Một số suy nghĩ về ngành công nghiệp phân bón

-Tổng Công ty chỉđạo đểcác đơn vịthành viên phát huy tất cảnhững tiềm năng hiện có nhằm mục tiêu tăng trưởng tối đa trong năm 2002 và những năm sau theo hướng chúng tôi đã trình bày ởtrên. -Tổng Công ty có chính sách điều hoà hạch toán tổng thểđểsửdụng sản phẩm mới, giá thành sản xuất còn đắt, như photpho vàng và không cần phải nhập khẩu.

pdf30 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Lượt xem: 3239 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Một số suy nghĩ về ngành công nghiệp phân bón, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ĐỀ TÀI Một số suy nghĩ về ngành công nghiệp phân bón TS. NGUYỄN HUY PHIÊU Viện Hoá học Công nghiệp MỤC LỤC I. MỞ ĐẦU ......................................................................................... 3 II. VÀI NÉT VỀ CÔNG NGHIỆP PHÂN BÓN CỦA THẾ GIỚI .. 4 III. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT, TIÊU THỤ PHÂN BÓN Ở NƯỚC TA...................................................................................................... 11 IV. MỘT SỐ ĐỀ XUẤT VỀ GIẢI PHÁP ....................................... 17 V. VẤN ĐỀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN .............................................. 23 VI. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ............................................................... 26 TÀI LIỆU NGUỒN .......................................................................... 30 I. MỞ ĐẦU Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển của sản xuất nông nghiệp ngành phân bón đã có những bước tiến rất đáng kể. Trong vòng 10 năm kể từ năm 1990 sản lượng sản xuất và tiêu thụ phân bón đã tăng lên 4 lần (từ 425 nghìn tấn năm 1990 lên đến 1770 nghìn tấn vào năm 2000). Công nghiệp phân bón đã đóng một vai trò rất quan trọng cho chiến lược phát triển nông nghiệp và an ninh lương thực quốc gia. Trong tiến trình hòa nhập nền kinh tế Việt Nam vào nền kinh tế khu vực và thế giới, các ngành sản xuất của Việt Nam, trong đó có ngành sản xuất phân bón, đã trực tiếp bị tác động với sức ép ngày càng lớn. Từ chỗ được trợ giá vận chuyển và bảo hộ bằng thuế quan đối với một số sản phẩm phân bón vào những năm trước, bắt đầu từ năm 2001 sự bảo hộ bằng thuế quan giảm dần và các sản phẩm phân bón phải đối mặt với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt ngay trên thị trường trong nước. Tình hình thời tiết không thuận lợi ở nhiều địa phương cùng với sự thay đổi cơ cấu cây trồng và thị trường phân bón ngày càng phức tạp nên việc sản xuất và tiêu thụ phân bón trong nước gặp rất nhiều khó khăn. Tuy nhiên việc đầu tư chiều sâu và phát triển sản xuất phân bón trong nước vẫn là sự lựa chọn duy nhất. Để góp phần làm rõ thêm bức tranh tổng thể của ngành sản xuất phân bón Việt Nam trong giai đoạn hiện nay chúng tôi xin trình bày một số suy nghĩ về vấn đề này: II. VÀI NÉT VỀ CÔNG NGHIỆP PHÂN BÓN CỦA THẾ GIỚI Đánh giá chung về sản xuất phân bón Trong tương lai gần kỹ thuật chuyển gien chưa thể là phương sách cứu cánh để giải quyết vấn đề lương thực cho nhân loại. Vì vậy muốn duy trì năng suất cây trồng để đảm bảo an ninh lương thực vẫn phải sử dụng phân bón hoá học cùng với các loại phân hữu cơ khác, tính ra mỗi người dân phải đạt 35 kg N/năm. Dự đoán cho tới năm 2015 ngô, lúa và lúa mì vẫn là các loại cây trồng sử dụng nhiều phân bón, sản lượng phân bón của thế giới sẽ tăng khoảng 18 triệu tấn (chất dinh dưỡng) so với năm 2000, đạt khoảng 152.2 triệu tấn, mức độ tăng trưởng 0,9%. Mức độ tăng trưởng mạnh ở Nam và Đông Á (7,7 triệu tấn) và Mỹ La Tinh (3,3 triệu tấn), mức trung bình là ở vùng Hạ Sahara (châu Phi). Mức tiêu thụ phân bón ở Tây Âu giảm cho tới năm 2006, sau đó sản xuất sẽ ổn định. Về sản xuất phân đạm, trước đây phát triển mạnh chủ yếu ở Tây Âu, Bắc Mỹ và Nhật Bản. Do giá khí thiên nhiên đắt người ta đã phải nhập khẩu amoniac để sản xuất phân đạm, sau đó đã dịch chuyển quá trình này tới các nước có nhiều khí thiên nhiên ở Caribê, Cận Đông và ở một số nước có mức tiêu thụ lớn như Trung Quốc, Ấn Độ, Inđônêxia, Pakistan. 