điều kiện tự nhiên, cơ cấu xã hội, thành phần dân tộc,
những đặc điểm đó có những thuận lợi và khó khăn nhất định, vì thế cần có
sự nỗ lực khắc phục khó khăn vươn lên mọi mặt, đồng thời cần sự hỗ trợ
giúp đỡ, chỉ đạo, lãnh đạo của các cấp, các ngành để thực hiện tốt hoạt động
PBPL đối với đồng bào DTTS trên địa bàn huyện Di Linh.
Việc đánh giá thực trạng hoạt động PBPL đối với đồng bào DTTS trong
thời gian qua và trong giai đoạn hiện nay đòi hỏi phải hết sức khách quan
và chính xác từ đó để tìm ra những nguyên nhân tồn tại làm cơ sở cho việc
tìm ra phương hướng và giải pháp cơ bản để tăng cường hơn nữa hiệu lực,
hiệu quả hoạt động PBPL cho đối tượng đã nêu trên.
66
Chương 3
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ
NHÀ NƯỚC VỀ PHỔ BIẾN PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI ĐỒNG BÀO
DÂN TỘC THIỂU SỐ HUYỆN DI LINH,TỈNH LÂM ĐỒNG HIỆN NAY
3.1. Phương hướng tăng cường quản lý Nhà nước về phổ biến
pháp luật đối với đồng bào dân tộc thiểu số huyện Di Linh
Tiếp tục củng cố, nâng cao nhận thức và tăng cường sự lãnh đạo của
Đảng trong hoạt động PBPL nói chung, PBPL cho đồng bào DTTS nói
riêng. Phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của Hội đồng phối hợp công tác
phổ biến, giáo dục pháp luật và các thành viên của Hội đồng trong việc tham
mưu và tổ chức thực hiện kế hoạch phổ biến pháp luật cho đồng bào DTTS.
Bảo đảm mọi chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đều
được phổ biến kịp thời, đầy đủ đến đồng bào DTTS ở huyện Di Linh. Tạo
sự chuyển biến tích cực về nhận thức và ý thức tôn trọng, chấp hành pháp
luật của đồng bào DTTS góp phần thực hiện tốt các nhiệm vụ phát triển kinh
tế - xã hội ở địa phương.
Tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức hoạt động PBPL một cách đa
dạng, phong phú phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương, phù hợp với
nhận thức của người đồng bào DTTS.
Mở rộng và phát huy dân chủ, thực hiện nghiêm túc pháp lệnh dân
chủ ở xã, phường, thị trấn nhằm bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân nói
chung, người đồng bào DTTS nói riêng trong việc quản lý nhà nước, quản
lý xã hội.
Đầu tư kinh phí, cơ sở vật chất để góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả
hoạt động PBPL cho đồng bào DTTS ở huyện Di Linh
Để thực hiện tốt hoạt động PBPL cho đồng bào DTST trên địa bàn
huyện Di Linh trong thời gian tới, cần phấn đấu đạt các mục tiêu chủ yếu
67
sau:
- Phấn đấu từ 85- 90% người đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn
huyện được PBPL nói chung và các văn bản liên quan trực tiếp đến đời sống
thông qua nhiều hình thức PBPL phù hợp.
- Nâng cao ý thức chấp hành pháp luật đối với người đồng bào DTTS,
từ đó hình thành ý thức và hành vi tuân thủ theo pháp luật, hạn chế đến mức
thấp nhất vi phạm pháp luật, góp phần ổn định an ninh chính trị, trật tự an
toàn xã hội, thúc đẩy phát triển kinh tế.
- Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa và nâng cao hiệu lực, hiệu
quả quản lý nhà nước trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội, quốc phòng - an
ninh trên địa bàn huyện Di Linh.
3.2. Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về phổ biến pháp luật
đối với đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Di Linh hiện nay
Nhằm thực hiện tốt phương hướng tăng cường hoạt động PBPL cho
đồng bào DTTS trên địa bàn huyện Di Linh trong thời gian tới cần chú ý
một số giải pháp cơ bản sau đây:
3.2.1. Tăng cường vai trò lãnh đạo của tổ chức Đảng đối với quản
lý nhà nước về phổ biến pháp luật đối với đồng bào dân tộc thiểu số trên
địa bàn huyện
Tăng cường đối với quản lý nhà nước về phổ biến pháp luật đối với
đồng bào DTTS trên địa bàn huyện Di Linh là một yêu cầu quan trọng,
thường xuyên liên tục góp phần thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã
hội của địa phương.
Theo chúng ta thấy, để tăng cường vai trò lãnh đạo của tổ chức Đảng
đối với hoạt động quản lý nhà nước về PBPL đối với đồng bào DTTS trên
địa bàn huyện Di Linh cần thực hiện một số nội dung sau:
Tiếp tục thực hiện chỉ đạo của UBND tỉnh Lâm Đồng tại Kế hoạch số
68
1248/KH-UBND ngày 15/3/2013 triển khai Chương trình hành động Thực
hiện kết luận số 04-KL/TW ngày 19/4/2011 của ban Bí thư Trưng ương
Đảng (khóa XI) về kết quả thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09/12/2003
của Ban Bí thư Trung ương Đảng ( khóa IX) về tăng cường sự lãnh đạo của
đảng trong hoạt động PBPL, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán
bộ, Nhân dân năm 2013 đến 2016 trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng. Tăng cường
phổ biến Luật phổ biến giáo dục pháp luật ngày 20 tháng 6 năm 2012 tới
người đồng bào DTTS trên địa bàn huyện tạo chuyển biến căn bản về ý thức
tôn trọng, chấp hành pháp luật, hiện thực hoá quan điểm giáo dục pháp luật
là một bộ phận của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, là nhiệm vụ của
toàn bộ hệ thống chính trị đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng.
- Đảng Bộ cần có nghị quyết chuyên đề về hoạt động PBPL đối với
đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện, trên cơ sở đó để lãnh đạo
chính quyền và các đoàn thể thực hiện tốt nghị quyết của Đảng.
- Vai trò lãnh đạo của tổ chức Đảng còn được thể hiện thông qua sự
gương mẫu của các đảng viên trong việc chấp hành Hiến pháp và pháp luật.
Mọi hành động tuân thủ pháp luật của cán bộ, đảng viên là tấm gương sáng
cho đồng bào DTTS trên địa bàn học tập và làm theo.
- Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng còn phải tiến hành bằng công
tác kiểm tra, giám sát các cơ quan nhà nước, các tổ chức trong việc thực
hiện Hiến pháp và pháp luật. Đảng lãnh đạo, chỉ đạo Ủy ban nhân dân huyện
triển khai thực hiện các chương trình, kế hoạch phổ biến pháp luật phù hợp
với đặc điểm, tình hình và nhiệm vụ chính trị của địa phương trong thời
gian tới. Lãnh đạo việc xây dựng, hoàn thiện cơ chế phối hợp, nâng cao chất
lượng hoạt động phổ biến pháp luật, kiện toàn Hội đồng phối hợp công tác
phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong quá trình thực hiện, cần chú ý chương
trình PBPL cho đối tượng là người đồng bào DTTS trên địa bàn huyện.
