Luận văn Thực hiện chính sách đối với người có công trên địa bàn huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi

Con người Ba Tơ luôn tự hào về quá khứ và luôn tạc dạ ghi công những người đã có công lao đối với đất nước, vì nền độc lập tự do của Tổ quốc. Không chỉ tạc dạ ghi công mà điều đó đã đi vào thực tế bằng các hoạt động như phát động các phong trào Đền ơn đáp nghĩa, phong trào phụng dưỡng bà mẹ Việt Nam anh hùng Ba Tơ đã và đang phấn đấu hết sức mình để nâng cao đời sống cho người có công trên địa bàn huyện, tạo cho họ có cuộc sống ấm no hạnh phúc, giúp họ tự tin vươn lên trong cuộc sống, hoà nhập với cộng đồng, luôn là tấm gương sáng để thế hệ trẻ tự hào và noi theo. Quán triệt quan điểm, tư tưởng của Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại về công tác chăm sóc đời sống người có công với cách mạng. Trong những năm qua, phòng LĐ-TB&XH huyện đã phối hợp cùng các ban ngành tiếp tục thực hiện tổ chức thực thi chính sách chăm sóc, ưu đãi người có công với nước, chỉ đạo các cơ quan, ban ngành cùng toàn thể nhân dân tích cực tham gia các phong trào đền ơn đáp nghĩa, đã huy động được nhiều sự ủng hộ, hỗ trợ của nhiều tập thể, đơn vị, cá nhân để chăm lo tốt đời sống các gia đình có công với cách mạng, đã đạt được nhiều kết quả đáng kể. Nhờ đó mà đời sống của các gia đình chính sách đã dần dần được cải thiện và ngày càng nâng cao, nhiều gia đình đã vượt qua được khó khăn vươn lên làm giàu cho quê hương, đất nước. Nhưng bên cạnh đó vẫn còn một số hộ gia đình chính sách vẫn còn nhiều khó khăn cần tiếp tục nhận được sự quan tâm, giúp đỡ chăm sóc hơn nữa của toàn thể cộng đồng để người có công và gia đình họ vươn lên cuộc sống tiếp tục phát huy truyền thống của gia đình cách mạng,99 làm gương cho các thế hệ sau này. Chính vì vậy, trong những năm tiếp theo, phòng LĐ-TB&XH huyện Ba Tơ cần có những giải pháp cụ thể để tiếp tục duy trì và nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác tổ chức thực hiện chính sách đối với người có công với nước, góp phần nâng cao đời sống người có công về cả vật chất và tinh thần đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của người dân

pdf112 trang | Chia sẻ: yenxoi77 | Lượt xem: 480 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Thực hiện chính sách đối với người có công trên địa bàn huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
còn mang tính áp đặt của chủ thể ban hành, một số quy định chưa thỏa mãn mong muốn của các đối tượng chính sách. Do điều kiện chiến tranh, đa số đối tượng là người đồng bào dân tộc thiểu số, trình độ nhận thức còn hạn chế nên việc lưu giữ giấy tờ gốc, tìm kiếm người xác minh, người làm chứng theo quy định gặp nhiều trở ngại vì thế trong một số trường hợp việc xác định đối tượng là người có công còn khó khăn. Bên cạnh đó, phần lớn người có công độ tuổi đã cao, nhu cầu chăm sóc tăng lên, cần phải điều chỉnh chính sách, trong khi khả năng đáp ứng của ngân sách còn hạn chế. Ba Tơ là huyện miền núi nghèo, trình độ dân trí còn thấp, kinh tế khó khăn, địa bàn phức tạp nên việc tiếp cận các chính sách, các thông tin còn gặp nhiều khó khăn; một số đối tượng chính sách lại già yếu, không biết chữ, không đi lại được cũng gây không ít khó khăn trong việc thực hiện chính sách. * Nguyên nhân chủ quan Do nguồn kinh phí đầu tư cho chế độ chính sách người có công còn hạn hẹp. Đây là nguyên nhân kết quả nằm ngoài khả năng cuả cán bộ làm công tác thương binh, liệt sỹ và người có công, gây ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của công tác này. Vì vậy, đòi hỏi Đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện Ba Tơ phải quyết tâm hơn nữa, duy trì việc chăm sóc nhằm nâng cao đời sống của người có công. Công tác tuyên truyền phổ biến chính sách tuy đã được coi trọng song chưa thường xuyên và chưa sâu nhất là việc phổ biến, hướng dẫn tuyên truyền vận dụng đến từng ngưòi dân làm cho mọi nguời hiểu và thực hiện đúng chế 73 độ chính sách Nhà nước qui định. Các phong trào chăm sóc người có công chỉ thực hiện trên bề nổi, chưa có chiều sâu, chưa tạo được sự tin tưởng tuyệt đối trong đông đảo quần chúng nhân dân, chưa phát huy hết vai trò của cộng đồng. Số lượng văn bản hướng dẫn nhiều, nhưng không thống nhất; thậm chí một số nội dung hướng dẫn còn mẫu thuẫn, chồng chéo với nhau, gây khó khăn cho cấp dưới để thực hiện; một số quy định, điều kiện, thủ tục xét công nhận đối tượng chính sách người có công cách mạng còn cứng nhắc, chưa linh họat gây khó khăn cho cơ quan thực hiện và thiệt thòi cho các đối tượng thụ hưởng chính sách. Một số cán bộ làm công tác LĐ-TB&XH ở xã, thị trấn nhận thức chưa đầy đủ về ý nghĩa, tầm quan trọng của chính sách ưu đãi người có công; vai trò, trách nhiệm của mình, nên trong quá trình thực hiện hướng dẫn cho các đối tượng chính sách chưa đến nơi, đến chốn; còn lơ là trong công việc, làm ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách, còn yếu về chuyên môn, nghiệp vụ, thiếu tinh thần trách nhiệm. Việc lồng ghép các chương trình chăm sóc người có công với các chương trình khác chưa có sự phối hợp nhịp nhàng, thiếu đồng bộ, chưa phát huy được sức mạnh tổng hợp, chưa tạo được dư luận mạnh mẽ trong quần chúng nhân dân. Nhận thức của một số đối tượng chính sách còn hạn chế, nên khó khăn trong công tác kê khai, làm thủ tục, hoặc chế độ mà mình được hưởng, nên còn khiếu nại, khiếu kiện khiến cho cơ quan có thẩm quyền phải giải thích, trả lời nhiều lần. Một số đối tượng ít tham gia hội họp, không có thông tin, nên tiến hành kê khai, làm thủ tục trễ, kéo dài làm ảnh hưởng tiến độ thực hiện chính sách. Các cấp, các ngành, các tổ chức chính trị xã hội vẫn chưa thấy hết được sự cần thiết trong việc thực hiện Đền ơn đáp nghĩa, nâng cao đời sống cho người có công nên chưa có thái độ ủng hộ nhiệt tình, còn có thái độ phó mặc do ngành Lao động - Thương binh và Xã hội. Một số đối tượng còn có thái độ 74 ỷ lại vào chế độ chính sách của Đảng và Nhà nước, gây lên rất nhiều khó khăn trong việc nâng cao đời sống cho người có công. Đội ngũ cán bộ công chức ngành Lao động Thương binh và Xã hội ở cấp huyện tuy đã có nhiều chuyển biến, nhưng vẫn chưa đủ mạnh để đáp ứng yêu cầu công việc. Cán bộ phụ trách Lao động - Thương binh và Xã hội cấp xã, thị trấn đại đa số là kiêm nhiệm không có chuyên môn nghiệp vụ, còn một số ít là cán bộ chuyên trách nhưng không có chức danh, không được hưởng lương, không được đóng bảo hiểm xã hội mà chỉ hợp đồng hưởng phụ cấp và thuyên chuyển công tác khác nhiều do vậy không sâu chuỗi được các quy định , nên khi triển khai công việc