Như bất kỳ một nền văn học dân tộc nào khác trên thế giới, đề tài
về người phụ nữ vẫn chiếm được sự quan tâm đặc biệt của người nghệ sĩ.
Ở luận án này, tính nhân văn được xem như một hằng tính của văn học,
một khuynh hướng nhìn nhận tổng hợp mọi giá trị của văn học đã được
đề cập đến trong quátrình phân tích, đánh giá, thẩm định hình tượng
người phụ nữ được xây dựng qua những tác phẩm tiểu thuyết tiêu biểu
của những nhà văn Tự lực văn đoàn tiêu biểu.
121 trang |
Chia sẻ: lylyngoc | Lượt xem: 3576 | Lượt tải: 2
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Tính nhân văn qua hình tượng người phụ nữ trong tiểu thuyết tự lực văn đoàn, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
thớ lợ mà họ cùng chung mối khinh ghét và hầu như tuyệt giao
từ ngày ơng Án Thân chết. Vậy mà chỉ vì cái mồi “Thừa tự”, một thủ
đoạn của bà Ba ,hai bên trở nên nghi kỵ, thù ghét nhau. Về phần bà Ba,
“việc thừa tự, bà cho là một việc cĩ lợi cho bà, mà lại cĩ hại, cĩ hại đến
danh dự bọn con chồng. Bà thừa hiểu rằng ở ngồi người ta chỉ trích bà
nhiều lắm, người ta cho bà là một con yêu quái đến phá hoại gia đình
ơng Án Nguyễn. Vậy thì việc lập thừa tự này đã trả lời kịp hết thẩy
những câu dèm pha vơ căn cứ. Người ta sẽ bảo nhau: “Đấy! Bà ta tốt
thế đấy ! Mà quân tử khơng ! Bọn con chồng đối đãi với bà cĩ ra gì đâu,
thế mà bà ta để ráo của cải cho. Nào xem cịn ai dám ngờ vực nữa khơng
!” (53(4).97–98). Và “cái sản nghiệp ấy, lẽ dĩ nhiên, bà ta sẽ cho con gái
bà ta. Nếu muốn che mắt thế gian thì cũng chẳng khĩ; cùng lắm, bà ta
chỉ việc sang tên, hay hơn nữa viết văn tự bán cho con rể, thế là khơng
ai sẽ cĩ thể dị nghị bà ta được, mà anh chàng ăn thừa tự cũng chẳng xơ
) 91
Luận án Thạc sĩ khoa học Ngữ Văn Tính nhân văn qua hình tượng người phụ nữ …
múi vào đâu, ngồi mấy chục mẫu ruộng hương hỏa” (53(4).98). Thế là
bà đã đem cái sự tình ấy ngỏ với Bỉnh (chàng con trưởng, đang là tri
huyện, con bà cả)” để Bỉnh nĩi lại với hai em Trình, Khoa (con bà hai).
Nhưng sự việc xảy ra khơng như dự kiến của bà. Từ khi biết thừa tự chỉ
là miếng hão, hai bên Trình, Khoa định khơng thèm ăn nữa và cũng
“khơng thù ghét nhau, hay đúng hơn họ bẵng quên lịng thù
ghét”(53(4).164) để lưu tâm đến việc bà Ba đã đem miếng mồi này nhử
mẹ con chàng rể như thế nào. “Anh chàng rể tấp tểnh hy vọng được mẹ
vợ mừng cho vài cái nhà và được vợ mang theo về ít ra cũng một vài vạn
bạc tiền hồi mơn”(53(4).166). Và “khi người ta chủ tâm đào mỏ vàng
mà đào phải rặt một giống đá sỏi thì người ta khỏi sao khơng cáu
tiết”(53(4).170). Cứ theo lời Chuyên, vợ Khoa, kể như trên, “Phan đã cĩ
lần tát nẩy đom đĩm mắt cơ vợ bé bỏng. Nhưng Tính (vợ Trình -PTH)
quả quyết rằng cái tát ấy của bà Huyện (mẹ Phan- PTH), chứ khơng
phải của Phan, vì dẫu sao Phan cũng khơng nỡ và khơng dám tát một
người đàn bà”(53(4).170). Kết thúc câu chuyện “Thừa tự”, tác giả đã để
cho Khoa suy nghĩ ra điều chí lý: “Kể đáng thương thì đáng thương tuốt,
từ bà Ba, Cúc, Phan, bà Huyện cho chí cả anh em mình”(53(4).174).
Đúng vậy ! Thật khơng gì đáng thương hơn là trong từng ấy con
người, mà lại là những con người cĩ quan hệ thân thuộc với nhau, họ chỉ
đến với nhau khi mỗi người đều tìm thấy mối lợi về mình. Đồng tiền quả
cĩ sức mạnh đáng sợ !
Bà Ba vì muốn cĩ nén hương sau khi chết và cũng vì muốn che
mắt thiên hạ, muốn lấy lịng bọn con chồng, bà đành phải gợi ý để cho
một trong hai con riêng của chồng, mà bà chẳng ưa gì, hưởng mĩn tài
sản thừa tự bà đã dự tính ít chừng nào hay chừng ấy. Ấy thế mà bọn họ
cĩ đếm xỉa gì đến cái mong muốn của bà đâu, khiến bà đâm ra tức tối.
Thất bại của bà Ba thật là đáng thương. Đứa con gái duy nhất của bà là
Cúc. Ai cũng đinh ninh rằng cái sản nghiệp của bà sẽ thuộc về Cúc, chí ít
là một phần nào đĩ. Nàng đã từng kêu nài và ba tháng chờ đợi, vậy mà
chẳng nẩy ra một tia hy vọng nào. Đáng thương cho nàng là từ đĩ phải
nhận lấy một “chương trình hành hạ” từ phía bà Huyện, mẹ chồng. Về
phía Phan, hy vọng được làm chủ nhân một cái tài sản kếch xù đã tiêu
tan, dù nhiều lần giục vợ về khĩc lĩc với mẹ ruột năn nỉ xin một cái nhà
) 92
Luận án Thạc sĩ khoa học Ngữ Văn Tính nhân văn qua hình tượng người phụ nữ …
hay một ít vốn để khỏi bị mẹ chồng khinh bỉ. Bà Ba vẫn tìm đủ mọi cách
chối từ. Đáng thương thật! Bà Huyện, nhà đào mỏ chuyên mơn, cĩ lẽ cịn
đáng thương hơn con mình nữa, bởi bà “định lấy cái bám vào nàng dâu
chứ khơng định kén nàng dâu”(77(2).175). Thế mà chẳng được. Hai cặp
vợ chồng Trình, Khoa cũng đáng thương nốt. Vì hám của nên lúc đầu cả
hai đều lọt tỏm vào quỷ kế của bà Ba. Nhờ anh chị phân tích, lý giải cả
hai bên đã nhận thức được việc làm của mình là khơng đúng nên đã làm
lành lại với nhau. Xét cho cùng, khơng phải họ ghét mĩn thừa tự của bà
Ba mà họ ghét bà Ba hơn.
Suy nghĩ của Khoa ở trên chưa phải đầy đủ dù là bổ sung thêm
câu kết luận của Trình trước đĩ: “Chung qui chỉ sư cụ (chỉ sư Giáp –
PTH) là đáng thương nhất: đi lại nịnh hĩt mãi vẫn chưa xơ múi gì!”
(53(4).171). Cịn hàng loạt những nhân vật hám tiền khác nữa: Bà Hai
đồng cốt, bà Phĩ Quang … cũng rất đáng thương !
Ngày nay cái mĩn “thừa tự” đã cĩ pháp luật qui định hẳn hoi
nhưng Tịa án Dân sự đâu đã hết những vụ xử kiện tụng chung quanh đề
tài muơn thuở này. Vai trị của người phụ nữ trong tiểu thuyết của Khái
Hưng nĩi riêng và Tự lực văn đồn nĩi chung thật nổi bật. Khái Hưng
luơn luơn tỏ ra là một nhà văn rất am tường tâm lý phụ nữ. Hãy xem một
đoạn nhà văn phát hiện ra một nét tâm lý phổ biến ở phái đẹp.
“Đàn bà họ rất ghét những người đứng trung lập. Về hùa cùng họ
hay chống cự lại họ, phải dứt khốt chọn lấy một đường, nếu khơng sẽ
khơng yên được với họ. Đương đêm họ đánh thức dậy để bàn chuyện
nhà, để nĩi xấu kẻ thù, nếu mình ậm ừ trả lời cho xong việc, họ sẽ làm
ầm cửa ầm nhà lên ngay …”(53(4).94).
Đấy chỉ là một đoạn tiêu biểu mà thơi.
Điều mà nhà phê bình Vũ Ngọc Phan suy nghĩ cách nay hơn nửa
thế kỷ vẫn cịn cĩ giá trị: “Tơi nghiệm ra những tiểu thuyết về phong tục
là những tiểu thuyết sống lâu hơn tất cả các tiểu thuyết khác…”
(77(2).177) Thừa tự là một quyển tiểu thuyết như vậy.
