Ảnh hưởng của việc bón phân hữu cơ lên năng suất và tính chất vật lý của đất trồng dưa hấu, dưa lê ở phường Long Tuyền - Quận Bình Thuỷ, thành phố Cần Thơ

CẤU TRÚC ĐỀ TÀI TÓM LƯỢC Rau mang lại giá trị dinh dưỡng cao trong đời sống của con người. Đồng thời cung cấp nhiều khoáng chất cần thiết cho sự phát triển của cơ thể. Nó là thức ăn không thể thiếu trong mỗi bữa ăn hàng ngày của con người. Tuy rau có thời gian sinh trưởng ngắn nhưng nó đòi hỏi phải cung cấp lượng phân rất lớn. Do đó để tăng năng suất rau thì con người đã sử dụng nhiều loại phân hoá học và phun thuốc bảo vệ thực vật làm làm ảnh hưởng đến tính chất của đất về mặt lý hóa và sinh học đất. Điều này dẫn đến hậu quả đất trở nên nén dẽ, mất cấu trúc, ẩm độ trong đất giảm, mật số vi sinh vật có hại gia tăng, ảnh hưởng đến quá trình khoáng hóa chất hữu cơ, khoáng hoá đạm, làm cho đất ngày trở nên bạc màu. Để giúp cải thiện tính chất của đất nêu trên ta dùng phân hữu cơ bón cho rau là tốt nhất, chẳng những làm cho đất tơi xốp, thoáng khí, tính đệm của đất tăng, giàu chất hữu cơ mà còn tăng năng suất cho cây rau. Đề tài “Ảnh hưởng của việc bón phân hữu cơ lên năng suất và tính chất vật lý của đất trồng dưa hấu, dưa lê ở phường Long Tuyền- quận Bình Thuỷ, thành phố Cần Thơ” nhằm nghiên cứu ảnh hưởng của phân hữu cơ lên tính chất vật lý của đất và nghiên cứu ảnh hưởng phân hữu cơ lên năng suất rau. Đề tài được thực hiện trên hai thí nghiệm dưa hấu và dưa lê trên hai vụ. Kết quả cho thấy đất phù sa ở đây có chất hữu cơ thuộc loại nghèo 2%, pH đất trong khoảng 5,5 -5,6 đạt gần mức tối hảo. Các tính chất vật lý như dung trọng đất biến thiên trong khoảng 0,89-1,13 g/cm3, dung trọng của đất bón hữu cơ thấp hơn so với dung trọng của đất không bón hữu cơ. Độ xốp của đất khi bón hữu cơ khác biệt có ý nghĩa thống kê so với nghiệm thức không bón hữu cơ. Đối với chỉ tiêu tính bền cho thấy bón hữu cơ đất có cấu trúc hơn, bền hơn so với không bón hữu cơ. Khi bón phân hữu cơ cho dưa hấu và dưa lê cũng cho thấy năng suất rau tăng lên rõ rệt như năng suất dưa hấu có bón hữu cơ là 33,48 tấn/ha so với năng suất dưa hấu không bón hữu cơ là 27,18 tấn/ha. Năng suất dưa lê nghiệm thức có bón hữu cơ là 26,70 tấn/ha so với năng suất nghiệm thức dưa lê không bón hữu cơ đạt 24,29 tấn/ha. Vì vậy, nên tiếp tục sử dụng phân hữu cơ để bón cho rau theo hướng lâu dài để khắc phục những đặc tính bất lợi của đất. MỞ ĐẦU CHƯƠNG I LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU I.1 SƠ LƯỢC VÙNG NGHIÊN CỨU I.1.1 Điều kiện tự nhiên. I.1.2 Các yếu tố kinh xã hội I.2 TẦM QUAN TRỌNG CỦA CÂY RAU, ĐẶC ĐIỂM CHUNG VÀ KỸ THUẬT LÀM ĐẤT TRỒNG RAU I.2.1 Tầm quan trọng của cây rau đối với nền kinh tế và xã hội I.2.2 Đặc điểm chung của ngành sản xuất rau: I.2.3 Đất trồng rau. I.3 ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC SẢN XUẤT RAU ĐẾN MÔI TRƯỜNG I.3.1 Ảnh hưởng của thuốc bảo vệ thực vật đến môi trường. I.3.2 Ảnh hưởng của việc sử dụng phân hoá học. I.3.3 Ảnh hưởng của thâm canh rau đến tính chất vật lý và hoá học đất I.4 PHÂN HỮU CƠ VÀ VAI TRÒ TÁC DỤNG CỦA PHÂN HỮU CƠ I.4.1 Phân hữu cơ. I.4.2 Khái niệm chất hữu cơ và sự khoáng hoá chất hữu cơ. I.4.3 Vai trò của phân hữu cơ. I.4.4 Lợi ích của việc bón phân hữu cơ. I.4.5 Kỹ thuật sử dụng phân hữu cơ. I.4.6 Sử dụng phân hữu cơ trong canh tác rau màu. I.4.7 Bón phân hữu cơ cho rau. CHƯƠNG II PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP II.1 PHƯƠNG TIỆN II.1.1 Địa điểm khảo sát II.1.2 Mẫu đất II.1.3 Phương tiện II.2 Phương pháp II.2.1 Các bước thực hiện II.2.2 Khảo sát các chỉ tiêu vật lý và hoá học đất các điểm khảo sát CHƯƠNG III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN III.1 ĐẶC ĐIỂM VÙNG NGHIÊN CỨU III.1.1 TỔNG QUAN III.1.2 Đặc tính đất tại vùng nghiên cứu: III.2 ẢNH HƯỞNG PHÂN HỮU CƠ LÊN TÍNH CHẤT VẬT LÝ ĐẤT III.3 ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN HỮU CƠ LÊN NĂNG SUẤT RAU CHƯƠNG IV KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ IV.1 KẾT LUẬN IV.2 ĐỀ NGHỊ TÀI LIỆU THAM KHẢO Hy vọng đề tài khóa luận nghiên cứu những "Ảnh hưởng của việc bón phân hữu cơ lên năng suất và tính chất vật lý của đất trồng dưa hấu, dưa lê ở phường Long Tuyền- quận Bình Thuỷ, thành phố Cần Thơ" sẽ giúp cho các bạn có một đề tài tham khảo một cách thật hữu hiệu phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài của mình. Chúc bạn thành công!!!

doc50 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 04/02/2013 | Lượt xem: 4944 | Lượt tải: 21download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Ảnh hưởng của việc bón phân hữu cơ lên năng suất và tính chất vật lý của đất trồng dưa hấu, dưa lê ở phường Long Tuyền - Quận Bình Thuỷ, thành phố Cần Thơ, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
làm giảm pH đất , tạo ra những acid hữu cơ và tạo ra một số hợp chất không hữu dụng cho cây trồng. Khi tế khổng trong đất giảm do nén dẽ thì sự vận chuyển nước bị hạn chế. Nếu nước được cung cấp nhanh hơn tốc độ thấm thì gây ra hiện tượng chảy tràn, dẫn đến xói mòn đất, dinh dưỡng cho cây trồng cũng bị cuốn trôi (Hammel, 1994; Unger and Kaspar, 1994). Dung trọng và độ xốp Dung trọng khô và độ xốp là các thông số vật lý đất thường được áp dụng để đánh giá sự nén dẽ của đất, khả năng giử nước và điều kiện phát triển của rễ cây trồng (Lê Văn Khoa, 2003). Dung trọng phụ thuộc vào thành phần khoáng, thành phần cơ giới, hàm lượng chất hữu cơ, cấu trúc, kỷ thuật làm đất. Khi dung trọng thấp sẽ có lợi cho quá trình hấp thu dinh dưỡng chất của cây trồng (Nguyễn Thế Đặng, 1999). Tuy nhiên, khi dung trọng của đất cao, tế khổng trong đất giảm sẽ hạn chế sự phát triển của hệ rễ cây trồng, giới hạn khả năng hấp thu dinh dưỡng, hấp thu nước và cuối cùng là năng suất cây trồng giảm (Võ Thị Gương, 2004). Mặt khác, đất có độ xốp thấp tạo ra sự cản trở lớn cho sự phát triển của bộ rễ, khi đó sẽ làm giảm tiến trình hấp thu dưỡng chất của bộ rễ cây trồng. Đất có độ xốp phù hợp thì có lợi cho cây trồng. Tùy thuộc vào điều kiện ngoài đồng các tế khổng có thể chứa đầy nước hoặc không khí. Đất lý tưởng trong sản xuất nông nghiệp cần có độ xốp 50%, trong đó khoảng 25% tỷ lệ là nước (Miller,1990). Bảng 1 và bảng 2 là thang đánh giá độ xốp và dung trọng của đất: Bảng 1 Thang đánh giá độ xốp đất (% thể tích), (theo N.A. Karchinski, 1965). Tế khổng Đánh giá >70% Đất quá xốp, đất quá khô 65 - 55% Đất xốp (lớp đất cày xới tầng mặt) 55 - 50% Trung bình cho lớp đất mặt < 50% Đất chặt, không đạt yêu cầu 40 - 25% Đất quá chặt (các tầng dưới) Bảng 2 Thang đánh giá dung trọng đất, g/cm3 (N.A. Karchinski, 1965) Dung trọng Đánh giá <1.0 Đất quá khô hay giàu chất hữu cơ. 1.0-1.1 Đất mới được xới hoặc đất rất thuộc. >1.2 Đất bị nén dẻ. 1.3-1.4 Đất chặt, bị nén cẻ mạnh. 1.4-1.6 Đất rất chặt thường thấy ở tầng đế cày. 1.6-1.8 Quá chặt thường thấy ở tầng tích tụ. Thành phần cơ giới Đất có tỷ lệ hạt nhỏ về cơ bản là giàu