thường không được coi trọng, trong tình hình hiện nay đội ngũ cán bộ công chức ngành đặc biệt là cấp xã, cấp huyện cần có chuyên môn nghiệp vụ, cần có chế độ quan tâm đúng mức về năng lực chuyên môn, tạo điều kiện để cán bộ học tập nâng cao nghiệp vụ, được biên chế cán bộ chuyên trách và cần quan tâm đúng mức về đời sống vật chất, tinh thần để cán bộ yên tâm công tác. Điều đó có ý nghĩa rất lớn đối với việc hoàn thành các nhiệm vụ được giao. Công tác cải cách hành chính trong lĩnh vực giải quyết chế độ, chính sách đối với người có công cách mạng còn chậm, quy định thủ tục hồ sơ còn rườm rà, thời gian giải quyết còn lâu. Một số nội dung, đầu công việc trong giải quyết chính sách người có công không thể đưa vào quy trình thực hiện hồ sơ một cửa liên thông được, vì còn phải chờ ý kiến, kết quả của ngành cấp trên (Cục người có công, Bộ LĐ-TB&XH). Việc theo dõi, quản lý thông tin về đối tượng người có công chỉ thực hiện thủ công, đến nay chưa có phần mềm tin học quản lý ứng dụng rộng rãi, thống nhất vào công tác quản lý chung toàn ngành. Công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chính sách người có công chưa thường xuyên nhất là công tác chi trả chế độ trợ cấp hàng tháng cho các đối tượng giữa mức mới và mức cũ, việc báo cáo kịp thời các trường hợp đối 75 tượng người có công từ trần, qua đời...nên còn có xảy ra sai phạm. Cơ chế bảo đảm kiểm tra quá trình tổ chức hướng dẫn thủ tục, lập hồ sơ xác nhận đối tượng người có công chưa mạnh, có những trường hợp chậm trễ trong khâu tiếp nhận, xác nhận và chuyển hồ sơ, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người được ưu đãi. 76 Tiểu kết chương 2 Thực hiện việc chăm sóc đối với thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ và người có công với cách mạng không chỉ là vấn đề đạo lý truyền thống Uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ người trồng cây mà còn là vấn đề chính trị, tư tưởng tình cảm, quan hệ xã hội, có ý nghĩa lâu dài và cũng luôn được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước. Trong thời kỳ CNH- HĐH đất nước cùng với sự phát triển và tăng trưởng kinh tế là cơ sở, điều kiện để thực hiện tốt các chính sách xã hội, trong đó có chính sách ưu đãi, chăm sóc người có công với nước. Trong những năm qua Nhìn chung, chế độ ưu đãi người có công trên địa bàn huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi đã được xây dựng và thực hiện khá toàn diện, ngoài trợ cấp còn có chế độ chăm sóc sức khỏe, cải thiện nhà ở, ưu đãi trong y tế, giáo dục đào tạo, sản xuất kinh doanh, tạo việc làm; người có công đang hưởng trợ cấp thường xuyên (hoặc đã mất) thì con của họ đang theo học ở nhà trường được hưởng chế độ trợ cấp mỗi năm một lần mua đồ dùng, sách vở, dụng cụ học tập, được miễn giảm học phí và các khoản đóng góp khác, học sinh học ở các trường chuyên nghiệp, dạy nghề, dân tộc nội trú được hưởng trợ cấp hàng tháng..góp phần nâng cao đời sống các đối tượng, gia đình chính sách, giúp họ ổn định cuộc sống, trở thành những người công dân kiểu mẫu, có ích cho xã hội, đất nước. Tuy nhiên bên cạnh đó việc thực hiện chính sách người có công vẫn còn tồn tại một số điểm bất cập cần được lưu ý như: Hệ thống văn bản qui định thực hiện chế độ ưu đãi vật chất củng như chính sách cho người có công vẫn còn chồng chéo, chưa thực tiễn, chính sách ưu đãi còn chưa kịp thời không theo kịp sự phát triển nhanh của nền kinh tế thị trường và sự mong chờ của đối tượng; Sự phối hợp giữa các ban ngành đoàn thể ở địa phương trong công tác chăm sóc đời sống người có công chưa chặc chẽ, chưa thực sự trở thành ý thức trách nhiệm thường xuyên trong nhân dân. Xác định được những hạn chế 77 cơ bản trên từ đó có thể đưa ra được những giải pháp tối ưu để công tác thực hiện chính sách người có công ngày càng hiệu quả hơn. 78 CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP TIẾP TỤC HOÀN THIỆN VÀ THỰC HIỆN TỐT HƠN CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BA TƠ, TỈNH QUÃNG NGÃI 3.1 Phương hướng 3.1.1 Phương hướng chung Trong phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội 5 năm giai đoạn 2016-2020 của Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã nêu: “Nhà nước sử dụng thể chế các nguồn lực, công cụ điều tiết chính sách phân phối và phân phối lại để phát triển văn hóa, thực hiện dân chủ tiến bộ và công bằng xã hội; đảm bảo an sinh xã hội từng bước nâng cao phúc lợi xã hội chăm lo cải thiện đời sống mọi mặt của nhân dân thu hẹp khoản cách giàu- nghèo [8,tr. 269]. Đồng thời đề ra giải pháp “ Tiếp tục hoàn thiện chí nh sách nâng cao mức sống người có công. Rà soát hoàn thiện pháp luật nâng cao hiệu quả quản lý nhà nướcc về an sinh xã hội [8,, tr. 300]. Trong những năm đến, Đảng và Nhà nước ta tiếp tục xác định quan điểm, định hướng và quyết tâm đẩy mạnh thực hiện chính sách đối với người có công với cách mạng. Một là, tiếp tục nghiên cứu xây dựng Luật Ưu đãi người có công với cách mạng. Kế thừa những quy định của Pháp lệnh ưu đãi người có công và các quy định pháp luật khác có liên quan để nghiên cứu, xây dựng Luật Ưu đãi người có công. Văn bản luật sẽ điều chỉnh một cách tổng thể, toàn diện và thống nhất các vấn đề liên quan đến tổ chức và thực hiện chính sách ưu đãi người có công, tăng cường công tác quản lý nhà nước nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác ưu đãi đối với người có công,... Hai là, nghiên cứu điều chỉnh chế độ trợ cấp ưu đãi, cải tiến phương pháp quản lý và chi trả. Thực hiện điều chỉnh trợ cấp ưu đãi theo quy định của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng, tách độc lập với cải cách 79 chính sách tiền lương và bảo hiểm xã hội. Tiếp tục nghiên cứu điều chỉnh cơ cấu tỷ lệ mức trợ cấp giữa các đối tượng người có công bảo đảm công bằng, hợp lý; cải cách căn bản phương thức chi trả trợ cấp ưu đãi. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động quản lý và thực hiện chi trả chế độ trợ cấp ưu đãi người có công. Đến năm 2020 hoàn thiện hệ thống thực hiện chi trả trợ cấp ưu đãi thông qua tổ chức ngân hàng hoặc bưu điện. Ba là, phấn đấu hoàn thành việc xác nhận người có công. Tập trung giải quyết tồn đọng trong việc xác nhận liệt sĩ, thương binh, người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học, người hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày. Phấn đấu đến năm 2020 hầu hết người có công được ghi nhận và thực hiện chế độ ưu đãi. Bốn là, rà soát các chế độ ưu đãi ngoài trợ cấp để điều chỉnh cho phù hợp. Ưu đãi về giải quyết việc làm cho con liệt sĩ; con của thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học (suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên). Xây dựng mô hình và cơ chế thích hợp trong ưu đãi về nhà ở cho thân nhân liệt sĩ; thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học (suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên) có khó khăn về nhà ở. Thực hiện chính sách ưu đãi về nhà ở theo lộ trình phù hợp, thường xuyên được quan tâm tu bổ, nâng cấp, sửa chữa và xây dựng mới bảo đảm nhu cầu nhà ở của người có công và thân nhân liệt sĩ; tiếp tục quan tâm đến công tác xây dựng, sửa chữa các công trình ghi công liệt sĩ. Cần có một chương trình, kế hoạch tổng thể để xây dựng, tôn tạo các công trình ghi công liệt sĩ bảo đảm tính lịch sử, bền vững và có giá trị văn hóa, tinh thần lâu dài. Năm là, thực hiện có hiệu quả Đề án xác định danh tính hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin từ nay đến năm 2020 và những năm tiếp theo. Quán triệt, triển khai tổ chức thực hiện tốt Chỉ thị số 24-CT/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ từ nay đến năm 2020 80 và những năm tiếp theo; Quyết định số 150/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án xác định hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin. Mục tiêu đến năm 2020 xây dựng, ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật có liên quan về xác định hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin; xác định bằng phương pháp thực chứng thông qua tìm kiếm, quy tập, khớp nối thông tin. Điều tra, thu thập thông tin về liệt sĩ, hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin, mộ liệt sĩ còn thiếu thông tin trong các nghĩa trang liệt sĩ và dữ liệu tổng thể nghĩa trang liệt sĩ trong cả nước. Xây dựng phần mềm quản lý và cơ phòng dữ liệu thông tin liệt sĩ. Sáu là, tiếp tục quán triệt, triển khai thực hiện tốt các chế độ, chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng. Trọng tâm là quán triệt, triển khai thực hiện tốt Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng, Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” và các văn bản hướng dẫn thi hành; thực hiện tốt các quy định mới về đối tượng, điều kiện, chế độ, chính sách, thủ tục hồ sơ xác nhận đối tượng ưu đãi người có công; triển khai chặt chẽ Thông tư liên tịch số 28/2013/TTLT-BLĐTBXH- BQP của Bộ Quốc phòng, Bộ Lao Động Thương Binh Và Xã Hội hướng dẫn xác nhận liệt sĩ, thương binh, người hưởng chính sách như thương binh trong chiến tranh không còn giấy tờ. Đồng thời, chủ động phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam triển khai thực hiện tốt đợt tổng rà soát chính sách ưu đãi người có công. Bảy là, tiếp tục làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành, các tổ chức, cá nhân trong triển khai thực hiện chế độ, chính sách đối với người có công với cách mạng và đẩy mạnh phong trào Đền ơn, đáp nghĩa. Các cơ quan thông tin, báo chí, truyền thông của Trung ương và địa phương cần tuyên truyền sâu rộng chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với người có công với cách mạng; làm nổi bật sự cống hiến, hy sinh và đóng góp to lớn của các tầng lớp 81 nhân dân, cán bộ, chiến sĩ cả nước đã làm nên thắng lợi chung của cách mạng Việt Nam. Qua đó, khẳng định đạo lý uống nước nhớ nguồn của dân tộc, cũng như sự trân trọng, biết ơn và chăm lo của Đảng, Nhà nước, toàn dân, toàn quân với những người có công với cách mạng; biểu dương những tập thể, cá nhân có thành tích, nhân rộng những mô hình, điển hình tiên tiến trong thực hiện phong trào Đền ơn, đáp nghĩa; tôn vinh những người có công, thương binh, thân nhân liệt sĩ, Thông qua đó, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo đảm để các đối tượng chính sách đầy đủ về vật chất, vui vẻ về tinh thần. 3.1.2. Phương hướng cụ thể của tỉnh Quảng Ngãi và huyện Ba Tơ - Tăng cường sự kết hợp chặt chẽ, chỉ đạo thường xuyên của các cấp, ban ngành của chính quyền huyện đến cơ sở đối với công tác xã hội hoá chăm sóc người có công. - Tiếp tục ban hành các văn bản phù hợp với tình hình thực tế của từng xã, thị trấn tránh sự chồng chéo bất hợp lý trong việc chăm sóc đời sống người có công. - Phối hợp thường xuyên, chặt chẽ giữa huyện ủy, HĐND, UBND, phòng LĐ-TB & XH trong quá trình thực thi chính sách chăm sóc người có công với nước. - Luôn luôn đôn đốc, kiểm tra các xã, thị trấn để đúc rút kinh nghiệm, đưa ra những giải pháp khắc phục những khó khăn, tồn tại trong việc thực hiện các phong trào chăm sóc và đồng thời cũng đẩy mạnh các chương trình chăm lo đời sống người có công trên địa bàn huyện. Tổ chức triển khai và thực hiện nghiêm túc Nghị định số 20/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 02 năm 2015 của Chính phủ về quy định mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công cách mạng . - Coi trọng việc huy động nguồn lực từ địa phương là nguồn vốn chủ yếu để thực hiện chính sách ưu đãi, chăm sóc người có công với nước. 82 - Đào tạo và nâng cao năng lực chuyên môn cho cán bộ làm công tác Lao động-TB&XH của phòng và xã, thị trấn. Mỗi xã, thị trấn cần có các cán bộ có trình độ chuyên môn nghiệp vụ trong lĩnh vực công tác xã hội đặc biệt trong việc chăm sóc người có công. - Phòng Lao động-TB&XH huyện Ba Tơ tập trung triển khai các nhiệm vụ trọng tâm như: + Đẩy mạnh công tác kiểm tra, rà soát việc xác nhận người có công, kiến nghị xử lý kiên quyết những trường hợp vi phạm; giải quyết dứt điểm hồ sơ tồn đọng trong chiến tranh; + Triển khai điều dưỡng cho người có công của huyện đi điều dưỡng tại các trung tâm nuôi dưỡng người có công của tỉnh và điều dưỡng tại nhà. + Tiếp tục duy trì công tác tuyền truyền, vận động bằng nhiều hình thức thường xuyên sâu rộng trong nhân dân về việc chăm sóc người có công. + Đẩy mạnh hơn nữa hoạt động xã hội hoá công tác chăm sóc thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ và người có công với cách mạng. + Tổ chức thêm nhiều mô hình chăm sóc khác từ sự giúp đỡ, ủng hộ của các đoàn thể, cá nhân trong huyện khi đó nguồn lực trong cộng đồng sẽ phát huy hết tác dụng vào việc chăm sóc đời sống người có công. + Phát triển mạnh việc xây dựng quỹ Đền ơn đáp nghĩa ở tất cả các cơ quan, đơn vị và các xã, thị trấn trong huyện, khuyến khích tạo điều kiện để các gia đình chính sách có điều kiện để học tập, nâng cao trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật, tiếp nhận những kỹ thuật công nghệ mới. Ưu đãi hỗ trợ về vốn, giống, đất đai, thuế đồng bộ và phù hợp cho các đối tượng người có công để họ và gia đình thuận lợi trong việc làm ăn, sản xuất, tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng, tiếp tục cống hiến, tập