) 93
Luận án Thạc sĩ khoa học Ngữ Văn Tính nhân văn qua hình tượng người phụ nữ …
Những vấn đề hiện thực cuộc sống mà Tự lực văn đồn nêu lên
trong 12 tác phẩm đã cĩ đề cập ở trên tuy chưa phải là rộng lớn, song
thật sự cĩ ý nghĩa, khiến người đọc phải suy nghĩ . Tất nhiên, với số
lượng những tác phẩm đã được giới hạn trong luận án này thì chưa thể
nĩi hết những vấn đề mà Tự lực văn đồn đã lưu tâm.
Dù vậy, qua mơt loạt hình tượng nhân vật phụ nữ đã phân tích ở
trên, người đọc cĩ thể nhận thấy rằng: chính thực tiễn cuộc sống chứ
khơng phải gì khác đã đặt ra những yêu cầu buộc các nhà văn lãng mạn
đương thời phải cùng xã hội gánh lấy trách nhiệm giải quyết. Đề cập đến
tính sáng tạo trong văn học nghệ thuật, F. Engels trong “Thư gửi Lát -
xan ngày 18-5-1859” đã cĩ ý kiến cĩ ý nghĩa lớn về phương pháp luận:
“Tuy vậy, theo tơi thì hình như đặc trưng của cá nhân khơng những thể
hiện ở việc làm mà cá nhân ấy làm, mà cịn bằng ở cách làm mà cá nhân
ấy làm việc đĩ nữa” (1.374). Cũng như thế, chính cái “cách” của mỗi
nhà văn khiến chúng ta nghĩ đến khuynh hướng lãng mạn hay hiện thực
của tác phẩm hơn là những “việc” mà nhà văn đĩ đề cập trong tác phẩm
của họ. Ở đây, khơng bàn đến những vấn đề thuộc về đặc trưng của chủ
nghĩa lãng mạn xem cĩ phù hợp hay khơng với những yếu tố lãng mạn
chứa đựng trong những tiểu thuyết Tự lực văn đồn viết về hình tượng
người phụ nữ, luận án chỉ muốn khái quát những nội dung chủ yếu mà từ
đĩ Tự lực văn đồn đã tìm ra một cách thể hiện phù hợp.
Cũng như giai cấp tư sản phương Tây trong cuộc đấu tranh cách
mạng nhằm chống lại hay lật đổ sự áp chế về tinh thần của chế độ phong
kiến, giai cấp tư sản Việt Nam dù cịn non yếu, vẫn muốn khẳng định
tính chất tiên phong của nĩ so với giai cấp phong kiến đã lỗi thời. Trong
hàng nghìn năm tồn tại, hệ tư tưởng phong kiến thống trị đã ăn sâu vào
đời sống tinh thần khiến cho những quan niệm cải cách, dù là “tư tưởng
cải cách xã hội một cách êm thắm trong phạm vi luật pháp” (61b.262)
như Hồng Đạo đã chủ trương cũng khơng thể một sớm một chiều được
sự đồng thuận của mọi người. Sức phản động là tất yếu. Vấn đề là ở chỗ:
hệ tư tưởng mới, quan điểm mới, lối sống mới cĩ tiến bộ hơn khơng? Cĩ
nhằm hướng cuộc sống con người tiến đến sự tự do, hạnh phúc vừa là
mục tiêu, vừa là nhu cầu, là địi hỏi chính đáng mang tính nhân văn sâu
sắc khơng? Xét về một mặt nào đĩ, sự thất bại của giai cấp tư sản Việt
) 94
Luận án Thạc sĩ khoa học Ngữ Văn Tính nhân văn qua hình tượng người phụ nữ …
Nam trong cuộc cách mạng dân chủ tư sản do Việt Nam Quốc dân đảng
và lãnh tụ Nguyễn Thái Học lãnh đạo đêm 09/3/1930 cĩ làm nhụt ý chí
đấu tranh giải phĩng dân tộc, thì về một mặt khác càng làm bùng phát
thêm những khát vọng cĩ tính chất hướng nội cĩ liên quan đến thế giới
tâm hồn, tình cảm của một giai cấp vốn khơng mạnh mẽ gì về ý chí và
sức đề kháng.
Hơn bất cứ quãng thời gian nào trong lịch sử phát triển của dân
tộc, chế độ phong kiến giờ đây ngày càng bộc lộ mạnh mẽ tính chất lỗi
thời, lạc hậu, phản nhân đạo, phản nhân văn của nĩ. Sự khát khao, vồ
vập chiếm lĩnh cái mới, được sống một cuộc sống mới tương đối thỏa
mãn, dù là về phương diện tinh thần, của tầng lớp nam nữ thanh niên
thành thị trong xã hội thực dân nửa phong kiến bấy giờ, đang cĩ điều
kiện hơn ai hết trong việc tiếp xúc với văn hĩa văn học phương Tây,
càng thơi thúc các nhà văn theo khuynh hướng lãng mạn chủ nghĩa phải
nêu ra và tìm cách giải quyết một vấn đề mới của xã hội hay ít ra là của
một bộ phận cơng chúng, phù hợp với nhãn quan giai cấp và chính kiến
của họ, đồng thời khơng đi ngược lại quyền lợi của bọn thực dân thống
trị.
Thực tế cho thấy, các nhà văn lãng mạn 1932 - 1945 đã chưa quan
tâm đến những vấn đề sống cịn của dân tộc như chống ngoại xâm giành
độc lập cho nước, hạnh phúc cho dân, nhưng phải ghi nhận cơng lao các
nhà văn lãng mạn trong cuộc đấu tranh chống phong kiến, chống lại sự
ràng buộc của lễ giáo khắt khe, chống lại sự xem thường thậm chí chà
đạp lên nhân phẩm của người phụ nữ, tầng lớp đơng đảo trong xã hội
(dễ dàng tìm thấy ở họ sự lưu giữ những tàn tích phong kiến, đồng thời
rất bén nhạy với những cái mới khi được tiếp xúc). Trong cuộc đấu tranh
đĩ, sự phản kháng quyết liệt của giai cấp phong kiến là tất yếu, và khơng
phải các nhà văn lãng mạn đã được sự đồng tình ngay của tất cả bạn đọc,
của những nhà nghiên cứu phê bình văn học lúc bấy giờ. Bằng chứng là
trong một loạt những cơng trình cĩ nhắc tới trong phần Dẫn luận, khi
nhận xét phê bình, đánh giá tiểu thuyết Tự lực văn đồn, tùy khuynh
hướng, quan điểm lập trường khác nhau mà các tác giả đã cĩ những lời
khen, chê rất khác nhau. Dù vậy, đọc tiểu thuyết Tự lực văn đồn, ai nấy
đều thấy rõ xu hướng đấu tranh chống lễ giáo phong kiến lạc hậu, phản
) 95
Luận án Thạc sĩ khoa học Ngữ Văn Tính nhân văn qua hình tượng người phụ nữ …
động là đáng hoan nghênh, tuy đi vào từng vấn đề cụ thể cĩ khi phải bàn
lại cho sự lựa chọn những cách giải quyết tối ưu.
Ở Chương hai phần Nội dung, trong đề mục “Quá trình diễn biến
của tiểu thuyết Tự lực văn đồn”, chúng tơi đã cĩ đề cập đến “Tơn chỉ
của Tự lực văn đồn” được xem như một định hướng chiến lược cho sự
sáng tạo mà người khởi thảo khơng ai khác hơn là Nhất Linh Nguyễn
Tường Tam. Là người xuất thân từ một gia đình cĩ truyền thống văn
chương, lại được ra nước ngồi học hành đến nơi đến chốn, Nguyễn
Tường Tam khi từ Pháp trở về nước với bằng Cử nhân Khoa học đã sớm
nhận thấy rằng làm văn hĩa văn chương cĩ thể gĩp phần thay đổi nhanh
hơn xã hội Việt Nam trì trệ, lạc hậu. Khơng bao lâu sau khi về nước
(1930), dạy học rồi viết báo, ơng đã mạnh dạn đứng ra tự tổ chức lấy
cơng việc sáng tác cho mình và cho bạn hữu. Sẽ khơng mấy khĩ khăn
khi giải thích một người yêu Kiều và văn chương Truyện Kiều, cùng với
sự hấp thụ một nền học vấn phương Tây như Nhất Linh đã mạnh dạn đề
xướng vấn đề trọng tự do cá nhân, mà biểu hiện sinh động là tự do trong
yêu đương và trong việc lựa chọn người bạn đời tâm đầu ý hợp. Từ
Đoạn tuyệt trở đi, Nhất Linh và Tự lực văn đồn đã tuyên chiến thật sự
với lễ giáo phong kiến hà khắc trong yêu đương và hơn nhân. Đồng tình
với vấn đề tự do cá nhân trong tình yêu, với lối sống tiểu gia đình độc
lập, một vợ một chồng, tiểu thuyết Tự lực văn đồn đã đi vào đề cập,
khai thác nhiều gĩc cạnh éo le, trắc trở khác nhau của đời sống tâm hồn,
tình cảm của nam nữ thanh niên thành thị. Từ việc yêu nhau trên cơ sở
tình yêu (Loan - Dũng, Lan - Ngọc, Liên - Minh) đến yêu nhau xuất phát
từ tình nghĩa (Mai - Lộc), thậm chí yêu nhau vụng trộm lén lút (Nhung -
Nghĩa); từ việc hơn nhân do cha mẹ ép buộc (Loan, Tuyết ...) đến hơn
nhân được xây dựng trên cơ sở tình yêu (Trường - Trinh) ... Lại bao
nhiêu vấn đề khác đặt ra khi bắt đầu cuộc sống lứa đơi: mối quan hệ mẹ
chồng - nàng dâu (Bà Phán Lợi - Loan); nàng dâu - anh em nhà chồng
(Loan - Bích, Châu); mẹ vợ - chàng rể (Bà Nhì - Trường); chị em bạn
dâu (Tính - Chuyên); anh em, chị em ruột (Trình - Khoa, Phụng - Nga)
... Tuy đều là những mối quan hệ đạo đức truyền thống, nhưng giờ đây
trong hồn cảnh xã hội, tâm lý giai cấp đã đổi khác, khơng thể khư khư
bám víu vào những tập tục, lề thĩi cĩ lợi cho việc duy trì đạo đức phong
kiến cổ hủ, lạc hậu. Tất nhiên, người đọc hơm qua và hơm nay cũng
) 96
Luận án Thạc sĩ khoa học Ngữ Văn Tính nhân văn qua hình tượng người phụ nữ …
khơng thể đồng tình với lối sống phĩng đãng theo kiểu “ngựa quen
đường cũ” của Tuyết (Đời mưa giĩ), dù trong tận đáy sâu của tâm hồn và
tình cảm Tuyết là người rất đáng cảm thơng.
