Thiết kế Bến số 1 - Cảng tổng hợp Dung Quất

Cảng Dung Quất sẽ đóng một vai trò quan trọng đối với khu vực Trung Trung Bộ. Nó không những đáp ứng nhu cầu phát triển ngày càng cao cả về lượng hàng và quy mô đội tàu ra vào cảng mà cảng khác trong khu vực không thể đáp ứng đủ mà quan trọng hơn nó còn có tác dụng thu hút nhiều hơn lượng hàng ra vào cảng trong khu vực, qua đó thúc đẩy nền kinh tế khu vực phát triển mạnh mẽ hơn và thu hút các nhà đầu tư vào khu vực nhiều hơn. Sau khi thi công xong Đê chắn sóng, Cảng Dung Quất với lợi thế kín sóng gió có thể hình thành và phát triển thành một cảng nước sâu với năng lực thông qua lớn. Đây là công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật đóng vai trò hạt nhân cho sự hình thành và phát triển của khu kinh tế, là cầu nối chủ đạo để trao đổi hàng hóa giữa khu kinh tế với thị trường bên ngoài và ngược lại, thỏa mãn nhu cầu tiếp nhận các cỡ tàu lớn dẫn đến cạnh tranh được về giá thành cũng như chất lượng dịch vụ hoàn hảo.

doc34 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Lượt xem: 3396 | Lượt tải: 4download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Thiết kế Bến số 1 - Cảng tổng hợp Dung Quất, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
LỜI NÓI ĐẦU Với đường bờ biển trên 32000 km, chúng ta có rất nhiều cảng phân bố suốt chiều dài đất nước. Tuy nhiên, hệ thống cảng biển hiện tại chưa thể đáp ứng được nhu cầu hàng hóa ngày càng tăng và bắt kịp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Hiện nay, Việt Nam có khoảng 60 cảng biển thuộc các ngành, địa phương quản lý với sản lượng hàng thông qua 24 triệu tấn/ năm. Cơ sở kỹ thuật còn thiếu lạc hậu, chưa đồng bộ, thiếu các bến cho tàu 3 vạn tấn (hàng tổng hợp), bến cho tàu từ 3-5 vạn tấn (hàng rời, hàng container),… Quy mô cảng biển của nước ta thuộc loại vừa và nhỏ. Trong xu thế gia tăng trọng tải của đội tàu biển thế giới, nước ta thiếu trầm trọng các cảng nước sâu cho các loại tàu lớn đến cập cảng. Theo quy hoạch hệ thống cảng biển Việt Nam, cảng Dung Quất ngoài chức năng là cảng phục vụ nhà máy lọc dầu số 1 - còn là một cảng tổng hợp phục vụ khu công nghiệp và phát triển kinh tế trong khu vực. Hiện nay đê chắn sóng phía bắc, đê ngăn cát phía tây và cảng suất sản phẩm dầu đã và đang được triển khai xây dựng. Do vậy, việc đầu tư xây dựng một cảng tổng hợp tại khu vực này nhằm đáp ứng nhu cầu bốc xếp hàng hóa phục vụ khu công nghiệp và phát triển kinh tế khu vực hiện nay cũng như trong tương lai là cần thiết và kịp thời. Đồ án của em được giao là: "Thiết kế Bến số 1 - Cảng tổng hợp Dung Quất" dưới sự hướng dẫn của thầy giáo:………………………………….. Đồ án bao gồm các phần: - Chương 1: Tài liệu thiết kế - Chương 2: Thiết kế quy hoạch - Chương 3: Thiết kế kỹ thuật - Chương 4: Thiết kế thi công - Chương 5: Lập dự toán công trình Trong quá trình làm đồ án do trình độ và kinh nghiệm của em còn hạn chế nên không thể tránh khỏi sai sót em rất mong được sự góp ý của các thầy cô và các bạn. Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong bộ môn, gia đình, các anh chị, các bạn và đặc biệt là thầy giáo …………………………….. đã hướng dẫn và giúp đỡ tận tình em trong quá trình làm đồ án! Hà Nội, ngày … tháng … năm 2011 Sinh viên thực hiện CHƯƠNG I: TÀI LIỆU THIẾT KẾ 1.1. Các căn cứ thiết kế Luật xây dựng (số 16/2003/QH11 ngày 26 tháng 11 năm 2003). Nghị định số 16/2005/NĐ - CP ngày 07 tháng 2 năm 2005 của Chính phủ về quản lý đầu tư xây dựng công trình. Quyết định 207/TTg ngày 11/4/1996 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt quy hoạch chung KCN Dung Quất. Quyết định 2824/QĐ - UB ngày 9/7/1999 của UBND tỉnh Quảng Ngãi về việc phê duyệt quy hoạch chi tiết KCN phía Đông Dung Quất. Quyết định số 202/1999/QĐ - TTg ngày 12/10/1999 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam đến năm 2010. Quyết định 707/QĐ - TTg ngày 26/8/2002 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt quy hoạch chi tiết cảng biển Dung Quất. Quyết định số 1022/QĐ - TTg ngày 26/9/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt quy hoạch chi tiết nhóm cảng biển Trung Trung bộ (nhóm cảng biển số 3). Quyết định số 50/2005/QĐ - TTg ngày 11/3/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập và ban hành quy chế hoạt động khu kinh tế Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi. Quyết định số 72/2005/QĐ - TTg ngày 5/4/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của ban quản lý khu kinh tế Dung Quất. Căn cứ văn bản số 8823 BKH/TĐ & GSTĐ ngày 21/12/2005 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về việc quy hoạch tổng thể phát triển khu kinh tế Dung Quất đến 2015 và tầm nhìn đến 2020. Nghị định số 209/2004/NĐ - CP ngày 16/12/2004 của Thủ tướng Chính phủ về quản lý chất lượng xây dựng công trình. 1.2. Vị trí địa lý, đặc điểm kinh tế xã hội tỉnh Quảng Ngãi 1.2.1. Vị trí địa lý của tỉnh Quảng Ngãi - Quảng Ngãi là tỉnh cực nam của Trung Trung Bộ, phía Bắc tiếp giáp với Quảng Nam, phía Nam tiếp giáp với Bình Định, phía Tây Nam tiếp giáp với Kontum và tiếp giáp với biển Đông về phía Đông. Quảng Ngãi có quốc lộ 1A chạy qua tỉnh, cách Hà Nội 883 km về phía Nam, cách TP. Hồ Chí Minh 838 km về phía Bắc; Quốc lộ 24A nối Quảng Ngãi với Tây Nguyên, Lào và vùng Đông Bắc Thái Lan. Tỉnh Quảng Ngãi có tọa độ địa lý: - Từ 14032'40'' đến 15025' vĩ độ Bắc. - Từ 108006' đến 109004'35'' kinh độ Đông. Vị trí tỉnh Quảng Ngãi và vịnh Dung Quất xem bản vẽ. Sự hiện diện của dãy núi Trường Sơn làm Quảng Ngãi phân chia thành từng phần. Với một bên là núi, còn một bên là biển đã tạo cho Quảng Ngãi nhiều bãi tắm và phong cảnh đẹp. Diện tích lãnh thổ 5.135 km2 trong đó ba phần tư là núi và đồi trọc. Về mặt địa hình, tỉnh nghiêng theo hướng Đông và chia thành 4 vùng: đồng bằng, trung du, cao nguyên và hải đảo. Các sông của Quảng Ngãi ngắn và dốc đứng. Mực nước cao vào mùa mưa và cạn vào mùa khô. Kết quả là hàng năm