Hàng hoá sức lao động xuất hiện đánh dấu một giai đoạn mới trong lịch sử phát
triển kinh tế của xã hội loài người. Nó thể hiện sự thay đổi to lớn trong trình độ của lực
lượng sản xuất, sự phân công lao động diễn ra mạnh mẽ, năng suất lao động tăng cao, xã
hội chuyển từ nền kinh tế hàng hoá giản đơn sang nền kinh tế tư bản chủ nghĩa.
Hàng hoá sức lao động đã xuất hiện trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa
và đã được C.Mác nghiên cứu, xây dựng thành lý luận hàng hoá sức lao động. Với lý luận
này, C.Mác đã vạch rõ bản chất của nền sản xuất hàng hoá TBCN và khám phá ra quy luật
chi phối sự vận động và phát triển của xã hội tư bản chủ nghĩa.
102 trang |
Chia sẻ: lylyngoc | Lượt xem: 5611 | Lượt tải: 1
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Vận dụng lý luận hàng húa sức lao động của C.Mác vào phát triển thị trường lao động ở nước ta, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ức lao động cũng được nâng lên. Điều này cho thấy muốn nâng
cao khả năng cạnh tranh của hàng hoá sức lao động thì phải dựa vào thành quả của CNH,
HĐH.
Sự nghiệp CNH, HĐH đã và đang góp phần nâng cao năng suất lao động trong các
ngành kinh tế ở nước ta, và dựa trên cơ sở của mức tăng năng suất lao động trong nền kinh
tế mà Nhà nước ta thực hiện việc cải cách chế độ tiền lương. Nhà nước ta không thể xây
dựng một chính sách tiền lương vượt quá khả năng của nền kinh tế còn lạc hậu.
Để chuyển nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu lên nền kinh tế công nghiệp hiện đại,
Nhà nước ta thực hiện việc chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế và làm thay đổi cơ cấu lao
động. Điều này ảnh hưởng đến tình hình cung cầu về hàng hoá sức lao động trên thị trường
sức lao động. Chính vì vậy, Nhà nước phải chủ động nắm bắt xu hướng phát triển của quá
trình CNH, HĐH để có chính sách điều tiết hợp lý quan hệ cung cầu về hàng hoá sức lao
động.
Việc trang bị máy móc hiện đại cho các ngành kinh tế buộc các cơ sở sản xuất, kinh
doanh phải tổ chức lại sản xuất và sắp xếp lại lực lượng lao động.
Ngày nay, khu vực hoá và toàn cầu hoá kinh tế đang là một xu thế của thời đại.
Việc phát triển thị trường sức lao động của nước ta không nằm ngoài xu thế đó. Do vậy,
việc giải quyết mối quan hệ cung - cầu - sức lao động không chỉ nhằm thúc đẩy trực tiếp
quá trình chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế quốc dân, mà còn phải tính đến xuất khẩu sức lao
động ra các nước. Phải coi xuất khẩu sức lao động ra các nước, nhất là các nước có nền
công nghiệp phát triển là một hướng phát triển thị trường sức lao động. Hướng này không
chỉ nhằm vào giải quyết thu nhập trước mắt cho người lao động và tạo vốn tích luỹ cho
nền kinh tế, mà còn nhằm nâng cao giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động, chuẩn bị
lượng cung sức lao động cho đẩy mạnh CNH, HĐH trong tương lai và quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế.
3.1.4. Vận dụng lý luận hàng hoá sức lao động của C.Mác vào phát triển thị
trường lao động ở nước ta phải theo hướng thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc
tế và tiếp cận kinh tế tri thức
Từ thập kỷ 80 đến nay, dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ nền
kinh tế thế giới đang biến đổi sâu sắc, mạnh mẽ và nhanh chóng về mặt lực lượng sản xuất.
Đây là một sự biến đổi có tính chất bước ngoặt lịch sử làm xuất hiện một nền kinh tế mới -
nền kinh tế tri thức.
Trong quá trình phát triển của nền sản xuất xã hội loài người, tri thức, thông tin,
công nghệ luôn có vai trò quan trọng thúc đẩy sản xuất phát triển và vai trò này không
ngừng tăng lên theo sự phát triển của lực lượng sản xuất. Lịch sử nhân loại đã chứng minh
khoa học công nghệ ngày càng đóng góp quan trọng vào sự phát triển của kinh tế - xã hội
và ngày càng có điều kiện phát triển nhanh hơn: tri thức, thông tin trở thành yếu tố hàng
đầu của sản xuất và khoa học công nghệ ngày càng trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp.
Động lực của nền kinh tế tri thức chính là tri thức. Trong đó, quan trọng nhất là các
tri thức về khoa học - kỹ thuật, quản lý và thực hành. Vì vậy Nhà nước ta phải chú trọng
phát triển một cách toàn diện nhân tố con người. "Mục tiêu cuối cùng, cao nhất của sự
nghiệp cách mạng là nhằm vào con người, vì con người "hay" yếu tố phát triển con người
là yếu tố phát triển của mọi sự phát triển" [38, tr. 13]. Nói cách khác, lĩnh vực đầu tư quan
trọng nhất để thúc đẩy nền kinh tế tri thức phát triển chính là đầu tư vào vốn con người,
vào lực lượng lao động.
Lực lượng lao động tuy phong phú về lượng (41,8 triệu người) nhưng tỷ lệ lao
động qua đào tạo còn thấp (24,8%). Vì vậy, trước yêu cầu phát triển nền kinh tế tri
thức, khả năng đáp ứng của lực lượng lao động còn rất hạn chế. Sự phát triển của thị
trường sức lao động đã và sẽ thúc đẩy người lao động tự đào tạo và tự phát triển để
theo kịp yêu cầu của nền kinh tế tri thức. Thông qua hoạt động xuất khẩu lao động và
hoạt động thông tin lao động việc làm qua mạng internet, thị trường sức lao động đang
được mở rộng trong cả nước và bước đầu hoà nhập vào thị trường thế giới. Nhờ mở
rộng thị trường sức lao động trong nước và ngoài nước, Nhà nước đã tạo điều kiện cho
người lao động nơi làm việc phù hợp, có cơ hội thăng tiến cao nhất và tích luỹ được
kiến thức nhiều nhất. Đồng thời, nhờ phát triển thị trường sức lao động, nước ta có thể
thu hút lực lượng lao động chất lượng cao ở bên ngoài vào đầu tư ở các ngành công
nghệ mới còn non yếu và thiếu chuyên gia để có thể kết hợp nội lực với ngoại lực phát
triển nhanh các ngành kinh tế trụ cột.
Vận dụng lý luận hàng hoá sức lao động theo hướng hội nhập kinh tế quốc tế và
tiếp cận kinh tế tri thức, Nhà nước ta sẽ nâng cao được khả năng cạnh tranh của hàng hoá
sức lao động và sẽ xây dựng được lực lượng lao động chất lượng cao. Nhờ đó, nước ta có
thể tự tin bước vào giai đoạn phát triển của nền kinh tế tri thức, góp phần xây dựng thành
công CNXH.
3.2. những giải pháp chủ yếu tiếp tục vận dụng lý luận hàng hoá sức lao động
của C.mác vào phát triển thị trường lao động ở nước ta
3.2.1. Giải pháp điều tiết quan hệ cung - cầu trên thị trường lao động
* Đối với cung lao động:
- Phát triển giáo dục đào tạo, nâng cao trình độ dân trí:
Một trong những vấn đề cần quan tâm nhất trên thị trường lao động của nước ta
hiện nay là chất lượng nguồn nhân lực thấp, thiếu, hiếm nghiêm trọng nguồn lao động
được đào tạo, có tay nghề phù hợp. Nguyên nhân chính gây ra vấn đề này là sự yếu kém,
méo mó của hệ thống giáo dục đào tạo trong một vài thập kỷ qua. Vì vậy, phát triển giáo
dục - đào tạo, nâng cao trình độ dân trí nói chung và trình độ cho người lao động nói riêng
phải được coi là giải pháp cơ bản, không chỉ cho thời gian trước mắt mà còn lâu dài.