Chống lễ giáo phong kiến cổ hủ, lạc hậu, khẳng định tự do trong
tình yêu và hơn nhân, các nhà văn Tự lực văn đồn bằng ngịi bút của
mình đã gĩp nên tiếng nĩi bênh vực, hơ hào cho một lối sống mới, nếp
sống mới, quan điểm sống mới khác với cuộc sống đơn điệu tẻ nhạt,
khuơn phép cứng nhắc, nhẫn nhục cam chịu, đau khổ tuyệt vọng như
cuộc sống trong các đại gia đình phong kiến đã từng tồn tại lâu đời trong
xã hội nơng nghiệp Việt Nam trước đây. Dù chưa thể thành cơng trong
cuộc cách mạng giải phĩng dân tộc, nhưng giai cấp tư sản Việt Nam
bằng sự nghiệp văn học của mình đã làm nên một cuộc cách mạng khác
làm rung chuyển thế giới tinh thần tù đọng, mục rỉ của giai cấp thống trị
phong kiến nệ cổ, bài bác cái mới và sự sáng tạo, hướng người đọc nĩi
chung và người đọc thành thị nĩi riêng sống theo lý tưởng nhân văn.
Tiểu thuyết Tự lực văn đồn, nhất là những tác phẩm thời danh cĩ đề cập
đến, đã bộc lộ rõ tính nhân văn bởi nĩ đã đứng về phía con người nĩi
chung, người phụ nữ nĩi riêng, bày tỏ thái độ cảm thơng đồng thời lên
tiếng chống lại tất cả những gì chà đạp lên quyền sống, quyền tự do,
quyền gây dựng một cuộc sống hạnh phúc của người phụ nữ, hướng họ
đến với nếp sống cao thượng, vị tha, với cuộc sống cơng bằng, văn minh.
Bên cạnh việc “giương cao ngọn cờ nhân văn, đấu tranh địi
quyền sống cho con người, địi giải phĩng cá nhân ra khỏi đại gia đình,
địi hạnh phúc lứa đơi kiểu mới” (61b.250) , Tự lực văn đồn cịn nêu lên
vấn đề cải cách xã hội, cải cách nơng thơn và đời sống tối tăm khổ cực
của người nơng dân, đặc biệt là người phụ nữ nơng dân nơng thơn (cảnh
gia đình bác Na - Đời mưa giĩ; cảnh sống của những người tá điền trong
cái ấp của Hạc ở Bắc Giang - Gia đình...).
Nhìn lại những tác phẩm cĩ đề cập đến chủ trương này, người đọc
thấy rõ cách giải quyết vấn đề của các nhà văn như Nhất Linh, Khái
Hưng, Hồng Đạo đều hết sức chủ quan, bởi chỉ xuất phát từ lịng thơng
cảm, từ thái độ ban ơn thậm chí thương hại của những Hạc, Bảo, Duy,
Thơ ... Việc làm của họ rất đáng hoan nghênh, nhưng chưa đủ để cải
) 97
Luận án Thạc sĩ khoa học Ngữ Văn Tính nhân văn qua hình tượng người phụ nữ …
cách xã hội, cải cách nơng thơn. Ý kiến của GS. Nguyễn Khánh Tồn
thẳng thắn hơn khi ơng cho rằng: “Hạng địa chủ khai minh như bá tước
Levin và cơng tước Bonconxki trong tiểu thuyết của Léon Tostoi thì ở
thuộc địa làm gì cĩ” (22.73).Thực tế cho thấy, mọi vấn đề gắn với cuộc
sống của người dân trong xã hội thuộc địa nửa phong kiến Việt Nam
những năm 1932 - 1945 đều khơng thể tách rời khỏi vấn đề dân tộc.
Dù vậy, viết về hình tượng người phụ nữ, tiểu thuyết Tự lực văn
đồn vẫn mang đậm tính nhân văn, bởi xuất phát từ nhiệt tình và tài
năng nghệ thuật của người nghệ sĩ đối với nhiều vấn đề xã hội được đặt
ra.
IV. CÁC NGUỒN ẢNH HƯỞNG:
Trong Chương I, chúng tơi đã cĩ dịp đề cập đến truyền thống
nhân văn chủ nghĩa trong văn học dân tộc và sự ảnh hưởng của chủ
nghĩa nhân văn phương Tây đối vơí văn học Việt Nam, nhất là từ đầu
thế kỷ XX trở đi. Từ đĩ cĩ thể thấy rằng, sự kế thừa và tiếp thụ văn học
quá khứ của dân tộc, cũng như văn học nước ngồi, là một tất yếu lịch
sử. Trào lưu văn học lãng mạn Việt Nam 1932 - 1945 nĩi chung và tiểu
thuyết Tự lực văn đồn nĩi riêng cũng khơng nằm ngồi quy luật đĩ.
Ở đây, chúng tơi muốn bàn đến nhiều hơn các nguồn ảnh hưởng
từ bên ngồi vào đối với tiểu thuyết Tự lực văn đồn.
Sau sự xuất hiện của các phương pháp sáng tác, các trào lưu văn
học ở châu Âu, ở Pháp giai đoạn hiện đại theo qui luật đổi mới và kế
thừa, Tự lực văn đồn ra đời trong hồn cảnh đặc thù của một quốc gia
phong kiến thuộc địa nên nĩ khơng những xen kẽ nhiều trào lưu khác
nhau của văn học hiện đại mà cịn chịu ảnh hưởng cả những trào lưu văn
học trước đĩ như chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa lãng mạn.
Trong quyển Văn học hiện đại - Văn học Việt Nam giao lưu gặp
gỡ, nhà nghiên cứu Trần Thị Mai Nhi đã cĩ viết:”Một loạt trào lưu văn
học nước ngồi đặc biệt qua con đường nhà trường Pháp đã ồ ạt dội
vào. Vì vậy khĩ cĩ thể tìm ở đây một trào lưu văn học nguyên lai
) 98
Luận án Thạc sĩ khoa học Ngữ Văn Tính nhân văn qua hình tượng người phụ nữ …
nào.”(72.83) . Chúng tơi cũng nghĩ như vậy. Nhưng ở tiểu thuyết Tự lực
văn đồn, dấu ấn của chủ nghĩa lãng mạn là đậm hơn cả.
Khơng bàn đến tác phẩm nào là tác phẩm lãng mạn và tác phẩm
nào là tác phẩm hiện thực, kể cả “việc sắp xếp các nhà văn đương thời
vào dịng này hay dịng kia thường chỉ cĩ một ý nghĩa tương đối và ít
nhiều cĩ tính chất qui ước” (53(1).10) , lâu nay những tiểu thuyết Tự lực
văn đồn mà ta quen gọi là tiểu thuyết lãng mạn cũng cần cĩ một cái
nhìn thống hơn. Nhà thơ Huy Cận đã từng khẳng định: “Cho hay những
tác phẩm cao đẹp thì bất chấp sự chia ơ, hoặc nĩi đúng là cáí đẹp cái
hay đĩ nĩ tràn ngập các ơ mà chúng ta đã ngăn sẵn”. Hay như nhà thơ
Chế Lan Viên quan niệm: “Về văn học trước Cách mạng, chia ra nào
lãng mạn nào hiện thực xã hội chủ nghĩa thì cũng đúng và cũng nên.
