Trong chương này, tác giả còn trình bày lôgíc hình thành cá nhân. Theo tác giả, việc
nhận thức về cá nhân cũng rất quan trọng. Bởi, chúng ta có thể thấy, những biến
chuyển trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội thường bắt đầu từ những chuyển biến
trong hoạt động của các cá nhân riêng biệt và của các nhóm xã hội nhỏ, của những
nhóm có phản ứng nhạy cảm nhất đối với sự thay đổi của môi trường xã hội. Tất cả
đều bắt đầu từ con người. Do vậy, vai trò và khả năng của mỗi cá nhân con người là
hết sức to lớn. Mỗi cá nhân con người đều có ảnh hưởng ít nhiều đến kết quả của quá
trình xã hội, đều có đóng góp nhất định cho việc hoàn thiện cuộc sống.
104 trang |
Chia sẻ: lylyngoc | Lượt xem: 4977 | Lượt tải: 2
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Tiểu luận Vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
àng hóa là một
vấn đề mang tính bức thiết và phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử xã hội.
Phải có những nhân tố, điều kiện để cho quá trình đó được thực hiện nhanh và hiệu
quả nhất. Về vấn đề này, các nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa học cũng như
giới nghiên cứu, giảng dạy lý luận của chúng ta đã bàn luận tương đối kỹ.
Phân công lao động xã hội, theo C.Mác, là điều kiện để tồn tại sản xuất hàng hóa.
Trong Tiền công, giá cả và lợi nhuận, ông viết: "để sản xuất ra hàng hóa, người
đó không những phải sản xuất ra một vật phẩm thỏa mãn một nhu cầu xã hội nào
đó, mà bản thân lao động của người đó còn phải hợp thành một bộ phận không
thể tách rời hay một phần của tổng số lao động mà xã hội đã chi phí. Lao động
của người đó phải phục tùng sự phân công lao động trong xã hội"(11). Nhân tố,
điều kiện phân công lao động xã hội để có sản xuất hàng hóa còn được C.Mác lý
giải rõ và cụ thể trong tác phẩm Tư bản. Ở đấy, ông nhấn mạnh: "Muốn cho sản
xuất biến thành hàng hóa thì sự phân công lao động trong xã hội phải phát triển
đến mức mà sự tách rời giữa giá trị sử dụng và giá trị trao đổi, chỉ mới chớm nở
trong việc trao đổi sản phẩm lấy sản phẩm, thì nay phải hoàn thành hẳn"(12).
Thị trường cũng được C.Mác quan niệm là một nhân tố làm xuất hiện sản xuất
hàng hóa. Trong tác phẩm vừa dẫn ở trên, ông viết: "Sự trao đổi sản phẩm khi
các cộng đồng tiếp xúc với nhau và do đó đã dần dần biến những sản phẩm ấy
thành hàng hóa"(13). Như vậy, theo quan điểm của C.Mác, phân công lao động
và thị trường là hai nhân tố cơ bản làm xuất hiện sản xuất hàng hóa. V.I.Lênin
bình luận: "khái niệm "thị trường" hoàn toàn không thể tách rời khái niệm phân
công xã hội được, - sự phân công này, như C.Mác đã nói, là "cơ sở chung của
mọi nền sản xuất hàng hóa""(14).
Thị trường và phân công lao động xã hội là những nhân tố cơ bản làm xuất hiện
sản xuất hàng hóa. Vậy, thị trường và phân công lao động trong nền kinh tế nông
nghiệp cũng sẽ làm cho nền kinh tế này từ không sản xuất hàng hoá trở thành sản
xuất hàng hóa.
Việc coi trọng nhân tố thị trường trong sản xuất hàng hóa nói chung, trong việc
chuyển nền kinh tế nông nghiệp từ tự cấp, tự túc lên sản xuất hàng hóa nói riêng
là hoàn toàn chính xác và hợp lý. Bởi vì, đã có kinh tế hàng hóa thì đồng thời
phải có mua bán, trao đổi sản phẩm, và do vậy, tất yếu phải có thị trường. Với
lôgíc đó, chúng ta thấy học thuyết của I.M.Keynes là khó được sự đồng tình của
nhiều người đọc và không ít nhà nghiên cứu, vì nó đề cao quá đáng vai trò chính
sách kinh tế của nhà nước, như chính sách khuyến khích đầu tư, chính sách thuế
và công trái, chính sách khuyến khích kinh doanh và tiêu dùng cá nhân, và tỏ ra
coi nhẹ tác dụng cùng sự điều chỉnh của cơ chế thị trường(15).
Ở Việt Nam, chủ trương, đường lối của Đảng, sự quản lý và chính sách của Nhà
nước là những nhân tố cực kỳ quan trọng để chuyển nền kinh tế nông nghiệp từ
tự cấp, tự túc lên sản xuất hàng hóa. Đảng ta là đảng duy nhất cầm quyền. Nhà
nước ta là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân và đặt dưới sự lãnh
đạo của Đảng. Sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước đều hướng đến lợi
ích của đất nước và của nhân dân, coi nhân dân là đối tượng phục vụ. Bước
chuyển nền kinh tế nông nghiệp từ tự cấp, tự túc lên sản xuất hàng hóa phải do
nhân dân thực hiện dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước.
A.Smít, nhà kinh tế học nổi tiếng người Anh, đưa ra thuyết "bàn tay vô hình" và
nguyên lý "nhà nước không can thiệp" vào nền kinh tế hàng hóa. Theo ông, nhà
nước chỉ đôi khi có chức năng kinh tế nhất định, như trong trường hợp các vấn
đề kinh tế vượt quá khả năng của một doanh nghiệp(16). Có thể Smít đã đúng
khi ông nói về nhà nước tư sản. Nhưng, quan niệm, lý thuyết của ông rõ ràng là
sự phản ánh sai lầm về vai trò, chức năng của nhà nước nói chung, của nhà nước
xã hội chủ nghĩa nói riêng.
Tài chính là một nhân tố, điều kiện không kém phần quan trọng để chuyển nền kinh
tế nông nghiệp từ tự cấp, tự túc lên sản xuất hàng hóa. Nền kinh tế sản xuất hàng
hóa là nền sản xuất ra sản phẩm để trao đổi, mua bán. Cả mua và bán đều cần tài
chính, tiền bạc, điều này là quá đơn giản, dễ hiểu đối với nhiều người, vì thế, không
cần bàn luận thêm nữa ở đây.
Khoa học, kỹ thuật, công nghệ là một nhân tố quan trọng khác làm cho nền kinh
tế nông nghiệp tự cấp, tự túc chuyển lên sản xuất hàng hóa. Việc áp dụng tiến bộ
khoa học, kỹ thuật, công nghệ vào sản xuất hàng hóa sẽ tạo nên năng suất cao,
sản phẩm nhiều về lượng và tốt về chất, giá thành hạ, hiệu quả và giá trị kinh tế
cao. Xem thường hoặc chưa coi trọng đúng mức vai trò của tiến bộ khoa học,
thiếu quan tâm, chú ý áp dụng, cải tiến kỹ thuật, công nghệ trong sản xuất hàng
hóa nói chung, trong nền kinh tế nông nghiệp sản xuất hàng hóa nói riêng thì
chắc chắn sẽ phải trả giá.
Vậy là, để chuyển kinh tế nông nghiệp từ tự cấp, tự túc lên sản xuất hàng hoá,
cần có những điều kiện cơ bản (phân công lao động xã hội; thị trường; năng lực
tổ chức và quản lý sản xuất, tài chính; tiến bộ khoa học, kỹ thuật, công nghệ…).
Song, vấn đề đặt ra là, những yếu tố ấy không tự xuất hiện. Chính sự phát triển
của lực lượng sản xuất mới làm cho sản xuất phát triển. Sản xuất phát triển mới
dẫn đến phân công lao động xã hội và đòi hỏi ứng dụng khoa học, kỹ thuật, công
nghệ hiện đại vào sản xuất. Sản xuất phát triển mới làm ra nhiều của cải vật chất
dư thừa để đem bán, trao đổi ngoài phần phục vụ nhu cầu trực tiếp của người sản
xuất. Do vậy, thị trường ra đời. Bởi vậy, cần đặc biệt chú ý phát triển lực lượng
sản xuất trong kinh tế nông nghiệp. Đó phải được coi là nền tảng cho bước
chuyển của lĩnh vực hoạt động kinh tế này từ tự cấp, tự túc sang sản xuất hàng
hoá. Ở Việt Nam, điều kiện này càng đặc biệt quan trọng.