2/3 mức tăng trưởng này là ở châu Á. Phần đóng góp của Tây Âu đã giảm từ 20% xuống còn 11% Các nhà máy sản xuất amoniac thường được kết hợp với nhà máy sản xuất urê để tận dụng CO2 khi điều chế amoniac. Chi phí về nguyên liệu chiếm từ 2/3 tới 3/4 toàn bộ chi phí cho sản xuất amoniac. Yếu tố nguyên liệu cũng chiếm hơn 80% toàn bộ chi phí đầu vào đối với sản xuất urê. Trung Quốc và Ấn Độ đã đặt mục tiêu hàng đầu là phải tự cung cấp đủ phân bón. Những thay đổi của họ trong lĩnh vực này có tác động trực tiếp tới giá cả phân bón quốc tế. Về phân lân, hai thập kỷ qua trên thế giới, đã phát triển mạnh việc sản xuất phân lân tại các nước có nguồn photphat thiên nhiên, đặc biệt lâ ở Bắc Phi, Mỹ, các nước Cận Đông, Tây và Nam Phi. Do vậy, người ta đã tiết kiệm được công vận chuyển phân bón đậm đặc, giá trị cao hơn nhiều so với quặng photphat. Trước đây 91% sản lượng axit photphoric do Bắc Mỹ, Tây Âu, Liên Xô (cũ), Nhật Bản sản xuất, hiện nay 83% sản lượng này lại do các nước có nguồn quặng photphat sản xuất. Mức tiêu thụ phân lân tăng trong 30 năm qua chủ yếu là các loại phân sản xuất từ axit photphoric trích ly (MAP, DAP). Dưới đây là số liệu về cơ cấu sản phẩm phân lân của Trung Quốc - một nước có nền nông nghiệp tương tự với nước ta (số liệu năm 2000): Loại phân lân Sản lượng Phân lân truyền thống x 1000T P2O5 3.672 - Supephotphat đơn 3.672 - Supephotphat kép 185 - Phân lân nung chảy 644 Phân phức hợp x 1000T sản phẩm - Nitrophot NP (27 - 13) 797 - MAP (11 - 42) 1.798 - DAP ( 1 8 - 46) 1.509 - NPK (15 - 15 - 15) 3.529 Như vậy trong số phân lân truyền thống, phân supephotphat đơn chiếm tới 81,58%, phân lân nung chảy chỉ chiếm 14,32%. Về sản xuất photpho vàng Photpho vàng được sản xuất theo phương pháp nhiệt điện. Do giá điện đắt nên qui mô sản xuất thường bị giới hạn. Người ta phân loại nhà máy theo công suất. Loại công suất Tấn P2O5/năm Nước sản xuất Công suất cao 230.000 - 367.000 CHLB Đức, Mỹ Công suất thấp 20.000 - 30.000 Colombia 35.000 - 38.000 Nhật Từ photpho vàng người ta sẽ sản xuất được axit photphoric (nhiệt) và các sản phẩm khác: Sản phẩm Tỷ lệ, % - Axit photphoric nhiệt 85 - 90 Trong đó: + Natri polyphotphat 60 + Photphat làm thức ăn gia súc và thực phẩm 7 - 9 + Phân bón 4 - 8 + Photphat kỹ thuật 10 - Sản phẩm photpho hữu cơ 10 - 15 Điểm mấu chốt của công nghệ sản xuất photpho vàng là tiêu hao nhiều điện năng, chiếm tới 60% chi phí cho nguyên liệu và năng lượng. Để giảm tiêu hao năng lượng người ta đã áp dụng các quá trình năng lượng kỹ thuật, tận dụng nhiệt khí thải của lò photpho để thiêu kết nguyên liệu có kích thước nhỏ hoặc dùng vào những mục đích khác. Quá trình này cho phép giảm tiêu hao nhiên liệu 17 - 20%. Do sử dụng được nguyên liệu và chất khử có kích thước nhỏ nên người ta đã giảm chi phí chủ yếu cho sản xuất chính đến 8 - 10% và giảm giá thành 1T photpho vàng đến 20%. Nguyên liệu cho sản xuất phân lân Tổng trữ lượng quặng photphat của thế giới khoảng 84 tỷ tấn, trong đó khoảng 50 tỷ tấn khai thác mang hiệu quả kinh tế, riêng Ma rốc chiếm 60 tỷ tấn, với chi phí khai thác dưới 36 USD/T nước này có thể khai thác trong vòng 28 năm, nếu với chi phí lên tới 90 USD/T thì có thể khai thác 1000 năm. Lưu huỳnh cũng là một chất dinh dưỡng cần thiết cho thực vật nhưng phần lớn được sử dụng để sản xuất