Nhưng chia ra để làm gì? Nếu chỉ để nĩi là chúng chống đối nhau, nam
nữ thọ thọ bất thân, nội bất đắc xuất, ngoại bất đắc nhập, thì nguy khiếp
lắm. Cho dù đồng sàng dị mộng thì cũng cĩ lúc gác chân lên nhau,
chúng chịu ảnh hưởng lẫn nhau, cĩ khi chống đối, cĩ lúc bổ sung, cĩ khi
thỏa hiệp, chứ đâu chỉ cĩ quan hệ lườm nguýt mới là quan hệ…”. Đĩ là
những vấn đề mà các nhà lý luận và nghiên cứu văn học cần phải tiếp tục
giải quyết để phá tan những ngộ nhận như hạ thấp ý nghĩa của văn học
lãng mạn cũng như đem qui kết một cách thiếu chính xác nhiều tác phẩm
gọi là lãng mạn mà thực chất rất ít yếu tố lãng mạn.
Nhìn vào tiểu thuyết Tự lực văn đồn 1932 - 1945, người ta thấy
rõ những đặc trưng của trào lưu lãng mạn chủ nghĩa được thể hiện một
cách sinh động. Đĩ là cái “tơi” cá nhân chủ nghĩa, là những nguyên tắc
chủ quan của sự thể hiện, là xu hướng thiên về mơ mộng, đặt ưu tiên vào
tính lý tưởng… Cĩ thể coi “ Trọng tự do cá nhân” (điều 7, Tơn chỉ của
Tự lực văn đồn) là mục tiêu cơ bản nhất của Tự lực văn đồn. Đĩ cũng
là điểm xuất phát của nhiều trào lưu văn học hiện đại phương Tây thế kỷ
XX. Phần đĩng gĩp của Tự lực văn đồn vào trào lưu nhân văn chủ
nghĩa của văn học dân tộc chủ yếu cũng là ở chỗ này. Trong Xây dựng
tác phẩm tiểu thuyết, nhà nghiên cứu văn học của miền Nam trước
1975, Nguyễn Văn Trung đã cĩ viết: “Nếu nhìn con người theo diễn tiến
lịch sử, cĩ thể coi con người trong tác phẩm của nhiều nhà văn trong Tự
lực văn đồn tiêu biểu cho giai đoạn đầu tiên của sự diễn tiến đĩ, nghĩa
) 99
Luận án Thạc sĩ khoa học Ngữ Văn Tính nhân văn qua hình tượng người phụ nữ …
là giai đoạn tự giác (consience de soi) …Tự giác là khởi điểm của sự
thức tỉnh, ý thức về mình như một nhân vị (une personne). Sự tự giác đĩ
xuất hiện trong lịch sử xã hội Việt Nam như một phản kháng chống đối
với quan niệm về con người của xã hội cũ, trong đĩ, con người chỉ là
những yếu tố đồng tính của một đám đơng là xã hội, hay cái tơi chìm
đắm trong cái ta vơ ngã”(45f.76) .
Anh hưởng của văn hố văn học phương Tây, văn hĩa văn học
Pháp vào xã hội Việt Nam nhất là ở các đơ thị đã thúc đẩy sự thức tỉnh
của con người với tư cách là “một cá thể, một mục đích tự tại, khơng
phải là một yếu tố trong một tồn thể đồng tính và khơng cĩ mục đích tự
tại”(45f.76) lên một mức độ cao hơn chưa từng thấy trước đĩ. Trong
Đời mưa giĩ (Khái Hưng - Nhất Linh), Tuyết đã từng khẳng định với
Chương trong bức thư từ biệt:”Em đã thề với em rằng bao giờ em cũng
sẽ là của em, từ thể phách cho chí tâm hồn. Em khơng sao làm vợ, nghĩa
là làm vật sở hữu của ai được”(82b.202).Trong Đoạn tuyệt, Loan cũng
đã từng nhận thức rằng: “Từ xưa đến giờ tất cả đời nàng dâu khác, cũng
như đời Loan chỉ là những đời người ta đem hy sinh để gây giịng giõi
cho các gia tộc. Bọn này khơng bao giờ cĩ quyền sống một đời riêng,
bao giờ cũng chỉ là một phần tử nhỏ mọn, yếu hèn đáng thương của
những gia đình khác” (81b.119). Nghĩa là, họ chưa bao giờ được ý thức
về mình như một nhân vị - cuộc đời tơi là của tơi và chỉ tơi chịu trách
nhiệm về cuộc đời tơi, khơng ai cĩ thể thay thế cho tơi.
Trong bài viết Hạnh phúc trong tác phẩm Nhất Linh (Văn số 37,
ngày 1/7/1965), Đặng Tiến đã cĩ nĩi về ảnh hưởng của André Gide (giải
Nobel Văn chương 1947) đối với Nhất Linh như sau: “Trong văn nghiệp,
tuy thỉnh thoảng cĩ nhắc qua tên Gide, Nhất Linh chưa bao giờ bày tỏ
cảm tình đặc biệt nào với Gide như là với Tolstoi, Sormeset Maugham.
Nhưng Nhất Linh sang Pháp giữa giai đoạn khí hậu văn học Pháp đang
thịnh hành tư trào Gidisme. Trực tiếp hay gián tiếp Nhất Linh học được
ở Gide giá trị của cảm giác, phương pháp khai thác phát triển ngũ quan
để tiếp nhận, để cưỡng đoạt hương vị của trần thế. Nhất Linh học được ở
Gide cách đầu tư tâm hồn vào sự phân tích, tra vấn hạnh phúc, cách bất
chợt hạnh phúc đang qua, cách đợi chờ hạnh phúc đang đến … cách thụ
hưởng đến tối đa những niềm vui nhỏ bé”(61c.14). Cái gọi là “duy cảm
) 100
Luận án Thạc sĩ khoa học Ngữ Văn Tính nhân văn qua hình tượng người phụ nữ …
giác chủ nghĩa” hoặc hình ảnh của “Kẻ vơ luân” (L’Immoraliste, 1901)
ở A.Gide khơng phải khơng cĩ chút gì đĩ ở những tác phẩm như Đời
mưa giĩ, Bướm trắng …Tuyết đã từng khắc sâu vào trái tim sắt đá của
mình câu châm ngơn ghê gớm: “khơng tình, khơng cảm, chỉ coi lạc thú ở
đời như một vị thuốc trường sinh” (82b.110). Đĩ là chưa kể sự gần gũi
với tư tưởng Freud khi nàng định nghĩa: “Thế ái tình là gì,thưa anh ?Nếu
chẳng phải là sự gặp gỡ của hai xác thịt?” (82b.137).
Nhiều người nĩi đến chương “Bên lị sưởi” là chương hồn tồn
được thêm vào sau này khi Nửa chừng xuân (Khái Hưng) được in thành
sách năm 1934. Ơ chương này, Khái Hưng muốn cho độc giả thấy được
ảnh hưởng tốt đẹp của tình yêu và lịng hy sinh cao thượng của Mai đối
với Lộc đã khiến chàng như mê man vào dự tính tương lai: “Đời anh từ
nay sẽ khơng riêng của anh nữa. Anh sẽ vì người khác, anh sẽ bỏ cái đời
an nhàn phú quí mà dấn thân vào cuộc đời giĩ bụi…” Dỗn Quốc Sỹ
trong Văn học và tiểu thuyết đã cĩ nhận xét: “Cĩ lẽ tác giả thấy trong
truyện Lộc đĩng một vai thảm bại quá, thiếu tinh thần tranh đấu , lại nhu
nhược và đa nghi, nên mới quyết định viết thêm chương này để phần nào
cứu gỡ cho vai Lộc”(9.317). Kết quả là “sự đổ vỡ của vai này đã làm suy
yếu rất nhiều tồn thể kiến trúc của tác phẩm” (9.323). Chúng tơi khơng
nghĩ như vậy. Nếu Lộc mất đi những nét tính cách trên thì đâu cịn là Lộc
nữa. Cịn sự phát triển tỏ ra khơng nhất quán ở tâm lý, tính cách Lộc là
do ta quen nhìn theo “thước đo” của chủ nghĩa hiện thực. Tất nhiên, ở
đây cịn cĩ vấn đề phụ thuộc vào tài năng nghệ thuật của tác giả. Nên
nhớ rằng chủ nghĩa lãng mạn cho phép nhà văn thể hiện đời sống theo
những nguyên tắc chủ quan, coi trọng việc xây dựng những hình mẫu lý
tưởng xa rời thực tế.
Tiếp nhận ảnh hưởng của các trào lưu văn học hiện đại, các tiểu
thuyết gia Tự lực văn đồn luơn chối từ hiện thực, đối lập với hiện thực,
bởi “Từ chối một nếp sống đã tạo sẵn, dù trên phương diện xã hội hay
trên phương diện đạo đức, ấy là con người biết hướng về một loạt những
giải pháp mới cho vấn đề bản chất và cứu cánh của mình” (2.93). Vấn
đề đấu tranh chống tập tục lễ giáo phong kiến, chống chế độ đại gia đình
phong kiến khơng chỉ xuất phát từ địi hỏi của hiện thực đời sống mà cịn
xuất phát từ đặc trưng của trào lưu lãng mạn chủ nghĩa. Nĩ cũng chống
) 101
Luận án Thạc sĩ khoa học Ngữ Văn Tính nhân văn qua hình tượng người phụ nữ …
lại “lối viết truyện xây dựng khéo léo, quân phân hạnh phúc và đau khổ
vừa đủ mức gây kinh hãi hoặc thích thú cho độc giả” (2.93). Sự phát
triển của Tự lực văn đồn càng về sau càng thấy rõ như vậy.