một khối lượng lớn đất bồi phù sa bị xói và chảy ra biển trong mùa mưa. 1.2.2. Đặc điểm kinh tế xã hội tỉnh Quảng Ngãi 1.2.2.1. Dân số và lao động Theo kết quả tổng điều tra dân số năm 2004, dân số tỉnh Quảng Ngãi có 1271370 người, trong đó đồng bằng có 1064879 người, vùng núi có 186689 người và hải đảo 19802 người. Cũng theo kết quả điều tra này, nguồn lao động và phân phối nguồn lao động của tỉnh được thể hiện trong bảng sau: Bảng 1: Dân số và diện tích của các huyện trong tỉnh Quảng Ngãi STT Tên đơn vị hành chính Diện tích (km2) Dân số (người) 1 Thành phố Quảng Ngãi 37,12 120.440 2 Huyện Bình Sơn 463,86 178.651 3 Huyện Sơn Tịnh 343,57 193.478 4 Huyện Tư Nghĩa 227,3 179.070 5 Huyện Nghĩa Hành 233,97 98.728 6 Huyện Mộ Đức 212,23 143.094 7 Huyện Đức Phổ 381,86 151.418 8 Huyện Trà Bồng 418,75 28.987 9 Huyện Tây Trà 336,8 15.059 10 Huyện Sơn Hà 750.31 64.942 11 Huyện Sơn Tây 380,74 15.287 12 Huyện Minh Long 216,37 14.727 13 Huyện Ba Tơ 1122,35 47.687 14 Huyện Lý Sơn 9,97 19.802 Bảng 1.2: Nguồn lao động của tỉnh Nguồn lao động 1997 1998 1999 2000 2001 2002 Số người lao động trong độ tuổi lao động 593.288 607.573 685.334 644.407 661.339 675.478 Có khả năng lao động 581.234 595.696 616.225 632.632 649.656 644.013 Mất khả năng lao động 11.994 11.887 11.871 11.775 11.683 11.465 Ngoài độ tuổi thực tế có tham gia lao động 66.581 67.501 69.079 70.153 71.268 72.310 Trên độ tuổi lao động 41.197 41.791 42.794 43.485 44.203 44.915 Dưới độ tuổi lao động 25.384 25.710 26.285 26.668 27.065 27.395 Bảng 1.3: Phân phối nguồn lao động Phân phối nguồn lao động 1997 1998 1999 2000 2001 2002 Số người tham gia trong các ngành kinh tế 593.288 607.573 685.334 644.407 661.339 675.478 Số người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động 581.234 595.696 616.225 632.632 649.656 664.013 Số người trong độ tuổi lao động có khả năng nội trợ 11.994 11.887 11.871 11.775 11.683 11.465 Số người trong độ tuổi lao động không có khả năng làm việc 66.581 67.501 69.079 70.153 71.268 72.310 Số người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động không có việc làm 41.197 41.791 42.794 43.485 44.203 44.915 1.2.2.2. Sử dụng đất Tỉnh Quảng Ngãi có hình gần chữ nhật với chiều dài từ Bắc vào Nam dài khoảng 100 km, chiều rộng từ Đông sang Tây khoảng 40 km đến 60 km, có tổng diện tích tự nhiên là 5135.2 km2, diện tích đất trên, vào năm 2003 được sử dụng vào các mục đích sau: - Đất nông nghiệp: 103410 ha trong đó: + Đất trồng lúa: 41086 ha. + Đất trồng hoa màu và cây công nghiệp: 26227 ha. + Đất trồng cây lâu năm: 10382 ha. + Đất trồng cỏ và chăn nuôi: 9 ha. + Đất ó mặt nước dùng cho nông nghiệp: 835 ha. - Đất dùng cho lâm nghiệp: 159384 ha, trong đó: + Đất rừng tự nhiên: 103894 ha. + Đất rừng trồng: 55478 ha. - Đất chuyên dụng: 21784 ha, trong đó: + Đất xây dựng: 2366 ha. + Đất giao thông: 7209 ha. + Đất thủy lợi và mặt nước chuyên dùng: 5882 ha. - Đất dân cư: 7447 ha. - Đất chưa sử dụng: 221737 ha, trong đó: + Đất bằng: 9369 ha. + Đất đồi núi: 187138 ha. - Đất có mặt nước: 1930 ha. - Đất chưa sử dụng khác: 23030 ha. Thực trạng cơ cấu sử dụng đất cho thấy, việc sử dụng đất chủ yếu là vào nông, lâm nghiệp. Trong thời gian tới, với sự tác động của công nghiệp hóa sẽ có những thay đổi trong cơ cấu sử dụng đất. Vấn đề đặt trong quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội của tỉnh là làm thế nào để giữ được quỹ đất nông nghiệp có năng suất cao; giữ được đất rừng có vai trò phòng hộ và có hướng sử dụng diện tích đất trồng đồi núi trọc. 1.2.2.3. GDP của tỉnh Chiến tranh trong quá khứ đã để lại cho tỉnh Quảng Ngãi một nền kinh tế nghèo nàn, một cơ sở hạ tầng yếu kém và cơ sở vật chất lạc hậu. Tuy nhiên, vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên đã giúp Quảng Ngãi có nhiều tiềm năng để phát triển các ngành kinh tế. Qua hơn một thập kỷ đổi mới, tỉnh đã cố gắng phát triển một cách toàn diện: cơ sở vật chất kỹ thuật, kinh tế xã hội được tăng cường, đời sống nhân dân từng bước được cải thiện, số hộ nghèo đói giảm đáng kể. Nền kinh tế từng bước ổn định và phát triển, với tốc độ tăng trưởng khá so với mức bình quân của cả nước, nhất là từ năm 1995 trở lại đây. Bảng 1.4 cho thấy tốc độ tăng GDP bình quân các năm của tỉnh. Một số chỉ tiêu về kinh tế của tỉnh những năm gần đây được thể hiện trong Bảng 1.5. Bảng 1.4: Tăng trưởng GDP của Quảng Ngãi (1996 ~2000) Bình quân 1991 ~ 1995 1996 1997 1998 1999 2000 Bình quân 1991 ~ 2000 6,8 12,8 9,0 8,1 6,8 6,5 7,6 Bảng 1.5: Các chỉ tiêu kinh tế xã hội Quảng Ngãi (1996 ~ 2000) Chỉ tiêu Đơn vị 1996 1997 1998 1999 2000 T.độ BQ 1996 ~ 2000 (%) 1. Dân số 103ng 1158,8 1170,9 1182,7 1193,3 1217,5 1,4 2. GDP (theo giá thực tế) 109đ 2.163,8 2.393,7 2.707,2 2.920,2 3.199,7 3. GDP (giá so sánh 1994) 109đ 1.701,8 1.855,5 2.005,0 2.141,4 2.281,2 7,6 4. Cơ cấu trong GDP % 100 100 100 100 100 - Nông, lâm và thủy sản % 47,8 43,7 44,4 43,2 41,9 - Công nghiệp, xây dựng % 16,7 18,1 18,6 20,2 21,6 - Dịch vụ % 35,5 38,2 36,9 36,6 36,5 5. GDP b/q đầu người 103đ 1468,5 1584,6 1695,3 1873,6 1873,6 18,5 6. Giá trị KN xuất khẩu 106USD 3,4 6,0 4,6 4,4 6,7 190.2 7. Giá trị KN nhập khẩu 106USD 13,3 14,9 10,4 18,2 9,1 8. Sản lượng lương thực quy thóc 103T 308,7 303,6 323,3 352,2 336,6 2,2 266,3 259,3 273,3 295,1 276,5 0,75 1.2.2.4. Các ngành sản xuất 1.2.2.4.1. Nông nghiệp Mặc dù bị ảnh hưởng của thiên tai nhưng giá trị sản xuất nông nghiệp vẫn tăng 3,1%. Sản lượng lương thực đều đạt trên 400 nghìn tấn/ năm, năm 1999 đạt 425 nghìn tấn. Bình quân lương thực quy thóc đầu người/ năm đạt 300 kg. Việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi tiếp tục được thực hiện theo hướng sản xuất hàng hóa, vừa tạo ra hiệu quả kinh tế, vừa tạo ra vùng nguyên liệu ổn định phục vụ công nghiệp chế biến. Các cây công nghiệp được chú trọng phát triển như cây mía, đay, bông, dâu tằm, điều… Chăn nuôi đàn gia súc, gia cầm vẫn giữ được ổn định