Luận văn Thực hiện pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội

Tuy nhiên trong bối cảnh đất nước bước sang giai đoạn phát triển mới, tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế diễn ra ngày càng sâu rộng, việc dịch chuyển dân cư trong nước và quốc tế ngày càng gia tăng, công tác đăng ký và quản lý hộ tịch đã bộc lộ nhiều bất cập, hạn chế. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về hộ tịch gồm Nghị định, Thông tư hướng dẫn, và mới có Luật Hộ tịch năm 2014 nên việc thi hành trên thực tế đang gặp nhiều khó khăn. Phương thức đăng ký hộ tịch vẫn chủ yếu là phương pháp thủ công, ghi93 chép bằng tay, người dân phải xuất trình nộp nhiều loại giấy tờ khi đăng ký hộ tich, gây khó khăn, phiền hà. Thủ tục hành chính trong đăng ký hộ tịch còn chưa triệt để, chưa bảo đảm tiện lợi cho người đăng ký hộ tịch. Công tác quản lý, lưu trữ hồ sơ, sổ sách, thông kê hộ tịch còn nhiều hạn chế, bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu tra cứu, sử dụng của người dân, chưa đóng góp nhiều cho công cuộc xây dựng, phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Những bất cập, hạn chế trên đây vừa ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, vừa ảnh hưởng đến chất lượng đăng ký và quản lý hộ tịch, làm giảm hiệu quả công tác quản lý dân cư, quản lý nhà nước và xã hội. Do đó, để giải quyết những khó khăn trong công tác quản lý hộ tịch thì vấn đề quan trọng hàng đầu là phải xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho công tác quản lý hộ tịch trong giai đoạn trước mắt và lâu dài. Quá trình thực hiện pháp luật về hộ tịch cũng đã giúp chúng ta đúc rút được những kinh nghiệm quý báu, làm cơ sở để đề ra phương hướng, cùng với những giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao hơn nữa vai trò, chất lượng, hiệu quả thực hiện pháp luật về hộ tịch của các chủ thể. Các giải pháp nhằm đảm bảo và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về hộ tịch bao gồm giải pháp về nâng cao nhận thức, phát huy vai trò các chủ thể, góp phần đảm bảo về kinh tế và thể chế thành pháp luật về hộ tịch. Trên cơ sở nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa của việc thực hiện pháp luật về hộ tịch đối với sự phát triển của địa phương và đất nước, luận văn đã nghiên cứu toàn diện quá trình triển khai, những kết quả đạt được cũng như những tồn tại, hạn chế trong việc thực hiện pháp luật về hộ tịch trên địa bàn huyện Mê Linh và đề xuất hệ thống các giải pháp để khắc phục những tồn tại, hạn chế đó, góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh nói riêng và trên địa bàn cả nước nói chung. Tuy nhiên, nhận thức và thực hiện pháp luật về hộ tịch hiện nay là một vấn đề rất mới và phức tạp, phụ thuộc nhiều vào điều kiện đặc thù của từng địa phương và trong phạm vi luận văn mới chỉ có điều kiện nghiên cứu, đánh giá thực trạng tình hình và những vấn đề xảy ra trong thực hiện pháp luật về hộ tịch ở mô hình một huyện, đề ra một số giải pháp pháp lý chung ở tầm vĩ mô và94 những giải pháp thực hiện cụ thể áp dụng cho huyện Mê Linh mà chưa có điều kiện nghiên cứu sâu và rộng hơn. Vì vậy, để nâng cao hơn nữa hiệu quả thực hiện pháp luật về hộ tịch, làm cho pháp luật về hộ tịch thực sự đi vào cuộc sống, cần có những công trình nghiên cứu ở cấp độ cao hơn, sâu sắc và khái quát hơn về từng mảng vấn đề trong thực hiện pháp luật về hộ tịch, về quá trình thực hiện pháp luật hộ tịch của các nhóm địa phương có điều kiện tương đồng và đặt trong tương quan so sánh với các địa phương khác trong nước và kết quả thực hiện chung cả nước, từ đó sẽ có cái nhìn tổng quát, toàn diện, chính xác và đầy đủ hơn.

pdf108 trang | Chia sẻ: yenxoi77 | Lượt xem: 602 | Lượt tải: 4download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Thực hiện pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
tịch... đảm bảo tính đồng bộ cuả hệ thống pháp luật. Luật Hộ tịch ra đời còn có ý nghĩa nhân văn sâu sắc ở chỗ, nó tạo cho mọi người dân những cơ hội ngang nhau trong việc thụ hưởng tốt nhất dịch vụ đăng ký hộ tịch trong một nền hành chính phục vụ. Luật Hộ tịch không chỉ thiết lập các nguyên tắc cơ bản của hoạt động quản lý hộ tịch mà còn ấn định những cách thức, thủ tục để các cơ quan hành chính phục vụ quyền đăng ký hộ tịch của người dân, sẽ là biểu hiện cao độ của việc chăm lo chu đáo đến quyền lợi của người dân, sẽ loại trừ được những nhũng nhiễu mang tính ban phát, tiêu cực trong đăng ký hộ tịch. 3.2.2. Kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý và nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ, công chức thực hiện đăng ký và quản lý hộ tịch Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức bộ máy quản lý hộ tịch trong hệ thống quản lý nhà nước ở cơ sở, đồng thời xây dựng mối quan hệ đoàn kết, phối hợp giữa các tổ chức dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, chi bộ cơ sở, đổi mới nội dung và phương thức hoạt động hướng vào phục vụ dân, sát dân, được dân tin cậy. Thực hành dân chủ thực sự trong các tổ chức quản lý hộ tịch của hệ thống 77 hành chính ở địa phương, theo nguyên tắc tập trung dân chủ và phát huy quyền làm chủ của nhân dân trên cơ sở thực hiện dân chủ trực tiếp, phát huy quyền dân chủ đại diện. Quy định cụ thể việc thực hiện quyền của dân giám sát tổ chức và cán bộ công chức Tư pháp – Hộ tịch ở cơ sở. Cùng với việc kiện toàn tổ chức bộ máy thì xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức và viên chức là một trong những mục tiêu quan trọng trong công tác cải cách hành chính nói chung và trong lĩnh vực hộ tịch nói riêng của huyện Mê Linh. Ý thức được điều đó, nhiều năm qua, ngành Tư pháp đã tích cực tham mưu giúp Thành ủy, UBND thành phố hoàn thiện thể chế liên quan đến đội ngũ cán bộ, công chức Tư pháp hộ tịch; thường xuyên quan tâm thực hiện các giải pháp nhằm ngày càng nâng cao chất lượng, trách nhiệm của đội ngũ này, nhất là trong điều kiện hiện nay, khi mà công chức Tư pháp - Hộ tịch được giao phụ trách tới hơn 40 thủ tục hành chính, nhưng theo biên chế mỗi xã chỉ có từ một đến hai công chức nên thường xuyên bị quá tải công việc. Theo đó, ở nhiều xã, phường, thị trấn biên chế đội ngũ công chức Tư pháp - Hộ tịch đã được bổ sung; được đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, nâng cao trình độ để vừa đáp ứng yêu cầu đăng ký “kịp thời, đầy đủ, chính xác” các sự kiện hộ tịch, vừa thực hiện các nhiệm vụ khác được phân công, đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Nhờ vậy, thời gian qua, công tác đăng ký và quản lý hộ tịch trên địa bàn huyện Mê Linh đã đáp ứng tốt nhu cầu đăng ký các sự kiện hộ tịch của cá nhân. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực kể trên, so với yêu cầu nhiệm vụ thì lực lượng công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã, phường, thị trấn trên địa bàn huyện Mê Linh vẫn còn nhiều hạn chế như: Đội ngũ công chức Tư pháp - Hộ tịch còn mỏng, chuyên môn nghiệp vụ chưa đồng đều, một số ít cán bộ chưa đạt chuẩn về trình độ, chủ yếu mới qua tập huấn đào tạo, chế độ chính sách cho đội ngũ cán bộ tư pháp hộ tịch cấp xã, phường, thị trấn còn thấp. Bên cạnh đó, cán bộ Tư pháp - Hộ tịch hiện còn phải kiêm nhiệm cùng lúc rất nhiều hoạt động, tác nghiệp thuộc nhiều lĩnh vực khác 78 như lao động thương binh xã hội, địa chính – xây dựng, đặc biệt gần đây công chức Tư pháp hộ tịch còn phải thực hiện đăng ký bảo hiểm và hộ khẩu cho trẻ em dưới 06 tuổi theo Thông tư 05/2015/TTLT-BTP-BCA-BHYT Thông tư liên tịch hướng dẫn thực hiện liên thông các thủ tục hành chính về đăng ký khai sinh, đăng ký thường trú, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 06 tuổi. Do quá tải công việc, công chức Tư pháp - Hộ tịch không có thời gian nghiên cứu, nâng cao trình độ chuyên môn. Việc thực thi công vụ do đó vừa thiếu tính chuyên nghiệp, vừa không đáp ứng kịp thời yêu cầu của người dân. Chẳng hạn, khi giải quyết các việc về hộ tịch chỉ dựa vào giấy tờ mà không có xác minh, đặc biệt là việc giải quyết yêu cầu về thay đổi, cải chính hộ tịch, đăng ký lại khai sinh cho cán bộ, công chức không có xác minh tại cơ quan người đó công tác nên đã dẫn đến sai sót trong nội dung đăng ký. Vẫn còn tình trạng nhầm lẫn giữa cải chính và thay đổi hộ tịch. Nhiều hồ sơ thay đổi, cải chính, bổ sung hộ tịch chưa đủ căn cứ Việc đăng ký hộ tịch không đúng thẩm quyền cũng như dễ dãi trong việc cấp giấy tờ hộ tịch nhất là việc cấp bản sao không căn cứ vào sổ gốc vẫn còn diễn ra ở một số địa phương. Nhiều trường hợp nội dung trong bản chính Giấy khai sinh khác với nội dung đã ghi trong sổ gốc; thậm chí có những trường hợp một người được cấp 2 bản chính Giấy khai sinh với nội dung khác nhau, hoặc có trường hợp đã đăng ký lại khai sinh vẫn tiếp tục đăng ký lại do không có dữ liệu đăng ký hộ tịch để kiểm soát Do đó, để nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức Tư pháp - Hộ tịch trên địa huyện Mê Linh, trong thời gian tới cần phải thực hiện các giải pháp sau: Thứ nhất, để đảm bảo ổn định và nâng cao năng lực của đội ngũ công chức Tư pháp - Hộ tịch thì trên cơ sở tách riêng công tác hộ tịch khỏi công tác Tư pháp khác, theo hướng chuyên nghiệp hóa chức danh Hộ tịch viên để bảo đảm nâng cao chất lượng và trách nhiệm đăng ký hộ tịch, đáp ứng được mô hình đăng ký hộ tịch ở cấp xã, đảm bảo thực hiện kịp thời, đúng quy định các hoạt động đăng ký hộ tịch. Thứ hai, tiếp tục củng cố, kiện toàn đội ngũ cán bộ, công chức Tư pháp - Hộ tịch các cấp, đủ về số lượng và tiêu chuẩn nghiệp vụ tạo bước chuyển biến mạnh mẽ về tổ chức, cán bộ; chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao năng 79 lực, chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, tư pháp hộ tịch; tăng cường cơ sở vật chất, tạo điều kiện cho đội ngũ cán bộ, công chức Tư pháp - Hộ tịch xã, phường, thị trấn, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; góp phần hoàn thành nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, cải cách tư pháp, xây dựng chính quyền cơ sở vững mạnh. Thứ ba, đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, kỹ năng nghiệp vụ công chức Tư pháp - Hộ tịch. Tăng cường giáo dục, rèn luyện chính trị, tư tưởng, thái độ phục vụ nhân dân, tuân thủ đạo đức nghề nghiệp. Công chức Tư pháp - Hộ tịch và những người có thẩm quyền giải quyết công việc của dân phải là những người gương mẫu, tự giác trong chấp hành pháp luật, phải thực sự là những người công tâm, chuẩn xác, làm việc khoa học, mang tính chuyên nghiệp cao. Đối với những vùng điều kiện đi lại khó khăn hoặc vì lý do khách quan khác, công chức Tư pháp - Hộ tịch phải tìm đến dân chứ không phải ngồi chờ dân đến. Phải biết lắng nghe ý kiến góp ý, trao đổi của dân. Phải tạo điều kiện thuận lợi cho người dân khi thực hiện quyền của mình nói chung và trong lĩnh vực đăng ký, quản lý hộ tịch nói riêng, phải thực sự là “công bộc” của dân. Có như vậy mới thực sự làm cho dân tin, thu hút đông đảo nhân dân tham gia quản lý hộ tịch, hiệu quả quản lý Nhà nước về hộ tịch mới được nâng cao. Thứ tư, chú trọng công tác tuyển dụng cán bộ, từng bước bố trí, sắp xếp để tiến tới 100% công chức Tư pháp – Hộ tịch đạt chuẩn, trong đó 80-90 % cán bộ, công chức tư pháp hộ tịch ở các xã, phường, thị trấn có trình độ đại học. Nội dung thi tuyển ngoài hiểu biết pháp luật nói chung, cần coi trọng kiểm tra, sát hạch về kỹ năng xử lý tình huống. Mặc dù hướng đến tin học hóa quản lý hộ tịch nhưng cũng cần xem xét chữ viết đẹp, rõ ràng cũng là một trong những tiêu chuẩn của người dự tuyển. Việc tuyển dụng phải đảm bảo nguyên tắc bình đẳng, khách quan, công khai, khuyến khích nhưng cần đảm bảo cạnh tranh lành mạnh. Trẻ hóa đội ngũ công chức Tư pháp, hiện nay trên địa bàn huyện Mê Linh, công chức Tư pháp – Hộ tịch đa số là lớn tuổi, trình độ tin học kém, do đó gặp nhiều khó khăn khi thực hiện phần mềm đăng ký hộ tịch và sắp tới sẽ thực hiện đăng ký hộ tịch trực tuyến thì sẽ càng gặp khó khăn. Bởi vậy, cần tuyển dụng đội ngũ cán bộ trẻ có trình độ tin học là rất quan trọng. 80 Thứ năm, tăng cường cơ sở vật chất, phương tiện làm việc, phấn đấu 100% công chức Tư pháp - Hộ tịch xã, phường thị trấn có máy tính nối mạng để thực hiện thống nhất quản lý chuyên ngành bằng công nghệ thông tin. Thứ sáu, để kịp thời động viên, khuyến khích công chức Tư pháp - Hộ tịch ở cơ sở phát huy được khả năng và trí tuệ phục vụ công việc được giao, Nhà nước cần có những chính sách đãi ngộ cho phù hợp, bảo đảm quyền lợi cho cán bộ làm công tác Tư pháp - Hộ tịch. Hiện nay, đầu việc mà công chức Tư pháp – Hộ tịch phải đảm nhiệm là rất nhiều, cộng thêm thủ tục đăng ký bảo hiểm và nhập sinh cho trẻ em dưới 06 tuổi là rất vất, tuy nhiên chế độ để công chức phục vụ hoạt động này chưa rõ ràng, một số địa phương có, một số khác lại không. Thứ bảy, hàng năm UBND huyện cần tiến hành đánh giá, phân loại cán bộ Tư pháp - Hộ tịch; kiên quyết đưa ra khỏi vị trí công tác những cán bộ, công chức Tư pháp - Hộ tịch có năng lực chuyên môn yếu, thiếu tinh thần trách nhiệm, phục vụ nhân dân kém, vi phạm đạo đức nghề nghiệp. Cần đổi mới quan điểm đánh giá cán bộ, tránh hình thức, chỉ căn cứ vào quá trình công tác, tuổi tác, bằng cấp, không hẹp hòi, kỳ thị, định kiến về lý lịch gia đình và thành phần xuất thân của cán bộ, phải xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của địa phương, lấy kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao của từng chức danh làm căn cứ nhận xét, đánh giá và lấy tiêu chuẩn của cán bộ làm chuẩn mực. Có như vậy mới hạn chế được tình trạng “thích” hay “không thích” của một số cá nhân có thẩm quyền đánh giá, nhận xét cán bộ, mới hạn chế được tình trạng “yêu nên tốt, ghét nên xấu” vẫn thường xảy ra trước