Thực tiễn kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta cho thấy một bộ phận
người lao động vẫn trở thành hàng hoá sức lao động và họ chỉ có thể tham gia vào quá
trình xây dựng xã hội mới khi được chấp nhận trên thị trường sức lao động. Khi đó, quyền
sở hữu cá nhân về sức lao động của họ mới được thực hiện.
Trên thị trường sức lao động hiện nay, những người sử dụng lao động cần những
người lao động chất lượng cao. Muốn giúp người lao động thực hiện được quyền sở hữu cá
nhân về sức lao động, Đảng và Nhà nước phải xây dựng lực lượng lao động chất lượng
cao, nắm vững khoa học - công nghệ hiện đại tay nghề vững vàng, đáp ứng được yêu cầu
CNH, HĐH đất nước, đồng thời hướng đến nền kinh tế tri thức. Đây là một nhiệm vụ quan
trọng của Nhà nước và của hệ thống các doanh nghiệp. Nhiệm vụ này đòi hỏi phải dùng
mọi hình thức đào tạo và mọi nguồn vốn đầu tư để tăng tỷ lệ lao động có trình độ chuyên
môn kỹ thuật. Nhanh chóng hình thành và phát triển một đội ngũ các nhà quản lý có kiến
thức tổng hợp để điều hành doanh nghiệp, có nghệ thuật kinh doanh và đầu óc thương
nhân để luôn đáp ứng kịp diễn biến của thị trường. Muốn vậy, cần chú ý tới vấn đề nội
dung và phương thức đào tạo.
Về nội dung, người lao động phải được trang bị về trình độ văn hoá, chuyên môn
nghiệp vụ phù hợp với năng lực bản thân, được trang bị một vốn kiến thức nhất định và
ngoại ngữ để có thể tiếp thu những thành quả của khoa học công nghệ, tiếp cận và cải tiến
các phương pháp quản lý mới phù hợp với thực tiễn và con người Việt Nam.
Về phương thức đào tạo, mỗi quốc gia có thể sử dụng tổng hợp và đa dạng hoá, đa
phương hoá các loại hình đào tạo khác nhau: đào tạo tập trung với quy mô lớn, đào tạo đặc
thù, đào tạo riêng,... Do vậy, cần quy hoạch lại hệ thống dạy nghề theo hướng đồng bộ cả
về cơ cấu ngành, nghề, cơ cấu trình độ, cơ cấu vùng miền. Trong những năm tới, cần tập
trung vào bốn chương trình đào tạo chủ yếu như: (1) đào tạo chính quy dài hạn đáp ứng
nhu cầu lao động kỹ thuật cao cho các khu công nghiệp, khu chế xuất và xuất khẩu lao
động; (2) đào tạo nghề ngắn hạn cho nông dân, đáp ứng nhu cầu chuyển đổi cơ cấu lao
động ở nông thôn; (3) đào tạo nghề cho lao động ở các làng nghề, phố nghề và (4) đào tạo
nghề ngắn hạn đáp ứng nhu cầu đào tạo lại cho xã hội và đáp ứng nhanh nhu cầu của thị
trường. Trong đào tạo nghề cần đẩy mạnh hình thức liên thông đào tạo giữa cơ sở đào tạo
nghề với các ngành kinh tế và các doanh nghiệp, như vậy mới có thể đáp ứng tốt nhất quan
hệ cung - cầu lao động kỹ thuật của thị trường.
Mục tiêu của giải pháp cải cách giáo dục - đào tạo là làm cho chất lượng nguồn lực lao
động ngày được nâng cao đáp ứng theo yêu cầu thị trường. Trong điều kiện hiện nay, nước ta
cần tập trung với những biện pháp sau:
Dấy lên phong trào học tập, nâng cao trình độ học vấn của lực lượng lao động đặc
biệt là lực lượng lao động trẻ, lao động ở vùng sâu, vùng xa thông qua đẩy mạnh chương
trình bổ túc văn hoá từ cấp tiểu học đến trung học cơ sở. Phấn đấu đến 2010, 100% lực
lượng lao động nước ta phải tốt nghiệp từ PTCS trở lên, trong đó có 50% tốt nghiệp
PTTH.
Điều chỉnh lại cơ cấu đào tạo nguồn lực lao động theo hướng đáp ứng và chuẩn bị
cho yêu cầu của thị trường sức lao động.
Xã hội hoá công tác giáo dục - đào tạo, nhằm phát huy sức mạnh của toàn xã hội.
Đa dạng hoá các hình thức đào tạo: tập trung dài hạn, ngắn hạn, từ xa, kèm cặp,... Tăng
cường đầu tư cơ sở vật chất, hiện đại hoá các thiết bị, phương tiện dạy học. Mở rộng quan
hệ quốc tế trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo. Nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo của ta
ngang tầm với khu vực và thế giới.
Thực hiện toàn diện các giải pháp để nâng cao chất lượng dân số - nguồn lao động
cung cấp cho xã hội. Phải thay đổi một cách cơ bản công tác quản lý Nhà nước đi đôi với
chăm sóc sức khoẻ, khám chữa bệnh cho nhân dân.
- Điều tiết cung lao động:
Mục tiêu của điều tiết cung lao động trên thị trường ở nước ta hiện nay là giảm sức
ép cung lao động, từ đó giảm sức ép về việc làm và nâng cao mức độ linh hoạt của cung
lao động trên thị trường. Có thể thực hiện bằng các biện pháp sau:
Tiếp tục thực hiện tốt có hiệu quả chương trình dân số - kế hoạch hoá gia đình, phấn
đấu đạt tỷ lệ dân số tăng tự nhiên ở mức 1,1% vào năm 2010. Bên cạnh các biện pháp tập
trung nguồn lực của chương trình cho vùng có tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên cao (vùng
nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng biển, vùng dân trí thấp), cần đẩy mạnh công tác tuyên
truyền, giáo dục nhất là cần làm cho người dân hiểu và thực hiện đúng pháp lệnh dân số.
Hoàn thiện các chính sách đối với di dân để tăng mức độ linh hoạt của cung lao
động trên thị trường. Điều tiết di dân là một giải pháp quan trọng tác động đến cung lao
động. Nó là một công cụ để điều hoà lao động và thu nhập giữa các vùng. Hiện nay, ở
nước ta có xu hướng di dân miền Trung đến Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, từ nông thôn
ra thành thị. Ngoài ra cần chú ý điều tiết dòng di dân từ nông thôn vào thành thị. Để phát
huy những tác động tích cực và hạn chế những tác động tiêu cực của di dân Nhà nước cần:
Sớm quy hoạch và xây dựng chiến lược cho việc di dân (trong đó có di chuyển lao
động).
Thay các biện pháp kiểm soát hành chính bằng những biện pháp điều tiết vĩ mô
(đảm bảo điều kiện sống, điều kiện làm việc, cơ sở hạ tầng sản xuất, xã hội ở nơi khuyến
khích dân đến).