Tóm lại, để có sản xuất hàng hoá nói chung và sản xuất nông nghiệp hàng hoá
nói riêng, ngoài việc phát triển các nhân tố cơ bản như phân công lao động xã
hội, thị trường, quản lý, tài chính, áp dụng khoa học, kỹ thuật và công nghệ,
chúng ta còn cần phải đặt lên hàng đầu nhiệm vụ phát triển lực lượng sản xuất
trong nông nghiệp. Đó là tiền đề cực kỳ quan trọng, là điều kiện của điều kiện đã
bàn ở đây./.
(*) Nghiên cứu viên, Tạp chí Lý luận chính trị, Học viện Chính trị - Hành chính
Quốc gia Hồ Chí Minh.
(1) C.Mác và Ph.Ăngghen. Toàn tập, t.16. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
1997, tr.170.
(2) C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.20, tr.378.
(3) C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.20, tr.427.
(4) Xem: C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.21, tr.168.
(5) V.I.Lênin. Toàn tập, t.43. Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1978, tr.187 - 188.
(6) C.Mác và Ph.Ăngghen. Toàn tập, t.23. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
1993, tr.221.
(7) C.Mác và Ph. Ăngghen. Sđd., t.22, tr.425 - 426.
(8) C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.20, tr.378.
(9) C.Mác và Ph. Ăngghen. Sđd., t.25, ph.II, tr.524.
(10) Xem: Khoa Kinh tế chính trị Trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương.Kinh tế
chính trị Mác - Lênin, t.II. Nxb Sách giáo khoa Mác - Lênin, Hà Nội,1976, tr.370
- 371.
(11) C.Mác và Ph.Ăngghen. Toàn tập. Sđd., t.16, tr.170.
(12) C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.23, tr.254.
(13) C.Mác và Ph.Ăngghen. Sđd., t.23, tr.511.
(14) V.I.Lênin. Toàn tập. Sđd., t.1, tr.114.
(15) Xem: Nguyễn Đình Hợi (chủ biên). Kinh tế nông nghiệp. Nxb Tài chính, Hà
Nội, 1997, tr.164.
(16) Nguyễn Đình Hợi (chủ biên). Sđd., tr.163
LUDWIG JOSEF JOHANN WITTGENSTEIN (1889 – 1951) “CHA TINH
THẦN” CỦA TRIẾT HỌC PHÂN TÍCH
LƯƠNG MỸ VÂN (*)
L.Wittgenstein - nhà triết học người Áo, sau đổi sang quốc tịch Anh, là một trong
những triết gia đã để lại dấu ấn riêng trong thế kỷ XX, người đặt nền móng cho
“bước ngoặt ngôn ngữ” trong lịch sử triết học phương Tây hiện đại và giữ vai trò đặc
biệt trong triết học phân tích và triết học ngôn ngữ. Mỗi chuyển biến trong tư tưởng
của ông đều điển hình cho bước chuyển của chính các trào lưu triết học này. Điều đó
làm cho Wittgenstein trở thành tấm gương độc nhất vô nhị trong việc tự vượt bỏ và
phát triển tư tưởng của mình; và cũng lý giải – một phần – cho sức thu hút của ông
đối với các nhà triết học trong trào lưu phân tích nói riêng, các nhà nghiên cứu hậu
sinh nói chung.
L.Wittgenstein sinh ngày 26 tháng 4 năm 1889, tại Vienna, trong một gia đình
thượng lưu người Áo – cha là người đứng đầu ngành công nghiệp luyện thép của đế
quốc Áo - Hung, mẹ là một nghệ sĩ dương cầm có tiếng. Năm 1906, Wittgenstein bắt
đầu học ngành kỹ sư cơ khí ở Berlin; năm 1908, đến Manchester tiếp tục theo học kỹ
sư chuyên ngành hàng không. Tại đây, “ông bắt đầu chú ý đến những nguyên tắc triết
học của toán học mà ngành học của ông phải dựa vào. Một người bạn cho ông mượn
cuốn Những nguyên lý của toán học của B.Russell viết năm 1903 và tác phẩm này đã
đưa ông vào sự nghiệp nghiên cứu triết học”(1). Từ những mô tả trong cuốn sách về
những tư tưởng triết học và lôgíc học của Gottlob Frege, Wittgenstein đã tìm đến
Frege ở Jena (Đức). Theo lời khuyên của Frege, ông quay lại Anh, đến Đại học
Cambridge để theo học Russell. Rất nhanh chóng, Russell – lúc đó đã là nhà triết học
nổi tiếng – nhận ra và hết sức đề cao khả năng của Wittgenstein trong lĩnh vực triết
học: “Tôi chắc chắn sẽ khuyến khích anh ta. Có lẽ anh ta sẽ làm nên những điều vĩ
đại… Tôi rất mến anh ta và cảm thấy anh ta sẽ giải quyết được những vấn đề mà tôi
đã quá già để giải quyết”(2).
Trên thực tế, Wittgenstein không theo học triết học một cách có hệ thống. Thậm chí,
ông còn cố gắng để không chịu tác động của những nhà triết học đi trước (tác phẩm
lớn nhất của ông ở thời kỳ đầu - Chuyên luận lôgíc – triết học (Tractatus Logico-
Philosophicus) đã thể hiện rất rõ điều ấy). Nhưng người ta vẫn có thể nói đến những
tác gia - trong triết học và các lĩnh vực nhân văn khác - mà Wittgenstein đã tiếp nhận
ảnh hưởng: Frege, Russell, Schopenhauer, Kierkegaard, Augustine, Dostoevsky,
Tolstoi, Goethe, v.v..
Năm 1914, Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ, Wittgenstein gia nhập quân đội Áo
– Hung. Năm 1918, ông bị quân Ý bắt làm tù binh. Trước đó, ông đã hoàn
thành Tractatus và đưa đến nhà xuất bản nhưng bị từ chối. Trong thời gian bị giam,
ông gửi tác phẩm cho Russell. Russell nhận thấy đây là một tác phẩm triết học đặc
biệt quan trọng và dưới sự giúp đỡ của ông, Tractatus đã được xuất bản vào năm
1921, sau đó bản dịch tiếng Anh cũng được xuất bản vào năm 1922, với lời giới thiệu
của Russell.
Tractatus nhanh chóng trở nên nổi tiếng và cùng với nó là tên tuổi của tác giả. Được
coi là tác phẩm đánh dấu một giai đoạn phát triển quan trọng của triết học phân
tích, Tractatus đã nêu ra và giải quyết hàng loạt vấn đề triết học quan trọng – vấn đề
quan hệ giữa thế gian và tư tưởng, vấn đề ngôn ngữ, vấn đề bản chất của chính triết
học, v.v.. Tác phẩm này của Wittgenstein được nhóm Vienna (với các nhà triết học
M.Schlick, G.Bergmann, R.Carnap, K.Godel, F.Waismann…) coi như “kinh thánh”
và bản thân ông thì được xem như một trong những triết gia lỗi lạc đương thời.
Sau Tractatus, Wittgenstein từ bỏ triết học, vì tự cho rằng đã giải quyết triệt để tất cả
các “vấn nạn triết học” trong tác phẩm của mình. Trong khoảng thời gian từ 1919
(khi được trả tự do) đến 1929, ông không quay lại Cambridge mà về nước Áo, làm
nhiều nghề khác nhau: giáo viên tiểu học, người làm vườn. Sau đó, ông tham gia thiết
kế nhà cho người chị gái và trong thời gian ấy đã có những tác động khiến ông thay
đổi: ông gặp gỡ với những nhà triết học thuộc nhóm Vienna. Khi tham gia tranh luận
với họ, hứng thú triết học dần quay trở lại với Wittgenstein, đồng thời với việc ông
cảm thấy nhiều quan điểm của mình trước đây chưa đầy đủ và việc giải quyết các
“vấn nạn triết học” là chưa triệt để.
