Luận văn Thực hiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cơ qua thực tiễn tỉnh Thừa Thiên Huế

Bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất là một trong những vấn đề lớn của tỉnh Thừa Thiên Huế, và Tỉnh ủy, UBND tỉnh xác định đây là nhiệm vụ trọng tâm hàng năm của chính quyền địa phương. Cùng với sự phát triển về kinh tế - xã hội thì quyền con người được quan tâm. Đặc biệt là người dân trong các dự án thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế. Nhà nước pháp quyền phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của mình, do đó khi Nhà nước thu hồi đất, gây thiệt hại cho người dân thì phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại đó. Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước hay quyền được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất đã được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013 tại khoản 3 Điều 54. Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước khi thu hồi đất của người dân không chỉ là trách nhiệm pháp lý mà còn là trách nhiệm xã hội. Với mục đích nghiên cứu ban đầu, Chương 1 của luận văn đã tập trung xây dựng, khái niệm về thu hồi đất, sự cần thiết phải thu hồi đất, khái niệm cơ bản về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, đặc điểm, vai trò thực hiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và một số điều kiện đảm bảo thực hiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Đồng thời nghiên cứu các kinh nghiệm về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư ở Hàn Quốc, Singarpore, Đà Nẵng và TP Hồ Chí Minh. Trên cơ sở nghiên cứu cơ sở khoa học của thực hiện pháp luật bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, Chương 2 của luận văn đã đi sâu phân tích thực trạng những quy định của pháp luật hiện hành về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế, thực tiễn thực hiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với người dân bị thu hồi đất ở tỉnh Thừa Thiên Huế và chỉ rõ những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của những ưu điểm, hạn chế trong vấn đề thực hiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư qua thực tiễn tỉnh Thừa Thiên Huế. Từ đánh giá thực tiễn thực hiện các quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư qua thực tiễn tỉnh Thừa Thiên Huế, Chương 3 luận văn đã nêu ra quan điểm và đưa ra những giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở tỉnh Thừa Thiên Huế. Với một số kinh nghiệm và kiến thức còn hạn hẹp nhưng luận văn cũng đã cố gắng nghiên cứu một số vấn đề thực hiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái91 định cư khi Nhà nước thu hồi đất qua thực tiễn tỉnh Thừa Thiên Huế. Trong quá trình nghiên cứu, với sự giúp đỡ tận tình của cô giáo hướng dẫn, bản thân tác giả đã thu nhận nhiều hơn những kiến thức bổ ích, hiểu sâu hơn bản chất của vấn đề mình nghiên cứu, và đó là thành công lớn mà tác giả nhận thức được./.

pdf108 trang | Chia sẻ: yenxoi77 | Lượt xem: 784 | Lượt tải: 3download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Thực hiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cơ qua thực tiễn tỉnh Thừa Thiên Huế, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ếu đến các trách nhiệm bồi thường trong Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Để khắc phục những điểm mâu thuẫn, chồng chéo trên của pháp luật bồi thường, hỗ trợ, tái định cư nhằm tạo tiền đề thuận lợi cho hoạt động thực hiện pháp luật, thì công việc thiết yếu trước hết là tiến hành rà soát lại tất cả các văn bản pháp luật có liên quan để tiến hành loại bỏ những quy định không phù hợp. Những nội dung có ý nghĩa quan trọng trên thực tế để điều chỉnh các quan hệ xã hội (sự tác động của các quy phạm pháp luật bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đến hành vi của các chủ thể) cần được bổ sung, sửa đổi để bảo đảm sự phù hợp, hợp lý nhằm tạo sự thuận tiện cho chủ thể trong việc tuân thủ, sử dụng và trong hoạt động áp dụng pháp luật. Các văn bản hướng dẫn thi hành cũng phải dựa trên cơ sở quy định của Hiến pháp, nội dung các văn bản này còn phải bảo đảm yếu tố phù hợp, tính thống nhất với quy định của pháp luật chuyên ngành như pháp luật về: đất đai, nhà ở. Trong tương lai, pháp luật cần dự liệu một cách bao quát nhất các khả năng xảy ra cùng những chế tài tương ứng nhằm hạn chế tối đa việc ban hành các văn bản hướng dẫn. Để tạo nên sự thống nhất khi sử dụng và áp dụng pháp luật cần phải xóa bỏ sự phân chia, tách biệt trong việc ban hành các văn bản pháp luật giữa các cơ quan Bộ, ngành. Có như vậy, quy phạm pháp luật bồi thường, hỗ trợ, tái định cư mới khách quan để được xã hội tự giác chấp hành và tuân thủ nghiêm minh. Ngoài việc hoàn thiện pháp luật bồi thường, hỗ trợ, tái định cư còn bảo đảm sự đồng bộ của việc tổ chức thực hiện pháp luật, kiện toàn tổ chức hoạt động nâng cao năng lực, trách nhiệm, đạo đức công vụ của cán bộ, công chức, các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan tư pháp, cơ quan bổ trợ; từng bước chuyên môn hóa cơ quan thực hiện bồi thường; hệ thống lưu trữ, trao đổi, kết nối thông tin liên quan đến đất đai, giải quyết bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. 76 3.1.2. Thực hiện pháp luật bồi thường, hỗ trợ, tái định cư phải gắn liền với cơ chế bảo đảm thực thi pháp luật Mục đích cuối cùng của pháp luật suy cho cùng là để đưa pháp luật vào cuộc sống, làm cho các quy phạm pháp luật phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội theo chức năng của pháp luật chuyên ngành, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật. Pháp luật không thể tự thân nó tác động vào các quan hệ xã hội, tạo ra trật tự xã hội theo ý chí của Nhà nước mà phải có một cơ chế bảo đảm thực hiện và áp dụng phù hợp. Tất nhiên, cơ chế thực hiện pháp luật nói chung và thực hiện quy phạm pháp luật bồi thường, hỗ trợ, tái định cư nói riêng cần có những điều kiện nhất định. Trước hết đó là điều kiện pháp lý nhằm bảo đảm hiệu quả của pháp luật gắn liền với công tác hoàn thiện hệ thống pháp luật thực định. Thực trạng pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho thấy một trong những nguyên nhân làm cho các quy định của pháp luật chưa phát huy được hiệu quả là do chưa thiết lập được một cơ chế bảo đảm thực hiện. Các cơ chế có tính chất hỗ trợ và có sự tham gia của nhiều cơ quan chức năng như: Ban Chỉ đạo công tác giải phóng mặt bằng của các huyện, thị xã, thành phố Huế; UBND các huyện, thị xã, thành phố Huế, các cơ quan chuyên môn thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư quy định về tổ chức thực hiện là những yếu tố quan trọng góp phần thực hiện các quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư một cách hiệu quả. Khi hoàn thiện pháp luật cần có sự thống nhất giữa chế độ pháp lý đối với đất đai và chế độ pháp lý đối với tài sản gắn liền với đất. Xét dưới góc độ quan hệ sở hữu, sự khác biệt giữa chế độ pháp lý đối với đất đai và chế độ pháp lý đối với tài sản gắn liền với đất đã làm phát sinh tình trạng không thống nhất trong việc thực hiện và bảo vệ quyền tài sản của người sử dụng đất đối với những yếu tố cấu thành của một tài sản. Như vậy, hoàn thiện pháp luật về thực hiện pháp luật bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, trước hết là phải bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất, phù hợp với thực tiễn của đời sống xã hội. 77 Cùng với công tác hoàn thiện pháp luật thì cơ chế bảo đảm thực hiện pháp luật bồi thường, hỗ trợ, tái định cư còn liên quan đến: điều kiện kinh tế (thời điểm ban hành quy phạm đó); điều kiện chính trị (định hướng tạo ra sự bình đẳng giữa các chủ thể trong quan hệ bồi thường, hỗ trợ, tái định cư) cùng các điều kiện về tư tưởng, về xã hội cần được xem xét khi hoàn thiện pháp luật. Các yếu tố trên có những vai trò, ý nghĩa khác nhau nhưng đây là những yếu tố có liên quan mật thiết đến cơ chế bảo đảm thực thi pháp luật bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã giao Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan nghiên cứu đề xuất sửa đổi Luật Đất đai năm 2013. Để triển khai có kết quả điểm d, mục 8, Chỉ thị số 31/CT-TTg ngày 02/11/2016 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý, nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản công, đồng thời để bảo đảm chặt chẽ, đúng quy định của pháp luật trong quá trình xác định giá trị doanh nghiệp để thực hiện cổ phần hóa, Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan nghiên cứu đề xuất sửa đổi Luật Đất đai năm 2013, theo đó cũng sửa đổi các qui định về giá đất nông nghiệp, về thu hồi đất và bồi thường về đất, đặc biệt là đất nông nghiệp. 3.2. Giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về bồi thƣờng, hỗ trợ, tái định cƣ khi Nhà nƣớc thu hồi đất ở tỉnh Thừa Thiên Huế 3.2.1. Hoàn thiện pháp luật bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất cần phải khoa học, phù hợp với thực tiễn đời sống. Hoàn thiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất cần bảo đảm tiêu chí quan trọng về tính hợp pháp và tính hợp lý. Do đó cần chú ý những vấn đề sau đây: Thứ nhất, văn bản trung ương cần thống nhất quy định về thành lập, hoạt động của Hội đồng bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Quy định về thành phần Hội đồng bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, trong đó xác định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng. Đặc biệt, cần quy định chi tiết về vai trò của hộ dân đại diện tham gia vào Hội đồng. Trên cơ sở quy định của trung ương, UBND tỉnh Thừa Thiên Huế cần ban hành quy chế phối hợp của Hội đồng bồi thường, hỗ trợ, tái định cư với các cơ quan, 78 tổ chức khác trên tinh thần khoa học, chặt chẽ, rõ ràng và chủ động cho các tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường giải phóng mặt bằng. Bởi lẽ, Hội đồng bồi thường, hỗ trợ, tái định cư là chủ thể có vai trò quan trọng của quá trình giải phóng mặt bằng, nhưng cho đến nay tư cách pháp lý của Hội đồng này chưa thật sự rõ ràng, chưa được hướng dẫn chi tiết. Trên thực tế các Hội đồng bồi thường, hỗ trợ, tái định cư hiện nay được thành lập và hoạt động theo các quy định cũ của Luật Đất đai năm 2003. Thứ hai, văn bản trung ương cần quy định cụ thể hiệu lực của Thông báo thu hồi đất và thời gian cụ thể từ khi hoàn tất kiểm đếm đến khi phê duyệt Phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư nhằm đảm bảo chặt chẽ của trình tự và quyền lợi của người dân có đất bị thu hồi. Thứ ba, văn bản trung ương cần quy định bổ sung phương án tổng thể về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư để thông báo đến người dân khi triển khai thông báo thu hồi đất. Sửa đổi và ban hành các quy định chi tiết về lấy ý kiến phương án đào tạo nghề, hỗ trợ tìm kiếm việc làm. Trên cơ sở đó, UBND tỉnh Thừa Thiên Huế cần có quy định cụ thể về lập, thẩm định và phê duyệt phương án đào tạo, chuyển đổi nghề, hỗ trợ tìm kiếm việc làm. Bởi vì phương án đào tạo, chuyển đổi nghề, hỗ trợ tìm kiếm việc làm hiện nay được lập cùng lúc với phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư nên rất mờ nhạt. Thời gian vừa qua, UBND tỉnh Thừa Thiên Huế quan tâm đến việc mời gọi đầu tư các dự án ở địa phương nhưng lại ít chú trọng đến việc sau khi thu hồi nhiều người dân sẽ không có việc làm. Từ đó, dẫn tới tình trạng nhiều dự án đang bỏ ngỏ vấn đề tạo việc làm cho người dân. Tuy đã có quy định sau khi thu hồi đất phải tạo việc làm cho người dân, nhưng các chủ dự án thường chuyển sang bồi thường bằng tiền để người dân tự tìm việc làm. Bản thân Trung tâm phát triển quỹ đất ở các địa phương khi thực hiện dự án chỉ tập trung vào việc thu hồi, đền bù của dự án đó, còn việc làm sau khi thu hồi cho người dân chuyển qua cơ quan Sở Lao động Thương binh và Xã hội. Sở Lao động Thương binh và Xã hội lại không có quy định đặc thù nào cho đối tượng mà Nhà nước thu hồi đất. 79 Về phía người dân chủ yếu quan tâm mức bồi thường và tái định cư hơn là các vấn đề về chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm. Khi được bồi thường, người dân có tiền, nhưng thiếu kế sinh nhai, ảnh hưởng tới mưu sinh bền vững. Do đó, Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì cùng các Sở, ban, ngành cấp tỉnh cần có phương án trình UBND tỉnh Thừa Thiên Huế cần xây dựng tiêu chí đánh giá hiệu quả của dự án, trong đó có tiêu chí về đào tạo nghề, tiêu chí khả năng giải quyết việc làm, bảo đảm tái định cư cho người dân không còn chỗ ở và đánh giá tác động của dự án đối với tình hình kinh tế xã hội. Chính quyền địa phương cần hoàn thiện quy định về mức độ chi tiết đối với thông tin về phương án tái định cư và phương án hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề cũng như đồng bộ hóa việc công khai các thông tin này một cách chi tiết đầy đủ, đúng thời điểm theo quy định pháp luật. Thứ tư, cần phải xác định bản chất của thiệt hại để có những hình thức, nội dung bồi thường một cách công bằng, thỏa đáng và đầy đủ với các thiệt hại trên thực tế. Do đó, cần phải có quy định về nguyên tắc bồi thường tương xứng với tất cả các thiệt hại thay vì chỉ bồi thường “theo quy định của pháp luật” một cách chung chung như hiện nay. Thêm vào đó, cần thống nhất thuật ngữ “bồi thường” đối với tất cả các thiệt hại bao hàm trong thuật ngữ “hỗ trợ” như hiện nay. Cần phải xác định rõ nội hàm bồi thường là bồi thường mà hỗ trợ là hỗ trợ và giải thích từ ngữ để được hiểu đúng. Chẳng