* Đối với cầu về lao động:
- Đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế là tiền đề để phát triển thị trường cho lao động
Tăng trưởng kinh tế phải được coi là đại lượng kinh tế vĩ mô then chốt cho phép
phát triển việc làm và cân bằng thị trường lao động. Tuy tăng trưởng kinh tế cao không
nhất thiết dẫn đến tăng cầu về việc làm, vì điều này còn phụ thuộc vào phương thức tăng
trưởng (dựa vào nhiều vốn, công nghệ hay dựa nhiều hơn vào lao động). Tuy nhiên, ở một
phía nào đó thì đầu tư tăng trưởng kinh tế sẽ tạo mở được nhiều công việc làm do mối liên
kết chặt chẽ giữa vốn và lao động. Tốc độ tăng và quy mô của vốn đầu tư sẽ thúc đẩy trực
tiếp tốc độ và quy mô của việc thu hút các nguồn lao động vào hoạt động kinh tế. Cho đến
nay, mô hình phát triển kinh tế của ta vẫn chưa tạo được sự cân bằng giữa hai mục tiêu là
phát triển kinh tế và tạo việc làm, vì vẫn ưu tiên quá nhiều cho khu vực I với chiến lược
thay thế nhập khẩu, sử dụng nhiều vốn. Song, đã có thể tăng mức việc làm cho người lao
động, việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh để đạt được "ngưỡng việc làm" vẫn là
nhiệm vụ không thể thiếu trong thời gian tới.
Theo kinh nghiệm của các nước, chiến lược phát triển kinh tế sử dụng nhiều lao
động cần dựa trên:
+ Tạo ra những cực tăng trưởng kinh tế nhanh và hiện đại kết hợp với chiến lược
tăng trưởng một cách đồng đều.
Trong suốt thời gian qua, để phát triển kinh tế, chúng ta đã tập trung ưu tiên cho các
vùng trọng điểm của tăng trưởng như: Hà Nội - Hải Phòng - Đà Nẵng - thành phố Hồ Chí
Minh. Việc tập trung phát triển các cực tăng trưởng, các khu vực sẽ tạo điều kiện giảm bớt
chênh lệch về kinh tế, thu nhập giữa các vùng, các nhóm trong xã hội, có tác dụng làm tăng
thu nhập của bộ phận dân cư, tăng cầu sản xuất và tạo mở việc làm. Do vậy, cần phải có các
chiến lược sau:
Đối với các cực tăng trưởng: cần phải xác định rõ ràng các ưu tiên trong việc đầu
tư tăng trưởng cho các vùng, có các chính sách thu phí sử dụng và dần dần tiến tới tài trợ
các dự án đầu tư bằng các khoản cho vay thay cho hình thức cấp vốn, đồng thời có cơ chế
khuyến khích tư nhân, đặc biệt là đối tác nước ngoài cùng đầu tư.
Đối với các vùng không thuộc cực tăng trưởng: Chính phủ cần tập trung đầu tư
nhiều hơn cho các vùng tăng trưởng chậm, các vùng nghèo nhất, vùng sâu, vùng xa. Trong
hệ thống giải pháp cần tập trung cho việc nâng cao năng suất lao động, phổ biến thông tin
cho người dân, các chính sách giao quyền sử dụng ruộng đất để thúc đẩy sự phát triển của
lực lượng sản xuất đồng thời lựa chọn các hình thức quan hệ sản xuất phù hợp.
+ Lựa chọn phát triển các ngành kinh tế hiện đại kết hợp với việc duy trì và phát
triển các ngành kinh tế truyền thống, các ngành có nhiều lợi thế trong xuất nhập khẩu và
khai thác các thế mạnh của lao động Việt Nam.
Đây là một trong những bài toán khó giải quyết trong hầu hết các nước đang phát
triển. Việc tập trung vào các ngành công nghiệp khai thác được các thế mạnh về tiềm năng
tài nguyên của đất nước, đem lại lợi ích kinh tế nhanh như năng lượng, dầu mỏ, khai thác...
thông thường bỏ qua mối liên kết về kinh tế và lao động đối với các ngành truyền thống.
Kết quả là việc làm trong các ngành truyền thống bị thu hẹp lại và dần dần bị mai một, các
ngành xuất khẩu sử dụng nhiều lao động cũng không được chú ý đến. Do vậy trong tương
lai cần phải tạo ra một sự cân bằng hơn giữa chiến lược phát triển các ngành kinh tế mũi
nhọn với các ngành truyền thống sử dụng lao động. Trong bối cảnh của nền kinh tế phát
triển và hội nhập thì các khu vực kinh tế truyền thống có vai trò rất quan trọng. Do vậy cần
có những chính sách đặc thù để khuyến khích khu vực này phát triển hơn nữa.
- Phát triển kinh tế nhiều thành phần:
Trong những năm tới, cần thúc đẩy tăng cầu lao động bằng cách thực hiện nhất
quán chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, khuyến khích đầu tư trong nước,
thu hút đầu tư nước ngoài tạo cơ hội cho người lao động có việc làm. Một số vấn đề cấp
bách cần thực hiện đối với các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế là: Thứ nhất,
tiếp tục hoàn thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, củng cố niềm tin, tạo điều kiện thuận
lợi hơn cho doanh nghiệp hoạt động; Thứ hai, thúc đẩy hình thành hệ thống các tổ chức và
các hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp, cung cấp các dịch vụ phát triển kinh doanh. Trong thời
gian qua đã có nhiều hình thức tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp được thành lập, như các hiệp
hội ngành nghề, các quỹ, chương trình hỗ trợ, các câu lạc bộ, các trung tâm hỗ trợ và công
ty tư vấn doanh nghiệp, Bộ Thương mại đã thành lập cục xúc tiến thương mại, Bộ Tư pháp
đã thành lập câu lạc bộ pháp chế doanh nghiệp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư thành lập trung
tâm thông tin doanh nghiệp, cục xúc tiến doanh nghiệp vừa và nhỏ. Nhiều địa phương đã
thành lập các tổ chức hay bộ phận xúc tiến thương mại điện tử và các trung tâm hỗ trợ cho
các doanh nghiệp trên địa bàn. Quá trình này cần được tiếp tục đẩy mạnh.
Để tạo khung pháp lý cho các doanh nghiệp hoạt động, Chính phủ cần tiếp tục dỡ
bỏ các rào cản đối với hoạt động kinh doanh, phân định rõ hợp đồng dân sự, hợp đồng
kinh tế, hợp đồng thương mại, vấn đề thuế và phí, vấn đề vay vốn tín dụng, vấn đề cạnh
tranh và độc quyền, vấn đề thủ tục thuê đất... Thực hiện tốt cải cách thủ tục hành chính,
chống tham nhũng đảm bảo tính minh bạch của pháp luật.
Đẩy mạnh cải cách doanh nghiệp Nhà nước là giải pháp quan trọng nhằm phát triển
thị trường lao động, thực hiện mạnh mẽ hơn chủ trương cổ phần hoá, sáp nhập, hợp nhất,
khoán kinh doanh, cho thuê, giao, bán, giải thể, phá sản.
Khai thác tốt hơn tiềm năng của khu vực kinh tế tự nhiên, hỗ trợ cho các doanh
nghiệp vừa và nhỏ về đất đai, mặt bằng sản xuất kinh doanh, mở rộng và hỗ trợ các doanh
nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân tiếp cận với thông tin về thị trường lao động.
Khuyến khích hơn nữa đầu tư trực tiếp nước ngoài.
- Phát triển thị trường lao động ở khu vực hành chính - sự nghiệp:
Hiện nay, thị trường lao động trong khu vực hành chính - sự nghiệp ở nước ta có
những đặc thù riêng. Một trong những đặc thù đó là chế độ biên chế. Từng bước xoá bỏ
biên chế chính là một giải pháp mở rộng thị trường trong lĩnh vực này.
Chế độ biên chế là kết quả của chính sách lao động trong thời kỳ kinh tế kế hoạch
hoá tập trung. Chính vì thế, muốn xoá bỏ chế độ biên chế, cần phải giải quyết tốt các vấn
đề sau:
+ Phân loại lĩnh vực sự nghiệp, trên cơ sở xác định rõ phạm vi, mức độ bảo đảm
chế độ chính sách từ ngân sáng nhà nước cụ thể cho từng loại.