Đi sâu vào khám phá đời sống tâm linh của con người, các tác giả
Tự lực văn đồn như Khái Hưng, Nhất Linh, Thạch Lam khơng chỉ
dừng lại ở việc miêu tả sự vận động của ý thức, tiềm thức, vơ thức, của
bản năng nhân vật mà quan trọng hơn cả và trước tiên là các nhà văn ấy
“đã cĩ cái can đảm “mình dám là mình”dám viết ra tất cả những ý nghĩ
thầm kín dẫu những ý nghĩ ấy xấu xa đi nữa. Đọc Dostoievsky và một vài
nhà văn khác, André Gide, một nhà văn Pháp đã viết:
“Họ đã dạy tơi đừng nghi ngờ tơi nữa, đừng sợ những tư tưởng
của tơi”. Nhất Linh đã nhận xét về những văn sĩ lừng danh của thế giới
như thế. Ơng cịn nĩi thêm: “Câu “suy bụng ta ra bụng người” phải là
câu châm ngơn của các tiểu thuyết gia”.
Nhìn lại những tác phẩm thành cơng của Tự lực văn đồn, bao giờ
đời sống tâm hồn, đời sống tình cảm của các nhân vật cũng được tác giả
chú ý đúng mức. Nếu khơng để “cái ý định dùng tiểu thuyết làm một việc
gì (viết luận đề tiểu thuyết) lên trên cái ý định viết một cuốn tiểu thuyết
hay” thì chắc chắn thành cơng của các nhà văn Tự lực văn đồn sẽ cịn
lớn hơn nữa. Nên nhớ rằng thể loại tiểu thuyết luận đề là du nhập của
phương Tây. Tất nhiên, khơng phải tiểu thuyết nào của Tự lực văn đồn
cũng cĩ tính luận đề.
Nhận định chung về các nguồn ảnh hưởng trên đây chỉ cĩ tính
chất khảo sát, so sánh để làm sáng rõ thêm sự thành cơng của tiểu thuyết
Tự lực văn đồn. Dù vậy, nguồn ảnh hưởng lớn nhất với họ vẫn là bề
dày của truyền thống văn học dân tộc nĩi riêng và văn hĩa phương Đơng
nĩi chung.
V.NHỮNG ĐĨNG GĨP VÀ HẠN CHẾ:
Khi đề cập đến những đĩng gĩp và hạn chế của tiểu thuyết Tự lực
văn đồn, trước đây, người ta dễ bằng lịng với một quan điểm nhận xét
) 102
Luận án Thạc sĩ khoa học Ngữ Văn Tính nhân văn qua hình tượng người phụ nữ …
cĩ tính chất “tiên nghiệm” là: “Nghĩ mình cơng ít tội nhiều” (Truyện
Kiều). Quan điểm đĩ xét thấy chưa được cơng bằng.
Ở đây, bản thân đề tài luận án tự nĩ đã giới hạn: chưa đặt việc tìm
hiểu những đĩng gĩp và hạn chế về phương diện nghệ thuật. Đây là vấn
đề đã từng được các nhà nghiên cứu phân tích và đánh giá tương đối kỹ
lưỡng, vì đĩ là “cơng” lớn nhất theo cách nhìn trước đây, như đã nĩi.
Nhìn chung, qua những gì trình bày ở trên, tiểu thuyết Tự lực văn
đồn đã cĩ những đĩng gĩp và hạn chế sau đây về phương diện nội dung
thể hiện qua việc xây dựng những hình tượng nhân vật phụ nữ tiêu biểu,
chứa đựng giá trị nhân văn của tác phẩm:
1. Đĩng gĩp:
- Tiểu thuyết Tự lực văn đồn đã cĩ những đĩng gĩp tích cực vào
sự phát triển của cái tơi, cái tơi tự giác, cái tơi thức tỉnh, tự khẳng định
mình như là một nhân cách, một nhân vị, một cá tính cĩ nhu cầu khai
phĩng về mọi mặt, nhất là về phương diện đời sống tình cảm và đời sống
tâm linh.
Quan niệm về con người nĩi chung về người phụ nữ nĩi riêng ở
các tiểu thuyết gia Tự lực văn đồn là một quan niệm mới mẻ, tiến bộ.
Bằng việc xây dựng những hình tượng nghệ thuật sinh động khác nhau
về con người: con người cĩ ý thức chấp nhận cuộc đời và số phận ở cả
phần may và phần rủi; con người với những hành vi cĩ ý thức và bản
năng; con người trong một hồn cảnh khơng cĩ hoặc cĩ rất ít khả năng
lựa chọn (trong khi sự lựa chọn được xem là một hành vi cực kỳ quan
trọng quyết định đường đời, số phận của con người); con người luơn
chịu sự tác động bất lợi của hồn cảnh, luơn chịu sự ràng buộc, chi phối,
bao vây của hồn cảnh; con người với những khát vọng sống cá nhân,
những ham muốn hưởng thụ; con người bước đầu với đời sống tâm linh
phong phú, thậm chí “bí ẩn”, bất ngờ, khĩ lý giải; con người “dấn thân”;
con người phản kháng … Tự lực văn đồn đã gĩp phần đáng kể vào việc
tạo nên giá trị cơ bản của văn học dân tộc: tính nhân văn - được thể hiện
tập trung qua hình tượng người phụ nữ trong các tác phẩm tiểu thuyết
tiêu biểu. Đĩng gĩp đĩ cũng đã gĩp phần khơng nhỏ trong việc tạo dựng
) 103
Luận án Thạc sĩ khoa học Ngữ Văn Tính nhân văn qua hình tượng người phụ nữ …
nên bộ mặt văn hĩa tinh thần của dân tộc ta trong một giai đoạn lịch sử
đầy khĩ khăn thử thách: giai đoạn 1932 - 1945.
- Qua việc xây dựng hình tượng người phụ nữ đấu tranh chống lễ
giáo phong kiến, chống chế độ đại gia đình phong kiến, tiểu thuyết Tự
lực văn đồn đã đĩng gĩp vào việc phơi bày một mảng hiện thực cuộc
sống khắt khe, tàn nhẫn, nhỏ nhen, vơ lý, vơ nhân đạo trong các gia đình
phong kiến giàu cĩ nhưng hủ lậu. Những vấn đề cĩ liên quan đến người
phụ nữ mà các tác giả Tự lực văn đồn nêu ra khơng chỉ đĩng khung
trong khuơn khổ tình yêu và hơn nhân vượt lễ giáo phong kiến. Đĩ cịn
là vấn đề tự do tâm hồn, tự do thể xác, tự do yêu đương (chẳng hạn
Tuyết trong Đời mưa giĩ…). Trong bối cảnh xã hội lồi người ngày càng
phát triển với tốc độ nhanh chĩng về nhiều mặt, địi hỏi giải phĩng cá
nhân ngày càng mạnh mẽ và tồn diện, thì những vấn đề đã nêu trên của
Tự lực văn đồn khơng cịn là những vấn đề khá phổ biến trong xã hội
phương Tây, mà ngày càng trở nên là những hiện tượng xã hội khơng
phải mới mẻ gì ở ngay các quốc gia phương Đơng như Việt Nam. Từ đĩ,
nhiều vấn đề nảy sinh khiến người đọc phải suy nghĩ : trai gái khơng yêu
thương nhau nhưng cha mẹ ép lấy nhau, dẫn đến đổ vỡ gia đình thì con
cái ai chịu trách nhiệm?. Bắt đầu là yêu thương dẫn đến lấy nhau, nhưng
nếu như khơng cịn yêu nhau nữa vì tính tình khơng phù hợp, vì nhiều le,
thì người phụ nữ cĩ cần phải tiếp tục buộc chặt mình vào quan hệ gia
đình, con cái ? … Cùng với sự phát triển của xã hội, người phụ nữ ngày
càng ít cĩ ý muốn hoặc ít cĩ cơ hội để xây dựng gia đình. Vậy phải giải
quyết như thế nào địi hỏi của đời sống tình cảm, tình dục như là những
địi hỏi chính đáng mang ý nghĩa nhân văn, ý nghĩa đạo đức? Đĩ là chưa
kể hàng loạt những vấn đề cĩ tính chất đặc thù đã và đang đặt ra cho xã
hội Việt Nam trong và sau chiến tranh mà chúng ta cần phải cĩ định
hướng giải quyết.
-Với những hình tượng phụ nữ được xây dựng thành cơng, tiểu
thuyết Tự lực văn đồn đã gĩp vào kho tàng văn học Việt Nam những
con người cĩ cá tính, tươi trẻ, hoạt động, cĩ ý thức phản kháng, cĩ khi
phiêu lưu …đồng thời bổ sung những nét tính cách cĩ tính chất truyền
thống như yêu chồng thương con, đảm đang, nhẫn nại … giúp hồn
chỉnh sự nhận thức của người đọc về những con người cùng giới hay
) 104
Luận án Thạc sĩ khoa học Ngữ Văn Tính nhân văn qua hình tượng người phụ nữ …
khác giới với mình. Tính nhân văn của văn học dân tộc, vì thế, cũng
được đẩy lên một bước mạnh mẽ.