Năm 1929, Wittgenstein trở lại Cambridge với ý định thực hiện tiếp tục công việc
mà Tractatus chưa hoàn thành. Nhưng, rất nhanh sau đó, ông nhận thấy không phải
những giải pháp của Tractatus chưa triệt để, mà bản thân nó là sai lầm. “Khi bắt đầu
suy nghĩ lại về những vấn đề của Tractatus, Wittgenstein nhận ra mình buộc phải
đánh đổ càng nhiều càng tốt những giả định triết học của nó. Chỉ trong vòng vài
tháng [sau khi trở lại Cambridge], cái cấu trúc công phu của Tractatusđã sụp đổ như
toà nhà bằng giấy. Nhưng sự sụp đổ đó không làm cho Wittgenstein rơi vào bi quan;
ngược lại, dường như nó lại mở tung cửa cho những tư tưởng hoàn toàn mới. Có lẽ,
không có giai đoạn nào trong đời Wittgenstein mà những ý tưởng đến với ông nhanh
chóng và dồi dào đến thế. Khi từ bỏ những giả định trong Tractatus, ông thể nghiệm
hàng loạt những đường lối triết học khác nhau”(3). Sau những thể nghiệm đó,
Wittgenstein đi đến những quan niệm được coi là đánh dấu bước ngoặt cho triết học
của ông nói riêng, trào lưu triết học phân tích nói chung. Những quan điểm ấy được
thể hiện tập trung nhất trong Những nghiên cứu triết học mà do nhiều nguyên nhân
khác nhau, đã chỉ được xuất bản sau khi ông qua đời.
Trên thực tế, Tractatus dường như là tác phẩm duy nhất được xuất bản khi
Wittgenstein còn sống. Nhưng không phải qua những tác phẩm mà tiếng tăm của
Wittgenstein được định hình: trở lại Cambridge, từ 1930 đến 1936, ông hướng dẫn
các buổi seminar của sinh viên; 1939, ông được cử giữ chức giáo sư đại học. Ông
hoạt động ở cương vị đó đến 1947, với một vài gián đoạn do Chiến tranh thế giới thứ
II (1941 – 1945). Sau 1947, ông từ chức giáo sư và sống ở nhiều nơi – Ai len, Mỹ.
Năm 1951, ông quay lại Cambridge và qua đời ở đó (ngày 29-4-1951). Trong suốt
thời gian này, Wittgenstein đã nổi tiếng với tư cách nhà triết học hàng đầu của trào
lưu phân tích. Các bài giảng và những cuộc tiếp xúc với các triết gia trong giới đại
học đã đưa ảnh hưởng của Wittgenstein lan rộng mà không có các tác phẩm trực tiếp
của ông. Chỉ đến năm 1953, Những nghiên cứu triết học mới được xuất bản; sau đó
hàng loạt các tác phẩm khác trong di sản tư tưởng đồ sộ của Wittgenstein đã được
công bố rộng rãi, góp phần khẳng định tầm quan trọng của ông trong lịch sử triết học
phương Tây hiện đại.
Các tác phẩm chính của Wittgenstein: ngoài Tractatus (1921) và Những nghiên cứu
triết học (1953), cho đến nay, đã có những tác phẩm quan trọng sau đây được xuất
bản:
Những nhận xét về nền tảng của toán học (1956); Sách xanh, Sách nâu(1958); Nhật
ký 1914 – 1916 (1961); Những nhận xét triết học (1964); Bài giảng và đàm luận về
mỹ học, tâm lý học và niềm tin tôn giáo (1966);Những nhận xét về nền tảng của toán
học (1967); Về tính xác tín (1969);Ngữ pháp triết học (1969); Prototractatus (tiền
Tractatus) (1971); Những nhận xét về màu sắc (1977); Những nhận xét về triết học
của tâm lý học(1980).
Những tư tưởng cơ bản của Wittgenstein
Quá trình phát triển tư tưởng của Wittgenstein thường được chia thành 2 thời kỳ, thời
sơ kỳ với Chuyên luận lôgíc – triết học (Tractatus) và thời hậu kỳ mà tiêu biểu
là Những nghiên cứu triết học.
1. Wittgenstein sơ kỳ và Tractatus
Tractatus là một tác phẩm triết học rất ngắn và có hình thức khác thường. Nó bao
gồm các lời phát biểu (các mệnh đề) được đánh số thứ tự theo một trật tự nghiêm
ngặt. Hình thức này đã làm cho tác phẩm, nhìn một cách tổng thể, có một cấu trúc rất
chặt chẽ. Nếu có thể ví như cái cây, thì Tractatus bao gồm 7 nhánh lớn – những
mệnh đề chính, được đánh số từ 1 đến 7; trên mỗi nhánh là những nhánh con – những
mệnh đề bổ sung cho các mệnh đề chính, được đánh số theo thứ tự 1.2, 1.3, 2.21,
2.211, v.v.. Chỉ riêng mệnh đề thứ 7 không có mệnh đề bổ sung. 7 mệnh đề cơ bản
của Tractatus như sau(4):
1. Thế giới là toàn bộ những gì là hoàn cảnh.
2. Cái là hoàn cảnh - sự kiện – là sự tồn tại của những trạng huống sự việc.
3. Một bức tranh lôgíc về những sự kiện là một tư tưởng.
4. Một tư tưởng là một mệnh đề với ý nghĩa.
5. Một mệnh đề là một hàm bảo thực của các mệnh đề sơ đẳng (Một mệnh đề sơ đẳng
là hàm bảo thực của chính nó).
6. Hình thức chung của một hàm bảo thực là [p, ợ, N(ợ)]. Đó là hình thức chung của
một mệnh đề.
7. Cái mà ta không nói lên được thì nên đưa nó vào im lặng.
Luận thuyết trung tâm trong tác phẩm là “luận thuyết mô phỏng về ý nghĩa”, thông
qua đó Wittgenstein trình bày quan điểm về mối quan hệ giữa thế giới (thực tại), tư
tưởng và ngôn ngữ. Diễn giải cụ thể về nội dung của luận thuyết này trong tác phẩm,
chúng tôi xin trích ra đây những phân tích của Anat Biletzki và Anat Matar viết trong
mục từ “Wittgenstein” của Bách khoa triết học Stanford online:
“Bắt đầu với một siêu hình học bề ngoài, Wittgenstein coi thế giới như là bao gồm
những sự kiện (mệnh đề 1), khác với quan niệm nguyên tử luận và mang tính truyền
thống, coi thế giới như là được tạo thành bởi những đối tượng. Sự kiện là những
trạng huống sự việc hiện thời (2) và trạng huống sự việc, đến lượt mình, lại là sự kết
hợp của những đối tượng (đơn thể). Những đơn thể có thể phù hợp với nhau theo
nhiều cách xác định. Chúng có thể có rất nhiều thuộc tính và nhiều mối quan hệ khác
nhau với nhau. Nghĩa là, những thuộc tính nội tại của một đơn thể quyết định tính
khả thể của sự phối hợp của đơn thể đó với những đơn thể khác; đó là hình thức lôgíc
của nó. Vì vậy, các trạng huống sự việc, bao gồm các đơn thể trong sự phối hợp, có
tính phức tạp cố hữu. Những trạng huống của sự việc đang tồn tại có thể đã tồn tại
theo một cách khác. Điều đó có nghĩa rằng, những trạng huống sự việc hoặc là đang
hiện thế (đang tồn tại) hoặc là có tính khả thể. Toàn bộ những trạng huống sự việc -
hiện thế và khả thể - cấu thành toàn bộ thực tại. Như vậy, thế giới chính là những
trạng huống sự việc đang tồn tại.
Sự chuyển dịch vào tư tưởng, và sau đó vào ngôn ngữ, được thể hiện qua ý tưởng nổi
tiếng của Wittgenstein rằng, các tư tưởng và các mệnh đề là những bức tranh – “bức
tranh là một mẫu hình của thực tại” (Tractatus, 2.12). Những bức tranh được tạo
thành bởi các yếu tố (element) cấu thành nên bức tranh. Mỗi yếu tố đại diện cho một
đơn thể và sự kết hợp của những đơn thể trong bức tranh đại diện cho sự phối hợp
của các đơn thể trong một trạng huống sự việc. Cấu trúc lôgíc của bức tranh, dù trong
tư tưởng hay trong ngôn ngữ, là đẳng cấu với cấu trúc lôgíc của trạng huống sự việc
là cái mà nó mô phỏng. Điểm tinh tế là sự sáng suốt của Wittgenstein khi cho rằng,
tính khả thể của cấu trúc này được chia sẻ bởi bức tranh (tư tưởng, mệnh đề) và trạng
huống sự việc là hình thức mang tính hình ảnh. “Bởi vậy mà bức tranh dính liền với
thực tại; nó vươn thẳng tới thực tại” (Tractatus 2.1511). Điều này dẫn tới một cách
hiểu về cái mà bức tranh có thể mô phỏng; nhưng cũng dẫn tới cách hiểu về cái mà
bức tranh không thể mô phỏng – hình thức mang tính hình ảnh của chính nó.
