Tác động của gia nhập WTO đối với thương mại mặt hàng thủy sản Việt Nam sang thị trường Mỹ

Nghiên cứu về xuất khẩu hàng thủy sản Việt Nam sang thị trường Mỹ là vấn không mới, song đề tài ”Tác động của gia nhập WTO đối với thương mại mặt hàng thủy sản Việt Nam sang thị trường Mỹ” với tiếp cận của học phần kinh tế thương mại cũng đã đạt được những thành công bước đầu. Tác giả đã khái quát được một số lý luận cơ bản về thương mại hàng thủy sản xuất khẩu: khái niệm mặt hàng thủy sản; quan niệm về thương mại hàng thủy sản và các yếu tố khách quan và chủ quan tác động tới thương mại hàng thủy sản; vai trò của thương mại hàng thủy sản đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân. Trên cơ sở thực trạng xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang các quốc gia trên thế giới đặc biệt là sang thị trường Mỹ từ khi Việt Nam gia nhập tổ chức kinh tế thế giới WTO, đề tài tập trung vào đánh giá những tác động tích cực và tiêu cực của gia nhập WTO đối với thương mại hàng thủy sản của Việt Nam sang thị trường Mỹ. Qua đó đề xuất ra những phương hướng và giải pháp cho ngành thủy sản, doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản cũng như cho chính phủ nhằm phát triển thương mại mặt hàng thủy sản Việt Nam sang thị trường Mỹ trong thời gian tới. MỤC LỤC TÓM LƯỢC DANH MỤC BẢNG BIỂU CHƯƠNG I: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ TÁC ĐỘNG CỦA GIA NHẬP WTO ĐỐI VỚI THƯƠNG MẠI HÀNG THỦY SẢN CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG MỸ 1 1.1. Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài 1 1.2. Các câu hỏi đặt ra trong nghiên cứu 2 1.3. Mục đích nghiên cứu của đề tài 2 1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 3 1.5. Kết cấu đề tài 3 CHƯƠNG II:TÓM LƯỢC MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỂ TÁC ĐỘNG CỦA GIA NHẬP WTO VỚI THƯƠNG MẠI HÀNG THỦY SẢN VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG MỸ 4 2.1.Một số lý luận cơ bản về thương mại hàng thủy sản 4 2.1.1. Mặt hàng thủy sản 4 2.1.2. Đặc điểm thương mại hàng thủy sản 5 2.1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến thương mại hàng thủy sản 5 2.1.4. Vai trò của thương mại hàng thủy sản với sự phát triển kinh tế xã hội Việt Nam 7 2.2. Thị trường nhập khẩu thủy sản Mỹ 10 2.2.1. Đặc điểm nhu cầu thủy sản của thị trường Mỹ 10 2.2.2. Các thể chế của Mỹ đối với thuỷ sản nhập khẩu 11 2.3. Tổng quan tình hình khách thể nghiên cứu ở Việt Nam 13 CHƯƠNG III: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ KẾT QUẢ PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TÁC ĐỘNG CỦA GIA NHẬP WTO VỚI THƯƠNG MẠI HÀNG THỦY SẢN VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG MỸ 15 3.1. Phương pháp nghiên cứu 15 3.1.1.Phương pháp thu thập dữ liệu 15 3.1.2.Phương pháp phân tích dữ liệu 15 3.2. Đánh giá khái quát thực trạng thương mại hàng thủy sản Việt Nam sang thị trường Mỹ 15 3.2.1.Thực trạng thương mại hàng thủy sản Việt Nam sang thị trường Mỹ trước khi gia nhập WTO (2000 – 2006 ) 15 3.2.2. Đánh giá tác động của gia nhập WTO với thương mại hàng thủy sản Việt Nam sang thị trường Mỹ 19 CHƯƠNG IV:CÁC KẾT LUẬN VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI HÀNG THỦY SẢN VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG MỸ THỜI GIAN TỚI 26 4.1. Các kết luận và phát hiện qua đánh giá tác động của việc gia nhập WTO với thương mại hàng thủy sản Việt Nam sang thị trường Mỹ 26 4.2. Các dự báo triển vọng thương mại hàng thủy sản Việt Nam sang thị trường Mỹ thời gian tới 27 4.2.1. Những dự báo 27 4.2.2. Định hướng phát triển thương mại hàng thủy sản giai đoạn 2010 – 2012 28 4.2.3. Định hướng phát triển thương mại hàng thủy sản đến năm 2020 29 4.2.4.Nhiệm vụ để thúc đẩy phát triển thương mại hàng thủy sản Việt Nam sang thị trường Mỹ trong thời gian tới 31 4.3. Một số giải pháp phát triển thương mại hàng thủy sản Việt Nam sang thị trường Mỹ 32 4.3.1. Giải pháp về phía chính phủ 32 4.3.2. Giải pháp đối với ngành thủy sản 33 4.3.3. Giải pháp đối với doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản 35

doc42 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Lượt xem: 2421 | Lượt tải: 4download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Tác động của gia nhập WTO đối với thương mại mặt hàng thủy sản Việt Nam sang thị trường Mỹ, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
năng cơ bản của hệ thống đăng ký quốc gia và phạm vi ban hành các quy phạm pháp luật liên quan là Đạo luật về đăng ký toàn liên bang và Đạo luật về các thủ tục hành chính. Đạo luật về về các thủ tục hành chính ban hành năm 1934 thiết lập một hệ thống đồng bộ các quy định cho các cơ quan quản lý hành chính, còn Đạo luật đăng ký toàn liên bang ban hành năm 1946 đã bổ sung những yêu cầu quan trọng áp dụng cho Hệ thống đăng ký liên bang. - Các yêu cầu về dán nhãn hàng hóa. Về nguyên tắc, tất cả các sản phẩm phải được kiểm tra và dán nhãn đáp ứng các quy định và điều luật tương thích. Theo Đạo luật về Thực phẩm, Dược phẩm và Mỹ phẩm toàn liên bang (FD&C Act), mỗi nhãn hiệu thực phẩm phải chứa đựng các thông tin cụ thể, dễ nhận biết mà các khách hàng bình thường cũng có thể đọc và hiểu theo những điều kiện thông thường khi mua và sử dụng. Tất cả các thực phẩm phải có nhãn hiệu bằng tiếng Anh, chứa đựng các thông tin về thành phần, dinh dưỡng, cách sử dụng, giá trị chuẩn khi sử dụng hàng ngày, nước xuất xứ, tên và địa chỉ của nhà sản xuất hoặc nhà nhập khẩu v.v… bằng tiếng Anh. - Các quy định về phụ gia thực phẩm. Các phụ gia thực phẩm phải được kiểm duyệt trước khi đưa ra thị trường. Trước khi chào bán một loại thực phẩm hoặc phụ gia tạo màu vào thị trường Mỹ, nhà sản xuất phải nộp đơn yêu cầu lên FDA để được phê duyệt. Một đơn xin phê duyệt về thực phẩm hoặc phụ gia tạo màu phải có các bằng chứng thuyết phục rằng chất phụ gia đó thực sự có tác dụng như dự kiến. FDA sau đó dựa trên cơ sở tiến bộ khoa học hiện có sẽ quyết định chuẩn thuận nếu chất phụ gia đó an toàn theo các điều kiện sử dụng đã được đề xuất. 2.3. Tổng quan tình hình khách thể nghiên cứu ở Việt Nam. - Cục Hải quan Mỹ là một cơ quan trực thuộc Bộ tài chính Mỹ chịu trách nhiệm đánh giá và thu thuế nhập khẩu, kiểm soát hàng hoá, con người và các đối tượng nhập vào hoặc xuất ra khỏi nước Mỹ. - Cơ quan thuỷ, hải sản quốc gia Mỹ (NMFS) trực thuộc Vụ Hải dương quốc gia, Bộ Thương mại Mỹ. Các sản phẩm hải sản nhập khẩu phải đáp ứng các yêu cầu của cơ quan này và của cả Cơ quan thực phẩm và dược phẩm Mỹ. NMFS quản lý Vấn đề xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị trường Mỹ là một vấn đề không mới bởi từ trước đến nay đã có nhiều tác giả đã nghiên cứu về vấn đề này, đơn cử một số công trình đã nghiên cứu sau: - “Phương hướng và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng thủy sản của ngành thủy sản Việt Nam sang Mỹ”. Đề tài này đi sâu vào việc tìm ra các giải pháp nhằm tháo gỡ những khó khăn mà ngành thủy sản của Việt Nam đang gặp phải và vạch ra những phương hướng mà nhập khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị trường Mỹ sẽ đi theo trong tương lai nhằm phát triển ngành thủy sản nước nhà nói riêng và phát triển nền kinh tế của Việt Nam nói chung. - “Xuất khẩu thủy sản của Việt Nam vào thị trường Mỹ trong những năm qua” (TS.Trần Văn Nam – Đại học KTQD). Đề tài này tập trung phân tích và nêu rõ thực trạng về sản xuất nuôi trồng và đánh bắt thủy sản của Việt Nam, tình hình xuất khẩu chung của thủy sản Việt Nam và xuất khẩu vào thị trường Mỹ trong những năm vừa qua. Từ đó đưa ra các giải pháp nhằm thúc đẩy xuất khẩu thủy sản sang thị trường Mỹ. - “Hàng rào thương mại Mỹ đối với thủy sản nhập khẩu từ Việt Nam”. Đề tài này đi nghiên cứu về các thể chế, các quy định của thế giới cũng như của nước Mỹ về các mặt hàng nhập khẩu nói chung và về mặt hàng thủy sản từ Việt Nam nói riêng. Từ đó đưa ra các khuyến nghị đối với việc xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang Mỹ. - “ Những khuyến nghị và phương hướng xuất khẩu thủy sản thời gian tới và các giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản”. Đề tài này đưa ra các phương hướng xuất khẩu thủy sản trong những năm tới của Việt Nam nhằm thúc đẩy ngành thủy sản trong nước phát triển. Tuy nhiên nghiên cứu vấn đề này dưới góc độ nghiên cứu xem xét tác động của việc gia nhập WTO đối với thương mại hàng thủy sản sang thị trường Mỹ thì chưa có tác giả nào nghiên cứu. CHƯƠNG III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ KẾT QUẢ PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TÁC ĐỘNG CỦA GIA NHẬP WTO VỚI THƯƠNG MẠI HÀNG THỦY SẢN VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG MỸ 3.1. Phương pháp nghiên cứu. 3.1.1. Phương pháp thu thập dữ liệu - Thu thập qua những đánh giá của các chuyên gia Từ những đánh giá của các chuyên gia chúng ta có thể thấy được phần nào tình hình hiện tại: Xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang Mỹ đang diễn ra như thế nào? Đã đạt được những thành tựu gì? Gặp phải khó khăn gì? Và dự báo trong tương lai xuất khẩu sang thị trường Mỹ sẽ có những cơ hội và thách thức nào? … - Phương pháp thu thập dữ liệu qua các nguồn thứ cấp Thông tin được thu thập qua các tài liệu, sổ sách hoặc thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như ti vi, báo, đài, internet… để làm rõ hơn thực trạng xuất khẩu hàng thủy sản và những tác động tích cực và tiêu cực của việc gia nhập WTO với thương mại hàng thủy sản Việt Nam sang thị trường Mỹ. 3.1.2. Phương pháp phân tích dữ liệu. Phương pháp này được tác giả sử dụng trong mục nghiên cứu thực trạng, để so sánh: Kim ngạch xuất khẩu thủy sản sang Mỹ trong các năm, kim ngạch xuất khẩu thủy sản với tổng kim ngạch xuất khẩu trong cả nước, thực trạng xuất khẩu thủy sản sang Mỹ trước khi gia nhập WTO và sau khi gia nhập WTO… Từ đó ta thấy được sự thay đổi về quy mô, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang Mỹ qua các năm, trước và sau khi VIệt Nam gia nhập WTO; đánh giá được chất lượng phát triển xuất khẩu của ngành thủy sản… - Cụ thể là phần 3.2 và 4.1 của đề tài. 3.2. Đánh giá khái quát thực trạng thương mại hàng thủy sản Việt Nam sang thị trường Mỹ 3.2.1. Thực trạng thương mại hàng thủy sản Việt Nam sang thị trường Mỹ trước khi gia nhập WTO (2000 – 2006 ) Giai đoạn từ năm 2000 – 2006 kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị trường Mỹ không ngừng tăng lên qua các năm. + Về quy mô: Xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang Mỹ thời gian từ năm 2001 - 2006 đã đạt được những thành tích rất ấn tượng và được xác định là một thế mạnh của Việt Nam trên con đường hội nhập đầy đủ và sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Bảng 1: Kim ngạch xuất khẩu thủy sản sang Mỹ 2000-2006 Đơn vị: Tỷ USD Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 KNXK 1,47 1,8 2 2,2 2,4 2,7 3,36 Nguồn: Bộ thủy sản Trong các năm 2001 - 2003, thuỷ sản xuất khẩu vào thị trường Mỹ chiếm tỷ trọng lớn nhất. Năm 2006, kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản đạt hơn 3,36 tỷ USD, vượt hơn 400 triệu USD so kế hoạch năm; tổng sản lượng thuỷ sản ước đạt hơn 3,7 triệu tấn, trong đó sản lượng nuôi trồng chiếm hơn 1,7 triệu tấn. Thuỷ sản đứng thứ 4 trong số 9 mặt hàng có mặt ở câu lạc bộ 1 tỷ USD của Việt Nam. Theo thống kê của bộ thủy sản doanh thu xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang Mỹ trong giai đoạn này: Bảng 2: Doanh thu xuất khẩu thủy sản sang Mỹ 2001-2006 Đơn vị: Tỷ USD Năm Doanh thu (sang Mỹ) 2001 489,03 2002 654,98 2003 777,66 2004 565,81 2006 667,15 Nguồn: Bộ thủy sản Năm 2001, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang Mỹ bị suy giảm do ảnh hưởng từ vụ kiện bán phá giá cá tra, ba sa và tôm sú. Các năm 2001- 2003 thủy sản xuất khẩu vào Mỹ chiếm tỷ trọng lớn nhất, nhưng năm 2004 do tác động tiêu cực của vụ kiện bán phá giá tôm vào thị trường Mỹ nên giá trị xuất khẩu thủy sản Việt Nam vào Mỹ đã lùi xuống vị trí thứ hai (24,1%). Khối lượng và giá trị kim ngạch thủy sản xuất khẩu giảm so với cùng kỳ năm 2003, khối lượng đạt 79.265 tấn (giảm 30%), giá trị đạt 522.542.000 USD (giảm 27,7%). Trong tháng 1/2005 kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang Mỹ đứng thứ 4 thế giới, đạt 72 triệu USD, chiếm 7,2% tổng số kim ngạch nhập khẩu thuỷ sản của Mỹ là 994 triệu USD. Sau một thời gian gặp khó khăn do ảnh hưởng của vụ kiện bán phá giá tôm,nên xuất khẩu thủy sản sang Mỹ cũng gặp ít khó khăn nhưng sau đó khối lượng và giá trị kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản năm 2005 của Việt Nam sang Mỹ đang có dấu hiệu phục hồi. Mặc dù Mỹ luôn sử dụng các rào cản thương mại để bảo hộ sản xuất trong nước, nhưng vẫn là thị trường lớn, hấp dẫn, giá bán thường ổn định hơn các thị trường khác, các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản vẫn rất quan tâm và tiếp tục mở rộng thị trường Mỹ. + Về cơ cấu các mặt hàng thủy sản: Việt Nam có lợi thế về chủng loại các mặt hàng thủy sản, do đó Việt Nam có điều kiện tốt để đáp ứng nhu cầu đa dạng về chủng loại thủy sản của Mỹ. Mặt hàng thủy sản của Việt Nam rất đa dạng, do đó Việt Nam xuất khẩu thủy sản sang các thị trường không chỉ với số lượng lớn mà còn phong phú về chủng loại. Các loại mặt hàng được người dân Mỹ ưa chuộng nhất là tôm sú, tôm chân trắng, cá ngừ, cá basa, cá hồi, mực… trong đó những mặt hàng thủy sản Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ chiếm tỷ trọng lớn nhất là tôm và cá. Bảng 3: Mặt hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ 2000-2004 Đơn vị: Nghìn USD Mặt hàng 2000 2001 2002 2003 2004 Tôm nước lợ 185,12 308,70 368,62 468,93 277,45 Cá sống 175 216 201 271 357 Cá sấy khô, ướp muối, hun khói… 374 596 722 1005 3549 Hải sản thân mềm, nhuyễn thể 8,17 6,16 5,82 7,44 6,18 Cá đông lạnh (không bao gồm cá file hoặc cá thịt khác) 6,8 10,22 9,23 10,70 14,71 Cá tươi ( không bao gồm cá file hoặc cá thịt khác) 9,59 16,64 24,67 23,66 25,38 Cá file và cá thịt khác tươi hoặc đông lạnh. 32,61 41,72 69,17 56,45 78,36 Nguồn: Bộ thương mại Hoa Kỳ Năm 2000 cơ cấu thị trường nhập khẩu Hoa Kỳ có sự điều chỉnh mạnh