đây. Hiện nay, toàn TP Hà Nội có 861 cán bộ Tư pháp cấp xã trên tổng số 577 xã, phường, thị trấn, trong đó 542 công chức Tư pháp - Hộ tịch xã có trình độ cử nhân Luật (chiếm 62,7%), 185 cán bộ có trình độ trung cấp Luật (chiếm 21,5%), 134 cán bộ có trình độ chuyên môn khác. Cán bộ chuyên trách thực hiện công tác đăng ký và quản lý hộ tịch ở cấp xã có thời gian công tác từ 5 năm trở lên là 554 cán bộ (chiếm 4,3%), 307 cán bộ (chiếm 35,7%) cán bộ tư pháp đã làm công tác tư pháp hộ tịch dưới 5 năm. Ở huyện Mê Linh hiện nay có 33 công chức Tư pháp – Hộ tịch cấp xã, trong đó cán bộ có trình độ Cử nhân Luật chiếm 43%, cán bộ từ 45 tuổi trở lên chiểm 81 60%. Từ đó cho thấy việc nâng cao trình độ cho đội ngũ này là rất cần thiết. Như vậy, để nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ Tư pháp - Hộ tịch trên địa bàn huyện Mê Linh trong thời gian tới, thiết nghĩ phải thực hiện đồng bộ các giải pháp nêu trên thì chắc chắn công tác đăng ký hộ tịch sẽ đạt hiệu quả cao. 3.2.3. Nâng cao nhận thức thực hiện pháp luật về hộ tịch của các chủ thể, đồng thời tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức của người dân trong việc thực hiện đăng ký hộ tịch Trong điều kiện xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng văn minh thì một trong những điều kiện quan trọng là làm sao để người dân được tham gia tích cực vào hoạt động quản lý xã hội bằng pháp luật. Phổ biến, giáo dục pháp luật góp phần quan trọng trong việc thức đẩy sự lớn mạnh tích cực, bảo đảm hành trang kiến thức pháp lý cần thiết cho sự tham gia vào hoạt động xây dựng và thực thi pháp luật về hộ tịch trong cả nước nói chung và huyện Mê Linh nói riêng. Do vậy, cần bảo đảm kinh phí và cơ sở vật chất cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và hoạt động tư pháp cấp xã. Đổi mới công tác phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng mở rộng quy mô, phối kết hợp với nhiều cấp, nhiều ngành, sử dụng nhiều hình thức phổ biến sinh động, phong phú, thiết thực, liên tục và bền bỉ như thông qua hình thức tuyên truyền miệng, tuyên truyền qua đài truyền thanh xã, các hội thi, cuộc thi, các buổi nói chuyện chuyên đề pháp luật, thông qua tủ sách pháp luật, pa nô, áp phích. Tiếp tục triển khai thực hiện tuyên truyền phổ biến Luật hộ tịch năm 2014 và các văn bản pháp luật có liên quan, chủ động phối hợp cùng Đoàn thanh niên tuyên truyền người dân sử dụng dịch vụ công mức độ 3 trong việc đăng ký khai sinh, khai tử và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân xã, phường thị trấn. 3.2.4. Tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật trong việc thực hiện pháp luật về hộ tịch Thanh tra là công tác không thể thiếu trong quản lý nhà nước, qua thanh tra nhằm phát hiện sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị 82 với cơ quan nhà nước có thẩm quyền biện pháp khắc phục; phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật; giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quy định của pháp luật; phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Do đó, để quản lý nhà nước trong lĩnh vực hộ tịch, công tác thanh tra cũng là một công tác không thể thiếu. Đối với Thủ trưởng các đơn vị thuộc Bộ cần nâng cao trách nhiệm trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, tích cực, chủ động giải quyết các vụ việc thuộc thẩm quyền theo đúng quy định của pháp luật; Chủ động phối hợp với Thanh tra Bộ trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo bảo đảm các khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của Bộ Tư pháp được giải quyết triệt để, dứt điểm ngay từ khi phát sinh. Thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật về phòng chống tham nhũng qua việc tổ chức thực hiện kê khai, minh bạch tài sản, thu nhập của công chức, viên chức; chuyển đổi vị trí công tác; thực hiện quy chế dân chủ; thực hiện công khai, minh bạch trong các hoạt động của đơn vị. Đối với Giám đốc các Sở Tư pháp: chỉ đạo Thanh tra các Sở triển khai đúng tiến độ, có chất lượng Kế hoạch công tác thanh tra năm 2016, nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác thanh tra, góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý nhà nước trong phạm vi thẩm quyền được giao. Nâng cao hiệu quả công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng chống tham nhũng theo quy định của pháp luật. Tiếp tục kiện toàn cơ cấu tổ chức và biên chế của Thanh tra Sở để đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ thanh tra năm 2016. Riêng công tác thanh tra, kiểm tra năm 2016 cần chú ý một số điểm sau: chỉ đạo Thanh tra Sở tiến hành thanh tra hoạt động luật sư, công chứng trong Quý II/2016 theo kế hoạch thanh tra năm 2016 đã được phê duyệt. Trường hợp các Sở Tư pháp đã xây dựng Kế hoạch thanh tra nhưng chưa có nội dung thanh tra về hoạt động luật sư, công chứng thì tùy tình hình thực tế ở địa phương, có thể tiến hành kiểm tra về các hoạt động trên. Công tác thanh tra, kiểm tra chuyên ngành năm 2016, cần đổi mới mạnh mẽ cách làm, theo hướng: tăng cường phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan trong công tác thanh tra, kiểm tra; tăng cường chỉ đạo công tác tự kiểm tra của các cơ quan chuyên môn quản lý Nhà 83 nước về từng lĩnh vực, bảo đảm thống nhất và đạt kết quả cao; chú trọng thanh tra, kiểm tra các cơ quan, tổ chức có dấu hiệu vi phạm pháp luật và các vấn đề bức xúc trong các lĩnh vực do Bộ/ngành Tư pháp quản lý mà xã hội quan tâm; xử lý kịp thời, nghiêm minh, đúng pháp luật các hành vi vi phạm pháp luật; không cần thiết thanh tra lĩnh vực thấy cơ bản đã đi vào nề nếp; chọn điểm yếu để thanh tra; tránh chồng chéo, trùng lặp trong công tác thanh tra. Khi thanh tra lĩnh vực hộ tịch, quan tâm thống kê việc bố trí cán bộ Tư pháp – Hộ tịch xã, phường. Tiếp tục triển khai thực hiện Nghị định số 33/2015/NĐ-CP ngày 27/3/2015 của Chính phủ quy định việc thực hiện Kết luận thanh tra, từ đó đề xuất những biện pháp phù hợp, góp phần tăng cường hiệu quả của các cuộc thanh tra. Đối với các cơ quan thi hành án dân sự: Tổng cục trưởng Tổng cục Thi hành án dân sự: Tích cực, chủ động giải quyết các khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền theo đúng quy định của pháp luật; Phối hợp với Thanh tra Bộ tham mưu cho Lãnh đạo Bộ giải quyết dứt điểm các vụ việc khiếu nại, tố cáo tồn đọng, kéo dài; Chỉ đạo Cục Thi hành án dân sự các địa phương chủ động báo cáo, xin ý kiến chỉ đạo, hướng dẫn của Tổng cục THADS đối với các vụ việc phức tạp; đồng thời kịp thời hướng dẫn, chỉ đạo cơ quan THADS địa phương để giải quyết các vụ việc thi hành án phức tạp, các khiếu nại, tố cáo tồn đọng, kéo dài. Cục trưởng Cục Thi hành án dân sự: Tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả công tác tiếp công dân, xử lý đơn thư; nâng cao tinh thần trách nhiệm trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, tích