dinh dưỡng do khả năng giữ dinh dưỡng của nó tốt hơn đất có tỷ lệ cát cao. Tuy nhiên, nếu không được bổ sung dinh dưỡng và không có biện pháp bảo vệ thích hợp thì sẽ dẫn đến thoái hóa: giảm tốc độ thấm nước, tăng tính mao dẫn, tăng tính dính (Nguyễn Thế Đặng, 1999). Đất có tỷ lệ sét cao, hàm lượng chất dinh dưỡng thấp, nếu thời gian canh tác càng lâu, liên tục thì tình trạng nén dẽ của đất dễ dàng xãy ra (Võ Thị Gương, 2004). Về mặt hóa học đất: Độ chua của đất là một tính chất quan trọng, ảnh hưởng đến các tính chất lý, hóa, sinh học đất. Qua giá trị pH ta có thể biết được lượng vôi cần bón, khả năng dư thừa gây độc của các ion, hoạt động của vi sinh vật và liên quan đến độ hữu hiệu của tất cả các dinh dưỡng khoáng (Nguyễn Xuân Trường và ctv, 2000). Theo Trần Thị Ba, 1999 pH thích hợp cho rau phát triển từ 5,5-7, ở pH này thì cây hấp thu chất dinh dưỡng dễ dàng và các sinh vật đất cũng hoạt động tốt. Khi pH thấp từ 4,5-5, muốn trồng rau thì phải bón thêm vôi. Ở pH này sự khoáng hóa N kém, P hữu dụng, Ca và Mg thấp, các vi sinh vật gây hại hoạt động tốt hơn. Các yếu tố này đưa đến khả năng chống chịu những điều kiện bất lợi của đất kém, cây yếu, dễ bị sâu bệnh tấn công (Võ Thị Gương, 2004). Bảng 3 Thang đánh giá độ chua hiện tại cho đất trồng màu (Washington University – tree Fruit research & Extention center, 2001) pHH2O Độ chua của đất <5.0 Thấp (low) 16.0-7.5 Tối hảo (optimal) >7.5 Cao (high) PHÂN HỮU CƠ VÀ VAI TRÒ TÁC DỤNG CỦA PHÂN HỮU CƠ Phân hữu cơ Khái niệm chất hữu cơ và sự khoáng hoá chất hữu cơ Chất hữu cơ là một thành phần cơ bản kết hợp với các sản phẩm phong phú từ đá mẹ để tạo thành đất. Chất hữu cơ là một đặc trưng để phân biệt đất với đá mẹ và là nguồn nguyên liệu để tạo nên độ phì của đất. Số lượng và tính chất của chất hữu cơ quyết định đến nhiều tính chất hóa lý và sinh học của đất (Nguyễn Thế Đặng, 1999). Chất hữu cơ là bộ phận của đất có thành phần phức tạp và có thể chia làm hai phần: Chất hữu cơ chưa bị phân giải và những tàn tích hữu cơ như: thân, rễ, lá thực vật, xác động vật, xác vi sinh vật. Phần thứ hai là những chất hữu cơ đã phân giải. Trong phần chất hữu cơ đã phân giải này chia làm hai nhóm: + Nhóm những hợp chất hữu cơ ngoài mùn. + Nhóm những hợp chất mùn. Nhóm những hợp chất trong đất ngoài mùn chiếm tỷ lệ thấp trong toàn bộ chất hữu cơ thường không vượt quá 10-15% (trừ than bùn hoặc đất dưới rừng có tầng thảm mục dày). Nhóm chất hữu cơ này gồm các chất hữu cơ thông thường có trong động vật, thực vật và vi sinh vật như: Hydrat, cacbon, Protein, Linhin, Lipit, andehyt,… Nhóm hợp chất mùn là những hợp chất cao phân tử có cấu tạo phức tạp. Chúng chiếm tỷ lệ cao trong chất hữu cơ (khoảng 85-90%). Bảng 4 Thang đánh giá chất hữu cơ trong đất (%CHC), (theo I.V. Chiurin, 1972). Chất hữu cơ trong đất, % Đánh giá <1.0% Rất nghèo 1.1 – 3.0% Nghèo 3.1 – 5.0% Trung bình 5.1 – 8.0% Khá >8.1% Giàu Khoáng hoá là quá trình phân huỷ các hợp chất hữu cơ liên tục để tạo thành các hợp chất khoáng đơn giản, sản phẩm cuối cùng là những hợp chất tan và chất khí có sự tham gia của vi sinh vật (Nguyễn Thế Đặng, 1999). Nó sẽ trả lại cho đất các chất dinh dưỡng có ít cho cây trồng dưới dạng các chất vô cơ. Theo Nguyễn Thế Đặng (1999), thì sự khoáng hoá phụ thuộc vào : thành phần chất hữu cơ, ẩm độ của đất (thích hợp là 70-80%), nhiệt độ (thích hợp là 25-35oC), pH đất (thích hợp 6.5-7.5), và càng thoáng khí khoáng hoá càng nhanh. Quá trình khoáng hoá xảy ra nhanh khi gặp điều kiện thuận lợi tạo ra nhiều chất dinh dưỡng cho cây trồng. Tuy nhiên khoáng hoá xảy ra trong điều kiện yếm khí thì sẽ sinh ra nhiều chất độc có hại cho cây trồng như: CH4, CO2, H2S…(Lê Huy Bá, 2000). Xác hữu cơ mùn hoá khoáng hoá nhanh khoáng hóa từ từ Các hợp chất mùn Các hợp chất khoáng Hình 1.2 Sự chuyển hóa chất hữu cơ trong đất( Dương Minh Viễn, 2003) Nguồn gốc chất hữu cơ Nguồn gốc nguyên thủy của chất hữu cơ trong đất là mô thực vật: thân, rễ, lá cây sau khi chết đi sẽ bị mục nát, hoa màu sau khi thu hoạch thì phần còn lại như: Lá hay rễ cũng bị phân hủy để cung cấp chất hữu cơ cho đất. Ngoài ra động vật cũng là nguồn cung cấp chất hữu cơ cho đất. Chất hữu cơ được bổ sung vào đất từ các nguồn sau đây: Xác sinh vật (còn gọi là tàn tích sinh vật): Đây là nguồn hữu cơ chủ yếu. Sinh vật đã lấy thức ăn từ đất để tạo nên cơ thể chúng và khi chết đi để lại những tàn tích hữu cơ cho đất. Trong xác sinh vật có đến 4/5 là từ thực vật. Tính trung bình hàng năm đất được bổ sung từ thực vật 5-18 tấn thân, rễ và lá trên ha (Nguyễn Thế Đặng, 1999). Ngoài thực vật thì xác vi sinh vật và động vật đất đã cung cấp chất hữu cơ một phần hết sức đáng kể, mặc dù khối lượng không lớn nhưng có chất lượng tốt. Phân hữu cơ đối với đất đang canh tác thì lượng chất hữu cơ do con người bón vào đất là nguồn hữu cơ đáng kể. Những nơi thâm canh cao người ta có thể bón tới 80 tấn hữu cơ trên ha. Nguồn phân hữu cơ bao gồm: phân chuồng, phân xanh, phân rơm rác, bùn ao,… tùy thuộc vào loại phân hữu cơ khác nhau mà chất lượng khác nhau (Ngô Ngọc Hưng, 2004). Phân hữu cơ là loại phân bón được loài người sử dụng đầu tiên, từ gần 3000 năm trước đây ở Trung Quốc (Nguyễn Đăng Nghĩa, 2002). Phân hữu cơ Phân hữu cơ là tên gọi chung cho các loại phân được sản xuất từ các vật liệu hữu cơ như dư thừa thực vật, phân chuồng, phân xanh, chất thải thực vật, các phế phẩm nông nghiệp vùi trực tiếp vào đất hay ủ thành phân. Sau khi phân giải có khả năng cung cấp dinh dưỡng cho cây. Quan trọng hơn nữa là có khả năng tái tạo lớn. Đây là nguồn phân quý, không những tăng năng suất cây trồng mà còn có khả năng làm tăng hiệu lực của phân hóa học, cải tạo và nâng cao độ phì nhiêu của đất (Ngô Ngọc Hưng, 2004). Kinh nghiệm trong quá trình sử dụng, nghiên cứu phân bón cho thấy để đảm bảo năng suất cao và ổn định, việc cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng chỉ dựa vào phân vô cơ là không đủ, mà phải có phân hữu cơ ít nhất 25% trong tổng số dinh dưỡng (Vũ Hữu Yêm, 2005). Michel Vilain (1989) đề nghị phân loại theo mức độ khoáng hóa chất hữu cơ hay khả năng tạo mùn của chất hữu cơ. Chất hữu cơ có tỷ lệ C/N cao được vùi trực tiếp vào đất không qua chế biến, chức năng chủ yếu là cải tạo đất thì được gọi là chất hữu cơ cải tạo đất. Chất hữu cơ thông qua chế biến hay không thông qua chế biến có tỷ lệ C/N thấp thì gọi là phân hữu cơ (Vũ Hữu Yêm, 2005). Vai trò của phân hữu cơ Vai trò của phân hữu cơ đối với cây trồng Từ lâu vấn đề này được biết đến, chất hữu cơ trong đất có ảnh hưởng đến sự phát triển của cây trồng, nó không thể giải thích thông qua sự thêm dinh dưỡng đơn độc. Chất hữu cơ chứa các nguyên tố N, P, K, Mg, Ca, S,… và nhiều nguyên tố vi lượng cần thiết cho cây. Cây có thể hút trực tiếp một lượng chất đạm hữu cơ dưới dạng Amino Acid như: Alanine, Glyeine, còn thông thường cây hút các chất dinh dưỡng dưới dạng muối khoáng có được từ sự khoáng hóa chất