Tăng cường thực hiện xã hội hoá trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá và
dịch vụ. Đa dạng hoá các hình thức sở hữu chuyển việc cung ứng dịch vụ thuộc khu vực Nhà
nước sang hoạt động theo cơ chế thị trường.
+ Để giải quyết chế độ lương hưu, cần tổ chức tốt hệ thống bảo hiểm cho người lao
động, trên cơ sở người lao động đóng góp trong khi đang làm việc để nhận khi về nghỉ
hưu. Liên quan đến vấn đề này, chính sách tiền lương phải được cải cách một cách căn
bản.
- Phát triển kinh tế phi nông nghiệp ở nông thôn:
Nhà nước cần đầu tư và có chính sách phát triển các hoạt động phi nông nghiệp, tạo
việc làm ở nông thôn bằng cách phát triển công nghiệp nông thôn, các ngành tiểu thủ công
nghiệp. Khôi phục và phát triển các ngành truyền thống, hình thành các khu công nghiệp
nhỏ, các làng nghề trong nông thôn ở những nơi có điều kiện, phát triển và bố trí hợp lý tại
nông thôn công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản và một số ngành công nghiệp khác,
với quy mô và trình độ công nghiệp phù hợp; phát triển các hoạt động phi nông nghiệp
khác như xây dựng, thương mại, dịch vụ sản xuất - kinh doanh, du lịch... để thu hút lao
động nông thôn, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống của dân cư nông thôn.
Thúc đẩy quá trình đô thị hoá nông thôn, phát triển các khu công nghiệp, các khu chế
xuất, các vùng kinh tế trọng điểm, các khu kinh tế cửa khẩu gắn liền với sự phát triển cơ sở
hạ tầng, đặc biệt là giao thông, vận tải để tạo thêm việc làm, tạo điều kiện tăng mức độ linh
hoạt của thị trường lao động.
- Mở rộng kinh tế đối ngoại, tham gia vào thị trường lao động khu vực và quốc tế,
đẩy mạnh xuất khẩu lao động.
Cần sớm nhận thức rõ rằng xuất khẩu lao động phải được coi là một chiến lược
quốc gia giải quyết việc làm là một kênh đào tạo tay nghề cho người lao động. Vì vậy, cần
sớm hoàn thiện hệ thống pháp luật về xuất khẩu sức lao động, ban hành, sửa đổi và bổ
sung những cơ chế, chính sách cho phù hợp với sự vận động của thị trường, tăng cường
trách nhiệm của các bộ ngành, địa phương trong việc xây dựng quản lý và chỉ đạo hoạt
động của các doanh nghiệp xuất khẩu lao động và chuyên gia. Nâng cao chất lượng đào
tạo nguồn lao động và chuyên gia để phục vụ xuất khẩu đáp ứng nhu cầu của thị trường.
Trước mắt cần phải bổ sung các chính sách sau:
+ Chính sách đầu tư mở thị trường xuất khẩu lao động mới.
+ Chính sách đầu tư và ưu đãi về thuế, hỗ trợ tài chính trong đấu thầu quốc tế và mở
thị trường lao động ở ngoài nước.
+ Chính sách tín dụng, bảo hiểm xã hội cho người đi làm việc ở nước ngoài, chính
sách khuyến khích chuyển tiền và hàng hoá về nước, chính sách tiếp nhận trở lại sau khi
hoàn thành thời gian hợp đồng lao động... (đối với người lao động và chuyên gia đi xuất
khẩu).
3.2.2. Các giải pháp thúc đẩy giao dịch trên thị trường lao động
Tăng cầu và nâng cao chất lượng cung là tối quan trọng. Song nếu chỉ dừng lại ở đó
thì chưa đủ, vấn đề quan trọng tiếp theo là phải làm thế nào để thúc đẩy quan hệ cung - cầu
lao động trên thị trường. Muốn làm được như vậy cần phải thực hiện:
* Phát triển hệ thống trung tâm giới thiệu việc làm:
- Quy hoạch lại hệ thống dịch vụ việc làm trong phạm vi cả nước, nhất là các khu
đô thị và cửa ngõ các khu đô thị lớn.
- Đổi mới mô hình tổ chức hệ thống cơ sở dịch vụ việc làm theo hướng xác định rõ
mục tiêu, chức năng, hoạt động của hệ thống dịch vụ việc làm công và dịch vụ việc làm tư.
- Hỗ trợ về cơ sở vật chất, trang thiết bị hoạt động, bố trí, đào tạo cán bộ đối với hệ
thống dịch vụ việc làm công. Với hệ thống dịch vụ việc làm tư, chỉ cấp phép cho những
doanh nghiệp hoạt động chuyên doanh về dịch vụ việc làm, vì họ thực sự là nhà môi giới.
Nhà nước ban hành chế độ thanh tra, kiểm tra hệ thống dịch vụ việc làm, ngăn ngừa
các hoạt động tiêu cực, lừa đảo người lao động. Kiên quyết nghiêm trị các tổ chức, cá nhân
vi phạm quy định của nhà nước về giới thiệu việc làm gây thiệt hại cho người lao động.
* Tăng cường quản lý Nhà nước, củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động của
các doanh nghiệp xuất khẩu lao động:
Dưới sự quản lý Nhà nước của Cục quản lý lao động với nước ngoài, các doanh
nghiệp xuất khẩu lao động đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp lao động cho thị
trường nước ngoài. Vì vậy, cần có giải pháp củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động của
các doanh nghiệp xuất khẩu lao động đã thực hiện có hiệu quả chủ trương của Nhà nước
và đẩy mạnh công tác xuất khẩu lao động, trước hết là:
- Quy hoạch lại hệ thống các doanh nghiệp làm chức năng xuất khẩu lao động, kiên
quyết loại bỏ những doanh nghiệp có vi phạm, hoạt động kém hiệu quả, tập trung đầu tư
phát triển một số doanh nghiệp có tiềm lực mạnh.
- Định hướng hoạt động của hiệp hội các doanh nghiệp xuất khẩu lao động - theo
hướng tăng cường sức mạnh cho cả hiệp hội, tránh tình trạng mạnh ai nấy làm, triệt tiêu
nhau như hiện nay.
- Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra đối với doanh nghiệp xuất khẩu lao động,
kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm, bảo vệ quyền lợi của cả hai
bên.
* Phát triển hệ thống thông tin, thống kê thị trường lao động:
Giải pháp này có thể thực hiện sớm với các hoạt động cụ thể như:
- Triển khai xây dựng và từng bước hoàn thiện hệ thống thông tin, thống kê thị
trường lao động theo hướng đồng bộ, thống nhất, kịp thời, chính xác. Xây dựng Website
về thông tin thị trường lao động phục vụ cho công tác chuyên môn, quản lý của Chính phủ,
phục vụ cho các địa phương, các cơ sở sản xuất và người lao động.
- Thường xuyên và định kỳ tổ chức hội chợ việc làm ở tất cả các tỉnh, thành phố
trong phạm vi cả nước, đặc biệt ở các thành phố lớn, các khu công nghiệp, khu chế xuất,
khu kinh tế trọng điểm.
3.2.3. Giải pháp về cải cách chế độ tiền lương, tiền công
Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta có nhiều hình thức sở hữu khác
nhau tồn tại đan xen, kết hợp nên tạo ra nhiều chủ thể khác nhau trong quan hệ lao động. ở
đó, dù quan hệ với chủ thể sở hữu nào thì điều mà người lao động quan tâm chính là tiền
lương, tiền công - một động lực cơ bản đối với người lao động.
