Án lệ với pháp luật Việt Nam

Nghiên cứu khoa học là nhiệm vụ quan trọng của mỗi sinh viên. Trong phong trào nghiên cứu khoa học của sinh viên Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, nhóm thực hiện xin mạnh dạn trình bày bài nghiên cứu với đề tài. “Án lệ với pháp luật Việt Nam”Chúng em xin được gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới GS.TS Hoàng Thị Kim Quế, ThS Vũ Công Giao đã giúp đỡ, định hướng và dìu dắt chúng em suốt thời gian qua để công trình này được hoàn thành. Công trình này mang ý nghĩa rất lớn đối với mỗi thành viên tham gia thực hiện. Tác phẩm khoa học đầu tiên trong cuộc đời đánh dấu bước trưởng thành mới, đồng thời cũng là những trải nghiệm thú vị trong công việc học tập và nghiên cứu. Bằng sự tôn trọng khoa học, với niềm say mê nghiên cứu, nhóm thực hiện xin cam kết những hiểu biết trong bài báo cáo là do nhóm tự giác tìm hiểu, tổng hợp, và đề xuất dưới sự giúp đỡ của các thầy cô hướng dẫn. Do còn nhiều hạn chế về mặt kiến thức cũng như kinh nghiệm nghiên cứu khoa học, nên bài nghiên cứu này chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được những ý kiến đóng góp, phê bình của thầy cô và bạn đọc! Rất mong đây có thể là một tài liệu hứu ích về mặt lí luận cho sinh viên học luật và những người quan tâm tới vấn đề án lệ. Hơn thế nữa, nhóm thực hiện đề tài mong muốn những đề xuất của mình sẽ hữu ích với quá trình áp dụng những ưu điểm của án lệ tại Việt Nam! LỜI MỞ ĐẦU CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ÁN LỆ 1.1 Nguồn pháp luật 1.1.1 Khái niệm 1.1.2 Các loại nguồn pháp luật 1.2 Án lệ 1.2.1 Hai hệ thống luật: thông luật (common law) và dân luật (civil law) 1.2.2 Khái niệm án lệ 1.2.3 Tính chất, đặc điểm của án lệ 1.2.4 Quy trình hình thành án lệ 1.2.5 Quy trình sửa đổi án lệ 1.2.6 Ưu điểm, nhược điểm của án lệ 1.3 Tình hình áp dụng án lệ trên thế giới 1.3.1 Án lệ tại các nước theo hệ thống thông luật 1.3.2 Án lệ tại các nước theo hệ thống dân luật 1.3.3 Thực tiễn tại một số tòa án quốc tế CHƯƠNG 2: ÁN LỆ VỚI PHÁP LUẬT VIỆT NAM 2.1 Nhu cầu và khả năng áp dụng án lệ tại Việt Nam 2.1.1 Tình hình hệ thống pháp luật 2.1.2 Công tác xét xử của tòa án 2.3 Trình độ pháp luật của người dân 2.3 Các dấu hiệu của án lệ tại Việt Nam 2.4 Các đề xuất, kiến nghị về việc áp dụng án lệ tại Việt Nam. 2.4.1 Những ý kiến của các chuyên gia thực thi luật về việc áp dụng án lệ tại Việt Nam. 2.4.2 Ý kiến, đề xuất cá nhân của nhóm nghiên cứu. KẾT LUẬN

doc63 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 19/02/2013 | Lượt xem: 2321 | Lượt tải: 3download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Án lệ với pháp luật Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
luật được ban hành nên đang có tình hình muốn ban hành càng nhiều văn bản quy phạm pháp luật càng tốt, lĩnh vực nào, ngành nào cũng muốn có luật, pháp lệnh riêng của mình. Do vậy, nhiều vấn đề xã hội tuy chưa đặt ra yêu cầu cần phải có những quy định điều chỉnh có tính chất pháp lý, nhưng một số bộ, ngành, tổ chức xã hội vẫn xây dựng các dự án luật trình và thuyết phục để được thông qua. Kết quả là bên cạnh những bộ luật hoặc pháp lệnh nhanh chóng đi vào thực tiễn và được cả xã hội đón nhận thì cũng có những luật, pháp lệnh hoặc một phần nào đó của các văn bản này, ý nghĩa điều chỉnh thực tiễn không cao hoặc rất yếu. Có thể thấy điều này khá cụ thể qua một số luật về đối tượng, pháp lệnh về địa phương. Trong những văn bản đó do mang tính chính trị, chủ trương nên không xác định rõ được quan hệ, hành vi, đối tượng, phạm vi điều chỉnh. Nhiều quy định chỉ là các quan điểm hoặc mang tính hình thức, nặng về ý nghĩa thuyết phục, hô hào, thiếu các quy định có tính chế tài - một đặc trưng không thể thiếu của luật - nên hiệu lực pháp luật yếu, không thực sự đi vào cuộc sống, hiệu quả xã hội không cao. Ngược lại, nhiều vấn đề rất cần phải được quy định, điều chỉnh thì lại thiếu các văn bản pháp lý điều chỉnh. Thí dụ như những vấn đề về thẩm quyền của chủ sở hữu phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp, trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan hành chính, của cán bộ, công chức trong thực thi công vụ, hoặc vấn đề bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng mà báo chí đã nêu lại chưa được ban hành. Nói một cách khác, không ít các văn bản quy phạm pháp luật được xây dựng chủ yếu xuất phát từ ý chí chủ quan của cơ quan quản lý mà không phải từ yêu cầu của các quan hệ xã hội trên thực tế cần điều chỉnh. Thứ hai, nhiều văn bản quy phạm pháp luật được xây dựng "quá tầm". Nhiều vấn đề xã hội chỉ cần các văn bản điều chỉnh của Chính phủ hoặc các văn bản quy định của các bộ là đủ. Nhưng nhiều khi những vấn đề đó lại được nâng lên điều chỉnh trong các văn bản pháp luật ở cấp độ cao hơn, khiến cho việc xây dựng bị kéo dài, không đáp ứng kịp thời việc xử lý những vấn đề xã hội đặt ra. Do vậy, nội dung quy định của các văn bản này nhiều khi không sát hợp, thiếu tính thuyết phục. Nhiều văn bản tính dự báo và tiên liệu thấp, không đáp ứng yêu cầu phát triển của tình hình. Thứ ba, ngoài việc có nhiều văn bản "quá tầm" còn có hiện tượng nhiều quy định pháp luật còn thiếu hệ thống, thiếu sự tập trung, thống nhất và cụ thể. Một quan hệ pháp lý nhưng lại được quy định rải rác trong nhiều văn bản ở nhiều cấp khác nhau (quy định ở cả trong luật, nghị định, thông tư), nên rất khó cho việc nắm vững và áp dụng một cách thống nhất. Có thể thấy điều này trong hệ thống các văn bản điều chỉnh về cán bộ, công chức, về chính quyền đô thị hay về hội; do vậy không thuận lợi cho việc thực thi pháp luật ở cả phía người quản lý lẫn phía người bị quản lý. Thứ tư, trong các văn bản quy phạm pháp luật, những nội dung khó thường bị gác lại hoặc giao cho các văn bản có vị trí pháp lý thấp hơn quy định. Có những văn bản luật được ban hành trong đó có nhiều điều giao cho Chính phủ quy định (Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Pháp lệnh Cựu chiến binh, Luật Thanh niên...). Tình hình này dẫn đến các quy định pháp luật trong các văn bản luật hoặc nghị định rất ngắn, nhưng các văn bản triển khai hướng dẫn lại rất nhiều và vì thế các văn bản pháp luật được xây dựng mất nhiều công sức, thời gian, theo nhiều quy trình, thủ tục mà vẫn khó đi vào đời sống. Thứ năm, tình trạng thiếu đồng bộ, thiếu thống nhất về nội dung giữa các văn bản pháp luật còn khá nhiều. Tình trạng này thể hiện trên hai phương diện. Một là, nhiều văn bản công bố sau mâu thuẫn với những quy định của văn bản được ban hành trước đó. Hai là, luật ban hành nhưng do chưa có văn bản hướng dẫn thi hành một cách kịp thời nên đã rơi vào tình trạng "nằm chờ”. Thực tế đó cộng với việc có nhiều nội dung cần các văn bản dưới luật quy định đã tạo cho các