và Việt Nam đã nắm cơ hội chen chân vào thị trường rộng lớn này. Xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang Mỹ tăng đột ngột lên 2,14 lần so với năm 1999 và là mức tăng nhanah nhất trong số các quốc gia xuất khẩu thủy sản vào Mỹ. trong các mặt hàng thủy sản Việt Nam xuất sang Mỹ, tôm chiếm tỷ trọng chính là 74 % tổng giá trị hàng xuất khẩu. Việt Nam vươn lên vị trí thứ 4 về giá trị xuất khẩu tôm sang Mỹ. Cá tra, basa, philê đông lạnh là các mặt hàn độc đáo của Việt Nam tại Mỹ. Năm 2001, Việt Nam xuất khẩu snag Mỹ với khối lượng 70.930 tấn thủy sản các loại trị giá 489,03 triệu USD. Năm 2002 khối lượng hàng xuất khẩu tăng lên 96.664 tấn, đạt 654,98 triệu USD, chiếm 32,4 % tổng giá trị xuất khẩu thủy sản của Việt Nam. Năm 2003, kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng thủy sản ( kể cả chế biến ) đạt 777.66 triệu USD, tiếp tục xếp thứ hai sau hàng dệt may trong bảng xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ, chiếm 35,3 % tổng giá trị xuất khẩu thủy sản của Việt Nam. Trong nhóm hàng thủy sản tôm đông lạnh đạt kim ngạch 649 triệu USD, chiếm 64 % tổng kim ngạch nhóm hàng thủy sản. Tôm và cua chế biến đạt 162 triệu USD. Kim ngạch xuất khẩu cá file giảm khoảng 19 % so với trước do tác động của thuế chống bán phá giá. Năm 2004, Việt Nam chủ yếu xuất khẩu vào Mỹ các mặt hàng như mực đông lạnh, bạch tuộc đông lạnh, tôm đông lạnh, cá ngừ, cá đông lạnh, mực khô, cá khô và các mặt hàng với tổng số lượng đạt 91.380,6 tấn, trị giá 602,9 triệu USD. Mỹ chiếm 25,1 % thị phần xuất khẩu thủy sản của Việt Nam. Trong đó tôm đông lạnh đạt 37.060 tấn, trị giá 397 triệu USD, cá đông lạnh đạt 33,680 tấn, trị giá 119 triệu USD. Năm 2005, do tác động đồng thời của việc áp thuế chống bán phá giá cá tra, cá basa philê đông lạnh và tôm đông lạnh, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang Mỹ có phần giảm sút, thị trường Mỹ chỉ chiếm 23 % thị phần xuất khẩu của Việt Nam. + Về các thành phần tham gia: Thủy sản là một trong những ngành được xem là có lợi thế của Việt Nam, thương mại hàng thủy sản đem lại nhiều lợi nhuận do đó rất nhiều doanh nghiệp tham gia vào lĩnh vực kinh doanh này. Theo Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thuỷ sản VN (VASEP), hiện hầu hết các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản của VN đã nắm vững những nguyên tắc về đăng ký trực tuyến trên mạng với Cục Quản lý thực phẩm và dược phẩm Mỹ (FDA). Cách đây không lâu, FDA đã thông báo từ ngày 12-12-2003 trở đi, các doanh nghiệp muốn xuất hàng nông sản thực phẩm vào Mỹ phải đăng ký chất lượng nhà máy chế biến, thông báo trước các thông số kỹ thuật về lô hàng xuất khẩu và phải có một đại diện pháp nhân tại Mỹ. Tất cả các quy định này là để tuân thủ Luật bảo vệ sức khoẻ cộng đồng và Phòng chống khủng bố sinh học 2002 của Mỹ. 3.2.2. Đánh giá tác động của gia nhập WTO với thương mại hàng thủy sản Việt Nam sang thị trường Mỹ. a. Tác động tích cực: Thủy sản là một trong những ngành kinh tế đem lại kim ngạch xuất khẩu cao cho Việt Nam, với tốc độ tăng trưởng bình quân 18%/năm. Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, hàng thủy sản đã có mặt ở khoảng 160 thị trường trên thế giới. Sau khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), mặt hàng thủy sản càng có điều kiện phát triển thuận lợi hơn, có điều kiện thâm nhập sâu hơn vào thị trường Mỹ. Gia nhập WTO đã giúp cho xuất khẩu thủy sản vào thị trường Mỹ không ngừng tăng lên về quy mô, cơ cấu các mặt hàng thủy sản, thành phần tham gia và cả về hình thức kinh doanh của các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản Việt Nam. - Về quy mô: - Năm 2007, việc Việt Nam gia nhập WTO đã tạo thuận lợi để xuất khẩu thủy sản đạt tốc độ tăng trưởng cao khi các doanh nghiệp đã chủ động chuyển hướng thị trường, vừa giữ được thị trường truyền thống, vừa mở rộng phát triển sang các thị trường mới với khoảng 150 quốc gia và vùng lãnh thổ. Càng ngày Mỹ càng trở thành thị trường quan trọng của Việt Nam trong xuất khẩu các mặt hàng thủy sản, nhất là tôm. Hàng năm kim ngạch xuất khẩu thủy sản sang Mỹ không ngừng tăng lên. - Sau khi Việt Nam gia nhập WTO, thủy sản xuất khẩu tăng cả về lượng lẫn chất: Năm 2007, sản lượng thủy sản ước đạt 3,9 triệu tấn trong đó khai thác đạt 1, 95 triệu tấn, nuôi trồng 1,95 triệu tấn, với kim ngạch xuất khẩu 3,75 tỷ USD. Sản lượng thủy sản xuất khẩu vào thị trường Mỹ là 740 triệu USD, tăng 11% so với năm 2006. Biểu 1. Kim ngạch xuất khẩu 7 tháng / 2009 và so với cùng kỳ năm 2008 Nguồn: TCTK và Vietstock tổng hợp 7 tháng đầu 2009, kim ngạch xuất khẩu thủy sản cả nước đạt 2.17 tỷ USD. Mỹ là thị trường xuất khẩu thủy sản lớn thứ 2 của Việt Nam, chỉ đứng sau Nhật Bản. Xuất khẩu thủy sản 7 tháng đầu năm của Việt Nam vào Mỹ đạt  380.83 triệu USD, tăng 11.36% và là một trong ít thị trường có kim ngạch xuất khẩu thủy sản tăng. Quy mô xuất khẩu thủy sản tăng thúc đẩy các cơ sở nuôi trồng và chế biến thủy sản cũng mọc lên nhiều hơn và có nhiều công nghệ, khoa học kỹ thuật được ứng dụng nhiều hơn vào các khâu nuôi trồng và chế biến thủy sản, góp phần nâng cao chất lượng, chủng loại thủy sản, từ đó tác động trở lại thúc đẩy quy mô nhập khẩu thủy sản sang thị trường Mỹ ngày càng tăng lên. Gia nhập WTO thì cơ hội cho việc tiếp cận khoa học kỹ thuật tiên tiến từ các nước khác là nhiều hơn, cơ hội học hỏi kinh nghiệm nhiều hơn, do đó ngành thủy sản cũng như các doanh nghiệp thủy sản Việt Nam có cơ hội để phát triển mặt hàng thủy sản của nước mình và tạo điều kiện cho thương mại hàng thủy sản sang Mỹ ngày càng phát triển hơn. - Về cơ cấu mặt hàng thủy sản xuất khẩu: Số lượng mặt hàng xuất khẩu thủy sản vào Mỹ ngày càng tăng về số lượng và đa dạng hơn về chủng loại. Nhưng trong đó, tôm vẫn là sản phẩm xuất khẩu lớn của Việt Nam vào Mỹ. Phân theo mặt hàng, tôm vẫn là mặt hàng có giá trị lớn nhất trong các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam vào Mỹ, kim ngạch 7 tháng năm 2009 đạt 185 triệu USD chỉ đứng sau thị trường Nhật Bản (242 triệu USD). Tôm xuất khẩu vào Mỹ chiếm 24.5% kim ngạch xuất khẩu tôm của Việt Nam. Điều này cho thấy Mỹ vẫn là một thị trường quan trọng đối với tôm xuất khẩu của Việt Nam. Trong năm 2008, Việt Nam đứng thứ 4 về xuất khẩu tôm sang Mỹ với 47.900 tấn. Hơn nữa, Việt Nam xuất khẩu rất nhiều loại tôm: tôm tươi, tôm đông, tôm chân trắng…trong đó tôm chân trắng và tôm đông có thị phần nhập vào Mỹ là lớn nhất: năm 2008 Mỹ nhập khẩu tôm trắng là nhiều nhất, chiếm 28 % trên tổng số tôm Mỹ nhập vào từ Việt Nam. Năm 2007 giá trị xuất khẩu tôm đông vào Mỹ là tăng so với giai đoạn từ trước năm 2006: năm 2007 đạt 1387,6 triệu đô la Mỹ, năm 2006 đạt 1262,8 triệu đô la mỹ, năm 2005 đạt 1265,7 đô la Mỹ, năm 2004 đạt 1084,5 triệu đô la Mỹ, năm 2003 đạt 943,6 triệu đô la Mỹ, năm 2002 đạt 717,7 triệu đô la Mỹ. Theo Cục Xúc tiến Thương mại, tôm đông lạnh nhập khẩu được người Mỹ ưa thích cả về hình thức và kích cỡ phổ biến. Người tiêu dùng thường mua tôm với nhiều cỡ khác nhau, thông dụng nhất là cỡ 26-30 con/pound (pound ≈ 0,45 kg) và 36-40 con/pound. Ngoài ra, tôm sú, tôm nâu, tôm hùm cũng là mặt hàng tiêu thụ nhiều ở Hoa Kỳ. Thị trường tôm của Mỹ có xu hướng rất rõ ràng theo yêu cầu về sức khỏe và thuận lợi cho người tiêu dùng. Cũng như thế, người tiêu dùng ngày càng quan tâm nhiều hơn về việc chứng minh nguồn gốc xuất xứ sản phẩm, đảm bảo an toàn, sức khỏe cho người sử dụng và bảo vệ môi trường. Sản phẩm từ cá tra và basa đứng thứ 2 trong số các mặt hàng thủy sản lớn nhất xuất khẩu vào Mỹ. Kim ngạch xuất khẩu 7 tháng đầu năm 2009 đạt 88 triệu USD, chiếm 9.64% giá trị xuất khẩu của mặt hàng này. Kể từ sau vụ kiện chống bán phá giá “Cat fish” ở Mỹ năm 2002 đến nay, kim ngạch xuất khẩu loại cá này không ngừng tăng và thị trường cũng được mở rộng rất nhiều nước. Thị trường Mỹ mặc dù không tăng mạnh như các thị trường khác nhưng vẫn đạt tốc độ tăng khả quan. Đây vẫn là một thị trường lớn cho xuất khẩu cá tra và basa lớn của Việt Nam dù cho tháng 6/2009, Ủy ban thương mại quốc tế Mỹ (ITC) vẫn quyết định duy trì thuế chống bán phá giá đối với sản phẩm cá tra của Việt Nam. Ngoài tôm, cá tra và basa, các sản phẩm khác như cá ngừ, trứng cá và cua đều đạt kim ngạch trên 10 triệu USD, các sản phẩm còn lại trị giá 53 triệu USD. Biểu 2 Nguồn: Bộ công thương và Vietstock tổng hợp Cũng từ cơ hội học hỏi kinh nghiệm và tiếp cận khoa học kỹ thuật nhiều hơn, giúp cho ngành thủy sản Việt Nam có thể nghiên cứu và lai tạo được nhiều loại giống mới có chất lượng tốt hơn, từ đó giúp cho cơ cấu các mặt hàng thủy sản nhập khẩu sang Mỹ đa dạng hơn, phong phú hơn. - Về thành phần tham gia: Trong thời kỳ mở của hội nhập kinh tế quốc tế, công việc kinh doanh trở nên hấp dẫn hơn, trong đó xuất khẩu thủy sản cũng là một ngành mang lại lợi nhuận đáng kể cho các doanh nghiệp. Nó cũng là một ngành thu hút mọi người tham gia. Kể từ sau khi Việt Nam gia nhập WTO số lượng các doanh nghiệp tham gia vào thị trường xuất khẩu thủy sản gia tăng đáng kể và uy tín trên thị trường Mỹ của các doanh nghiệp ngày càng được nâng cao: hiện có 6 doanh nghiệp thủy sản Việt Nam được Bộ Thương mại Mỹ công bố không áp thuế chống bán phá giá hoặc có mức thuế rất thấp, gần như bằng 0% Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, 7 tháng đầu năm 2009 có 182 doanh nghiệp của Việt Nam xuất khẩu vào thị trường Mỹ. Công ty TNHH chế biến Thủy sản Minh Phát có kim ngạch lớn nhất và đạt 32 triệu USD, công ty đứng thứ 2 là Hùng Vương Vĩnh Long. Điều đáng chú ý là những công ty đứng đầu trong xuất khẩu thủy sản của Việt Nam như Hùng Vương, Vĩnh Hoàn, Nam Việt hay Minh Phú không phải là những công ty có kim ngạch xuất khẩu lớn vào Mỹ. Trong số 15 công ty thủy sản đang niêm yết trên sàn chỉ có 4 công ty xuất khẩu vào thị trường Mỹ. Bảng 4 Các doanh nghiệp thủy sản Việt Nam luôn coi Mỹ là thị trường mục tiêu. Và các doanh ngiệp thủy sản Việt Nam có những nét mới sau: - Các doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu thuỷ sản rất năng động, thể hiện qua các mặt sau: Thứ nhất là họ chăm lo đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực. Thứ hai, chú ý đổi mới về phương pháp quản lý. Thứ ba, luôn cải tiến công nghệ. Thứ tư, thực hiện tốt việc quản lý tài chính. Thứ năm, do sớm hội nhập nên các doanh nghiệp khá năng động trong việc đáp ứng các yêu cầu của thị trường, cả về công nghệ chế biến cũng như yêu cầu ngày càng cao về chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm. - Tính chuyên nghiệp của các doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam ngày càng được nâng cao. Giám đốc cũng như nhân viên kỹ thuật nắm bắt nhanh nhạy công nghệ mới, nắm bắt thông tin thị trường, nghiên cứu phát triển sản phẩm mới và đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm. - Các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản luôn chủ động tham gia các hoạt động xúc tiến thương mại do Bộ NN&PTNT và VASEP tổ chức, vì vậy đã chủ động điều tiết và phát triển thị trường, đưa giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản từ Mỹ ngày càng tăng. Họ cũng tích cực nắm bắt các luật lệ, quy định của Mỹ về nhập khẩu thủy sản cũng thông qua các lớp đào tạo, tập huấn hoặc hội thảo. b. Tác động tiêu cực: Gia nhập WTO đã đem lại cho ngành thủy sản Việt Nam nhiều sự thay đổi rõ rệt. Tuy nhiên cái gì cũng có hai mặt của nó, bên cạnh những tác động tích cực thì gia nhập WTO cũng có không ít những ảnh hưởng tiêu cực đến ngành thủy sản và thương mại hàng thủy sản của Việt Nam. - Tác động tích cực của gia nhập WTO là giúp cho quy mô, sản lượng nhập khẩu thủy sản của Việt Nam ngày càng tăng đáng kể, do đó đòi hỏi nguồn cung trong nước phải đảm bảo được số lượng lớn và mang tính chất bền vững. Tuy nhiên hầu hết các cơ sở nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam còn mang tính chất nhỏ, lẻ cho nên việc huy động, tập trung nguồn cung lớn là khó khăn và tốn kém về mặt thời gian và chi phí. - Mặt khác do sản lượng nuôi trồng chưa đủ đáp ứng nguồn cung cho xuất khẩu, do đó sản lượng khai thác từ tự nhiên còn nhiều làm cho nguồn tài nguyên ngày càng khan hiếm. Năm 2009, tổng sản lượng khai thác thủy sản của cả nước ước đạt 2.277 nghìn tấn, tăng 3,5% so với kế hoạch, tăng 6,8% so với năm 2008; trong đó sản lượng khai thác biển đạt 2.068 nghìn tấn, tăng 3,4% so với kế hoạch, tăng 6,8% so với cùng kỳ (sản lượng khai thác nội địa cả năm đạt 209 ngàn tấn). Nếu Việt Nam không có kế hoạch khai thác hợp lý thì ảnh hưởng đến sự phát triển không bền vững của ngành thủy sản Việt Nam. - Trong lúc cạnh tranh Việt Nam bị nhiều doanh nghiệp nước ngoài, các doanh nghiệp thủy sản của Mỹ tố cáo hàng Việt Nam không đạt tiêu chuẩn, do đó Việt Nam lại phải chứng minh hàng của mình là tốt để vượt qua các rào cản. Ông Tom Mazzetta - Chủ tịch Tập đoàn Mazzetta -nói: “Đạo luật Farm Bill đã được thông qua và khi chính thức có hiệu lực thì nhiều khả năng cá tra VN sẽ hết đường vào Mỹ bởi những rào cản kỹ thuật hết sức khắt khe, nhất là phải tuân thủ các điều kiện như phải nuôi ở ao nông, nước giếng khoan, khác hẳn môi trường nuôi trên sông Mê Kông hiện nay ở VN - Xu hướng của thị trường Mỹ là ngày càng đặt ra nhiều quy định về nhập khẩu thủy sản nhằm bảo hộ thị trường trong nước khiến sự cạnh tranh giữa thủy sản Việt Nam và các nhà sản xuất thủy sản Mỹ ngày càng cao hơn, gây nhiều trở ngại cho thương mại hàng thủy sản của Việt Nam vào Mỹ. Mỹ còn đặt ra các quy định về nuôi trồng thủy sản rất khắt khe, đạo luật nông trại của Mỹ (Farm Bill), đạo luật an toàn cho người tiêu dùng của Mỹ, các tiêu chuẩn mà EU đặt ra về hóa chất và an toàn hóa chất, nguồn gốc đánh bắt hải sản, yếu tố bảo vệ môi trường, bảo vệ thiên nhiên... do đó thủy sản Việt Nam càng khó xuất khẩu vào Mỹ hơn. - Trong môi trường hội nhập có rất nhiều các doanh nghiệp Việt Nam và nước ngoài đều muốn xuất khẩu thủy sản vào Mỹ, do vậy môi trường cạnh tranh gay gắt hơn. Trong khi đó các doanh nghiệp Việt Nam còn yếu kém hơn các doanh nghiệp nước ngoài về kinh nghiệm, về nguồn đầu tư, về công nghệ… do đó cạnh tranh sẽ làm cho các doanh nghiệp Việt Nam hoạt động khó khăn hơn. Do có nhiều doanh nghiệp khả năng cạnh tranh thấp nên để thu lợi nhuận đã có những hành động gian lận thương mại và bán phá giá…Có nhiều doanh nghiệp xuất khẩu hàng bẩn, hàng kém chất lượng đã làm giảm uy tín của Việt Nam. Từ đó xuất hiện những vụ kiện bán phá giá từ Mỹ… - Các mặt hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Mỹ phải cạnh tranh rất lớn đối với các nước khác cũng như đối với nước Mỹ do thủy sản Việt Nam vẫn còn sản xuất trong điều kiện lạc hậu hơn các nước về trình độ, công nghệ, các nhà máy chế biến thủy sản của ta còn nhỏ bé, manh mún, yếu kém về năng lực sản xuất. Vì thế, chúng ta sẽ rơi vào thế yếu khi phải sản xuất hàng hóa với khối lượng lớn và đòi hỏi chất lượng cao. Trong một sân chơi bình đẳng, thủy sản nước ngoài cũng sẽ ồ ạt đầu tư vào Việt Nam, do đó chúng ta phải nâng cao năng lực cạnh tranh để không chỉ vào được thị trường Mỹ, mà còn phải cạnh tranh với họ ngay tại thị trường Việt Nam, đặc biệt đối với thị trường thủy sản cao cấp. CHƯƠNG IV CÁC KẾT LUẬN VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI HÀNG THỦY SẢN VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG MỸ THỜI GIAN TỚI 4.1. Các kết luận và phát hiện qua đánh giá tác động của việc gia nhập WTO với thương mại hàng thủy sản Việt Nam sang thị trường Mỹ Qua việc tìm hiểu, đánh giá hoạt động của ngành thủy sản Việt Nam từ sau khi Việt Nam gia nhập WTO chúng ta đã có thể thấy rõ được những thành công và tồn tại và cũng qua đó chúng ta có thể khái quát lại như sau: - Nhu cầu về thủy sản của người dân Mỹ là rất lớn, đa dạng về chủng loại tuy nhiên cũng đòi hỏi nhiều về chất lượng. Do đó Mỹ được coi là điểm sáng trong xuất khẩu thủy sản của Việt Nam, là thị trường tiềm năng của Việt Nam. Việt Nam muốn xuất khẩu thủy sản vào Mỹ đạt kết quả cao phải nỗ lực hết mình từ khâu nuôi trồng, chế biến, bảo quản, lưu thông…nhằm nâng cao chất lượng thủy sản nhập khẩu. - Thủy sản Việt Nam ngày càng được Mỹ đánh giá cao hơn do đó: số lượng thủy sản Mỹ nhập khẩu từ Việt Nam tăng lên đáng kể, số lượng các doanh nghiệp được Mỹ chứng nhận đủ tiêu chuẩn cũng ngày càng nhiều… - Về thủy sản, người dân Mỹ ưa chuộng những mặt hàng như: tôm đông lạnh, cá ngừ tươi, cá biển đông lạnh, cá basa phile, cua biển… mà những mặt hàng này Việt Nam có khả năng đáp ứng được. Do đó Việt Nam nên tập trung nâng cao chất lượng và số lượng những mặt hàng này để nhập khẩu vào Mỹ. - Các quy định về nhập khẩu thủy sản của Mỹ rất khắt khe, gây không ít khó khăn cho các doanh nghiệp Việt Nam. Các doanh nghiệp Việt Nam muốn nhập khẩu thủy sản được vào thị trường Mỹ thì phải đảm bảo đáp ứng các điều kiện mà Mỹ đã đặt ra. - Tuy gia nhập WTO thì các doanh nghiệp Việt Nam ban đầu còn gặp nhiều khó khăn, nhưng đây cũng chính là cơ hội giúp các doanh nghiệp Việt Nam nhìn lại mình và tìm ra được những giải pháp giúp đứng vững hơn trên thị trường Mỹ cũng như thị trường thế giới. ` - Hiện nay, các vụ kiện từ Mỹ về bán phá giá như bán phá giá cá tra, cá basa… vẫn còn xảy ra. Nguyên nhân chủ yếu là do các doanh nghiệp Việt Nam sản xuất chủ yếu với quy mô nhỏ, lẻ, chưa đáp ứng được yêu cầu về chất lượng nên còn hiện tượng xuất khẩu hàng bẩn, hàng kém chất lượng với giá rẻ hơn mức giá chung. - Các doanh nghiệp Việt Nam chịu áp lực từ các hành vi bảo hộ thương mại, các hàng rào kỹ thuật, kiểm dịch chặt chẽ và thường xuyên ban hành các tiêu chuẩn mới hơn về dư lượng kháng sinh và an toàn vệ sinh thực phẩm của các nước nhập khẩu. - Nhiều doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản hiện nay đang thiếu nguyên liệu trong nước để sản xuất trong khi thuế nhập khẩu ở mức cao 10% - 20%, hầu hết các nhà máy chế biến thủy sản chỉ hoạt động được khoảng 70% công suất do thiếu nguyên liệu chế biến. 4.2. Các dự báo triển vọng thương mại hàng thủy sản Việt Nam sang thị trường Mỹ thời gian tới. 4.2.1 Những dự báo. - Về thuận lợi: Bước sang năm 2010, đã có nhiều tín hiệu mới cho thấy, xuất khẩu thuỷ sản sẽ có kết quả khả quan hơn nhiều so với năm 2009. Kinh tế Mỹ, đang trên đà phục hồi là cơ hội tốt cho mặt hàng này. Xuất khẩu thuỷ sản vào Mỹ sẽ tăng mạnh nếu các doanh nghiệp chú ý đầu tư xây dựng hệ thống kho bãi hiện đại; xây dựng thương hiệu; đẩy mạnh tiếp thị, tập trung sản xuất những mặt hàng có chất lượng cao…Một thuận lợi khác là thuỷ sản Việt Nam vừa qua đã được một số nước công nhận, đánh giá cao về chất lượng, trong đó có Mỹ. - Về Khó khăn: Năm tới, xu hướng bảo hộ thương mại, các hàng rào kỹ thuật, kiểm dịch chặt chẽ và các tiêu chuẩn mới khắt khe về dư lượng kháng sinh và an toàn vệ sinh thực phẩm tại thị trường Mỹ sẽ tiếp tục là những trở ngại cho các doanh nghiệp Việt Nam. Vì vậy, các doanh nghiệp thủy sản Việt Nam cần phải chú trọng hơn nữa trong khâu đảm bảo an toàn, đảm bảo chất lượng mặt hàng thủy sản. Một vấn đề nữa là năm 2010, các doanh nghiệp tiếp tục đau đầu với bài toán nguyên liệu, khi mà đầu vào cho sản xuất nguyên liệu như vốn, thức ăn thủy sản và chi phí xăng dầu đang còn khó khăn, trong khi thuế nhập khẩu nguyên liệu một số mặt hàng vẫn chưa đưa về mức 0%. 4.2.2. Mục tiêu phát triển thương mại hàng thủy sản Việt Nam trong những năm tới. 4.2.2.1. Mục tiêu tổng quát Trên cơ sở công nghiệp hoá, hiện đại hoá ngành thuỷ sản, nâng cao khả năng cạnh tranh, đưa xuất khẩu thủy sản tiếp tục tăng trưởng một cách hiệu quả, bền vững, có vị thế cao trên thị trường quốc tế. Tiếp tục chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo hướng đẩy mạnh xuất khẩu những mặt hàng có giá trị gia tăng cao, giảm dần tỷ trọng hàng xuất khẩu thô. Xuất khẩu thuỷ sản vừa là mục tiêu, vừa là động lực để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa các ngành trong khối nông nghiệp, thúc đẩy nuôi trồng thuỷ sản và khai thác hải sản phát triển có hiệu quả, góp phần nâng cao đời sống và làm giàu cho nhân dân vùng nông thôn ven biển và hải đảo. 4.2.2.2. Mục tiêu xuất khẩu thủy sản sang Mỹ trong những năm tới Hiện tại thì Việt Nam là một trong những nước có kim ngạch xuất khẩu thủy sản vào Mỹ lớn, và Mỹ cũng là một trong những thị trường xuất khẩu thủy sản chính của Việt Nam. Trong những năm tới, Việt Nam coi việc trở thành thị trường nhập khẩu lớn nhất của Mỹ về một số mặt hàng thủy sản như tôm, cá là mục tiêu của các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản Việt Nam. Xuất khẩu tôm của Việt Nam vào Mỹ sẽ vượt lên Nhật Bản và chiếm vị trí cao nhất trong các nước có kim ngạch xuất khẩu vào Mỹ lớn nhất. Mục tiêu tiếp theo của các doanh nghiệp Việt Nam là nâng cao chất lượng các mặt hàng thủy sản nhập khẩu sang Mỹ, đáp ứng tốt các yêu cầu, quy định của Mỹ về thủy sản nhập khẩu; … 4.2.2. Định hướng phát triển thương mại hàng thủy sản giai đoạn 2010 – 2012. Trong kế hoạch hành động quốc gia cho ngành thủy sản Việt Nam giai đoạn 2010-2012, một số giải pháp đã được đề ra: - Thứ nhất là phải quy hoạch phát triển các vùng sản xuất tập trung. - Thứ hai là đối với các cơ sở hoạt động, nuôi trồng, khai thác, bảo quản và chế biến thủy sản phải