Khi “bức tranh lôgíc về sự kiện chính là tư tưởng” (3), trong sự dịch chuyển vào
ngôn ngữ, Wittgenstein tiếp tục nghiên cứu những tính khả thể của ý nghĩa đối với
những mệnh đề (4). Sự phân tích lôgíc, trong tinh thần [các tác phẩm] của Frege và
Russell, đã dẫn dắt tác phẩm, với việc Wittgenstein sử dụng những phép toán lôgíc
để thực hiện việc xây dựng hệ thống của mình. Khi giải thích rằng “chỉ có mệnh đề là
có nghĩa; chỉ có trong ngữ cảnh của một mệnh đề thì tên gọi mới có ý nghĩa”
(Tractatus 3.3), ông đã cung cấp cho người đọc hai điều kiện để ngôn ngữ có thể có
nghĩa. Thứ nhất, cấu trúc của mệnh đề phải y theo những hạn chế của hình thức
lôgíc; và thứ hai, những yếu tố của mệnh đề phải có chỉ xưng (bedeutung). Những
điều kiện này có hàm ý sâu xa. Sự phân tích buộc phải đẩy đến cùng với một tên gọi
vốn là một biểu tượng nguyên thuỷ và nó được diễn tả bởi tính cách vô cùng trừu
tượng của cả tên gọi lẫn đơn thể (đơn giản). Hơn nữa, bản thân lôgíc đem đến cho
chúng ta cấu trúc và những giới hạn của cái ít nhất có thể nói lên.
Lôgíc dựa trên quan điểm rằng mọi mệnh đề đều hoặc đúng hoặc sai. Tính hai cực
này của những mệnh đề cho phép cấu tạo những mệnh đề phức tạp hơn từ những
mệnh đề nguyên tử bằng cách sử dụng toán tử về hàm bảo thực (truth-functional
operators) (5). Wittgenstein dẫn ra, trong Tractatus, biểu đạt đầu tiên của lôgíc Frege
trong hình thức đã được biết đến - “bảng chân lý” (truth-tables). Việc này cung cấp
những cách thức để quay lại phân tích mọi mệnh đề thành những thành phần nguyên
tử của chúng, bởi “mọi phát biểu về những phức hợp (complex) đều có thể phân tích
thành một phát biểu về những thành phần cấu thành của chúng và thành những mệnh
đề mô tả một cách toàn diện những phức hợp đó” (Tractatus 2.0201). Ông còn đào
sâu vấn đề hơn nữa bằng cách sau đó, cung cấp hình thức chung của một mệnh đề
(6). Hình thức đó [ , , N( )] sử dụng một phép toán bình thường (N( )) và một biến số
mệnh đề ( ) để diễn tả nhận định của Wittgenstein rằng, mọi mệnh đề “là kết quả của
những ứng dụng liên tiếp” của những phép toán lôgíc đối với những mệnh đề sơ
đẳng.
Phát triển sự phân tích đó đối với bộ ba thế giới – tư tưởng – ngôn ngữ và dựa vào
một hình thức chung của mệnh đề, Wittgenstein đến đây đã có thể khẳng định rằng,
mọi mệnh đề có nghĩa đều có cùng giá trị. Sau đó, ông đi đến kết luận với lời cảnh
báo về cái có thể (hay không thể) và cái nên (hay không nên) nói ra (7), bước ra khỏi
địa hạt của những mệnh đề có thể nói lên của đạo đức học, mỹ học và siêu hình
học”(5).
Một nội dung quan trọng khác của Tractatus là bản thân việc phân tích mệnh đề - để
phân biệt mệnh đề có nghĩa và mệnh đề vô nghĩa. Việc phân tích này xuất phát từ
những nghiên cứu về khả năng mô phỏng thế giới của mệnh đề để dẫn đến những kết
luận sâu xa hơn về bản chất của triết học.
“Cái chung nhất giữa mệnh đề và tình huống là hình thức lôgíc, mà hình thức lôgíc
cũng là cái quyết định nghĩa (sense) của mệnh đề. Nghĩa của mệnh đề chính là tình
huống mà mệnh đề đó biểu đạt. “Thay vì nói “mệnh đề này có nghĩa như thế này hay
thế nọ”, chúng ta chỉ cần đơn giản nói “mệnh đề này biểu đạt một tình huống như
vậy” (Tractatus 4.031). Như vậy, theo cách nói của Wittgenstein, chỉ có những mệnh
đề của ngôn ngữ biểu đạt được thực sự những sự vật của thực tại có thể kết hợp với
nhau như thế nào mới là những mệnh đề có nghĩa, bởi vì nghĩa chỉ gắn với mệnh đề
khi mệnh đề là những hình hoạ (bức tranh) của thực tại mô tả các tình huống có thể
có”(6). Nghĩa là, theo Wittgenstein, mệnh đề có nghĩa chỉ là những mệnh đề của khoa
học tự nhiên; còn những mệnh đề loại khác đều bị loại ra khỏi phạm vi “có nghĩa”.
Trong quan điểm của Wittgenstein, những mệnh đề không nằm trong phạm vi “có
nghĩa” thì hoặc là vô nghĩa (senseless) hoặc là phi ý nghĩa (nonsense). Những mệnh
đề vô nghĩa gồm có những mệnh đề lôgíc – chúng “không đại diện cho các trạng
huống sự việc và những hằng số lôgíc không đại diện cho những đơn thể. “Tư tưởng
căn bản của tôi là những hằng số lôgíc không đại diện (cho cái gì hết).
Rằng, lôgíc của các sự kiện không thể được đại diện” (Tractatus 4.0312)”(7). Ngoài
ra, còn có những mệnh đề mà không đại diện cho các trạng huống sự việc, như toán
học, hoặc “bản thân hình thức mang tính hình ảnh của bức tranh mà hình thức đó đại
diện”, đều là những cái không thể được đại diện, chúng là những mệnh đề vô nghĩa,
tức là không có ý nghĩa.
Ngoài các mệnh đề vô nghĩa, Wittgenstein còn phân biệt những mệnh đề phi ý nghĩa
(nonsense) – không phải là vô nghĩa, mà “vượt quá ranh giới của ý nghĩa”, tìm cách
nói lên những gì không thể nói lên được. Những mệnh đề triết học (của khoa siêu
hình học truyền thống, của quan điểm “cái tôi” trong thuyết duy ngã, của đạo đức
học, của mỹ học, v.v.) là những mệnh đề thuộc loại này. Nhưng, phi ý nghĩa không
phải là đáng loại bỏ. Ở đây, Wittgenstein đã đưa ra quan điểm về “nói lên” và “thể
hiện ra”. Những mệnh đề phi ý nghĩa chỉ có thể thể hiện ra chứ không thể được nói
lên. “Cái có thể được thể hiện ra thì không thể nói lên được” (Tractatus 4.1212).
Những lập luận trên đã dẫn đến những kết luận về triết học, như: “Hầu hết các mệnh
đề và các câu hỏi trong các tác phẩm triết học không sai mà là phi ý nghĩa. Do vậy, ta
không thể có câu trả lời cho những câu hỏi thuộc loại ấy, mà chỉ có thể chỉ ra rằng
chúng phi ý nghĩa. Hầu hết các mệnh đề và các câu hỏi của các nhà triết học xuất
phát từ sự sai lầm của chúng ta trong việc hiểu về lôgíc của ngôn ngữ của chúng ta.