axit sunphuric phục vụ sản xuất phân lân. Khoảng 85% lưu huỳnh nguyên tố được lấy từ các nguồn hyđrocacbon dưới dạng một sản phẩm phụ của lọc dầu, xử lý khí thiên nhiên với giá rất thấp Muốn sản xuất 1 tấn P2O5 Cần gần 1 tấn lưu huỳnh, nên giá lưu huỳnh sẽ là một phần quan trọng trong chi phi sản xuất axit photphoric. Nguyên liệu cho sản xuất phân kali Phần lớn trữ lượng kali tham gia vào lĩnh vực thương mại quốc tế, trong đó khoảng 70% được xuất khẩu ở dạng nguyên khai, chỉ 10-12% dưới dạng phân bón hỗn hợp. Canađa và Liên xô (cũ) chiếm 2/3 mức xuất khẩu kali của thế giới. Ở Thái Lan có hai vùng trũng có muối kali là Corat và Sekhonakhon. Trũng Sekhonakhon kéo dài sang cả đồng bằng Viếng Chăn của Lào. Tổng diện tích chứa muối là khoảng 50.000 km2, trong đó trũng Corat khoảng 33.000 km2, trũng thứ hai rộng chừng 17.000 km2, trong đó Thái Lan chiếm khoảng 14.000 km2, còn ở Lào khoảng 3.000 km2. Theo đánh giá ban đầu, trữ lượng muối kali ở Thái Lan có khoảng 270 tỷ tấn. Còn ở Lào theo kết quả công tác tìm kiếm đánh giá năm 1985 – 1986 của các nhà địa chất Việt Nam và Lào tại vùng Đông Xiêng Đi (ngoại ô Viêng Chăn) có trữ lượng 1.617 triệu tấn quặng, hàm lượng trung bình 12,34% KCl, tính ra tinh quặng là 199 triệu tấn. Tại vùng Bản Natàn cách Viêng Chăn 35 km về phía Đông Bắc trữ lượng ước tính là 2,54 tỷ tấn KCl. Hàm lượng KCl trong quặng ở đây đạt 21,58%. Số liệu về mức sử dụng phân bón trên thế giới cho thấy lượng phân bón tính trên một ha bình quân vẫn còn thấp, song từng nước và khu vực riêng có thể lại khá cao (tính theo chất dinh dưỡng): Tên nước Lượng bón (kg/ha) Đất canh tác (ha/đầu người) Thế giới 98,7 0,215 Trung Quốc (1999) 203,4 0,106 Thái Lan (2000) 200,0 0,27 Nhật Bản 396,3 0,032 Pháp 277,0 0,316 Đức 283,2 0,144 Hà Lan 596,5 0,059 Anh 364,7 0,104 (Số liệu trên chưa tính đến cây lâm. nghiệp, mỗi ha rừng cũng cần 20kg N/năm). III. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT, TIÊU THỤ PHÂN BÓN Ở NƯỚC TA Trước hết chúng tôi xin trình bày về tình hình sản xuất và nhập khẩu phân bón Việt Nam năm 2000, sau đó là biến động của năm 2001. Loại phân Sản xuất (1000T) Nhập khẩu (1000T) Phân đạm Urê Amôn sunfat 76 76 2.100 436 Phân lân 1.130 - Phân NPK 1.400 200 DAP - 400 Phân Kali - 637 Về sử dụng phân bón trong năm 2000 như sau: Diện tích canh tác N P2O5 K2O N + P2O5 + K2O Tỷ lệ 1.000 ha 1000T kg/ha N : P2O5 : K2O 12.278 1.158 506 433 170,8 1: 0,44 : 0,374 Sang năm 2001, tình hình sản xuất và tiêu thụ phân bón có khó khăn hơn. Các doanh nghiệp thuộc Tổng Công ty Hóa chất Việt Nam chỉ sản xuất được 19 triệu tấn phân bón, bằng 91% so với năm 2000, doanh thu tiêu thụ giảm hơn 500 tỷ đồng. Phân lân chế biến giảm 13,6%, phân NPK giảm 6,4%. Riêng phân đạm tăng 29,99%. Vấn đề giảm sức tiêu thụ phân bón có nhiều nguyên nhân, như tình hình lũ lụt liên tiếp ở đồng bằng Sông Cửu Long, nông sản xuất khẩu bị rớt giá v.v Những nguyên nhân nêu trên là một thực tế khách quan, song dưới góc độ nghiên cứu một cách tổng hợp, chúng tôi xin nêu một số nguyên nhân khác để lý giải và có thể tìm những giải pháp thích hợp để thoát ra khỏi tình trạng này, nhằm góp phần nâng mức tăng trưởng chung của ngành. Trước hết vấn đề được nêu là mức bón phân ở nước ta đã đến ngưỡng chưa? Theo số liệu của các nhà khoa học nông nghiệp, mức bón phân của nông dân nước ta còn rất mất cân đối, nhất là ở các tỉnh phía Bắc: Ở Hà Tây, trên đất phù sa sông Hồng với cơ cấu mùa vụ - lúa xuân, lúa hè, mầu đông, năm 2001 mức bón như sau: Lúa xuân Lúa hè Mầu đông Phân chuồng (T/ha) 10/10 10/10 5/5 N (kg/ha) 122,4/126 90,3/88,7 39/50 P2O5 (kg/ha) 55,6/89 77/89 30/90 K2O (kg/ha) 57,2/83,5 69,6/83,5 49/60 Ghi chú: Tử số biểu thị lượng phân