hạn người nông dân mất đất dẫn tới mất sinh kế, gián đoạn thu nhập; vậy thì phải là bồi thường cho việc mất sinh kế chứ không phải là hỗ trợ mất sinh kế trong một thời gian nhất định; hoặc như trường hợp hỗ trợ về giá đất nông nghiệp đối với đất nông nghiệp là đất vườn ao, đất nông nghiệp trong khu dân cư và đất nông nghiệp tiếp giáp với khu dân cư. Bản chất là bồi thường về đất, nhưng do pháp luật quy định là giá đất nông nghiệp định theo phương pháp thu nhập từ sản xuất nông nghiệp nên giá đất quá thấp, rồi áp dụng thêm khoản gọi là “hỗ trợ”. Khi đã bồi thường theo giá đất thị trường thì không còn gọi là hỗ trợ giá đất nữa. Thứ năm, việc xác định giá đất tính tiền bồi thường phải do một tổ chức thẩm định giá độc lập xác định theo quy định của pháp luật về giá, không nên quy định thẩm quyền quyết định giá đất tính tiền bồi thường cho Chủ tịch UBND cấp tỉnh vì 80 như vậy sẽ thiếu khách quan (người có trách nhiệm về việc bồi thường lại quyết định giá bồi thường). Đây là một cơ chế không tạo được tính hợp lý, trung lập và công bằng trong định giá đất, các cơ quan hành chính thường nghiêng về quyền lợi của Nhà nước hơn là nghiêng về quyền lợi của người bị thu hồi đất. Thành lập và phát triển một số các đơn vị sự nghiệp hoặc doanh nghiệp công ích thực hiện chức năng nhiệm vụ về định giá đất, tư vấn, cung cấp thông tin về giá đất và giá bất động sản. Xây dựng chương trình thống kê theo dõi cập nhật thường xuyên biến động giá đất của các khu vực, các loại đất, từng khu dân cư, từng đường phố trong đô thị ở địa phương mình. Đồng thời khuyến khích mọi thành phần kinh tế phát triển các dịch vụ tư vấn, định giá và cung cấp các thông tin về giá đất cho các đối tượng có nhu cầu. Để bảo đảm có thông tin về giá đất một cách thường xuyên, chính xác, kịp thời làm cơ sở, căn cứ thực tế phục vụ cho việc xác định giá đất của nhà nước hàng năm cũng như điều chỉnh kịp thời giá đất của nhà nước khi giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên thị trường có sự tăng giảm lớn và nhà nước áp dụng các biện pháp điều tiết bình ổn giá đất để phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế xã hội trong trường hợp cần thiết. Thực hiện chặt chẽ quy trình định giá đất theo giá thị trường do các tổ chức định giá cung cấp dịch vụ để làm căn cứ cho cơ quan nhà nước quyết định giá trị bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Khi người bị thu hồi đất không đồng ý với giá đất đã được cơ quan nhà nước quyết định mà khiếu nại cũng phải dựa vào căn cứ từ kết quả định giá của tổ chức cung cấp dịch vụ định giá. Có quy định cụ thể về cơ chế phán quyết của tổ chức trọng tài kinh tế đối với tranh chấp giá đất giữa các kết quả định giá. Thứ sáu, Nhà nước cần điều tiết hợp lý đối với các trường hợp giá trị bất động sản tăng lên sau giải phóng mặt bằng như: nhà ra mặt tiền, bị thu hồi diện tích nhỏ nhưng giá trị bất động sản tăng lên rất lớn. Thực tế hiện nay cho thấy xu thế khi có dự án đầu tư tại địa phương thì giá đất ở đó ngay lập tức được đẩy lên cao, phần chênh lệch này là do dự án đầu tư mà có. Vì thế, pháp luật chỉ nên bồi thường cho những trường hợp này khi tổng giá trị tăng lên của giá trị bất động sản nhỏ hơn thiệt hại về đất khi giải phóng mặt bằng. Ngược lại, các trường hợp giá trị bất động sản tăng cao hơn hoặc bằng thiệt hại về đất thì không phải bồi thường. 81 Bởi lẽ, giá trị của một thửa đất cụ thể ngoài kết quả đầu tư, thành quả lao động của chủ thể sở hữu, sử dụng còn bao gồm những giá trị được tạo ra từ sự đầu tư của Nhà nước vào cơ sở hạ tầng, từ sự đầu tư của các chủ thể sở hữu, sử dụng những thửa đất xung quanh. Vì thế, việc điều tiết sẽ tạo ra sự công bằng và tiết kiệm chi phí cho Nhà nước. Thứ bảy, cần quy định rõ tỷ lệ tối thiểu số tiền phải bồi thường cho người dân trong thời hạn 30 ngày theo quy định hiện hành. Địa phương cần quy định rõ trong vòng 30 ngày có quyết định thu hồi đất phải chi trả tiền bồi thường ít nhất 80% số tiền bồi thường cho người bị thu hồi đất. Mặc dù, tại Điều 93 Luật Đất đai năm 2013 đã có nhiều quy định về chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư rất tiến bộ so với các quy định trước đây. Cụ thể, trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền có hiệu lực thi hành, cơ quan, tổ chức có trách nhiệm bồi thường phải chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ cho người có đất thu hồi. Tuy nhiên, trong các văn bản hướng dẫn lại không quy định trong vòng bao nhiêu ngày phải chi trả bao nhiều phần trăm tổng số tiền bồi thường. Vì vậy, có thể phát sinh trường hợp một số dự án chi trả số tiền rất ít. Thực tế lại tồn tại vướng mắc, đó là nếu cơ quan, tổ chức chậm chi trả thì khi thanh toán tiền bồi thường, hỗ trợ cho người có đất thu hồi, ngoài tiền bồi thường, hỗ trợ theo phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì người có đất thu hồi còn được thanh toán thêm một khoản tiền bằng mức tiền chậm nộp theo quy định của Luật quản lý thuế tính trên số tiền chậm trả và thời gian chậm trả. Trong khi đó mức phạt đối với trường hợp chậm chi trả tiền bồi thường chỉ có 0,05% tổng số tiền bồi thường. Mức phạt này thậm chí còn thấp hơn mức lãi suất ngân hàng. Chính vì vậy, nhà đầu tư sẽ lợi dụng điều này để kéo dài thời gian chi trả tiền bồi thường. 3.2.2. Nâng cao nhận thức cho người dân và nâng cao năng lực cho cán bộ, cho các tổ chức xã hội có liên quan về quy trình bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 82 Việc am hiểu tường tận quy trình bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất có ý nghĩa rất lớn trong công tác giải phóng mặt bằng ở địa phương. Song hành với nghĩa vụ, quyền là yếu tố đảm bảo cho sự công bằng và lợi ích của các chủ thể trong mối quan hệ tương tác lẫn nhau. Đối với người dân có đất bị thu hồi: Thực hiện hiệu quả quyền giám sát của công dân đối với quá trình giải phóng mặt bằng. Người dân chủ động và phối hợp tốt với tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng. Sự cụ thể trong chế định quyền của người sử dụng đất sẽ giúp người sử dụng đất nhận thức được lợi ích mà họ có thể nhận được khi Nhà nước thu hồi đất, từ đó có sự nâng cao nhận thức để bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Bên cạnh đó, trong quá trình thực hiện quy trình bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất mà người có đất thu hồi cho rằng quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan tiến hành giải phóng mặt bằng là không đúng pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì họ có quyền khiếu nại theo quy định của Luật khiếu nại hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính. Đối với cơ quan nhà nước: Tạo sự công khai, minh bạch trong quá trình tiến