và phát triển. Năm 2000 đàn trâu có 52,6 nghìn con, đàn bò có 212,5 nghìn con, đàn lợn 474 nghìn con, đàn gia cầm có gần 4 triệu con. 1.2.2.4.2. Lâm nghiệp Công tác quản lý, bảo vệ rừng được tập trung chỉ đạo, đã hạn chế được thiệt hại do cháy rừng gây ra, Trồng rừng tập trung mỗi năm trên 7000 ha; chú trọng phát triển các cây có giá trị kinh tế cao như quế, cây dược liệu… Công tác giao đất giao rừng đang được đẩy mạnh đã giao khoán được trên 33 nghìn ha xung yếu. 1.2.2.4.3. Thủy sản Ngành thủy sản lực lượng đánh bắt chủ yếu là tập thể và cá nhân nhưng lực lượng chế biến lại chủ yếu là quốc doanh. Điều hạn chế của ngành thủy sản là tầu nhỏ không đi được xa và dịch vụ chế biến trên tầu còn kém. Tuy vậy, những năm 1994 - 1997 ngành thủy sản đã tiến bộ đáng kể với nhiều sản phẩm xuất khẩu, đóng góp vào GDP ngày một tăng. Về thủy sản giá trị đóng góp vào GDP của 3 tỉnh Đà Nẵng - Quảng Nam và Quảng Ngãi năm 1994 là 17,7 tỷ đồng tăng lên 26,5 tỷ vào năm 1997. 1.2.2.4.4. Công nghiệp, xây dựng Sản xuất công nghiệp có mức tăng trưởng cao và liên tục trong 10 năm qua. Giá trị sản xuất từ 294,1 tỷ đồng năm 1990 (giá 1994) tăng lên 585,3 tỷ đồng năm 1995: 1.014 tỷ đồng năm 2000 (tăng 3,4 lần trong 10 năm và bình quân 13,2% mỗi năm). Hiện nay, toàn tỉnh có 65 doanh nghiệp công nghiệp và tham gia sản xuất công nghiệp thuộc các loại hình kinh tế cũng khoảng 12.000 cơ sở và hộ sản xuất tiểu thủ công nghiệp với đa số là doanh nghiệp, cơ sở chế biến nông lâm thủy sản. Các doanh nghiệp đã cải tiến phương thức quản lý đổi mới máy móc thiết bị, quy trình công nghệ, một số ít đạt trình độ hiện đại. Sản phẩm công nghiệp ngày càng tăng về số lượng, phong phú về chủng loại mẫu mã và nâng cao về chất lượng. Nhiều sản phẩm mới xuất hiện thêm trong thời gian qua như bánh kẹo, nước khoáng nước ngọt, nước hoa quả, thực phẩm đóng hộp, bao bì gạnh tuy nen, xi măng, phân hóa học. Thị trường tiêu thụ sản phẩm được mở rộng. Nhiều sản phẩm tiêu thụ khá mạnh trong nước, một số sản phẩm được xuất khẩu ra nước ngoài. Ngoài khu công nghiệp Dung Quất do Trung ương quản lý, trên địa bàn tỉnh hình thành 2 khu công nghiệp do tỉnh quản lý với 20 nhà máy đang hoạt động, vốn đăng ký 863 tỷ đồng, thu hút 4.700 lao động. Tổng vốn đầu tư xây dựng cơ bản toàn tỉnh trong 10 năm qua khoảng 6.215,7 tỷ đồng. Mức tăng hàng năm khá cao, nhất là các năm 1998 ~ 2000 do Nhà nước đầu tư xây dựng nhà máy lọc dầu và các công trình cơ sở hạ tầng tại khu công nghiệp Dung Quất, đưa tổng số vốn đầu tư xây dựng cơ bản giai đoạn 1996 ~ 2000 lên 5.075,9 tỷ đồng. 1.2.2.4.5. Thương mại và dịch vụ Trước đây, khi đi qua các trung tâm thương mại và các thị trường của Quảng Ngãi, người ta có thể quan sát thấy chỉ có một khối lượng nhỏ hàng hóa với rất nhiều mặt hàng khác nhau. Tình hình hiện nay đã thay đổi: hàng hóa xuất hiện trên thị trường với khối lượng ngày càng tăng và đa dạng; các loại dịch vụ cũng phát triển rất nhanh. Như đã trình bày trong phần "các ngành sản xuất", các sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp và biển được xuất khẩu. Tỉnh nhập khẩu máy móc, thiết bị và nguyên vật liệu cho nông nghiệp, ngư nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng và hàng hóa tiêu dùng. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ năm 1990 đạt 179,3 tỷ đồng, năm 1995 là 947,5 tỷ đồng và năm 2000 đạt 1.940,7 tỷ đồng (gấp gần 10,8 lần trong 10 năm), trong đó kinh tế tư nhân và kinh tế cá thể đảm nhận 85 ~ 90%. Giá trị sản xuất khu vực dịch vụ tăng bình quân hàng năm là 9% trong 10 năm qua, đưa tỷ trọng ngành trong cơ cấu kinh tế từ 27,3% năm 1990 lên 36,5% năm 2000. Các dịch vụ tài chính, ngân hàng cũng phát triển, đảm bảo nhu cầu chi tiêu xã hội, nhất là trong đầu tư phát triển. Cơ sở vật chất của ngành được cải thiện đáng kể. 1.2.2.4.6. Du lịch Quảng Ngãi được thiên nhiên ưu đãi không chỉ với phong cảnh đẹp mà còn có cả những di tích văn hóa. Điều này đã tạo cho Quảng Ngãi một tiềm năng lớn thu hút khách du lịch, bằng chứng là số du khách đến Quảng Ngãi trong những năm gần đây đã tăng lên liên tục, mặc dù tỉnh còn thiếu cơ sở hạ tầng thích hợp và tiêu chuẩn dịch vụ còn chưa cao. 1.2.2.4.7. Lĩnh vực văn hóa - xã hội Ngành giáo dục đã từng bước nâng cao chất lượng dạy và học, đồng thời tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, mở rộng quy mô đào tạo các cấp học, ngành học. Giáo dục miền núi, vùng sâu, vùng xa được coi trọng, góp phần nâng cao dân trí, nâng cao đời sống văn hóa cho nhân dân. Các chương trình y tế quốc gia được coi trọng; chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân được nâng lên. Đến nay hầu hết các xã đều có trạm y tế. Toàn tỉnh đạt tỷ lệ 4 bác sĩ/ vạn dân. 1.2.2.4.8. Định hướng phát triển kinh tế Những chỉ tiêu tổng quát về phát triển kinh tế của tỉnh giai đoạn đến năm 2010 được cụ thể như sau: + Nhịp độ tăng trưởng kinh tế (GDP) bình quân hàng năm: - Giai đoạn 2000 ~ 2005 là 7 ~ 8%. - Giai đoạn 2000 ~ 2010 là 10 ~ 12%. Trong đó: - Giá trị sản xuất nông lâm ngư nghiệp năm 2005 tăng 1,3 ~ 1,5 lần so với năm 2000, với tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm 5 ~ 6%/ năm. - Giá trị sản xuất công nghiệp xây dựng cơ bản năm 2005 tăng 2 ~ 2,5% lần so với năm 2000, với tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm 15 ~ 20%/ năm. - Giá trị thương mại, dịch vụ tăng 1,8 ~ 2 lần. + Cơ cấu kinh tế nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ đạt tỷ trọng: - Năm 2005: Nông nghiệp: 31% Công nghiệp: 22% Dịch vụ: 47% - Năm 2010: Nông nghiệp: 247% Công nghiệp: 28% Dịch vụ: 47,3% + GDP bình quân đầu người năm 2005 là 250 USD. + Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giai đoạn 2000 ~ 2005 là 1,3% và 2006 ~ 2010 là 1,2%. + Giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng xuống còn 30%. + Trung bình mỗi năm tạo việc làm cho 35.000 ~ 40.000 lao động. + Phấn đấu đến năm 2005 xóa hết hộ đói, giảm nhẹ 50% số hộ nghèo (đối với miền núi giảm 30 ~ 40% hộ nghèo so với năm 2000). + Cơ bản xóa nạn mù chữ trong độ tuổi từ 15 ~ 35 và hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học toàn tỉnh. + Kim ngạch xuất khẩu của tỉnh năm 2000 ~ 2005 đạt 14 triệu USD, năm 2005 ~ 2010 đạt 28 ~ 30 triệu USD. + Tỷ lệ động viên GDP vào ngân sách đạt 18 ~ 20%. 