Chính sách tiền lương hiện hành ở nước ta, ngoài những quy định đối với mặt bằng
tiền lương chung, đã có sự phân biệt giữa công chức nhà nước và người lao động ở khu
vực sản xuất, kinh doanh. Đây là điểm tiến bộ, cần đẩy mạnh quá trình cải cách tiền lương
theo hướng này.
Đối với mặt bằng tiền lương chung trong xã hội, Nhà nước nên tăng mức lương tối
thiểu lên đến mức đủ nuôi sống bản thân người hưởng lương và trang trải những nhu cầu
thiết yếu của họ. Tất nhiên, việc điều chỉnh mức lương tối thiểu phải phụ thuộc vào nhịp
độ tăng năng suất lao động toàn xã hội và vào nhịp độ tăng thu nhập trong xã hội.
Đối với công chức nhà nước, cải cách cơ bản hệ thống tiền lương nên theo hướng:
thực hiện tiền tệ hoá đầy đủ tiền lương, điều chỉnh tiền lương tương ứng với nhịp độ tăng
thu nhập trong xã hội, hệ thống thang bậc lương bảo đảm tương quan hợp lý, khuyến khích
người có tài, người làm việc giỏi. Cải cách chế độ tiền lương theo hướng này, cần thực
hiện một số giải pháp nhất định.
Trước hết, phải trả lương bằng tiền để người lao động có quyền tính toán chi tiêu
trong đời sống và sinh hoạt hàng ngày, qua đó người lao động sẽ tự chủ trong việc tái sản
xuất sức lao động bản thân và gia đình. Đồng thời, tiền lương phải được xây dựng trên
nguyên tắc phân phối theo năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc.
Khắc phục những tách biệt, những sắc thái riêng trong mức tiền lương, tiền công và
thu nhập giữa các doanh nghiệp, đồng thời tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với
vấn đề này. Nhà nước cần có những định hướng chung về chính sách tiền lương đối với
mọi doanh nghiệp; xác định tiền lương cho khu vực sản xuất kinh doanh, giảm dần độc
quyền, ưu đãi đối với khu vực doanh nghiệp nhà nước, xây dựng cơ chế hạch toán kinh tế
đầy đủ cho các đơn vị sự nghiệp, đồng thời đẩy mạnh xã hội hoá khu vực này với sự tham
gia của mọi thành phần kinh tế. Nhà nước nên tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trả
lương theo hiệu quả lao động và giữ một mức chênh lệch nhất định giữa người có lương
cao nhất và người có lương thấp nhất trong cùng một doanh nghiệp. Đồng thời, Nhà nước
phải có biện pháp khuyến khích các doanh nghiệp áp dụng Điều 64 Bộ luật lao động là có
trách nhiệm trích từ lợi nhuận hàng năm để thưởng cho người lao động đã làm việc tại các
doanh nghiệp từ một năm trở lên, theo quy định của Chính phủ phù hợp với đặc điểm của
từng doanh nghiệp.
Tuy nhiên, để việc cải cách chế độ tiền lương trong khu vực sản xuất, kinh doanh
được tốt hơn, Nhà nước cần có quy định những nguyên tắc chung trong xây dựng thang
bậc lương và quản lý tốt việc doanh nghiệp tự xây dựng hệ thống thang bảng lương cụ thể.
Nhà nước phải giám sát để doanh nghiệp không đi quá giới hạn cho phép mà tạo ra sự
chênh lệch quá đáng về thu nhập giữa các doanh nghiệp.
Tóm lại, cải cách tiền lương phải đảm bảo sự hài hoà với quá trình cải cách kinh tế
nói chung, cải cách tiền lương phải tính đến các yếu tố thị trường tôn trọng các quy luật
của thị trường.
3.2.4. Các giải pháp hoàn thiện hệ thống thể chế, tạo môi trường cho phát triển
thị trường lao động
* Hoàn thiện hệ thống pháp luật về thị trường lao động:
Việc hoàn thiện hệ thống pháp luật thông qua việc ban hành đồng bộ, kịp thời các
văn bản quy phạm pháp luật tạo điều kiện cho sự phát triển thị trường lao động trong điều
kiện phát triển kinh tế thị trường, mở rộng hội nhập là việc làm cần thiết và cấp bách.
Trước hết việc hoàn thiện này cần được bắt đầu từ việc nghiên cứu thực hiện các luật có
liên quan đã được ban hành, nhất là Bộ luật lao động sửa đổi và bổ sung (2003) và các văn
bản dưới luật tương ứng theo hướng:
- Đảm bảo quyền lựa chọn chỗ làm việc và nơi cư trú của người lao động. Xây dựng
các quy chế cư trú, nhà ở đối với người lao động, nhất là loại lao động thu nhập thấp, nhằm
tạo điều kiện cho tự do di chuyển lao động.
- Thực hiện rộng rãi chế độ ký kết hợp đồng lao động. Người lao động phải được trả
lương theo đúng điều khoản trong hợp đồng lao động đã được ký kết giữa người lao động
và người sử dụng lao động.
- Tăng cường giáo dục pháp luật lao động, chú trọng việc xem xét, tìm kiếm và đưa
vào áp dụng rộng rãi các công cụ chính sách cho phép nâng cao tính hiệu lực của các văn
bản pháp quy có liên quan đến lao động và thị trường lao động.
* Hoàn thiện bộ máy quản lý và vận hành có hiệu quả thị trường lao động:
Hiện nay, hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước về thị trường lao động còn yếu và
chưa đồng bộ. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội là cơ quan được Chính phủ giao
trách nhiệm thi hành một số nhiệm vụ và chức năng quản lý thị trường lao động.
Trên thực tế, việc thực thi chức năng nhiệm vụ này vẫn còn nhiều vướng mắc. Vì
vậy, đòi hỏi cấp bách trong thời gian tới là phải củng cố hệ thống các cơ quan quản lý thị
trường lao động từ Trung ương đến địa phương. Trước hết là hoàn thiện hoạt động của các
bộ phận có liên quan trong Bộ Lao động - Thương binh Xã hội các Bộ, ngành khác theo
hướng gọn nhẹ, hiệu quả.
Khuyến khích sự tham gia của các tổ chức phi chính phủ (NGOs) vào quản lý thị
trường lao động. Cần xem xét việc chuyển giao một số hoạt động quản lý cho các tổ chức
phi chính phủ đảm nhận, theo phương thức uỷ thác. Các hoạt động như bồi dưỡng nâng
cao trình độ, bồi dưỡng tay nghề, thực hiện các chương trình xúc tiến việc làm, chương
trình hỗ trợ khởi sự doanh nghiệp,... có thể chuyển giao cho các tổ chức phi chính phủ thực
hiện.
* Nâng cao hơn nữa vai trò của các tổ chức đại diện cho người lao động và tổ chức
đại diện cho chủ sử dụng lao động:
Việc xác định rõ ràng hơn về vai trò của các tổ chức công đoàn là điều cần được
chú ý. Hệ thống công đoàn phát triển rộng khắp, đến tận các cơ sở sản xuất kinh doanh của
tất cả các thành phần kinh tế. Nội dung và phương thức hoạt động của công đoàn phải
được đổi mới cho phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Mối quan hệ đối tác khăng khít, bền vững (thay vì đối đầu) giữa tổ chức đại diện quyền lợi
của người lao động và Chính phủ, và bên chủ sử dụng lao động, có thể thúc đẩy nhanh việc
thực thi các biện pháp hoàn thiện thị trường lao động, nhất là có thể giúp nhận biết các vấn
đề tồn tại và những khiếm khuyết nảy sinh trong khi thiết kế các cơ chế chính sách có liên
quan.