hành bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Thực hiện đúng trình tự pháp luật là điều kiện cơ bản trong việc bảo vệ quyền lợi của người bị thu hồi đất, kết hợp hài hòa lợi ích của Nhà nước và lợi ích của người sử dụng đất. Năng lực, trách nhiệm, đạo đức công vụ của cán bộ, công chức cơ quan quản lý nhà nước về đất đai bảo đảm cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về đất đai trong đó có việc thực hiện pháp luật bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất đúng quy định của pháp luật, chính xác, kịp thời bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người dân. Do đó, cần tập trung bồi dưỡng nâng cao kiến thức nghiệp vụ, pháp luật; nâng cao tính chuyên nghiệp cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức làm công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng theo quy định của pháp luật đất đai. Nghiêm túc thực hiện đầy đủ quy trình thông báo thu hồi đất, lập và thẩm định phương án bồi 83 thường, hỗ trợ, tái định cư; công khai, minh bạch kết quả kiểm kê, phương án, cơ chế, chính sách, đơn giá áp dụng; chủ trương thu hồi đất, quyết định thu hồi đất theo quy định. Rút ngắn thời gian thẩm định điều kiện, phê duyệt phương án bồi thường và đặc biệt là thời gian chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Kiến nghị mở các lớp tập huấn cho cán bộ làm công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, UBND cấp xã và Mặt trận tổ quốc các cấp trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế. Mặt khác, cần có những buổi trao đổi, giới thiệu với người dân về trình tự, thủ tục thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư để người dân nắm rõ và tự giác thực hiện trên cơ sở đồng thuận. Cần phát huy vai trò của UBND và Trung tâm phát triển quỹ đất trong việc tiếp nhận và giải đáp các ý kiến, phản ảnh, khiếu nại, tố cáo để cung cấp thông tin đầy đủ và tháo gỡ vướng mắc ngay từ những bước đầu trong quá trình thực hiện pháp luật bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế. 3.2.3. Công khai thông tin quản lý đất đai ở tỉnh Thừa Thiên Huế Cần thực thi đầy đủ các quy định về minh bạch thông tin đất đai trên địa bàn tỉnh. Theo điểm g khoản 1 Điều 17 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 thì các thông tin sau phải được công khai: “Thông tin về danh Mục dự án, chương trình đầu tư công, mua sắm công và quản lý, sử dụng vốn đầu tư công, tình hình và kết quả thực hiện kế hoạch, chương trình, dự án đầu tư công; thông tin về đấu thầu; thông tin về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; giá đất; thu hồi đất; phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư liên quan đến dự án, công trình trên địa bàn”. Địa phương cần ban hành quy định cụ thể về trách nhiệm thông tin quy hoạch, đặc biệt là khu vực có dự án thu hồi đất cần được công bố thông qua tổ chức họp dân công bố thông tin về kế hoạch sử dụng đất, khi thông tin xác định rõ ranh giới khu đất và số hộ bị ảnh hưởng và phổ biến cả quyền, nghĩa vụ của người dân trong khu vực quy hoạch dự án. Bên cạnh đó, cần rà soát thông tin về việc công bố công khai thành viên là người dân có đất bị thu hồi, tham gia có tính đại diện trong Hội 84 đồng bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Công khai thông tin chi tiết về phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và phương án hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề. Công chức cần phải hiểu rằng cung cấp thông tin là một nghĩa vụ của công chức theo luật định, và công dân có quyền tiếp cận thông tin. Tổ chức “đường dây nóng” để tiếp nhận ý kiến của người dân phát hiện những hiện tượng vi phạm pháp luật trong quản lý, sử dụng đất đai. Cơ chế này đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường triển khai rất tốt, một số địa phương cấp tỉnh cũng đã đưa cơ chế này vào thực hiện thường xuyên. Các cấp chính quyền có trách nhiệm thông tin kịp thời về những nội dung dự án và yêu cầu của việc giải phóng mặt bằng đến các cấp ủy đảng, hệ thống chính trị trên địa bàn để phối hợp tuyên truyền, vận động, để người dân trong diện bị ảnh hưởng hiểu rõ đẩy đủ mục đích yêu cầu của Nhà nước và quyền lợi trách nhiệm của mình. Các cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức kinh tế có liên quan có các hình thức tuyên truyền thích hợp, kết hợp giữa tuyên truyền, vận động và đối thoại trực tiếp để các cấp, các ngành, các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là những người có đất thu hồi nhận thức đầy đủ sự cần thiết của việc thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng, tạo được sự đồng thuận việc thu hồi đất. Thông tin là yếu tố không thể thiếu được trong bất kỳ hệ thống thể chế nào; thông tin cho phép giám sát hệ thống quyền tài sản, quy trình cung cấp dịch vụ và hiệu quả của khu vực nhà nước; thông tin cho phép người dân và doanh nghiệp bảo vệ các quyền của mình và sử dụng dịch vụ. Bởi lẽ thông tin phục vụ cho sự phát triển. 3.2.4. Thực hiện quy chế dân chủ cơ sở Thực hiện đầy đủ quy chế dân chủ cơ sở trong các quy trình giải phóng mặt bằng, đảm bảo công khai, minh bạch, công bằng. Từ khâu lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đến khâu thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ tái định cư phải lấy ý kiến nhân dân tại khu vực triển khai dự án và các đối tượng bị tác động bởi dự án. Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007 quy định cụ thể các hình thức công khai là: Niêm yết công khai quy hoạch, phương án bồi thường tại trụ sở 85 HĐND, UBND cấp xã; công khai trên hệ thống truyền thanh của cấp xã và công khai lấy ý kiến về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Luật đất đai hiện hành chỉ quy định về việc lấy ý kiến nhân dân đối với quy hoạch sử dụng đất chi tiết đến cấp xã. Quy hoạch sử dụng đất cấp trên sẽ quyết định việc lập quy hoạch sử dụng đất ở cấp dưới, nên nếu chỉ lấy ý kiến nhân dân ở cấp thấp nhất sẽ không phát huy hết vai trò của nhân dân đối với công tác lập quy hoạch sử dụng đất. Do đó, cần thiết phải có quy định lấy ý kiến nhân dân ở mức độ, phạm vi thích hợp về quy hoạch sử dụng đất các cấp để bảo đảm quyền của nhân dân tham gia trực tiếp vào quản lý nhà nước. Quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia phải được lấy ý kiến các tổ chức, cá nhân trong cả nước. Các ý kiến đóng góp phải được tiếp thu, giải trình đầy đủ để làm cơ sở cho Quốc hội xem xét, quyết định. Đối với quy hoạch sử dụng đất của tỉnh, huyện phải lấy ý kiến của các tổ chức, cá nhân trong phạm vi địa phương chịu tác động trực tiếp của quy hoạch sử dụng đất. Trước khi trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt, các ý kiến đóng góp đối với quy hoạch sử dụng đất phải được cơ quan tổ chức lập quy hoạch giải trình, tiếp thu đầy đủ để làm cơ sở cho việc xét duyệt quy hoạch. 