được đăng ký kinh doanh. Việc đăng ký kinh doanh này sẽ giúp các cơ quan chức năng có thể quản lý cũng như đảm bảo lợi ích của doanh nghiệp khi kinh doanh trên thị trường quốc tế. - Thứ ba là phải xây dựng được một quy chuẩn cho các cơ sở sản xuất thủy sản để đảm bảo chất lượng sản phẩm được xuất khẩu ra thị trường quốc tế. - Thứ tư là phải xây dựng được các tổ chức cộng đồng quản lý vùng sản xuất nguyên liệu tập trung. - Thứ năm là lấy nhà máy làm trung tâm, xây dựng một hệ thống liên kết dọc giữa các cơ quan chức năng, ngư dân, người nuôi, doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu… nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh trên trường quốc tế. - Thứ sáu là phải xây dựng được một liên kết ngang, thành lập tập đoàn thủy sản để tạo sự liên kết và đảm bảo quyền lợi cho các doanh nghiệp trong tập đoàn khi kinh doanh trên thị trường thế giới. Đặc biệt, vấn đề nguồn nhân lực cũng cần được quan tâm đào tạo và sử dụng hợp lý. 4.2.3. Định hướng phát triển thương mại hàng thủy sản đến năm 2020 Chiến lược phát triển ngành Thủy sản Việt Nam đến năm 2020 bao gồm các nội dung cụ thể sau: Năm 2010, sản lượng tăng bình quân 2,15%, giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 4,8 - 5,0 tỷ USD; Năm 2015, sản lượng tăng 2,76%/năm, kim ngạch xuất khẩu đạt 6,0 tỷ USD; Đến năm 2020, kim ngạch xuất khẩu đạt 7,0 tỷ USD.  Mục tiêu của ngành thuỷ sản là phấn đấu XK 900 nghìn tấn thành phẩm, tương đương 4 đến 4,5 tỷ USD. Đẩy mạnh xuất khẩu vào các thị trường lớn, đặc biệt chú trọng vào thị trường Trung Quốc. Phấn đấu 100% DN đáp ứng tiêu chuẩn ngành về an toàn, chất lượng; Nâng tỷ trọng sản phẩm giá trị gia tăng lên 65-70% tổng sản lượng thủy sản xuất khẩu. Quán triệt đường lối phát triển kinh tế xã hội của Đảng, trên tinh thần tiếp tục và đẩy nhanh công cuộc đổi mới của đất nước, để góp phần thực hiện được các mục tiêu kinh tế xã hội đề ra trong năm 2010, đảm bảo yêu cầu gắn kết giữa phát triển sản xuất đa dạng với bảo vệ chủ quyền vùng biển và an ninh quốc phòng, quan điểm phát triển Ngành Thuỷ sản đến năm 2020 được xác định là : - Tiếp tục phát huy và phát huy hơn nữa tiềm năng và các nguồn lực để xây dựng thủy sản thành ngành kinh tế mũi nhọn theo tinh thần Nghị quyết Đại hội IX Đảng Cộng sản Việt Nam. - Tiến hành công nghiệp hoá và hiện đại hoá dựa trên nền tảng công nghệ tiên tiến gắn với chuyển dịch cơ cấu đưa Ngành Thuỷ sản nhanh chóng trở thành một ngành sản xuất hàng hoá thống nhất, có tính cạnh tranh cao, có tỷ trọng xứng đáng trong cơ cấu GDP các ngành nông-lâm-ngư nghiệp và trong nền kinh tế quốc dân. - Coi trọng mở mang thị trường sản phẩm, cả xuất khẩu và nội địa; xuất khẩu được coi là mũi nhọn trong nhiều năm tới để xác định cơ cấu sản phẩm phù hợp. Cơ cấu này cùng với các yêu cầu an ninh thực phẩm phải tạo ra sự thống nhất trong mọi khâu và mọi lĩnh vực sản xuất kinh doanh của ngành, không tác động có hại đến các ngành kinh tế liên quan và phù hợp với các yêu cầu bảo vệ môi trường sinh thái, giữ gìn và phát triển nguồn lợi thuỷ sản tự nhiên. - Phát huy rộng rãi sự tham gia của các thành phần kinh tế để phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần đáng kể trong công cuộc xoá đói giảm nghèo, nâng cao cuộc sống tinh thần, vật chất và dân trí của dân cư ven biển, hải đảo. Phát triển kinh tế gắn với bảo đảm an ninh quốc phòng. - Chủ động hội nhập Quốc tế và khu vực Đông Nam Á; xây dựng năng lực quản lý ngành đáp ứng các yêu cầu của thị trường xuất khẩu và tiếp cận nghề cá có trách nhiệm. Tranh thủ các kinh nghiệm quản lý và công nghệ tiên tiến trong nghề cá thế giới trên cơ sở thu hút và thực hiện hiệu quả các chương trình, dự án hợp tác quốc tế. Theo những quan điểm đó, định hướng phát triển thuỷ sản từ nay đến năm 2020 sẽ là: - Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đi đôi với chuyển dịch cơ cấu để đảm bảo phát triển bền vững, hiệu quả. Ưu tiên xây dựng và hoàn thiện hạ tầng cơ sở nghề cá, coi trọng phát triển nguồn nhân lực để qua từng kế hoạch 5 năm đạt được các tiến bộ vững chắc, nhằm cơ bản công nghiệp hoá ngành theo hướng hiện đại vào năm 2020. - Tăng cường quản lý để nghề khai thác thuỷ sản có sự tăng trưởng hợp lý gắn với bảo vệ và phát triển nguồn lợi. Đẩy mạnh nuôi trồng thuỷ sản, khai thác mạnh các tiềm năng nuôi biển và các khu vực nước ngọt. Khai thác hợp lý tuyến nước lợ, kết hợp nuôi thâm canh hợp lý với phát triển nuôi sinh thái các đối tượng xuất khẩu. Giảm thất thoát sau thu hoạch gắn liền với áp dụng hệ thống thống nhất bảo đảm an toàn vệ sinh từ khai thác, nuôi trồng, chế biến và tiêu thụ sản phẩm. - Gắn xây dựng thuỷ sản thành ngành sản xuất hàng hoá tập trung, thống nhất với quản lý và phát triển theo vùng, phù hợp với cơ cấu kinh tế được quy hoạch cho các vùng, miền. - Lựa chọn, phát triển và áp dụng các công nghệ sản xuất tiên tiến, bảo đảm sức cạnh trạnh cao, đáp ứng các yêu cầu bền vững, các đòi hỏi của hội nhập nhưng cũng đồng thời phù hợp với khả năng đầu tư và đặc thù của nghề cá nhân dân. - Thông qua triển khai các chính sách đổi mới, đặc biệt là các chính sách về thị trường, về các thành phần kinh tế và về đất đai, mặt nước để phát huy cao nhất tiềm năng và các nguồn lực cho phát triển ngành. Sử dụng hiệu quả các nguồn vốn tài trợ, các dự án quốc tế. - Xây dựng cơ cấu thị trường và cơ cấu sản phẩm ổn định, vừa có tính cạnh tranh cao, vừa chủ động đối phó với các rào cản thương mại trong quá trình hội nhập. Nâng dần tiêu thụ trong nước gắn với phát triển thị trường thuỷ sản nội địa. Phát triển mạnh mẽ và đổi mới dịch vụ hậu cần nghề cá. - Bảo đảm an toàn cho ngư dân đi biển. Giảm thiểu rủi ro về người và tài sản do thiên tai, dịch bệnh hoặc do sự bất thường trong mua bán sản phẩm mà thị trường bên ngoài chi phối. 4.2.4. Nhiệm vụ để thúc đẩy phát triển thương mại hàng thủy sản Việt Nam sang thị trường Mỹ trong thời gian tới. Với mục tiêu phấn đấu mà ngành thủy sản đặt ra trong thời gian tới là: Phấn đấu năm 2010, tổng sản lượng khai thác thủy sản đạt 5,0 triệu tấn, năm 2015 là 5,7 triệu tấn; năm 2020 là 6,5 triệu tấn. Sản lượng tăng bình quân 2,15%, giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 4,8 - 5,0 tỷ USD; năm 2015, sản lượng tăng 2,76%/ năm, kim ngạch xuất khẩu đạt 6,0 tỷ USD; đến năm 2020, kim ngạch xuất khẩu đạt 7,0 tỷ USD với khối lượng thành phần xuất khẩu đạt 1,8 tỷ tấn/4,7 tấn nguyên liệu thủy sản, chiếm 74,6%. Phấn đấu đến năm 2010 đạt trên 900.000 tấn sản phẩm thuỷ sản xuất khẩu, trong đó có các sản phẩm chính là: 225.000 tấn sản phẩm từ tôm, 230.000 tấn sản phẩm từ cá tra, ba sa, 75.000 tấn sản phẩm từ mực, bạch tuộc, 160.000 tấn sản phẩm từ cá biển, 40.000 tấn sản phẩm từ nhuyễn thể 2 vỏ… Để đạt được mục tiêu đã đề ra thì nhiệm vụ đặt ra cho các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản, các cơ sở nuôi trồng thủy sản và cho chính phủ như sau: - Về khai thác thủy sản: Phải có quy hoạch khai thác thủy sản hợp lý, tuơng xứng với tài nguyên thủy sản hiện có nhằm bảo đảm cho phát triển thủy sản bền vững. - Về