cực, chủ động giải quyết các vụ việc thuộc thẩm quyền, không để đơn thư khiếu nại, tố cáo tồn đọng, vượt cấp; thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật về phòng chống tham nhũng trong hoạt động của đơn vị. Tăng cường chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn giải quyết những vụ việc khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của Chi cục Thi hành án dân sự trong phạm vi quản lý của mình. Chủ động phối hợp với Đoàn Thanh tra của Bộ và Thanh tra Bộ trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo khi có quyết định thanh tra đột xuất; Thực hiện nghiêm túc và triệt để các Kết luận thanh tra, Quyết định giải quyết khiếu nại, Quyết định xử lý tố cáo (nếu có), đồng thời đôn 84 đốc các Chi cục Thi hành án dân sự của mình thực hiện các Kết luận thanh tra, Quyết định giải quyết khiếu nại, Quyết định xử lý tố cáo (nếu có). Ngoài ra, Thanh tra Bộ cũng đề nghị các đơn vị được dự kiến thanh tra, kiểm tra năm 2016 chủ động, chuẩn bị đầy đủ các báo cáo, tài liệu có liên quan khi Đoàn thanh tra yêu cầu, phối hợp với Thanh tra Bộ và các cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành thuộc Bộ thực hiện Kế hoạch công tác thanh tra năm 2016. Qua công tác thanh tra nắm bắt được những kết quả đã đạt được, đồng thời phát hiện những vướng mắc, khó khăn, những sai phạm của đơn vị, để có biện pháp hữu hiệu trong quá trình quản lý với mục đích không ngừng nâng cao hiệu quả trong việc thực thi pháp luật của tổ chức và công dân. Để thực hiện tốt chức năng quản lý Nhà nước trong lĩnh vực tư pháp, căn cứ nhiệm vụ được giao và tình hình thực tế của địa phương, hàng năm Thanh tra sở đều xây dựng kế hoạch trình Giám đốc sở phê duyệt. Trong Kế hoạch luôn chú trọng tập trung đến các cuộc thanh tra thuộc lĩnh vực chứng thực và đăng ký hộ tịch của UBND các xã. Vì vậy, để khắc phục những tồn tại, thiếu sót trong công tác đăng ký, quản lý hộ tịch tại địa phương, cơ sở trong thời gian đến thì cần có những giải pháp sau: - Các cấp chính quyền từ tỉnh đến huyện cần tăng cường tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ cho cán bộ Tư pháp cấp huyện và công chức Tư pháp – Hộ tịch cấp xã; cần quan tâm tăng cường cán bộ cho tư pháp xã, đầu tư trang bị cơ sở vật chất, các trang thiết bị thiết yếu để phục vụ cho công tác đăng ký, quản lý hộ tịch tại địa phương. - Cần bố trí những cán bộ có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, có đạo đức công vụ, không nên bố trí trái ngành hoặc những người chưa qua đào tạo thực hiện nhiệm vụ này. - Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra để kịp thời chấn chỉnh những sai sót trong công tác đăng ký, quản lý hộ tịch tại địa phương, nhất là các quy trình, thủ tục phải chặt chẽ, đảm bảo đúng theo quy định, tránh tình trạng “vị nễ, cảm tình” trong việc giải quyết các vấn đề về hộ tịch để khỏi gây hậu quả pháp lý sau này. 85 Trong những năm vừa qua, công tác thanh tra đối với lĩnh vực đăng ký và quản lý hộ tịch luôn được Thanh tra ngành Tư pháp rất quan tâm. Hàng năm, Thanh tra Bộ Tư pháp và Thanh tra các Sở Tư pháp đều đưa vào kế hoạch và tiến hành thanh tra đối với công tác đăng ký và quản lý hộ tịch. Có thể nói, qua theo dõi và tổng hợp về công tác thanh tra của ngành Tư pháp cho thấy, đây là lĩnh vực được thanh tra nhiều nhất trong các lĩnh vực thanh tra chuyên ngành Tư pháp, đặc biệt là đối với Thanh tra các Sở Tư pháp. Đối với Thanh tra Bộ Tư pháp, chỉ tính từ năm 2007 đến nay, hàng năm, Thanh tra Bộ đều thực hiện các cuộc thanh tra chuyên ngành về công tác hộ tịch, trong đó, có năm tập trung thanh tra chuyên ngành về công tác hộ tịch trong nước, có năm tập trung thanh tra chuyên ngành về hộ tịch có yếu tố nước ngoài. Cụ thể: từ năm 2007 đến nay, Thanh tra Bộ Tư pháp đã tiến hành 21 cuộc thanh tra về hộ tịch (bao gồm: 6 cuộc thanh tra về hộ tịch trong nước; 15 cuộc thanh tra về hộ tịch có yếu tố nước ngoài). Do đặc điểm công tác đăng ký và quản lý hộ tịch được thực hiện trên phạm vi toàn quốc đến tận cấp xã, phường và bao gồm rất nhiều nội dung khác nhau, nên Thanh tra Bộ chủ yếu thanh tra đến cấp tỉnh. Còn thanh tra công tác hộ tịch đối với cấp huyện, xã chủ yếu do Thanh tra các Sở Tư pháp thực hiện. Qua công tác thanh tra của Thanh tra Bộ, các đơn vị được thanh tra đều có những tồn tại, sai sót nhưng chưa tới mức phải bị xử lý vi phạm nên Thanh tra Bộ chỉ yêu cầu các đơn vị có sai sót cần chấn chỉnh, rút kinh nghiệm thực hiện nghiêm túc kết luận thanh tra. Những giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm trong công tác đăng ký, quản lý hộ tịch: Với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước công tác hộ tịch đã có những bước tiến cơ bản và đạt được những thành tựu quan trọng trong việc củng cố hệ thống cơ quan quản lý, đăng ký hộ tịch, tăng cường đội ngũ công chức làm công tác hộ tịch; hệ thống sổ sách, dữ liệu hộ tịch được lưu trữ và sử dụng lâu dài; đáp ứng yêu cầu cải cách thủ tục hành chính trong đăng ký hộ tịch; khẳng định vai trò trong quản lý nhà nước và bảo đảm quyền nhân thân của cá nhân. Tuy nhiên bên cạnh những kết quả đạt được, công tác đăng ký và quản lý hộ tịch đã bộc lộ hạn 86 chế. Hiện tại còn tình trạng đăng ký không kịp thời, chưa đầy đủ và thiếu chính xác; dữ liệu hộ tịch của cá nhân bị phân tán; đăng ký quá hạn, đăng ký lại còn chiếm tỷ lệ tương đối cao. Tình trạng kết hôn giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài kết hôn ở một số địa phương vẫn còn xảy ra hiện tượng cán bộ hộ tịch gây phiền hà, nhũng nhiễu và thậm chí còn có hiện tượng tiêu cực. Để khắc phục tình trạng trên nhằm tăng cường hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm trong công tác đăng ký, quản lý hộ tịch, cần có những giải pháp sau: Thứ nhất, Lãnh đạo Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp cần tiếp tục quan tâm, chỉ đạo công tác thanh tra nói chung và thanh tra công tác hộ tịch nói riêng. Tăng cường thanh tra, kiểm tra việc chấp hành về lĩnh vực đăng ký, quản lý hộ tịch, giúp các cơ quan, đơn vị hiểu và làm đúng những nguyên tắc, quy định về lĩnh vực này, ngăn chặn kịp thời những việc làm sai phạm, kiến nghị sửa đổi, bổ sung những quy định bất cập, không phù hợp với thực tiễn. Thứ hai, cần tiếp tục nghiên cứu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền hoàn thiện thể chế liên quan đến công tác thanh tra, kiểm tra đối với lĩnh vực hộ tịch. Thứ ba, lực lượng Thanh tra các Sở Tư pháp còn mỏng nên công tác thanh tra chuyên ngành nói chung chưa được thực hiện thường xuyên, chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước của Ngành. Do đó, cần tăng cường biên chế cho Thanh tra các Sở Tư pháp, nâng cao năng lực, trình độ cho công chức làm công tác thanh tra trong toàn ngành. Thứ tư, kiên quyết xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm, sai