3.2.5. Tăng cường giám sát, theo dõi, đánh giá việc thực hiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Đây là một trong những nội dung mới của Luật Đất đai năm 2013 (Điều 199; Điều 200; Điều 201 Luật Đất đai năm 2013) so với các Luật đất đai trước đây. Các quy định này nhằm mục đích góp phần tăng cường cơ chế đảm bảo thực hiện pháp luật đất đai. Thực hiện tốt nội dung này sẽ giúp cho pháp luật đất đai về công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được chấp hành nghiêm chỉnh trên thực tế, giảm bớt được những tiêu cực cũng như khiếu nại, khiếu kiện trong lĩnh vực đất đai. Việc giám sát, theo dõi, đánh giá việc thực hiện pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất bao gồm những nội dung sau: Thứ nhất, giám sát của HĐND cấp tỉnh, Mặt trận Tổ quốc tỉnh, các tổ chức thành viên của Mặt trận về công tác bồi thường đất đai. 86 Đây là hoạt động giám sát của cơ quan dân cử và tổ chức chính trị quan trọng của nhân dân. Nội dung giám sát này bao gồm: - Hội đồng nhân dân các cấp giám sát về việc thu hồi đất và bồi thường đất đai theo quy định của Hiến pháp, Luật tổ chức HĐND và UBND. - Mặt trận tỉnh, các tổ chức thành viên của Mặt trận thực hiện quyền giám sát về công tác thu hồi đất và bồi thường đất đai theo quy định của Hiến pháp, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt nam và quy định khác có liên quan. Thứ hai, giám sát của công dân đối với việc thu hồi đất và bồi thường. Ngoài hoạt động giám sát của HĐND, Luật Đất đai năm 2013 còn quy định quyền giám sát đối với việc quản lý, sử dụng đất cho công dân như sau: - Công dân có quyền tự mình hoặc thông qua các tổ chức đại diện thực hiện quyền giám sát và phản ánh các sai phạm trong việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư. Hình thức giám sát của công dân: + Trực tiếp thực hiện quyền giám sát thông qua việc phản ánh, gửi đơn kiến nghị đến các cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết; + Gửi đơn kiến nghị đến các tổ chức đại diện được pháp luật công nhận để các tổ chức này thực hiện quyền giám sát. Tuy nhiên, trên tinh thần Luật tiếp cận thông tin, UBND tỉnh Thừa Thiên Huế cần chủ động quy định những biện pháp cụ thể về hình thức giám sát, nội dung giám sát, giới hạn của quyền giám sát và cả biện pháp đảm bảo quyền giám sát của người dân trong quá trình bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Hệ thống Mặt trận và các tổ chức thành viên cần thường xuyên tập huấn chuyên môn về công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư nhằm đảm bảo tính chính xác, hiệu quả của giám sát, phản biện. Thứ ba, thanh tra chuyên ngành đất đai là hoạt động thanh tra của cơ quan chuyên ngành đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành pháp luật về đất đai nói chung, pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư nói riêng, quy định về chuyên môn, kỹ thuật, quản lý 87 thuộc lĩnh vực đất đai. Đây không chỉ là một hoạt động quản lý nhà nước về đất đai mà nói còn là công cụ đảm bảo cho các hoạt động quản lý nhà nước khác về đất đai được thực hiện theo đúng pháp luật. Xử lý nghiêm và kịp thời các trường hợp cán bộ quản lý, cơ quan quản lý có hành vi vi phạm pháp luật hoặc không thực hiện đúng trách nhiệm của mình, có hành vi quan liêu hoặc tư lợi. Các hành vi vi phạm quy định về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư bao gồm: - Không thông báo trước cho người có đất bị thu hồi theo quy định tại Điều 67 của Luật Đất đai năm 2013; không công khai phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; - Không thực hiện đúng quy định về tổ chức lấy ý kiến đối với phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; - Thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư không đúng đối tượng, diện tích, mức bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho người có đất bị thu hồi; làm sai lệch hồ sơ thu hồi đất; xác định sai vị trí và diện tích đất bị thu hồi trên thực địa; - Thu hồi đất không đúng thẩm quyền; không đúng đối tượng; không đúng với quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. 3.2.6. Tăng cường các hoạt động tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý trong thực hiện pháp luật bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Tư vấn pháp luật là việc giải đáp pháp luật cho một tình huống cụ thể, hướng dẫn ứng xử đúng pháp luật, cung cấp dịch vụ pháp lý (khác) nhằm giúp khách hàng thực hiện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ. Tuy hoạt động tư vấn pháp luật rất khác biệt về mục đích, nội dung, phương pháp so với các hoạt động khác như: cung cấp thông tin pháp luật, tuyên truyền, phổ biến pháp luật, hay hoạt động giảng dạy pháp luật; tất nhiên, thông qua hoạt động tư vấn pháp luật, cũng góp phần tuyên truyền phổ biến, giải thích pháp luật nhằm nâng cao nhận thức và ý thức pháp luật cho người dân. Hoạt động tư vấn là cầu nối quan trọng giữa người xây dựng pháp luật, áp dụng pháp luật, thực thi pháp luật và các công dân, tổ chức – đối tượng của việc áp dụng pháp luật. 88 Vì thế, thông qua hoạt động tư vấn pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, có thể phát hiện được những lỗ hổng của pháp luật, trên cơ sở đó có những kiến nghị kịp thời để sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật. Về thực chất, hoạt động tư vấn pháp luật là một bộ phận không thể thiếu trong đời sống xã hội của một nhà nước pháp quyền. Các tổ chức tư vấn pháp luật phải là các tổ chức được thành lập và hoạt động theo đúng quy định của pháp luật. Ví dụ, như các tổ chức hành nghề luật sư bao gồm Văn phòng luật sư và Công ty luật được hoạt động theo Luật Luật sư. Các tổ chức này có trách nhiệm hướng dẫn nhân dân tổ chức thi hành đúng pháp luật, giúp nhân dân không phải kiện cáo vòng vo qua nhiều cơ quan; giúp cơ quan nhà nước giảm bớt được các khiếu kiện, tăng cường đoàn kết trong nhân dân. Hoạt động tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất cũng giúp chỉ ra cho các cơ quan thấy được các khiếm khuyết của mình trong quá trình hoạt động, trên cơ sở đó có những khắc phục kịp thời, giúp rút ra những bài học kinh nghiệm cần thiết để không ngừng nâng cao hiệu quả quản lý, tổ chức và hoạt động của cơ quan mình. Hoạt động tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất cũng giúp cho người dân hiểu được đúng bản chất của quyền và nghĩa vụ thực tế của mình, tránh tình trạng nghi ngờ thiếu tin tưởng vào hoạt động của các cơ quan nhà nước và các cơ quan bảo vệ pháp luật. 89 Tóm tắt chƣơng 3 Quan điểm thực hiện pháp luật bồi thường, hỗ trợ, tái định cư phải thực hiện đồng bộ các điều kiện bảo đảm thực hiện pháp luật và phải gắn liền với cơ chế bảo đảm thực thi pháp luật. Giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở tỉnh Thừa Thiên Huế bao gồm: - Hoàn thiện pháp luật bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. - Nâng cao nhận thức cho người dân và nâng cao năng lực cho cán bộ, cho các tổ chức xã hội có liên quan về quy trình bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. - Công khai thông tin quản lý đất đai ở tỉnh Thừa Thiên Huế. - Thực hiện quy chế dân chủ cơ sở. - Tăng cường giám sát, theo dõi, đánh giá việc thực hiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. - Tăng cường các hoạt động tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý trong thực hiện pháp luật bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. 