trung xây dựng quê hương đất nước. 83 3.2. Giải pháp tiếp tục thực hiện có hiệu quả hơn chính sách với người có công tại huyên Ba Tơ, tỉnh Quãng Ngãi 3.2.1. Giải pháp chung Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò của MTTQ Việt Nam, các tổ chức chính trị xã hội đối với công tác NCC với cách mạng. Thực hiện tốt công tác xác nhận NCC với cách mạng, đặc biệt là đối với những trường hợp hồ sơ tồn đọng, trường hợp không còn giấy tờ, căn cứ xác nhận. Đẩy mạnh công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin. Triển khai thực hiện đồng bộ các chế độ ưu đãi về kinh tế-xã hội nhằm nâng cao mức sống người có công để bản thân và gia đình họ có mức sống trên mức trung bình của xã hội. Tăng cường xã hội hóa, đẩy mạnh phong trào chăm sóc người có công thông qua các chương trình tình nghĩa, toàn dân tham gia các hoạt động đền ơn đáp nghĩa nhằm huy động nguồn lực từ cộng đồng, xã hội cùng Nhà nước quan tâm chăm lo đời sống vật chất, tinh thần người có công. Thông qua các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục và đào tạo, dạy nghề, việc làm, giảm nghèotạo điều kiện cho bản thân người có công và gia đình họ (đặc biệt là con của họ) học tập, học nghề, tạo việc làm, phát triển về kinh tế nhằm ổn định, nâng cao đời sống gia đình, đồng thời góp phần phát triển kinh tế - xã hội chung của đất nước. Đổi mới quản lý Nhà nước về ưu đãi xã hội, chú trọng cả 3 nội dung thể chế chính sách, tổ chức bộ máy và công chức công vụ. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, ngăn ngừa, xử lý những sai sót, tiêu cực, trong lĩnh vực này, tăng niềm tin, sự tôn vinh, lòng biết ơn của xã hội đối với người có công với nước. 84 3.2.2. Giải pháp cụ thể mang tính đặc thù của tỉnh Quảng Ngãi và huyện Ba Tơ 3.2.2.1.Một số giải pháp về nguồn nhân lực quản lý a. Đổi mới công tác cán bộ Cùng với sự phát triển toàn diện về kinh tế - xã hội hiện nay ở địa phương, những yêu cầu nhiệm vụ đặt ra cho công tác tổ chức quản lý Người có công với cách mạng trên địa bàn huyện sẽ cao hơn, nặng nề hơn với đặc thù là huyện miền núi, điều kiện kinh tế còn khó khăn, trình độ dân trí thấp. Điều này đòi hỏi trình độ, năng lực và phẩm chất đạo đức của cán bộ quản lý Người có công với cách mạng phải không ngừng được nâng lên về mọi mặt để đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ mới đặt ra trong công tác quản lý Người có công với cách mạng. Để đội ngũ cán bộ công chức ngành Lao động Thương binh và Xã hội phát huy hết khả năng kiến thức của mình và tiếp tục trau dồi những kiến thức mới, trong thời gian tới phòng tập trung, quan tâm đến những công việc cụ thể sau: - Xây dựng và củng cố bộ máy tổ chức, cán bộ, công chức làm công tác chính sách đối với người có công đủ số lượng, đảm bảo chất lượng và có phẩm chất, đạo đức tốt. Đồng thời, đảm bảo chính sách, đặc biệt là chính sách đối với đội ngũ cán bộ làm công tác LĐ-TB&XH ở cơ sở như định biên, bảo hiểm xã hội, phụ cấp để họ yên tâm công tác, nêu cao tinh thần trách nhiệm thực thi công vụ. - Hằng năm rà soát trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ, công chức làm công tác LĐ-TB&XH từ huyện đến xã, nhất là số cán bộ cán bộ, công chức mới được tuyển dụng để đề nghị cử đi đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao nghiệp vụ thực thi chính sách người có công với cách mạng; cũng như kỹ năng giao tiếp, tinh thần, thái độ phục vụ cho các đối tượng chính sách, đây là đối tượng có tính đặc thù, nên cần phải có thái độ hòa nhã, nhẹ nhàng. Bên 85 cạnh đó, tiến hành rà soát những thủ tục rườm rà, không cần thiết để đề nghị cấp trên loại bỏ, giảm bớt thời gian đi lại gây phiền hà cho các đối tượng chính sách. Đồng thời, kiến nghị ngành LĐ-TB&XH cấp trên ban hành trình tự, thời hạn giải quyết các chế độ, chính sách cho các đối tượng người có công để đưa các nội dung này vào quy trình giải quyết hồ sơ theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại các xã. Hiện nay, một số hồ sơ, thủ tục công nhận đối tượng người có công cách mạng phải chuyển đến Bộ LĐ- TB&XH để xem xét thẩm định, công nhận, nhưng không ấn định thời gian, kéo dài, nên huyện, xã không thể đưa các nội dung này vào thực hiện chế độ một cửa liên thông- trả kết quả cho các đối tượng tại huyện, xã được. - Công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ phải được chú ý thường xuyên, kết hợp với việc đánh giá cán bộ công chức hàng năm về công tác quy hoạch bổ sung đội ngũ cán bộ kế thừa để xây dựng kế hoạch đào tạo chuyên môn phù hợp với quy định của từng chức danh và điều kiện khả năng của mỗi cán bộ. - Hình thức đào tạo, bồi dưỡng cần kết hợp phong phú đa dạng để khắc phục bớt khó khăn, bị động trước yêu cầu vừa học, vừa làm. Ngoài việc cử cán bộ công chức tham gia các khoá học chính thức cần tổ chức cung cấp những tài liệu, thông tin cho cán bộ công chức tự nguyên cứu, thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn nghiệp vụ để cập nhật và nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ quản lý Người có công với cách mạng. - Yêu cầu đào tạo tin học là một sự cần thiết đối với cán bộ công chức quản lý Người có công với cách mạng. Hiện nay số cán bộ công chức quản lý Người có công với cách mạng trên địa bàn đặc biệt là xã chưa có điều kiện học tập. Một phần do công việc chưa đòi hỏi ngay, một phần huyện chưa có điều kiện tổ chức cho số cán bộ công chức này được học và sử dụng vi tính. Ngoài việc nâng cao trình độ lý luận, chuyên môn nghiệp vụ. Việc giữ vững và nâng cao phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ quản lý Người có công với cách mạng cũng là vấn đề rất quan trọng. Do đặc điểm công việc hầu 86 hết cán bộ quản lý Người có công với cách mạng thường xuyên giải quyết những vấn đề đụng chạm đến quyền lợi của Người có công với cách mạng nên rất dễ xảy ra tình trạng tham nhũng, gây phiền hà cho đối tượng. Trong điều kiện như vậy, nếu cán bộ công chức không có bản lĩnh vững vàng, không có phẩm chất đạo đức của người cán bộ thì rất dễ bị sa ngã, dẫn đến hành vi sai phạm làm giảm lòng tin của nhân dân ảnh hưởng đến nhiệm vụ chính trị của phòng, của huyện. Do vậy việc nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho mỗi cán bộ công chức quản lý Người có công với cách mạng không thể tách rời việc quan tâm, chăm sóc, bồi dưỡng nâng cao phẩm chất đạo đức của người cán bộ. Để thực hiện vấn đề này có hiệu quả phòng cần quan tâm tới một số nội dung công việc cần thiết sau. + Tổ chức cho cán bộ được tham gia dự các lớp lý luận chính trị, từ trung cấp đến cử nhân khi có điều kiện để nâng cao trình độ lý luận chính