phạm trong quản lý, đăng ký hộ tịch được phát hiện qua công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc kiến nghị, phản ánh. Một số kiến nghị, đề xuất: - Sửa đổi quy định về thẩm quyền thanh tra chuyên ngành của Thanh tra các Sở Tư pháp đối với lĩnh vực hộ tịch, trong đó bổ sung thẩm quyền về thanh tra chuyên ngành đối với công tác hộ tịch có yếu tố nước ngoài. - Rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định xử phạt vi phạm hành chính về hộ tịch tại Nghị định số 110/2013/N Đ-CP ngày 24/9/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã cho phù hợp 87 với các quy định của Luật Hộ tịch. Tăng thẳm quyền xử phạt đăng ký quá hạn cho cán bộ Tư pháp – Hộ tịch. Thực tế cho thấy, tình trạng đăng ký quá hạn diễn ra phổ biến, cho xử phạt hành chính các trường hợp này vừa là hình thức răn đe đồng thời có tác dụng nhất đối với việc chấm dứt tình trạng đăng ký quá hạn. - Hàng năm, cần mở các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ thanh tra chuyên ngành cho cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành của Bộ Tư pháp và Thanh tra các Sở Tư pháp, trong đó có nội dung về nghiệp vụ thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực hộ tịch để kịp thời phổ biến kiến thức, trao đổi kinh nghiệm, nắm bắt khó khăn vướng mắc trong thực hiện công tác thanh tra đối với lĩnh vực này. - Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp khi tổ chức các hội nghị, các lớp tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ về đăng ký và quản lý hộ tịch nên có thành phần tham dự là công chức làm công tác thanh tra của Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp; hoặc khi có các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ trong công tác này cũng gửi cho Thanh tra Bộ và Thanh tra Sở để kịp thời nắm bắt, cấp nhật thông tin, quy định pháp luật trong lĩnh vực này, từ đó mới có thể làm tốt công tác thanh tra lĩnh vực hộ tịch. 3.2.5. Áp dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin trong đăng ký và quản lý hộ tịch Công tác đăng ký và quản lý hộ tịch ở địa phương hiện nay được thực hiện chủ yếu bằng phương pháp thủ công, phương pháp này có những hạn chế nhất định, công chức Tư pháp - Hộ tịch phải trực tiếp ghi vào sổ đăng ký hộ tịch và biểu mẫu hộ tịch để cấp cho công dân, nên mất nhiều thời gian cho việc ghi chép vào 2 sổ đăng ký hộ tịch, nhiều trường hợp không chính xác, sai chính tả, không đầy đủ các nội dung theo biểu mẫu quy định, đặc biệt có trường hợp nội dung trong giấy tờ hộ tịch khác với nội dung ghi trong sổ hộ tịch, làm khó khăn cho công tác quản lý hộ tịch của UBND câp xã, gây phiền hà và ảnh hưởng đến quyền lợi của công dân. Trong thực tiễn cuộc sống hiện nay, việc công dân di chuyển nhiều nơi cư trú là phổ biến, đồng thời với việc di chuyển nơi cư trú dẫn đến các sự kiện hộ tịch cũng sẽ được đăng ký ở nhiều nơi khác nhau, khai sinh một nơi, kết hôn một nơi, khai tử lại một nơi. Điều này gây khó khăn cho cả công dân và cơ quan Nhà 88 nước khi có yêu cầu kiểm tra, xác minh các biến động liên quan đến nhân thân một con người, do hiện tại đang được thực hiện bằng phương pháp thủ công và phân tán, không có sự kết nối thông tin với nhau. Việc ứng dụng những thành tựu của công nghệ thông tin trong lĩnh vực quản lý hành chính Nhà nước là một đòi hỏi cấp thiết. Đặc biệt trong công tác đăng ký và quản lý hộ tịch thì việc ứng dụng công nghệ thông tin để giải quyết công việc là rất cần thiết. Nếu triển khai thực hiện tốt việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác đăng ký và quản lý hộ tịch sẽ giúp cán bộ hộ tịch xử lý công việc một cách thuận tiện, nhanh chóng và hạn chế đáng kể những sai sót so với thực hiện theo cách thủ công. Bên cạnh đó, người dân cũng dễ dàng tìm hiểu các quy định của pháp luật, các thủ tục hành chính liên quan đến lĩnh vực hộ tịch, từ đó, xác định được cơ quan có thẩm quyền giải quyết và hồ sơ, giấy tờ cần thiết để đi đăng ký hộ tịch. Hiện nay, tại địa phương việc lưu trữ sổ hộ tịch và cơ sở dữ liệu chủ yếu lưu giữ bằng sổ sách, giấy tờ do công chức Tư pháp – Hộ tịch giúp UBND cấp xã quản lý. Công chức Tư pháp – Hộ tịch thường xuyên thay đổi đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc lưu trữ các dữ liệu đăng ký hộ tịch như: thất lạc, hư hỏng, hoặc bị mối, mọt do không được bảo quản cẩn thận, khi chuyển công tác không thực hiện bàn giao sổ hộ tịch và hồ sơ lưu về hộ tịch... Ở một số địa phương đã triển khai thí điểm phần mềm về đăng ký và quản lý hộ tịch tại ủy ban nhân dân cấp xã, tất cả dữ liệu đăng ký hộ tịch đều được cập nhật vào hệ thống lưu trữ của phần mềm quản lý, nên công chức Tư pháp – Hộ tịch dễ dàng cập nhật hồ sơ và truy xuất dữ liệu khi cần thiết. Theo quy định tại Thông tư 08a/2010/TT-BTP ngày 25/3/2010 của Bộ Tư pháp về ban hành và hướng dẫn việc ghi chép, lưu trữ, sử dụng sổ, biểu mẫu hộ tịch, mặc dù đã có sự đơn giản hóa nhưng trên thực tế việc đăng ký và quản lý hộ tịch tại các xã, phường, thị trấn được thực hiện bằng phương pháp viết tay trực tiếp và các sổ hộ tịch. Vì vậy, việc triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác hộ tịch là xu thế tất yếu và rất cần thiết, giúp cho công tác đăng ký hộ tịch được thực hiện một cách khoa học, chính xác. Bên cạnh đó, việc kết nối các thông tin dữ liệu hộ tịch bằng phần mềm quản lý hộ tịch sẽ đem lại nhiều tiện ích cho người dân 89 và các cơ quan Nhà nước. Tuy nhiên, hiện nay công chức Tư pháp – Hộ tịch khi thực hiện đăng ký khai sinh cho công dân vẫn phải thực hiện viết tay vào sổ đăng ký khai sinh sau đó nhập thông tin vào phần mềm đăng ký khai sinh, việc này làm tốn thời gian, công sức, đôi khi thông tin ghi chép trong sổ hộ tịch có sai sót với thông tin trên phần mềm đăng ký khai sinh. Do đó, để đảm bảo sự thống nhất, chính xác thông tin trong sổ đăng ký khai sinh và phần mềm đăng ký khai sinh tôi kiến nghị Bộ Tư pháp phối hợp cùng Bộ công nghệ thông tin cải tiến cho phép công chức Tư pháp – Hộ tịch có thể in luôn thông tin đã nhập trên phần mềm để làm thành sổ đăng ký khai sinh lưu trữ tại địa phương. Áp dụng công nghệ thông tin trong đăng ký, quản lý hộ tịch sẽ tạo điều kiện thuận lợi trong đăng ký và tra cứu thông tin cũng như công tác thanh tra, kiểm tra và hướng dẫn nghiệp vụ, tạo được tính thống nhất và xuyên suốt trong công tác quản lý Nhà nước về hộ tịch từ Trung ương đến địa phương. Đồng thời, đây cũng là một giải pháp quan trọng để thực hiện có hiệu quả Chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2011-2020 của Chính phủ về nội dung hiện đại hóa nền hành chính. 