2. Hạn chế:
- Xây dựng hình tượng người phụ nữ đấu tranh chống lễ giáo
phong kiến, các nhà văn Tự lực văn đồn vẫn chỉ mới đề cập đến mặt thứ
yếu trong cuộc đấu tranh chống phong kiến, nhằm thủ tiêu chính sách
chiếm hữu ruộng đất, chính sách bĩc lột qua thu tơ, sự áp chế về tinh
thần nhất là khi chúng cấu kết với bọn thực dân thống trị để áp bức nhân
dân ta. Chính những nhà văn Tự lực văn đồn trong thời kỳ Mặt trận
Dân chủ đã nhận thấy “ngọn cờ” chống phong kiến mà mình giương lên
đã khơng cịn cĩ sức hấp dẫn như lúc đầu trước thực tiễn đời sống xã hội
nĩi chung, đời sống của đại bộ phận nhân dân là giai cấp nơng dân nĩi
riêng đang lâm vào kiếp sống u tối cơ cực (“Mười điều tâm niệm cho
thanh niên” -Ngày nay, 1936 - do Hồng Đạo đưa ra khơng hơn gì lời
kêu gọi bởi nĩ khơng tạo ra được một cơ sở, khơng bắt rễ được vào
mảnh đất hiện thực rộng lớn là nơng thơn của người nơng dân, một khi
đối tượng ơng nhắm tới là những người cùng giai cấp với mình - những
trí thức thành thị - sản phẩm của nền văn minh Tây Phương thuộc địa.
Tiếp tục vấn đề thời sự lúc bấy giờ là nơng thơn và nơng dân, tờ Ngày
nay, năm 1937 đã cho đăng loạt bài “Bùn lầy nước đọng”, sau in thành
sách dưới tên Hồng Đạo. Những bài viết đĩ cĩ thể cĩ ít nhiều giá trị
trong việc tìm hiểu đời sống nơng dân, nơng thơn, hơn là “giá trị” vì đĩ
là sách lược đấu tranh cải tạo xã hội theo đường lối cải lương của giai
cấp tư sản, tiểu tư sản Việt Nam).
-Khi đặt ra vấn đề giải phĩng cái “tơi” cá nhân của người phụ nữ
ra khỏi xích xiềng của lễ giáo phong kiến cổ hủ phong kiến đáng nguyền
rủa, các nhà văn Tự lực văn đồn chỉ mới nhìn về phía các chị em bạn
gái tư sản hay tiểu tư sản lớp trên, cĩ học hành, cuộc sống ít phải lo toan
về sinh kế, cịn chị em ở nơng thơn nghèo nàn, hầu hết thất học và mê tín
dị đoan lại chiếm số lượng đơng đảo, thì họ chưa tìm ra được cách nào
để giác ngộ họ.Vấn đề giải phĩng phụ nữ ở nơng thơn đặt ra khơng thể
tách rời khỏi vấn đề cải cách nơng thơn, cải cách ruộng đất. Do sự hạn
chế ở ý thức hệ giai cấp, các nhà văn lãng mạn chưa nhận thức một cách
) 105
Luận án Thạc sĩ khoa học Ngữ Văn Tính nhân văn qua hình tượng người phụ nữ …
triệt để vấn đề cốt lõi đĩ. Chính họ cũng cơng nhận sự thất bại trong
những đường lối cải lương của mình đối với vấn đề nơng dân và nơng
thơn.
Từ những hạn chế đã nêu ở trên, những ai quan tâm theo dõi cuộc
đấu tranh chống phong kiến của giai cấp tư sản Việt Nam trên văn đàn
cơng khai đều nhận thấy rằng: cuối cùng, chủ nghĩa nhân văn tư sản phải
chịu thất bại. Khơng kể những tác phẩm cĩ giá trị tích cực viết ra trong
thời gian đầu (Hồn bướm mơ tiên, Nửa chừng xuân, Đoạn tuyệt…), càng
về sau, các nhà văn Tự lực văn đồn càng rơi vào tình trạng khủng hoảng
và bế tắc ở chính lý tưởng nhân văn mà họ theo đuổi. Bao nhiêu nhân vật
phụ nữ chẳng những đã khơng sống được với ý muốn, ước mơ của mình,
nhiều khi, họ cịn buộc phải chấp nhận một cuộc sống tệ hại hơn cuộc
sống vốn đã từng chán ghét trước đĩ, vì khơng cĩ cách giải quyết nào
khác hơn. Từ Tuyết trong Đời mưa giĩ đến Nhung trong Lạnh lùng,
Hồng trong Thốt ly…, tất cả đều phải “trả giá” cho những khát vọng
sống của mình. Điều đĩ cĩ nghĩa là, các tiểu thuyết gia tiêu biểu của Tự
lực văn đồn đã khơng bảo vệ được lý tưởng nhân văn của giai cấp họ.
Tính nhân văn qua hình tượng người phụ nữ trong các tiểu thuyết lãng
mạn tiêu biểu đã đề cập cũng khơng tránh khỏi những hạn chế. So sánh
một số tác giả văn học trung đại như Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương hoặc
một vài tác giả văn học hiện thực như Ngơ Tất Tố, Nam Cao với các
nhà văn lãng mạn cùng giai đoạn người ta càng thấy rõ vấn đề. Một Thúy
Kiều dù cĩ phải “trải bao giĩ dập sĩng dồi” (Tố Hữu) cuối cùng cũng
gặp lại được người yêu Kim Trọng. Và trong bước đường lưu lạc của
nàng, “hiếm cĩ một nhân vật thứ hai nào cĩ ý thức về cuộc sống, ý thức
làm người rõ rệt, sâu sắc như Thuý Kiều” (40b.84). Nữ sĩ Hồ Xuân
Hương trong những bài thơ của mình, bao giờ cũng đứng về phía người
phụ nữ để bênh vực hoặc tố cáo. Chị Dậu trong tác phẩm Tắt đèn của
Ngơ Tất Tố một mình đã đương đầu chống lại cả cái xã hội phong kiến ở
nơng thơn để bảo vệ nhân cách, phẩm giá, bảo vệ tình yêu đối với chồng,
với con. Dở hơi như Thị Nở cũng đến được với tình yêu Chí Phèo …
Thấy được những hạn chế khơng cĩ nghĩa là hạ thấp những đĩng
gĩp của tiểu thuyết Tự lực văn đồn, ngược lại, càng trân trọng hơn
) 106
Luận án Thạc sĩ khoa học Ngữ Văn Tính nhân văn qua hình tượng người phụ nữ …
những gì các nhà văn lãng mạn Việt Nam 1932-1945 đã đĩng gĩp được
cho trào lưu văn học mang tính nhân văn trong lịch sử văn học dân tộc.
) 107
Luận án Thạc sĩ khoa học Ngữ Văn Tính nhân văn qua hình tượng người phụ nữ …
PHẦN KẾT LUẬN
Chỉ khơng đầy mười lăm năm kể từ ngày ra đời, trào lưu văn học
lãng mạn 1932 - 1945 nĩi chung và tiểu thuyết Tự lực văn đồn giai
đoạn này nĩi riêng đã phát triển và kết thúc với một tiến độ nhanh chĩng
khác thường, để lại cho văn học dân tộc một khối lượng tác phẩm đồ sộ.
Quá trình diễn biến của tiểu thuyết Tự lực văn đồn cũng là quá trình
giai cấp tư sản và tiểu tư sản Việt Nam, bằng ngịi bút của mình, đã
cơng khai bày tỏ mối quan tâm và mong ước trước những vấn đề của
hiện thực đời sống xã hội Việt Nam thời bấy giờ. Nhìn vào nội dung
những vấn đề tiểu thuyết Tự lực văn đồn nêu lên, những ai cĩ quan tâm
đến văn học xưa nay, đều cĩ thể bắt gặp ở đĩ một sự kế thừa và tiếp tục
phát huy những truyền thống vốn cĩ của văn học dân tộc. Trong đĩ cĩ
truyền thống nhân đạo, nhân văn.
Như bất kỳ một nền văn học dân tộc nào khác trên thế giới, đề tài
về người phụ nữ vẫn chiếm được sự quan tâm đặc biệt của người nghệ sĩ.
Ở luận án này, tính nhân văn được xem như một hằng tính của văn học,
một khuynh hướng nhìn nhận tổng hợp mọi giá trị của văn học đã được
đề cập đến trong quá trình phân tích, đánh giá, thẩm định hình tượng
người phụ nữ được xây dựng qua những tác phẩm tiểu thuyết tiêu biểu
của những nhà văn Tự lực văn đồn tiêu biểu.
Bằng việc xây dựng hình tượng người phụ nữ được khẳng định và
bị phê phán trong cuộc đấu tranh chống lễ giáo phong kiến cổ hủ lạc
hậu, chống chế độ đại gia đình phong kiến bất cơng, tàn bạo nhằm giải
phĩng cái “tơi”, địi quyền tự do trong yêu đương và hơn nhân, tự do tâm
hồn và thể chất, tiểu thuyết Tự lực văn đồn đã gĩp phần đáng kể trong
việc phát triển tính nhân văn của nền văn học dân tộc.