hữu cơ. Ví dụ: Cây lúa hút 80% chất đạm từ sự khoáng hóa chất hữu cơ trong đất, ngay cả khi đất được bón phân (Đỗ Thị Thanh Ren, 1993). Bón kết hợp thích đáng giữa phân hóa học và phân hữu cơ sẽ có tác dụng tăng năng suất cây trồng. Phân hữu cơ có chứa đầy đủ các loại chất khoáng cần thiết cho cây trồng nhưng hàm lượng không nhiều. Mặc dù phân hữu cơ không có tác dụng tức thời như phân hóa học, nhưng bón với số lượng lớn thì tác dụng của nó không thua kém phân hóa học ( Nguyễn Thanh Hùng, 1984). Vai trò của phân hữu cơ đối với đất Cải tạo hóa tính đất và bồi dưỡng đất Phân hữu cơ có tác dụng cải tạo đất toàn diện, đặt biệt nó cải tạo nhiều đặc tính xấu của đất ngoài việc cải tạo đất nghèo dinh dưỡng, phân hữu cơ còn làm tăng lượng chất hữu cơ và mùn trong đất mà phân hóa học không có được. Bón phân hữu cơ đất ít bị rửa trôi thành đất bị bạc màu hoặc trơ cát sỏi. Chất hữu cơ có tác dụng như keo giữ lại các hạt đất rất nhỏ. Đồng thời, nếu chất mùn trong đất được tăng lên thì các chất dinh dưỡng do ta bón cho cây như: N, P, K,… cũng ít bị rửa trôi hay bay hơi đi mất. Ngoài ra, đất có tính đệm nghĩa là khi bón các loại phân hóa học hoặc vôi vào đất thì tính chất hóa học của đất như: chua, kiềm, mặn…ít tăng đột ngột nên cây trồng ít bị thiệt hại. Bón phân hữu cơ vào các loại đất thịt nhẹ, đất xám, đất cát làm cho đất không có cấu trúc rời rạc, nhờ đó hạn chế sự bốc hơi nước của đất và giúp cây ít bị khô héo nhanh khi bị nắng hạn, nhưng khi gặp mưa dầm thì đất ít bị dính chặt, dễ hút nước hơn…Ngược lại, đất thịt nặng hoặc đất sét nếu được bón nhiều phân hữu cơ thì đất trở nên tơi xốp hơn do đó cây trồng sẽ phát triển mạnh để hút nhiều thức ăn cho năng suất cao (Nguyễn Thanh Hùng, 1984). Theo Vũ Hữu Yêm (1995) và Nguyễn Ngọc Nông (1999) cho rằng: Phân hữu cơ khi bón vào đất sau khi phân giải sẽ cung cấp thêm các chất khoáng làm phong phú thêm thành phần thức ăn cho cây và sau khi mùn hóa làm tăng khả năng trao đổi của đất. Đặc biệt là các humic aicd trong phân có tác dụng khoáng hóa đạm rất tốt trong đất (Nguyễn Bảo Vệ, 1996). Bón phân hữu cơ sẽ cung cấp thêm các khoáng chất cho cây, phân hữu cơ làm tăng khả năng hòa tan cho chất khoáng khó hòa tan. Các chất hữu cơ sau khi mùn hóa làm tăng khả năng trao đổi chất của đất. Đặc tính này quan trọng đối với thành phần cơ giới nhẹ: khả năng trao đổi của mùn gấp 5 lần khả năng trao đổi của đất sét. Cây trồng lấy từ đất một lượng dinh dưỡng khá lớn, nhiều chất bị rửa trôi, bay hơi (N) nên phải trả lại lượng dinh dưỡng cho đất để duy trì độ phì nhiêu của đất. Để đáp ứng thức ăn cho cây trồng. Bón phân hữu cơ có tác dụng cung cấp cho đất gần đầy đủ các loại dưỡng chất cần thiết: N, P, K, Ca, Mg… Và nhiều chất vi lượng khác mà phân hóa học không có đặc điểm này ( Nguyễn Thanh Hùng, 1984). Theo Ngô Ngọc Hưng và ctv, 2004 phân hữu cơ còn cung cấp CO2 cho sự quang tổng hợp chất hữu cơ, cung cấp các chất dinh dưỡng hữu cơ như: Đường và các amino acid là sản phẩm trung gian trong quá trình phân hủy, có thể được cây trồng sử dụng, làm giảm khả năng trực di các cation, điều này quan trọng trong các loại đất chứa ít sét, làm gia tăng khả năng đện các chất dinh dưỡng, chủ yếu là N, P, K và S. Vì vậy, làm tăng hiệu quả của phân hóa học vào đất… Hữu cơ còn là nhân tố tích cực tham gia vào chuyển hóa lân trong đất từ dạng khó tiêu sang dạng dễ tiêu, hữu dụng cho cây trồng (Nguyễn Thị Thủy và ctv, 1997). Mặt khác, chất hữu cơ còn có tác dụng đệm trong hầu hết các loại đất (Đỗ Thị Thanh Ren, 1998), hay tạo phức chất hữu cơ – khoáng để khắc phục các yếu tố độc hại trong đất (Lê Văn Khoa và ctv, 1996). Theo Lê Duy Phước (1968), tăng cường bồi dưỡng đất bằng phân hữu cơ kết hợp sử dụng vôi, phân hóa học hợp lý để cải tạo thành phần lý – hóa của đất, cải tạo nhanh chóng đất bạc màu. Bên cạnh đó, chất hữu cơ còn phát huy tác dụng của các chất điều hòa tăng trưởng sinh ra trong đất (Hoàng Minh Châu, 1998). Cải tạo lý tính của đất Các kết quả nghiên cứu cho thấy việc trộn chất hữu cơ vào đất làm tăng độ định kết cấu đất. Tác dụng ổn định cấu trúc đất phụ thuộc vào bản chất chất hữu cơ, và mức độ mùn hóa. Mùn tăng khả năng kết dính các hạt đất để tạo thành đoàn lạp và làm giảm khả năng thấm ướt khiến cho kết cấu được bền trong nước (Đỗ Thị Thanh Ren, 1998). Chất hữu cơ làm cho nước ngấm vào đất thuận lợi hơn, khả năng giữ nước cao hơn, việc bốc hơi mặt đất ít đi nhờ vậy mà tiết kiệm nước được tưới. Phân hữu cơ có tác dụng làm đất thông thoáng tránh sự tạo váng và tránh sự xói mòn. Cải thiện lý hóa tính và đặc tính sinh học của đất, làm đất tơi xốp, thoáng khí , ổn định pH, giữ ẩm cho đất, tăng khả năng chống hạn cho cây trồng… Tạo điều kiện thuận lợi cho sự hoạt động của các vi sinh vật hữu ích trong đất, giúp bộ rễ và cây trồng phát triển tốt. Góp phần đẩy mạnh quá trình phân giải các hợp chất vô cơ, hữu cơ thành nguồn dinh dưỡng dễ tiêu N, P, K, vi lượng… để cây trồng hấp thụ, qua đó giảm các tổn thất do bay hơi, rữa trôi gây ra. Phân hủy các độc tố trong đất, tiêu diệt các loại mầm bệnh, các loại vi sinh vật gây hại, làm giảm mầm mống sâu bệnh trong đất. Góp phần làm sạch môi trường, cho nông sản sạch, an toàn trong tiêu dùng, chất lượng cao ( Vũ Hữu Yêm, 1995). Ngoài ra, phân hữu cơ còn đóng vai trò quan trọng trong việc phục hồi và nâng cao độ phì nhiêu đất thoái hóa, khối lượng phân hữu cơ vùi vào đất càng lớn thì độ phì nhiêu hồi phục càng nhanh (Lê Hồng Tịch, 1997). Tác dụng đến đặc tính sinh học của đất Trong quá trình phân giải, phân hữu cơ cung cấp thêm thức ăn cho vi sinh vật, cả thức ăn khoáng và thức ăn hữu cơ, nên khi vùi phân hữu cơ vào đất tập đoàn vi sinh vật trong đất phát triển nhanh, cả giun đất cũng phát triển mạnh. Bón phân chuồng, phân rác vào đất còn làm phong phú thêm tập đoàn vi sinh vật trong đất. Một số chất có hoạt tính sinh học (phytohormone) được hình thành lại tác động đến việc tăng trưởng và trao đổi chất của cây (Đỗ Thị Thanh Ren, 1998). Thông qua hoạt động của vi sinh vật chất hữu cơ phân hủy biến thành mùn, mùn có khả năng kiên kết những hạt đất phân tán làm cho đất có cấu trúc tốt, thoáng khí, tăng độ xốp, đất dễ cày bừa, giữ phân và giữ nước tốt hơn. Khi bón phân hữu cơ một cách có hệ thống sẽ cải thiện những tính chất lý – hóa cũng như sinh học, chế độ nước, chế độ nhiệt của đất (Lê Văn Khoa và ctv, 1996). Bón phân hữu cơ vào đất làm tăng dung tích hấp thụ NH4+ . Bón từ 6-15 tấn hữu cơ khả năng hấp thu NH4+ tăng lên 15-24%, dung tích hấp thu tăng. Bón phân hữu cơ làm tăng hiệu quả của khoáng hóa. Khối lượng phân hữu cơ vùi vào trong đất càng nhiều thì độ phì nhiêu phục hồi càng nhanh (Ngô Ngọc Hưng, 2004). Chức năng vệ sinh, bảo vệ Tăng cường phân hủy sinh học nông dược dư tồn trong đất thông qua việc kích thích hoạt động vi sinh vật trong đất. Hấp phụ các chất làm ô nhiễm đất như tạo phức với kim loại nặng. một số nông dược (Phạm Tiến Hoàng, 