3.2.6. Cải cách thủ tục hành chính trong việc đăng ký hộ tịch Cải cách thủ tục hành chính là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của mục tiêu cải cách hành chính nói chung, cải cách thủ tục hành chính nhằm đảm bảo tính pháp lý, hiệu quả, minh bạch và công bằng trong khi giải quyết các công việc hành chính, loại bỏ những thủ tục rờm rà, chồng chéo dễ bị lợi dụng để tham những, gây khó khăn cho dân. Mẫu hóa thống nhất các giấy tờ mà công dân cần phải làm khi có yêu cầu giải quyết các công việcTừ những mục tiêu quan trọng của chương trình tổng thể cải cách hành chính, việc cải cách thủ tục hành chính về hộ tịch được Quốc hội và các cơ quan quản lý nhà nước về hộ tịch đặc biệt quan tâm, việc ban hành Luật hộ tịch, bộ thủ tục hành chính trong lĩnh vực hộ tịch theo hướng cải cách về thủ tục hành chính là cần thiết. Kế thừa những điểm cơ bản các Nghị định quản lý hộ tịch trước đây, Luật hộ tịch, Nghị định 123/2015/NĐ-CP, thông tư số 15/2015/TT-BTP đã bổ sung các quy định cụ thể về trình tự, thủ tục giải quyết các việc về hộ tịch, nhằm cái cách thủ tục, công khai minh bạch hóa các trình tự, thủ tục, quy định thời gian giải quyết hồ sở từng lĩnh vực trong quy trình, tương ứng với trách nhiệm và 90 tính chất công việc phải giải quyết của từng cơ quan, rút ngắn đáng kể thời gian giải quyết, các giấy tờ phải nộp khi đăng ký hộ tịch tạo điều kiện cho người dân có cơ sở pháp lý yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết kịp thời, đúng pháp luật các việc về hộ tịch. Tuy nhiên, để cải cách thủ tục hành chính trong vấn đề hộ tịch cần các giải pháp sau: - Đơn giản hóa các giấy tờ về đăng ký hộ tịch; - Đơn giản hóa các thủ tục về cải chính hộ tịch; - Thực hiện cơ chế một cửa trong việc giải quyết các thủ tục liên quan đến hộ tịch; - Giảm thời gian cũng như rà soát và giảm các thủ tục liên quan đến thủ tục đăng ký hộ tịch. Thực hiện Kế hoạch số 98/KH-UBND ngày 25/6/2016 của UBND Thành phố về việc Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước Thành phố Hà Nội năm 2016, trên cơ sở kết quả triển khai thí điểm tại UBND quận Long Biênvà UBND quận Nam Từ Liêm, UBND thành phố Hà Nội ban hành Kế hoạch triển khai hệ thống dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 lĩnh vực tư pháp cấp phường, liên thông thủ tục hành chính theo Thông tư liên tịch số 05/2015/TTLT- BTP-BCA-BYT ngày 15/5/2015 của Liên Bộ: Tư pháp, Công an, Y tế về việc hướng dẫn thực hiện thực hiện liên thông các thủ tục hành chính về đăng ký khai sinh, đăng ký thường trú, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 06 tuổi (gọi tắt là Thông tư liên tịch số 05/2015/TTLT-BTP-BCA-BYT) tại 10 quận trên địa bàn Thành phố (UBND các quận: Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, Đống Đa, Ba Đình, Cầu Giấy, Tây Hồ, Hoàng Mai, Thanh Xuân, Bắc Từ Liêm, Hà Đông). Tiếp tục triển khai hệ thống dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 lĩnh vực tư pháp, liên thông thủ tục hành chính theo Thông tư liên tịch số 05/2015/TTLT-BTP-BCA-BYT tại 144 phường thuộc 10 Quận, đảm bảo thống nhất và đồng bộ. Nâng cao chất lượng, hiệu quả trong giải quyết thủ tục hành chính về lĩnh vực tư pháp, hộ tịch của UBND các phường nhằm cải cách hành chính, phục vụ tốt hơn cho người dân. Trên cơ sở kết quả thực hiện dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 lĩnh vực tư pháp tại 144 phường tiếp tục nhân rộng thực hiện tại ủy ban nhân dân các xã, thị trấn trên địa bàn thành phố Hà Nội nói chung và UBND huyện Mê Linh nói riêng. 91 Kết luận chƣơng 3 Chương 3 của luận văn đã đưa ra được định hướng nâng cao hiệu quả công tác thực hiện pháp luật về hộ tịch. Chương 3 luận văn cũng đề xuất được các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả công tác thực hiện pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh, Thành phố Hà Nội. Từ đó đưa ra các kiến nghị đối với UBND huyện Mê Linh, phòng Tư pháp, UBND các xã, phường, thị trấn nhằm nâng cao hiệu quả công tác thực hiện pháp luật về hộ tịch. 92 KẾT LUẬN Quản lý dân cư là một trong những lĩnh vực trọng yếu của nền hành chính mà mọi quốc gia, dù ở bất kỳ chế độ chính trị với trình độ phát triển nào cũng đều quan tâm. Một Chính phủ hoạt động hiệu quả không thể không nắm chắc và cập nhật thường xuyên các thông tin, dữ liệu về dân cư có được từ từ hoạt động quản lý hộ tịch. Hộ tịch là một trong những vấn đề trung tâm của hoạt động quản lý nhà nước về dân cư. Những sự kiện hộ tịch là những vấn đề nóng, va đập, cọ sát hàng ngày, hàng giờ, gắn liền với đời sống của người dân. Từ thời phong kiến cho đến nay, quản lý hộ tịch luôn được coi trọng như một công cụ của nhà nước để bảo vệ quyền nhân thân và hoạch định các chính sách kinh tế - xã hội. Quản lý hộ tịch là những dữ liệu cần có trong mọi bài toán hoạch định chính sách phát triển kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng, mặt khác nó là hoạt động thể hiện tập trung, sinh động mối quan hệ giữa nhà nước và công dân. Để quản lý dân cư, mỗi quốc gia có những phương thức quản lý khác nhau nhưng đều hướng đến mục đích quản lý một cách đầy đủ, kịp thời, chính xác các dữ liệu về đặc điểm nhân thân cơ bản của từng công dân. Ở nước ta, quản lý hộ tịch được xác định là khâu trung tâm của toàn bộ hoạt động quản lý dân cư. Vậy những giá trị tiềm tàng như vậy, công tác quản lý hộ tịch đã khẳng định vai trò vô cùng quan trọng của nó trong tiến trình phát triển của xã hội. Đăng ký và quản lý hộ tịch là hoạt động luôn được Nhà nước ta quan tâm thực hiện. Thông qua hoạt động đăng ký, quản lý hộ tịch, giúp cho công dân thực hiện các quyền, lợi ích của mình, tạo cơ sở để Nhà nước quản lý dân cư từ khi sinh ra đến khi chết đều được cơ quan nhà nước đăng ký, quản lý chặt chẽ. Tuy nhiên trong bối cảnh đất nước bước sang giai đoạn phát triển mới, tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế diễn ra ngày càng sâu rộng, việc dịch chuyển dân cư trong nước và quốc tế ngày càng gia tăng, công tác đăng ký và quản lý hộ tịch đã bộc lộ nhiều bất cập, hạn chế. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về hộ tịch gồm Nghị định, Thông tư hướng dẫn, và mới có Luật Hộ tịch năm 2014 nên việc thi hành trên thực tế đang gặp nhiều khó khăn. Phương thức đăng ký hộ tịch vẫn chủ yếu là phương pháp thủ công, ghi 93 chép bằng tay, người dân phải xuất trình nộp nhiều loại giấy tờ khi đăng ký hộ tich, gây khó khăn, phiền hà. Thủ tục hành chính trong đăng ký hộ tịch còn chưa triệt để, chưa bảo đảm tiện lợi cho người đăng ký hộ tịch. Công tác quản lý, lưu trữ hồ sơ, sổ sách, thông kê hộ tịch còn nhiều hạn chế, bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu tra cứu, sử dụng của người dân, chưa đóng góp nhiều cho công cuộc xây dựng, phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Những bất cập, hạn chế trên đây vừa ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, vừa ảnh hưởng đến chất lượng đăng ký và quản lý hộ tịch, làm giảm hiệu quả công tác quản lý dân cư, quản lý nhà nước và xã hội. Do đó, để giải quyết những khó khăn trong công tác quản lý hộ tịch