văn bản triển khai, hướng dẫn có giá trị pháp lý "cao" hơn luật, pháp lệnh. Pháp lệnh đã ban hành, nhưng phải chờ nghị định; nghị định ban hành phải chờ thông tư hướng dẫn mới thực hiện được. Thứ sáu, tình trạng chồng chéo, trùng lặp khá phổ biến của các văn bản quy phạm pháp luật. Nhiều quy định của văn bản này mâu thuẫn với quy định của văn bản khác, thậm chí ngay trong một văn bản. Như vấn đề quy định giấy tờ sở hữu nhà, đất hay trong lĩnh vực tổ chức bộ máy. Qua rà soát về quy định chức năng nhiệm vụ của các bộ, ngành trong thời gian qua đã phát hiện: chồng chéo - 27 việc, phân công chưa rõ - 57 việc, phân công chưa hợp lý - 29 việc. Nhiều quy định không còn phù hợp hoặc chậm được sửa đổi, bổ sung. Ngược lại, nhiều vấn đề cần phải được ổn định thì lại thường xuyên sửa đổi, bổ sung, tính ổn định của nhiều văn bản chưa cao, có những văn bản mới thông qua chưa có văn bản hướng dẫn thi hành đã phải sửa, gây khó khăn trong việc hiểu, giải thích, áp dụng một cách thống nhất và đầy đủ. Thí dụ như hệ thống pháp luật quy định về quản lý đất đai, cấp giấy phép sở hữu nhà và đất. Các quy định này liên tục bị sửa đổi, bổ sung tạo tâm lý không yên tâm trong quản lý và sử dụng tài sản của mình. Thứ bảy, các văn bản pháp luật được ban hành, nhìn chung, đều có kết cấu "kinh điển". Phần quy định chung được viết rất dài, nhưng nhiều điểm lại không thật sự gắn với nội dung quy định tiếp sau. Ở nhiều nghị định triển khai thực hiện luật, pháp lệnh và thông tư hướng dẫn thi hành, phần tổ chức triển khai, hướng dẫn giải thích ít, phần quy định chung lại rất dài mà thường phần này trong các văn bản luật, pháp lệnh đã có. Tồn tại khá phổ biến tình trạng nghị định chép lại nội dung luật, thông tư chép lại nội dung nghị định khiến cho các văn bản quy phạm pháp luật trùng lắp nhiều, văn bản dài không cần thiết. Thứ tám, hiện nay đang tồn tại tư duy là việc xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật càng cụ thể càng tốt để giảm bớt việc phải có các văn bản giải thích ở cấp độ thấp hơn và người thực hiện thì nhờ có những quy định cụ thể sẽ dễ thực hiện. Tư duy đó dẫn đến nhiều văn bản quy phạm pháp luật quy định quá chi tiết, cụ thể. Nhưng dù những văn bản này có chi tiết, cụ thể đến đâu vẫn không thể bao quát hết được các đối tượng, phạm vi điều chỉnh. Vì thế đã có những kẽ hở pháp luật để những người cố ý có thể lợi dụng, còn nhà quản lý thì lúng túng không biết xử lý như thế nào đối với những vấn đề nảy sinh ngoài quy định. Thứ chín, ngôn ngữ trong nhiều văn bản chưa thật sự là ngôn ngữ pháp lý. Nhiều từ ngữ thiếu chính xác, mang nhiều nghĩa, hoặc không xác định như các từ "có thể", "không nhất thiết"... vẫn được sử dụng nên khó hiểu, khó giải thích, trong khi đó hoạt động giải thích pháp luật lại chưa được quan tâm đúng mức. Tình hình đó khiến việc áp dụng thiếu thống nhất và đầy đủ, vừa khó thực hiện vừa tạo kẽ hở cho những đối tượng cố ý lợi dụng vi phạm pháp luật. Một chương trình đánh giá chất lượng các văn bản pháp luật được viện nghiên cứu kinh tế và pháp luật đã có cuộc khảo sát các văn bản pháp luật Việt Nam. Đánh giá này dựa trên các tiêu chí: mức độ rõ ràng, cụ thể của tên điều, khoản; phạm vi áp dụng; đối tượng áp dụng; ngôn ngữ sử dụng; tính có thể tiên liệu trước được; trùng lặp và chồng chéo; tính tương thích và thẩm quyền giải quyết. Căn cứ vào tiêu chí này, văn bản nào đạt 6/10 điểm trở lên sẽ đạt yêu cầu. Đây được coi là chuẩn mực cho việc soạn thảo và rà soát các văn bản. Kết quả việc rà soát tại Việt Nam như sau: Bộ khoa học và công nghệ: 6,26điểm Bộ thông tin và truyền thông: 6,16điểm Bộ khoa học và công nghệ: 6,26điểm Bộ văn hóa,thể thao và du lịch: 6,15điểm Bộ tư pháp: 6,21điểm Bộ tài nguyên và môi trường: 4,00điểm Ngân hàng nông nghiệp: 5,76điểm Bộ giao thông vận tải: 4,54điểm Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn:6,28điểm Bộ xây dựng: 4,11điểm Bộ kế hoạch và đầu tư: 6,11điểm Bộ y tế: 4,96điểm Bộ lao động thương binh và xã hội: 6,11điểm Bộ công thương: 5,65điểm Bộ tài chính: 5,16 điểm Thực trạng của việc sửa đổi văn bản pháp luật thường xuyên ở nước ta. Về loại văn bản quy phạm pháp luật(VBQPPL):việc sửa đổi pháp luật thường xuyên diễn ra từ các đạo luật cho đến các văn bản dưới luật. Các đạo luật đã được sửa đổi, thay đổi thường xuyên trong thời gian qua ở nước ta là:Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt nam năm 1987 được sửa đổi, bổ sung năm 1990 và năm 1992, được thay thế bằng luật đầu tư nước ngoài tại việt nam năm 1996, luật đầu tư nước ngoài năm 1996 được sửa đổi bổ sung năm 200, được thay thế bằng luật đầu tư năm 2005, luật khiếu lại tố cáo năm 1998, luật giao thông đường bộ năm 2001 được sửa đổi năm 2008, luật ban hành VBQPPL năm 1996 được sửa đổi năm 2002 và được thay thế bằng luật ban hành năm 2008, luật thương mại năm 1997 được thay thế bằng luật thương mại năm 2005, luật doanh nghiệp năm 1999 được thay thế bằng Luật Doanh nghiệp năm 2005; Luật Giáo dục năm 1998 được thay thế bằng Luật Giáo dục năm 2005. Các văn bản dưới luật đã được sửa đổi, thay đổi thường xuyên trong những năm vừa qua là: Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 1998 được sửa đổi năm 2000 và năm 2003, được thay thế bằng Luật Cán bộ, công chức năm 2008; Nghị định số 152/2005/NĐ-CP ngày 15/12/2005 quy định về xử lí vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ được thay thế bằng Nghị định số 146/2007/NĐ-CP ngày 14/9/2007 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và Nghị định 146 này lại được sửa đổi bởi Nghị định số 67/2008/NĐ-CP ngày 29/5/2008 sửa đổi, bổ xung khoản 3, Điều 42 Nghị định số 146/2007/NĐ-CP; Nghị định số 52/1999/NĐ-CP của Chính phủ ngày 08/7/1999 về việc ban hành quy chế Quản lí đầu tư và xây dựng được sửa đổi, bổ sung vào năm 2000, năm 2003, sau đó được thay thế bằng Nghị định số 16/2005/NĐ-CP ngày 07/5/2005 của chính phủ về quản lí dự án đầu tư xây dựng công trình; Nghị định số 16/2005/NĐ-CP được sửa đổi bổ sung vào năm 2006 và được thay thế bằng Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 10/2/2009 của Chính phủ về dự án xây dựng công trình.. Về thời gian sửa đổi:có những văn bản pháp luật 5 hoặc 6 năm đã phải sửa đổi, thay đổi, nhưng có những văn bản pháp luật 3 hoặc 4 năm đã phải sửa đổi, thay đổi thậm chí có những văn bản chỉ có hiệu lưc trong 1 hoặc 2 năm đã phải sửa đổi thay đổi. Như vậy, nhiều trường hợp pháp luật được sửa đổi,thay đổi quá nhanh. Về nội dung quy định, trong tất cả các trường hợp sửa đổi, thay đổi pháp luật đều là sự sửa đổi thay đổi nội dung những quy định pháp luật cụ thể, tức là làm thay đổi nội dung quan hệ pháp luật giữa các chủ thể với nhau làm thay đổi cách xử sự của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật,thay