69
3.3.2. Nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước của chính quyền địa
phương, phát huy vai trò của Mặt trận tổ quốc và các tổ chức thành viên
của Mặt trận với quản lý nhà nước về phổ biến pháp luật đối với đồng bào
dân tộc thiểu số
- Đối với chính quyền địa phương
Tăng cường việc cải cách thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận
lợi cho người đồng bào DTTS trên địa bàn huyện trong quá trình liên hệ
công việc, thực hiện nghiêm túc các văn bản chấn chỉnh thời gian làm việc,
thái độ, tác phong làm việc của cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà
nước, chấm dứt tình trạng nhũng nhiễu, gây phiền hà cho nhân dân nói
chung, người đồng bào DTTS nói riêng trong giải quyết công việc, thực
hiện nghiêm túc việc phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, tạo
niềm tin cho người đồng bào DTTS trên địa bàn huyện để từ đó kích thích
họ tự giác thực thi pháp luật.
Xây dựng kế hoạch PBPL đối với người đồng bào DTTS, việc xây
dựng kế hoạch PBPL phải gắn liền với việc phát triển kinh tế - xã hội của
địa phương, đảm bảo an sinh xã hội, giữ vững trật tự kỷ cương, tăng cường
pháp chế của nhà nước. Để đạt được mục đích đó, đòi hỏi chính quyền địa
phương phải có sự chuẩn bị một cách chu đáo khi xây dựng kế hoạch PBPL,
bao gồm cả về con người, nội dung, hình thức, kinh phí để thực hiện hoạt
động phổ biến pháp luật. Tức là phải có đội ngũ cán bộ hoạt động phổ biến
pháp luật có kiến thức, kinh nghiệm và nhiệt tình; Nội dung phổ biến pháp
luật phải sát thực; Hình thức phổ biến pháp luật phải phù hợp với đặc thù
của đối tượng và phải có kinh phí cho hoạt động PBPL.
Sau khi kế hoạch đã được phê duyệt, cần tiến hành tổ chức thực hiện
kế hoạch nhanh gọn. Trong quá trình thực hiện cần rút kinh nghiệm để điều
chỉnh kịp thời, bảo đảm tiến độ, thời gian, chất lượng của hoạt động quản lý
70
nhà nước về PBPL đối với đồng bào DTTS.
- Đối với Mặt trận tổ quốc và các tổ chức thành viên của Mặt trận
Mặt trận Tổ quốc phối hợp với các tổ chức thành viên của mình xây
dựng và thực hiện các chương trình, kế hoạch PBPL phù hợp với chức năng,
nhiệm vụ của mình, gắn PBPL với việc thực hiện các phong trào, các cuộc
vận động quần chúng do Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức
thành viên phát động. Tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động Toàn dân đoàn kết
xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư, gắn với các tiêu chí đánh giá, bình
xét gia đình văn hóa, thôn văn hóa.
Tăng cường tuyên truyền, vận động thực hiện pháp lệnh dân chủ ở
xã, phường, thị trấn, phát huy hiệu quả của dân chủ trực tiếp và dân chủ
đại diện. Thường xuyên nâng cao nhận thức, tăng cường phổ biến pháp luật
cho nhân dân nói chung, người đồng bào DTTS nói riêng, nâng cao tinh
thần đoàn kết giữa các dân tộc trong cộng đồng dân cư thông qua việc triển
khai đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước tới
người đồng bào DTTS.
Các tổ chức thành viên của Mặt trận phải tăng cường phối hợp với
Mặt trận tổ quốc Việt Nam, các ngành chức năng trong việc xây dựng các
chương trình, đề án, kế hoạch PBPL cho đoàn viên, hội viên trong chính
tổ chức của mình, đặc biệt là những đoàn viên, hội viên là người đồng bào
DTTS. Tích cực lồng ghép hoạt động PBPL cho đoàn viên, hội viên thông
qua việc tổ chức các hoạt động vui chơi giải trí, kích thích mọi thành viên
tự giác tìm hiểu và chấp hành pháp luật, từng bước nâng cao nhận thức và ý
thức chấp hành pháp luật, giữ vững an ninh trật tự trong toàn huyện.
3.3.3. Củng cố, kiện toàn đội ngũ cán bộ làm quản lý nhà nước về
phổ biến pháp luật đối với đồng bào dân tộc thiểu số
Để hoạt động phổ biến pháp luật cho đồng bào DTTS có hiệu quả
71
thiết thực nhất thì cần có những cán bộ hoạt động PBPL nhiệt tình, phẩm
chất đạo đức tốt, vững vàng về chính trị, có kiến thức pháp luật để bảo đảm
phổ biến, giáo dục chính xác về nội dung, rõ các yêu cầu của văn bản pháp
luật, mặt khác phải có phương pháp tổ chức, khả năng truyền đạt, có năng
khiếu thu hút sự chú ý của người nghe.
Vì vậy, việc củng cố, kiện toàn đội ngũ cán bộ hoạt động PBPL đối
với đồng bào dân tộc thiểu số cần chú trọng cả về số lượng, chất lượng, kỹ
năng PBPL
Theo chúng tôi, trong thời gian tới, Đảng và chính quyền địa phương
cần tổ chức nhiều hơn nữa các lớp bồi dưỡng lý luận chính trị, kiến thức
chuyên môn, nghiệp vụ PBPL cho đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên,
cán bộ hoạt động PBPL. Phải thường xuyên chú trọng công tác đào tạo, bồi
dưỡng chuyên môn cho đội ngũ cán bộ hoạt động PBPL.
- Đào tạo, bồi dưỡng tiếng dân tộc cho đội ngũ cán bộ làm công tác
quản lý nhà nước về phổ biến pháp luật huyện Di Linh
Người đồng bào DTTS, do trình độ tiếp thu kiến thức pháp luật còn
hạn chế, thậm chí có người không biết hoặc biết nhưng không nhiều tiếng
kinh, vì vậy đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về phổ biến, giáo
dục pháp luật cần phải biết tiếng của người đồng bào DTTS để có thể PBPL
bằng ngôn ngữ của họ nhằm giúp cho họ hiểu được những quy định của
pháp luật, đồng thời qua việc nghe đồng bào DTTS nói bằng ngôn ngữ của
họ để hiểu được những vấn đề mà người đồng bào DTTS đang nghĩ, đang
cần, đang quan tâm. Vì vậy, trong thời gian tới vấn đề đào tạo, bồi dưỡng
tiếng dân tộc cho đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về PBPL
phải được chú trọng.
Để thực hiện tốt việc đào tạo, bồi dưỡng tiếng dân tộc cho đội ngũ cán
bộ làm công tác quản lý nhà nước về PBPL thì cần phải:
72
+ Quán triệt cho đội ngũ cán bộ PBPL nhận thức đúng đắn mục đích
việc học, biết tiếng dân tộc để giao tiếp và sử dụng trong hoạt động PBPL.
Đây là yêu cầu cấp bách đối với đội ngũ cán bộ PBPL đang làm việc tại
vùng có nhiều đồng bào DTTS sinh sống.
+ Xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng tiếng dân tộc phù hợp yêu
cầu hoạt động của đội ngũ cán bộ PBPL. Tập trung bồi dưỡng trước cho
những cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về PBPL ở những xã có nhiều
đồng bào DTTS như xã Đinh Trang Thượng, xã Tân Thượng, xã Gung Ré
và xã Bảo Thuận.
3.3.4. Phát huy đội ngũ già làng, người có uy tín trong cộng đồng
các dân tộc thiểu số tham gia hoạt động phổ biến pháp luật tại địa phương
Già làng, trưởng bản, người có uy tín trong cộng đồng thường là
những người hiểu biết, có kinh nghiệm, có uy tín, am hiểu phong tục, luật
lệ nên được dân làng coi trọng, họ chính là cầu nối hiệu quả nhất trong hoạt
động PBPL và vận động đồng bào DTTS thực hiện chủ trương, đường lối
của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Chính vì vậy, cần phát huy một cách tối đa vai trò của già làng, trưởng
bản, người có uy tín trong cộng đồng các DTTS tham gia phổ biến pháp luật
nhằm đưa đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà
nước đến với đồng bào DTTS, vận động bà con phát triển kinh tế, xoá đói
giảm nghèo, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, kết hợp hài hoà giữa luật tục
và luật pháp, thực hiện tốt các hoạt động tự quản tại cơ sở, xây dựng qui
ước, hương ước trong từng cộng đồng dân cư.