2003). Tác dụng cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng Phân hữu cơ cung cấp chất dinh dưỡng cho cây nhờ chất acid humic (Hoàng Minh Châu , 1998). Theo Nguyễn Bảo Vệ, 1996 các chất hữu cơ cũng là nguồn dinh dưỡng cung cấp cho cây do mùn bị phân hủy (Akio Inoko, 1984) và hòa tan các chất vô cơ trong đất. Chất hữu cơ không chỉ là nguồn cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng mà còn có tính chất bền vững đến tiềm năng, năng suất cao nhất cho phép của đất nhờ con đường khoáng hóa và cải tạo tinh chất lý – hóa đất (Wolfgangn Flaig, 1984). Và theo Nguyễn Lân Dũng (1968) nguồn đạm bổ sung cho đất chủ yếu dựa vào nguồn phân hữu cơ và sự cố định đạm của các vi sinh vật sống trong đất. Ngoài ra, bản thân phân hữu cơ có chứa các nguyên tố N, P, K, Ca, Mg và nhiều nguyên tố vi lượng cần thiết cho cây trồng (Trần Thành Lập, 1998 ). Bảng 4 Hàm lượng NPK có trong các loại phân hữu cơ tự nhiên (tính theo % chất khô), (Tạ Thu Cúc, 1996). Loại phân N P2O5 K2O 1. Phân chuồng Phân lợn 0,45 – 0,60 0,41 0,26 – 0,55 Phân trân bò 0,29 – 0, 55 0,17 – 0,35 0,8 – 1,0 Phân gà 1,15 – 1,63 0,54 – 1,4 0,85 – 2,4 2. Phân cá 4 – 10 3 – 9 0,3 – 1,5 3. Khô dầu Khô dầu lạc 7 – 7,2 1,5 – 1,6 1,3 – 1,4 Khô dầu bông 4 – 6,5 2 – 3 1,5 – 2 4. Phân xanh Muồng lá tròn 2,7 – 3 0,4 – 0,7 1 – 1,3 Điền thanh 2,6 0,28 1,7 Bèo hoa dâu 4,7 – 5 0,6 – 1 1,5 5. Than bùn Tây Ninh 0,38 0,03 0,37 Củ Chi 0,09 0,15 0,31 Mộc Hóa 0,16 – 0,91 0,15 0,31 U Minh 0,25 0,07 – 0,1 0,25 – 0,30 Lợi ích của việc bón phân hữu cơ Qua những phân tích về mặt bất lợi về lý, hóa cũng như sinh học đất do sự suy giảm độ phì nhiêu của đất. Hướng lâu dài để cải thiện và phục hồi dần cấu trúc đất, tăng cường độ phì nhiêu về mặt dinh dưỡng và sinh học đất, chống chịu các nguồn sâu bệnh từ đất là là tăng cường hàm lượng chất hữu cơ trong đất. Các loại phân hữu cơ như phân chuồng, phân xanh, rơm rạ, tàn dư thực vật… đóng vai trò quan trọng trong việc phục hồi và nâng cao độ phì nhiêu của đất bị thoái hóa. Khối lượng phân hữu cơ vùi vào đất càng lớn thì độ phì nhiêu hồi phục càng nhanh. Các lợi ích của việc bón phân hữu cơ Lợi ích thứ nhất: cải thiện và ổn định kết cấu của đất. Đây là điều kiện tiên quyết làm cho đất tơi xốp, thoáng khí, từ đó: - Làm cho nước thấm vào đất thuận lợi, hạn chế đóng váng bề mặt, hạn chế chảy tràn làm rửa trôi chất dinh dưỡng, ổn định nhiết độ đất, tăng cường hoạt động của sinh vật đất ( Vũ Hữu Yêm, 2005). Chất hữu cơ có khả năng hấp phụ lượng nước gấp 5 lần khối lượng của nó, do đó tăng cường khả năng giữ nước của đất để cung cấp cho nhu cầu của cây, gíup vận chuyển chất dinh dưỡng dễ dàng đến rễ cây trồng, ngoài ra còn giúp điều hoà nhiệt độ đất. Điều này đặc biệt quan trọng đối với các loại cây trồng cạn như hoa màu, rau cải và cây ăn trái. Việc thiếu nước tạm thời trong những ngày nóng, tháng khô sẽ làm năng suất cây trồng giảm đáng kể, nhất là rất quan trọng trên các loại đất cát (Vũ Hũu Yêm, 1995). - Giúp đất thoát nước tốt, cải thiện tình trạng ngập úng, dư thừa nước. Điều nầy rất quan trọng đối với các loại cây trồng không chịu úng như rau, màu trồng trên các loại đất sét nặng. Khả năng thoát nước tốt của đất đặc biệt quan trọng trong hạn chế sự phát triển của các bệnh có nguồn gốc từ đất mà nguyên nhân là do tình trạng đất quá khô hay quá ẩm, pH đất thấp và sự phát triển kém của quần thể các vi sinh vật có lợi trong đất. - Trên đất sét nặng, do đó việc bón bổ sung chất hữu cơ làm đất tỏi xốp sẽ giúp rễ cây trồng phát triển tốt, tăng cường sự thu hút chất dinh dưỡng cho cây là yếu tố rất quan trọng để gia tăng năng suất cây trồng. Lợi ích thứ hai: cung cấp nguồn chất dinh dưỡng tổng hợp cho đất, làm chất dinh dưỡng trở nên dễ hữu dụng cho đất, tăng cường giữ phân cho đất: - Phân hữu cơ cung cấp đầy đủ các dưỡng chất cho cây trồng như đạm, lân, kali, Ca, Mg, S, các nguyên tố vi lượng, các kích thích tố sinh trưởng, các vitamin cho cây trồng. Tuy nhiên đây là sự cung cấp toàn diện các chất dinh dưỡng cùng một lúc, bền do đó có ý nghĩa quan trọng nếu so với việc bón phân hóa học, chỉ cung cấp một số các nguyên tố dinh dưỡng nhất định. Đặc biệt là sự cung cấp toàn diện các nguyên tố vi lượng, các vitamine từ phân hữu cơ có ý nghĩa trong việc gia tăng phẩm chất nông sản, làm trái cây ngọt hơn vì tránh được hiện tượng bón dư thừa chất đạm, làm giảm lượng đường trong trái; làm trái cây ngon hơn vì những chất hữu cơ trong quả là kết quả của các qúa trình sinh hoá trong cây khi có đầy đủ các men điều khiển. Các men nầy thường được tạo thành khi có đầy đủ các nguyên tố vi lượng. Sự mất cân đối khi bón các nguyên tố vi lượng có thể ảnh hưởng sự tạo thành các men nầy do đó ảnh hưởng phẩm chất hạt. Bón phân vi lượng không đúng liều lượng có thể gây sự mất cân đối trong dinh dưỡng cây trồng ( Hoàng Minh Châu, 1998). Sự cung cấp dưỡng chất từ từ với một lượng nhỏ sẽ không gây hiện tượng mất cân đối dưỡng chất như đối với phân hóa học Điều này cũng làm hạn chế nguy cơ bón dư thừa phân đạm, do đó hạn chế sự phát triển của sâu bệnh hại như đối với phân hóa học. Chất mùn của đất có khả năng tạo kết hợp vói các chất khoáng trong đất nhất là các nguyên tố vi lượng ở dạng liên kết dễ hữu dụng đối với cây trồng, bảo vệ các nguyên tố vi lượng không bị phản ứng với các chất khác thành những dạng không hữu dụng đối với cây trồng do đó có tác dụng tăng cường hiệu quả của phân hóa học bón vào, làm cho phân lân chậm tan trở nên dễ tan hơn. Ngoài ra khi độ phì nhiêu của đất gia tăng, có thể giảm lượng phân hoá học sử dụng. - Lợi ích quan trọng nữa của phân hữu cơ mà phân hóa học đơn thuần không thể có là giúp gia tăng chất mùn cho đất, làm tăng khả năng giữ chất dinh dưỡng cho đất, tăng khả năng điều chỉnh của đất khi bón dư thừa phân hóa học, khắc phục các ảnh hưởng xấu như cháy lá, sót rễ, lốp đỗ., hạn chế sự rửa trôi chất dinh dưỡng, không gây ô nhiễm môi trường. Bón phân hữu cơ cho đất còn làm tăng khả năng chống chịu của đất khi bị chua hoá đột ngột do ảnh hưởng của bón phân hoá học, làm đất ít chua hơn (Vũ Hữu Yêm, 1995). Lợi ích thứ ba: Tăng cường hoạt động vi sinh vật trong đất, tăng cường “sức khoẻ” của đất. Phân hữu cơ còn là nguồn thực phẩm cần thiết cho sự họat động của các sinh vật đất. Các qúa trình chuyển hoá , tuần hoàn chất dinh dưỡng trong đất, sự cố định đạm, sự nitrat hoá, sự phân huỷ các tồn dư thuốc bảo vệ thực vật, vv… được thực hiện do hoạt động của các sinh vật đất. Đất sẽ gần như trở thành "đất chết" nếu hệ sinh vật đất không họat động được, các chất thải, dư thừa thực vật, thuốc trừ sâu, bệnh không được phân huỷ nếu không có một quần thể vi sinh vật đa dạng và phong phú. Việc bón phân hữu cơ có bổ sung thêm các nguồn vi sinh vật đất như Trichoderma sẽ làm giảm các tác nhân gây bệnh thối rễ trên cà chua, ớt, bổ sung các nguồn vi sinh vật cố định đạm, vi sinh vật phân giải lân sẽ giúp tăng cường nguồn phân đạm