(…) Và không đáng ngạc nhiên khi những vấn đề sâu xa nhất thực chất lại không
phải là vấn đề gì hết” (Tractatus 4.003); “Triết học không phải là một môn khoa học
tự nhiên. Từ ngữ “triết học” phải biểu đạt một cái gì đứng trên hoặc dưới, chứ không
phải đứng cạnh các khoa học tự nhiên” (Tractatus 4.111). “Hầu hết các mệnh đề và
câu hỏi trong triết học là phi ý nghĩa”. Vậy, triết học để làm gì (triết học có còn cần
thiết nữa hay không)? Câu trả lời của Wittgenstein là một sự nhìn nhận lại bản chất
của triết học: “Triết học không phải là một lý thuyết, mà là một hành động”
(Tractatus 4.112), một hành động lọc gạn (bằng công cụ lôgíc) làm sáng tỏ tư tưởng.
“Triết học không có kết quả là “các mệnh đề triết học” mà đúng hơn là sự làm sáng
tỏ các mệnh đề. Không có triết học, tư tưởng, như nó đã từng là thế, mù mờ và tối
nghĩa: nhiệm vụ của triết học là làm cho chúng trở nên sáng tỏ và đưa lại cho chúng
những ranh giới rõ ràng” (Tractatus 4.112).
Một mặt, quan điểm như vậy về triết học có một ý nghĩa sâu xa – nó phủ nhận tính
chất giáo điều của triết học truyền thống, điều này được đánh giá là một bước tiến
trong quá trình xem xét lại bản chất của triết học. Mặt khác, nó lại làm cho bản
thân Tractatus phải đối mặt với nguy cơ rơi vào tình trạng “phi ý nghĩa”. Bởi “những
khái niệm mà Tractatus sử dụng – những khái niệm triết học - lôgíc – không thuộc về
thế giới và vì thế không thể được sử dụng để diễn đạt bất cứ cái gì có nghĩa”(8).
Wittgenstein đã “giải quyết” tình trạng này bằng ẩn dụ về cái thang ở những câu cuối
cùng của tác phẩm: “Những mệnh đề của tôi được đưa ra với tư cách những giải thích
theo nghĩa sau: ai hiểu tôi rốt cuộc sẽ thấy rằng chúng là phi ý nghĩa, khi anh ta đã sử
dụng chúng – như những bậc thang – để leo lên trên chúng. (Anh ta phải, có thể nói
như vậy, vứt cái thang đi sau khi đã dùng nó để leo lên cao). Anh ta phải vượt qua
những mệnh đề đó và từ đó, có thể nhìn rõ thế giới” (Tractatus 6.54).
Có thể nói, Tractatus đã bao quát toàn bộ tư tưởng của Wittgenstein thời sơ kỳ.
Chính ông – sau khi xuất bản tác phẩm – đã coi nó như sự giải quyết triệt để mọi
“vấn nạn triết học” và không còn việc gì để làm trong triết học nữa. Tuy nhiên, rốt
cuộc, Wittgenstein đã không dừng lại ở Tractatus. Càng về sau, ông càng nhận
thấy Tractatus có những thiếu sót, rồi những sai lầm xuất phát từ chính những giả
định đầu tiên của nó. Ông đã đi đến phủ nhận tác phẩm này của mình và trên cơ sở
phá huỷ những nền tảng của Tractatus mà xây dựng những quan điểm hoàn toàn mới.
Điều này tạo nên giai đoạn thứ hai trong tiến trình tư tưởng của Wittgenstein, được
đại diện bởi Những nghiên cứu triết học.
2. Wittgenstein hậu kỳ và Những nghiên cứu triết học
Những nghiên cứu triết học được xuất bản vào năm 1953, bao gồm hai phần. Phần I
do chính Wittgenstein hoàn thiện, được dự định phát hành năm 1946 nhưng sau đó,
ông lại đề nghị huỷ việc in. Phần II do những người biên tập – những người được uỷ
thác trông coi và khai thác di sản của Wittgenstein – thêm vào.
Trong Lời nói đầu (viết năm 1945), Wittgenstein viết: “Trong 4 năm qua, tôi đã có
điều kiện đọc lại tác phẩm đầu tiên của mình (Tractatus Logico-Philosophicus) và giải
thích những tư tưởng của nó. Sau đó, tôi chợt nghĩ rằng, mình nên công bố những tư
tưởng trước đây cùng với những tư tưởng mới, bởi những tư tưởng mới chỉ có thể
được xem xét rõ ràng khi được đặt trên và trong sự đối lập với phông nền những cách
thức suy nghĩ cũ”(9). Quả vậy, hầu hết nội dung phần I củaNhững nghiên cứu triết
học đều dựa trên sự phê phán đối với những quan điểm trong Tractatus. “Wittgenstein
nghĩ rằng, trong tác phẩm trước kia của mình, như những nhà triết học khác, ông đã
đơn giản hoá quá mức mối quan hệ giữa ngôn ngữ và thế giới. Liên kết ngôn ngữ và
thế giới đã chỉ được đặt trên hai điểm chủ yếu: liên kết giữa tên gọi và đơn thể và sự
đối xứng hay phi đối xứng giữa mệnh đề và sự kiện. Ông đi đến nhận xét rằng, điều
này là một sai lầm nghiêm trọng”(10), mang nặng tính hình thức và bỏ qua những
khía cạnh đặc biệt quan trọng khác của ngôn ngữ - khả năng giao tiếp, bối cảnh hoạt
động người, văn hoá… Phủ nhận những tư tưởng của chính mình trong Tractatus, phủ
nhận cả hệ thống những thuật ngữ được sử dụng trong tác phẩm đó (sự kiện, sự kiện
nguyên tử, mệnh đề sơ đẳng, đơn tố, đơn thể, trạng huống sự việc, v.v.), Wittgenstein
đã xây dựng những quan niệm mới dựa trên những thuật ngữ cũng hoàn toàn mới.
Vấn đề ngữ nghĩa (của mệnh đề trong ngôn ngữ) và trò chơi ngôn ngữ
Nếu như trong Tractatus, Wittgenstein nói về nghĩa của mệnh đề trong ngôn ngữ với
tư cách sự đại diện, nghĩa của mệnh đề được quan niệm: “Chỉ có mệnh đề là có nghĩa;
chỉ có trong ngữ cảnh của một mệnh đề thì tên gọi mới có ý nghĩa” (Tractatus 3.3), thì
trong Những nghiên cứu triết học, vấn đề ngữ nghĩa được xem xét từ một cái nhìn
rộng rãi hơn nhiều: “Đối với phần lớn các trường hợp – dù không phải là toàn bộ - mà
trong đó, chúng ta sử dụng từ “ngữ nghĩa” thì nó phải được định nghĩa: ngữ nghĩa của
một từ là việc sử dụng nó trong ngôn ngữ”(11). Rõ ràng, đây là một bước ngoặt trong
việc nghiên cứu vấn đề ngữ nghĩa của mệnh đề. Việc cho rằng chỉ trong quá trình sử
dụng ngữ nghĩa của từ mới được xác định đã khiến cho ngữ nghĩa mở rộng hơn, đa
dạng hơn rất nhiều. “Khi tìm hiểu nghĩa, nhà triết học buộc phải “nhìn và thấy” sự đa
dạng của việc sử dụng từ trong ngữ cảnh của nó (…). Trong việc tạo nghĩa cho một từ,
mọi sự tổng quát hoá mang tính giải thích đều bị thay thế bởi sự mô tả về việc sử
dụng”(12). Không có tổng quát hoá mà chỉ còn mô tả, đó là một cách thức đấu tranh
với những tín điều triết học – theo quan điểm của Wittgenstein. Việc mô tả sự đa dạng
của việc sử dụng từ (và mệnh đề) với tư cách ngữ nghĩa của từ (và mệnh đề) đã dẫn
đến quan niệm của Wittgenstein về “trò chơi ngôn ngữ”. Trung thành với quan điểm
không tổng quát hoá, Wittgenstein không đưa ra bất cứ định nghĩa cố định nào về trò
chơi ngôn ngữ, mà chỉ trở đi trở lại với nó thông qua hàng loạt những ví dụ và bình
phẩm. A.Kenny đã viết về trò chơi ngôn ngữ trong tư tưởng của Wittgenstein như sau:
“Wittgenstein đưa ra những ví dụ cho trò chơi ngôn ngữ: thực hiện và ra mệnh lệnh,
mô tả sự xuất hiện của đối tượng, diễn đạt cảm xúc, đo lường, xây dựng một đối tượng
dựa trên sự mô tả về nó, tường thuật lại một sự kiện, suy xét về một sự kiện, bịa ra
một câu chuyện, đóng kịch, đoán những câu đố, kể chuyện cười, hỏi, nguyền rủa, chào
đón, cầu nguyện. Ông cũng nói về trò chơi ngôn ngữ bằng rất nhiều từ ngữ khác nhau.