Nhiều tác phẩm tiểu thuyết Tự lực văn đồn đã thực sự là những
tác phẩm giàu tính nhân văn. Thốt khai từ truyền thống nhân văn của
dân tộc, cùng ảnh hưởng từ ngồi vào, tiểu thuyết Tự lực văn đồn đã đề
) 108
Luận án Thạc sĩ khoa học Ngữ Văn Tính nhân văn qua hình tượng người phụ nữ …
cập đến nhiều vấn đề và tìm sự đĩng gĩp mới trong việc khám phá, thể
hiện nội dung hiện thực đời sống được nhà văn quan tâm.
Cĩ thể thấy trong cuộc đấu tranh chống phong kiến, chống lại sự
ràng buộc của lễ giáo khe khắt, của sự chà đạp lên nhân phẩm người
phụ nữ, các tiểu thuyết gia Tự lực văn đồn bằng những cố gắng của
mình đã làm cho người đọc thấy được rằng chế độ đại gia đình phong
kiến là phản nhân đạo, phản nhân văn; rằng cái cũ lỗi thời, lạc hậu tất
yếu sẽ bị đẩy lùi trước cái mới văn minh, tiến bộ, dù trước mắt cĩ khi
chưa phải là dễ dàng.
Gắn liền với cuộc đấu tranh địi hỏi giải phĩng cá nhân chống lại
uy quyền của lễ giáo phong kiến, tiểu thuyết Tự lực văn đồn luơn chủ
trương trọng tự do cá nhân, trước hết là tự do trong tình yêu và hơn
nhân. Chưa bao giờ trong văn học Việt Nam trước 1932, cái "tơi" cá
nhân, cá thể được khẳng định một cách quyết liệt như trong "thơ mới" và
trong tiểu thuyết Tự lực văn đồn.
Chưa hết, chủ trương của Tự lực văn đồn cịn là vấn đề cải cách
xã hội, cải cách nơng thơn cùng với đời sống tối tăm khổ cực của người
nơng dân trong đĩ cĩ người phụ nữ nơng dân. Cĩ thể cách giải quyết mà
các tiểu thuyết gia đưa ra mang nặng dấu ấn của tư tưởng chủ quan, cải
lương, thậm chí thỏa hiệp, điều hịa mâu thuẫn giai cấp, nhưng nhiệt tình
của họ thì khơng thể phủ nhận.
Mặc dù cịn cĩ những hạn chế, tiểu thuyết Tự lực văn đồn với
những đĩng gĩp đáng kể vào quá trình phát triển của lịch sử văn học,
lịch sử thể loại, của nền văn học dân tộc mang tính nhân văn, mãi mãi nĩ
được ghi nhận như một hiện tượng văn học khơng thể nào quên được,
sản sinh từ địi hỏi của thời đại và trở lại thỏa mãn nhu cầu bức thiết của
thời đại.
Ngày nay, xã hội Việt Nam đã trải qua nhiều sự đổi thay lớn lao cĩ tính chất
quyết định cho sự tồn vong hay hưng thịnh của đất nước, của dân tộc, nhưng
những vấn đề tiểu thuyết Tự lực văn đồn đã từng đề cập đến chưa phải là cũ.
Nhiều tiểu thuyết đương đại của các tác giả mà tên tuổi của họ trở nên gần gũi
với độc giả như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Lê Lựu, Tạ Duy Anh,
) 109
Luận án Thạc sĩ khoa học Ngữ Văn Tính nhân văn qua hình tượng người phụ nữ …
Ma Văn Kháng, Nguyễn Khắc Trường, Bảo Ninh … đang tiếp tục làm người
đọc phải suy nghĩ để sống sao cho tốt đẹp hơn trong mối quan hệ CÁ NHÂN -
GIA ĐÌNH - XÃ HỘI. Nền văn học Việt Nam giàu tính nhân văn vẫn khơng
ngừng phát triển. Hình tượng người phụ nữ vẫn luơn luơn chứa đựng sức hấp
dẫn vốn cĩ đối với nhà văn và độc giả mọi thời đại.
) 110
THƯ MỤC THAM KHẢO
1. Marx Karl Engels F., Lenine V.I. Về văn học và nghệ thuật, NXB Sự thật
H., 1977.
2. Albérès R.M Tổng kết văn học thế kỷ XX. Phạm Đình Khiêm dịch. Viện Đại
học Huế, 1963.
3. Bạch Văn Hợp a. Lịch sử văn học Việt Nam (1930 – 1945). Trường ĐHSP
Tp.Hồ Chí Minh, 1985. Lưu hành nội bộ.
b) Tư liệu tham khảo tiểu thuyết Tự lực văn đồn và phong trào
thơ mới. Trường ĐHSP Tp.Hồ Chí Minh, 1985. Lưu hành nội
bộ.
4. Bắc Phong Quốc văn tổng giảng. Tủ sách tự học S. 1972
5. Brewster Dorothy và Burrell John Angus. Tiểu thuyết hiện đại. Bản dịch của
Trương Thanh Bình. Tủ sách Kim Văn. Ủy ban dịch thuật Phủ
Quốc vụ khanh đặc trách văn hĩa xuất bản. S, 1971.
6. Bùi Đức Tịnh Những bước đầu của báo chí tiểu thuyết và thơ mới. NXB
Tp.Hồ Chí Minh,1992.
7. Bửu Ý Tác giả thế kỷ XX. Tập I. An Tiêm xuất bản, S., 1968.
8. Chu Quang Tiềm Tâm lý văn nghệ, NXB Tp.Hồ Chí Minh,1991.
9. Dỗn Quốc Sỹ Văn học và tiểu thuyết. Sáng Tạo xuất bản, S., 1973.
10. Durant Will Lịch sử văn minh Trung Quốc. Trung tâm thơng tin trường
ĐHSP Tp.Hồ Chí Minh 1992.
11. Dương Quảng Hàm Việt Nam văn học sử yếu. Bộ giáo dục. Trung tâm học liệu
xuất bản. S., 1968.
12. Đặng Thanh Lê Truyện Kiều và thể loại truyện Nơm. Tạp chí Văn học, số 2,
1988.
13. Đặng Trần Cơn Chinh phụ ngâm. NXB Đồng Nai, 1995.
14. Đỗ Đức Hiểu Đổi mới phê bình văn học. NXB KHXH-NXB Mũi Cà Mau,
1993.
15. Gulaiep N.A Lý luận văn học . NXB ĐH và THCN, H., 1982.
16. Hà Minh Đức Về bộ tuyển văn xuơi lãng mạn Việt Nam 1930–1945. Tuần
báo Văn nghệ, H., Số 11, 1990.
17. Hồi Thanh Hồi Chân. Thi nhân Việt Nam 1932 – 1941. NXB Văn học H.,
1996.
18. Hồng Ngọc Phách Tố Tâm (tâm lý tiểu thuyết). NXB Văn nghệ – Hội
NCGDVH Tp.Hồ Chí Minh, 1988.
19. Hồng Trinh Phương Tây, văn học và con người. T1, T2 NXB KHXH, H.,
1969, 1971.
20. Hồng Xuân Lữ Huy Nguyên. Hồ Xuân Hương thơ và đời. NXB Văn hĩa,
H.,1995.
21. Hồ Xuân Hương Thơ NXB Văn học, H., 1994.
22. Huỳnh Lý Hồng Dung, Nguyễn Hồnh Khung, Nguyễn Đăng Mạnh,
Nguyễn Trác. Lịch sử văn học Việt Nam (1930 – 1945), tập V
phần 1, NXB Giáo dục, H., 1978.
23. Hữu Ngọc (Chủ biên). Từ điển tác giả văn học và sân khấu nước ngồi.
NXB Văn hĩa, H., 1982.
24. Lê Bá Hán Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi. Từ điển thuật ngữ văn học.
NXB Giáo dục, H., 1992.
25. Lê Duy Tú Quan niệm con người cá nhân trong tiểu thuyết Tự lực văn
đồn. Tạp chí văn học, H., Số 4, 1994.
26. Lê Đình Kỵ Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực. NXB Hơị Nhà văn Tp.Hồ
Chí Minh, S., 1967.
27. Lê Hữu Mục Luận đề về Nhất Linh. Nhận Thức xuất bản, Huế, 1994.
28. Lê Ngọc Trà Lý luận và văn học NXB Tre, Tp.Hồ Chí Minh 1990.
29. Lê Tiến Dũng Giáo trình Lý luận văn học, phần Tác phẩm văn học, Huế 1994.
30. Lê Thị Đức Hạnh Thêm mấy ý kiến về Tự lực văn đồn. Tạp chí Văn học, H.
số 3, 1991.
31. Lê Thị Nhâm Tuyết Phụ nữ Việt Nam qua các thời đại. NXB KHXH, H., 1975.
32. Lê Trí Viễn Đặc điểm lịch sử văn học Việt Nam. NXB ĐH và THCN, H.,
1987.
33. Maurois André Các trào lưu lớn của tư tưởng hiện đại. Bản dịch của Tràng
Thiên. Thời mới xuất bản, S, 1966.