Để phát huy vai trò của già làng, trưởng bản, người có uy tín trong
cộng đồng các DTTS chúng ta cần phải:
- Có kế hoạch xây dựng, bồi dưỡng kiến thức cho đội ngũ già làng,
trưởng bản, người có uy tín thông qua việc cung cấp thông tin về tình hình
73
thời sự chính trị, kinh tế - xã hội ở địa phương, về âm mưu, thủ đoạn hoạt
động của các thế lực thù địch và các phần tử xấu lợi dụng vấn đề dân tộc,
tôn giáo chống phá cách mạng để họ hiểu và tự giác tuyên truyền, giải thích
cho quần chúng.
- Định kỳ Mặt trận Tổ quốc tổ chức gặp mặt những người già làng,
trưởng bản, người có uy tín để thống nhất những nội dung tuyên truyền, vận
động đồng bào các dân tộc thực hiện tốt các chủ trương, đường lối chính
sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và nhiệm vụ của địa phương.
- Kịp thời thăm hỏi, động viên, tặng quà những người già làng, trưởng
bản, người có uy tín nhân ngày lễ tết, ốm đau, cứu trợ khi gặp khó khăn.
Khen thưởng, biểu dương những người già làng, trưởng bản, người có uy tín
trong cộng đồng trong việc tích cực tham gia hoạt động phổ biến pháp luật
cho đồng bào DTTS.
- Có chế độ chính sách phù hợp đối với những người già làng, trưởng
bản, người có uy tín khi tham gia hoạt động PBPL
Việc nhận rõ tầm quan trọng và phát huy vai trò của già làng, trưởng
bản, người có uy tín trong cộng đồng DTTS sẽ góp phần quan trọng vào
việc phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã
hội ở địa phương, phát huy truyền thống đoàn kết, yêu nước của đồng bào
các DTTS, thực hiện tốt chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta đã đề
ra.
3.3.5. Đổi mới hình thức, nội dung quản lý nhà nước về phổ biến
pháp luật đối với đồng bào dân tộc thiểu số huyện Di Linh
Hình thức phổ biến pháp luật giữ vai trò quan trọng đối với kết quả
chung của hoạt động phổ biến pháp luật. Nếu nội dung pháp luật phù hợp,
thiết thực, dễ hiểu nhưng hình thức tổ chức không phù hợp, không sát thực
với thực tiễn thì hiệu quả của hoạt động phổ biến pháp luật cũng không cao.
74
Do đó, đổi mới hình thức phổ biến pháp luật là giải pháp hết sức quan trọng
trong quá trình thực hiện mục tiêu phổ biến pháp luật.
Đối với người đồng bào DTTS thì cần phải đa dạng hóa các hình
thức phổ biến pháp luật, tăng cường phổ biến pháp luật thông qua hình thức
tuyên truyền miệng tới tận nhà văn hóa, nhà sinh hoạt cộng đồng tại cơ sở,
Trung tâm học tập cộng đồng để trao đổi, đối thoại, giải đáp những yêu cầu
từ phía người đồng bào DTTS nhằm nâng cao tính chủ động trong việc tiếp
nhận kiến thức pháp luật.
Để tác động nhanh, trực tiếp, khắc sâu nội dung phổ biến pháp luật
đối với người đồng bào DTTS thì cũng cần tăng cường PBPL thông qua
hình thức trực quan bởi trăm nghe không bằng một thấy, hình ảnh trực quan
sẽ có tác động rất tốt tới đối tượng được phổ biến pháp luật là người đồng
bào DTTS.
Trợ giúp pháp lý lưu động tới đồng bào DTTS trên địa bàn huyện,
mục đích của hoạt động này là nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người đồng
bào DTTS nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp
luật; góp phần bảo vệ pháp luật, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa,
hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật. Đây là một trong những hình thức
PBPL cho đồng bào DTTS có hiệu quả vì nó giúp cho người đồng bào DTTS
tiếp cận với các quy định của pháp luật liên quan đến cuộc sống hàng ngày.
Khi trợ giúp pháp lý lưu động người thực hiện trợ giúp pháp lý tiếp cận với
những câu hỏi sát thực với cuộc sống của người đồng bào DTTS và phạm
vi các câu hỏi có thể rất rộng chứ không phải tập trung vào một vấn đề hay
một sự việc cụ thể. Vì vậy, trong thời gian tới để hình thức trợ giúp pháp lý
lưu động có hiệu quả cao hơn thì cần xây dựng đội ngũ cán bộ và cộng tác
viên trợ giúp pháp lý đủ về số lượng và nâng cao về chất lượng, quan tâm
đầu tư trang thiết bị, phương tiện làm việc thiết yếu để các tổ chức trợ giúp
75
pháp lý có đủ năng lực đáp ứng yêu cầu trợ giúp pháp lý lưu động ngày một
tăng của đồng bào DTTS. Đặc biệt khi thực hiện hình thức trợ giúp pháp
lý lưu động cần có sự phối hợp của chính quyền địa phương. Các câu hỏi
liên quan đến các quy định chung thì người thực hiện trợ giúp pháp lý trả
lời trực tiếp; đối với các câu hỏi liên quan đến chế độ, chính sách, quy định
đã và đang triển khai tại địa phương thì do cán bộ, công chức đại diện của
chính quyền địa phương trả lời trực tiếp cho người đồng bào DTTS hiểu rõ.
Đối với nội dung phổ biến pháp luật: Phải lựa chọn những nội dung
sát, phù hợp gắn với đời sống thực tế của người đồng bào DTTS. Cụ thể,
phổ biến sâu rộng về đường lối chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng,
pháp luật của Nhà nước, Chỉ thị, Nghị quyết, các chủ trương của địa phương
về phát triển kinh tế - xã hội; các quy định pháp luật gắn trực tiếp với cuộc
sống của đồng bào DTTS như quy định pháp luật về đất đai, bảo vệ phát
triển rừng, bảo vệ môi trường, khiếu nại, tố cáo, an toàn giao thông, hôn
nhân và gia đình, bình đẳng giới, pháp lệnh dân chủ ở cơ sở cho đồng bào
DTTS.
Đa dạng hóa các tài liệu phổ biến pháp luật, chú trọng tài liệu song
ngữ dành cho đồng bào DTTS. Lồng ghép nội dung pháp luật về sinh hoạt
văn hóa, văn nghệ, lễ hội truyền thống của các dân tộc.
3.3.6. Củng cố và xây dựng các tổ hòa giải ở cơ sở, phát huy vai trò
của hoạt động hòa giải ở cơ sở trong việc quản lý nhà nước về phổ biến
pháp luật đối với đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Di Linh
Hoạt động PBPL thông qua hoạt động hoà giải ở cơ sở là việc các hòa
giải viên bằng hoạt động hoà giải của mình cung cấp các kiến thức pháp
luật, bồi dưỡng tình cảm pháp luật cho các bên tranh chấp và những người
khác trong cộng đồng dân cư nhằm mục đích hình thành ở họ sự hiểu biết
pháp luật, ý thức tôn trọng pháp luật và thói quen hành động theo pháp luật.