Wittgenstein không đề xuất một học thuyết chung nào về trò chơi ngôn ngữ: việc sử
dụng thuật ngữ này chỉ mang ý nghĩa nhấn mạnh rằng từ ngữ không thể được hiểu ở
bên ngoài ngữ cảnh chúng được sử dụng. Trong việc đưa lại một sự mô tả về nghĩa
của một từ, chúng ta cần tìm kiếm cái vai trò mà nó đóng trong cuộc sống của chúng
ta. Việc sử dụng thuật ngữ “trò chơi” không phải để ám chỉ rằng ngôn ngữ là một thứ
gì đó tầm thường, mà từ này được chọn vì trò chơi bộc lộ cùng một kiểu đa dạng mà
các hoạt động ngôn ngữ bộc lộ. Nhiều trò chơi có tính cạnh tranh, nhiều trò khác thì
không; nhiều trò chơi có luật chơi, nhiều trò khác có tính tự phát; nhiều trò chơi với
bóng, nhiều trò chơi trên các loại bàn khác nhau; nhiều trò chơi đòi hỏi kỹ năng, nhiều
trò không. Không có điểm chung nào biểu thị trò chơi với tư cách trò chơi; mà đúng
hơn, các trò chơi khác nhau chia sẻ những đặc điểm khác nhau, giống như những
thành viên khác nhau trong một gia đình có những điểm tương tự nhau không phải
theo một cách duy nhất, mà theo rất nhiều cách. Tương tự như thế, không có một đặc
điểm mang tính bản chất cho ngôn ngữ; chỉ có sự tương tự như trong gia đình giữa vô
số những trò chơi ngôn ngữ”(13).
Sự tuân thủ quy tắc
Ngoài việc “chia sẻ những điểm tương tự mang tính gia đình” với nhau, các trò chơi
ngôn ngữ trong quan điểm của Wittgenstein còn có những đặc tính khác: tính xã hội
và tính hiện diện của luật lệ (khái niệm “trò chơi ngôn ngữ” chứa đựng đặc điểm tuân
thủ quy tắc của ngôn ngữ). “Ngữ nghĩa của từ được định đoạt bởi các quy tắc ngữ
pháp giống như là luật chơi trong trò chơi ngôn ngữ đó. Các quy tắc ngữ pháp hay
“luật chơi” này thể hiện tính xã hội của trò chơi ngôn ngữ, vì chúng đòi hỏi những
người tham dự vào trò chơi này trong quá trình chơi (hay sử dụng ngôn ngữ) phải
thường xuyên nhất trí (về luật chơi) với nhau để có thể tiến hành trò chơi một cách
nhất quán. Bởi khi tham dự vào một hoạt động có sự hiện diện của luật lệ thì phải
chấp nhận rằng, trong hoạt động đó có những cách thức được quy định (được coi là
hợp lệ) để duy trì và thực thi hoạt động đó. Tương tự như vậy, trong ngôn ngữ có sự
hiện diện của luật lệ, mà để có thể tham dự được, người ta phải tuân thủ theo luật chơi.
Nếu như không có các chuẩn mực xã hội xác định ngữ nghĩa của ngôn từ thì chúng ta
không thể tiếp nhận được ngữ nghĩa của ngôn từ từ những thành viên khác trong xã
hội hay cộng đồng để duy trì hoạt động giao tiếp cũng như các hoạt động sống khác.
Ngữ nghĩa của ngôn từ, theo Wittgenstein, được quy định bởi các cách sử dụng và
thực tiễn sử dụng đã được chấp nhận và trở thành quy chuẩn trong thực tế hoạt động
của cộng đồng cụ thể của con người”(14).
Nhưng khi nói đến “quy tắc” thì dường như, quan điểm của Wittgenstein bị rơi vào
một mâu thuẫn: ở trên, ông đã theo lập trường chống chủ nghĩa giáo điều triệt để,
thậm chí đã không đặt ra định nghĩa cho khái niệm mang tính then chốt nhất là “trò
chơi ngôn ngữ”, mà ở đây lại cho rằng không thể không có quy tắc. Thật ra, vấn đề
nằm ở chỗ quy tắc được Wittgenstein xem xét lại không giống như quy tắc theo quan
điểm truyền thống. Theo quan điểm truyền thống, “quy tắc là một thực thể trừu tượng
- vượt khỏi mọi sự ứng dụng cụ thể của nó; hiểu biết về quy tắc bao hàm việc nắm
được thực thể trừu tượng ấy và do đó, biết cách sử dụng nó như thế nào”(15). Còn
trong quan điểm của Wittgenstein, vấn đề lại là như sau: “Với từ “quy tắc” (rule),
Wittgenstein không có ý nói đến một tiêu chuẩn trừu tượng mà theo đó, một hành vi
nào đó có thể được đánh giá là sai hay đúng. Đúng hơn, ông có ý nói đến một chi tiết
(item) cụ thể, như là một tiếng động, dấu hiệu hoặc cử chỉ, được bộc lộ ra trước một
người và thông qua việc chú tâm đến đó, con người định đoạt hành vi ứng xử của
mình, liên kết giữa quy tắc và sự hưởng ứng (ứng đáp) đã được tiếp thu và được quy
ước. Một phần lớn hành động của con người có thể được xem xét như là những biểu
hiện (thể hiện) của sự tuân thủ quy tắc. Chúng bao gồm sự bắt chước những cử chỉ và
tiếng động do người khác gây ra, sự sao chép những hình thức, sự biến đổi những dấu
hiệu ra tiếng động như trong việc đọc nhạc, hát lên những chuỗi âm thanh thành bài
nhạc và v.v.. Một cách chung hơn, những xử sự bằng hành động - đáp lại chỉ dẫn bằng
lời nói (đưa cho một cuốn sách khi được yêu cầu chẳng hạn) - và cả những phát biểu
mang tính ngôn từ (ở điểm mà bản thân thế giới là chỉ dẫn và lời phát biểu là sự đáp
lại) cũng đều có thể được miêu tả như là sự tuân thủ quy tắc. Sự tuân thủ quy tắc, vì
vậy, là nhân tố trung tâm trong thẩm năng ngôn ngữ. Thêm nữa, nếu chúng ta chấp
nhận rằng, để sử dụng một ngôn ngữ phong phú và mang tính biểu đạt là một phần
không thể thiếu của việc hiểu thấu những quan niệm phức tạp và có những phán đoán
có tính phản tư, thì sự tuân thủ quy tắc cũng là yếu tố trung tâm trong cuộc sống của
chúng ta với tư cách sinh vật biết tư duy”(16).
Ngôn ngữ tư nhân
Những lập luận về sự tuân thủ quy tắc và tính xã hội của trò chơi ngôn ngữ khiến cho
khái niệm “ngôn ngữ tư nhân” thường được nhắc đến trong lịch sử triết học với tên
gọi “lập luận ngôn ngữ tư nhân” – cái có tính vấn đề, bởi trên thực tế, Wittgenstein
không dùng cách gọi ấy. Như trên đã nói, ngôn từ chỉ có nghĩa khi được sử dụng trong
xã hội, khi con người tham gia vào “trò chơi ngôn ngữ” có tính xã hội và theo những
quy tắc do các điều kiện sinh sống cụ thể của con người đặt ra. Vậy, cái gọi là “ngôn
ngữ tư nhân” – “những từ ngữ của cá nhân, có quan hệ với cái mà chỉ người nói ra
mới hiểu được, với cảm xúc riêng tư nhất thời của anh ta” (Những nghiên cứu triết
học 243) không thể là thứ ngôn ngữ xác thực, đúng nghĩa và đúng quy tắc.
Wittgenstein nói đến ngôn ngữ tư nhân để làm gì? A.Kenny cho rằng, đó là để “chống
lại tác giả của Tractatus, người đã ủng hộ chủ nghĩa duy ngã. Chủ nghĩa duy ngã là
một học thuyết dựa trên luận điểm “chỉ có Tôi là tồn tại”.