bón thực Mẫu số - mức bón cân đối cần thiết Đối với đất phù sa sông Hồng tại Nam Định, năm 2000 - 2001 mức bón như sau: Loại phân bón Cơ cấu mùa vụ Lạc xuân Lúa hè Khoai tây đông Lúa xuân Lúa hè Phân chuồng (T/ha) 0/8,3 8,3/8,3 16,7/17,5 10,3/11,1 8,3/8,3 N (kg/ha) 38,4/64 109/76,8 129/150 128/128 115,2/115,2 P2O5 (kg/ha) 92,6/92,646,8/92,6 83/90 52,8/92,6 69,5/92,6 K2O (kg/ha) 24,5/81,797,2/58,8 131/100 13/65,4 32,7/65,4 CaO (kg/ha) 0/277,8 - - - - Ghi chú: Tử số biểu thị lượng bón thực tê Mẫu số: yêu cầu bón cân đối cần thiết Tại Hải Dương, Hải Phòng cũng thu được số liệu tương tự. Lúa xuân Lúa hè Khoai tây đông Loại phân bón Hải Hải Hải Hải Hải Hải Dương Phòng Dương Phòng Dương Phòng Phân chuồng (T/ha) 8/8 0-9/8 8/8 1,2/5 14/14 7,5/12,5 N (kg/ha) 127/127 100- 130/120 102/102 110/90 127/150 100- 180/150 P2O5 (kg/ha) 44,3/88,6 0-75/90 35,5/66,5 15/60 46/90 30- 60/90 K2O (kg/ha) 49,9/83,1 0/60 49,9/83,1 0/90 66/120 0- 30/120 Chi chú: Tử số biểu thị lượng bón thực tê Mẫu số: yêu cầu bón cân đối cần thiết Nếu chỉ tính riêng phân lân, so với yêu cầu bón cân đối theo khuyến cáo của các nhà khoa học nông nghiệp, trung bình ở vùng đồng bằng sông Hồng mỗi ha gieo trồng còn thiếu khoảng 34 kg P2O5/ vụ. Với diện tích canh tác của đồng bằng sông Hồng là 857.600 ha, gieo trồng 3 vụ một năm, có thể tính được lượng phân lân còn thiếu khoảng 530 ngàn tấn (tính theo supephotphat đơn), chưa kể đến các tỉnh khác ở miền Bắc và miền Trung. Còn ở đồng bằng sông Cửu Long, lượng bón phân tương đối cân đối hơn ở đồng bằng sông Hồng. Chúng tôi mới chỉ có số liệu về mức bón phân ở Ô Môn, Cần Thơ ( 1997 - 1999), cũng theo cách tính tương tự cho thấy ở Đồng bằng sông Cửu Long, ít nhất cũng còn thiếu khoảng 200 ngàn tấn tính theo supephotphat đơn. Như vậy, lượng phân lân thiếu hụt (cách tính tối thiểu) chỉ riêng ở hai vùng đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long cũng tương đương công suất của Nhà máy Supephotphat Lâm Thao. Nhà máy DAP chuẩn bị sẽ xây dựng không ảnh hưởng đến cân đối này vì hiện nay chúng ta vẫn phải nhập khẩu khoảng 400 ngàn tấn DAP/năm. Theo chúng tôi, số liệu này là có thể chấp nhận được. Ở đây chúng tôi chưa so sánh mức bón phân ở Việt Nam so với các nước trong khu vực (ở Việt Nam chỉ bón 170 kg NPK/ha, trong khi ở Thái Lan và Trung Quốc đều bón trên 200 kg NPK/ha). Nhưng vì sao lượng phân lân còn thiếu so với tính toán mà công suất nhà máy không tăng được. Theo chúng tôi có một số nguyên nhân sau: - Các chủng loại phân bón chưa thật phù hợp với từng cây trồng, chưa phù hợp với quy trình canh tác của nông dân. - Hệ thống dịch vụ, cung ứng phân bón chưa thật thuận tiện, nhất là việc khuyến cáo sử dựng một cách hợp lý phân bón cho nông dân để thu lợi nhuận tối đa. - Hệ thống quản lý chất lượng còn yếu, trong khi thị trường phân bón rất đa dạng, phức tạp, có khi còn lẫn cả hàng kém chất lượng. - Sức mua phân bón của nông dân còn hạn chế do giá nhiều hạng mục đầu vào còn cao và đầu ra của sản phẩm nông nghiệp chưa được ổn định, nhất là khâu chế biến và lưu thông. - Giá thành phân bón có thể còn cao. IV. MỘT SỐ ĐỀ XUẤT VỀ GIẢI PHÁP Để góp phần tháo gỡ khó khăn chúng tôi sẽ đề xuất một số giải pháp sau đây: Những giải pháp trước mắt: 1. Nhà sản xuất phân bón có thể đi sâu nghiên cứu sản xuất nhiều chủng loại phân bón hỗn hợp phù hợp với từng loại cây trồng, đất trồng, phù hợp với quy trình canh tác của nông dân, nhất là ở các tỉnh phía Bắc. Theo số liệu của Trung Quốc phân hỗn hợp chiếm 34% tỷ trọng phân bón nói chung. Ở nước ta đối với cây lúa, quy trình bón phân của nông dân là bón lót toàn bộ phân lân, một nửa lượng phân đạm, sau đó mới bón đón đòng và bón thúc bằng một nửa lượng phân