đổi hậu quả pháp lý của quan hệ pháp luật. Các văn bản pháp luật được đánh giá là có chất lượng là các văn bản phù hợp với tình hình phát triển của xã hội và đáp ứng được nhu cầu thực tiễn của cuộc sống. Việc sửa đổi thường xuyên các văn bản pháp luật là việc cần thiết, các văn bản pháp luật chỉ có trách nhiệm đi sau và ghi lại những nguyên tắc pháp luật nhằm điều hành xã hội phát triển ổn định, nếu việc ban hành các văn bản pháp luật đi trước sự phát triển đó thì các chủ thể thực hiện pháp luật chưa sẵn sàng đáp ứng, như vậy việc thi hành luật bị hạn chế. Vì vậy văn bản pháp luật có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với việc điều hành xã hội và văn bản pháp luật còn quan trọng hơn khi nó hợp với sự phát triển của đất nước. 2.1.2 Công tác xét xử của tòa án 2.1.2.1 Vị trí, vai trò của tòa án trong nhà nước Việt Nam. Theo thuyết phân quyền của Motesquieu, nhà nước tồn tại ba nhánh quyền lực lập pháp, hành pháp, tư pháp. Trong đó tư pháp là nhánh quyền lực yếu thế hơn, tuy nhiên lại giữ vị trí vô cùng quan trọng trong hệ thống quyền lực nhà nước. Điều này được Hồ Chí Minh tiếp cận từ rất sớm, tại hội nghị tư pháp toàn quốc tháng 2 năm 1948, Người đã nói: “cơ quan tư pháp là cơ quan trọng yếu của chính quyền”. Trong thời cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, vị trí của Tòa án (vị trí trung tâm của nhánh quyền lực tư pháp ngày càng được khẳng định. Tòa án là cơ quan duy nhất có quyền xét xử nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Điều 127 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 quy định: "Toà án nhân dân tối cao, các Toà án nhân dân địa phương, các Toà án quân sự và các Toà án khác do luật định là những cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam". Điều 72 Hiến pháp năm 1992 cũng khẳng định: "Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của toà án đã có hiệu lực pháp luật". Đây là cơ sở pháp lý để xác định vị trí quan trọng của Toà án nhân dân trong hệ thống các cơ quan tư pháp. Tòa án là cơ quan được giao trọng trách bảo vệ pháp luật, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, là chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo vệ công lý, quyền con người, đồng thời là công cụ hữu hiệu bảo vệ pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa, đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm và vi phạm. Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “công dân, pháp nhân theo thủ tục tố tụng do pháp luật quy định có quyền khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình”. Nhà nước pháp quyền đòi hỏi tòa án phải là cơ quan thực sự độc lập, vô tư, chỉ xét xử để bảo vệ công lí với tinh thần thượng tôn pháp luât. Tuy nhiên hiện nay, hoạt động của hệ thống tòa án vẫn chưa tương xứng với vai trò của mình. Đặc biệt là trong giải quyết các vụ án liên quan tới công chức, hay cơ quan nhà nước thì dễ bị can thiệp, tồn tại tình trạng thỉnh án, bàn án, ….. Thực tế đó đòi hỏi cần có một cơ chế tốt hơn để nâng cao vị thế của cơ quan tư pháp nói chung và của tòa án nói riêng theo đúng tinh thần của hiến pháp. 2.1.2.2 Nguyên tắc xét xử của tòa án Trên tinh thần hoàn thiện hóa hệ thống pháp luật để xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bản Hiến pháp năm 1992(sửa đổi năm 2001) quy định tòa án các cấp ở Việt Nam tổ chức xét xử theo các nguyên tắc sau đây: 1. Nguyên tắc độc lập của tòa án Độc lập ở đây chính là việc nhánh quyền lực tư pháp-tòa án với chức năng xét xử được độc lập với 2 nhánh quyền lực nhà nước còn lại, cho phép tòa án là một chế định quan trọng, trở thành khâu chốt yếu cuối cùng trong việc hạn chế quyền lực nhà nước, ngăn chặn khả năng chính phủ lạm dụng quyền lực. Điều này đã được minh chứng tại Điều 130 của Hiến pháp hiện hành, theo đó: “Khi xét xử, thẩm phán và hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” Đây được đánh giá là nguyên tắc quan trọng bậc nhất trong tất cả các nguyên tắc điều chỉnh việc tổ chức và hoạt động của tòa án. Nó mang lại tính độc lập tối quan trọng của tòa án trong quá trình xét xử, đảm bảo tính công bằng thuần khiết của pháp luật mà đại diện là các quyết định của thẩm phán sau khi kết thúc quá trình xét xử, đảm bảo quyền bình đẳng, quyền tự nhiên của con người, chống lại tình trạng tham nhũng, lợi dụng quyền lực của nhà cầm quyền. 2. Nguyên tắc khi xét xử sơ thẩm có hội thẩm tham gia và hội thẩm ngang quyền với thấm phán Nhằm đảm bảo tính công bằng , bình đẳng trước pháp luật; việc xét xử của tòa án không chỉ có những người chuyên môn tham gia mà còn có cả đại diện từ phía nhân dân. Điều này làm cho bản án cuối cùng được đưa ra không chỉ đúng với pháp luật của Nhà nước mà còn đảm bảo phù hợp với nguyện vọng của nhân dân. Theo Điều 129 Hiến pháp quy định: : “ Việc xét xử của Tòa án nhân dân có Hội thẩm nhân dân, của Tòa án quân sự có hội thẩm quân nhân tham gia theo quy định của pháp luật. Khi xét xử Hội thẩm ngang quyền với thẩm phán”. 3. Nguyên tắc khi xét xử, thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập, chỉ tuân theo pháp luật. Nguyên tắc trên được quy định tại Điều 130 Hiến pháp hiện hành, qua đó đảm bảo nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, đảm bảo cho tòa án nhân dân xét xử khách quan, đúng pháp luật. Nội dung của nguyên tắc này được thể hiện :Khi xét xử tất cả các vụ án ở tất cả các trình tự tố tụng, thẩm phán và hội thẩm nhân dân chỉ căn cứ vào chứng cứ và các quy phạm pháp luật cần áp dụng để giải quyết vụ việc và ra bản án, quyết định cụ thể, không phụ thuộc vào bất cứ sự can thiệp nào của bất kì ai. Khi xét xử, các thành viên trong hội đồng xét xử độc lập với nhau trong quá trình xác định chứng cứ, lựa chọn các văn bản quy phạm để định tội, lượng tội, xác định quyền và nghĩa vụ của đương sự…. Đối với các bản án xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm không lệ thuộc vào chứng cứ, kết luận và quyết định của tòa án đã xét xử sơ thẩm mà phải tự mình xác định chứng cứ, quy phạm pháp luật cần dược áp dụng để có quyết định cụ thể. Nguyên tắc này yêu cầu ý thức cá nhân, đạo đức nghề nghiệp và tư cách nhân danh nhà nước của các thẩm phán và hội thẩm nhân dân hơn cả. 4. Nguyên tắc tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số Nguyên tắc này được quy định từ Hiến pháp năm 1980, đến Hiến pháp 1992(sửa đổi, bổ sung năm 2001) và các Luật tổ chức tòa án nhân dân năm 1960,1981,1992,2002. Qua đó thành phần của hội đồng xét xử ở từng cấp xét xử được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật về tố tụng: Hội đồng xét xử sơ thẩm: gồm một thẩm phán và hai hội thẩm nhân dân. Hội đồng xét xử phúc thẩm:gồm ba thẩm phán và trong trường hợp cần thiết có thể có thêm hai hội thẩm nhân dân. Hội đồng xét xử giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của tòa án nhân dân tối cao gồm ba thẩm phán. Nguyên tắc này đảm bảo cho tòa án xét xử khách quan, toàn diện, chống độc đoán. Nó cũng yêu cầu mỗi thành viên trong hội đồng xét xử phải thực sự nghiêm túc và có khả năng trong việc đánh giá chứng cứ và áp dụng đúng các quy phạm pháp luật. 5. Nguyên tắc tòa án ét xử công khai, trừ tưởng hợp do luật định. Nguyên tắc này được quy định từ Hiến pháp năm 1946 đến Hiến pháp năm 1992(sửa đổi, bổ sung năm 2001) và các Luật tổ chức tòa án nhân dân năm 1960,1981, 1992, 2002. Theo đó, kế hoạch xét xử (thời gian, địa điểm xử án) các vụ án phải được niêm yết tại trụ sở tòa án,thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng(đối với các vụ án quan trọng), thông báo cho chính quyền, cho các bên liên quan và người dân. Ngoài ra có thể tổ chức xét xử lưu động ở nơi xảy ra vụ án để tăng cường tính giáo dục và công khai hoàn toàn quá trình xét xử. Ở trường hợp đặc biệt nằm trong luật định, tòa án có thể xét xử kín nhằm giữ bí mật của Nhà nước, thuần phong mĩ tục dân tộc hoặc giữ bí mật của các đương sự theo yêu cầu chính đáng của họ. 6. Nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật Nguyên tắc này được quy định tại Điều 8 Luật tổ chức tòa án nhân dân năm 2002: “Tòa án xét xử theo nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt nam, nữ, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, địa vị xã hội, cá nhân, cơ quan, tổ chức, đơn vị vũ trang nhân dân và các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật”. Đây là một trong những nguyên tắc quan trọng của chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, nó thể hiện tính dân chủ, tính làm chủ đất nước của nhân dân. Điều này cũng làm hiện rõ hơn tính công bằng, không thiên vị bắt buộc phải có của tòa án, sự bình đẳng của công dân về quyền và nghĩa vụ khi họ tham gia vào các thủ tục tố tụng do pháp luật tố tụng quy định. 7. Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo, quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Nguyên tắc này được quy định từ Hiến pháp năm 1946 đến Hiến pháp năm 1992(sửa đổi, bổ sung năm 2001) và các Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960, 1981, 1992, 2002. Theo đó thì đương sự có thể tự bào chữa hoặc mời luật sư đại diện để bào chữa cho mình. Trong trường hợp bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần hoặc bị can, bị cáo phạm vào những tội nặng có khung hình phạt đến tử hình, thì tòa án hoặc cơ quan chức năng phải chỉ định luật sư bào chữa. Nguyên tắc trên giúp thực hiện nguyên tắc dân chủ trong quá trình xét xử, tạo sự khách quan toàn diện và chính xác. 8. Nguyên tắc công dân Việt Nam có quyền dùng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình trước tòa án Được quy định từ Hiến pháp năm 1946 đến Hiến pháp năm 1992(sửa đổi năm 2002) và các Luật tổ chức tòa án nhân dân năm 1960, 1981, 1992, 2002. Tại điều 10 Luật tổ chức tòa án nhân dân năm 2002 quy định: “ Tòa án bảo đảm cho những người tham gia tố tụng quyền dùng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình trước tòa”. Điều này đảm bảo các chủ thể tham gia tố tụng tại phiên tòa như bị cáo, người bị hại, đương sự, người làm chứng…thể hiện được một cách đúng đắn và chính xác ý chí của mình khi tham gia tố tụng; đồng thời giúp tòa án đánh giá được khách quan, nâng cao chất lượng xét xử. Nguyên tắc này dựa trên tinh thần dân tộc cao cả, tôn trọng các nhóm người thiểu số, đồng thời thể hiện chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về đoàn kết và bình đẳng giữa các dân tộc. 2.1.2.3 Trình độ của thẩm phán Trình độ thẩm phán – hay nói cách khác là năng lực của những người đứng đầu các Tòa án đã và đang là một vấn đề cần được quan tâm, đặc biệt là trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền xã hôi chủ nghĩa vị pháp luật ở nước ta hiện nay. Trình độ thẩm phán không những thể hiện trình độ học vấn của một cá nhân cụ thể mà còn bộc lộ nhiều khía cạnh như chất lượng đào tạo, chất lượng của việc tuyển chọn và bổ nhiệm thẩm phán các cấp, trình độ xét xử của hệ thống pháp luật hiện tại… Nhìn vào thực tế ở Việt Nam, ta có thể thấy một số điểm đáng lưu ý về trình độ thẩm phán như sau: Trình độ thẩm phán nhìn chung còn thấp. Nguyên nhân là do :Chất lượng đào tạo còn thấp,việc đào tạo từ cử nhân cho tới các học hàm cao hơn còn tồn tại nhiều bất cập. Việc cấp bằng, chứng chỉ công nhận còn nhiều tiêu cực, chạy theo số lượng thành tích. Thiếu nguồn nhân lực có trình độ quốc tế làm nòng cốt cho việc nâng cao chất lượng xét xử của ngành tư pháp trong hiện tại và tương lai. Số lượng thẩm phán còn thiếu trầm trọng. Theo báo cáo của TAND Tối cao cho thấy, tính đến nay toàn ngành mới thực hiện được 11.496 biên chế, trong đó có 4.359 thẩm phán, còn thiếu 569 thẩm phán. Thiếu thẩm phán là một thực tế đáng báo động dành cho hệ thống tư pháp xét xử ở Việt Nam,hiện tại chưa giải quyết được mâu thuẫn cung-cầu nguồn nhân lực của ngành luật. Chất lượng các bản án còn thấp Đảm bảo chất lượng xét xử là một yêu cầu hết sức quan trọng trong công tác giải quyết, xét xử các loại vụ án. Trong thời gian qua, ngành Tòa án nhân dân đã có nhiều cố gắng để chất lượng xét xử ngày càng nâng lên nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu. Vẫn còn trường hợp bản án, quyết định vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hoặc áp dụng pháp luật có sai lầm nghiêm trọng do lỗi chủ quan của Tòa án và đã bị sửa, hủy. 2.3 Trình độ pháp luật của người dân Về mặt lí luận Trình độ pháp luật của người dân giống như một tiền đề để khái niệm nhà nước pháp quyền, xã hội vị pháp luật dựa vào đó mà phát triển; nó cũng giống như một mảnh đất tốt để ươm mầm cho mọi tư tưởng pháp lý ra đời và đi vào thực tiễn ở mỗi một quốc gia. Trình độ pháp luật là hệ ý thức được gây dựng nên thông qua quá trình bồi đắp của lịch sử pháp luật, nhà nước và sự nhận thức của người dân.Pháp luật mang tính ràng buộc, phản biện giữa suy nghĩ và hành động , điều này có nghĩa là không phải việc gì ta nghĩ tới cũng được phép thực hiện trong thực tế. Khoảng cách cố hữu này ngăn cản con người ta thực hiện những điều mà xã hội và pháp luật không cho phép, giữ được trật tự xã hội và tính nghiêm minh của pháp luật. Trình độ pháp luật của người dân có thể nhìn nhận ở nhiều khía cạnh khác nhau, tuy nhiên có thể tóm gọn lại ở ba khía cạnh chính , đó là: Ý thức pháp luật của công dân: ý thức pháp luật là một hình thái ý thức xã hội, về cấu trúc bao gồm hai bộ phận: Tâm lý pháp luật và tư tưởng pháp luật. Tâm lý pháp luật hình thành 1 cách tự phát dưới dạng tình cảm, tâm trạng , cảm xúc đối với các hiện tượng pháp luật xảy ra trong đời sống xã hội. Tư tưởng pháp luật là tổng