76
Vì vậy, các hòa giải viên của tổ hòa giải phải là người am hiểu pháp luật, có
phương pháp thực hiện hợp lý và có những giải pháp phù hợp, kịp thời để
việc hoà giải đạt được mục đích đồng thời qua việc hoà giải, các bên hiểu
được quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
Muốn vậy, trong thời gian tới cần phải chú trọng các nội dung sau:
- Thường xuyên bồi dưỡng kiến thức pháp luật, kỹ năng cho đội ngũ
hòa giải viên ở cơ sở. Đây là nhiệm vụ quan trọng, phải được thực hiện
thường xuyên để nâng cao nhận thức cho các Hòa giải viên về đường lối,
chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong từng lĩnh
vực của đời sống xã hội và nâng cao kỹ năng, nghiệp vụ hòa giải, vì thế
hàng năm, tư pháp các cấp cần có kế hoạch tổ chức các lớp tập huấn, bồi
dưỡng kiến thức và kỹ năng cho đội ngũ Hòa giải viên. Việc tổ chức bồi
dưỡng kiến thức pháp luật, kỹ năng hòa giải có thể tổ chức định kỳ hoặc tổ
chức theo chuyên đề để cập nhập kịp thời những văn bản pháp luật mới vừa
được thông qua, các văn bản pháp luật này liên quan chặt chẽ đến đời sống
nhân dân địa phương. Nội dung tập huấn, bồi dưỡng nên xây dựng phù hợp
với đặc thù công tác hoà giải ở địa phương. Có thể tập huấn về kỹ năng,
nghiệp vụ hoà giải và phổ biến pháp luật thông qua hoạt động hoà giải ở cơ
sở hoặc giới thiệu các quy định của pháp luật liên quan trực tiếp đến hoạt
động hoà giải ở cơ sở.
- Cung cấp tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ, tài liệu pháp luật cho đội
ngũ hòa giải viên ở cơ sở. Việc cung cấp thông tin, tài liệu pháp luật là một
trong những nhiệm vụ quan trọng nhằm tăng cường hiệu quả của hoạt động
phổ biến pháp luật thông qua hoạt động hoà giải ở cơ sở. Tài liệu nghiệp vụ,
tài liệu pháp luật có thể gồm các đề cương tuyên truyền phổ biến pháp luật;
Sổ tay nghiệp vụ hoà giải; báo chí về pháp luật; Sách hỏi - đáp pháp luật
phổ thông; tờ rơi, tờ gấp và các tài liệu cần thiết khác. Vì vậy, các cơ quan
77
tư pháp ở địa phương cần có kế hoạch và biện pháp cụ thể để cung cấp đầy
đủ các tài liệu pháp luật liên quan đến hoạt động hoà giải ở cơ sở cho các
hòa giải viên. Cần đẩy mạnh công tác xây dựng, quản lý tủ sách pháp luật
để có nguồn văn bản cho các Hoà giải viên.
- Thường xuyên tổ chức sơ kết, tổng kết về hoạt động hòa giải ở cơ
sở. Đây là công việc cần thiết phải làm thường xuyên, một mặt theo dõi tổng
hợp, đánh giá về tổ chức và hoạt động của tổ hòa giải, của đội ngũ Hòa giải
viên. Mặt khác, đây còn là diễn đàn để các Hoà giải viên có thể trao đổi kinh
nghiệm, học tập lẫn nhau, giúp nhau tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc
trong thực tiễn công tác hoà giải. Đồng thời, qua việc sơ kết, tổng kết về
hoạt động hòa giải ở cơ sở giúp chính quyền địa phương có điều kiện hiểu
rõ những thuận lợi, khó khăn, kết quả cũng như kiến nghị về công tác hòa
giải nói riêng và hoạt động phổ biến pháp luật nói chung.
- Quan tâm hơn nữa đến chế độ đãi ngộ đối với hòa giải viên. Để nâng
cao vai trò và hiệu quả của công tác hòa giải ở cơ sở trong tình hình hiện
nay, chính quyền địa phương phải dành khoản kinh phí nhất định để chi thù
lao cho Hòa giải viên, động viên, biểu dương, khen thưởng kịp thời đối với
những hòa giải viên cơ sở có thành tích xuất sắc trong việc thực hiện nhiệm
vụ của mình.
- Đồng thời trong việc PBPL cho đồng bào DTTS thông qua hòa giải
ở cơ sở thì cần phải chú trọng xây dựng những hòa giải viên của tổ hòa giải
là người DTTS, họ am hiểu phong tục tập quán, tiếng nói nên dễ thuyết phục
các bên trong việc giải quyết những mâu thuẫn, tranh chấp giữa các bên.
- Tổ hoà giải cũng cần làm tốt khâu tham mưu để cơ quan chức năng
quan tâm chỉ đạo, giải quyết dứt điểm những đơn thư khiếu nại, tố cáo, tạo
niềm tin trong nhân dân nói chung, người đồng bào DTTS nói riêng, góp
phần thắng lợi trong việc thực hiện nhiệm vụ PBPL cho người đồng bào
78
DTTS trên địa bàn huyện.
3.3.7. Bảo đảm kinh phí cho hoạt động quản lý nhà nước về phổ
biến pháp luật đối với đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Di
Linh
Nguồn kinh phí đã được quy định trong nhiều văn bản của Đảng và
Nhà nước, cụ thể: Chỉ thị số 32-CT/TW của Ban Bí thư đã nêu rõ “cần bố trí
một khoản ngân sách cần thiết cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật”.
Luật phổ biến, giáo dục pháp luật quy định kinh phí phổ biến, giáo dục pháp
luật của các cơ quan, tổ chức thụ hưởng ngân sách do ngân sách nhà nước
bảo đảm và huy động từ các nguồn hợp pháp khác. Ngân sách trung ương
hỗ trợ kinh phí phổ biến pháp luật cho các địa phương chưa tự cân đối được
ngân sách. Thông tư số 73/2010/TTLT-BTC-BTP ngày 14 tháng 5 năm 2010
quy định rõ về việc lập, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí bảo đảm
cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Ngoài ra, theo quyết định số 60/
QĐ-UBDT ngày 22 tháng 2 năm 2013 ban hành chương trình phổ biến, giáo
dục pháp luật của Ủy ban Dân tộc từ năm 2013 - 2016 quy định hằng năm
Ủy ban Dân tộc có trách nhiệm bố trí ngân sách bảo đảm cho hoạt động phổ
biến pháp luật cho đối tượng là người đồng bào dân tộc thiểu số theo chức
năng nhiệm vụ được giao.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy, kinh phí hoạt động cho hoạt động này đã
được quan tâm nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu. Vì thế, trong thời
gian tới, các cấp có thẩm quyền cần quan tâm về vấn đề kinh phí cho hoạt
động này, phải kết hợp được nguồn kinh phí nhà nước cấp hàng năm với các
nguồn kinh phí từ các chương trình khác như Chương trình quốc gia phòng
chống tội phạm, chương trình phòng chống ma túy, HIV/AIDS, an toàn giao
thông và các nguồn kinh phí khác.
Khi kinh phí chi cho hoạt động PBPL đảm bảo, phù hợp thì chúng
79
ta có thể có kinh phí để chi cho hoạt động của Hội đồng phối hợp công tác
phổ biến, giáo dục pháp luật; chi thực hiện công tác thông tin, truyền thông
nhằm PBPL trên các phương tiện thông tin đại chúng; chi biên soạn, biên
dịch tài liệu sang tiếng dân tộc thiểu số; chi thực hiện việc PBPL lưu động;
chi xây dựng, quản lý tủ sách pháp luật; chi tổ chức các cuộc thi tìm hiểu
pháp luật; chi thù lao cho đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên, công tác
viên tham gia thực hiện PBPL; chi cho công tác hòa giải ở cơ sở; chi mua
trang thiết bị, tài sản phục vụ công tác PBPL nhằm nâng cao chất lượng
và hiệu quả của hoạt động PBPL cho đồng bào DTTS trên địa bàn huyện.