cố định được và giúp hoà tan các hợp chất lân kém hoà tan trong đất thành những dạng lân dễ hữu dụng cho cây trồng. Do đó, bên cạnh bón phân hóa học, khoáng vi lượng thì việc dùng phân chuồng để bón lót cho rau màu là hết sức cần thiết. Nói chung, bón phân hữu cơ là một giải pháp lâu dài để tăng cường độ màu mở tự nhiên của đất và việc bón phân hóa học chỉ là biện pháp trước mắt để bổ sung chất dinh dưỡng cho cây trồng. Nếu chỉ chú ý bón phân hóa học thì về lâu dài đất sẽ bị bạc màu, cằn cỗi, sức sản xuất của đất sẽ giảm dù lượng phân hóa học được bón tăng cường. Việc bón phân hữu cơ kết hợp bón phân hoá học là biện pháp cần được thực hiện để bồi dưỡng sức sản suất của đất, nâng cao năng suất cây trồng một cách ổn định. Ở những nước Châu Á như Trung Quốc, Thái Lan, Nhật, Triều Tiên nền nông nghiệp hữu cơ đã được khởi xướng như là một giải pháp để giảm thiểu việc sử dụng phân hóa học, để duy trì sức sản xuất của đất, có ý nghĩa bảo vệ môi trường, xây dựng nền nông nghiệp bền vững. Nhiều chương trình chứng nhận sản phẩm từ nền nông nghiệp hữu cơ cũng đã được tiến hành ở các nước này (Ngô Ngọc Hưng, 2004). Kỹ thuật sử dụng phân hữu cơ Việc sử dụng phân hữu cơ hợp lý sẽ làm cho phân hữu cơ phát huy hết ưu điểm và khắc phục được nhược điểm của phân hữu cơ. Muốn sử dụng phân hữu cơ hợp lý cần phân tích thành phần và những đặc tính của phân về mặt sinh học, hóa học và vật lý học. Có phân tích thỏa đáng mới quyết định được việc dùng phân như thế nào? Chế biến ra sao? Và bón cho đối tượng nào? (bón cho rau, cây ăn quả hay cây ngũ cốc…) Mỗi loại đối tượng cần có mức hoai mục khác nhau ( Vũ Hữu Yêm, 1995). Trong điều kiện thâm canh, riêng phân hữu cơ không đủ cung cấp dinh dưỡng cho đất. Muốn tăng năng suất và phát huy được hiệu lực của phân hữu cơ nên phối hợp phân hữu cơ và phân hóa học. Khi sử dụng phân hữu cơ chú ý nguồn bệnh, cỏ dại và ô nhiễm môi trường để có biện pháp khắc phục. Bằng biện pháp ủ nóng trước, nguội sau đưa nhiệt độ đống phân lên trên 50oC các nguồn bệnh sẽ bị tiêu diệt, hạt cỏ sẽ mất sức nảy mầm, trứng ruồi muỗi sẽ ung hết, phân sử dụng được an toàn hơn. Phân ủ hoai có mùi đất nên không còn hấp dẫn ruồi muỗi nữa. Khi vùi phân hữu cơ phải chú ý trộn đảo thật đều vào đất, tránh gây hiện tượng khử mạnh cục bộ. Vùi đều vào đất còn tránh được việc bay mất NH3 khi bón phân hoai (Vũ Hữu Yêm, 1995). Sử dụng phân hữu cơ trong canh tác rau màu Theo Ngô Ngọc Hưng (2004) thì nguồn phân hữu cơ sử dụng có thể là: + Nguồn rơm rạ tại chỗ. Điều này có ý nghĩa như một sự hoàn trả chất dinh dưỡng trở lại cho đất. Có 2 cách để sử dụng nguồn rơm rạ này. * Biện pháp đốt rơm rạ: hầu hết chất đạm, bị mất đi một cách hoang phí khi đốt, quần thể thiên địch trên ruộng lúa như các con ăn mồi bị giảm . Do đó, biện pháp này chỉ nên sử dụng hạn chế sau nhiều vụ canh tác. * Nên sử dụng biện pháp vùi rơm rạ để hoàn trả chất dinh dưỡng lại cho đất. Có thể vùi rơm rạ bằng cách cày vùi khi chuẩn bị làm đất . Hoặc sử dụng rơm ủ nhanh có tưới thêm dung dịch nấm Tricô-Đại Học Cần Thơ để phân hủy và ủ nhanh ngoài đồng từ 35-40 ngày. Việc sử dụng nguồn rơm rạ mục sau khi trồng nấm rơm cũng là một biện pháp khả thi. + Nguồn phân chuồng gia súc từ chuồng trại chăn nuôi gia đình đã được ủ hoai. + Chất thải từ hầm ủ biogas. Các nguồn phân hữu cơ nầy sau khi được ủ hoai có thể dùng để bón lót cho lúa, rau màu. Hiện nay, có rất nhiều loại loại phân hữu cơ được bán trên thị trường. Đó là các loại phân hữu cơ ủ từ phân chuồng, phân heo, phân gia súc, bã bùn mía có trộn thêm phân khoáng NPK và các nguyên tố vi lượng, cung như các loại vi sinh vật có ích. Thành phần chế biến, hàm lượng chất dinh dưỡng và cách sử dụng được ghi chú trên bao bì. Trong sử dụng thì cần chú ý các điểm sau: - Các loại phân hữu cơ có nguồn gốc từ phân gia súc, gia cầm, xác bã thực vật rơm rạ, bã bùn là nguồn phân hữu cơ rất tốt, những loại nầy cần phải sử dụng với khối lượng lớn tuy nặng công nhưng lại có tác dụng rất tốt trong cải tạo đất và cung cấp thức ăn cho vi sinh vật. Vì mục đích quan trọng của việc bón phân hữu cơ các loại phân này cung cấp thêm vào đất nhiều chất các-bon cần thiết để vi sinh vật có ích phát triển để khống chế hoạt động của các loài vi sinh vật gây hại , tác dụng liên kết các hạt đất nhỏ lại thành những hạt đất to hơn để đất xốp thoáng khí cũng như các tác dụng cung cấp thêm vào đất chất để hút nước, giữ nước và thoát nước tốt cho cây trồng. Các loại phân hữu cơ đậm đặc tuy cung cấp nhiều chất dinh dưỡng, nhẹ dễ vận chuyển nhưng do chỉ nên bón với số lượng thấp nên cung cấp lượng chất carbon thấp, tác dụng cải tạo về mặt vi sinh vật đất và vật lý đất hạn chế (Vũ Hữu Yêm, 2005). - Các loại phân có trộn thêm vi sinh vật cần chú ý hạn sử dụng, vì vi sinh vật chỉ có thể sống được trong một thời hạn nhất định ở ầm độ thấp, nếu quá thời hạn sử dụng phân không còn tác dụng về mặt vi sinh vật. Bón phân hữu cơ cho rau Đối với các loại rau ăn lá , bộ rễ ăn cạn, thời gian sinh trưởng ngắn , việc bón phân hữu cơ rất cần thiết. Trên đất thịt pha cát, bón lót phân hữu cơ sẽ giúp giữ phân, giữ nước tốt; trên đất sét nặng giúp đất tơi xốp, rễ phát triển mạnh, cung cấp thêm nhiều dinh dưỡng cho cây. Có thể bón lót từ 5-10 tấn phân chuồng /ha . Trên các loại rau an quả như dưa lê, có thể bón lót 5-10 tấn/ha, dưa hấu có thể bón lót từ 10-15 tấn/ha. Tuy nhiên tuỳ điều kiện nguồn phân có sẳn, có thể bón ít hơn 1-3 tấn, nhưng bón hằng vụ để cải tạo đất. PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP PHƯƠNG TIỆN Địa điểm khảo sát Thí nghiệm trên đất trồng rau tại phường Long Tuyền - Quận Bình Thuỷ thành phố Cần Thơ. Mẫu đất Các mẫu đất được lấy ở tầng mặt canh tác 0-10 cm, từ 10-20cm và từ 20-40cm. Các trang thiết bị hỗ trợ Các phương tiện vრ trang thiết bị phục vụ cho việၣ phân tích và xác định các chỉ tiêu vật lý và hoá học đất của phòng thí nghiệm vật lý đất và hoს học đất của Bộ môn Khoa học đấၴ và Quản lý đất đai, Khoa nჴng nghiệp và Sinh học ứng dụng, Trường Đại học Cần Thơ. Phᆰơng pháp Các bước thực hiện Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm đượcဠbố trí hoàn toàn ngẫu nhiên, gồၭ 2 thí nghiệm khác nhau: dưa hấu và dưa lê. Mỗi thí nghiệm đượcဠthực hiện qua hai vụ trồng : Hè Thu 2006 và Đông Xuân 2006 – 20ူ7. Mỗi lô 20 m2. * Thí nghiệm dưa hấu: + Nghiệm thức 1: không bón hữu cơ, bón phân theo nông dân (200-170-120). + Nghiệm thức 2: có bón hữu cơ vi sinh 10 tấn/ha + phân vô cơ theo khuyến cáo (150-90-100). * Thí nghiệm dưa lê: + Nghiệm thức 1: không bón hữu cơ, bón phân theo nông dân (200-170-120). + Nghiệm thức 2: có bón hữu cơ vi sinh 10 tấn/ha + phân vô cơ theo khuyến cáo (150-90-160). Nội nghiệp - Phân tích các chỉ tiêu hoá học đất: pH(H2O), Chất hữu cơ. - Phân tích các chỉ tiêu vật lý đất: thành phần cơ giới, dung trọng, tỷ trọng, độ xốp và tính bền. - Sử dụng chương trình thống kê MSTAT-C để phân tích và biện luận số