TrongTractatus, Wittgenstein viết: “Cái mà chủ nghĩa duy ngã muốn nói đến sẽ đúng
khi điều đó không được nói lên mà chỉ được thể hiện ra. Tư tưởng cho rằng thế giới là
thế giới của tôi tự thể hiện ra như là những giới hạn của ngôn ngữ (thứ ngôn ngữ mà
tôi hiểu) cũng có nghĩa là giới hạn của thế giới của tôi”. Dần dần, khi tư tưởng của
Wittgenstein đã phát triển, ông đi đến chỗ cho rằng, dù với tư cách một bộ phận của
triết học không nói lên được, thì chủ nghĩa duy ngã cũng là một sự xuyên tạc thực tại.
Thế giới là thế giới của tôi chỉ khi ngôn ngữ là ngôn ngữ của tôi: một ngôn ngữ được
tạo tác bởi sự liên kết những từ ngữ của riêng tôi với thế giới. Nhưng, ngôn ngữ không
phải là ngôn ngữ của tôi; nó là ngôn ngữcủa chúng ta. Lập luận ngôn ngữ tư nhân thể
hiện rằng không có bất kỳ định nghĩa riêng tư nào có thể tạo nên một loại hình ngôn
ngữ. Ngôi nhà của ngôn ngữ không phải là thế giới nội tại của người duy ngã, mà là
đời sống của cộng đồng người. Kể cả từ ngữ “tôi” cũng chỉ có nghĩa trong ngôn ngữ
chung của chúng ta”(17).
Bản chất của triết học
Tất cả những vấn đề mà Wittgenstein xem xét trong Những nghiên cứu triết học, ở ý
nghĩa sâu xa của chúng, là nhằm đi đến một vấn đề trung tâm - một trăn trở
như Tractatus đã từng trăn trở: vấn đề bản chất của triết học. Về vấn đề này,
A.Biletzki và A.Matar đã viết: “Wittgenstein thời hậu kỳ vẫn giữ quan điểm như ông
đã từng viết trong Tractatus; rằng, nhà triết học không – hay không nên – đưa ra các
lý thuyết, hay là các lời giải thích. “Triết học chỉ nên đặt mọi thứ trước chúng ta, mà
không suy luận bất cứ điều gì cả, - bởi mọi thứ nhìn thấy được đều cho thấy không có
gì phải giải thích hết” (Những nghiên cứu triết học 126). Lập trường phản lý thuyết
này làm ta nhớ tới Wittgenstein thời sơ kỳ, nhưng có những khác biệt rất dễ thấy. Mặc
dù Tractatus ngăn ngừa các lý thuyết triết học, nhưng nó lại xây dựng một công trình
mang tính hệ thống đưa đến kết quả là, hình thức chung của mọi mệnh đề đều dựa trên
lôgíc hình thức nghiêm khắc; Những nghiên cứu triết học nhấn mạnh đến một bản
chất phi giáo điều có tính liệu pháp (therapeutic) của triết học và quả thực, nó đã chỉ
dẫn cho các nhà triết học những cách thức của một liệu pháp [những cách thức làm
cho triết học trở thành một liệu pháp]. “Sự nghiệp (công việc, trách nhiệm) của nhà
triết học nằm ở chỗ thu thập những điều nhắc nhở cho những chủ đích cá biệt” (Những
nghiên cứu triết học127). Khi làm việc với những điều nhắc nhở và dãy những ví dụ,
những vấn đề khác nhau sẽ được làm sáng tỏ. Không giống như Tractatus, cái đưa ra
(thúc đẩy) một phương pháp triết học, trong Những nghiên cứu triết học, “không
cómột phương pháp triết học, mặc dù trên thực tế là có những phương pháp, giống
như có nhiều loại liệu pháp chữa bệnh khác nhau” (Những nghiên cứu triết học133).
Điều này có quan hệ trực tiếp đến sự né tránh của Wittgenstein đối với hình thức lôgíc
hay đối với bất cứ một sự tổng quát hoá tiên nghiệm nào có thể được triết học phát
hiện ra hoặc tạo nên. Việc cố gắng đưa ra luận điểm tổng quát như vậy là một “sự
quyến rũ” đối với bất cứ nhà triết học nào; nhưng nhiệm vụ thật sự của triết học lại là
làm cho ta có ý thức về “sự quyến rũ” ấy và chỉ cho ta cách vượt qua nó. Chính vì thế,
“một vấn đề triết học có hình thức như sau: Tôi không biết phải làm gì (bởi tôi bị mất
phương hướng) hay tôi bị lạc lối rồi” (Những nghiên cứu triết học 123) và do đó, mục
đích của triết học là “chỉ cho con ruồi lối thoát khỏi cái chai đựng nó” (Những nghiên
cứu triết học 309)”(18).
Như trên đã đề cập, tư tưởng của Wittgenstein nhận được sự chú ý ngay từ khi ông tại
thế và không hoàn toàn phụ thuộc vào những tác phẩm “chính thức” của ông. Mối
quan tâm sâu sắc của các triết gia nói riêng và giới nghiên cứu triết học nói chung đối
với tư tưởng của Wittgenstein - một nhà triết học phân tích, với những chủ đề nghiên
cứu triết học rất trừu tượng (ít nhất là ở thời kỳ đầu), trong thời đại mà mối bận tâm
triết học là về đời sống tinh thần của con người cá nhân sống động và cụ thể (thời đại
của những nhà triết học phi lý, những triết gia hiện sinh, v.v.) - mối quan tâm này có
thể lý giải như thế nào? Không chỉ xuất phát từ đời sống cá nhân và tư cách đôi khi
mang tính truyền kỳ của Wittgenstein, sức thu hút của ông chủ yếu nằm ở chỗ chính
các tư tưởng dường như hết sức trừu tượng của ông lại nhằm đúng vào các vấn đề nan
giải của triết học hiện đại: vấn đề xem xét lại bản chất của triết học, vấn đề ngôn ngữ
như là một phương cách - của - con người tiếp cận thế giới và bản thân mình, vấn đề
văn hoá, v.v..
Ngày nay, triết học phân tích đã không còn là một trào lưu “làm mưa làm gió” trên
văn đàn triết học. Nhưng mối quan tâm và những hứng thú mà Wittgenstein hay các
tác phẩm của ông gợi lên vẫn không hề suy giảm. Ngoài những khía cạnh “truyền
thống” trong triết học của ông (vấn đề lôgíc, vấn đề ngôn ngữ, …) đã được khai thác
rất sâu, những nội dung khác cũng đã và đang được quan tâm tìm hiểu, như quan điểm
của Wittgenstein về văn hoá và giá trị, về những vấn đề của mỹ học, đạo đức học và
tôn giáo, v.v..r
(*) Thạc sĩ, Viện Triết học, Viện Khoa học xã hội Việt Nam.
(1) Hans Sluga, David G.Stern (ed.). The Cambridge companion to Wittgenstein.
Cambridge University Press, 1996, p.5.
(2)
(3) Hans Sluga, David G.Stern (ed.). Ibid., p.16.
(4) Xem: L.Wittgenstein. Tractatus Logico-Philosophicus. Routledge & Kegan Paul,
London, 1971.
(5)
(6) Trần Tuấn Phong. Quan hệ giữa ngôn ngữ và thực tại trong “Chuyên luận lôgíc –
triết học” của Wittgenstein. Tạp chí Triết học, số 2, 2001, tr.57-58.
(7)
(8)
(9) L. Wittgenstein. Recherches philosophiques. Ed. Gallimard, Paris, 2004, p.22.
(10) Anthony Kenny. An illustrated brief history of Western philosophy. Blackwell
Publishing, 2006, p.372.
(11) L.Wittgenstein. Philosophical investigations. Basil Blackwell, Oxford, 1953, p.
20e.
(12)
(13) Anthony Kenny. Ibid., p.372.
(14) Trần Tuấn Phong. Về vai trò của khái niệm “trò chơi ngôn ngữ” trong triết học
Wittgenstein. Tạp chí Triết học, số 9 (2001), tr.39.
(15)
(16) Jane Heal. Article “Wittgenstein”, in Shorter Routledge encyclopedia of
philosophy. Ed. Routledge, London and New York, 2005, p.1064.
(17) Anthony Kenny. Ibid., p.376-377.