90 KẾT LUẬN Bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất là một trong những vấn đề lớn của tỉnh Thừa Thiên Huế, và Tỉnh ủy, UBND tỉnh xác định đây là nhiệm vụ trọng tâm hàng năm của chính quyền địa phương. Cùng với sự phát triển về kinh tế - xã hội thì quyền con người được quan tâm. Đặc biệt là người dân trong các dự án thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế. Nhà nước pháp quyền phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của mình, do đó khi Nhà nước thu hồi đất, gây thiệt hại cho người dân thì phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại đó. Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước hay quyền được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất đã được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013 tại khoản 3 Điều 54. Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước khi thu hồi đất của người dân không chỉ là trách nhiệm pháp lý mà còn là trách nhiệm xã hội. Với mục đích nghiên cứu ban đầu, Chương 1 của luận văn đã tập trung xây dựng, khái niệm về thu hồi đất, sự cần thiết phải thu hồi đất, khái niệm cơ bản về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, đặc điểm, vai trò thực hiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và một số điều kiện đảm bảo thực hiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Đồng thời nghiên cứu các kinh nghiệm về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư ở Hàn Quốc, Singarpore, Đà Nẵng và TP Hồ Chí Minh. Trên cơ sở nghiên cứu cơ sở khoa học của thực hiện pháp luật bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, Chương 2 của luận văn đã đi sâu phân tích thực trạng những quy định của pháp luật hiện hành về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế, thực tiễn thực hiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với người dân bị thu hồi đất ở tỉnh Thừa Thiên Huế và chỉ rõ những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của những ưu điểm, hạn chế trong vấn đề thực hiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư qua thực tiễn tỉnh Thừa Thiên Huế. Từ đánh giá thực tiễn thực hiện các quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư qua thực tiễn tỉnh Thừa Thiên Huế, Chương 3 luận văn đã nêu ra quan điểm và đưa ra những giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở tỉnh Thừa Thiên Huế. Với một số kinh nghiệm và kiến thức còn hạn hẹp nhưng luận văn cũng đã cố gắng nghiên cứu một số vấn đề thực hiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái 91 định cư khi Nhà nước thu hồi đất qua thực tiễn tỉnh Thừa Thiên Huế. Trong quá trình nghiên cứu, với sự giúp đỡ tận tình của cô giáo hướng dẫn, bản thân tác giả đã thu nhận nhiều hơn những kiến thức bổ ích, hiểu sâu hơn bản chất của vấn đề mình nghiên cứu, và đó là thành công lớn mà tác giả nhận thức được./. 92 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Ban chấp hành Trung ương (2012), Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 31/10/2012 Hội nghị Trung ương 6 khóa XI về tiếp tục đổi mới chính sách đất đai trong thời kỳ đấy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp hiện đại, Hà Nội. 2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2012), Báo cáo thực hiện chính sách, pháp luật trong giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân đối với các Quyết định hành chính về đất đai, Hà Nội. 3. Bộ Tài chính (2007), Công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng tại Thành phố Hồ Chí Minh, Tài liệu phục vụ Hội nghị hội thảo, TP. Hồ Chí Minh. 4. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2009), Tài liệu phục vụ Hội nghị triển khai Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ quy định về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, Đà Nẵng. 5. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2010), Kinh nghiệm về công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng của một số nước trên thế giới, Tài liệu phục vụ Hội nghị hội thảo, Hà Nội. 6. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2012), Báo cáo tổng kết thi hành Luật Đất đai năm 2003 và định hướng sửa đổi Luật Đất đai, Báo cáo số 193/BC-BTNMT ngày 06/9/2012, Hà Nội. 7. Bộ Tài Nguyên và Môi trường (2014), Thông tư số 36/2014/TT-BTNMT ngày 30/6/2014 quy định phương pháp định giá đất; trình tự, thủ tục xây dựng, điều chỉnh bảng giá đất; định giá đất cụ thể và tư vấn xác định giá đất, Hà Nội. 8. Bộ Tài Nguyên và Môi trường (2014), Thông tư số 37/2014/TT-BTNMT ngày 30/6/2014 quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, Hà Nội. 9. Bộ Tài Nguyên và Môi trường (2016), Những vấn đề trọng tâm trong thanh tra, kiểm tra việc thi hành luật đất đai (năm 2016-2017), Tài liệu tập huấn, Hà Nội. 93 10. Chính phủ (2014), Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai, Hà Nội. 11. Chính phủ (2014), Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định phương pháp định giá đất, khung giá đất, bảng giá đất, giá đất cụ thể và tư vấn xác định giá đất, Hà Nội. 12. Chính phủ (2014), Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, Hà Nội. 13. Chính phủ (2014), Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất, Hà Nội. 14. Đại Học Luật Hà Nội (2009), Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội. 15. Đại Học Luật TP. Hồ Chí Minh (2016), Giáo trình Luật Đất đai, Nxb Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, TP. Hồ Chí Minh. 16. Đỗ Phương Linh (2012), Pháp luật về hỗ trợ, tái định cư người có đất bị thu hồi trong giải phóng mặt bằng – Thực trạng và giải pháp hoàn thiện, Luận văn thạc sỹ, Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. 