trị của cán bộ, trên cơ sở đó hình thành tư tưởng chính trị vững vàng, phát huy phẩm chất, đạo đức của người cán bộ. + Phối hợp với tổ chức Đảng và các tổ chức đoàn thể, tổ chức những đợt sinh hoạt chính trị trong nội bộ cơ quan một các thường xuyên, thông qua đó giáo dục về truyền thống tốt đẹp của dân tộc, đất nước, của ngành, của địa phương và đơn vị, giới thiệu những gương người tốt tiêu biểu để mỗi cán bộ có điều kiện hiểu biết, học tập và phát huy. + Tạo môi trường sinh hoạt lành mạnh, dân chủ trong cơ quan, thông qua việc ban hành và áp dụng quy chế làm việc cụ thể, rõ ràng, công khai có sự giám sát kiểm tra lẫn nhau giữa các tổ chức, cá nhân trong đơn vị và giữa các tổ chức đoàn thể. Cần tìm hiểu về điều kiện và hoàn cảnh của từng người để có sự quan tâm thích hợp trong công tác cũng như trong sinh hoạt khác của mỗi cán bộ. Đặc biệt phải chăm lo lợi ích vật chất, tinh thần chính đáng cho cán bộ, thực hiện đầy đủ chính sách đãi ngộ khen thưởng, quan tâm tương trợ giúp đỡ các đồng chí có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, để anh em cán bộ thực 87 sự an tâm, tích cực trong công tác và luôn nêu cao phẩm chất đạo đức cách mạng trong sáng của mình. Để tiếp tục phát huy hiệu quả hoạt động của cán bộ quản lý Người có công với cách mạng, ngoài việc học tập, nâng cao năng lực, phẩm chất đạo đức cho mỗi cán bộ, trong thời gian tới phòng LĐ-TB&XH cần quan tâm đến đội ngũ cán bộ ngành cấp xã, thị trấn nhằm đảm bảo tính khách quan, trung thực, đảm bảo tính khoa học cho quản lý đối tượng hạn chế sự chồng chéo, phiền hà, tiêu cực của cán bộ quản lý Người có công với cách mạng. Đồng thời, có kế hoạch đầu tư và kiến nghị từng bước hiện đại hoá trang thiết bị làm việc, đặc biệt là hệ thống máy tính nhằm phát huy hiệu quả cao trong quản lý. Ngoài ra, thường xuyên quan tâm, thực hiện nghiêm túc quy trình kiểm tra, thanh tra nội bộ cũng như các đối tượng nhằm ngăn chặn và hạn chế những vi phạm xảy ra. Kịp thời khen thưởng những tổ chức cá nhân tiêu biểu, đồng thời kiên quyết xử lý những hành vi cố tình vi phạm các chính sách, pháp luật Người có công với cách mạng. b. Phối hợp chặt chẽ giữa phòng Lao động - Thương binh và Xã hội với cấp uỷ, Hội đồng nhân dân và các đoàn thể ở địa phương Trong những năm qua huyện Ba Tơ luôn xác định nhiệm vụ quản lý Người có công với cách mạng là một nhiệm vụ cấp bách và cần thiết vì vậy phòng đã đề ra các chỉ tiêu kế hoạch phấn đấu, các nhiệm vụ, giải pháp thực hiện triển khai nhiệm vụ này, Nghị quyết của Hội đồng nhân dân và chương trình công tác của UBND huyện đều dành những nội dung quan trọng để xây dựng kế hoạch chỉ đạo điều hành công tác quản lý Người có công với cách mạng trên địa bàn bằng những biện pháp cụ thể như: Tổ chức kiểm tra, thanh tra, tổ chức toạ đàm để lắng nghe ý kiến tâm tư nguyện vọng của Người có công với cách mạng, kết hợp với các ngành, các cấp giám sát các hoạt động của ngành. Tuy sự chỉ đạo nói trên rất đầy đủ, song các ngành chức năng và cấp uỷ chính quyền địa phương thực hiện được mới là vấn đề đáng quan tâm. 88 Trong thời gian tới công tác này cần phải được duy trì, phát huy và đổi mới theo hướng tích cực hơn. Đặc biệt đối với các xã, thị trấn nếu không có biện pháp lãnh đạo, điều hành, tuyên truyền mà để sảy ra tình trạng làm trái quy định, lợi dụng cơ chế làm ảnh hưởng tình hình ổn định xã hội thì lãnh đạo địa phương đó phải chịu trách nhiệm trước lãnh đạo huyện, cán bộ phụ trách chính sách Thương binh Xã hội phải chịu trách nhiệm trước lãnh đạo phòng. Trong những năm qua và thời gian tới phòng sẽ tiếp tục tham mưu cho UBND huyện công nhận xã, thị trấn làm tốt công tác Thương binh Xã hội và Người có công. 3.2.2.2. Tăng cường công tác vận động, tuyên truyền pháp luật ưu đãi Người có công với cách mạng Thời gian qua, Pháp lệnh ưu đãi Người có công với cách mạng đã từng bước hoàn thiện tạo điều kiện cho người quản lý và đối tượng phấn khởi, dễ thực hiện và chấp nhận, theo đó công tác tuyên truyền chính sách ưu đãi Người có công với cách mạng được xem là một trong những công tác trọng tâm để thực hiện thắng lợi các luật ưu đãi Người có công với cách mạng, Pháp lệnh ưu đãi Người có công với cách mạng ngay từ những ngày đầu triển khai và tạo cơ sở nhận thức đúng đắn trong mỗi quá trình áp dụng. Ở phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Ba Tơ công tác tuyên truyền, giáo dục chính sách luật Người có công với cách mạng, nhất là khi Nhà nước ban hành Pháp lệnh ưu đãi Người có công với Cách mạng mới, phòng đã phối kêt hợp với nhiều cơ quan chức năng ở huyện, tỉnh thực hiện bằng nhiều hình thức truyền thanh, truyền hình, tập huấn, giao ban .v.v. Vì vậy, đã có những tác động chuyển biến về nhận thức của người dân nói chung và đối tượng nói riêng. Tuy nhiên theo sự đánh giá khách quan thì hiệu quả của công tác vận động tuyên truyền vẫn còn có những hạn chế cả về bề rộng lẫn bề sâu do ảnh hưởng của các điều kiện tuyên truyền, về khả năng nhận thức và thực hiện có khác nhau của đối tượng. Từ những vấn đề trên cho thấy 89 công tác tuyên truyên giáo dục chính sách pháp luật Người có công với cách mạng hiện nay đặt ra là hết sức quan trọng và bức xúc phải phát huy và tăng cường đúng mức, tạo điều kiện cho người dân nói chung và đối tượng Người có công với cách mạng nói riêng nghiêm chỉnh chấp hành Pháp lệnh Người có công với cách mạng. Công tác tuyên truyền pháp luật Người có công với cách mạng nên áp dụng phương châm mưa dầm, thấm lâu, không nên xem nặng tính thời điểm triển khai mà bỏ qua tính thường xuyên cũng như phương pháp, cách thức tuyên truyền của mỗi giai đoạn cần mở rộng quan hệ phối hợp thông tin, tuyên truyền với các cơ quan hữu quan, trong đó đặc biệt chú ý đến vai trò của các tổ chức đoàn thể quần chúng. Tổ chức đa dạng hoá các hình thức tuyên truyền chính sách Người có công với cách mạng để phù hợp với khả năng nhận thức khác nhau của từng đối tượng hạn chế tính chủ quan hình thức và đơn điệu, khô khan, sơ cứng trong tuyên truyền. Trong công tác tuyên truyền cần chú ý đến gương người tốt, việc tốt, nhằm mục đích cho mọi người học tập noi theo, đồng thời cũng cần phải đấu tranh phê phán những biểu hiện tiêu cực, hạn chế đã bị xử lý để làm bài học kinh nghiệm chung cho mọi người. Công tác giáo dục tuyên truyền về Người có công với cách mạng là nhằm định hướng cho nhận thức của mỗi người dân về chính sách Người có công với cách mạng, nếu thực hiện tốt thì mọi người sẽ có đầy đủ thông tin về chính sách Người có công với cách mạng đề phòng để kẻ xấu lợi dụng làm trái quy định Pháp lệnh ưu đãi Người có