thì vấn đề quan trọng hàng đầu là phải xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho công tác quản lý hộ tịch trong giai đoạn trước mắt và lâu dài. Quá trình thực hiện pháp luật về hộ tịch cũng đã giúp chúng ta đúc rút được những kinh nghiệm quý báu, làm cơ sở để đề ra phương hướng, cùng với những giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao hơn nữa vai trò, chất lượng, hiệu quả thực hiện pháp luật về hộ tịch của các chủ thể. Các giải pháp nhằm đảm bảo và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về hộ tịch bao gồm giải pháp về nâng cao nhận thức, phát huy vai trò các chủ thể, góp phần đảm bảo về kinh tế và thể chế thành pháp luật về hộ tịch. Trên cơ sở nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa của việc thực hiện pháp luật về hộ tịch đối với sự phát triển của địa phương và đất nước, luận văn đã nghiên cứu toàn diện quá trình triển khai, những kết quả đạt được cũng như những tồn tại, hạn chế trong việc thực hiện pháp luật về hộ tịch trên địa bàn huyện Mê Linh và đề xuất hệ thống các giải pháp để khắc phục những tồn tại, hạn chế đó, góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về hộ tịch ở huyện Mê Linh nói riêng và trên địa bàn cả nước nói chung. Tuy nhiên, nhận thức và thực hiện pháp luật về hộ tịch hiện nay là một vấn đề rất mới và phức tạp, phụ thuộc nhiều vào điều kiện đặc thù của từng địa phương và trong phạm vi luận văn mới chỉ có điều kiện nghiên cứu, đánh giá thực trạng tình hình và những vấn đề xảy ra trong thực hiện pháp luật về hộ tịch ở mô hình một huyện, đề ra một số giải pháp pháp lý chung ở tầm vĩ mô và 94 những giải pháp thực hiện cụ thể áp dụng cho huyện Mê Linh mà chưa có điều kiện nghiên cứu sâu và rộng hơn. Vì vậy, để nâng cao hơn nữa hiệu quả thực hiện pháp luật về hộ tịch, làm cho pháp luật về hộ tịch thực sự đi vào cuộc sống, cần có những công trình nghiên cứu ở cấp độ cao hơn, sâu sắc và khái quát hơn về từng mảng vấn đề trong thực hiện pháp luật về hộ tịch, về quá trình thực hiện pháp luật hộ tịch của các nhóm địa phương có điều kiện tương đồng và đặt trong tương quan so sánh với các địa phương khác trong nước và kết quả thực hiện chung cả nước, từ đó sẽ có cái nhìn tổng quát, toàn diện, chính xác và đầy đủ hơn. 95 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Bộ Tư pháp (2008), Thông tư số 01/2008/TT-BTP ngày 02/6/2008 hướng dẫn thực hiện một số quy định của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/5/2005 về việc đăng ký và quản lý hộ tịch, Việt Nam. 2. Bộ Tư pháp (2010), thông tư số 08a/2010/TT-BTP ngày 25/3/2010 của Bộ Tư pháp ban hành và hướng dẫn việc ghi chép, lưu trữ, sử dụng số, biểu mẫu hộ tịch, Việt Nam. 3. Bộ Tư pháp (2015), Thông tư số 15/2015/TT-BTP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hộ tịch, Việt Nam. 4. Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Y tế (2015), Thông tư 05/2015/TTLT- BTP-BCA-BHYT ngày 15/5/2015, Thông tư liên tịch hướng dẫn thực hiện liên thông các thủ tục hành chính về đăng ký khai sinh, đăng ký thường trú, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 06 tuổi, Việt Nam. 5. Bộ Tư pháp, Báo cáo Tổng kết công tác đăng ký, quản lý hộ tịch và việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về hộ tịch ngày 12/6/2012, Việt Nam. 6. Chính Phủ (1998), Nghị định số 83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998 về đăng ký hộ tịch, Việt Nam. 7. Chính phủ (2005), Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/5/2005 về đăng ký và quản lý hộ tịch, Việt Nam. 8. Chính phủ (2012), Nghị định số 06/2012/NĐ-CP ngày 20/2/2012 sửa đổi Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/5/2005 về đăng ký và quản lý hộ tịch, Việt Nam. 9. Chính phủ (2015), Nghị định 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật hộ tịch, Việt Nam. 10. Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực (2013), Báo cáo kinh nghiệm một số nước về đăng ký và quản lý hộ tịch trong mối liên hệ với pháp luật về đăng ký và quản lý hộ tịch tại Việt Nam, Việt Nam. 96 11. Vương Tất Đức, Nguyễn Thanh Xuân (2010), “Quy định về thay đổi họ, tên của một người cần được hướng dẫn cụ thể”, Tạp chí dân chủ và pháp luật. 12. Nguyễn Công Khanh (2013), Giới thiệu một số nội dung cơ bản của dự án Luật Hộ tịch, Hội thảo Đơn giản hóa thủ tục hành chính giấy tờ công dân trong dự án Luật hộ tịch. 13. Quốc hội (1995), Bộ luật Dân sự, Việt Nam 14. Quốc hội (2000), Luật Hôn nhân và gia đình năm, Việt Nam. 15. Quốc hội (2006), Luật cư trú, Việt Nam. 16. Quốc hội (2008), Luật Cán bộ, công chức, Nxb Chính trị quốc gia, năm 2012, Việt Nam. 17. Quốc hội (2014), Luật Hộ tịch, Việt Nam. 18. Quốc hội (2016), Hiến pháp, Việt Nam. 19. Uyên San (2014), Tích cực hơn nữa để loại bỏ giấy tờ hộ tịch không cần thiết, Báo Pháp luật Việt Nam. 20. Sở Tư pháp thành phố Hà Nội - cơ quan thường trực Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật thành phố Hà Nội, “Tìm hiểu một số quy định của pháp luật về Hộ tịch”, Nhà xuất bản Hà Nội năm 2015. 21. Trường Đại học Luật Hà Nội (2006), Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật, NXB Công an nhân dân. 22. UBND huyện Mê Linh; Báo cáo kiểm tra sổ hộ tịch năm 2015 của các xã trên địa bàn huyện năm 2015, Việt Nam. 23. UBND huyện Mê Linh; Báo cáo công tác hộ tịch 06 tháng đầu năm 2016, Việt Nam. 24. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia năm 2010; 25. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia năm 2011; 26. Viện Khoa học pháp lý (2006), Từ điển luật học, NXB Từ điển Bách khoa – NXB Tư pháp. 27. Viện ngôn ngữ học (1998), Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng. 97 28. Quang Vinh (2014), “Sẽ có nhiều đổi mới trong công tác hộ tịch”, Báo pháp luật Việt Nam. Ngoài ra luận văn còn tham khảo thông tin trên các website sau: www.Thudo.hanoi.gov.vn; www.moj.gov.vn (cổng thông tin điện tử Bộ tư pháp) www.melinh.hanoi.gov.vn (cổng thông tin điện tử huyện Mê Linh) PHỤ LỤC Bảng 1. KẾT QUẢ ĐĂNG KÝ NUÔI CON NUÔI TẠI UBND CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN [23, tr.2] Đơn vị tính: Người Tổng số Chia theo độ tuổi của trẻ em đƣợc nhận làm con nuôi Chia theo tình trạng sức khỏe của trẻ em đƣợc nhận làm con nuôi Chia theo nơi cƣ trú của trẻ em trƣớc khi đƣợc nhận làm con nuôi Dưới 01 tuổi Từ 01 đến dưới 05 tuổi Từ 05 đến dưới 10 tuổi Trên 10 tuổi Bình thường Trẻ em có nhu cầu đặc biệt Cơ sở nuôi dưỡng Gia đình Nơi khác Nam Nữ Nam Nữ Nam Nữ Nam Nữ A 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 Tổng số trên địa bàn huyện 1 0 0 1 0 0 0 0 0 1 0 0 1 0 Xã Tráng Việt 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 Xã Tiền Phong 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 Xã Đại Thịnh 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 Xã Mê Linh 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 