đạm còn lại và toàn bộ phân kali. Trong những năm vừa qua Công ty Supephotphat và Hóa chất Lâm Thao đã sản xuất thử và tạo mô hình trình diễn ở một số nơi những loại phân bón hỗn hợp NPK phù hợp với quy trình bón phân của nông dân và đã thu được kết quả như sau: Tại điểm trình diễn trên đất ven sông không được bồi hàng năm ở xã Cổ Đô và Phong Vân huyện Ba Vì Hà Tây, đối với lúa, bón lót phân NPK 8:8:4 và bón thúc bằng phân NPK 12:2:12 cho kết quả sau: Đối chứng (Bón phân đơn) Bón NPK 5 : 10 : 3 Bón NPK 8 : 8 : 4 và 12 : 2 : 12 Chỉ tiêu Cổ Đô Phong Vân Cổ Đô Phong Vân Cổ đô Phong Vân Năng suất, kg/sào 201 196 222 208 235 227 Tăng so với đối chứng - - 10,4% 6,1% 17% 16% Đối với ngô lai LVN 10, thực hiện tại Viện Nghiên cứu ngô Đan Phượng, Hà Tây người ta đã rút ra kết luận về hiệu quả của các loại phân NPK đến năng suất ngô như sau: Số TT Loại phân Năng suất thu được tạ/ha Hiệu quả (kg ngô hạt/kg NPK) 1 NPK 8 : 4 : 4 72,22 6,49 2 NPK 10 : 10 : 5 76,09 7,78 3 NPK 16 : 16 : 8 81,46 9,57 4 NPK 10 : 20 : 6 84,64 10,63 5 Đối chứng (không bón) 52,75 - Kết quả khảo nghiệm sử dụng phân bón NPK 10 : 5 : 5 cho cây dâu tại 4 xã ở Vĩnh Phúc cho thấy: cây dâu được bón phân NPK 10 : 5 : 5 lá to và dày hơn, mầu sắc lá xanh bền giữa các lứa hái, năng suất lá dâu bình quân đạt 26,2 kg/sào lứa hái (tăng 18%) so với đối chứng bón phân đơn riêng rẽ, chất lượng lá dâu tăng, giảm tỷ lệ tằm chết, năng suất kén cao hơn 1,4 kg/ vòng trứng (tăng 10,3%) so với đối chứng. Như vậy những loại phân bón mới đã đem lại hiệu quả cao hơn loại 5 : 10: 3 nên nếu tổ chức sản xuất rộng rãi những chủng loại phân bón kiểu như thế sẽ bán được nhiều hàng hơn, kể cả những loại phân PK dùng riêng nhằm chống rét cho mạ xuân. Ngoài ra, còn có thể sản xuất các loại phân supe tecmô dạng hạt để tránh hiện tượng giảm lượng lân hòa tan trong nước, như vậy sẽ tăng lượng tiêu thụ phân lân nung chảy. Sản xuất tổ hợp dinh dưỡng phục vụ cải tạo hồ nuôi tôm và cung cấp dinh dưỡng cho việc nuôi cá ruộng (vừa là nguồn thức ăn cho cá vừa là phân bón lúa). Để giảm giá thành sản phẩm phân bón NPK các cơ sở sản xuất phân bón có thể nghiên cứu các hướng sau: - Tận dụng nhiệt dư thừa của các quá trình sản xuất để giảm năng lượng cho quá trình sấy sản phẩm NPK. Sử dụng urê và lưu huỳnh thay cho amôn sunphat (SA). Vì giá amôn sunphat đắt hơn giá urê + lưu huỳnh nguyên tố. Ngoài ra, theo số liệu của các nhà khoa học kỹ thuật nông nghiệp. Khi dùng phân bón bổ sung lưu huỳnh nguyên tố cho lạc, đậu tương, ngô người ta có thể đạt năng suất cao hơn khi dùng phân bón chứa ion SO2- 4. Đối với lạc trên đâtt bạc màu Sóc Sơn, bón KCl và S nguyên tố với lượng tương đương 60 kg K2SO4 sẽ tăng năng suất 2,3 tạ/ha lạc củ so với bón K2SO4, còn trên đất phù sa ở Ba Vì năng suất tăng 2,3 tạ/ha. Hàm lượng protein trong nhân lạc tăng trung bình 1,41 – 198% Đối với đậu tương trên đất phù sa không được bồi hàng năm khi bón 34kg S/ha. năng suất tăng 1,2 – 4,52 tạ/ ha trên nền NPK (thí nghiệm 3 vụ). Hàm lượng protein và dầu đều tăng, đặc biệt hàm lượng axit min khi bón S tăng gần 62% Một hướng mới trong sản xuất là sản xuất những dạng phân bón mới có hiệu quả cao hơn. Urê bọc lưu huỳnh. Hiện nay nhu cầu của các cây công nghiệp như cà phê, mía đều cần lưu huỳnh, nên người ta thường phải dùng phân đạm amôn sunphat. Giá 1 tấn urê bọc lưu huỳnh thường gấp 1.8 - 2 lần giá urê thường. Trong khuôn khổ đề tài KHCN cấp Bộ, Viện Hóa học Công nghiệp đã hoàn thành giai đoạn nghiên cứu trong phòng thí nghiệm và có thể sản xuất thử để có sản phẩm chào hàng và dùng thử. Sản xuất phân bón chứa chất hữu cơ và chất kích thích sinh trưởng cây trồng cũng đã được áp dụng ở nhiều nước. Chất hữu cơ sẽ tạo ra các "tay nối" hữu cơ với Fe, Al các phức và chelate để cố định tạm thời các ion dinh dưỡng, tránh bay hơi, hòa tan quá nhanh hoặc cố định chất dinh dưỡng làm cây không hấp thụ được. Ngoài vấn đề đa dạng hóa các chủng loại phân bón, các nhà máy phân bón cũng cần sản xuất thêm các sản phẩm hóa chất khác dể dùng cho chính mình và phục vụ cho các ngành khác, nhất là cho công nghiệp dầu khí để tăng thêm giá trị hàng hóa. Chẳng hạn, trước mắt có thể sử dụng Na2SiF6 làm chất khoáng hóa cho lò nung xi măng để giảm nhiệt độ nung, sau đó sẽ sản xuất criolit dùng cho công nghiệp điện phân nhôm. Trong sản xuất phân đạm, ngoài 8 loại xúc tác cơ bản, chỉ riêng hóa chất cho bộ phận tách CO2 xử lý nước tuần hoàn và khử khoáng đã cần 1,14 USD/ T amomac và 0,36 USD/T urê. Ngoài ra còn phải mua hóa chất chống vón cục, kết tảng cho urê và các hóa chất xử lý môi trường v.v... Tại Công ty Supephotphat và Hóa chất Lâm Thao chúng ta có thể sản xuất phèn nhôm chất lượng cao (không còn axit tự do) như công nghệ của Viện Hóa học Công nghiệp đã áp dụng tại Nhà máy Hóa chất Tân Bình. Riêng về các hóa chất phục vụ công nghiệp dầu khí, hiện nay ngành hóa chất mới chỉ cung cấp được rất ít sản phẩm như CaCl, bột graphit, canxi cacbonat, natri silicat, còn rất nhiều sản phẩm khác như (NH4)2SiF6 NH4F, NAF, để làm giảm độ hấp phụ chất hoạt động bề mặt (NH4)2S2O8 Na2S2O3 chất khơi mào của phản ứng copolime hóa acrilamid với metylen - biacrilamid. NH4Cl, FeCl3, K2HPO4, KH2PO4, Na2HPO4, NaH2PO4 chất ức chế chống ăn mòn và tạo muối, K4P2O7. 3H2O, K2SiO3, Ca2P2O7, CuSO4.7H2O, ZnSO4 làm phụ gia với chất keo tụ khi tách dòng của nước mạch, ZnCl và Fe3O4 chất ức chế ăn mòn vi sinh vật và hấp phụ H2S trong mạch v.v.. đều đang có nhu cầu và các sản phẩm này nhiều nhà máy phân bón và hóa chất của ta đều có thể sản xuất được. 2. Về công tác tiếp thị. Các chuyên gia của FAO đã dùng thuật ngữ “tiếp thị tích cực". Đây là một biện pháp nhờ đó các đại lý phân phối thường xuyên tìm tòi các phương pháp mới để làm tăng doanh số bán hàng, không những đem lại lợi nhuận cho chính họ mà còn cho cả người nông dân. Ở Pháp người nông dân nhận được khoảng 70% lượng thông tin hướng dẫn từ khu vực phân phối. Để đưa ra được những hướng dẫn chính xác thì bản thân các đại lý phân phối cũng phải được thông tin đầy đủ. Điều này cho thấy việc huấn luyện cho người bán hàng có tầm quan trọng đặc biệt, thế nhưng việc tập huấn cho họ ở Việt Nam lại thường bị xem nhẹ. 3. Về công tác khuyến nông. Cơ quan khuyến nông tạo dựng mối liên kết mật thiết giữa cơ quan nghiên cứu và người nông dân. Theo một nghiên cứu của FAO tỷ lệ cán bộ khuyến nông/nông dân được coi là yêu cầu tối thiểu cần 1/500 đến 1/1000. Ở nước ta mới có 6000 cán bộ khuyến nông ở tuyến xã, hiện còn thiếu đến 4000 người. Chúng tôi thấy việc hướng dẫn bà con nông dân sử dụng và bón phân cân đối. hợp lý, biết các loại phân bón gì cho cây trồng nào kết hợp với kỹ thuật canh tác khoa học là điều hết sức quan trọng và việc nâng cao dân trí về kỹ thuật bón phân sẽ góp phần thúc đẩy quá trình sản xuất và tiêu thụ phân bón. V. VẤN ĐỀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, nhu cầu hiện tại về phân bón ở Việt Nam cần khoảng 7 triệu tấn, trong đó 2,2 triệu tấn urê, 1,3 triệu tấn phân lân chế biến, 1,5 triệu tấn phân hỗn hợp NPK. 600 ngàn tấn phân DAP, 400 ngàn tấn môn sunphat và 500 ngàn tấn phân kali. Đến năm 2005 nhu cầu về các loại phân bón sẽ là 8 đến 10 triệu tấn, đạt mức tăng trương từ 8 đến 10%. Trong đó phân urê cần 2,5 triệu tấn, phân NPK - 2.2 triệu tấn. phân lân 1,7 triệu tấn, DAP - 800 ngàn tấn, phân kali - 900 ngàn tấn. Về phân lân Nhằm đáp ứng nhu cầu phân bón nói trên, Tổng Công ty Hóa chất Việt