liệu - Tổng hợp số liệu, phân tích đánh giá kết quả nghiên cứu, kết luận và đề nghị. Hoàn chỉnh báo cáo khoa học Phương pháp phân tích các chỉ tiêu vật lý và hoá học đất ở điểm thí nghiệm Chỉ tiêu vật lý Dung trọng của đất (g/cm3) được đánh giá trên cơ sở khối lượng đất khô (được sấy ở nhiệt độ 105oC) trên đơn vị thể tích của mẫu đất ở điều kiện tự nhiên và không xáo trộn. Sự sai biệt khối lượng giữa khối mẫu đất thực tế và sấy khô kiệt được ghi nhận làm cơ sở cho việc tính toán dung trọng. Dung trọng được xác định bằng phương pháp trọng lượng, những mẫu đất không bị xáo trộn, sau khi sấy khô đem cân từ đó ta tính được dung trọng. Tỷ trọng đất (g/cm3) là khối lượng của các hạt đất rắn trên một đơn vị diện tích. Đất ở trạng thái khô kiệt và không tính đến thể tích các lỗ rổng trong đất. Tỷ trọng được xác định bằng tỷ trọng kế (pycnometer). Độ xốp của đất được tính theo công thức Pr =[(1- ρb)/Pp]*100 Trong đó: Pr: độ xốp(%). Pp: tỷ trọng (g/cm3). ρb: dung trọng(g/cm3). Thành phần cơ giới đất Xác định thành phần cơ giới đất bằng phương pháp ống hút Rhobinson và được phân cấp theo USDA / Soil Taxonomy. Độ bền của đất (độ bền đoàn lạp, aggregate stability) Tính bền được xác định bằng phương pháp rây khô và rây ướt theo quy trình của Đại học Gent, Bỉ. Chỉ tiêu hoá học -pH: Trích bằng nước cất, tỷ lệ 1:2,5, sau đó đo bằng pH kế. -Chất hữu cơ (%): được xác định bằng phương pháp Walkley – Black, chuẩn độ bằng FeSO4 0,5M.  KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN ĐẶC ĐIỂM VÙNG NGHIÊN CỨU: Tổng quan - Nghề trồng rau Long Tuyền ở đây rất phát triển trong những năm gần đây. Là một trong những nơi cung cấp rau chủ yếu cho thành phố Cần Thơ và cung cấp cho những vùng khác. Đất đai ở đây rất màu mở chủ yếu là đất phù sa do sông Hậu bồi đắp Khí hậu nhiệt đới gió mùa có hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa nắng. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11, mùa nắng kéo dài từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Nơi đây khí hậu nóng ẩm quanh năm, ít bão rất thuận lợi cho nghề trồng rau phát triển. Tuy nhiên, trong quá trình thâm canh rau việc sử dụng nhiều phân hoá học và thuốc bảo vệ thực vật làm cho đất ngày càng suy thoái nghiêm trọng ảnh hưởng đến tính chất vật lý và hoá học đất như: đất bị nén dẽ, mất cấu trúc, khả năng giữ nước giảm…Nếu tình trạng thâm canh rau liên tục như trên thì đất sẽ suy thoái nghiêm trọng ảnh hưởng xấu đến môi trường đất. Đặc tính đất tại vùng nghiên cứu: Bảng 6 Các chỉ tiêu hóa học của đất trồng rau ở Long Tuyền. Nghiệm thức pHH2O CHC(%) Dưa hấu 5.5 2,0 Dưa lê 5.6 2,0 III.1.2.1 pH đất pH đất là chỉ tiêu đánh giá đất quan trọng, vì nó thường ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của cây trồng, vi sinh vật đất, vận tốc các phản ứng hoá học và sinh hoá trong đất. Độ hữu dụng của dưỡng chất trong đất, hiệu quả của phân bón cũng phụ thuộc rất nhiều vào độ chua đất. Kết quả phân tích ở bảng 6 cho thấy đất trồng rau có pH từ 5,5-5,6 được đánh giá là mức tối hảo. Với mức này thì cây rau có thể sinh trưởng tốt nếu như có các biện pháp canh tác phù hợp. III.1.2.2 Chất hữu cơ  Chất hữu cơ là thành phần quan trọng trong đất có tác dụng bồi dưỡng đất cung cấp đầy đủ các thức ăn cần thiết cho đất như : đạm, lân, kali, canxi, magie,… và một số nguyên tố vi lượng khác. Tác dụng cải tạo và bảo vệ đất. Đất phù sa ở vùng nghiên cứu này thể hiện ở bảng 6 có hàm lượng chất hữu cơ là 2% thuộc loại nghèo chất hữu cơ. Cần phải bón nhiều phân hữu cơ để cải thiện chất hữu cơ của đất. III.1.2.3 Thành phần cơ giới: Thành phần cơ giới là một trong những tính chất quan trọng của đất. Nó ảnh hưởng đến một số tính chất khác của đất, có ý nghĩa quan trọng trong vấn đề quản lý và sử dụng đất. Ngoài ra thành phần cơ giới còn có ý nghĩa liên quan đến nguồn gốc phát sinh và phì nhiêu đất. Đất có nhiều sét thì giữ nhiều chất dinh dưỡng. Các tính chất như: độ xốp, khả năng giữ ẩm, tính thấm,… cũng đều phụ thuộc vào thành phần cơ giới đất. Theo Võ Thị Gương (2004), nếu đất có tỷ lệ sét cao, hàm lượng chất hữu cơ thấp và thời gian canh tác lâu thì tình trạng nén dẽ của đất càng dễ xãy ra. Mặt khác, khi thành phần cơ giới của đất quá nhiều sét thì đất gây trở ngại cho quản lý và sử dụng. Đất như thế sẽ quá dính khi ướt và quá cứng khi khô thường co giãn mạnh khi khô và ướt gây trở ngại trong làm đất, canh tác, và đất dễ bị úng (Dương Minh Viễn, 2003). Bảng 7 Thành phần cơ giới tại điểm thí nghiệm Thí nghiệm % Cát (0.05-2mm) % Thịt (0.002-0.05mm) % Sét <0.002mm Phân loại Dưa hấu 1 41 58 Sét pha thịt Dưa lê 1 45 54 Sét pha thịt Qua kết quả phân tích trên ta thấy thành phần sa cấu của đất chủ yếu là sét và thịt, cát chiếm tỉ lệ rất ít. Theo tam giác phân loại USDA về thành phần cơ giới đất ở vùng thí nghiệm đều thuộc nhóm sét pha thịt (Silty Clay). Như vậy trên nền đất này rất thuận lợi cho nhiều loại rau phát triển. ẢNH HƯỞNG PHÂN HỮU CƠ LÊN TÍNH CHẤT VẬT LÝ ĐẤT TẠI VÙNG THÍ NGHIỆM III.2.1 Dung trọng Dung trọng là chỉ tiêu quan trọng đánh giá sự nén dẽ của đất, khả năng giữ ẩm và sự phát triển của vùng rễ cây trồng. Dung trọng phụ thuộc vào thành phần khoáng, thành phần cơ giới, hàm lượng chất hữu cơ, cấu trúc và kỹ thuật làm đất. Khi dung trọng thấp sẽ có lợi cho quá trình hấp thu dinh dưỡng chất của cây trồng. Tuy nhiên, khi dung trọng của đất cao, tế khổng trong đất giảm sẽ hạn chế sự phát triển của hệ rễ cây trồng, giới hạn khả năng hấp thu dinh dưỡng, hấp thu nước và cuối cùng là năng suất cây trồng giảm. Tầng 0-10cm: Qua kết quả thống kê cho thấy dung trọng đất trồng dưa hấu bón hữu cơ khác biệt có ý nghĩa so với đất trồng dưa hấu không bón hữu cơ. Dung trọng của đất trồng dưa hấu bón hữu cơ là 0,96g/cm3 thấp hơn so với 1,09g/cm3 của đất trồng dưa hấu không bón hữu cơ (hình 3.1) Hình 3.1 Đồ thị dung trọng thí nghiệm dưa hấu tầng 0-10cm Dung trọng đất trồng dưa lê bón hữu cơ cũng khác biệt có ý nghĩa so với đất không bón hữu cơ. Dung trọng đất có bón hữu cơ là 1,00g/cm3 thấp hơn dung trọng đất không bón hữu cơ là 1,03g/cm3 (hình 3.2) Hình 3.2 Đồ thị dung trọng thí nghiệm dưa lê tầng 0-10cm Như vậy, việc bón phân hữu cơ làm cho tầng đất mặt được cải thiện ít bị nén dẽ hơn so với không bón phân hữu cơ. Dung trọng của đất được cải thiện sẽ giúp tăng khả năng thoáng khí, giúp cho rễ cây trồng phát triển mạnh. Tầng 10-20cm: Dung trọng của nghiệm thức trồng dưa hấu và đất trồng dưa lê bón hữu cơ so với nghiệm thức không bón hữu cơ không khác biệt có ý nghĩa về mặt thống kê (hình 3.3, hình 3.4) Hình 3.3 Đồ thị dung trọng thí nghiệm dưa hấu tầng 10-20cm Hình 3.4 Đồ thị dung trọng thí nghiệm dưa lê tầng 10-20cm Tầng 20-40cm: Qua kết quả thống kê cho thấy dung trọng đất giữa nghiệm thức bón phân hữu cơ và nghiệm thức không bón phân hữu cơ không khác biệt có ý nghĩa (hình 3.5, hình 3.6). Hình 3.5 Đồ thị dung trọng thí nghiệm dưa hấu tầng 20-40cm Hình 3.6 Đồ thị dung trọng thí nghiệm dưa lê tầng 20-40cm. Như vậy qua hai vụ bón phân hữu cơ cho dưa lê và dưa hấu chỉ tầng đất mặt được cải thiện, các tầng bên dưới dung trọng chưa có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. III.2.2 Tỷ trọng đất Tỷ trọng phụ thuộc vào thành phần khoáng và hàm lượng chất hữu cơ. Tỷ trọng của đất trồng dưa hấu và dưa lê Long Tuyền được thể hiện trong bảng 8. Bảng 8 Tỷ trọng của đất tại vùng khảo sát. Nghiệm thức Tầng(cm) Tỷ trọng (g/cm3) Dưa hấu không hữu cơ 0-10 10-20 20-40 2.28 2.22 2.20 Dưa hấu có hữu cơ 0-10 10-20 20-40 2.20 2.27 2.30 Dưa lê không hữu cơ 0-10 10-20 20-40 2.25 2.28 2.35 Dưa lê có hữu cơ 0-10 10-20 20-40 2.23 2.26 2.29 Tỷ trọng đất thí nghiệm giữa các tầng có giá trị dao động từ 2,20-2,35g/cm3. III.2.3 Độ xốp của đất Độ xốp là một giá trị phụ thuộc vào cấu trúc đất, thành phần cơ giới, dung trọng và tỷ trọng đất. Ngoài ra, độ xốp đất nói lên tình trạng thoáng khí của đất. Độ xốp đất thấp tạo ra sự cản trở lớn cho sự phát triển của bộ rễ, khi đó sẽ làm giảm tiến trình hấp thu dưỡng chất của bộ rễ cây trồng. Đất có độ xốp phù hợp với chế độ nước, không khí trong đất thì có lợi cho cây trồng. Tùy thụôc vào điều kiện ngoài đồng các tế khổng có thể chứa đầy nước hoặc không khí. Đất lý tưởng trong sản xuất nông nghiệp cần có độ xốp 50%, trong đó khoảng 25% tỷ lệ là nước (Miller,1990). Tầng 0-10cm: Qua kết quả thống kê cho thấy độ xốp ở nghiệm thức trồng dưa hấu có bón hữu cơ khác biệt có ý nghĩa so với nghiệm thức trồng dưa hấu không bón hữu cơ. Độ xốp của nghiệm thức trồng dưa hấu có bón hữu cơ đạt 56,4% so với nghiệm thức không bón hữu cơ độ xốp chỉ có 52,3% (hình 3.7). Hình 3.7 Đồ thị độ xốp thí nghiệm dưa hấu tầng 0-10cm. Độ xốp của đất trồng dưa lê ở tầng mặt này đối với nghiệm thức có bón hữu cơ là 55,5% còn nghiệm thức không bón hữu cơ thì độ xốp chiếm 54,3% (hình 3.8). Hình 3.8 Đồ thị độ xốp thí nghiệm dưa lê tầng 0-10cm. Do khi bón hữu cơ vào thì nó sẽ làm tăng độ xốp cho đất ở tầng mặt, các vi sinh vật hoạt động mạnh hơn làm cho đất tơi xốp, thoáng khí tạo điều kiện cho rễ cây trồng hút chất dinh dưỡng mạnh hơn. Như vậy đất tại thí nghiệm này có độ xốp > 50% rất thích hợp cho sản xuất nông nghiệp (Willer, 1990). Tầng 10-20cm Qua kết quả phân tích thống kê cho thấy độ xốp của nghiệm thức có bón hữu cơ và nghiệm thức không bón hữu cơ của hai thí nghiệm dưa hấu và dưa lê không khác biệt có ý nghĩa. Nguyên nhân là do việc bón phân hữu cơ chỉ mới tác dụng ở tầng mặt chưa đủ lượng và thời gian để có thể cải thiện các tầng bên dưới giữa hai nghiệm thức (hình 3.9, hình 3.10). Hình 3.9 Đồ thị độ xốp thí nghiệm dưa hấu tầng 10-20cm Hình 3.10 Đồ thị độ xốp thí nghiệm dưa lê tầng 10-20cm Tầng 20-40cm: Kết quả thống kê cho thấy độ xốp giữa hai nghiệm thức có bón hữu cơ và không bón hữu cơ cả 2 thí nghiệm không khác biệt có ý nghĩa (hình 3.11, hình 3.12). Hình 3.11 Đồ thị độ xốp thí nghiệm dưa hấu tầng 20-40cm Hình 3.12 Đồ thị độ xốp thí nghiệm dưa lê tầng 20-40cm III.2.4 Tính bền của đất Độ bền của đất giúp đo lường mức độ chịu đựng của đất qua các tác động do tự nhiên hoặc con người như các lực cơ giới khi cày hoặc hoạt động tưới nước, mưa… Tính bền của đất được xem như một trong những chỉ tiêu đánh giá đất đai. Kết quả tính bền ở cả hai thí nghiệm được trình bày dưới đây: Tầng 0-10cm: Tính bền ở nghiệm thức có hữu cơ của đất trồng dưa hấu và dưa lê đều khác biệt có ý nghĩa thống kê so với nghiệm thức không bón hữu cơ. Tính bền ở nghiệm thức có bón hữu cơ đối với cây dưa hấu là 100,3 và cây dưa lê là 111,2 cao hơn so với tính bền nghiệm thức không bón hữu cơ dưa hấu đạt 73,8 và cây dưa lê đạt 89,6. Sau đây là đồ thị biểu hiện tính bền của dưa hấu và dưa lê tại vùng thí nghiệm ở tầng 0-10cm (hình 3.13, hình 3.14) Hình 3.13 Đồ thị tính bền thí nghiệm dưa hấu tầng 0-10cm Hình 3.14 Đồ thị tính bền thí nghiệm dưa lê tầng 0-10cm. Ở tầng 0-10cm việc bón hữu cơ đã cải tạo được độ bền của đất do hoạt động của vi sinh vật và chất hữu cơ đã liên kết các hạt đất làm cho đất bền hơn. Tầng 10-20cm: Kết quả thống kê cho thấy ở tầng 10-20cm tính bền không khác biệt có ý nghĩa. Nghiệm thức trồng dưa hấu và dưa lê có bón phân hữu cơ tính bền không khác biệt so với nghiệm thức không bón hữu cơ (hình 3.15, hình3.16). Hình3.15 Đồ thị tính bền thí nghiệm dưa hấu tầng 10-20cm Hình 3.16 Đồ thị tính bền thí nghiệm dưa lê tầng 10-20cm Tầng 20-40cm: Tương tự tầng 10-20cm, tính bền ở tầng 20-40cm không khác biệt có ý nghĩa giữa nghiệm thức có bón hữu cơ và nghiệm thức không bón hữu cơ Hình 3.17 Đồ thị tính bền thí nghiệm dưa hấu tầng 20-40cm. Hình 3.18 Đồ thị tính bền tính bền dưa lê tầng 20-40cm Như vậy, đất ở tầng 0-10cm có bón hữu cơ bền hơn đất không bón hữu cơ. Tầng 10-20cm và 20-40cm thì việc bón hữu cơ chưa có tác dụng cải thiện tính bền. ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN HỮU CƠ LÊN NĂNG SUẤT RAU Qua kết quả thống kê cho thấy nghiệm thức bón phân hữu cơ cho năng suất dưa hấu và dưa lê cao hơn so nghiệm thức không bón hữu cơ. Năng suất dưa hấu có bón hữu cơ đạt 33,5 tấn/ha so với 27,2 tấn/ha khi không bón hữu cơ. Còn năng suất dưa lê cũng đạt 26,7 tấn/ha so với 24,3 tấn/ha. Điều này cho thấy rằng việc bón 10tấn/ha/vụ phân hữu cơ vi sinh qua hai vụ đã giúp rau tăng năng suất rõ rệt so với không bón hữu cơ (hình 3.19, hình 3.20). Hình 3.19 Đồ thị năng suất dưa hấu tại điểm thí nghiệm Hình 3.20 Đồ thị năng suất dưa lê tại vùng thí nghiệm. Việc bón phân hữu cơ giúp rau hấp thu dinh dưỡng một cách dễ dàng, tăng các nguyên tố vi lượng cho đất, tăng khả năng hoạt động của các vi sinh vật có lợi cho đất. Đồng thời cải tạo được một số tính chất vật lý và hoá học của đất. Từ đó làm tăng độ hữu dụng của chất dinh dưỡng cây trồng hấp thu dễ dàng hơn. Ngoài ra, phân hữu cơ cho kết quả tích cực là do chúng có tính đệm, chúng có thể tạo thành phức cố định các ion Fe2+, Al3+ tự do.