(18)
ẤN ĐỀ CON NGƯỜI VÀ GIÁO DỤC CON NGƯỜI NHÌN TỪ GÓC ĐỘ TRIẾT
HỌC XÃ HỘI
Tác giả: TS. Nguyễn Thanh
Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2007, 178 tr.
Trong những năm gần đây, xung quanh vấn đề con người luôn thu hút sự chú ý của
các học giả. Đó là những vấn đề, như vai trò của con người trong tiến trình lịch sử,
các đặc trưng nhân văn của tính tích cực xã hội, tính độc lập tương đối của các cá
nhân và sự tồn tại của nó với tư cách cá nhân riêng biệt,… Những vấn đề này thường
được các nhà nghiên cứu lý giải dưới nhiều góc độ khác nhau. Song, sự lý giải hệ vấn
đề con người khi tính đến địa vị chủ thể của họ, phân tích quá trình hiện thực hoá các
đặc trưng chủ thể của con người trên thực tế, trong quá trình sản xuất, trong sự tương
tác với người khác, với các thiết chế xã hội và Nhà nước,… cũng là vấn đề thu hút sự
quan tâm của nhiều học giả. Điều đó có nghĩa là, nghiên cứu hệ vấn đề con người
dưới góc độ triết học xã hội nói chung, triết học xã hội mácxít nói riêng luôn là vấn
đề có ý nghĩa quan trọng và mang tính thời sự. Đây chính là nội dung và mục đích
chính mà cuốn sách Vấn đề con người và giáo dục con người nhìn từ góc độ triết học
xã hội của Tiến sĩ Nguyễn Thanh đã đặt ra.
Cuốn sách gồm 3 chương. Chương 1 trình bày tính đặc thù của quan niệm triết học
xã hội mácxít về con người. Theo tác giả, hệ vấn đề con người không phải là một đề
tài cụ thể riêng biệt, mà là một khía cạnh của phương thức xem xét hiện thực trong
triết học xã hội mácxít. Vấn đề ở đây là nghiên cứu và lý giải những phương diện có
ý nghĩa thế giới quan của con người, trước hết là vị trí và vai trò của con người trong
quá trình lịch sử. Nhận thức về vấn đề này, xét đến cùng, là cái quy định lôgíc nghiên
cứu mọi phương diện của tồn tại và mọi đặc trưng của con người. Theo tác giả, các
nhà nghiên cứu luôn đưa ra những kết luận về địa vị và ý nghĩa đặc biệt của vấn đề
con người trong triết học, song lại thường không có thiên hướng coi các yếu tố đó là
những yếu tố có ảnh hưởng quan trọng đến bản thân vấn đề. Tác giả cho rằng, triết
học xã hội mácxít thường xem xét các quy luật thực hiện tính phê phán – cách mạng,
tính xã hội của hoạt động người, khi khảo cứu hoạt động ấy với tư cách sản xuất xã
hội. Đó là một đóng góp của triết học xã hội mácxít cho việc nghiên cứu hoạt động
người về phương diện triết học. Triết học xã hội mácxít thường nhấn mạnh sự thống
nhất hữu cơ giữa hoạt động người và quan hệ xã hội của họ, giữa nội dung của quá
trình hoạt động đó và hình thức xã hội của nó. Trong đó, con người luôn giữ địa vị
quan trọng trong thế giới. Họ là chủ thể của quá trình lịch sử, đồng thời cũng là sản
phẩm và kết quả của quá trình lịch sử ấy. Thông qua các hoạt động đó, con người tự
thể hiện những đặc trưng chủ thể của mình.
Chương 2 trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn của quan niệm triết học xã hội mácxít
về con người. Trong chương này, thông qua việc phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn
của triết học xã hội mácxít về con người, tác giả đã làm rõ vai trò của triết học xã hội
mácxít trong việc đem lại cho mỗi cá nhân và cho quần chúng nhân dân khả năng
nhận thức vai trò chủ thể lịch sử của mình trong đời sống xã hội. Theo tác giả, để làm
được điều này, con người cần hoàn thiện tính tích cực chủ thể của mình trong xã hội.
Ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, sự thể hiện và biểu hiện khả năng hoàn thiện tính
tích cực chủ thể này của con người là khác nhau. Song, nhìn chung, có thể thấy, xét
theo quá trình lịch sử của mình thì con người ngày càng hoàn thiện và ngày càng thể
hiện tốt hơn vai trò chủ thể của mình.
Trong chương này, tác giả còn trình bày lôgíc hình thành cá nhân. Theo tác giả, việc
nhận thức về cá nhân cũng rất quan trọng. Bởi, chúng ta có thể thấy, những biến
chuyển trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội thường bắt đầu từ những chuyển biến
trong hoạt động của các cá nhân riêng biệt và của các nhóm xã hội nhỏ, của những
nhóm có phản ứng nhạy cảm nhất đối với sự thay đổi của môi trường xã hội. Tất cả
đều bắt đầu từ con người. Do vậy, vai trò và khả năng của mỗi cá nhân con người là
hết sức to lớn. Mỗi cá nhân con người đều có ảnh hưởng ít nhiều đến kết quả của quá
trình xã hội, đều có đóng góp nhất định cho việc hoàn thiện cuộc sống.
Chương 3 trình bày triết học xã hội mácxít và vấn đề giáo dục con người – vai trò
của nó đối với giáo dục con người Việt Nam hiện nay. Trong phần này, khi phân tích
quan niệm của triết học xã hội mácxít về con người với tư cách vừa là chủ thể, vừa là
sản phẩm của xã hội; con người sản xuất ra những quan hệ xã hội và chịu ảnh hưởng
của những quan hệ xã hội đó cả theo hướng tích cực lẫn theo hướng tiêu cực, tác giả
đã đi đến kết luận: giáo dục con người là công việc cần thiết của xã hội. Giáo dục con
người phải lấy việc vô hiệu hoá và làm giảm bớt ảnh hưởng tiêu cực của những quan
hệ xã hội làm mục đích. Hơn nữa, giáo dục con người phải góp phần hình thành
những phẩm chất tích cực của cá nhân. Theo tác giả, trong giáo dục, cần tính đến
mâu thuẫn giữa các định hướng giáo dục hiện đại và mức độ đảm bảo hiện thực hoá
các định hướng ấy cùng với khả năng thực hiện chúng. Nói cách khác, cần tính đến
mâu thuẫn giữa mục đích và phương tiện.
Trên cơ sở phân tích thực trạng của sự nghiệp giáo dục - đào tạo, thực trạng của việc
đãi ngộ trí thức, đãi ngộ nhân tài ở Việt Nam hiện nay, tác giả cho rằng, để giáo dục -
đào tạo thực sự trở thành “quốc sách hàng đầu”, để việc phát huy nhân tố con người
với tư cách động lực trực tiếp của sự phát triển đất nước với ba mục tiêu lớn là “nâng
cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”, Nhà nước cần phải kiên quyết và
nhanh chóng tăng nguồn đầu tư ngân sách cho giáo dục - đào tạo; thực hiện việc xã
hội hoá giáo dục, coi giáo dục là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân; cần chú trọng cả
việc đào tạo ban đầu lẫn đào tạo thường xuyên; giáo dục và đào tạo phải phát triển cả
về quy mô lẫn tốc độ. Không chỉ thế, Nhà nước cần phải có cơ chế đào tạo, chú ý đến
người tài; có sự cải cách về nội dung, phương pháp trong hệ thống giáo dục - đào tạo;
đồng thời, phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với giáo dục - đào tạo và sự
lãnh đạo này phải thống nhất từ trên xuống dưới, ở mọi cấp, mọi ngành, mọi cơ sở
giáo dục…
Có thể nói, với phương pháp luận đặc thù, cuốn Vấn đề con người và giáo dục con
người nhìn từ góc độ triết học xã hội của Tiến sĩ Nguyễn Thanh đã đem đến cho
người đọc nhiều nội dung mới mẻ về một vấn đề đã được đề cập nhiều – vấn đề con
người. Sách hữu ích cho các nhà nghiên cứu, hoạt động thực tiễn và những ai quan
tâm đến vấn đề này
TRẦN THÀNH (*)
Các file đính kèm theo tài liệu này:
- tap_chi_triet_hoc_so_4_203_nam_2008_5543.pdf