3.3.8. Phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh
thần, nâng cao dân trí cho đồng bào dân tộc thiểu số để họ có điều kiện
tiếp xúc với pháp luật
Sự phát triển kinh tế - xã hội có một vai trò rất quan trọng nhằm nâng
cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân nói chung, người đồng bào
DTTS nói riêng. Đặc biệt, kinh tế - xã hội phát triển giúp cho nhân dân nói
chung, người đồng bào DTTS nói riêng nâng cao dân trí, có điều kiện tìm
hiểu, tiếp xúc với pháp luật.
Vì thế, trong thời gian tới chính quyền địa phương cần tập trung
nghiên cứu đầu tư giải quyết những vấn đề cấp bách tại cơ sở, từ việc tiếp
tục phát động mạnh mẽ phong trào giúp nhau làm kinh tế, xóa đói giảm
nghèo, tranh thủ các nguồn vốn, đẩy mạnh những mô hình kinh tế hợp tác
sản xuất kinh doanh, công tác khuyến nông, khuyến lâm. Vận động thực
hiện có hiệu quả việc đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn mới đường
làng, ngõ xóm
3.3.9. Thường xuyên kiểm tra, sơ kết, tổng kết hoạt động quản lý
nhà nước về phổ biến pháp luật đối với đồng bào dân tộc thiểu số trên địa
bàn huyện Di Linh
80
Để hoạt động PBPL cho đồng bào DTTS có hiệu quả thì cần thường
xuyên kiểm tra, sơ kết, tổng kết công tác này.
Căn cứ vào kế hoạch, chương trình hoạt động của công tác này tại
các cơ quan giữ vai trò là đầu mối trong hoạt động PBPL nói chung, PBPL
cho đồng bào DTTS nói riêng (Sở Tư pháp, Phòng tư pháp huyện Di Linh,
Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật) sẽ kiểm tra tiến độ thực
hiện công việc trong phạm vi quản lý của mình, từ đó có thể bước đầu đánh
giá mức độ thực hiện kế hoạch PBPL cho đồng bào DTTS. Đồng thời, qua
kiểm tra để rút ra kinh nghiệm cần thiết giúp cho công tác phổ biến pháp
luật ngày càng tốt hơn.
Để việc kiểm tra đạt hiệu quả, cần phải tiến hành theo đúng các bước
sau:
- Ban hành kế hoạch kiểm tra đối với hoạt động PBPL nói chung,
PBPL cho đồng bào DTTS nói riêng. Kế hoạch kiểm tra phải xác định rõ
được mục đích, yêu cầu, đối tượng, thời gian, cách thức, thành phần và các
điều kiện bảo đảm khác cho công tác kiểm tra;
- Họp đoàn kiểm tra để phổ biến kế hoạch kiểm tra và phân công
nhiệm vụ cụ thể cho từng cá nhân của đoàn kiểm tra;
- Tiến hành kiểm tra. Đoàn kiểm tra nghe báo cáo về hoạt động phổ
biến pháp luật đồng thời phải kiểm tra thực tiễn của hoạt động này;
- Đoàn kiểm tra xây dựng báo cáo và kết luận kiểm tra.
Cùng với việc kiểm tra theo chương trình, kế hoạch thì phải theo từng
đợt sơ kết, tổng kết hoạt động PBPL nhằm đánh giá thực trạng tình hình
PBPL nói chung, PBPL đối với đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng, tìm ra
những mô hình tốt, qua đó kịp thời phát hiện những tồn tại, khuyết điểm
và tìm ra nguyên nhân của nó từ đó có biện pháp thích hợp. Đồng thời, để
động viên, khích lệ, biểu dương những chủ thể phổ biến pháp luật đạt thành
81
tích cao trong hoạt động PBPL có thể kết hợp việc sơ kết, tổng kết với khen
thưởng tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc. Nhiệm vụ PBPL là nhiệm vụ
của cả hệ thống chính trị nên việc tiến hành sơ kết, tổng kết công tác này
trên địa bàn huyện cần có sự phối hợp của các cơ quan, tổ chức hữu quan
với sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng.
Tiểu kết Chương 3
Trong chương này là một số giải pháp cơ bản được hình thành dựa
trên cơ sở đường lối, chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà
nước về hoạt động PBPL cho nhân dân nói chung và đồng bào DTTS nói
riêng trong thời gian sắp tới. Bên cạnh những chủ trương, chính sách, pháp
luật; những định hướng chung của Đảng, Nhà nước, của Tỉnh ủy và các cấp
chính quyền địa phương, những giải pháp trong luận văn này được rút ra
dựa trên cơ sở phương hướng, nhiệm vụ và hoạt động PBPL đối với đồng
bào DTTS trong thời gian sắp tới. Những giải pháp được rút ra từ những
tồn tại hạn chế trong hoạt động quản lý nhà nước về PBPL đối với đồng bào
DTTS. Những giải pháp đã nêu nhằm mục đích cuối cùng là nâng cao hiệu
lực, hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước về PBPL đối với đồng bào dân
tộc thiểu số, đồng thời giúp tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, Mặt trận
Tổ quốc và các tổ chức thành viên của Mặt trận đối với hoạt động PBPL;
củng cố kiện toàn đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về PBPL;
phát huy đội ngũ những già làng, trưởng ban, người có uy tín trong cộng
đồng các DTTS tham gia PBPL; đổi mới hình thức, nội dung quản lý nhà
nước về PBPL; củng cố và xây dựng các tổ hòa giải ở cơ sở, phát huy vai
trò của hoạt động hòa giải ở cơ sở trong việc quản lý nhà nước về PBPL đối
với đồng bào DTTS trên địa bàn huyện Di Linh; bảo đảm kinh phí cho hoạt
động quản lý nhà nước về PBPL đối đồng bào DTTS trên địa bàn huyện
Di Linh; phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần,
82
nâng cao dân trí cho đồng bào DTTS để họ có điều kiện tiếp xúc với pháp
luật; thường xuyên kiểm tra, sơ kết, tổng kết hoạt động quản lý nhà nước về
PBPL đối với đồng bào DTTS trên địa bàn huyện Di Linh.
83
KẾT LUẬN
Như vậy, dù dưới góc độ lý luận hay thực tiễn như đã đề cập ở chương
1 và chương 2 của đề tài, một lần nữa cho chúng ta thấy được tầm quan
trọng của quản lý nhà nước về PBPL đối với nhân dân nói chung và đồng
bào dân tộc thiểu số nói riêng. Đặc biệt là trong sự nghiệp đổi mới đất nước
với chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN. Đảng
Cộng sản Việt Nam đã luôn luôn coi trọng hoạt động PBPL cho nhân dân,
đây là một nhiệm vụ chính trị cực kỳ quan trọng nhằm không ngừng nâng
cao ý thức pháp luật cho nhân dân. Hoạt động PBPL góp phần to lớn trước
hết vào việc hình thành nhân cách, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi
dưỡng nhân tài cho sự nghiệp xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh. Cùng với giáo dục đạo đức, PBPL góp phần giúp con người đánh giá
đúng các hiện tượng xã hội, hiện tượng pháp lý, tạo điều kiện cho cá nhân
phát triển toàn diện trong xã hội hiện đại. Vì vậy, bên cạnh việc xây dựng
chiến lược phát triển hệ thống pháp luật, chúng ta cũng cần triển khai chiến
lược xây dựng ý thức pháp luật và nền văn hóa pháp lý. Xây dựng ý thức và
lối sống tuân theo pháp luật cho nhân dân, trong đó phải đặc biệt quan tâm
tới các đối tượng là đồng bào dân tộc thiểu số.