Bên cạnh đó, Nhà nước cần xem xét việc thu hút sự tham gia của giới chủ sử dụng
lao động vào quá trình hoạch định các chính sách thị trường lao động. Với việc phát triển
nền kinh tế nhiều thành phần hiện nay, vai trò của tổ chức đại diện giới sử dụng lao động
với tư cách là một bên tham gia thị trường lao động phải được nâng cao hơn, được xác
định chính thức về mặt pháp luật, với những quy định rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ,
trách nhiệm. Trước hết, điều có thể làm là chính thức hoá vai trò của phòng Thương mại
và Công nghiệp Việt Nam và Liên minh hợp tác xã Việt Nam với tư cách là tổ chức đại
diện của các doanh nghiệp trong quan hệ với người lao động, các chủ doanh nghiệp chính
phủ và với thị trường. Thông qua các tổ chức này, các chủ đề liên quan đến thị trường lao
động có thể dễ dàng được đưa vào chương trình nghị sự của các diễn đàn doanh nghiệp.
* Tiếp tục hoàn thiện các chính sách thị trường lao động:
Trong điều kiện của nước ta hiện nay, cần xây dựng hệ thống các chính sách thị
trường lao động đa dạng, vì quyền lợi của cả người lao động và chủ sử dụng lao động. Các
biện pháp cụ thể của chính sách thị trường lao động phải nhằm vào việc thay đổi hành vi
của các cá thể tương tác trên thị trường lao động, theo hướng khuyến khích tính chủ động
của họ trong việc tạo ra việc làm hoặc tìm kiếm việc làm.
Các chính sách thị trường lao động chủ động, cho phép huy động tối đa tinh thần
tích cực cá nhân của người lao động cần được đặc biệt chú ý. Sao cho, các chính sách này
có thể giúp họ tạo điều kiện cho người lao động, nhất là những người thất nghiệp "tự thân
vận động" trong việc tìm kiếm việc làm mới, bằng các phương thức khác nhau như: đào
tạo hoặc đào tạo lại, vừa học vừa làm, tham gia vào các hoạt động công ích,... Thêm nữa,
các chính sách thị trường lao động , tạo ra hoặc duy trì được nhiều chỗ làm việc hơn.
Trong số các công cụ chính sách loại này, thì các công cụ thông tin và môi giới thị trường
lao động, trợ cấp chi phí lương, bồi dưỡng nâng cao trình độ cho người lao động, đào tạo
lại và hỗ trợ khởi sự doanh nghiệp, là những công cụ đã được áp dụng ở nhiều nước và cho
đến nay được coi là các công cụ mang lại kết quả khả quan nhất.
Cần tiếp tục khai thác các chính sách thị trường lao động "thụ động" như chính sách
trợ cấp thất nghiệp, chính sách bồi thường mất việc cho lao động dôi dư, chính sách về hưu
trước tuổi,... nhằm giảm bớt các rủi ro do cơ chế thị trường đối với người lao động giảm
sức ép của thất nghiệp do chuyển đổi cơ cấu.
* Hoàn thiện cơ chế, chính sách tuyển dụng lao động vào khu vực kinh tế Nhà nước
và bộ máy công quyền:
Khu vực kinh tế Nhà nước và bộ máy công quyền là một thị trường lao động tiềm
năng lớn. Hiện nay, mặc dù tiền lương chính thức của lao động khu vực này tương đối
thấp, nhưng việc làm tại đó vẫn có sức hấp dẫn đối với nhiều người lao động, vì những lý
do như: tính ổn định trong công việc, mức độ đảm bảo cao về các nhu cầu cơ bản cho đời
sống, truyền thông tôn vinh của xã hội đối với người làm việc trong khu vực nhà nước,
v.v... Ngoài ra, cơ hội được đào tạo bài bản hoặc cơ hội kiếm được những khoản thu nhập
ngoài lương (nhờ vào chức vụ hoặc vị trí công tác) cũng là lý do thu hút người lao động
vào làm việc trong khu vực này.
Do vậy, Nhà nước cần có những biện pháp hữu hiệu nhằm giám sát, kiểm tra việc
thực hiện các quy chế đã ban hành về tuyển dụng lao động trong khu vực Nhà nước, ban
hành cơ chế, chính sách mới về chế độ tuyển dụng lao động cho phù hợp với những yêu
cầu mới về phát triển thị trường lao động trong khu vực này.
* Nhà nước xúc tiến triển khai và thực hiện chế độ bảo hiểm thất nghiệp:
Trong nền kinh tế thị trường, thất nghiệp là hiện tượng thường không thể tránh
khỏi, gây tác hại nhiều mặt về kinh tế, chính trị, xã hội. Ban hành chính sách bảo hiểm
thất nghiệp là một nội dung của quản lý nhà nước đối với thị trường lao động. Tuy nhiên,
đây là một lĩnh vực còn mới mẻ đối với việc quản lý thị trường lao động ở nước ta. Vì vậy,
Nhà nước cần xúc tiến thực hiện để đảm bảo quyền lợi cho người lao động.
3.2.5. Các giải pháp nhằm loại bỏ các rào cản mang tính nhận thức về hàng
hoá sức lao động và thị trường lao động
Quá trình chuyển đổi nền kinh tế nước ta từ kế hoạch hoá tập trung sang kinh tế thị
trường định hướng XHCN vừa mới được hai thập kỷ, nên nhiều vấn đề, khái niệm tưởng
như rất rõ ràng đối với các nền kinh tế thị trường truyền thống, thì đối với chúng ta, vẫn
còn là mới mẻ. Hàng hoá sức lao động thị trường lao động và những khái niệm, những vấn
đề liên quan đến thị trường lao động cũng nằm trong số đó. Hơn nữa, mặc dù đã có những
cam kết chính trị từ phía Đảng và Nhà nước về phát triển thị trường lao động, mặc dù thị
trường lao động đã được công nhận về mặt pháp luật, nhưng do những thành kiến, do ảnh
hưởng của cách tư duy cũ vốn còn sâu gốc bén rễ trong tư duy của nhiều người, nên việc
phát triển loại thị trường này ở nước ta, vẫn còn đang gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, để tạo
lập và đẩy nhanh tốc độ phát triển của thị trường lao động, trước hết cần có những thay đổi
mạnh mẽ trong quan điểm, trong nhận thức về loại thị trường đặc biệt này ở mọi cấp, mọi
ngành.
* Thực sự coi sức lao động là hàng hoá:
Nếu như trước đây, trong nền kinh tế kế hoạch tập trung, sức lao động không được
công nhận là hàng hoá, nên không ai có quyền mua đi bán lại, thì nay, trong nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN, việc thương phẩm hoá sức lao động đã nảy sinh như một nhu cầu
khách quan. Lý luận về hàng hoá sức lao động của C.Mác cho thấy việc coi sức lao động là
một loại hàng hoá vừa không gây cản trở đối với địa vị chủ nhân của người lao động, vừa
không phá bỏ phương thức phân phối theo lao động mà các nước XHCN đã đuổi theo.
Khác với các loại thị trường thông thường khác, trên thị trường lao động người ta
không mua bán bản thân người lao động, mà là trao đổi "dịch vụ" của người lao động, hay
"sức lao động", là thứ hàng hoá mặc dù không thể tách rời khỏi bản thân người lao động,
nhưng không đồng nhất với bản thân người lao động. Điều này có thể rõ từ cả hai phía:
người mua và người bán sức lao động. Người mua hàng hoá sức lao động không có quyền
chiếm hữu thể xác và toàn bộ sức lao động của người bán, mà chỉ được quyền sở hữu "giá
trị sử dụng" của hàng hoá sức lao động trong phạm vi các điều kiện đã được ký kết hoặc
thoả thuận trong hợp đồng lao động. Người lao động vẫn được quyền tự do; quyền tự do
của người lao động được thể hiện qua quyền tự do về thân thể, quyền được tự do học hành,
đi lại, cư trú, tự do lựa chọn ngành nghề hoặc công việc, tự do sử dụng thành quả lao động
của mình. Quan trọng hơn nữa là người lao động được tự do thoả thuận về tiền công, tiền
lương với chủ sử dụng lao động. Điều này đã đặt người lao động lên vị trí ngang bằng về
mặt luật pháp với chủ sử dụng lao động.