hợp các quan điểm, quan niệm có tính lý luận, phản ánh các hiện tượng pháp luật một cách sâu sắc, tự giác dưới dạng các khái niệm, các phạm trù khoa học. Ý thức pháp luật của một công dân có vai trò nền tảng trong việc thực hiện pháp luật và bảo vệ pháp luật trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền. Sự tôn trọng pháp luật: điều này bắt nguồn từ việc có hình thành được ý thức pháp luật hay không. Bởi lẽ, công dân chỉ thực sự tôn trọng pháp luật khi hiểu về pháp luật- về khái niệm cũng như những ý nghĩa thiêng liêng của nó đối với chính bản thân mình. Thêm nữa, sự tôn trọng của người dân còn phụ thuộc vào bản chất của nền pháp luật ấy, có vị nhân quyền hay chỉ là công cụ quản chế của nhà nước, triệt tiêu dân chủ. Chính những khía cạnh này quyết định việc công dân có sẵn sàng tiếp nhận hệ thống pháp luật ấy hay không, cao hơn là có thể hiện được sự tôn trọng các quy định của pháp luật hay không, từ đó mà suy nghĩ và hành động theo những điều mình tôn trọng. Sự hiểu biết pháp luật: nâng cao sự hiểu biết về pháp luật của người dân thông qua hệ thống giáo dục pháp luật, tuyên truyền pháp luật; đưa các khái niệm cơ bản của pháp luật tới gần người dân. Mặt khác sự hiểu biết pháp luật còn dựa vào sự tự giác, chủ động tìm hiểu pháp luật của người dân. Án lệ là một khái niệm pháp lý, nên nó không nằm ngoài mối quan hệ bền chặt với trình độ pháp luật của người dân. Đơn giản, chỉ khi người dân hiểu được án lệ là gì, áp dụng án lệ ra sao… thì việc án lệ đi vào thực tiễn mới thực sự đem lại hiệu quả. Một khi trình độ pháp luật của người dân đáp ứng được nhu cầu đặt ra của tư duy pháp lý thì việc gây dựng án lệ trở thành một nguồn luật mới trong quá trình xét xử ở một quốc gia cụ thể là điều có thể làm được. Về mặt thực tiễn Thực tế ,”trình độ pháp luật của người dân”ở các nước nói chung không phải là một khái niệm có thể dễ dàng thống kê, đưa ra số liệu. Bởi lẽ nó còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố như trình độ phát triển, trình độ dân trí, khả năng giáo dục, mối quan tâm của người dân đối với pháp luật.v…v…ở nước sở tại. Chỉ có thể đưa ra một cái nhìn tổng quan về trình độ pháp luật của người dân thông qua sức mạnh, sức ảnh hưởng và sự điều phối đời sống của pháp luật đối với người dân. Xin được lấy thực tiễn ở Việt Nam làm ví dụ để từ đây nhóm nghiên cứu soi chiếu các khái niệm về trình độ pháp luật mà nhóm đã đưa ra ở trên. Cũng giống như người dân của mọi quốc gia trên thế giới, trình độ pháp luật của người dân Việt Nam đã và đang được hoàn thiện. Tuy nhiên, theo nhiều ý kiến đánh giá khách quan và chủ quan thì trình độ pháp luật của người Việt Nam nhìn chung còn yếu kém. Nội dung của phần nghiên cứu này không đề cập tới việc trình độ ấy yếu kém ra sao, mà chỉ đưa ra một số nguyên nhân dẫn tới sự yếu kém đó. Lịch sử bị đô hộ: Việt Nam là một quốc gia chịu nhiều thương đau trong quá khứ. Hơn 1000 năm Bắc thuộc, hàng trăm năm chế độ phong kiến, thực dân thay nhau đô hộ, bóc lột nhân dân ta. Ngay từ đầu, ý thức pháp luật của người dân đã không được hình thành và bị kiềm chế, bó buộc; bởi lẽ dưới chế độ thực dân, phong kiến, người dân chỉ là tầng lớp bị trị, không mang đủ quyền của một công dân đúng nghĩa. Pháp luật thời điểm này nhìn chung chỉ đơn thuần là phương tiện giúp nhà cầm quyền dễ dàng cai trị, đàn áp người dân. Điều duy nhất mà nó hướng tới là lợi ích chính trị, kéo dài thời gian đô hộ của bộ máy cầm quyền, phản bội dân chủ. Cho nên trình độ pháp luật của người dân nước ta không có cơ hội để hình thành, phát triển. Chính điều này đã làm tư duy pháp luật của người dân Việt Nam chậm lại so với các nước trong khu vực và trên thế giới hàng thế kỉ. Hơn 70% dân số Việt Nam là sống ở vùng nông thôn. Điều này dẫn tới nhiều lí do làm cho trình độ pháp luật của người dân Việt Nam nhìn chung còn thấp: Ở nông thôn, người dân bị ảnh hưởng bởi tư duy sống theo “lệ làng”, đời sống tự cung- tự cấp, ung dung tự tại diễn ra khép kín sau lũy tre làng, nên việc hình thành ý thức pháp luật cho họ và đưa họ vào một khuôn khổ pháp luật nhất định là việc làm cần tới nhiều thời gian. Điều này dẫn tới việc xem nhẹ, thậm chí coi thường pháp luật ở một bộ phận người dân. Phần lớn người dân còn bị hạn chế trong nhận thức, gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận các khái niệm và thông tin về pháp luật. Hệ thống giáo dục về pháp luật còn yếu kém. Với số lượng các cơ sở đào tạo luật còn ít và chất lượng chưa cao. Tuy nhiên, thực tế là cung- cầu giữa ngành đào tạo luật với xã hội còn mâu thuẫn, đó là việc cử nhân ra trường không đáp ứng được nhu cầu cao của xã hội; ngược lại xã hội chưa có sự quan tâm đúng mức đối với việc đào tạo luật. Nên do đó, thiếu nhân lực cho ngành luật và việc cử nhân luật ra trường không có việc làm là 2 thực tế đáng buồn đang song hành diễn ra. Nhân dân nhìn chung còn thiếu niềm tin vào pháp luật hay nói cụ thể, việc áp dụng pháp luật vào thực tế xét xử còn nhiều tiêu cực, oan sai, thiếu minh bạch. Điều này dẫn tới việc người dân không mặn mà với việc tìm hiểu pháp luật hay tư duy “vô phúc đáo tụng đình”. Ngoài ra còn các nguyên nhân như chất lượng của các văn bản pháp luật chưa cao, tính ứng dụng trong thực tế còn yếu, thông tin về pháp luật còn hạn chế… 2.3 Các dấu hiệu của án lệ tại Việt Nam Pháp luật Việt Nam hiện hành không coi án lệ là một nguồn pháp luật cũng như không công nhận việc xét xử theo án lệ. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều chuyên gia trong lĩnh vực luật pháp nhận xét án lệ vẫn đang tồn tại ngầm dưới một số hình thức. Đầu tiên, phổ biến nhất là những văn bản tổng kết hướng dẫn nghiệp vụ xét xử hằng năm của TAND Tối cao để tạm gỡ các vướng mắc trong công tác xét xử của cấp dưới. Văn bản này có thể là thông tư liên tịch của TAND Tối cao với các bộ, ngành liên quan, hay nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao… Thực tế cho thấy, hầu hết các tòa địa phương đều tham khảo các phán quyết của tòa cấp trên đặc biệt là các bản án dân sự, mặc dù họ không bắt buộc phải làm như thế. Vì theo luật, nếu không áp dụng, bản án của họ có thể bị giám đốc thẩm, tái thẩm… và thực tế cho thấy các bản án của tòa án Tối cao thường chính xác và hợp lí hơn. Phó Chánh án TAND Tối cao Đặng Quang Phương, ở nước ta, các bản án được tổng hợp, đúc kết hằng ngày, nếu có khúc mắc thì đưa ra văn bản hướng dẫn rồi nâng lên thành luật. Thứ hai là việc chọn lọc xuất bản một số quyết định của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao phục vụ cho xét xử, nghiên cứu khoa học và cho đông đảo người dân biết, vận dụng hay tham khảo. Đối với loại này thì phải chọn lọc các bản án có tính chất hướng dẫn, nhất là về đường lối xét xử. Tháng 4/2010 tòa án nhân dân tối cao đã khai trương cổng thông tin điện tử ( để công bố các quyết định giám đốc thẩm nhằm mục đích công khai bản án theo tinh thần cải cách tư pháp. Hiện tại, trang web đã đăng tải 247 quyết định giám đốc thẩm, chủ yếu từ năm 2003 đến 2006 và cập nhật một số quyết định mới của các năm 2009, 2010. Thứ ba là việc các cơ quan tố tụng trung ương tổng hợp các quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm vào chung một quyển để xuất bản định kỳ hoặc hằng năm. Năm 2004, Tạp chí tòa án nhân dân dưới sự chỉ đạo của phó chánh án thường trực tòa án nhân dân tối cao Đặng Quang Phương đã tổ chức biên soạn và công bố hai số chuyên đề công bố một số quyết định giám đốc thẩm của tòa án nhân dân tối cao gốm có hai quyển, quyển thứ nhất về dân sự, kinh doanh, thương mại, lao động năm 2003-2004, quyển thứ hai là về hình sự, hành chính. Giữa năm 2005, TAND Tối cao đã công bố toàn bộ các quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao từ năm 2000 đến 2004. 