Quản lý nhà nước về PBPL vừa mang tính cấp bách nhưng cũng là
sự nghiệp lâu dài của Đảng và Nhà nước ta. Sự nghiệp này cũng có những
thuận lợi và khó khăn nhất định. Chúng ta có thuận lợi là Nhà nước ta là
nhà nước dân chủ của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, tất cả chức năng,
nhiệm vụ mà Nhà nước thực hiện dưới sự lãnh đạo của Đảng là vì lợi ích
của nhân dân, do vậy đa số nhân dân tin tưởng và làm theo đường lối, chủ
trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Góp phần xây dựng
thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và xây dựng nhà nước
pháp quyền XHCN .
Tuy nhiên, nước ta đi lên XHCN từ nền kinh tế nông nghiệp với
84
điểm xuất phát thấp, sự phát triển kinh tế không đồng đều. Trình độ dân trí
của nhân dân các DTTS cũng có sự chênh lệch rất lớn, trong khi người dân
thành thị được tiếp cận với nền giáo dục hiện đại cũng như các tiến bộ khoa
học kỹ thuật tiên tiến thì ở nhiều vùng DTTS còn phải tăng cường công tác
phổ cập tiểu học cho người dân. Bên cạnh đó, ý thức pháp luật của người
dân chưa thực sự tự giác, việc tìm hiểu nghiên cứu pháp luật của người dân
thực hiện một cách bị động, nghĩa là khi nào quyền lợi bị xâm phạm mới
tìm đến cơ quan pháp luật hoặc các dịch vụ pháp lý để tìm được sự bảo vệ
hợp pháp; còn một số phần tử phản cách mạng âm mưu chống phá sự nghiệp
của Đảng và Nhà nước ta, một số ít do bị dụ dỗ, ép buộc và xúi giục mà tập
hợp lực lượng nhằm lật đổ chính quyền trong đó có đối tượng người dân tộc
thiểu số Đó là những điểm chúng ta cần lưu ý khi xây dựng chiến lược
PBPL cho các đối tượng khác nhau. Đối với hoạt động PBPL đối với đồng
bào DTTS ở nước ta nói chung và ở huyện Di Linh nói riêng trong thời gian
tới cần phát huy những kết quả đã đạt được, từ những bài học kinh nghiệm
của 5 năm qua để xây dựng kế hoạch cụ thể, sát thực với thực tiễn của từng
địa phương để mang lại hiệu quả cao nhất. Để thực hiện tốt hoạt động PBPL
đối với đồng bào DTTS cần nhấn mạnh những đề xuất nhằm thực hiện tốt
hoạt động PBPL cho đồng bào DTTS trong những năm tiếp theo như sau:
Nhất quán quan điểm chỉ đạo của Đảng và pháp luật của Nhà nước
trong việc tiếp tục tăng cường quản lý nhà nước về PBPL đối với đồng bào
DTTS. Đề nghị các cấp, các ngành phải nghiên cứu triển khai hoạt động
PBPL nghiêm túc và có hiệu quả nhằm nâng cao văn hóa pháp lý, đưa pháp
luật đi vào cuộc sống của người dân, đáp ứng yêu cầu quản lý đất nước bằng
pháp luật, tăng cường pháp chế, góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền
XHCN Việt Nam.
Tiếp tục đa dạng hóa các hình thức PBPL, đảm bảo sự kết hợp hài hòa
85
giữa hình thức PBPL truyền thống và những hình thức mới đang áp dụng
có hiệu quả trong thực tiễn, triển khai trên diện rộng những hình thức PBPL
đạt hiệu quả cao; lựa chọn nội dung phù hợp với từng đối tượng, địa bàn.
Tập trung tuyên truyền những văn bản pháp luật liên quan trực tiếp đến đời
sống của đồng bào DTTS.
Củng cố, kiện toàn, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ hoạt
động PBPL tại vùng đồng bào DTTS. Đặc biệt chú ý, ngoài việc bồi dưỡng
về nâng cao kỹ năng, nghiệp vụ cần đào tạo tiếng dân tộc và những phong
tục tập quán của địa phương trong PBPL. Tận dụng tối đa nguồn nhân lực
tại địa phương, phát huy vai trò của già làng, trưởng thôn, bản trong hoạt
động PBPL.
Kết hợp hoạt động PBPL gắn với giáo dục đạo đức, văn hóa truyền
thống tốt đẹp của người dân, rèn luyện ý thức tự giác tìm hiểu, chấp hành
pháp luật của người dân. Hoạt động PBPL phải được tiến hành đồng bộ
thường xuyên với việc đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo
đức, phong cách Hồ Chí Minh.
Phát huy tối đa vai trò, nâng cao ý thức trách nhiệm của Hội đồng
phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật vốn là nơi tập trung sức lực và trí
tuệ tập thể trong hoạt động này. Đặc biệt, ngành Tư pháp các cấp với tư
cách là cơ quan thường trực của Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo
dục pháp luật có trách nhiệm tham mưu cho chính quyền cấp mình chỉ đạo,
hướng dẫn, kiểm tra, theo dõi và tổng kết hoạt động PBPL tại địa phương.
Đảm bảo kinh phí từ ngân sách để thực hiện hoạt động PBPL. Xác
định rõ khoản ngân sách hàng năm cho hoạt động này theo hướng tăng thêm
để đáp ứng kịp thời về kinh phí, cơ sở vật chất, phương tiện phục vụ hoạt
động PBPL đặc biệt là những địa bàn xảy ra nhiều vi phạm pháp luật và
những vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn.
86
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lê Duy An (2013), Đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp
nâng cao công tác tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật trong đồng
bào dân tộc thiểu số tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2010 - 2020, Đề tài cấp tỉnh,
Trường Cao đẳng sư phạm Đà Lạt, Lâm Đồng.
2. Chế Vũ Chí An (2015), Quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục
pháp luật trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuộc, tỉnh Đắk Lắk, Luận văn
thạc sỹ Quản lý công, Học viện Hành chính quốc gia, Hà Nội.
3. Trần Tuấn Anh (2015), Quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục
pháp luật cho cán bộ, công chức cấp huyện là người dân tộc thiểu số ở tỉnh
Đắk Lắk, Luận văn thạc sỹ Quản lý công, Học viện Hành chính quốc gia,
Hà Nội.
4. Nguyễn Văn Bảo (2010), Từ và ngữ Hán Việt, Nxb. Văn học, Hà
Nội.
5. Bộ Tài chính - Bộ Tư pháp (2010), Quy định rõ về việc lập, quản
lý, sử dụng và quyết toán kinh phí bảo đảm cho công tác phổ biến, giáo dục
pháp luật, Thông tư số 73/2010/TTLT-BTC-BTP, Hà Nội.
6. Bộ Tư pháp (2008), Nghiệp vụ phổ biến, giáo dục pháp luật, Hà
Nội.
7. Bộ Tư pháp (2010), Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng
Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật, Đề tài cấp Bộ, Hà Nội.
8. Bộ Tư pháp (2011), Báo cáo đánh giá tác động của dự thảo Luật
Phổ biến, giáo dục pháp luật, Hà Nội.