Nam đang chuẩn bị xây dựng nhà máy DAP với công suất 330 ngàn tấn/năm và nhà máy supephotphat đơn 110 ngàn tấn/năm. Đó là việc đầu tư hợp lý. Cùng với việc đầu tư chiều sâu và tăng công suất hiện có của các nhà máy supephotphat Lâm Thao, Long Thành và các nhà máy phân lân nung chảy, đến năm 2005 chúng ta sẽ có 2.6 triệu tấn phân lân (tính theo supephotphat đơn). Về phân đạm Nhà máy Phân đạm Hà Bắc đang được cải tạo nâng công suất lên 150 ngàn tấn urê/năm. Nhà máy Urê Phú Mỹ (800 ngàn tấn/năm) dự kiến sẽ bắt đầu sản xuất vào năm 2004. Nhà máy Urê Cà Mau (800 ngàn tấn/năm) sẽ vận hành vào năm 2005, có thể thêm một nhà máy phân đạm sản xuất từ than (600 ngàn tấn/năm) ở phía Bắc. Như vậy đến 2005 sản lượng urê có thể sẽ đạt 2.350 triệu tấn, sau đó nhà máy urê Cà Mau sẽ tăng công suất lên 1,6 triệu tấn/năm. Về phân hỗn hợp NPK : Hiện có khoảng 30 nhà máy sản xuất phân hỗn hợp NPK với công suất 2.1 triệu tấn/năm, trong đó có 18 nhà máy thuộc Tổng Công ty Hóa chất Việt Nam, riêng 4 nhà máy liên doanh đối với nước ngoài đã đạt công suất 1,4 triệu tấn/năm. Để phục vụ kế hoạch phát triển công nghiệp phân bón trên đây, công tác nghiên cứu khoa học công nghệ cần được tiến hành theo từng bước. Những việc cần triển khai ngay: Mở rộng quy mô sản xuất thuốc tuyển quặng apatit và tiếp tục nghiên cứu không ngừng nâng cao chất lượng và giảm giá thành thuốc tuyển, nghiên cứu khả năng tuyển apatit loại 2. - Nghiên cứu ứng dụng hợp lý photphogips, là nguồn chất thải của sản xuất axit photphoric trích ly trong nhà máy DAP. - Nghiên cứu nâng cao chất lượng và giảm giá thành phân supephotphat đơn để có cơ hội cạnh tranh với các loại phân lân nhập ngoại trong tương lai gần - Nghiên cứu lựa chọn công nghệ thích hợp chế biến quặng apatit nghèo để tận dụng nguồn tài nguyên quý giá không phải nước nào cũng có. - Nghiên cứu điều chế xúc tác và các hóa chất khác cho nhà máy phân đạm. - Nghiên cứu giảm tiêu hao điện năng trong sản xuất photpho vàng và sử dụng hợp lý nguồn nhiệt thải cho các quá trình công nghệ khác, sản xuất các sản phẩm từ photpho và axit photphoric nhiệt. Hiện nay axit photphonc nhiệt mới chỉ dùng chủ yếu cho công nghiệp sản xuất đường và chất tẩy rửa. 1 tấn đường cần 0,3kg H3PO4 với sản lượng đường 1 triệu T/năm cần 3.000T H3PO4. Sản xuất chất tẩy rửa cần 25.650T H3PO4 năm. Ngoài ra còn dùng muối photphat để xử lý nước và các mục đích kỹ thuật khác. Khi có thủy điện Sơn La với giá điện giảm xuống chắc chắn công nghệ sản xuất photpho vàng sẽ có cơ hội phát triển. Lúc đó có thể xây dựng xưởng với quy mô 3000 T/n (xưởng định hình của ngành). Ngay bây giờ Tổng Công ty có thể tính toán đến khả năng sản xuất điện phục vụ cho sản xuất photpho vàng. VI. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 1 Đối với Nhà nước Ngành công nghiệp phân bón không nên được xem xét một cách độc lập. Các chuyên gia FAO cho rằng có ít nhất 12 loại hình tổ chức liên quan đến vấn đề phần bón: các nhà sản xuất và đại lý phân bón, các hội nông dân, các tổ chức phân bón quốc gia và quốc tế, các công ty vật tư nông nghiệp, lĩnh vực chế biến và các nhà chế biến thực phẩm, các tổ chức ngân hàng và tín dụng. Cơ quan khuyến nông - tập huấn - đào tạo. Các cơ quan Chính phủ như các Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ KHCN và Môi trường, Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Bộ Y tế, Bộ Lao động, các cơ quan liên quan tới lĩnh vực phân bón, các tổ chức chính phủ và các tổ chức của Liên hiệp quốc; FAO, OECD, UNIDO, ngân hàng Thế giới, các tổ chức phi chính phủ (NGO), các nhà tài trợ song phương và đa phương. Muốn phát triển thành công nông nghiệp sản xuất phân bón và phát triển thị trường trong nước, đòi hỏi