công với cách mạng. Từ đó tạo điều kiện cho cán bộ quản lý Người có công với cách mạng thực hiện thành công nhiệm vụ công tác Người có công với cách mạng đặt ra. 3.2.2.3. Hoàn thiện hệ thống chính sách chăm sóc người có công 90 Hiện nay hệ thống văn bản hướng dẫn thực hiện khá đồ sộ, luôn thay đổi thiếu tính thống nhất chặt chẽ và nhiều nội dung cần được thể chế bổ sung như: - Văn bản hướng dẫn xác nhận thương binh, liệt sỹ trong điều kiện hoàn cảnh mới, thực hiện ưu đãi người hoạt động cách mạng trước năm 1945 và từ năm 1945 đến trước tổng khởi nghĩa 19/8/1945. - Một số chế độ ưu đãi về giáo dục đào tạo, chăm sóc sức khoẻ, dụng cụ chỉnh hình phục hồi chức năng, chế độ trợ cấpcũng cần phải sửa đổi, bổ sung để việc ưu đãi xã hội đồng bộ, đầy đủ và có tính khoa học hợp lý. Để hoàn thiện và tạo điều kiện thuận lợi cho huyện Ba Tơ tổ chức thực thi chính sách ưu đãi, chăm sóc người có công đạt hiệu quả cần phải mở rộng thêm đối tượng điều dưỡng luân phiên hàng năm cho thương, bệnh binh và các nhóm đối tượng người có công khác. Đồng thời tăng mức kinh phí điều dưỡng hàng năm cho huyện để chăm sóc, nâng cao sức khoẻ và ổn định tinh thần cho người có công với nước; bổ sung, điều chỉnh để hoàn thiện hệ thống văn bản hướng dẫn xác nhận thực hiện ưu đãi người có công với nước ở các giai đoạn khác nhau. Mặt khác, tiếp tục nghiên cứu ban hành kịp thời các quy định, hoàn chỉnh chính sách ưu đãi đối với Người có công như: - Hoàn thiện chính sách hỗ trợ cải thiện nhà ở, đất ở đối với người có công, quy định chính sách hỗ trợ cải thiện nhà ở phải xuất phát từ thực trạng, điều kiện kinh tế xã hội, mức sống của dân cư, chế độ hỗ trợ phải căn cứ vào từng loại đối tượng, đảm bảo tính thực thi. Chính sách hỗ trợ cải thiện nhà ở phải huy động được sự quan tâm và trách nhiệm đóng góp của các tổ chức kinh tế xã hội của cộng đồng và toàn xã hội. - Xây dựng chương trình đào tạo nghề và các giải pháp giải quyết việc làm cho người có công ở khu vực nông thôn, miền núi; vùng căn cứ cách mạng. Đại bộ phận người có công ở huyện Ba Tơ sinh sống ở nông thôn, cùng 91 với thực hiện công nghiệp hoá, đô thị hoá thì một bộ phận nhân dân, trong đó có người có công mất đất sản xuất. Vì vậy kết hợp với thực hiện chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, dồn điền đổi thửa, bố trí lại đất sản xuất có điều kiện thuận lợi đối với hộ có công có nhu cầu để sản xuất. Phát triển các làng nghề truyền thống ở nông thôn thu hút lao động, đào tạo nghề tại chỗ, tạo điều kiện để con thương bệnh binh, gia đình liệt sỹ tham gia làm việc, tạo thu nhập. - Cùng với chủ trương giao đất rừng, khuyến khích và tạo điều kiện để những người có khả năng, có điều kiện nhận đất, nhận rừng để trồng rừng, làm lâm nghiệp... - Qua thực tiễn thực hiện chính sách người có công cách mạng trên địa bàn huyện, có rất nhiều trường hợp họ thật sự có tham gia hoạt động cách mạng, đã bị thương, hy sinh hoặc có những cống hiến, đóng góp đặc biệt cho cách mạng trong thời kỳ kháng chiến nhưng do nhiều nguyên nhân chủ quan, khách quan khác nhau đến nay họ chưa được xác nhận để giải quyết hưởng chế độ ưu đãi đối với người có công. Vì vậy cần phải ban hành kế hoạch tổng điều tra, khảo sát để từng ngành, địa phương làm căn cứ xây dựng kế hoạch tổ chức điều tra, khảo sát cụ thể từ địa phương, qua đó thống kê, xác định chính xác trường hợp nào thực sự có tham gia hoạt động, giúp đỡ cho cách mạng trong thời kỳ kháng chiến nhưng bị chết, bị thương hoặc có kê khai, nhưng chưa được các cơ quan có trách nhiệm kết luận để ban hành các quy định xác nhận cho nhóm đối tượng này để họ sớm hưởng chế độ ưu đãi của nhà nước. Tập trung giải quyết tồn đọng trong việc xác nhận liệt sĩ, thương binh, người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học, người hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày. Phấn đấu đến năm 2020 hầu hết người có công được ghi nhận và thực hiện chế độ ưu đãi. Có những điểm mở trong các quy định, thủ tục, điều kiện xác nhận người có công đối với các trường hợp bị thất lạc, không có hồ sơ lưu, hoặc có 92 người xác nhận, nhưng bản thân người xác nhận không có hồ sơ lý lịch lưu trữ; mà nhân dân địa phương biết rõ quá 3.2.2.4. Điều chỉnh chế độ trợ cấp ưu đãi Trong điều kiện nền kinh tế ngày càng phát triển, giá cả tăng cao và nhu cầu của người có công thay đổi ngày càng đa dạng thì mức trợ cấp ưu đãi hiện nay đối với người có công vẫn còn thấp. Vì vậy cần tiếp tục nghiên cứu điều chỉnh cơ cấu tỷ lệ mức trợ cấp giữa các đối tượng người có công bảo đảm công bằng, hợp lý; nâng mức hỗ trợ thường xuyên và các mức hỗ trợ khác cho các đối tượng chính sách người có công với cách mạng phù hợp, nếu không các đối tượng chính sách sẽ nằm ở mức hộ nghèo hoặc hộ cận nghèo theo chuẩn mới; và mục tiêu của Đảng và Nhà nước về thực hiện chính sách người có công sẽ không thực hiện được. Nhanh chóng triển khai, đưa vào thực hiện Nghị định 70/2017/NĐ – CP, ngày 6/6/2017 của Chính phủ về quy định mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công với cách mạng. Theo đó tất cả các mức trợ cấp, phụ cấp hàng tháng đối với từng đối tượng người có công sẽ tăng so với quy định cũ tại Nghị định 20/2015/NĐ – CP, tăng mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi hàng tháng, trợ cấp ưu đãi một lần tăng tương ứng theo mức chuẩn, tăng trợ cấp thương tật đối với thương binh. Cải cách căn bản phương thức chi trả trợ cấp ưu đãi. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động quản lý và thực hiện chi trả chế độ trợ cấp ưu đãi người có công. 3.2.2.5. Tăng cường hoạt động xã hội hoá, đẩy mạnh phong trào chăm sóc người có công Đây là sự huy động nguồn lực từ trong nhân dân, đa dạng hoá các loại hình chăm sóc, giúp đỡ người có công để ổn định cuộc sống. Đó là trách nhiiệm, nghĩa vụ tình cảm của tất cả mọi người. Để tăng cường hoạt động xã 93 hội hoá, đẩy mạnh phong trào chăm sóc người có công trên địa bàn huyện Ba Tơ, phòng LĐ-TB&XH huyện cần thực hiện các biện pháp: - Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách người có công: tuyên truyền phổ biến chính sách của Đảng và Nhà nước về pháp lệnh ưu đãi người có công, nâng cao trách nhiệm của các cấp các ngành đối với người chăm sóc người có công. Giới thiệu, nêu gương biểu dương khen thưởng các cá nhân gia đình chính sách chịu khó làm ăn, vươn lên trong cuộc sống làm giàu cho quê hương đất nước. + Tuyên truyền nhiều tấm gương tiêu biểu cho người dân làm theo, từ đó các chương trình sẽ được mở rộng thành chương trình thi đua thực hiện tốt chính sách xã hội hoá chăm sóc người có công