34. Mộng Bình Sơn Đào Đức Chương. Nhà văn phê bình. Khảo cứu văn học Việt
Nam 1932 – 1945. NXB Văn học, H., 1996.
35. Nguyễn Cơng Hoan Cơ giáo Minh. NXB Văn nghệ Tp.Hồ Chí Minh, 1998.
36 Nguyễn Du Truyện Kiều. NXB ĐH và THCN, H., 1976.
37. Nguyễn Đăng Mạnh Nhà văn, tư tưởng và phong cách. NXB Văn học, H.,1983.
38. Nguyễn Đức Nam, Phùng Văn Tửu, Đặng Anh Đào, Hồng Nhân. Văn học
phương Tây. T2. NXB Giáo dục, H., 1986.
39. Nguyễn Huệ Chi a) (Sưu tầm, biên soạn, giới thiệu). Tuyển tập Hồng Ngọc
Phách. NXB Văn học, H., 1989.
b) Đổi mới nhận thức lịch sử trong nghiên cứu khoa học xã hội
nĩi chung nghiên cứu văn học nĩi riêng. Tạp chí văn học,
6/1990.
40. Nguyễn Lộc a) Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII nửa đầu thế kỷ
XIX.T1. NXB ĐH và THCN, H., 1976.
b) Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII nửa đầu thế kỷ
XIX.TII. NXB ĐH và THCN, H., 1978.
41. Nguyễn Ngọc Thiện “Tiểu thuyết hướng nội“ trong văn xuơi Việt Nam hiện đại.
Tạp chí Văn học, số 6, 1990.
42. Nguyễn Q. Thắng Tìm hiểu một tác phẩm văn chương. Trường Xuân xuất bản. S.,
1974.
43. Nguyễn Tấn Long, Phan Canh. Khuynh hướng thi ca tiền chiến. Sống Mới xuất
bản, S., 1968.
44. Nguyễn Trác Đái Xuân Ninh. Về Tự lực văn đồn. NXB Tp.Hồ Chí Minh
1989.
45. Nguyễn Văn Trung a) Nhà văn người là ai với ai. Nam Sơn xuất bản, S., 1965.
b) Lược khảo văn học Tập II. Nam Sơn xuất bản, S., 1966.
c) Nhận định II. Nam Sơn xuất bản, S., 1964.
d) Nhận định V. Nam Sơn xuất bản, S., 1969.
e) Lược khảo văn học. Nam Sơn xuất bản, S., 1970.
f) Xây dựng tác phẩm tiểu thuyết. Nam Sơn xuất bản, S., 1965.
46. Nguyễn Vỹ Văn thi sĩ tiền chiến. Khai Trí xuất bản, S., 1970.
47. Nguyễn Văn Xung Bình giảng về Tự lực văn đồn. Tân Việt xuất bản, S., 1958.
48. Nhiều tác giả Khảo về tiểu thuyết. NXB Hội nhà văn, H., 1996.
49. Nhiều tác giả Số phận của tiểu thuyết. NXB Tác phẩm mới, H., 1983.
50. Nhiều tác giả Triết học (dùng cho NCS và học viên Cao học). Tập III. NXB
Chính trị quốc gia, H., 1995.
51. Nhiều tác giả Văn học và cuộc sống. NXB Lao động, H., 1996.
52. Nhiều tác giả Văn học thế giới hiện đại. Bửu Ý dịch. An Tiêm xuất bản, S.,
1973.
53. Nhiều tác giả Văn xuơi lãng mạn Việt Nam (1930 – 1945). T1, 2, 3, 4, 5, 6, 7,
8. NXB KHXH, H., 1989.
54. Nhiều tác giả Giai phẩm Thời Tập các số 6, 11, 12, 15, 22, số đặc biệt về cái
chết của Khái Hưng (phát hành ngày 15/3/1974). Tổng phát
hành Nam Cường, S., 1974 và 1975.
55. Nhiều tác giả Nguyệt san Văn Uyển, S., số 6, tháng 10/1968.
56. Nhiều tác giả Tập san Văn các số 80, 94, 107, 108, 152, 156, 169-S., 1967,
1968, 1970, 1971.
57. Phạm Thế Ngũ Việt Nam văn học sử giản ước tân biên. Tập III. Quốc học tùng
thư, S., 1972.
58. Phạm Văn Diêu Việt Nam văn học giảng bình. NXB Hồnh Sơn, S., 1970.
59. Phạm Văn Sĩ Về tư tưởng và văn học Tây hiện đại. NXB ĐH và THCN, H.,
1986.
60. Phong Lê Thạch Lam trong Tự lực văn đồn. Tạp chí Văn học, số 2,
1988.
61. Phan Cự Đệ a) Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại. T1. NXB ĐH và THCN, H.,
1974.
b) Văn học lãng mạn Việt Nam (1930 – 1945). NXB Giáo dục,
H., 1997.
c) Ảnh hưởng của văn học Pháp và văn học Anh vào văn học
Việt Nam từ 1930. Tạp chí Văn học, H., 1996.
62. Thanh Lãng a) Bảng lược đồ văn học Việt Nam. Quyển hạ. Trình Bày xuất
bản, S., 1967.
b) 13 năm tranh luận văn học. T1, 2,3. NXB Văn học. Hội NC
và GDVH Tp.Hồ Chí Minh, 1995.
63. Thế Uyên Những người đã qua. Văn Uyển xuất bản, S., 1968.
64. Thư Trung Khái Hưng, thân thế và tác phẩm. Nam Hà xuất bản, S., 1972.
65. Tú Mỡ Trong bếp núc của Tự lực văn đồn. Tạp chí Văn học, số 5+6,
1988.
66. Trần Duy Châu, Nguyễn Văn Khỏa, Lương Duy Trung, Nguyễn Trung Hiếu
Phùng Văn Tửu. Lịch sử văn học phương Tây. T1. NXB GD,
H., 1979.
67. Trần Đình Hượu, Lê Chí Dũng. Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời
1900-1930. NXB ĐH và GDCN, H., 1988.
68. Trần Đình Sử Lý luận và phê bình văn học. NXB Hội Nhà văn, H., 1996.
69. Trần Đức Thảo Vấn đề con người và chủ nghĩa “ lý luận khơng cĩ con người”.
NXB Tp.Hồ Chí Minh, 1989.
70. Trần Mạnh Hảo Phê bình phản phê bình. NXB Văn nghệ, Tp.Hồ Chí Minh,
1996.
71. Trần Thanh Đạm Để văn hĩa Việt Nam giao lưu và hội nhập với thế giới hơm
nay. Tạp chí Văn số 48,10-1995.
72. Trần Thị Mai Nhi Văn học hiện đại văn học Việt Nam giao lưu gặp gỡ. NXB Văn
học, H., 1994.
73. Trương Chính a) Vấn đề đánh giá “Tự lực văn đồn”. Tạp chí Văn học, số
3+4, 1988.
b) Nhìn lại vấn đề giải phĩng phụ nữ trong tiểu thuyết Tự lực
văn đồn. Tạp chí Văn học 5/1990
74. Văn Giá (Tuyển chọn và biên soạn). Nhà văn và tác phẩm trong trường
phổ thơng : Hồi Thanh – Vũ Ngọc Phan – Hải Triều – Đặng
Thai Mai. NXB Giáo dục, 1997.
75. Vơnghin V.P Chủ nghĩa nhân văn và chủ nghĩa xã hội. NXB Sự thật, H.,
1995.
76. Vu Gia a) Nhất Linh trong tiến trình hiện đại hĩa văn học. NXB Văn
hĩa, H., 1995.
b) Khái Hưng nhà tiểu thuyết. NXB Văn hĩa, H., 1993.
c) Thạch Lam thân thế và sự nghiệp. NXB Văn hĩa, H., 1994.
77. Vũ Ngọc Phan Nhà văn hiện đại. T1, T2. NXB Văn học -Hội Nghiên cứu và
giảng dạy văn học Tp.Hồ Chí Minh, 1994.
78. Vũ Tuấn Anh Tư duy nghiên cứu văn học hiện đại trước yêu cầu đổi mới. Tạp
chí Văn học, H., số 5, 1990.
79. Xuân Diệu Các nhà thơ cổ điển Việt Nam. NXB Văn học, H., 1982.
#
80. Khái Hưng a) Đẹp. Phượng Giang xuất bản. S, 1958.
b) Hồn bướm mơ tiên. NXB Tổng hợp An Giang, 1988.
c) Nửa chừng xuân. NXB Đại học và Trung học chuyên
nghiệp, H., 1988.
d) Băn khoăn. NXB Văn học, H., 1995.
e) Trống Mái. NXB Văn học, H., 1995.
81. Nhất Linh a) Bướm trắng. NXB Tổng hợp An Giang, 1989.
b) Đoạn tuyệt. NXB Văn nghệ Tp.Hồ Chí Minh, 1994.
82. Khái Hưng và Nhất Linh
a) Gánh hàng hoa. NXB Văn học, H., 1995.
b) Đời mưa giĩ. NXB Tổng hợp Đồng Tháp, 1997.
83. Thạch Lam Ngày mới. NXB Tổng hợp An Giang, 1988.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
- be015627_5544.pdf