Cách nhìn nhận như vậy về hàng hoá sức lao động có thể giúp cởi bỏ những thành
kiến đối với quan hệ thuê mướn lao động, đối với "lao động làm thuê" vốn là những điều
không còn phù hợp với đường lối đổi mới của Đảng và tiến trình cải cách kinh tế của
chúng ta hiện nay.
* Kiên quyết loại trừ những lo ngại không đáng có về nguy cơ người lao động "bị
bóc lột" trên thị trường lao động:
Theo tổ chức lao động quốc tế ILO, bóc lột lao động chỉ có thể xuất hiện khi có vị
thế đàm phán của hai bên tham gia thị trường (bên mua và bên bác sức lao động) không
cân xứng. Đặc biệt khi người lao động bị đặt vào thế yếu, thế bị động so với bên sử dụng
lao động, khi quyền lợi của họ không được đảm bảo về mặt pháp lý.
ở nước ta hiện nay, Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, dưới sự lãnh
đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn đặt mục tiêu hàng đầu là bảo vệ quyền lợi của
đông đảo quần chúng nhân dân lao động. Trong suốt mấy thập kỷ qua, mục tiêu này luôn
được theo đuổi một cách nhất quán và được thể hiện rất rõ ràng qua các đường lối, chính
sách do Đảng và Nhà nước ban hành và đưa vào thực hiện. Tương tự như vậy, trong xã hội
ta hiện nay, mối quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp xã hội đã có những thay đổi to lớn.
Quan trọng hơn, mục tiêu bảo vệ quyền lợi của đông đảo quần chúng nhân dân lao động
còn được khẳng định rõ ràng trong Hiến pháp, trong quy định pháp luật có liên quan. Bộ luật
lao động - cơ sở pháp lý để thực hiện các quan hệ thị trường lao động đã có những quy định
rõ ràng và cụ thể về tính bình đẳng và tự nguyện của hai bên tham gia thị trường lao động
trong khi đàm phán, ký kết hợp đồng lao động, cũng như về điều kiện làm việc, điều kiện
nghỉ ngơi và bảo hộ lao động. Việc tuân thủ tốt các quy định của Bộ luật lao động về hợp
đồng lao động, về thoả ước lao động tập thể, về bảo hiểm xã hội,... là sự bảo đảm tốt nhất để
"bóc lột" không thể xuất hiện. Ngoài ra, trong các đạo luật hiện hành như luật công đoàn,
luật dân sự, luật doanh nghiệp,... quyền lợi của người lao động luôn luôn được bảo vệ và trân
trọng. Với một hệ thống pháp luật nhất quán như vậy, ở nước ta không thể xuất hiện tầng lớp
người có đặc quyền bóc lột, cũng như không thể có tầng lớp cam chịu bị bóc lột.
Bên cạnh đó, cần nhấn mạnh rằng thị trường lao động là nơi thực hiện các trao đổi
của loại hàng đặc biệt, nên có tính nhạy cảm về chính trị và xã hội đặc biệt cao. Chính vì
vậy, vai trò điều tiết của Nhà nước đối với thị trường này là rất quan trọng để đảm bảo công
bằng ổn định xã hội, sửa chữa các khiếm khuyết của thị trường, bảo vệ quyền lợi và quyền
hạn của người lao động.
* Xoá bỏ sự cách biệt và phân biệt đối xử đối với người lao động ở nông thôn, khu
vực phi chính quy, và khu vực tư nhân:
Sự cách biệt giữa các mảng thị trường lao động là hậu quả của chính sách kỳ thị,
phân biệt đối xử kéo dài trong nhiều năm đối với người lao động thuộc khu vực phi chính
quy, đối với người lao động và chủ sử dụng lao động trong khu vực kinh tế tư nhân, v.v...
Tính chất kỳ thị và mức độ phân biệt đối xử thể hiện không chỉ qua các chính sách của
Nhà nước, mà còn thể hiện trong hành vi ứng xử hàng ngày của các công dân, các cơ quan,
tổ chức công quyền. Điều này cho đến nay vẫn còn có những ảnh hưởng mạnh, ngăn cản
sự vận hành lành mạnh của thị trường lao động. Việc xoá bỏ sự cách biệt này đòi hỏi phải
có những bước đi cụ thể và cần sớm thực hiện để khai thông thị trường lao động.
Cùng với việc phát triển các loại thị trường khác, việc phát triển thị trường lao động
hiện được Đảng và Nhà nước ta coi là hướng đi không thể thiếu để thực hiện chuyển đổi
nền kinh tế nước ta sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Tiếp tục vận dụng lý luận hàng hoá sức lao động của C.Mác vào phát triển thị
trường lao động ở nước ta phải dựa theo một hệ thống các quan điểm cơ bản; những quan
điểm này ảnh hưởng đến việc hình thành một hệ thống các giải pháp chủ yếu để tiếp tục
vận dụng tốt hơn những nội dung cơ bản trong lý luận hàng hoá sức lao động của C.Mác.
Tuy nhiên, trong điều kiện nước ta hiện nay, việc hoạch định các giải pháp để tiếp
tục vận dụng lý luận hàng hoá sức lao động nhằm thúc đầy và hoàn thiện hoạt động của thị
trường đang còn mới mẻ. Thêm nữa, do tính chất đặc biệt (vừa mang đặc điểm kinh tế, vừa
mang đặc điểm xã hội) của loại hàng hoá sức lao động, nên các biện pháp thúc đẩy sự phát
triển của thị trường này còn phải được xác định sao cho vừa đảm bảo được tính hiệu quả
kinh tế (phân bổ tối ưu nguồn lực lao động) vừa đảm bảo tính công bằng (quyền lợi của
người lao động và người sử dụng lao động). Tất cả những điều đó cho thấy rằng đây là một
bài toán không dễ dàng tìm được ngay lời giải. Những đề xuất trong luận văn ở đây chỉ
được xem là các ý kiến gợi mở, chắc chắc sẽ còn được xem xét, bổ sung trong quá trình
tiếp tục vận dụng lý luận hàng hoá sức lao động của C.Mác vào phát triển thị trường hàng
hoá sức lao động ở Việt Nam trong giai đoạn mới.
kết luận
Hàng hoá sức lao động xuất hiện đánh dấu một giai đoạn mới trong lịch sử phát
triển kinh tế của xã hội loài người. Nó thể hiện sự thay đổi to lớn trong trình độ của lực
lượng sản xuất, sự phân công lao động diễn ra mạnh mẽ, năng suất lao động tăng cao, xã
hội chuyển từ nền kinh tế hàng hoá giản đơn sang nền kinh tế tư bản chủ nghĩa.
Hàng hoá sức lao động đã xuất hiện trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa
và đã được C.Mác nghiên cứu, xây dựng thành lý luận hàng hoá sức lao động. Với lý luận
này, C.Mác đã vạch rõ bản chất của nền sản xuất hàng hoá TBCN và khám phá ra quy luật
chi phối sự vận động và phát triển của xã hội tư bản chủ nghĩa.
Vận dụng lý luận hàng hoá sức lao động của C.Mác vào thực tiễn nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN ở nước ta từ năm 1986 đến nay có thể thống nhất rằng: sự tồn
tại và phát triển của hàng hoá sức lao động và thị trường sức lao động là một tất yếu khách
quan, việc thừa nhận sức lao động là hàng hoá không cản trở việc xây dựng CNXH mà còn
giúp kích thích cả người sở hữu sức lao động lẫn người sử dụng lao động đóng góp tích
cực hơn vào sự nghiệp phát triển chung của đất nước.