17. Đỗ Văn Đại, Nguyễn Trương Tín (2014), Pháp luật Việt Nam về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, Sách chuyên khảo, Nxb Chính trị Quốc gia. 18. Học viện Hành chính quốc gia (2000), Giáo trình Quản lý hành chính nhà nước, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 19. Học viện Hành chính quốc gia (2003), Hành chính công dùng cho nghiên cứu học tập và giảng dạy sau đại học, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội. 20. Học viện Hành chính quốc gia (2008), Giáo trình Hành chính đại cương, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội. 21. Lưu Quốc Thái (2007), Yếu tố thị trường trong quan hệ đất đai giữa Nhà nước và người sử dụng đất trong thị trường quyền sử dụng đất sơ cấp, Tạp chí Nhà nước và Pháp Luật, số 11(235), tr. 66 - 80. 22. Lưu Quốc Thái (2009), Pháp luật về thị trường quyền sử dụng đất – Thực trạng và hướng hoàn thiện, Luận án tiến sĩ Luật học. 94 23. Lưu Quốc Thái (2016), Những vấn đề pháp lý về thị trường quyền sử dụng đất Việt Nam, Nxb Hồng Đức, Hội Luật Gia Việt Nam, TP.Hồ Chí Minh. 24. Nguyễn Đắc Vui (2016), Hoàn thiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế, Luận văn thạc sỹ, Học viện Hành chính Quốc gia, Thừa Thiên Huế. 25. Ngân hàng thế giới (2011), Cơ chế Nhà nước thu hồi đất và chuyển dịch đất đai tự nguyện ở Việt Nam, Hà Nội. 26. Ngân hàng thế giới (2014), Công khai thông tin quản lý đất đai ở Việt Nam, Báo cáo tổng hợp, Nxb Hồng Đức, Hà Nội. 27. Nguyễn Phúc Thiện (2014), Thực hiện pháp luật về thu hồi đất đối với các dự án phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sỹ Luật học. 28. Nguyễn Quang Tuyến (2009), Vấn đề lý luận xung quanh khái niệm bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, Tạp chí Luật học số 1(2009), tr. 35 - 42. 29. Nguyễn Quang Tuyến (2013), Kinh nghiệm của một số nước về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, Bản tin Thông tin Khoa học Lập pháp số 01 (2013). 30. Nguyễn Quang Tuyến (2014), Tìm hiểu về Luật Đất đai năm 2013, Nxb Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội. 31. Phạm Thu Thủy (2014), Pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ Luật học, Đại Học Luật Hà Nội. 32. Phan Trung Hiền (2008), Pháp luật về đền bù và giải phóng mặt bằng ở Việt Nam – Cân bằng giữa lợi ích Nhà nước và lợi ích người dân, Tạp chí khoa học 2008:10 109 117, Trường Đại học Cần Thơ. 33. Phan Trung Hiền (2013), Những giải pháp nhằm thực thi các quy định pháp luật về tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, Tạp chí Khoa học Số 26(2013), tr 75 - 82, Trường Đại Học Cần Thơ. 34. Phan Trung Hiền (2016), Xác định thiệt hại và bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 10(2016), tr 43 - 52. 35. Phan Trung Hiền (2017), Xác định giá đất để tính bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 1 + 2(2017), tr. 98 - 108 95 36. Quốc hội (2005), Bộ luật dân sự năm 2005, ngày 14/6/2005. 37. Quốc hội (2015), Bộ luật dân sự năm 2015, ngày 25/11/2015. 38. Quốc hội (1980), Hiến pháp năm 1980, ngày 18/2/1980. 39. Quốc hội (1992), Hiến pháp năm 1992, ngày 15/4/1992. 40. Quốc hội (2013), Hiến pháp năm 2013, ngày 28/11/2013. 41. Quốc hội (2015), Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, ngày 22/6/2015. 42. Quốc hội (1993), Luật Đất đai năm 1993, ngày 14/7/1993. 43. Quốc hội (2003), Luật Đất đai năm 2003, ngày 26/11/2003. 44. Quốc hội (2013), Luật Đất đai năm 2013, ngày 29/11/2013. 45. Quốc hội (2016), Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, ngày 06/4/2016. 46. Quốc hội (2009), Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009, ngày 18/6/2009. 47. Quốc hội (2015), Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015, ngày 19/6/2015. 48. Quốc hội (2015), Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, ngày 19/6/2015. 49. Trần Đức Phương (2014), Để chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đi vào cuộc sống, Tạp chí Kinh tế và Dự báo số 18(2014), tr. 5. 50. Trần Phương Liên (2013), Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ đối với hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp – Thực trạng và hướng hoàn thiện, Luận văn thạc sỹ. 51. Thủ tướng Chính phủ (2009), Quyết định số 86/2009/QĐ-TTg phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2020, ngày 17/6/2009. 52. Thủ tướng Chính phủ (2016), Chỉ thị số 31/CT-TTg về tăng cường quản lý, nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản công, ngày 02/11/2016. 53. Ủy ban thường vụ Quốc hội (2007), Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn năm 2007, ngày 06/4/2007. 96 54. Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (2009), Quyết định số 45/2009/QĐ- UBND ngày 22/12/2009 Quy định về giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế, Thừa Thiên Huế. 55. Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (2010), Báo tổng kết công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng 5 năm 2005- 2009, phương hướng nhiệm vụ năm 2010, Thừa Thiên Huế. 56. Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (2011), Quyết định số 18/2011/QĐ- UBND ngày 01/6/2011 ban hành quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế, Thừa Thiên Huế. 57. Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (2012), Báo cáo sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011-2015) tỉnh Thừa Thiên Huế, Thừa Thiên Huế 58. Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (2014), Quyết định số 46/2014/QĐ- UBND ngày 05/8/2014 ban hành quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế, Thừa Thiên Huế. 59. Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (2014), Quyết định số 64/2014/QĐ- UBND ngày 25/9/2011 ban hành quy định về trình tự, thủ tục thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế- xã hội vì lợi ích quốc gia công cộng trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế, Thừa Thiên Huế. 60. Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (2014), Quyết định số 75/2014/QĐ- UBND ngày 01/6/2011 ban hành Bảng giá đất đất trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế áp dụng trong giai đoạn 5 năm (2015 - 2019), Thừa Thiên Huế. 61. Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (2014), Tư liệu hiện trạng kinh tế - xã hội, điều kiện tự nhiên, môi trường, khí hậu, thủy văn tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2014, Thừa Thiên Huế. 62. Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa thiên Huế (2015), Văn kiện Đại hội tỉnh Đảng bộ Thừa Thiên Huế lần thứ XV, Thừa Thiên Huế. 63. Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (2015), Tình hình triển khai thi hành Luật Đất đai trên địa bàn tỉnh và những nội dung đề xuất cần sửa đổi, bổ sung 97 trong các văn bản quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai, Báo cáo số 34/BC- UBND, Thừa Thiên Huế. 64. Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (2016), Chỉ thị số 12/CT-UBND Nâng cao năng lực, chất lượng công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, ngày 23/5/2016, Thừa Thiên Huế. 65. Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (2016), Năm 2017: Thực hiện tốt 6 nhiệm vụ trọng tâm công tác đền bù, giải phóng mặt bằng, https://www.thuathienhue.gov.vn/vi-vn/Tin-tuc-su-kien/cid/2BEA0540-FCA4- 4F81-99F2-6E8848DC5F2F/newsid/53DAEC18-8B27-471B-836E- A6E400BCC6C3 [Truy cập ngày 14/2/2017]. 66. Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (2016), Báo cáo số 223/BC-STNMT- KH Tình hình thực hiện nhiệm vụ năm 2016 và kế hoạch năm 2017, Thừa Thiên Huế. P1 PHỤ LỤC CÁC NỘI DUNG THAM KHẢO LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN ĐÃ ĐƢỢC CÔNG BỐ PHỤ LỤC 1: KINH NGHIỆM VỀ BỒI THƢỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƢ Ở HÀN QUỐC Ở Hàn Quốc, mặc dù đất đai là sở hữu tư nhân nhưng trong nhiều trường hợp, Nhà nước có quyền thu hồi đất của người dân. Các trường hợp đó là: thu hồi đất để phục vụ mục đích quốc phòng - an ninh; dự án đường sắt, đường bộ, sân bay, đập nước thủy điện, thủy lợi; dự án xây dựng trụ sở cơ quan nhà nước, nhà máy điện, viện nghiên cứu; dự án xây dựng trường học, thư viện, bảo tàng; dự án xây dựng nhà, xây dựng cơ sở hạ tầng trong khu đô thị mới, khu nhà ở để cho thuê hoặc chuyển nhượng. Việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất được thực hiện theo phương thức tham vấn và cưỡng chế. Phương thức tham vấn được thực hiện thông qua việc các cơ quan công quyền thỏa thuận với người bị thu hồi đất về phương án, cách thức bồi thường. Trong trường hợp tham vấn bị thất bại, Nhà nước phải sử dụng phương thức cưỡng chế. Theo thống kê của Cục Chính sách đất đai Hàn Quốc, ở Hàn Quốc có 85% tổng số các trường hợp Nhà nước thu hồi đất thực hiện theo phương thức tham vấn; chỉ có 15% các trường hợp thu hồi đất phải sử dụng phương thức cưỡng chế. Tổ chức Nhà ở Quốc gia (một tổ chức xã hội đứng ra bảo đảm trách nhiệm cung cấp nhà ở tại đô thị, hoạt động như một nhà đầu tư độc lập) được phép thu hồi đất theo quy hoạch để thực hiện các dự án xây nhà ở. Nhà nước bồi thường khi thu hồi đất trên cơ sở các nguyên tắc sau: Thứ nhất, việc bồi thường do chủ dự án thực hiện. Thứ hai, chủ đầu tư phải thực hiện bồi P2 thường đầy đủ cho chủ đất và cá nhân liên quan trước khi tiến hành xây dựng các công trình công cộng. Thứ ba, thực hiện bồi thường cho chủ đất phải bằng tiền mặt, sau đó mới bằng đất hoặc nhà ở xã hội. Thứ tư, thực hiện bồi thường áp dụng cho từng cá nhân. Về thời điểm xác định giá bồi thường, đối với trường hợp thu hồi đất thông qua hình thức tham vấn thì thời điểm xác định giá bồi thường là thời điểm các bên đạt được thỏa thuận đồng thuận về phương án bồi thường. Đối với trường hợp thu hồi đất thông qua hình thức cưỡng chế thì thời điểm xác định giá bồi thường là thời điểm cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định cưỡng chế. Việc xác định giá bồi thường không phải do chủ dự án thực hiện mà giao cho ít nhất hai cơ quan định giá độc lập (hoạt động theo hình thức doanh nghiệp hoặc công ty cổ phần) thực hiện. Trường hợp chủ đất yêu cầu xác định lại giá bồi thường thì chủ dự án lựa chọn thêm một tổ chức tư vấn định giá đất thứ ba. Nếu giá trị định giá cao nhất và thấp nhất chênh lệch 10% hoặc nhiều hơn, sẽ phải có chuyên gia định giá khác thực hiện tiếp việc định giá, và từ đó, mức bồi thường sẽ được tính toán lại. Giá đất được lựa chọn làm căn cứ xác định bồi thường là giá trung bình cộng của kết quả định giá của hai hoặc ba cơ quan dịch vụ tư vấn về giá đất độc lập được chủ thực hiện dự án thuê định giá. Đối với đất nông nghiệp, nếu bị thu hồi trước khi thu hoạch hoa màu, giá trị hoa màu đó sẽ được bồi thường. Khoản bồi thường được tính dựa trên số hoa màu thực tế được trồng tại thời điểm dự án được công bố và đủ để hỗ trợ người nông dân phục hồi lại việc sản xuất của mình. Khoản bồi thường được tính bằng 2 lần tổng thu nhập hàng năm từ sản xuất nông nghiệp. P3 PHỤ LỤC 2: KINH NGHIỆM VỀ BỒI THƢỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƢ Ở SINGAPORE Ở Singapore mức đền bù thiệt hại căn cứ vào giá trị đất của chủ sở hữu. Các chi phí tháo dỡ, di chuyển hợp lý, chi phí mua vật tư thay thế, thuế sử dụng nhà mớiđều được tính toán cân đối trong mức đền bù. Người dân có thể thuê tổ chức định giá tư nhân để định giá lại và chi phí do Nhà nước chịu. Kinh nghiệm xác định giá đền bù cho thấy, Nhà nước Singapore đền bù giá thấp hơn giá hiện tại, vì giá đất hiện tại đã bao gồm giá trị gia tăng do Nhà nước đầu tư hạ tầng, do đó Nhà nước điều tiết một phần giá trị đã đầu tư. Nhà nước không đáp ứng yêu cầu đền bù theo giá trong tương lai. Ngoài ra, các yếu tố sau đây cũng được xem xét khi đền bù: giá trị đất gia tăng do công trình công cộng đi ngang qua, Nhà nước sẽ điều tiết; ngược lại công trình công cộng ảnh hưởng đến thửa đất thì Nhà nước sẽ tăng đền bù; công trình cắt manh mún thửa đất hiện hữu, chi phí để hoàn tất thủ tục cho thửa đất còn lại do Nhà nước đảm nhiệm. Tuy nhiên, cũng có những yếu tố không chấp nhận khi tính mức đền bù là: đòi được thưởng để di dời sớm hoặc muốn ở lại chỗ cũ nên đòi tăng đền bù mới chịu đi; đòi bồi thường vào việc đầu tư thêm vào căn nhà, sau khi đã có quyết định giải tỏa, trừ khi căn nhà đã xuống cấp cần được sơn sửa lại. Trong vòng 2 năm công bố giải tỏa mà cố ý xây dựng nhà để đòi đền bù; đòi đền bù theo giá đã mua; hoạt động kinh doanh nhưng không có giấy phép, không có căn cứ pháp lý để đền bù; tổ chức, cá nhân sử dụng đất đai bất hợp pháp. Phương thức thanh toán khi đền bù là trả trước 20% khi chủ nhà thực hiện việc tháo dỡ, phần còn lại trả khi hoàn tất việc di dời. Hộ gia đình có nhu cầu cấp bách về nhà ở, sẽ thu xếp cho thuê với giá phù hợp. P4 Nhà nước Singapore còn có các chính sách hỗ trợ khác đảm bảo quyền lợi của chủ đất phải di dời. Trong quá trình đền bù, chủ đất có quyền khiếu kiện về giá trị đền bù. Hội đồng đền bù sẽ là tổ chức quyết định giá trị đền bù đối với người khởi kiện. Nếu chủ đất vẫn không đồng ý có thể đưa vụ việc lên Tòa Thượng thẩm. Ở Singapore không có trường hợp người nông dân tự chuyển nhượng đất đai cho nhà đầu tư để xây dựng các khu dân cư như ở Việt Nam. Lý do là thời gian sử dụng đất đai khác nhau, Nhà nước không cho phép. Mọi việc làm thay đổi mục đích sử dụng phải thông qua cơ quan nhà nước. Nhà nước đóng vai trò trung gian giữa người sử dụng đất và chủ đầu tư, tránh những tiêu cực trong việc đền bù giải tỏa và không để ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện dự án theo quy hoạch nói riêng và phát triển kinh tế nói chung.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfluan_van_thuc_hien_phap_luat_ve_boi_thuong_ho_tro_tai_dinh_c.pdf
Luận văn liên quan