9. Bộ Tư pháp (2012), Đặc san tuyên truyền pháp luật, chuyên đề
Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật, Hà Nội.
10. Bộ Tư pháp (2012), Tìm hiểu Luật phổ biến, giáo dục pháp luật,
Luật giám định tư pháp và Luật xử lý vi phạm hành chính, Hà Nội.
11. Chính phủ (2011), Về công tác dân tộc, Nghị định số 05/2011/
87
NĐ-CP, Hà Nội.
12. C. Mác và Ph. Ăngghen (1993), Toàn tập, tập 23, Nxb. Chính trị
Quốc gia, Hà Nội.
13. Đảng cộng sản Việt Nam (2003), Về tăng cường sự lãnh đạo của
Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp
hành pháp luật cho cán bộ, nhân dân, Chỉ thị số 32-CT/TW, Hà nội.
14. Lê Thị Thu Giang (2010), Hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật
trên địa bàn quận Đống Đa, thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay, Đề
tài khoa học cấp cơ sở, Hà Nội
15. Học Viện Hành chính (2010), Giáo trình Lý luận hành chính nhà
nước, Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội.
16. Lê Thiên Hương (2013), Phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng,
chống tham nhũng cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng ở Việt Nam
hiện nay, Đề tài khoa học cấp cơ sở, Học viện Hành chính Quốc gia, Hà
Nội.
17. Hạt kiểm lâm và ban quản lý rừng Tân Thượng (2015), Báo cáo
tình hình vi phạm luật bảo vệ rừng và phát triển rừng từ năm 2012-2015.
18. Hội đồng phối hợp phổ biến giáo dục pháp luật huyện Di Linh
(2016), Báo cáo tổng kết 5 năm Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật
2012 - 2016.
19. Nguyễn Văn Khoa (2014), Quản lý nhà nước về phổ biến, giáo
dục pháp luật trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng, Luận văn thạc sỹ Quản lý công,
Học viện Hành chính quốc gia, Hà Nội.
20. Đỗ Hồng Kỳ (2009), Phổ biến, giáo dục pháp luật của xã, phường
trên địa bàn thành phố Thanh Hóa, Đề tài khoa học cấp tỉnh, Thanh Hóa.
21. Châu Ngọc Lương (2014), Quản lý nhà nước về giáo dục pháp
luật cho thanh thiếu niên trên địa bàn tỉnh Đắk Nông, Luận văn thạc sỹ
88
Quản lý công, Học viện Hành chính quốc gia, Hà Nội.
22. Quốc hội (2012), Luật phổ biến, giáo dục pháp luật, Hà Nội.
23. Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn (2008), Sổ tay nghiệp vụ phổ biến, giáo
dục pháp luật, Lạng Sơn.
24. Sở Tư pháp tỉnh Tiền Giang (2008), Cơ chế phối hợp giữa cơ
quan tư pháp và các cơ quan, tổ chức của hệ thống chính trị ở xã, phường,
thị trấn trong việc phổ biến, giáo dục pháp luật cho nhân dân ở cơ sở, Đề
tài khoa học cấp tỉnh.
25. Sở Tư pháp Bình Định (2008), Nghiên cứu tình trạng nhận thức
của cán bộ đồng bào dân tộc thiểu số ở Bình Định và giải pháp nâng cao
công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho nhân dân, Đề tài khoa học cấp
tỉnh.
26. Sở Văn Hóa tỉnh Lâm Đồng (2015), Vấn đề dân tộc ở Lâm Đồng,
Lâm Đồng.
27. Nguyễn Quốc Sửu (2011), Giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán
bộ, công chức hành chính trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội.
28. Nguyễn Quốc Sửu (2014), “Kinh nghiệm từ thực tiễn công tác
phổ biến, giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức hành chính tỉnh
Đắk Lắk”, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 223 (8/2014).
29. Thủ tướng Chính phủ (2008), Phê duyệt Chương trình phổ biến,
giáo dục pháp luật từ năm 2008 đến năm 2012, Quyết định số 37/2008/QĐ-
TTg , Hà Nội.
30. Thủ tướng Chính phủ (2012), Ban hành Chương trình hành động
thực hiện Kết luận số 04-KL/TW ngày 19 tháng 4 năm 2011 của Ban Bí thư
Trung ương Đảng (khóa XI) về kết quả thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW ngày
09-12-2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa IX) về tăng cường sự
89
lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý
thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân từ năm 2012 đến năm 2016,
Quyết định số 409/QĐ-TTg, Hà Nội.
31. Trường Đại học Luật Hà Nội (2004), Giáo trình Lý luận nhà nước
và pháp luật, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội.
32. Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Quảng Nam (2008), Kinh nghiệm
tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua trợ giúp pháp lý cho nhân
dân ở cơ sở tại Quảng Nam, Đề tài khoa học cấp tỉnh.
33. Nguyễn Thu Thủy (2006), “Chất lượng giáo dục pháp luật và các
tiêu chí đánh giá”, Tạp chí Luật học, số 5(72)/2006.
34. Nguyễn Thị Thu Thủy (2011), Giáo dục pháp luật ở đô thị qua
thực tiễn thành phố Hải Dương, Đề tài cấp tỉnh, Hải Dương.
35. Hồ Việt Tiệp (2000), “Xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục
pháp luật trong tình hình mới”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 9/2000.
36. Nguyễn Thị Tĩnh (2013), “Giáo dục pháp luật trong hoạt động thu
thập chứng cứ tại tòa án”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 4/2013, Hà Nội.
37. Bùi Thị Diễm Trang (2010), Hoạt động phổ biến giáo dục pháp
luật đối với đoàn viên, thanh niên trên địa bàn thành phố Hà Nội trong tiến
trình hội nhập phát triển của đất nước, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa
Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội.
38. Trần Văn Trầm (2002), Giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức
trên địa bàn tỉnh Bình Định - thực trạng và giải pháp, Luận văn Thạc sĩ
Luật học, Hà Nội.
39. UBND tỉnh Lâm Đồng (2013), Báo cáo tổng kết công tác phổ
biến, giáo dục pháp luật năm 2013.
40. UBND tỉnh Lâm Đồng (2015), Báo cáo về việc thực hiện chính
sách, pháp luật trong đào tạo và sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức, viên
90
chức người dân tộc, thiểu số trên địa bàn tỉnh năm 2014.
41. UBND huyện Di Linh (2013), Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội
năm 2013.
42. UBND huyện Di Linh (2015), Báo cáo tình hình vi phạm về trật
tự an toàn xã hội từ năm 2012 - 2015.
43. UBND huyện Di Linh (2016), Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội
năm 2012 - 2016.
44. UBND huyện Di Linh (2016), Báo cáo sơ kết 3 năm thực hiện
Luật Phố biến, giáo dục pháp luật và Tổng kết thực hiện Quyết định số 409/
QĐ-TTg trên địa bàn huyện Di Linh.
45. UBND huyện Di Linh (2016), Báo cáo tình hình vi phạm luật
giao thông đường bộ từ 2012 - 2016.
46. UBND huyện Di Linh (2016), Báo cáo tổng kết công tác phổ biến
giáo dục pháp luật năm 2016 và phương hướng nhiệm vụ PBGDPL năm
2017 trên địa bàn huyện.
47. Viện Nhà nước và Pháp luật (Viện Khoa học Xã hội Việt Nam,
1995), Cơ sở khoa học của việc xây dựng ý thức và lối sống theo pháp luật,
Đề tài khoa học cấp Nhà nước, mã số KX-07-17, Hà Nội.