nuôi trồng thủy sản: diện tích đưa vào nuôi trồng thủy sản từ 1,1 đến 1,4 triệu ha; sản lượng nuôi trồng thủy sản phải đạt khoảng 2triệu tấn năm 2010. - Về chế biến và xuất khẩu thủy sản: nâng cấp đồng bộ về cơ sở hạ tầng, trang thiết bị các cơ sở chế biến thủy sản; các cơ sở chế biến thủy sản phải đạt tiêu chuẩn ngành và điều kiện an toàn về sinh và thú y thủy sản; đa dạng hóa các mặt hàng thủy sản chế biến, nâng tỷ trọng xuất khẩu các mặt hàng có giá trị tăng và tươi sống. Trong những năm tới ngành thủy sản Việt Nam đề ra mục tiêu là thâm nhập sâu hơn vào thị trường Mỹ, phấn đấu trở thành nước có kim ngạch xuất khẩu thủy sản vào Mỹ lớn nhất. Để đạt được mục tiêu trên thì ngành thủy sản cũng như các doanh nghiệp thủy sản và chính phủ Việt Nam phải dành nhiều sự quan tâm tới thị trường Mỹ và có đề ra những nhiệm vụ cụ thể nhằm từng bước hiện thực hóa mục tiêu đã đề ra: - Về nuôi trồng thủy sản: nghiên cứu sự biến động về nhu cầu các mặt hàng thủy sản của người dân Mỹ, từ đó tập trung nuôi trồng các mặt hàng thủy sản đó; Ngày càng áp dụng nhiều khoa học kỹ thuật, công nghệ trong nuôi trồng thủy sản nhằm nâng cao chất lượng và số lượng các mặt hàng thủy sản. - Về khai thác thủy sản: cần phải nắm rõ được trữ lượng các mặt hàng thủy sản tự nhiên và nuôi trồng của Việt Nam được dùng để nhập khẩu sang Mỹ, từ đó đề ra những giải pháp khai thác các mặt hàng thủy sản đó một cách hợp lý và bền vững, không khai thác ồ ạt gây nên tình trạng khan hiếm hàng trong tương lai. - Về chế biến thủy sản: Nắm rõ các yêu cầu về chất lượng thủy sản của Mỹ, đặt ra các chỉ tiêu về vệ sinh, về chất lượng phù hợp với các yêu cầu của người dân Mỹ. - Về xuất khẩu: tập trung xuất khẩu những mặt hàng được Mỹ ưa chuộng, không ngừng nâng cao chất lượng các mặt hàng, tận dụng, phát triển những lợi thế trong nước về thủy sản nhằm tạo lợi thế vượt trội so với các đối thủ cạnh tranh cùng xuất khẩu thủy sản vào thị trường Mỹ nhằm thu hút sự chú ý của Mỹ vào thủy sản Việt Nam. 4.3. Một số giải pháp phát triển thương mại hàng thủy sản Việt Nam sang thị trường Mỹ Qua những kết luận và những vấn đề đã phát hiện được thông qua quá trình đánh giá thương mại thủy sản Việt Nam sang thị trường Mỹ từ sau khi Việt Nam gia nhập WTO, để khắc phục được những khó khăn và yếu kém trong thương mại hàng thủy sản sang Mỹ 4.3.1. Giải pháp về phía chính phủ. - Nhà nước có chính sách khuyến khích và huy động các thành phần kinh tế trong nước và nhà đầu tư nước ngoài, nhằm tập trung vốn đầu tư xây dựng hình thành các trung tâm nghề cá lớn, trong đó có các trung tâm chế biến thuỷ sản ở các tỉnh trọng điểm; tập trung chế biến, nâng cao chất lượng các mặt hàng thủy sản mà người dân Mỹ ưa chuộng. - Ngân sách nhà nước hàng năm hỗ trợ kinh phí để thực hiện: các công việc liên quan đến kiểm soát an toàn vệ sinh thuỷ sản vì mục tiêu sức khoẻ của ngườì tiêu dùng; các hoạt động xúc tiến thương mại chung cho sản phẩm thuỷ sản Việt Nam như xây dựng thương hiệu thủy sản, dăng ký bảo hộ, quảng bá thương hiệu cho các sản phẩm thủy sản trên thị trường Mỹ. Hỗ trợ hình thành và hoạt động của các tổ chức xúc tiến đầu mối trên thị trường Mỹ. - Mặc dù nhà nước sẽ phải bãi bỏ các trợ cấp xuất khẩu, nhưng Nhà nước có thể tập trung vào xây dựng các cơ sở hạ tầng trong nước phục vụ xuất khẩu thủy sản sang Mỹ được nhanh hơn, khối lượng lớn hơn và với chi phí rẻ hơn. - Việt Nam cần nhanh chóng xây dựng mới hoặc nâng cấp các cảng biển, sân bay; xây dựng các trung tâm giao dịch hàng hoá, các trung tâm hội chợ, triển lãm lớn để thu hút thương nhân nước ngoài vào Việt Nam tìm nguồn hàng xuất khẩu; đầu tư cho các chương trình đào tạo để tăng cường nhân lực; bổ sung các chính sách của Nhà nước liên quan đến xuất khẩu, cải tiến các khâu hành chính, thủ tục hải quan để tháo gỡ cho sản xuất và xuất khẩu... - Đồng thời, Nhà nước cũng cần tăng cường mạng lưới xúc tiến thương mại tại Mỹ tương xứng với tầm vóc của thị trường này.  - Vận dụng linh hoạt chính sách tài chính tín dụng, khuyến khích xuất khẩu hàng thuỷ sản sang Mỹ: + Miễn giảm các loại thuế đối với sản xuất và xuất khẩu hàng thuỷ sản. + Nhà Nước cần có chính sách về tín dụng xuất khẩu và thành lập quỹ hỗ trợ sản xuất - xuất khẩu hàng thuỷ sản vào Mỹ. 4.3.2. Giải pháp đối với ngành thủy sản. - Nâng cao tốc độ phát triển của ngành thuỷ sản hiện nay trên cơ sở tăng cường các yếu tố đảm bảo phát triển bền vững như: tái tạo nguồn lợi, an toàn cho ngư dân, từng bước điều chỉnh cơ cấu nghề cá, giảm khai thác ven bờ, phát triển đánh bắt xa bờ. - Các cơ quan quản lý và các doanh nghiệp đẩy mạnh công tác kiểm tra, kiểm soát an toàn vệ sinh chất lượng hàng thuỷ sản từ khâu nuôi trồng – nguyên liệu tới thành phẩm để giữ uy tín cho hàng thuỷ sản của Việt Nam cũng như đáp ứng được yêu cầu của thị trường Mỹ; nghiên cứu và lai tạo các giống mới có chất lượng cao để nâng cao năng lực cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài cùng xuất khẩu vào Mỹ. - Tự chủ sản xuất và cung cấp thức ăn nuôi trồng thuỷ sản có chất lượng cao, giá thành hạ, tập trung nuôi trồng và chế biến các mặt hàng có tỷ trọng nhập khẩu vào Mỹ lớn. Nâng cao công tác kiểm tra chất lượng đạt yêu cầu, quy định nhập khẩu thủy sản của Mỹ đi đôi với việc giảm thủ tục hành chính đối với nguyên liệu nhập khẩu. - Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến hàng thuỷ sản trên thị trường Mỹ. Qua thực trạng hoạt động xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang thị trường Mỹ có thể thấy hoạt động xúc tiến thuỷ sản hoàn toàn tự phát, chưa có tổ chức thường xuyên và chặt chẽ. Do đó, Việt Nam cần có một cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong việc xúc tiến thương mại để quản lý, chỉ đạo và hướng dẫn thực hiện xúc tiến xuất khẩu thuỷ sản sang thị trường Mỹ. Cơ quan này có thể cung cấp các dịch vụ Marketing cho các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam rồi thu lệ phí. Tiếp đó, tiến hành nghiên cứu thị trường thuỷ sản Mỹ và thế giới, đề xuất viêc tham gia các hội chợ, tổ chức các chiến dịch quảng cáo hàng thuỷ sản Việt Nam tại Mỹ hay trợ giúp và đào tạo kĩ thuật cho cán bộ thị trường của các doanh nghiệp sản xuất và chế biến hàng thuỷ sản xuất khẩu. - Thực hiện các biện pháp bảo hộ, chống bán phá giá Để bảo vệ quyền lợi cho các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam nhằm đối phó với những vụ kiện bán phá giá cá tra, cá basa và mới đây là vụ kiện bán phá giá tôm... đang có xu hướng ngày càng tăng lên trên thị trường Mỹ thì Chính phủ cần nghiên cứu thực hiện các biện pháp bảo hộ, chống bán phá giá như: + Tích cực triển khai việc đàm phán song phương, đa phương để tranh thủ nhiều nước thừa nhận Việt Nam là nước có nền kinh tế thị trường . áp dụng nhiều biện pháp để hỗ trợ và trợ giúp các doanh nghiệp khi bị kiện bán phá giá như thành lập các quỹ trợ giúp theo đổi các vụ kiện, tăng cường cung cấp thông tin cho doanh nghiệp, chuẩn bị cho họ những hành trang kiến thức cần thiết... + Phát huy vai trò của các hiệp hội chuyên ngành hoặc của các tổ chức