(Nguyễn Tử Siêm, 1997). Chính vì vậy năng suất rau tăng lên rõ rệt, sử dụng phân hữu cơ cũng góp phần bảo vệ môi trường vì một nền nông nghiệp bền vững. CHƯƠNG IV kẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ IV.1 KẾT LUẬN Qua kết quả thí nghiệm cho thấy: * Thí nghiệm dưa lê -pH= 5,6 đạt mức tối hảo. Chất hữu cơ chiếm 2% thuộc dạng nghèo chất hữu cơ -Dung trọng đất biến thiên trong khoảng 1,00-1,13 g/cm3, ở tầng 0-10cm dung trọng nghiệm thức có bón hữu cơ (1,00g/cm3) thấp hơn dung trọng nghiệm thức không bón hữu cơ (1,13g/cm3), ở tầng 10-20cm và 20-40cm dung trọng nghiệm thức có bón hữu cơ không khác biệt có ý nghĩa so với dung trọng nghiệm thức không bón hữu cơ. -Tỷ trọng đất ở vùng nghiên cứu dao động trong khoảng 2,23-2,28g/cm3 -Nghiệm thức có bón hữu cơ độ xốp là 55,5% cao hơn so với nghiệm thức không bón hữu cơ có độ xốp 54,3% ở tầng 0-10cm, các tầng còn lại không khác biệt có ý nghĩa thống kê. -Tính bền của đất dao động trong khoảng 69,2 – 111,2 . Kết quả thống kê cho thấy nghiệm thức có bón hữu cơ ở tầng mặt thì có tính bền là 111,2 cao hơn so với nghiệm thức không bón hữu cơ 89,6. Ở hai tầng còn lại theo thống kê không có sự khác biệt rõ rệt như ở tầng mặt. *Thí nghiệm dưa hấu -pH = 5,5 đạt mức tối hảo, ở pH mức độ này thích hợp cho đất trồng rau. Chất hữu cơ chiếm 2% thuộc dạng nghèo chất hữu cơ, cần bón phân hữu cơ để tăng chất hữu cơ cho đất. -Dung trọng đất biến thiên trong khoảng 0,89-1,09 g/cm3, qua kết quả thống kê ở tầng 0-10cm cho thấy dung trọng của nghiệm thức có bón hữu cơ (0,96 g/cm3) thấp hơn so với dung trọng nghiệm thức không bón hữu cơ (1,09 g/cm3). Đối với tầng 10-20cm và 20-40cm theo thống kê không khác biệt có ý nghĩa. -Tỷ trọng của đất biến thiên trong khoảng 2,20 – 2,28 g/cm3. -Bón phân hữu cho thấy tầng 0-10cm nghiệm thức bón hữu cơ có độ xốp (56,4%) cao hơn có ý nghĩa so với nghiệm thức không bón hữu cơ (52,3%) . Các tầng còn lại khi bón hữu cơ vào độ xốp không có khác biệt so với nghiệm thức không bón hữu cơ. -Tính bền của đất ở thí nghiệm này có bón hữu cơ là 100,3 cao hơn có ý nghĩa thống kê so với không bón hữu cơ là 73,8 ở tầng 0-10cm. Các tầng còn lại thì tính bền không khác biệt có ý nghĩa. *Kết quả năng suất Năng suất dưa hấu có bón hữu cơ đạt 33,5 tấn/ha so với 27,2 tấn/ha khi không bón hữu cơ. Còn năng suất dưa lê cũng đạt 26,7 tấn/ha so với 24,3 tấn/ha. Điều này cho thấy rằng việc bón 10tấn/ha phân hữu cơ vi sinh đã giúp rau tăng năng suất rõ rệt so với không bón hữu cơ. IV.2 ĐỀ NGHỊ Qua kết quả nghiên cứu ở trên cho thấy hiệu quả của phân hữu cơ đã cải tạo được một số tính chất vật lý đất. Tuy nhiên phân hữu cơ chỉ có tác dụng tốt đối với tầng mặt là chủ yếu, nên cần nghiên cứu theo hướng lâu dài để cải thiện tốt hơn tính chất vật lý và hoá học của các tầng bên dưới. TÀI LIỆU THAM KHẢO AKIO INOKO, 1984. Soil organic matter as a source of nutrrients. Organic matter and rice. pp. 137-144. International Rice Research institute. Cục khuyến nông khuyến lâm, 2004 phân hữu cơ khuyen nong.vn.goc.vn / KHKT / BVTV / phan bon /p-huu co, htm. Thuý 03/2004 DƯƠNG MINH VIỄN, 2003. Giáo trình thổ nhưỡng. Tủ sách trường ĐHCT ĐỖ ÁNH, 2003. Độ phì nhiêu của đất và dinh dưỡng cây trồng. NXB nông nghiệp Hà Nội. ĐỖ THỊ THANH REN, 1988. Đặc tính của một vài loại đất phù sa và đất phèn ở ĐBSCL. Trích từ kết quả nghiên cứu khoa học – khoa nông nghiệp - trượng ĐHCT. ĐỖ THỊ THANH REN, 1988. Bài giảng phì nhiêu đất và phân bón – Khoa nông nghiệp - ĐHCT. ĐỖ THỊ THANH REN, TRƯƠNG THỊ NGA, VÕ THỊ GƯƠNG, TRẦN THÀNH LẬP và NGUYỄN MỸ HOA, 1993. Giáo trình nông hoá học – khoa nông nghiệp – DHCT ĐƯỜNG HỒNG DẬT, 2000. Kỹ thuật trồng rau ăn lá rau ăn hoa và rau gia vị: nhà xuất bản lao động- xã hội. LÊ HUY BÁ, 2000. Sinh thái môi trường-đất NXB ĐHQG TP HCM. HOÀNG MINH CHÂU, 1998. Cẩm nang sử dụng phân bón. Trung tâm khoa học kỹ thuật hoá chất hà nội. NXBNN Hà Nội. HOÀNG HƯNG, 2000. Con người và môi trường NXB trẻ. HAMMEL, J.E. 1994. Effeet of hight-axle load traffie on subsoil physical properties crop in the Pacifie Norwest USA. Soil Till. Res. 29, 159-203. LÊ DUY PHƯỚC, 1968. Kết quả nghiên cứu thực nghiêm bảo vệ và cải tạo đất trong 10 năm qua (1958-1968). Trích từ nghiên cứu đát phân. Tập 2 (tr 133-167). NXBKH-KH. LÊ HỒNG TỊCH và LƯƠNG ĐỨC LOAN, 1997. Một số tính chất đất Bazan thoái hoá Tây Nguyên và biện pháp phục hồi độ phì nhiêu. Hội thảo về quản lí dinh dưỡng và nước cho cây trồng trên đất dốc Miền Nam Việt Nam. (tr 122-137). NXBNN TP. HCM. LÊ VĂN KHOA, TRẦN KHẮC HIỆP và TRỊNH THỊ THANH, 1996. Hoá học nông nghiệp. NXB đại học quốc gia Hà Nội. 234 trang. LÊ VĂN KHOA, NGUYỄN ĐỨC LƯƠNG và NGUYỄN THẾ TRUYỀN, 1999. Nông nghiệp và môi trường. NXB Giáo Dục. LÊ VĂN KHOA, 2003. Sinh thái và môi trường đất. NXB ĐHQG Hà NỘI. MAI THỊ PHƯƠNG ANH - TRẦN VĂN LÀI -TRẦN KHẮC THI, 1996. Rau và trồng rau nhà xuất bản nông nghiệp Hà Nội. MILLER, R. W 1990. Soil: An introduction to soil and plant growth, sixth edition. Prentice-hall international edition. Part: Soil physical an soil water properties. MAI VĂN QUYỀN – NGUYỄN MẠNH CHINH – NGUYỄN ĐĂNG NGHĨA, 2005. Phân bón với cây trồng nhà xuất bản nông nghiệp thành phố Hồ Chí Minh. NGUYỄN BẢO VỆ, 1996. Characterization of two humic aicd fractions anh their con tribution to soil nitrogon supplying capacity ò tropical lowaland rice soils. 50-80. doctor NGUYỄN LÂN DŨNG, 1968. Bước đầu nghiên cứu các nhóm vi sinh vật cố định đạm ở Việt Nam và ảnh hưỡng của chúng đối với cây trồng. Trích từ nghiên cứu đất phân. tập 1 (tr 96-129). NXBKH-KT of philosophy thesis. NGUYỄN XUÂN TRƯỜNG, LÊ VĂN NGHĨA, NGUYỄN ĐĂNG NGHĨA, 2000. Sổ tay sử dụng phân bón.NXBNN NGUYỄN THẾ ĐẶNG, NGUYỄN THẾ HÙNG, 1999. Giáo trình đất NXBNN. NGUYỄN THỊ THUÝ, LƯƠNG ĐỨC LOAN và TRÌNH CÔNG TƯ, 1997. Vai trò của phân trong việc nâng cao năng suất cây trồng và ổn định độ phì nhiêu đất vùng Tây Nguyên. Hội thảo về quản lí dinh dưỡng và nước cho cây trồng trên đất dốc Miền Nam Việt Nam. (tr 144-154). NXBNN. HCM. NGUYỄN TỮ SIÊM, 1997. Bón đầy đủ và cân đối NPK để thâm canh cây trồng và sử dụng đất lân bền. Nông nghiệp – tài nguyên đất và sử dụng phân bón tại Việt Nam. NGUYỄN ĐĂNG NGHĨA, 2005. Phân bón với cây trồng nhà xuất bản nông nghiệp thành phố Hồ Chí minh. NGÔ NGỌC HƯNG, ĐỖ THỊ THANH REN, VÕ THỊ GƯƠNG, NGUYỄN MỸ HOA, 2004. Giáo trình phì nhiêu đất PHẠM HỒNG CÚC, 2002. Kỹ thuật trồng dưa hấu nhà xuất bản nông nghiệp thành phố Hồ Chí Minh. PHẠM TIẾN HOÀNG, 2003. Phân hữu cơ trong hệ thống quản lý dinh dưỡng tổng hợp cho cây trồng. Tạp chí khoa học đất số 18. TẠ THU CÚC, 2005. Giáo trình kỹ thuật trồng rau nhà xuất bản Hà Nội. TRẦN KHẮC THI, 1995. một số kết quả nghiên cứu cây rau giai doanjdn 1991-1995 NXBNN TP HCM. TRẦN THÀNH LẬP, 1998. Bài giảng nông hoá. phần 2 – Khoa Nông Nghiệp - trường ĐHCT. TRẦN KHẮC THI, TRẦN NGỌC HÙNG, 2005. Ứng dụng công nghệ trong sản xuất rau: nhà xuất bản lao động Hà Nội. TRẦN KIM TÍNH, 2003. Giáo trình thổ nhưỡng. Tủ sách đại học Cần Thơ. TRỊNH THỊ THU HƯƠNG, 2001. Sổ tay trồng trọt nhà xuất bản thanh niên Hà Nội. VÕ THỊ GƯƠNG, 2004. Nghiên cứu sự suy thoái hoá học và vật lý đất vườn trồng cam quýt ở ĐBSCL. Bộ môn khoa học đất và quản lý đất đai. Khoa nông nghiệp trường ĐHCT. VŨ HỮU YÊM, PHÙNG QUỐC TUẤN, NGÔ THỊ ĐÀO, 2005. Trồng trọt tập một về đất trồng- phân bón- giống: nhà xuất bản giáo dục. VŨ HỮU YÊM, 1995. Giáo trình phân bón và cách bón phân nhà xuất bản nông nghiệp Hà Nội. Viện thổ nhưỡng nông hoá, 1998. Sổ tay phân tích đất- nước phân bón cây trồng. NXBNN Hà nội. WOLFGANG FLAIG, 1984. Soil organic matter as a source of nutrrients. Organic matter and rice. pp. 73-92. international Rice Research institute.  MỤC LỤC Trang

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docẢnh hưởng của việc bón phân hữu cơ lên năng suất và tính chất vật lý của đất trồng dưa hấu, dưa lê ở phường Long Tuyền- quận Bình Thuỷ, thành phố Cần .DOC