103 quyết định về dân sự, kinh doanh, thương mại và lao động được tập hợp đầy đủ trong một tập hơn 400 trang. Các bản án này đểu được được đánh già là mẫu mực, có gí trị rất lớn để các thẩm phán, luật sư và nhân dân tham khảo, vận dụng vào các tình huống tương tự của mình. Nhận thấy sự cần thết của việc công khai bản án, trang web “sưu tầm án lệ” Việt Nam ( cũng được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp phép hồi tháng 5-2008. Trang web chứa đựng những bản án được sắp xếp theo loại tranh chấp đặc biệt là có cả bài tranh luận của luật sư… Website này đã tạo ra một kênh truyền thông mang tính tương tác và có ý nghĩa rất lớn, thể hiện được sự quan tâm cũng như nhu cầu của xã hội nói chung, của giới làm luật nói riêng về việc tìm hiểu các bản án. Như vậy, án lệ đã và đang hiện diện trong pháp luật Việt Nam, cho dù không chính thức, không được công nhận nhưng không thể phủ định vai trò của nó đối với đời sống pháp luật. 2.4 Các đề xuất, kiến nghị về việc áp dụng án lệ tại Việt Nam. 2.4.1 Những ý kiến của các chuyên gia thực thi luật về việc áp dụng án lệ tại Việt Nam. Án lệ đã và đang trở thành một nguồn luật quan trọng trong việc phát triển, hoàn thiện hệ thống pháp luật ở một số nước trên thế giới. Việc áp dụng án lệ ở Việt Nam vẫn còn đang gây nhiều tranh cãi trong giới làm luật nói chung và các nhà lập pháp nói riêng. Có hai luồng ý kiến trái ngược nhau, cho rằng nên áp dụng án lệ và không nên áp dụng án lệ. Dựa vào đâu, tiêu chí nào cho việc hình thành hai quan điểm đó? Hoàn thiện hệ thống pháp luật đang là một trong những tiêu chí quan trọng cho việc hướng tới xây dựng thành công nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay, các văn bản quy phạm pháp luật chiếm đa số trong việc thi hành án và các phán quyết của các thẩm phán. Thế nhưng, các văn bản đó cũng chưa đáp ứng đầy đủ và có tính xác đáng nhất cho việc xét xử các vụ án có những tính chất đặc biệt, không được quy định một cách rõ ràng gây khó khăn cho công tác xét xử và phán quyết của tòa án. Với tình hình hiện nay của Việt Nam, khi công tác áp dụng án lệ mới đang ở những bước cơ sở, vẫn chưa được công nhận hoàn toàn như một nguồn luật chính thức. Tuy nhiên những người ủng hộ án lệ ở Việt Nam tin rằng một hệ thống án lệ bên cạnh luật thành văn để bổ sung, hoàn thiện cho nhau sẽ giải quyết những lỗ hổng hoặc những quy định chưa rõ ràng của pháp luật trong khi những lỗ hổng này xuất hiện khá nhiều, nhất là trong lĩnh vực phi hình sự. Tại tờ trình Quốc hội đề xuất công nhận án lệ mới đây Phó chánh án TAND tối cao Từ Văn Nhũ cho rằng việc áp dụng án lệ ngoài ý nghĩa giải quyết một vụ án cụ thể còn thiết lập ra một tiền lệ để xử những vụ án tương tự sau này. Do đó sẽ tạo sự bình đẳng trong việc xét xử các vụ án giống nhau, giúp tiên lượng được kết quả của các vụ án tranh chấp, tiết kiệm công sức của các thẩm phán, các cá nhân, cơ quan, tổ chức tham gia tranh tụng. Đồng thời áp dụng án lệ còn giúp các đơn vị khi đàm phán, soạn thảo và ký kết hợp đồng giao dịch dân sự, thương mại biết phòng tránh rủi ro…. Theo luật sư Lê Thành Kính (Đoàn luật sư TP.HCM), án lệ là lý tưởng vì tạo ra công bằng trong xã hội. Án lệ là khuôn thước mẫu mực để các thẩm phán tuân theo vì được đúc kết, chọn lọc kỹ và mang tính chuyên nghiệp. Khi ấy thẩm phán chỉ cần đối chiếu để đưa ra phán quyết, tránh chuyện mỗi người nhìn nhận, đánh giá vấn đề một kiểu, chủ quan. Từ đó tránh được chuyện dư luận xã hội cho rằng việc xét xử của tòa án là không công bằng. Kiểm sát viên cao cấp Võ Văn Thêm (Viện Phúc thẩm 3) cũng nhận xét án lệ có thể coi là bộ luật đã được thống nhất, trong đó chứa đựng các bản án mẫu. Trước những vụ án tương tự, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng chỉ cần mở ra đối chiếu là biết ngay đường lối xử lý, rất có lợi. Việc công nhận án lệ không chỉ góp phần tăng cường tính hiệu quả của tòa mà còn tăng cường đáng kể việc giáo dục pháp luật cho mọi người. Từ đó sẽ tăng cường tính minh bạch, công khai trong hoạt động tố tụng và nâng cao lòng tin của người dân vào pháp luật… Với những ý kiến trên của các nhà nghiên cứu luật thì sự công nhận án lệ đã không còn là điều khó thực thi, nhất là theo tinh thần Nghị quyết số 48 của Bộ Chính trị thì trong tương lai gần, án lệ có thể được coi là một trong các nguồn hình thức của pháp luật nước ta. Do vậy, việc nâng cao khả năng thực thi cho án lệ trở thành một trong những vấn đề quan trọng của pháp luật Việt Nam. Trong quá trình nghiên cứu, nhóm nghiên cứu đã tổng hợp được một số ý kiến, đề xuất nhằm nâng cao khả năng áp dụng án lệ ở Việt Nam. Dưới đây là một vài quan điểm của các tác giả cũng quan tâm đến vấn đề này: Trước tiên, cần phải chú trọng vào việc hoàn thiện các báo cáo tổng kết, hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao để từ đó phát triển thành án lệ. Bước tiếp theo, cần phổ biến và hướng dẫn cụ thể với các tòa án cấp dưới và các tòa địa phương về quy chế này. Khi áp dụng án lệ thì thẩm phán giữ vai trò hết sức quan trọng vì vậy thẩm phán cần phải là những người thực sự có tài cũng như chuyên môn vững, có phẩm chất tốt và khả năng sáng tạo, độc lập. Để có được những bản án lệ chất lượng có giá trị bắt buộc đòi hỏi các thẩm phán phải có trình độ cao, có khả năng phân tích, đánh giá các bản án các lập luận của luật sư. Để đạt được điều này họ cần được đào tạo bài bản và có sự độc lập đúng nghĩa của nguyên tắc “thẩm phán xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”. Nhiệm kì của thẩm phán cũng cần được xem xét. Hiện tại thẩm phán ở Việt Nam có nhiệm kì 5 năm đó là quãng thời gian quá ngắn để thẩm phán thể hiện được khả năng của mình cũng như có thể tích lũy kinh nghiệm qua quá trình xét xử. Có khi người làm thẩm phán trong 5 năm chỉ mới kịp xử một số vụ án và khi vừa thích nghi với địa bàn công tác thì họ đã bị thay bởi người khác và người này lại bắt đầu lại, đó là chưa kể việc các thẩm phán vừa công tác lại vừa lo lắng liệu mình có được bổ nhiệm tiếp vào nhiệm kì tới hay không. Như vậy cần phải có nhiệm kì dài hơn cho các thẩm phán để họ có đủ thời gian tích lũy kinh nghiệm, thể hiện khả năng của mình và yên tâm công tác. Nhưng điều quan trọng nhất là cần lựa chọn được những thẩm phán có tài năng thực sự. Ngoài ra cũng cần đảm bảo đời sống cho các thẩm phán bằng cách quy định mức lương thỏa đáng, bảo vệ sự an toàn cho các thẩm phán và gia đình họ….để những phán quyết của họ thực sự công bằng và khách quan. Quy định về thẩm quyền giải thích pháp luật hiện nay ở Việt Nam cũng là trở ngại cho việc áp dụng án lệ. Theo quy định này thì thẩm quyền giải thích pháp luật hiện nay được trao cho Ủy ban thường vụ Quốc hội trong khi thẩm phán là người trực tiếp xét xử vụ án. Và chính trong quá trình xét xử thẩm phán phải giải thích về ý nghĩa và nội dung của từng điều luật cho các đương sự nói riêng và xã hội nói chung. Điều này gây trở ngại cho việc linh hoạt xét xử của các thẩm phán, khiến quá trình xét xử bị thụ động, không phát huy được khả năng của thẩm phán. Các bản án, quyết định của tòa án các cấp ở Việt Nam hiện nay chưa được công bố rộng rãi và rất khó tiếp cận. Việc công bố một cách công khai các bản án và tạo điều kiện thuận lợi nhất để cho mọi người dân khi cần đều có thể tiếp cận là điều rất cần thiết. Việc làm này thể hiện được tính minh bạch trong hoạt động của tòa án nói chung và hoạt động xét xử nói riêng. Khi các bản án được công khai, mọi người đều có thể đánh giá và góp ý, trong đó sẽ có những chuyên gia trong lĩnh vực luật pháp, các luật sư và cả các thẩm phán khác, ngoài ra còn có các giảng viên và các sinh viên luật….Những ý kiến này sẽ là nguồn tư liệu đáng giá góp phần hoàn thiện bản án và giúp công tác xét xử tốt hơn của các thẩm phán trong các những vụ việc sau này. Công bố rộng rãi các bản án cũng thúc đẩy sự công bằng và tính chính xác trong việc xét xử. Việc giải thích luật là một khâu quan trọng trong quá trình xét xử có sử dụng án lệ, việc giải thích này đôi khi phụ thuộc vào ý chí chủ quan của thẩm phán chẳng hạn như việc phân tích và đánh giá những tình tiết như thế nào là tình tiết tương tự cần thiết cho việc xét xử. Do vậy để đảm bảo được tính công bằng, khách quan người thẩm phán phải thực sự hiểu rõ các nguyên tắc luật lệ nắm vững những vấn đề chuyên môn tránh sự nhìn nhận một chiều, chủ quan. Cần áp dụng triệt để phương pháp “đối tụng”, nghĩa là tố tụng dựa vào tranh luận và chất vấn giữa các bên đối lập. Trong tố tụng hình sự, kiểm sát viên phải tranh luận tất cả các nội dung phản biện mà luật sư đưa ra. Phải cho phép các thẩm phán, kiểm sát viên, luật sư được tranh tụng bằng cách dẫn chiếu những án lệ đã có hiệu lực. Các trường luật phải giảng dạy bằng lý thuyết gắn chặt với bản án điển hình. Giáo trình phải được minh họa, dẫn chứng bằng những bản án có thực. Trên đây là những đề xuất của một số nhà nghiên cứu luật cho rằng việc áp dụng án lệ ở Việt Nam là hoàn toàn cần thiết. Những đề xuất này là cơ sở để xây dựng một hệ thống án lệ phù hợp với Việt Nam trong quá trình hoàn thiện pháp luật, cũng như góp phần thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế. Thế nhưng, đây là một vấn đề được nhiều chuyên gia luật cũng như những nhà thực thi pháp luật nước quan tâm. Việc chưa được công nhận hoàn toàn là nguồn pháp luật đã dẫn đến nảy sinh hai quan điểm trái chiều. Nếu như phần trên nhóm nghiên cứu đã trình bày một số quan điểm cũng như đề xuất của một số cá nhân trong việc ủng hộ áp dụng án lệ tại Việt Nam thì dưới đây là một vài ý kiến phủ nhận vấn đề đó. Trong cuộc họp của Ủy ban thường vụ Quốc hội hồi tháng 8 vừa qua, nhiều ý kiến đã không đồng tình với việc công nhận, áp dụng án lệ ở Việt Nam. Theo chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của Quốc hội: Lê Thị Thu Ba, áp dụng án lệ ở ta là không phù hợp với hệ thống pháp luật. Đặc biệt, hiện nay chúng ta đang không ngừng sửa đổi, bổ sung các quy định nên trong từng giai đoạn cụ thể thì chính sách pháp luật sẽ không còn giống nhau. Trưởng Ban Dân nguyện Trần Thế Vượng phân tích: bản thân án lệ chính là pháp luật, để lấy vụ án đó áp dụng cho vụ án sau. Nhưng luật pháp hiện nay luôn luôn thay đổi. Và khi đã thay đổi thì không thể lấy bản án cũ áp dụng cho các bản án sau được. Về chuyện nay, TS Nguyễn Thị Hoài Phương (Trường ĐH Luật TP.HCM) cũng phản đối. Theo bà một nước theo hệ thống luật thành văn như nước ta thì Hiến pháp cao nhất và là đạo luật gốc. Hiến pháp đã quy định thẩm phán xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật thì chúng ta phải làm theo. Về góc độ khoa học pháp lý, việc công nhận án lệ cũng không hợp lý vì bản thân mỗi thẩm phán dù là cấp huyện để được bổ nhiệm cũng có mức trình độ nhất định. Vì thế tại sao trong nghiệp vụ họ lại phải xét xử theo án mẫu mà không có cách xử lý riêng? Trong khi đó án lệ cũng chỉ là trí tuệ của một nhóm người chứ không phải tất cả thẩm phán. Tiến sĩ Phương giải thích thêm: Nếu chấp nhận án lệ để tòa cấp dưới tuân theo thì tòa cấp huyện phải xử theo án của tòa cấp tỉnh. Chẳng may những bản án mẫu đó bị hủy, bị sửa thì sao? Thực tế, ngay cả TAND Tối cao cũng không dám khẳng định những bản án giám đốc thẩm, tái thẩm của mình là hoàn toàn đúng. Bằng chứng là ngành tòa án luôn có hướng xin thêm cơ chế đặc biệt để xử lại bản án của mình nếu có sai lầm nghiêm trọng. Chỉ khi nào TAND Tối cao khẳng định rằng bản án mình ban hành không bao giờ sai thì mới áp dụng án lệ được. Từ những quan điểm trên thấy được việc áp dụng án lệ tại Việt Nam đã vấp phải những khó khăn đang tồn tại. Thực tế cũng cho thấy Việt Nam cũng chưa thực sự sẵn sàng cho việc công nhận thêm một nguồn luật mới trong khi các nguồn luật khác đã phát huy được rõ vai trò của mình với công tác điều tra xét xử ở các cấp tòa án. Và đặc biệt, cơ chế pháp luật của Việt Nam cũng chưa thực sự phù hợp cho việc áp dụng án lệ trong quá trình xét xử. Áp dụng án lệ - nên hay không nên đối với Việt Nam? Đây là một câu hỏi khó và gây nhiều tranh cãi trong quá trình xây dựng hệ thống pháp luật phù hợp với yêu cầu của thời đại mới. 2.4.2 Ý kiến, đề xuất cá nhân của nhóm nghiên cứu. Trong suốt quá trình tìm hiểu, tổng hợp về án lệ - một loại nguồn pháp luật, nhóm nghiên cứu đề tài cũng đã hình thành những suy nghĩ và chính kiến của riêng mình về vấn đề này. Áp dụng án lệ ở Việt Nam có thực sự phù hợp và cần thiết? Thiết nghĩ đây là một vấn đề lớn, trong phạm vi của một bài nghiên cứu khoa học nhóm nghiên cứu xin được trình bày một vài quan điểm cá nhân nhằm góp phần