trong nhân dân. Thông qua tuyên truyền, người dân hiểu được việc chăm sóc thương, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và người công là cần thiết là vấn đề kinh tế, chính trị xã hội của đất nước vì khi đời sống người có công được nâng cao thì đó cũng là góp phần làm ổn định đời sống của nhân dân và phát triển đất nước. + Tổ chức các chương trình nêu gương những người có công vươn lên trong làm ăn kinh tế, biểu dương khen thưởng những cá nhân đơn vị làm tốt công tác chăm sóc người có công như công tác đền ơn đáp nghĩa, tặng nhà tình nghĩa, sổ tiết kiệm tình nghĩa, phụng dưỡng bà mẹ Việt Nam anh hùng, nêu gương anh dững hi sinh để từ đó giáo dục truyền thống cách mạng, lòng biết ơn cho thế hệ trẻ. - Duy trì và mở rộng nhiều hình thức chăm sóc người có công. Đẩy mạnh việc thực hiện các chương trình chăm sóc người có công chính là góp phần thực hiện tốt công tác chăm sóc người có công, để duy trì các hình thức chăm sóc người có công trong những năm tới phòng LĐ- TB&XH cần thực hiện tốt các hoạt động: + Đề ra những phương pháp kế hoạch cụ thể trong việc huy động các nguồn lực vào việc chăm sóc đời sống người có công như vận động đóng góp, 94 khuyến khích các cá nhân, đơn vị tiếp tục ủng hộ. Thực hiện tốt chương trình xây dựng quỹ đền ơn đáp nghĩa như cải thiện nhà ở, tặng quà thăm hỏi, hỗ trợ làm ăn phát triển kinh tế, phải duy trì quỹ đền ơn đáp nghĩa và chi có hiệu quả có mục đích. + Thường xuyên tổ chức chăm sóc khám và điều trị điều dưỡng nâng cao sức khoẻ người có công để họ có đủ sức khoẻ làm ăn phát triển kinh tế cùng gia đình. Luôn nắm chắc các đối tượng để chăm sóc cho các gia đình chính sách khó khăn thật sự cần quan tâm giúp đỡ của toàn thể mọi người thì mới đạt được hiệu quả cao trong việc nâng cao sức khoẻ người có công. - Đảm bảo sự kết hợp chặt chẽ, chỉ đạo thường xuyên của các cấp, ban ngành của chính quyền huyện đến cơ sở đối với công tác xã hội hoá chăm sóc người có công. Việc chăm sóc đời sống thương, bệnh binh, gia đình liệt sỹ và người có công với cách mạng là trách nhiệm của phòng LĐ-TB&XH huyện, các ban ngành và toàn thể cộng đồng vì vậy cần sự chỉ đạo, định hướng chính xác các mục tiêu để huy động được toàn bộ mọi tiềm năng, nguồn lực trong công đồng vào việc đáp ơn chăm sóc người có công và huyện Ba Tơ cần được sự quan tâm chỉ đạo hơn nữa của các ban ngành cấp trên để thực hiện tốt công tác chăm sóc người có công. Cùng với đó giữa các cấp phải có sự kết hợp chặt chẽ với nhau để có chương trình chăm sóc phù hợp với điều kiện hoàn cảnh từng gia đình chính sách và việc kiểm tra đôn đốc thường xuyên trong công tác xã hội hoá chăm sóc người có công cũng đòi hỏi phải có sự kết hợp, làm việc thường xuyên giữa các ban ngành trong huyện. 3.2.2.6. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, phát hiện, chấn chỉnh, xử lý kịp thời những trường hợp vi phạm việc thực hiện chính sách người có công với cách mạng Do địa bàn rộng, đối tượng chính sách người có công nhiều, tổng các nguồn chi cho các đối tượng chính sách sách trên địa bàn huyện rất lớn. Vì 95 vậy, để đảm bảo thực hiện cho các khoản chi đúng, chi đủ đến tận tay các đối tượng chính sách, phải thường xuyên thực hiện chế độ kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán để chấn chỉnh những thiếu sót; đồng thời xử lý những trường hợp cố tình sai phạm. Theo định kỳ thanh tra UBND huyện cần tiến hành kiểm tra đối với Phòng LĐ-TB&XH huyện trong công tác thu, chi, cấp phát, sử dụng các loại quỹ, kinh phí cho các đối tượng trên địa bàn. Đồng thời thanh tra tình hình thu, chi, cấp phát và sử dụng kinh phí, các loại quỹ đối với chính sách người có công với cách mạng ở các xã, thị trấn. Ngoài ra, cần phát huy vai trò giám sát của Mặt trận, các đoàn thể chính trị- xã hội, nhân dân và cả các đối tượng chính sách người có công trong việc chi trả chế độ trợ cấp thường xuyên và tiếp nhận, cấp phát quà từ các nguồn khác để có thông tin phát hiện kịp thời các sai phạm, nhằm đảm bảo sự công bằng cho các đối tượng chính sách và tạo niềm tin của nhân dân và các đối tượng chính sách đối với chính sách ưu đãi người có công của Đảng và Nhà nước. 96 Tiểu kết chương 3 Nâng cao đời sống kinh tế người có công là một trong những nội dung cơ bản, là mục tiêu chủ yếu của việc thực hiện chính sách ưu đãi của Đảng, Nhà nước, nhằm thể hiện sự ghi nhận công lao, sự hy sinh cống hiến của người có công đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ và xây dựng đất nước; thể hiện sự tri ân, đáp nghĩa của cộng đồng xã hội đối với họ. Đây không những là vấn đề trách nhiệm, nghĩa vụ mà còn là vấn đề công bằng xã hội. Để tiếp tục phát huy những thành tựu đã đạt được trong việc thực hiện chính sách đối với người có công trong những năm qua cần phải thực hiện tốt các nhóm giải pháp nêu trên, từ công tác vận động, tổ chức tuyên truyền chính sách người có công cách mạng đến kiện toàn hệ thống tổ chức bộ máy, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của cơ quan hành chính nhà nước, cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý, ban hành cơ chế thanh tra, kiểm tra việc thực hiệncác giải pháp này phải được tiến hành một cách tổng thể và có mối liên hệ với nhau với mục đích cuối cùng nâng cao hiệu lực, hiệu quả việc thực hiện công tác chính sách người có công với cách mạng trên địa bàn huyện Ba Tơ. 97 KẾT LUẬN Người có công là những người đã hy sinh xương máu, hy sinh một phần thân thể, hoặc cống hiến cả cuộc đời mình cho sự nghiệp vẻ vang của dân tộc, của Tổ quốc. Công lao của họ hết sức to lớn, sự hy sinh của họ là vô giá không gì có thể bù đắp được. Vì vậy toàn Đảng, toàn dân phải có trách nhiệm quan tâm chăm sóc đến đời sống vật chất và tinh thần của người có công. Sau khi trải qua các cuộc đấu tranh gian khổ ác liệt, đất nước ta giành được độc lập hoà bình, nhân dân được tự do làm chủ đất nước, nhưng để có được nền độc lập đó thì đã lấy đi bao nhiêu sinh mạng cùng sự hi sinh mất mát của hàng triệu chiến sỹ đồng bào đã ngã xuống, những người khác may mắn sống sót trở về thì mang trong mình nhiều thương tật hoặc đã bỏ lại một phần thân thể ngoài chiến trường. Vì vậy, sự cống hiến hy sinh vĩ đại ấy không gì có thể bù đắp được, nhân dân ta, tổ quốc ta, dân tộc ta đời đời nhớ ơn những công lao to lớn ấy. Để thể hiện sự biết ơn đó trong những năm qua kế tục và phát huy truyền thống tốt đẹp Uống nước nhớ nguồn việc chăm sóc thương, bệnh binh, gia đình liệt sỹ và người có công với cách mạng đã luôn được Đảng và Nhà nước, cùng toàn thể nhân dân ta quan tâm chăm sóc để bù đắp phần nào những khó khăn trong