nhóm sản phẩm thuỷ sản, tăng cường sự phối hợp với các doanh nghiệp để làm mạnh thêm năng lực kháng kiện của các doanh nghiệp. Cụ thể như trong vụ kiện bán phá giá cá tra, cá basa Việt Nam vào thị trường Mỹ,hiệp hội chế biến và xuất khẩu thuỷ sản VASEP đã tập hợp được 14 doanh nghiệp chế biến xuất khẩu cá tra, cá basa cùng nhau chia sẻ chi phí , kiên quuyết theo đuổi vụ kiện đến cùng. - Sử dụng quy tắc của WTO để đối phó với nước ngoài thực hiện biện pháp chống bán phá giá. - Phát triển nguồn nhân lực cho ngành thuỷ sản. 4.3.3. Giải pháp đối với doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản. - Các doanh nghiệp cần nhanh chóng trưởng thành, mở rộng quy mô, tăng năng lực sản xuất và khả năng cạnh tranh, đầu tư nhiều cho nghiên cứu khoa học, kỹ thuật để tạo ra sản phẩm tốt hơn, giá thành rẻ hơn. - Doanh nghiệp phải vươn ra xây dựng mạng lưới đại lý phân phối tại Mỹ, thay vì thụ động ngồi trong nước tìm nhà nhập khẩu qua mạng Internet. Để làm được điều này, công tác cán bộ và nhân sự sẽ là yếu tố rất quan trọng. - Xây dựng chiến lược kinh doanh, tiếp thị và xúc tiến xuất khẩu của doanh nghiệp Để hoạt động xuất khẩu thuỷ sản sang thị trường Mỹ đạt hiệu quả kinh tế cao thì mỗi doanh nghiệp phải xây dựng cho mình một chiến lược kinh doanh hợp lý, trong đó có tiếp cận các phương thức kinh doanh mới, đẩy mạnh hoạt động tiếp thị và xúc tiến thương mại thuỷ sản . Vai trò của tiếp thị là hết sức quan trọng, nhất là đối với một thị trường rộng lớn, đa dạng và luật lệ làm ăn nghiêm ngặt như Mỹ. Ngoài sự hỗ trợ của Nhà nước ở tầm vĩ mô, các doanh nghiệp thuỷ sản cần làm tốt công tác tiếp thị ở tầm vi mô như lập bộ phận nghiên cứu thị trường, tiếp thị qua hội chợ, triển lãm, tiếp thị qua mạng internet, gửi thư giới thiệu những mặt hàng mới ... Đặc biệt, cần nắm vững luật pháp, hiểu biết về lực lượng kinh tế, chính trị tác động đến thị trường này. Mỗi doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp lớn cần xây dựng bộ phận đại diện thương mại của mình ở thị trường Mỹ, tiếp cận các siêu thị và các hãng kinh doanh siêu thị để giới thiệu sản phẩm thuỷ sản Việt Nam. Từng bước xây dựng và củng cố thương hiệu sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường quốc tế. - Không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm thuỷ sản xuất khẩu vào thị trường Mỹ. Để giữ vững thị phần và vị trí trên thị trường Mỹ thì các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản cần phải quan tâm đến vấn đề chất lượng sản phẩm. Trên thị trường Mỹ, các đối thủ cạnh tranh của Việt Nam rất mạnh. Do vậy, sản phẩm thuỷ sản của Việt Nam muốn cạnh tranh được, ngoài việc giảm giá thành, công tác tiếp thị tốt ... thì việc nâng cao chất lượng sản phẩm là hết sức cần thiết. Đây là yếu tố quan trọng có thể đáp ứng được các tiêu chuẩn chất lượng và vệ sinh ngày càng khắt khe của thị trường Mỹ. Tiếp đó, doanh nghiệp cần kiểm soát chặt chẽ dư lượng kháng sinh có trong sản phẩm thuỷ sản để tránh tình trạng hàng bị huỷ khi sang tới Mỹ. - Đa dạng hoá sản phẩm thuỷ sản xuất khẩu vào Mỹ Sản phẩm thuỷ sản xuất khẩu vào thị trường Mỹ của nước ta còn chưa đa dạng, chủ yếu mới qua sơ chế và giá trị gia tăng thấp. Do vậy, các doanh nghiệp bên cạnh việc nâng cao chất lượng sản phẩm thuỷ sản xuất khẩu cần đa dạng hoá sản phẩm xuất khẩu theo hướng chế biến sâu và tăng tỷ trọng các mặt hàng thuỷ sản phi thực phẩm, phải tìm hiểu thị trường Mỹ để nắm bắt được nhu cầu từng loại sản phẩm, đồng thời cần hợp tác với các nhà đầu tư Mỹ và các nhà đầu tư nước ngoài khác để sản xuất ra những sản phẩm phù hợp với nhu cầu của thị trường Mỹ như thành công chúng ta đã làm được với các nhà đầu tư Nhật trong những năm qua. - Xây dựng và phát triển thương hiệu. Để có thể đứng vững và khẳng định mình trên thị trường Mỹ cũng như để người tiêu dùng Mỹ biết đến sản phẩm thuỷ sản của Việt Nam thì mỗi doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản cần phải xây dựng cho mình một thương hiệu, việc xây dựng thương hiệu tốt và chất lượng ổn định sẽ cải thiện khả năng tiếp thị và tác dụng của quảng cáo, bán được giá ngày càng cao hơn, thí dụ: sau vụ tranh chấp thương mại giữa Việt Nam và Mỹ về thương hiệu cá tra và cá basa thì sản phẩm này đã được rất nhiều người tiêu dùng Mỹ biết đến và bán được nhiều hơn do chất lượng thơm ngon không thua cá do Mỹ nuôi mà giá cả rẻ hơn. Vậy, để phát huy sức mạnh của thương hiệu, các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam cần phải có nhận thức đúng và đủ về thương hiệu, có chiến lược thương hiệu nằm trong chiến lược marketing tổng thể, cần đăng ký bảo hộ nhãn hiệu sản phẩm. Không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm và phát triển mạng lưới bán hàng. - Sử dụng thương mại điện tử trong giao dịch, buôn bán và tiếp cận thị trường Mỹ. Trong thời đại khoa học công nghệ thông tin phát triển mạnh như vũ bão thì việc ứng dụng thương mại điện tử trong giao dịch, buôn bán là hết sức cần thiết và tiện lợi, giúp cho doanh nghiệp giảm thiểu các chi phí phát sinh trong quá trình giao dịch, đàm phán, ký kết hợp đồng. - Bồi dưỡng, nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ quản lý và kinh doanh xuất khẩu thuỷ sản . Mỗi doanh nghiệp cần tăng cường đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ kinh doanh xuất khẩu có đủ năng lực để nắm bắt một cách rõ ràng, chính xác và kịp thời nhu cầu thị trường quốc tế, thị trường Mỹ. Để có đội ngũ cán bộ kinh doanh xuất nhập khẩu giỏi thì trước tiên họ phải được đào tạo một cách có hệ thống, bộ máy điều hành và các nhân viên hỗ trợ phải nắm được các kiến thức cơ bản của kinh doanh thương mại quốc tế. Ngoài ra, mỗi doanh nghiệp cần phải có kế hoạch thường xuyên chăm lo, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ của đội ngũ chuyên viên đủ sức đối phó với các vụ kiện, sớm nắm bắt dược các thông tin để tư vấn cho doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp có thể điều chỉnh kịp thời trước những biến động của thị trường. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO Đề tài: “Những khuyến nghị về phương hướng xuất khẩu thủy sản trong thời gia tới và giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản - do Ths. Nguyễn Thị Nhiễu thực hiện.” Luận văn tốt nghiệp: “Đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản sang Mỹ - do Trịnh Ngọc Hà lớp K43F3 khoa Kinh tế, trường ĐH Thương Mại”. Hội thảo tác động hội nhập đối với nền kinh tế sau hai năm gia nhập WTO Tác động một năm rưỡi sau khi Việt Nam gia nhập WTO. Đề tài: “Vấn đề xuất khẩu thủy sản của Việt Nam vào Mỹ và giải pháp”. Đề tài: ‘Xuất khẩu thủy sản Việt Nam vào Mỹ trong thời gian qua” Các trang Web: Trang Web của bộ công thương: www.moit.gov.vn Trang Web của bộ thủy sản Hoa Kỳ Trang Web chongbanphagia.vn Trang Web bộ thủy sản Việt Nam: fistenet.gov.vn Trang Web của hiêp hội thủy sản Việt Nam: vasep.com.vn

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docTác động của gia nhập WTO đối với thương mại mặt hàng thủy sản Việt Nam sang thị trường Mỹ.doc
Luận văn liên quan