thể hiện ý chí nguyện vọng của bản thân với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trên tinh thần bảo vệ công lý. Việt Nam vốn là một quốc gia theo hệ thống luật thành văn. Các văn bản quy phạm pháp luật là nguồn chủ yếu cơ bản quan trọng nhất của pháp luật, bởi lẽ các cơ quan nhà nước ở Việt Nam khi giải quyết các vụ việc pháp lý thực tế thuộc thẩm quyền của mình chủ yếu dựa vào các văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL). Các VBQPPL được hình thành do kết quả của hoạt động xây dựng pháp luật, thể hiện trí tuệ tập thể nên tính khoa học tương đối cao. Tuy nhiên các VBQPPL vẫn còn có những hạn chế: chưa dự đoán được hết những tình huống xảy ra trong tương lai dẫn đến việc chưa có quy phạm pháp luật thành văn kịp thời điều chỉnh những tinh huống này. Vậy nên việc hiện diện của án lệ là một xu thế tất yếu trước đòi hỏi của thời đại. Án lệ thực sự là một nguồn pháp luật bổ sung hữu ích cho luật thành văn, điều này đã được trải nghiệm qua các nước thông luật. Trong điều kiện hiện nay của Việt Nam, việc công nhận án lệ là một nguồn luật chính thức chưa thực sự phù hợp. Với một số lý do như: trình độ của các thẩm phán chưa cao. Tỉ lệ án sai, án oan, án phải sửa vẫn chưa hề giảm, điều đó đồng nghĩa với việc số lượng các vụ án oan trái tăng lên. Trong bối cảnh hội nhập, khi các thẩm phán chưa có kinh nghiệm về các tranh chấp quốc tế, không được tiếp cận thường xuyên với án lệ thế giới thì việc áp dụng án lệ quả là một bước đi nguy hiểm. Hơn thế nữa, trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, vai trò của tư pháp, với trung tâm là tòa án cần được nâng cao thì các thẩm phán phải được tự do tư duy và dùng lí lẽ bảo vệ công lí của mình một cách độc lập, sáng tạo. Vậy khâu cần giải quyết ở đây là khâu đào tạo nhân lực thực hành luật, cụ thể là thẩm phán chứ không nên quy kết cho việc dùng nguồn luật nào, vì dù là nguồn luật nào thì thẩm phán cũng chỉ có nghĩa vụ duy nhất là bảo vệ công lí. Góp phần ứng dụng được những ưu việt của án lệ, bổ sung cho nguồn pháp luật Việt Nam, nhóm thực hiện xin đề ra mấy biện pháp cụ thể sau đây: Thứ nhất là công khai toàn bộ các bản án của các tòa án nhân dân các cấp. Điều này có thể thực hiện một cách dễ dàng với một trang web điện tử và một nhân viên kĩ thuật internet cho mỗi đơn vị tòa án. Việc làm này giúp pháp luật được công khai, thể hiện tính dân chủ, nâng cao quyền tự do thông tin của người dân. Qua các vụ việc cụ thể, người dân có thể đánh giá, phản biện góp phần hoàn thiện hơn nữa pháp luật, phục vụ công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền. Thứ hai là đăng tải định kì các vụ án giám đốc thẩm, các vụ án tiêu biểu trên các chuyên trang tạp chí. Các thẩm phán có thể lấy đó là nguồn hữu ích để học hỏi, hay kiến nghị lên cấp trên, đúc rút kinh nghiệm, từ đó nâng cao trình độ của mình. Thật là không công bằng khi chỉ trau dồi kiến thức cho thẩm phán, những người đại diện cho công lí mà không nâng cao trình độ của luật sư, những người bảo vệ quyền vô tội hợp pháp của người dân. Vì thế, các vụ án được đăng tải định kì này nhất thiết phải bao gồm cả phần tranh tụng của luật sư. Thứ ba là tuyển tập các vụ án tiêu biểu đặc biệt là trong các vụ án kinh tế, hành chính cùng với những đánh giá, bình luận từ phía các chuyên gia, từ đó đúc kết ra được nguyên tắc xét xử mang tính định hướng lâu dài, phục vụ công tác xét xử cũng như lập pháp. Thứ tư là công tác đào tạo sinh viên luật cần gắn liền với hoạt động thực tiễn tại tòa án. Điều này đảm bảo đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao, và có thể bỏ các quy định tuyển chọn yêu cầu thẩm phán phải có ít nhất bốn năm hành nghế luật như hiện nay. KẾT LUẬN Trên cơ sở tìm tòi, suy nghĩ, tham khảo các tài liệu, đề tài đã trình bày được một số vấn đề về lý luận và thực tiễn đối với việc áp dụng án lệ ở Việt Nam. Nhóm nghiên cứu dựa trên những kết quả tìm hiểu đó, đã hình thành nên những ý kiến riêng nhằm góp phần thực hiện việc áp dụng án lệ ở Việt Nam trở nên hiệu quả nhất. Đây cũng chính là phần thể hiện rõ nhất kiến thức và hiểu biết của nhóm, là kết quả của quá trình học hỏi, nghiên cứu về đề tài. Nên hay không nên áp dụng án lệ ở Việt Nam hiện nay vẫn còn là một câu hỏi khó, chưa thể có một đáp án chính xác. Thông qua vốn hiểu biết và kiến thức về tình hình hệ thống pháp luật của Việt Nam hiện nay, nhóm nghiên cứu chỉ muốn đóng góp những suy nghĩ, ý kiến của sinh viên về việc hoàn thiện pháp luật của đất nước tạo cơ sở cho công lý, công bằng được tồn tại. Thiết nghĩ đây cũng là cách thể hiện sự quan tâm của bản thân nhóm nghiên cứu trong quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam trên phương diện pháp lý. Nhóm nghiên cứu cũng hy vọng rằng trong thời gian tới Việt Nam sẽ có những biện pháp, phương hướng tốt nhất trong việc áp dụng án lệ với các công tác xét xử và thi hành án của tòa án. Trong phạm vi một đề tài nghiên cứu khoa học, và cũng là lần đầu tiên tham gia nghiên cứu nên bản báo cáo này cũng sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, khuyết điểm cả về nội dung cũng như hình thức. Do vậy bản thân nhóm nghiên cứu rất mong muốn nhận được sự đánh giá, góp ý, phê bình của tất cả mọi người đặc biệt là của các thầy cô và các bạn sinh viên. Hy vọng rằng với tất cả những gì đã làm được, bản nghiên cứu này sẽ góp một phần nào đấy trong công cuộc phát triển của đất nước, đặc biệt là trong lĩnh vực luật pháp. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật-Khoa luật ĐHQG HN, Hoàng Thị Kim Quế (chủ biên). Giáo trình Luật Hiến pháp. Khoa luật ĐHQG HN. Nguyễn Đăng Dung (chủ biên). Tinh thần pháp luật = De l'esprit des Lois : trích dịch 166 chương cùng các tiểu dẫn và phụ lục / Montesquieu ; Ngd. : Hoàng Thanh Đạm . - H. : Giáo dục, 1996. - 316 tr. Tranh chấp từ hợp đồng xuất nhập khẩu án lệ trọng tài và kinh nghiệm : sách tham khảo / Hoàng Ngọc Thiết . - H.: Chính trị quốc gia, 2002. - 214 tr. Pháp luật thực tiễn và án lệ / Đinh Văn Quế . - Đà Nẵng : Nxb. Đà Nẵng, 1999. - 304 tr. Hệ thống tư pháp hình sự trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền : sách chuyên khảo / Lê Văn Cảm . - H. : ĐHQGHN, 2009. - 534 tr. Đổi mới tổ chức, hoạt động giám định tư pháp . - H. : Tư pháp, 2004. - 169 tr. Tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tập 3, tổ chức, hoạt động của các cơ quan tư pháp . - H. : Tư pháp, 2005. - 191 tr. Thể chế tư pháp trong nhà nước pháp quyền / Cb. : Nguyễn Đăng Dung . - H. : Tư pháp, 2004. - 251 tr. Tạp chí nghiên cứu châu Âu Tạp chí luật học Tạp chí quản lí nhà nước Tạp chí nhà nước và pháp luật Tạp chí dân chủ và pháp luật http:// nclp.org.vn

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docÁn lệ với pháp luật Việt Nam.doc