1.3. Điều kiện tự nhiên khu vực xây dựng cảng 1.3.1. Vị trí địa lý - Bến số 1 - Cảng Tổng hợp Dung quất được xây dựng tại vịnh Dung Quất thuộc xã Bình Thuận - huyện Bình Sơn - tỉnh Quảng Ngãi, cách thành phố Đà Nẵng 100 km về phía Nam và cách Thị xã Quảng Ngãi 40 Km về phía Bắc. 1.3.2. Đặc điểm về địa hình - Toàn khu vịnh Dung Quất khá rộng, ước tính từ cửa sông Trà Bồng tới bán đảo Co Co dài khoảng 5 km, chiều rộng vịnh khoảng 3 km. Đặc điểm địa hình vịnh Dung Quất là đường đẳng sâu có dạng rẻ quạt không song song với bờ, cao độ tự nhiên từ -0,4 đến -17,0 (Theo hệ Hải Đồ) và phần diện tích khu nước có chiều sâu lớn hơn 12m chiếm khoảng 30%. Đây là vịnh tự nhiên tương đối kín, có độ sâu thích hợp cho việc xây dựng cảng nước sâu. - Tại khu vực vịnh có hai cửa sông đổ ra biển. Đó là sông Trà Bồng ở phía Bắc và sông Đập ở phía Nam. Bến số 1 dự kiến xây dựng ở bờ phía Đông (chạy từ cửa sông Đập tới mũi Văn Ca dài khoảng 3 km). Đây là khu vực có địa hình khá thoải với độ dốc khoảng 0,6%. Phía sát bờ có một số mỏm đá gầm nổi lên, trong bờ có những gò đồi nhỏ. 1.3.3. Khí tượng - Khu vực xây dựng chịu ảnh hưởng của gió mùa hàng năm khí hậu chia làm 2 mùa rõ rệt: mùa khô và mùa mưa. 1.3.3.1. Nhiệt độ không khí - Nhiệt độ trung bình tháng không thay đổi nhiều, tháng lớn nhất là 2808 (vào tháng 6), tháng thấp nhất là 2105 (tháng 1). Nhiệt độ trung bình năm là 2506. - Nhiệt độ thấp nhất đo được Tmin = 12,40C, tháng lạnh nhất: Tháng 1. - Nhiệt độ cao nhất đo được Tmax: 40,50C, tháng nóng nhất: Tháng 6. Bảng 1.6: Diễn biến nhiệt độ các tháng trong năm (1975 - 2001) Tháng Đặc trưng I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Năm Ttb 21.5 22.5 24.2 26.5 28.3 28.8 28.6 28.5 27.1 25.6 23.8 21.9 25.6 Tmax 32.5 35.3 35.2 38.7 39.5 40.5 38.1 38.7 37.6 34.5 32.4 30.2 40.5 Tmin 12.4 14.1 13.4 18.6 21.4 22.4 22.4 21.4 21.7 17.1 16.4 13.8 12.4 1.3.3.2. Độ ẩm - Độ ẩm tương đối trung bình nhiều năm tại khu vực Dung Quất khá cao (khoảng 84% trong năm). - Độ ẩm tương đối trung bình cao nhất đo được 100% xảy ra trong nhiều ngày. - Độ ẩm tương đối trung bình thấp nhất đo được 37% tháng 10. - Độ ẩm tuyệt đối trung bình nhiều năm là 28 mb, lớn nhất là 37 mb, nhỏ nhất là 12,9mb. Diễn biến độ ẩm tương đối thể hiện trong bảng 1.7 Bảng 1.7: Diễn biến độ ẩm tương đối Tháng Đặc trưng I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Năm Utb 87 86 84 82 80 80 79 80 84 87 88 89 84 Umax 100 100 100 100 100 100 100 100 100 100 100 100 100 Umin 46 45 37 41 37 39 38 38 40 42 46 49 37 1.3.3.3. Chế độ mưa Theo số liệu quan trắc tại các trạm đặt tại Quảng Nam có 2 mùa rõ rệt: - Mùa khô từ tháng 1 ~ 8. - Mùa mưa từ tháng 9 ~ 12. - Lượng mưa lớn nhất thường tập trung vào các tháng 10 và 11. Tháng 2, 3 và 4 là những tháng có lượng mưa nhỏ. - Các tháng 10, 11 và 12 là những tháng có nhiều ngày mưa nhất, trung bình có 21 ngày. Tháng 3 và 4 là những tháng có số ngày mưa ít nhất trung bình có 6 ngày. - Số ngày mưa trung bình trong nhiều năm 157 ngày. - Tổng lượng mưa trung bình trong nhiều năm đo được: 2.312,6 mm. - Lượng mưa trong ngày lớn nhất đo được: 429,2 mm (19/11/1987). - Số ngày mưa trung bình trong năm là 155,2; tháng 10 có lượng mưa trung bình lớn nhất trong năm là 654,2 mm, tháng 4 có lượng mưa nhỏ nhất trong năm là 33,9 mm; tháng 11 có số ngày mưa lớn nhất là 21,7 ngày, tháng 3 có số ngày mưa nhỏ nhất là 5,6 ngày. - Năm 1999 là năm có tổng lượng mưa lớn nhất là 394,6 mm với số ngày mưa là 171 ngày. Lượng mưa lớn tập trung vào các tháng 10, 11, 12. 1.3.3.4. Sương mù và tầm nhìn xa - Trong năm trung bình có 25,2 ngày có sương mù và 39,9 ngày mù trời. Sương mù và mù trời thường tập trung vào các tháng 2, 3 và 4. Trong năm trung bình có 344,8 ngày có tầm nhìn xa trên 10 km, 17 ngày có tầm nhìn xa từ 1 đến 10 km và 3 đến 4 ngày có tầm nhìn dưới 1 km. - Số ngày có sương mù và mù trời trong tháng xem trong Bảng 1.8. Bảng 1.8: Số ngày sương mù và mù trời Tháng I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Năm Sương mù 2.6 5.5 7.0 3.8 1.4 0.7 0 0 1 1.3 0.7 1.2 25.2 Mù trời 6.1 8.9 11.9 7.1 0.9 0.3 0 0 0.4 0.9 1.1 2.3 39.9 1.3.3.5. Chế độ gió - Hiện nay có rất nhiều ý kiến khác nhau về chế độ gió tại khu vực Dung Quất. Trong đồ án này sử dụng tài liệu gió tại trạm khí tượng Quảng Ngãi với chuỗi số liệu liên tục 20 năm (1975 ~ 1994). - Nhìn chung gió tại Quảng Ngãi không mạnh. Trong năm gió lặng chiếm 50%. Gió tốc độ từ 1 đến 4 m/s chiếm 45,6%. - Hướng gió thịnh hành trong năm là gió hướng Bắc, Tây Bắc, Đông và Đông Nam. Hình 1.1 là hoa gió tổng hợp nhiều năm. Hình 1.1: Hoa gió trạm Quảng Ngãi (1975 - 1994) (trang 12…..) - Gió thịnh hành theo hướng Bắc và Tây Bắc thường xảy ra vào tháng 10, 11 và 12. Gió theo hướng Đông và Đông Nam tập trung từ tháng 3 đến tháng 8. Trong tháng 2 và tháng 9 gió xuất hiện theo nhiều hướng. - Tốc độ gió lớn nhất trong nhiều năm đo được là 28 m/s theo hướng Đông Đông Bắc. Bảng 1.9: Bảng tính tần suất và hướng gió trạm Quảng Ngãi Cấp hướng Lặng 1,0 - 4,0 (m/s) 5,0 - 9,0 (m/s) 10,0 - 15,0 (m/s) >15 (m/s) Tổng SLXH % SLXH % SLXH % SLXH % SLXH % SLXH % N 2631 9.7 260 1.0 7 0.0 2898 10.7 NE 1677 6.2 145 0.5 2 0.0 1824 6.7 E 2872 10.6 341 1.3 3 0.0 3216 11.9 SE 1488 5.5 271 1.0 2 0.0 1761 6.5 S 289 1.1 18 0.1 0 0.0 307 1.1 SW 175 0.6 7 0.0 1 0.0 183 0.7 W 725 2.7 21 0.1 2 748 2.8 NW 2472 9.1 159 0.6 4 0.0 2635 9.7 Lặng 13460 49.80 13460 49.8 Tổng 13460 49.80 12329 45.6 1222 4.52 21 0.07 27032 100.0 Bảng 1.10: Bảng tính tần suất và hướng gió trạm Dung Quất Cấp hướng 0,1 - 3,9 (m/s) 4,0 - 8,9 (m/s) 9,0 - 14,9 (m/s) >15 (m/s) Tổng SLXH % SLXH % SLXH % SLXH % SLXH % N 6 5 9 7.4 6 5 21 17.4 NE 8 6.6 4.8 39.7 19 15.7 3 2.5 78 64.5 E SE S SW W NW 1 0.8 2 1.6 7 5.8 5 4.1 15 12.3 Lặng 7 5.8 7 5.8 Tổng 22 18.2 15.8 48.7 32 26.5 8 6.6 121 100 - Để xác định độ tương quan về hướng và vận tốc của gió tại trạm Quảng Ngãi và khu vực Dung Quất, TEDI đã tiến hành đo gió tại mũi Văn Ca từ ngày 25/10/1995 đến 24/11/1995. Trong thời gian quan trắc này đã gặp ba cơn bão: số 9, 10 và 11 đổ vào khu vực Quảng Ngãi. Vận tốc gió lớn nhất đo được trong bão là 33,6 m/s theo hướng Đông Bắc. Hoa gió trạm Dung Quất đo từ 25/10/1995 đến 24/11/1995 được thể hiện trong Hình 1.2. Hình 1.2: Hoa gió Dung Quất (25/10/1995 - 24/11/1995) (Trang 14)… 1.3.3.6. Bão - Quảng Ngãi là tỉnh chịu ảnh hưởng nhiều của bão, có năm phải chịu tới 4, 5 cơn bão như các năm 1984 và 1998. Tốc độ gió lớn nhất đo được là 42 m/s. 1.3.4. Đặc điểm về thủy hải văn 1.3.4.1. Mực nước biển - Chế độ thủy triều vùng biển Dung Quất chủ yếu là nhật triều không đều, quá nửa số ngày trong tháng có một lần nước lên cao và một lần nước xuống thấp (vào những ngày triều cường), nhưng thời gian triều lên (khoảng 15 ~ 17 giờ) dài hơn thời gian triều xuống (khoảng 7 ~ 9 giờ). Trong những ngày triều kém mực nước lên xuống phức tạp hơn, thường một ngày có 2 lần nước cao và 2 lần nước thấp, thời gian triều lên và thời gian triều xuống khác nhau nhiều và thường xuyên thay đổi. Vào thời gian triều cường mực nước lớn nhất dao động từ 1,8 m đến 2,64 m. Vào thời gian triều kém mực nước lớn nhất dao động từ 1,48 m đến 1,65 m. - Theo tài liệu thu thập 10 năm tại Sơn Trà: mực nước cao nhất là 2,32 m (vào 10 giờ ngày 18/9/1990) và mực nước thấp nhất là 0,2 m (vào ngày 19/7/1990). - Phương trình tương quan mực nước giữa Sơn Trà và Dung Quất như sau: HDQ = 1,11 HST - 2 (cm) Trong đó: HDQ = Mực nước tại Dung Quất (cm) HST = Mực nước tại Sơn Trà (cm) (Theo hệ Hải Đồ) 1.3.4.2. Mực nước dâng Dưới tác dụng của bão, mặt nước biển xuất hiện sự dâng, hạ khác thường, lúc gió bão từ ngoài khơi thổi vào bờ, có thể xuất hiện sự tăng lên của mực nước ven bờ. Lúc gió bão ở trong bờ thổi ra biển khơi, mực nước ven bờ có thể hạ xuống bất thường. Khi nước dâng xuất hiện cùng lúc với triều cường sẽ gây ra mực nước đặc biệt cao. Theo "Phân viện cơ học biển Viện cơ học Việt Nam" thì ở Việt Nam, qua phân tích 100 cơn bão có số liệu sau: Cứ 2 cơn bão đổ bộ, thì có một cơn gây nước dâng > 1.0 m. Cứ 3 cơn bão đổ bộ, thì có một cơn gây nước dâng > 1.5 m. Cứ 2 cơn bão đổ bộ, thì có một cơn gây nước dâng > 2.0 m. Thời gian tồn tại nước dâng từ 12h đến 30h, thời gian duy trì đỉnh nước dâng từ 2h đến 3h. Khi thiết kế công trình bảo vệ bờ phải quan tâm đến nước dâng vì nó sẽ quyết định rất lớn đến quy mô công trình. 1.3.4.3. Dòng chảy - Số liệu đo hướng và tốc độ dòng chảy ngang của sông Đập do TEDI thực hiện tại thủy trực T2 vào tháng 10, 11/1995 và T3 vào tháng 6/1997 cho thấy vận tốc tuy không giống nhau. Nhưng hướng dòng chảy: Hướng chính là Tây Bắc, Bắc và Đông Bắc. Tốc độ dòng chảy mặt lớn nhất quan trắc được tại vịnh là 0,93 m/s và tốc độ dòng chảy đáy lớn nhất quan trắc được là 0,89 m/s. - Kết quả đo dòng chảy hai mùa tại 5 thủy trực ở Dung Quất năm 1998. Mùa khô từ 26/3/1998 đến 10/4/1998; Mùa mưa từ 16/9/1998 đến 1/10/1998 cho thấy tốc độ dòng chảy lớn nhất đo được là 0.53 m/s hướng Đông Đông Nam ngày 28/9/1998 tại thủy trực 4. - Kết quả đo dòng chảy tại 3 thủy trực từ ngày 19/4 đến 21/4/2002 và 24/4 đến 26/4/2002 có tốc độ dòng chảy lớn nhất là 0.49 m/s hướng Tây Bắc vào 20h ngày 20/4/2002 (thủy trực 2). - Kết quả đo dòng chảy từ 7h ngày 18/1/2006 đến 7h ngày 20/1/2006 cho thấy dòng chảy trong khu vực trước bến rất nhỏ với tốc độ quan trắc lớn nhất 0.18 m/s. Vị trí thủy trực đo thủy văn có tọa độ theo hệ VN - 2000 kinh tuyến trung tâm 1080 là 1704333N, 58567E. Hình 1.3: Hoa dòng chảy thủy trực T2 (Trang 16)…………. Hình 1.4: Hoa dòng chảy thủy trực T3 (Trang 16)………….. 1.3.4.4. Lưu lượng nước và hàm lượng phù sa các sông đổ vào vịnh Dung Quất - Sông Trà Bồng là một con sông lớn của tỉnh Quảng Ngãi và được bắt nguồn từ miền Đông Bắc tỉnh. Sông Đập là một con sông nhỏ bắt nguồn từ hồ Cái Bầu và sông Cầu. - Kết quả quan trắc lưu tốc và tính lưu lượng qua cửa hai con sông do TEDI thực hiện vào tháng 5 và tháng 6 năm 1997. - Kết quả đo độ đục và nhiệt độ của nước biển tại vịnh Dung Quất do TEDI thực hiện trong thời gian quan trắc tháng 11 năm 1995 cho thấy nhiệt độ trung bình của nước biển là 260C và hàm lượng phù sa lớn nhất đo được là 0,110 g/l. Trong thời gian quan trắc vào tháng 6 năm 1997 TEDI đã lấy mẫu nước và đo độ mặn, kết quả cho thấy độ mặn của nước biển ở vịnh Dung Quất trong thời gian quan trắc từ 320/00 ~ 320/00. 1.3.4.5. Sóng tính toán - TEDI đã tiến hành 2 đợi quan trắc sóng trong năm 1998, thấy rằng hướng sóng thịnh hành tại khu vực vịnh Dung Quất là các hướng Đông Bắc và Bắc. Tại vị trí quan trắc ở phía Bắc vịnh Dung Quất, với chiều sâu nước tại khu vực đặt máy đo sóng là 26m, sóng lớn nhất quan trắc được trong đợt 1 là 2,67 m (ngày 24/3/1998) và trong đợt 2 là 3m (27/9/1998). - Sóng theo hướng Đông Bắc khi xây dựng xong đê Bắc tại độ sâu 2,7m vùng bờ giữa sông Trà Bồng và sông Đập có chiều cao H1/3 = 0,7m đến 0,99m. Còn trường hợp có cả hai đê với cao trình đê chắn cát ở mức +7m thì chiều cao sóng trong toàn vịnh ở khu vực trước các bến chiều cao sóng chỉ ở mức 0,1m đến 0,6m. Sóng tính toán do TEDI thực hiện - Kết quả tính toán sóng trong Đồ án Cảng Dung Quất (Do TEDI lập năm 1996) cho 3 hướng sóng Bắc, Bắc Tây Bắc và Tây Bắc với các trường hợp khi cảng đã xây dựng xong đê Bắc và khi đã xây dựng xong cả đê Tây xem trong Bảng 1.11. Bảng 1.11: Kết quả tính sóng do TEDI thực hiện Hướng gió Chiều cao sóng 1% với gió v = 40 m/s K.vực I K.vực II K.vực III K.vực IV Khi chưa có đê chắn sóng hi = 4 ~ 7m tại đường đồng sâu - 4 ~ 5m Khi có một đê Bắc Bắc 0,874 0,83 1,171 6,870 Bắc Tây Bắc 1,518 1,1 2,134 0/che chắn Tây Bắc 1,305 1,491 2,225 Khi có cả đê Bắc và đê Tây Bắc 0,414 0,274 0,501 0,227 Bắc Tây Bắc 1,009 0,563 1,013 - Tây Bắc 0,431 0,493 0,743 - 1.4. Điều kiện địa chất công trình 1.4.1. Cấp động đất Theo bản đồ phân vùng động đất khu vực nghiên cứu thuộc phân vùng động đất cấp 7. 