sự quan tâm thích đáng về kế hoạch tổng thể theo các chương trình dài hạn, trung hạn và ngắn hạn, đồng thời cần có chính sách phù hợp, vì đây là một phần chính sách về nông nghiệp liên quan tới các mục tiêu kinh tế - xã hội chung của đất nước. Do vậy Nhà nước có thể xem xét không thu thuế giá trị gia tăng (VAT) đối với sản phẩm phân bón, không tăng giá điện và than cho cơ sở sản xuất phân bón. Ấn Độ và Trung Quốc là hai nước sản xuất lượng lớn phân bón trên cơ sở nguyên liệu thô khá đắt, nhưng nhà nước của họ đã có chính sách hỗ trợ cho ngành sản xuất phân bón. Vấn đề vốn đầu tư và vốn cho doanh nghiệp sản xuất phân bón, nhất là lãi suất trong những tháng lưu kho chờ thời vụ là những hạng mục nên được xem xét hỗ trợ, đồng thời Nhà nước cần cho cơ chế vay vốn để người nông dân có thể trả dần tiền mua phân bón sau khi thu hoạch. Không nhập khẩu phân NPK, kể cả amôn sunphat. Nhà nước cần ban hành luật phân bón, chỉ đạo việc kiểm tra và quản lý chất lượng phân bón thật chặt chẽ. Các chuyên gia FAO đã đưa ra một nhận xét: điều kiện tiên quyết để phát triển thành công nông nghiệp và thị trường phân bón là nền kinh tế phải ổn định, tăng trưởng kinh tế đều đặn, lạm phát thấp và tỷ giá hối đoái ổn định, hợp lý. 2. Đối với Tổng Công ty Hoá chất Việt Nam Chúng tôi xin kiến nghị với Tổng công ty một số vấn đề như sau: -Tổng Công ty chỉ đạo để các đơn vị thành viên phát huy tất cả những tiềm năng hiện có nhằm mục tiêu tăng trưởng tối đa trong năm 2002 và những năm sau theo hướng chúng tôi đã trình bày ở trên. - Tổng Công ty có chính sách điều hoà hạch toán tổng thể để sử dụng sản phẩm mới, giá thành sản xuất còn đắt, như photpho vàng và không cần phải nhập khẩu. - Tổng Công ty thường xuyên giao nhiệm vụ nghiên cứu KHCN cho Viện Hoá học Công nghiệp và các cơ sở nghiên cứu trong Tổng Công ty để giải quyết kịp thời những vấn đề của sản xuất đặt ra, ngoài những đề tài đã được đăng ký theo kế hoạch hằng năm hoặc vài năm. - Trong thời gian tới, đề nghị Tổng Công ty xem xét khả năng sản suất supephotphat giàu. Công nghệ sản xuất supephotphat đơn tuy đơn giản nhưng cho chất lượng sản phẩm thấp. Sau 5-7 năm nữa sản phẩm này khó có thể cạnh tranh với những loại phân lân chất lượng cao hơn vì vậy ngay từ giờ Tổng công ty nên tính đến khả năng chuyển đổi một phần cơ cấu sản phẩm của các cơ sở sản xuất phân lân hàm lượng thấp. So sánh giá chênh lệch khi sản xuất vận chuyển 1 T P2O5 ở 4 dạng phân bond khi cự ly vận chuyển là 2000 km như sau: Supephotphat đơn ( 16.5% P2O5 hh) Supephotphat đơn (28% P2O5 hh) Supephotphat kép 42% P2O5 hh) DAP (chỉ tính theo P2O5) (46% P2O5) 100 82 85 78 Ngoài ra, chúng tôi cũng xin đề nghị Tổng Công ty xem xét khả năng hợp tác với Lào về sản xuất phân kali. Hiện nay Viện Nghiên cứu máy đã giúp Lào xây dựng một xưởng sản xuất phân hỗn hợp NPK có công suất 2 T/h. TS. NGUYỄN HUY PHIÊU Viện Hoá học Công nghiệp TÀI LIỆU NGUỒN 1. Nguyễn Xuân Thuý, Thứ trưởng Bộ Công nghiệp, Tình hình cung cấp và sản xuất phân bón ở Việt Nam, Hội nghị châu Á - Thái Bình Dương, Hiệp hội phân bón Quốc tế, Hà Nội, tháng 10 - 2001 2. Nguyễn Văn Bộ, Vụ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Ernst Mutert, PPI/PPIC, Bón phân cân đối để nâng cao năng suất mùa vụ ở Việt Nam, Hội nghị châu Á - Thái Bình Dương, Hiệp hội phân bón Quốc tế, Hà Nội, tháng 10 - 2001. 3. Bùi Huy Hiền, Nguyễn Trọng Thi, Viện Thổ nhưỡng Nông hoá, Hệ thống mùa vụ lúa ở đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long - Việt Nam, Hội nghị châu Á - Thái Bình Dương, Hiệp hội phân bón Quốc tế, Hà Nội, tháng 10 - 2001. 4. Chiến lược phân bón. FAO, Roma, 11 - 1999.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfluan_van_3__7073.pdf