Từ những nội dung cơ bản được vận dụng trong lý luận hàng hoá sức lao động, luận
văn đã phác thảo lại bức tranh đậm nét về thực trạng hàng hoá sức lao động và thị trường
lao động ở nước ta, chỉ ra những thành tựu và hạn chế trong việc vận dụng lý luận hàng
hoá sức lao động vào phát triển thị trường lao động ở nước ta. Từ đó luận văn đã đưa ra
những quan điểm cơ bản và những giải pháp chủ yếu để tiếp tục vận dụng lý luận hàng hoá
sức lao động của C.Mác. Những quan điểm và giải pháp đó xuất phát từ bản chất và xu thế
phát triển của thị trường lao động, từ vị thế của nền kinh tế nước ta trong tiến trình phát
triển tất yếu của nền kinh tế thế giới.
Việc vận dụng lý luận hàng hoá sức lao động của C.Mác trong điều kiện kinh tế
chuyển đổi như nước ta là một việc không dễ dàng kể cả trong nhận thức và thực tiễn. Do
vậy, với những nghiên cứu của luận văn chỉ mong được góp một phần nhỏ vào việc tiếp
tục nhận thức và vận dụng một cách hoàn thiện hơn lý luận hàng hoá sức lao động vào
phát triển thị trường lao động trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam.
Danh mục tài liệu tham khảo
1. Phạm Công Bảy (2002), Tìm hiểu Bộ luật lao động Việt Nam (được sửa đổi bổ sung
năm 2002), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
2. Bộ Lao động - Thương binh và xã hội, Viện Khoa học lao động và các vấn đề xã hội
(1993), Tìm hiểu chế độ tiền lương mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
3. Bộ Lao động - Thương binh và xã hội (2005), Báo cáo kết quả điều tra lao động -
việc làm 1-7-2005.
4. Bộ Luật Lao động nước CHXHCN Việt Nam (1994), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
5. Ngô Thế Chi, Nguyễn Văn Dần (2003), Phân tích giải pháp tài chính giải quyết việc
làm trong điều kiện hội nhập kinh tế, Nxb Thống kê, Hà Nội.
6. Phạm Đức Chính (2004), "Thị trường lao động: vấn đề lý thuyết và thực trạng hình
thành, phát triển ở Việt Nam", Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, 308 (1), tr.35-49.
7. Phạm Đức Chính (2004), "Thị trường lao động: vấn đề điều tiết và tự điều tiết ở Việt
Nam", Nghiên cứu kinh tế, (9), tr.37-47.
8. Phạm Đức Chính (2005), Thị trường lao động cơ sở lý luận và thực tiễn ở Việt Nam,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
9. Mai Ngọc Cường (2002), "Về cải cách tiền lương của cán bộ, công chức Việt Nam
những năm tới", Tạp chí Kinh tế và phát triển, 64(10).
10. Phạm Tất Dong (2006), "Thành tựu bước đầu và những vấn đề cấp thiết đặt ra trong
đào tạo nhân lực ở nước ta", Tạp chí Cộng sản, (9), tr.100-104.
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (1977), Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương
Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, Nxb Sự thật, Hà Nội.
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI,
Nxb Sự thật, Hà Nội.
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2004), Văn kiện Hội nghị lần thứ chín BCH Trung ương
khoá IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
16. Đặng Quang Điều (2003), "Dự thảo đề án cải cách chính sách tiền lương - những vấn
đề chưa được đề cập", Tạp chí Lao động và Công đoàn.
17. Phạm Thị Thuý Hằng (1997), "Thị trường lao động Việt Nam", Nghiên cứu kinh tế,
(222), tr.69-72.
18. Phạm Thị Thu Hằng (2002), Tạo việc làm tốt bằng các chính sách phát triển doanh
nghiệp nhỏ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
19. Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh (2005), Giáo trình kinh tế học chính trị
Mác - Lênin (tái bản), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
20. Nguyễn Đình Kháng, Vũ Văn Phúc (chủ biên) (1999), Những nhận thức kinh tế chính
trị trong giai đoạn đổi mới ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
21. C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Sự thật, Hà
Nội.
22. C.Mác và Ph.Ăngghen (1993), Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Sự thật, Hà
Nội.
23. C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 19, Nxb Chính trị quốc gia, Sự thật, Hà
Nội.
24. C.Mác và Ph.Ăngghen (1993), Toàn tập, tập 23, Nxb Chính trị quốc gia, Sự thật, Hà
Nội.
25. Vũ Minh Mão, Hoàng Xuân Hoà (2004), "Dân số và chất lượng nguồn nhân lực ở
Việt Nam trong quá trình phát triển kinh tế", Tạp chí Cộng sản, (10).
26. TS. Nguyễn Bá Ngọc - KS. Trần Văn Hoan (2002), Toàn cầu hóa: Cơ hội và thách
thức đối với lao động Việt Nam, Nxb Lao động - xã hội.
27. Đỗ Thị Xuân Phương (2000), Phát triển thị trường sức lao động giải quyết việc làm -
Qua thực tế Hà Nội, Luận án tiến sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí
Minh, Hà Nội.
28. Bùi Tiến Quý, Vũ Quang Thọ (1997), Chi phí tiền lương của các doanh nghiệp nhà
nước trong nền kinh tế thị trường, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
29. Đào Xuân Sầm (2000), Viết theo dòng đổi mới tư duy kinh tế, Nxb Thanh niên, Hà
Nội.
30. Phạm Đức Thành, Phạm Quý Thọ, Thang Mạnh Hợp (2003), "Vấn đề lao động và
việc làm ở Việt Nam từ đổi mới đến nay", Kinh tế và phát triển, (76), tr.11-13.
31. Phạm Đức Thành (2005), "Lao động và việc làm 2001-2003 và phương hướng, giải
pháp tới 2005", Nghiên cứu và dự báo, (7), tr.14.
32. Phạm Quý Thọ (2003), Thị trường lao động Việt Nam - Thực trạng và giải pháp phát
triển, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội.
33. Phạm Thị Thơm (2004), Thị trường lao động Việt Nam thực trạng và giải pháp, Đề
tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà
Nội.
34. Thời báo kinh tế Việt Nam (2004), Kinh tế 2003-2004 Việt Nam và thế giới.
35. PGS.TS Vũ Hồng Tiến (2003), Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam - lý
luận và thực tiễn, Chuyên đề kinh tế.
36. Tổng cục thống kê (2003), Niên giám thống kê 2002, Nxb Thống kê, Hà Nội.
37. Tổng cục thống kê (2004), Niên giám thống kê 2003, Nxb Thống kê, Hà Nội.
38. PGS. Lưu Ngọc Trịnh (1996), Chiến lược con người trong "thần kỳ" kinh tế Nhật
Bản, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
39. Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương và Chương trình phát triển của Liên
hợp quốc (2003), Dự án VIE 01/025: Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia,
Nxb Giao thông vận tải, Hà Nội.
40. Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (2003), Một số vấn đề về phát triển thị
trường lao động ở Việt Nam, Nxb Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội.
41. Viện Thông tin khoa học xã hội (1999), Thị trường lao động trong kinh tế thị trường,
Nxb Thông tin khoa học xã hội, Chuyên đề, Hà Nội.
42. N.Vishnevskaza: Mác ty lược thuật (2005), "Tự do hoá kinh tế đối ngoại và thị
trường lao động", Thông tin Khoa học xã hội, (2), tr.43-47.
Các file đính kèm theo tài liệu này:
- 59_1717.pdf