Xã Hoàng Kim 1 0 0 1 0 0 0 0 0 1 0 0 1 0 Xã Thạch Đà 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 Xã Tam Đồng 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 Xã Văn Khê 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 Xã Liên Mạc 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 Xã Chu Phan 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 Xã Tiến Thịnh 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 Xã Vạn Yên 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 Xã Tư Lập 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 Xã Tiến Thắng 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 Xã Thanh Lâm 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 Xã Kim Hoa 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 TT Quang Minh 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 TT Chi Đông 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 Bảng 2. KẾT QUẢ ĐĂNG KÝ KHAI SINH, KHAI TỬ, KẾT HÔN TRONG NƢỚC TẠI UBND CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN [23, tr3] ĐĂNG KÝ KHAI SINH (Trường hợp) ĐĂNG KÝ KHAI TỬ (Trường hợp) ĐĂNG KÝ KẾT HÔN (Trường hợp) Đăng ký mới Đăng ký lại Đăng ký mới Đăng ký lại Đăng ký mới Đăng ký lại Tổng số Chia theo giới tính Chia theo thời điểm đăng ký Tổng số Chia theo thời điểm đăng ký Tổng số (cặp) Trong đó Kết hôn lần đầu (Cặp) Nam Nữ Đúng hạn Quá hạn Đúng hạn Quá hạn (A) (1) (2) (3) (4) (5) (6) (7) (8) (9) (10) (11) (12) (13) Tổng số trên địa bàn huyện 1592 888 704 1563 29 714 423 358 65 20 712 647 33 1. Đại Thịnh 84 48 36 83 1 61 10 9 1 7 29 26 5 2. Tiến Thịnh 109 51 58 107 2 24 28 26 2 0 35 35 0 3. Chu Phan 74 44 30 74 0 43 34 32 2 0 34 32 0 4. Tam Đồng 60 35 25 58 2 53 20 16 4 0 27 26 2 5. Văn Khê 155 73 82 154 1 53 36 31 5 0 49 48 1 6. Liên Mạc 120 67 53 115 5 151 41 17 24 0 60 60 5 7. Thạch Đà 90 48 42 88 2 37 24 13 11 0 65 64 1 8. Quang Minh 90 49 41 90 0 15 18 18 0 6 30 0 0 9. Tráng Việt 76 74 2 73 3 9 20 19 1 0 46 44 5 10. Hoàng Kim 35 17 18 35 0 24 10 10 0 0 30 30 2 11. Vạn Yên 46 23 23 44 2 7 10 8 2 1 20 18 2 12. Kim Hoa 60 35 25 59 1 18 17 13 4 0 24 22 0 13. Mê Linh 80 42 38 80 0 66 20 19 1 1 39 37 2 14. Chi Đông 88 46 42 85 3 18 19 16 3 5 39 34 1 15. Tự Lập 63 33 30 59 4 1 28 28 0 0 45 40 2 16. Tiền Phong 137 73 64 136 1 63 42 41 1 0 49 49 0 17. Thanh Lâm 116 66 50 114 2 33 26 22 4 0 48 44 5 18. Tiến Thắng 109 64 45 109 0 38 20 20 0 0 43 38 0 - Số liệu ước tính dòng Tổng số Cột 1: 798; Cột 6: 357; Cột 7: 212.; Cột 10:10; Cột 11:356; Cột 13:17 Bảng 3. KẾT QUẢ ĐĂNG KÝ KHAI SINH, KHAI TỬ, KẾT HÔN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN [23, tr4] Kỳ báo cáo 6 tháng năm 2016 (Từ ngày 01 tháng 01 năm 2016 Đến ngày 30 tháng 6 năm 2016) KẾT QUẢ ĐĂNG KÝ KHAI SINH, KHAI TỬ, KẾT HÔN CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI TẠI UBND CẤP HUYỆN Tổng số Chia theo giới tính Nam Nữ (A) (1) (2) (3) I Khai sinh (Chia theo quốc tịch của cha, mẹ) 0 1 Con có cha và mẹ là người nước ngoài 2 Con có cha hoặc mẹ là người nước ngoài còn người kia là công dân Việt Nam II Khai tử 0 1 Người nước ngoài 2 Công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài - Số liệu ước tính Phần I (dòng Khai sinh) Cột 1: 0 ; Phần II (dòng Khai tử) cột 1: 0 III. KẾT HÔN Tổng số Số cuộc kết hôn chia theo đối tượng kết hôn (Cặp) Số người kết hôn chia theo giới tính công dân Việt Nam cư trú trong nước (Người) Công dân Việt Nam cư trú ở trong nước với người nước ngoài Công dân VN cư trú ở trong nước với công dân VN định cư ở nước ngoài Công dân VN định cư ở nước ngoài với nhau Người nước ngoài với người nước ngoài Tổng số Nam Nữ (1) (2) (3) (4) (5) (6) (7) (8) 3 2 1 1 0 3 0 3 - Số liệu ước tính: 01 tháng đối với báo cáo 6 tháng; 02 tháng đối với báo cáo năm; - Số liệu ước tính Cột 1: 2 Bảng 4. KẾT QUẢ ĐĂNG KÝ CÁC VIỆC HỘ TỊCH KHÁC TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN [23, tr5] Kỳ báo cáo 6 tháng năm 2016 (Từ ngày 01 tháng 01 năm 2016 đến ngày 30/4/2016) I. CÁC VIỆC HỘ TỊCH THỰC HIỆN TẠI UBND CẤP HUYỆN Đơn vị tính: Trường hợp SỰ KIỆN HỘ TỊCH Tổng số A 6 1. Thay đổi hộ tịch 1 2. Cải chính hộ tịch 5 3. Điều chỉnh hộ tịch 0 4. Bổ sung hộ tịch 0 5. Xác định lại dân tộc 0 6. Xác định lại giới tính 0 7. Cấp lại bản chính Giấy khai sinh 0 II. CÁC VIỆC HỘ TỊCH KHÁC THỰC HIỆN TẠI UBND CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN Đơn vị tính: Trường hợp Thay đổi hộ tịch Cải chính hộ tịch Điều chỉnh hộ tịch Bổ sung hộ tịch Nhận cha, mẹ, con Giám hộ Ghi vào sổ Cấp giấy xác nhận các thay đổi hộ tịch khác tình trạng hôn nhân Cha, mẹ nhận con Con chưa thành niên nhận cha, mẹ Con đã thành niên nhận cha, mẹ Đăng ký việc giám hộ Chấm dứt, thay đổi việc giám hộ Xác định cha, mẹ, con Thay đổi quốc tịch Ly hôn Hủy hôn nhân trái pháp luật Chấm dứt việc nuôi con nuôi Để kết hôn với người VN ở trong nước Để KH với người nước ngoài tại cơ quan có thẩm quyền của VN Để kết hôn với người nước ngoài tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài Sử dụng vào mục đích khác Nam Nữ Nam Nữ Nam Nữ A 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 Tổng số trên địa bàn huyện 14 15 11 3 6 4 5 6 7 9 9 20 11 12 32 391 0 3 2 3 177 Xã Tráng Việt 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 4 0 0 2 11 0 0 0 0 7 Xã Tiền Phong 1 0 0 0 1 0 0 0 0 1 0 0 0 0 0 22 0 0 0 0 24 Xã Đại Thịnh 0 2 0 0 1 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 20 0 0 0 0 6 Xã Mê Linh 1 1 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 3 27 0 0 1 0 15 Xã Hoàng Kim 1 1 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 2 12 0 0 0 0 3 Xã Thạch Đà 2 5 7 0 0 0 0 0 0 0 0 6 0 0 0 20 0 0 0 0 8 Xã Tam Đồng 0 0 1 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 2 15 0 1 0 0 8 Xã Văn Khê 0 3 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 4 25 0 0 0 0 5 Xã Liên Mạc 1 0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 3 35 0 0 0 0 14 Xã Chu Phan 1 1 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 3 36 0 0 0 1 10 Xã Tiến Thịnh 4 0 0 1 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 3 26 0 0 0 0 3 Xã Vạn Yên 0 2 2 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 4 10 0 0 0 0 2 Xã Tự Lập 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 1 11 0 1 0 1 12 Xã Tiến Thắng 0 0 0 0 1 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 35 0 0 0 0 0 Xã Thanh Lâm 3 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 33 0 1 1 0 20 Xã Kim Hoa 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 1 22 0 0 0 1 17 TT Quang Minh 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 4 17 0 0 0 0 4 TT Chi Đông 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0 14 0 0 0 0 19

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfluan_van_thuc_hien_phap_luat_ve_ho_tich_o_huyen_me_linh_than.pdf
Luận văn liên quan