1.4.2. Địa tầng - Trong Đồ án này sử dụng kết quả khảo sát địa chất phục vụ Dự án đầu tư xây dựng công trình Bến số 3 do Công ty TVXD Cảng - Đường thủy lập tháng 3/2006 cách Bến số 1 là 290 m và một số lỗ khoan do Công ty TVXD Cảng - Đường thủy đang tiến hành thì địa tầng tại khu vực này có thể chia làm 4 lớp chủ yếu như sau: - Lớp 1: Cát hạt nhỏ lẫn vỏ sò, màu xám rời rạc. Bề dày nhỏ nhất được xác định là 0.7 - 1.2 (KB1, KB2, KB4). Chủ yếu nằm tại khu vực bến và sau bến. - Lớp 2: Bùn sét cát lẫn vỏ sò, màu xám xanh. Lớp này phân bố với chiều dày từ 10.3 (KB1). 10m (KB2) 15.6m (KB3). Lớp đất này được phân bố ở tất cả các lỗ khoan ở khu vực tuyến bến và sau tuyến bến. - Lớp 3: Sét cát lẫn dăm sạn, màu xám xanh, xám vàng, cứng. Lớp này phân bố không đồng đều trong khu vực bến và tuyến bến, tại lỗ khoan BS1 không có lớp này mà từ bùn yếu đến lớp đá cứng. Giá trị xuyên tiêu chuẩn SPT N = 32, có chỗ N > 50. Phân bố không đều từ không có tại BS1 và 7.4m tại (BS2). - Lớp 4: Sét pha lẫn sạn màu lam lổ, dẻo cứng nửa cứng (Sản phẩm đá Granite phong hóa hoàn toàn) Bắt gặp tại mọi vị trí các lỗ khoan, cao độ mặt lớp cũng như chiều dày thay đổi mạnh, tại vị trí BS1 dày 0,20m, tại vị trí B2 dày tới 14,1m. - Lớp 5: Đáp Granite cứng chắc, Thí nghiệm nén một trục ở trạng thái khô nhỏ nhất là 725 kG/cm2, lớn nhất là 970 kG/cm2. Thí nghiệm nén một trục ở trạng thái bão hòa nhỏ nhất là 662 kG/cm2, lớn nhất là 902 kG/cm2. Kết luận: Căn cứ vào kết quả khảo sát được tổng kết ở trên cho thấy, các lớp 2 là các lớp đất có tính chịu lực thấp, không thể đặt móng của công trình vào trong các lớp đất này. Các lớp 3, 4 là các lớp có khả năng chịu lực cao, tuy nhiên lại nằm sâu và hơn nữa việc sử dụng kết cấu móng cọc bê tông cốt thép đặt trong các lớp này là không khả thi. Các lỗ khoan ở các khu vực bến và bãi, bề dày lớp phong hóa biến đổi lớn, cao độ mặt đá thay đổi khá phức tạp. Vì vậy đối với khu vực bến cập tàu nên chọn giải pháp móng cọc khoan nhồi ngầm vào trong lớp đá grantine tối thiểu 2m hoặc sử dụng kết cấu trọng lực có kết cấu móng đặc trực tiếp lên lớp này. Hình 1.5: Biểu đồ mặt cắt địa chất (trang 18……………….) 1.5. Dự báo lượng hàng và đội tàu ra vào cảng tổng hợp Dung Quất 1.5.1. Dự báo lượng hàng qua cảng tổng hợp Dung Quất Căn cứ vào phạm vi hấp dẫn của cảng Dung Quất thì hàng hóa thông qua cảng gồm hai phần: phần thứ nhất là hàng hóa phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, phần thứ hai là hàng hóa trung chuyển cho khu vực nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào (CHDCNDL) và Đông Bắc Thái Lan nếu có. + Hàng hóa trung chuyển cho nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào và Đông Bắc Thái Lan thông qua cảng. Do không có biển nên thương mại hướng ngoại của CHDCNDL không còn cách chọn lựa nào khác ngoài việc sử dụng các tuyến quá cảnh qua Việt Nam hoặc Thái Lan. Khoảng cách từ hầu hết các vùng của nước CHDCNDL đến các cảng biển Miền Trung Việt Nam chỉ bằng 1/2 khoảng cách đến cảng của Thái Lan. Khu vực phía Nam Lào và một số tỉnh thuộc Đông Bắc Thái Lan được coi là vùng ảnh hưởng của các cảng Chân Mây, Đà Nẵng, Dung Quất của Miền Trung Việt Nam. Khoảng cách từ các tỉnh Nam Lào theo quốc lộ 18B của Lào nối với QL40 của Việt Nam như sau: Ra cảng Đà Nẵng qua QL 14 là 277 km, ra cảng Dung Quất thông qua QL 24 là 313 km, ra cảng Quy Nhơn qua QL19 là 296 km. Như vậy nếu tính theo cự ly vận tải thì hàng quá cảnh thông qua cảng Dung Quất là dài nhất. Nên trong đồ án này, giai đoạn từ nay đến 2010 không tính đến hàng hóa thông qua cảng Dung Quất. + Xác định nhu cầu vận tải các mặt hàng chính Với phương pháp luận như trên tiến hành dự báo sản xuất tiêu thụ và cân đối vận tải các mặt hàng chính, xác định nhu cầu vận tải hàng hóa liên tỉnh của Quảng Ngãi, sau đó tiến hành phân bổ vận tải trên toàn mạng để xác định khối lượng hàng hóa vận tải theo từng phương thức vận tải đặc biệt là khối lượng hàng vận tải ven biển - hàng nội địa thông qua cảng đến năm 2010. Kết quả xem bảng 1.12. Bảng 1.12: Dự báo sản xuất, tiêu thụ và cân đối các mặt hàng của tỉnh Quảng Ngãi Đơn vị: 103T TT Mặt hàng Năm 2010 Năm 2020 Sản xuất Tiêu thụ Cân đối Sản xuất Tiêu thụ Cân đối Thiếu Thừa Thiếu Thừa 1 Gạo 259 359 100 288 432 144 2 Phân lân 0 15 15 0 14 14 3 Phân đạm 0 26 26 0 27 27 4 NPK 30 30 30 37 7 5 Xi măng 500 500 752 752 6 Sắt thép 0 0 135 135 7 Than đá 0 40 40 0 45 45 8 Xăng dầu 6000 180 5820 1000 350 9650 9 Đá XD, sỏi 216 160 56 336 215 151 10 Hàng khác 500 610 600 200 1006 1000 800 400 Tổng số 7005 1978 1339 6076 11660 3007 1924 10201 Các mặt hàng thiếu sẽ được lấy từ các tỉnh trong cả nước hoặc nhập khẩu, các mặt hàng thừa cũng được đưa đến các tỉnh khác thông qua bài toán phân phối vận tải hợp lý trên toàn mạng vận tải. + Phân bổ lượng hàng Bảng 1.13: Dự báo luồng hàng liên tỉnh (các mặt hàng chính) của tỉnh Quảng Ngãi Đơn vị: 103T TT Mặt hàng Điểm đi Điểm đến Khối lượng Phương thức vận tải 2010 2020 Sắt Bộ Biển (2010) Biển (2020) 1 Gạo Phú Yên Q.Ngãi 100 144 x 2 Phân lân Ninh Bình Q.Ngãi 15 14 x 3 Phân đạm Nhập khẩu Q.Ngãi 26 27 x 4 NPK Đà Nẵng Q.Ngãi - 7 x 5 Xi măng Đà Nẵng Q.Ngãi 500 752 x 6 Sắt thép Đà Nẵng Q.Ngãi 58 135 x 7 Than đá Quảng Ninh Q.Ngãi 40 45 40 45 8 Xăng dầu Quảng Ngãi 5820 9650 x x 9 Đá XD, sỏi Quảng Ngãi Q.Ngãi 56 151 x 10 Hàng khác 800 1200 x x 300 400 Tổng số 7.415 12.125 340 445 Như vậy khối lượng hàng hóa đi bằng đường biển nội địa của tỉnh năm 2010 là 340.000T và năm 2020 là 445.000T (không kể xăng dầu và