cuộc sống, giúp người có công tiếp tục cố gắng phấn đấu vươn lên cống hiến cho quê hương đất nước. Tuy đã được quan tâm giúp đỡ nhiều nhưng do hậu quả nặng nề của chiến tranh, nền kinh tế đất nước còn chưa phát triển cho nên đời sống người có công với cách mạng vẫn gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, việc chăm sóc thương, bệnh binh, gia đình liệt sỹ và người có công với cách mạng chưa được thực hiện đầy đủ. Do đó cần sự quan tâm, tham gia ủng hộ, giúp đỡ của toàn dân vào việc chăm sóc đời sống người có công. Thực hiện chính sách người có công với cách mạng là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và của toàn Đảng, toàn dân. Qua các thời kỳ, Đảng, Nhà 98 nước và nhân dân ta luôn dành sự quan tâm đối với người có công với nước. Chăm lo đời sống người có công vừa là nhiệm vụ chính trị quan trọng, vừa thể hiện đạo lý truyền thống Uống nước nhớ nguồn cao đẹp của dân tộc Việt Nam. Có thể nói, chính sách ưu đãi người có công với cách mạng luôn chiếm một vị trí quan trọng trong hệ thống chính sách an sinh xã hội của Đảng, Nhà nước ta. Con người Ba Tơ luôn tự hào về quá khứ và luôn tạc dạ ghi công những người đã có công lao đối với đất nước, vì nền độc lập tự do của Tổ quốc. Không chỉ tạc dạ ghi công mà điều đó đã đi vào thực tế bằng các hoạt động như phát động các phong trào Đền ơn đáp nghĩa, phong trào phụng dưỡng bà mẹ Việt Nam anh hùng Ba Tơ đã và đang phấn đấu hết sức mình để nâng cao đời sống cho người có công trên địa bàn huyện, tạo cho họ có cuộc sống ấm no hạnh phúc, giúp họ tự tin vươn lên trong cuộc sống, hoà nhập với cộng đồng, luôn là tấm gương sáng để thế hệ trẻ tự hào và noi theo. Quán triệt quan điểm, tư tưởng của Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại về công tác chăm sóc đời sống người có công với cách mạng. Trong những năm qua, phòng LĐ-TB&XH huyện đã phối hợp cùng các ban ngành tiếp tục thực hiện tổ chức thực thi chính sách chăm sóc, ưu đãi người có công với nước, chỉ đạo các cơ quan, ban ngành cùng toàn thể nhân dân tích cực tham gia các phong trào đền ơn đáp nghĩa, đã huy động được nhiều sự ủng hộ, hỗ trợ của nhiều tập thể, đơn vị, cá nhân để chăm lo tốt đời sống các gia đình có công với cách mạng, đã đạt được nhiều kết quả đáng kể. Nhờ đó mà đời sống của các gia đình chính sách đã dần dần được cải thiện và ngày càng nâng cao, nhiều gia đình đã vượt qua được khó khăn vươn lên làm giàu cho quê hương, đất nước. Nhưng bên cạnh đó vẫn còn một số hộ gia đình chính sách vẫn còn nhiều khó khăn cần tiếp tục nhận được sự quan tâm, giúp đỡ chăm sóc hơn nữa của toàn thể cộng đồng để người có công và gia đình họ vươn lên cuộc sống tiếp tục phát huy truyền thống của gia đình cách mạng, 99 làm gương cho các thế hệ sau này. Chính vì vậy, trong những năm tiếp theo, phòng LĐ-TB&XH huyện Ba Tơ cần có những giải pháp cụ thể để tiếp tục duy trì và nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác tổ chức thực hiện chính sách đối với người có công với nước, góp phần nâng cao đời sống người có công về cả vật chất và tinh thần đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của người dân. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Lê Anh (2017): Thực thi Chính sách An sinh xã hội thực trạng và giải pháp ở thành phố Đà Nẵng hiện nay, Luận án tiến sĩ. 2. Phạm Kiên Cường (2013): Tập bài giảng tổng quan về các vấn đề xã hội và chính sách xã hội, Học viện Hành Chính Quốc gia. 3. Đỗ Minh Cương và Mạc Văn Tiến (1996): Góp phần đổi mới và hoàn thiện chính sách đảm bảo xã hội ở nước ta hiện nay, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội. 4. Chính phủ (2013): Nghị định số 31/2013/NĐ-CP quy định chi tiết hướng dẫn thi hành một số Điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công 5. Chính phủ (2015): Nghị định số 20/2015/NĐ-CP quy định mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có công cách mạng. 6. Đỗ Thị Dung (2010): Đối tượng hưởng ưu đãi xã hội và một số kiến nghị, Tạp chí Luật học, (số 8), tr. 10-17. 7. Đại học Quốc gia Hà nội (2011): Giáo trình Khoa học chính sách, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà nội. 8. Đảng CSVN: Văn kiện Đại hội VI, VII, VIII, IX, X, XI, XII Nhà xuất bản sự thật Hà Nội. Nay là Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Hà Nội: 1996, 2001, 2006, 2011, 2016. 9. V.I Lênin (1976), Toàn tập, Tập 33, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva. 10. C.Mác - Ph.Ăngghen (1961), Toàn tập, Tp 8, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva. 11. Hồ Chí Minh (1995) Toàn tập, Tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 12. Hồ Chí Minh (1960), Tuyển tập, Nxb Sự thật, Hà Nội. 13. Đoàn Nam Hưng (2007): Chuyên đề chính sách xã hội, Trường ĐH KHXHNV TP Hồ Chí Minh. 14. Học viện hành chính quốc gia (2013): Công tác xã hội lý thuyết và thực hành NXB Đại học Sư phạm. 15. Nguyễn Thị Tuyết Mai (2009): Hoàn thiện pháp luật ưu đãi xã hội ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học. 16. Nguyễn Thị Mai (1997): Hỏi đáp về chế độ đối với người có công với cách mạng NXB, Chính trị Quốc gia Hà Nội. 17. Bùi Nhựt Phong (2003), Chính sách xã hội (Tài liệu lưu hành nội bộ), NXB Đại học Đà Lạt. 18. Hoàng Công Thái (2005): Thực hiện chính sách ưu đãi xã hội đối với người có công, Tạp chí Quản lý nhà nước, (số 7), tr. 28-31. 19.Từ điển tiếng Việt do Nhà xuất bản Đà Nẵng và Trung tâm Từ điển học ấn hành năm 1997, Hoàng Phê chủ biên, trang 157. 20. Hà Huy Sơn (2014): Thực hiện chính sách đãi ngộ vật chất đối vơi người có công với cách mạng ở huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh, Luận văn thạc sỹ Quản lý kinh tế. 21. UBND huyện Ba Tơ (2016): Báo cáo số 484/BC-UBND, tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện Ba Tơ. 22. UBND huyện Ba Tơ (2017): Báo cáo số 248/BC-UBND, kết quả 5 năm thực hiện chính sách người có công trên địa bàn huyện. 23. UBND huyện Ba Tơ (2016): Báo cáo số 496/BC-UBND, tổng kết công tác thi đua khen thưởng năm 2016. 24. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2012): Pháp lệnh 04/UBTVQH/2012 về việc điều chỉnh bổ sung một số điều của Pháp lệnh 26/2005 ưu đãi đối với người có công với cách mạng. 25. Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2005): Pháp lệnh 26/UBTVQH11/2005, chính sách ưu đãi người có công với cách mạng. 26. Trường Đại học Lao động – Xã hội (2005), Giáo trình Luật an sinh xã hội, Nxb Tư pháp, Hà Nội. Website: - - -

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfluan_van_thuc_hien_chinh_sach_doi_voi_nguoi_co_cong_tren_dia.pdf
Luận văn liên quan