48. Viện Nghiên cứu Khoa học Pháp lý (1995), Một số vấn đề giáo
dục pháp luật ở miền núi, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
49. Vụ Phổ biến Pháp luật - Bộ Tư pháp (1997), Một số vấn đề về giáo
dục pháp luật trong giai đoạn hiện nay, Nxb. Thanh niên, Hà Nội.
50. Viện Ngôn ngữ học (2010), Từ điển tiếng Việt, Nxb. Từ điển bách
khoa, Hà Nội.
91
PHỤ LỤC
PHIẾU KHẢO SÁT
Công tác phổ biến pháp luật trên địa bàn xã
Kính mong quý ông, bà cho biết một số thông tin sau:
Câu 1: Ông (bà) thuộc dân tộc nào dưới đây
1. K’ Ho □
2. Mạ □
3. Răc lây □
4. Dân tộc ít người khác □
Câu 2: Giới tính:
1. Nam □ 2. Nữ □
Câu 3: Ông (bà) thuộc nhóm tuổi nào dưới đây
1. Dưới 18 tuổi 7 □
2. Từ 18 đến 30 tuổi □
3. Từ 30 đên 50 tuổi □
4. Từ 50 đến 60 tuổi □
5. Trên 60 tuổi □
Câu 4: Ông (bà) có theo tôn giáo không
1. Phật giáo □
2. Thiên chúa giáo □
3. Tin lành □
4. Tôn giáo khác □
5. Không theo tôn giáo nào □
Câu 5: Nghề nghiệp hiện nay của ồng (bà) là gì?
1. Cán bộ □
2. Giáo viên □
3. Học sinh □
4. Nông dân □
5. Nghề nghiệp khác........................................................................
92
Câu 6: Ông (bà) đã được nghe cán bộ phổ biến pháp luật chưa?
1. Nghe nhiều □
2. Có nghe nhưng ít □
3. Chưa được nghe □
Câu 7: Nếu chưa từng được nghe, xin ông (bà) cho biết tại sao?
....................................................................................................................
....................................................................................................................
....................................................................................................................
...................................................................................................................
...................................................................................................................
...................................................................................................................
Câu 8: Ông (bà) cho biết đã được phổ biến pháp luật ở lĩnh vực
nào dưới đây
1. Đất đai □
2. Bảo vệ và phát triển rừng □
3. Dân chủ ở cơ sở □
4. Giao thông đường bộ □
5. Hôn nhân và gia đình □
6. Bình đẳng giới □
7. Khiếu nại, tố cáo □
8. Nghĩa vụ quân sự □
9. Các lĩnh vực khác (ghi rõ)
....................................................................................................................
....................................................................................................................
....................................................................................................................
...................................................................................................................
...................................................................................................................
93
Câu 9: Ông (bà) thường được nghe nói về pháp luật ở những nơi
nào?
1. Họp thôn □
2. Họp phụ nữ □
3. Sinh hoạt đoàn □
4. Đài phát thanh □
5. Đài truyền hình □
Câu 10: Xin ông (bà) cho biết ai đã tiến hành phổ biến các văn
bản pháp luật đó:
1. Cán bộ xã □
2. Trưởng thôn □
3. Các già làng, trưởng buôn □
4. Cán bộ huyện □
Câu 11: Ông (bà) thích ai nói về pháp luật nhất?
1. Cán bộ huyện □
2. Cán bộ xã □
3. Trưởng thôn □
4. Già làng, trưởng bản □
Câu 12: Ông (bà) có nghe Loa truyền thanh của xã nói về pháp
luật thường xuyên hay không.
1. Có nghe nói thường xuyên □
2. Thỉnh thoảng mới nghe □
3. Không nghe nói □
Câu 13: Ông (bà) thường nghe loa truyền thanh của xã nói về
pháp luật vào thời gian nào sau đây:
1. 5h30 - 6h30 phút hàng ngày □
2. 11h30 - 12h30 phút hàng ngày □
3. 17h30 - 18h30 phút hàng ngày □
4. Giờ khác □
94
Câu 14: Ông (bà) có thấy ở thôn, bản thường có những khẩu hiệu
hoặc panô, áp phích nào sau đây:
1. Bảo vệ rừng □
2. Dân số kế hoạch hóa gia đình □
3. An toàn giao thông □
4. Ma túy - HIV □
5. Thuế □
Câu 15: Khi nhìn vào khẩu hiệu, tranh vẽ nói về pháp luật ông
(bà) có hiểu không?
1. Có □ 2. Không □ 3. Có nhưng ít □
Câu 16: Địa phương nơi ông (bà) sinh sống có bao giờ tổ chức thi
tìm hiểu pháp luật không?
1. Có □
2. Không □
Câu 17: Ông (bà) có hay đến đọc hay mượn sách ở tủ sách pháp
luật của xã không?
1. Đến đọc (mượn) sách thường xuyên □
2. Thỉnh thoảng đến □
3. Chưa từng đến bao giờ □
Câu 18: Khi có việc phải đến UBND xã, ông (bà) có được cán bộ
xã hướng dẫn thực hiện theo đúng các qui định của pháp luật không?
1 Có □
2. Thỉnh thoảng □
3. Không □
Câu 19: Ông (bà) đã bao giờ đi xem tòa án xét xử lưu động hay
chưa?
1. Chưa bao giờ □
2. Đã từng xem □
95
Câu 20: Nếu đã từng đi xem tòa án xét xử lưu động, ông (bà) cảm
thấy thế nào?
1. Rất cần thiết □
2. Bình thường □
3. Không cần thiết □
Câu 21: Ở địa phương ông (bà) sinh sống có các loại hình câu lạc
bộ nào sau đây.
1. Câu lạc bộ ông, bà, cháu □
2. Câu lạc bộ tuổi trẻ với pháp luật □
3. Câu lạc bộ nông dân với pháp luật □
4. Khác (ghi rõ câu lạc bộ) ................................................................
Câu 22: Theo ông (bà), trong thời gian tới chính quyền địa phương
có cần thiết gửi tờ gấp, tờ rơi về pháp luật cho nhân dân nữa không?
1. Rất cần thiết □
2. Cần thiết □
3. Không cần thiết □
Câu 23: Ông (bà) có thích sách báo, tài liệu, băng đĩa về pháp luật
được dịch ra tiếng dân tộc của mình không?
1. Có thích □
2. Không thích □
3. Có dịch cũng được mà không dịch cũng được □
Câu 24: Nếu ông (bà) thích được dịch tài liệu sang tiếng dân tộc
mình, xin vui lòng cho biết tại sao? (Có thể chọn nhiều phương án)
1. Vì tự hào □
2. Vì dễ hiểu □
3. Vì thú vị □
4. Khác (nêu rõ lý do) ........................................................................
96
Câu 25: Ông (bà) có thích xem hay tham gia các hội thi tìm hiểu
pháp luật không?
1. Rất thích □
2. Thích □
3. Không thích □
Câu 26: Theo ông (bà) các tranh chấp nhỏ trong thôn (buôn, tổ
dân phố) có cần đưa ra tổ hòa giải ở thôn không?
1. Rất cần □
2. Tương đối cần, tùy theo từng vụ tranh chấp □
3. Không cần □
Câu 27: Ông (bà) có kiến nghị gì đối với chính quyền về giáo dục
pháp luật và phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội.
....................................................................................................................
....................................................................................................................
....................................................................................................................
Xin cảm ơn ông (bà)
Các file đính kèm theo tài liệu này:
- luan_van_quan_ly_nha_nuoc_ve_pho_bien_phap_luat_doi_voi_dong.pdf