phân đạm nhập khẩu). + Dự báo hàng của khu công nghiệp - tỉnh Quảng Ngãi Dự báo khối lượng hàng của các khu công nghiệp căn cứ vào mức độ khả thi của diện tích đất công nghiệp được duyệt. Bảng 1.14: Quy hoạch diện tích các khu công nghiệp và dự báo hàng KCN thông qua cảng tổng hợp Dung Quất Đơn vị: 103T TT Chỉ tiêu Đơn vị 2010 2020 PA1 PA2 PA1 PA2 1 Diện tích quy hoạch đất CN (không kể lọc dầu, thép và đóng tàu) Ha 1029 1029 1029 1029 2 Diện tích sử dụng Ha 823 923 926 1000 3 Tỷ lệ (2/1) % 80 80 90 98 4 Diện tích đất khả thi Ha 164 164 555 900 5 Tỷ lệ (4/2) 20 40 60 90 6 Tổng khối lượng hàng đi, đến khu CN 1000T 1300 2600 4400 7200 7 Khối lượng hàng qua cảng 1000T 650 1300 2200 3600 - Xuất khẩu 250 500 100 1800 - Nhập khẩu 400 800 1200 1800 + Dự báo hàng hóa xuất nhập khẩu của Tỉnh Căn cứ vào tiềm năng và phương hướng phát triển hàng hóa xuất nhập khẩu của tỉnh Quảng Ngãi, dự báo mặt hàng và khối lượng hàng hóa xuất nhập khẩu của tỉnh như trong bảng 1.15. Bảng 1.15: Dự báo hàng khô xuất nhập khẩu của tỉnh Quảng Ngãi (Giai đoạn 2005 - 2010 - 2010) Đơn vị tính: 1000T TT Loại hàng 2005 2010 2020 PA1 PA2 PA1 PA2 I Hàng xuất khẩu 327 450 700 1350 2150 1 Đá xây dựng 100 100 200 200 2 Đăm gỗ bạch đàn 100 100 150 150 3 Hàng KCN, hàng khác 250 500 1000 1800 II Hàng nhập khẩu 23 526 926 1280 1880 1 Phân bón 26 26 27 27 2 Kim khí, thiết bị 100 100 53 53 3 Hàng KCN, hàng khác 400 800 120 1800 Tổng XNK 350 976 1626 2280 4030 + Tổng hợp khối lượng hàng hóa thông qua cảng thuộc tỉnh Quảng Ngãi Tổng hợp khối lượng hàng xuất khẩu, nhập khẩu và hàng nội địa, chúng ta có được khối lượng hàng hóa thông qua cảng thuộc khu vực tỉnh Quảng Ngãi. Phân bổ hàng hóa giữa các cảng thuộc tỉnh Quảng Ngãi Cảng tổng hợp Dung Quất trước mắt phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, đặc biệt là phục vụ khu công nghiệp Dung Quất sau đó từng bước đầu tư mở rộng thành một cảng trung tâm phân phối quốc tế nối Đông và Tây. Đủ năng lực tiếp nhận tàu có trọng tải tới 50000 DWT. Cảng Sa Kỳ là cảng địa phương, chủ yếu làm hàng nội địa. Đến năm 2010 quy mô cảng giữ ở mức 100.000 T/năm, chủ yếu phục vụ tầu pha sông biển có trọng tải tới 20000 DWT neo cập. Bảng 1.16: Tổng hợp khối lượng hàng hóa thông qua cảng khu vực Dung Quất Đơn vị: 103T TT Loại hàng 2005 2010 2020 PA1 PA2 PA1 PA2 1 Hàng xuất khẩu 327 450 700 1350 2150 2 Hàng nhập khẩu 23 526 926 1280 1880 3 Hàng nội địa 118 240 240 445 445 Tổng số 468 1.216 1.866 3.075 4.475 Trong đó 4 Cảng Sa Kỳ 50 100 100 100 100 5 Cảng Dung Quất 418 1.116 1.766 2.975 4.375 Cơ cấu hàng hóa ra vào cảng tổng hợp Dung Quất Thông qua bảng trên ta thấy: Hàng nội địa chiếm tỷ lệ nhỏ từ 8 - 13% so với tổng hàng hóa qua cảng, chủ yếu là hàng vật liệu xây dựng than. Hàng nhập khẩu chiếm tỷ lệ cao nhất từ 43% - 50%, chủ yếu là phân bón, bách hóa và nguyên vật liệu phục vụ khu công nghiệp. Hàng xuất khẩu chiếm 40 - 49% chủ yếu là hàng xuất khẩu của khu công nghiệp, đá và gỗ các loại. Bảng 1.17: Dự báo hàng hóa thông qua cảng tổng hợp Dung Quất Đơn vị: 103T TT Loại hàng 2005 2010 2020 PA1 PA2 PA1 PA2 I Hàng xuất khẩu 327 450 700 1350 2150 1 Đá xây dựng 100 100 200 200 2 Dăm gỗ bạch đàn 100 100 150 1500 3 Hàng KCN, hàng khác 250 500 4000 1800 II Hàng nhập khẩu 23 526 926 1280 1880 1 Phân bón 26 26 27 27 2 Kim khí, thiết bị 100 100 53 53 3 Hàng KCN, hàng khác 400 800 1200 1800 III Hàng nội địa 140 140 345 345 1 Than 40 40 45 45 2 Hàng khác 100 100 200 200 Tổng số 1.116 1.766 2.975 4.375 Trong đó Container 700 900 1400 2000 Hàng kiện 416 866 1575 2375 Chú ý: Năm 2010: + PA1: diện tích dành cho sản xuất công nghiệp của các khu công nghiệp của tỉnh được khả thi 20%. + PA2: diện tích dành cho sản xuất công nghiệp của các khu công nghiệp của tỉnh được khả thi 40%. Năm 2020: + PA1: khả thi 60%. + PA2: khả thi 90%. Như vậy: Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm qua cảng Dung Quất giai đoạn (2005 - 2010) theo PA1 là: 21% và theo PA2 là 33% và giai đoạn (2010 - 2020): theo PA1 là 10%; theo PA2 là 15%. Vậy lượng hàng dự báo thông qua cảng Dung Quất trong giai đoạn tới như phân tích ở trên, bến tam Dung Quất hiện có là không thể đáp ứng được. Do đó việc tiến hành đầu tư xây dựng bến mới tại Dung Quất là cần thiết. 1.5.2. Dự báo đội tàu ra vào cảng Dung Quất 1.5.2.1. Hiện trạng và xu thế phát triển của đội tàu 15.2.1.1. Đội tàu trên thế giới Đội tàu vận tải trên thế giới hiện nay phát triển rất đa dạng. Cùng một loại tàu, có cùng một trọng tải nhưng có các kích cỡ khác nhau về chiều dài, chiều rộng và mớn nước. Đội tàu chở hàng bách hóa đang có xu thế container hóa và đội tàu container đang dần phát triển từ thế hệ hai sang thế hệ ba tức nâng trọng tải tàu từ 1.000 TEU/ tàu 1.500 TEU/tàu lên 2.000 ~ 2.400 TEU/tàu. Đặc biệt tàu Post PANAMAX là loại tàu container lớn nhất hiện nay có thể chở 6.000 TEU. Theo số liệu thống kê, hiện nay tàu bách hóa có trọng tải từ 5000 DWT đến 10.000 DWT chiếm đa số, còn tàu chở hàng container và tàu chở hàng rời có số lượng lớn là loại tàu có trọng tải từ 15.000 DWT đến 50.000 DWT. Phân bố số lượng tàu theo loại và trọng tải được thể hiện trong Bảng 1.14. Bảng 1.18: Phân bố tàu theo loại và trọng tải Loại (DWT) Tàu container Tàu chở hàng rời Tàu bách hóa Số lượng Tỷ lệ (%) Số lượng Tỷ lệ (%) Số lượng Tỷ lệ (%) 0-499 0 0 0 0 271 4,01 500-999 1 0,12 4 0,12 609 9,0 1.000-1.999 10 1,21 4 0,12 1258 18,59 2.000-2.999 18 2,17 7 0,12 626 9,25 3.000-4.999 37 4,46 4 0,12 1009 14,91 5.000-9.000 181 21,81 39 1,09 1434 21,19 15.000-29.999 241 29,04 1271 38,34 931 13,76 30.000-49.999 230 27,71 1067 32,19 6 0,09 50.000-99.999 30 3,61 599 18,07 - - 100.000-199.999 - - 194 5,85 - - 200.000 - - 12 0,36 - - Tổng cộng 830 100% 3.315 100% 6.766 100% Những năm gần đây tỷ lệ tăng trưởng của tàu container chủ yếu tập trung vào các tàu cỡ lớn hơn 4.000 TEU đặc biệt là tàu từ 5.000 TEU ~ 5.999 TEU. Hình 1.5 là tỷ lệ tăng trưởng về trọng tải của các cỡ tàu trong hai năm 2000 và 2001. Hình 1.6: Tỷ lệ tăng trưởng tổng trọng tải so với cỡ tàu (trang 24….) Theo số liệu thống kê, số lượng tàu container đóng mới (đã hoàn thành và đăng ký) trong năm 2000 là 174 chiếc với tổng trọng tải là 446.762 TEU. Cả hai chỉ tiêu này đều nhỏ hơn so với năm 1998 là 280 tàu và 543.342 TEU, nhưng rõ ràng có sự gia tăng đột biến về trọng tải trung bình của một tàu đóng mới. Các số liệu về đội tàu container trên thế giới trong các năm 1991 ~ 2001 được thể hiện trong Bảng 1.15. Bảng 1.19: Các số liệu về đội tàu container thế giới (1991 ~ 2001) TT Năm Các tàu trên thế giới Các tàu đóng mới Số lượng (tàu) Tổng trọng tải (TEU) Mức tăng trưởng (%) Số lượng (tàu) Tổng trọng tải (TEU) Mức tăng trưởng (%) 1 1991 2.189 2.159.110 6,9 113 162.921 1.442 2 1992 2.290 2.329.632 7,9 115 185.301 1.611 3 1993 2.395 2.520.636 8,2 122 201.679 1.653 4 1994 2.501 2.676.264 6,2 151 265.856 1.761 5 1995 2.709 2.976.726 11,2 182 327.624 1.800 6 1996 2.776 3.230.346 8,5 194 388.813 2.004 7 1997 3.007 3.649.756 13,0 263 505.822 1.923 8 1998 3.280 4.145.817 13,6 280 543.342 1.941 9 1999 3.506 4.612.730 11,3 164 281.092 1.714 10 2000 3.695 4.962.416 7,6 174 446.762 2.568 11 2001 3.779 5.282.345 6,4 1.5.2.1.2. Đội tàu trong nước So với các nước trên thế giới đội tàu biển Việt Nam hiện nay chưa được phát triển cả về số lượng lẫn khối lượng vận tải. Theo số liệu thống kê đội tàu biển Việt Nam chủ yếu là những tàu nhỏ phục vụ vận tải ven biển và các tuyến vận tải viễn dương gần. Số liệu thống kê của đội tàu biển Việt Nam được thể hiện trong Bảng 1.16. Bảng 1.20: Số lượng của các công ty vận tải chính TT Công ty vận tải Số lượng tàu Tổng trọng tải (DWT) 1 VOSCO 20 263.327 2 VITRANSCHART 12 157.144 3 VINASHIP 11 66.665 4 VINALINE 5 39.212 5 FALCON 3 73.613 6 XNLHVTB pha công 6 6.230 7 CT vận tải Thủy Bắc 3 5.705 8 INLACO 4 5.705 9 VIETFRACHT 3 17.250 10 VIETRANSTIMEX 2 3.457 Phương hướng phát triển của đội tàu Việt Nam trong những năm tới là tăng nhanh năng lực của đội tàu cả về số lượng và tổng trọng tải. Riêng với Tổng công ty Hàng Hải Việt Nam, sẽ tập trung phát triển đội tàu theo hướng chuyên dùng, hiện đại, phát triển thêm 75 tàu tương đương 938.000 DWT với tổng số vốn là 5.120 tỷ đồng VN. + Thống kê tàu ra vào cảng Đà Nẵng Dung Quất là một cảng mới, do vậy việc nghiên cứu những số liệu thống kê về đội tàu của các cảng trong khu vực lân cận sẽ có ý nghĩa rất lớn trong việc dự báo đội tàu vào cảng. Dưới đây là những số liệu về đội tàu của cảng Đà Nẵng. Theo số liệu thống kê tổng số tàu ra vào cảng Đà Nẵng có xu thế tăng cả về số lượng và tổng trọng tải cũng như về trọng tải bình quân một tàu. Số liệu thống kê tàu hàng khô vào cảng cho thấy: + Tàu lớn nhất ra vào cảng có trọng tải trên 20.000 DWT. + Tàu chở container có trọng tải từ 3.000 DWT ~ 5.000 DWT. + Tàu chở dăm bào, vật liệu xây dựng có trọng tải từ 10.000 ~ 20.000 DWT. Bảng 1.21: Thống kê tàu ra vào cảng Đà Nẵng TT Loại tàu Đơn vị Năm 1998 Năm 2000 1 Tàu nội Số lần cập tàu Lượt 1043 1.336 Tổng trọng tải GRT 1.071.347 1.607.720 DWT 1.558.640 2.395.188 Trọng tải bình quân DWT 1.494 1.792 2 Tàu ngoại Số lần cập tàu Lượt 328 407 Tổng trọng tải GRT 2.049.182 4.181.849 DWT 2.178.040 2.709.869 Trọng tải bình quân DWT 6.640 6.658 3 Toàn bộ Số lần cập tàu Lượt 1.371 1.743 Tổng trọng tải GRT 3.120.528 5.789.569 DWT 3.736.680 5.105.058 Trọng tải bình quân DWT 2.837 2.928 + Dự báo đội tàu ra vào cảng Dung Quất Căn cứ vào cự ly vận tải, hiện trạng và xu thế phát triển của đội tàu vận tải biển trên thế giới, của Việt Nam và của khu vực nghiên cứu, đội tàu ra vào cảng Dung Quất được dự báo như sau: Loại tàu Trọng tải Các kích thước chủ yếu L (m) B (m) T (m) Bách hóa 30.000 186 27,1 10,9 Container 30.000 237 27,1 11,6 1.6. Kết luận về sự cần thiết phải đầu tư Để tạo ra sự chú ý và sức hấp dẫn ban đầu nhằm thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước, ngoài cơ chế chính sách ưu tiên của khu kinh tế mở còn cần đầu tư xây dựng một số cơ sở hạ tầng giao thông vận tải ban đầu để tạo ra một tiền đề về môi trường thuận lợi cho việc xây dựng phát triển khu kinh tế mở trong những giai đoạn đầu tiên. Cảng Dung Quất, đường giao thông nội bộ là những then chốt đầu tiên cần được quan tâm thích đáng. Cảng Dung Quất sẽ đóng một vai trò quan trọng đối với khu vực Trung Trung Bộ. Nó không những đáp ứng nhu cầu phát triển ngày càng cao cả về lượng hàng và quy mô đội tàu ra vào cảng mà cảng khác trong khu vực không thể đáp ứng đủ mà quan trọng hơn nó còn có tác dụng thu hút nhiều hơn lượng hàng ra vào cảng trong khu vực, qua đó thúc đẩy nền kinh tế khu vực phát triển mạnh mẽ hơn và thu hút các nhà đầu tư vào khu vực nhiều hơn. Sau khi thi công xong Đê chắn sóng, Cảng Dung Quất với lợi thế kín sóng gió có thể hình thành và phát triển thành một cảng nước sâu với năng lực thông qua lớn. Đây là công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật đóng vai trò hạt nhân cho sự hình thành và phát triển của khu kinh tế, là cầu nối chủ đạo để trao đổi hàng hóa giữa khu kinh tế với thị trường bên ngoài và ngược lại, thỏa mãn nhu cầu tiếp nhận các cỡ tàu lớn dẫn đến cạnh tranh được về giá thành cũng như chất lượng dịch vụ hoàn hảo. Phát triển cảng Dung Quất là tất yếu khách quan, phù hợp với quy hoạch phát triển chung của tỉnh cũng như của khu kinh tế, đồng thời cũng phù hợp với quy hoạch chi tiết cảng Dung Quất đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Theo kết quả dự báo nhu cầu vận tải thì vào năm 2011 cảng Dung Quất cần phải đạt công suất ít nhất 1.1 triệu tấn/ năm và năm 2020 đạt công suất 2.9 - 4.4 triệu tấn/ năm. Như vậy việc đầu tư Bến số 1 cảng tổng hợp Dung Quất là cần thiết để gánh vác một phần lượng hàng này.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docdoko_vn_345154_thiet_ke_ben_so_1_cang_tong_4466.doc
Luận văn liên quan