Báo cáo Thực tập: cải cách hành chính ở cấp huyện, thực trạng và giải pháp

Lý do chọn đề tài. Ngày nay cải cách hành chính đang là vấn đề mang tính toàn cầu. Cả các nước đang phát triển và phát triển đều xem cải cách hành chính như một động lực mạnh mẽ thúc đẩy nền kinh tế phát triển, phát triển dân chủ và các mặt khác của đời sống xã hội. Ở Việt Nam, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước được bắt đầu từ năm 1986, tính đến nay đã hơn 20 năm. Trong khoảng thời gian đó, đồng thời với việc đổi mới về kinh tế xã hội thì cải cách hành chính cũng được tiến hành. Cuộc cải cách hành chính được thực hiện từng bước thận trọng và đã thu được nhiều kết quả rất đáng khích lệ. Cải cách hành chính đang thể hiện rõ vai trò quan trọng của mình trong việc đẩy nhanh sự phát triển của đất nước. Việt Nam đang là nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai, thứ ba trên thế giới, công nghiệp và dịch vụ đang phát triển. Đầu tư nước ngoài vào Việt Nam có xu hướng tăng, nhiều vấn đề xã hội đang được giả quyết một cách tốt nhất. Tuy nhiên ở Việt Nam đang còn rất nhiều vấn đề kinh tế xã hội đã tồn tại từ lâu và mới nảy sinh cần được giải quyết tích cực và có hiệu quả. Bên cạnh đó bối cảnh toàn cầu hoá đang đặt ra cho Việt Nam những thách thức và cơ hội mới, đòi hỏi phải có những cố gắng cao độ. Điều đó có nghĩa là quá trình cải cách hành chính ở Việt Nam còn rất nhiều vấn đề đặt ra cần được tiếp tục giải quyết. Cái khó trong cải cách hành chính ở Việt Nam là phải tiến hành một cuộc cải cách có tính chất cách mạng từ quản lý tập trung quan liêu bao cấp sang quản lý trong điều kiện kinh tế thị trường và mở rộng dân chủ. Xuất phát từ những đặc thù của dân tộc, chính vì thế việc cải tổ nền hành chính là một yêu cầu quan trọng, cấp thiết hiện nay, nhằm xây dựng một nền dân chủ, một Nhà nước pháp quyền thực sự. Cải cách chính là sự thay đổi nhưng không phải là sự thay đổi bình thường về hình thức bên ngoài mà là thay đổi cả về nội dung, thể hiện bản chất sự vật, hiện tượng. Vấn đề cải cách hành chính cần tập trung vào đâu? Theo tôi trọng tâm phải là con người. Vì con người vừa là chủ thể quản lý, vừa là khách thể quản lý. Con người trong cải cách hành chính là đội ngũ cán bộ công chức hành chính. Vì vậy vấn đề sắp xếp cơ cấu tổ chức sao cho phù hợp với mối liên hệ giữa các cơ quan Nhà nước như thế nào? Mũi nhọn trước tiên phải là con người. Do đó, hướng phát triển không phải vì con người mà sắp xếp công việc mà ngược lại vì hiệu quả công việc mà chú tâm đến công tác tổ chức cán bộ công chức. Chính vì thế mà Đảng và Nhà nước ta đã đề ra chương trình cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2001 - 2010 nhằn kiện toàn lại toàn bộ bộ máy hành chính Nhà nước cũng như đẩy mạnh sự phát triển kinh tế xã hội.

doc37 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 21/02/2013 | Lượt xem: 6463 | Lượt tải: 74download
Tóm tắt tài liệu Báo cáo Thực tập: cải cách hành chính ở cấp huyện, thực trạng và giải pháp, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
đồng bộ các tổ chức trong hệ thống chính trị là trở ngại lớn của công cuộc cải cách hành chính trong thời gian qua. Không thể tiến hành cải cách riêng nền hành chính tách rời sự đổi mới tổ chức và phương thức lãnh đạo của Đảng, đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của các đoàn thể nhân dân. Cũng không thể cải cách hành chính một cách biệt lập mà không đồng thời đổi mới tổ chức và cơ chế hoạt động của các cơ quan lập pháp, cơ quan tư pháp.   Từ nhận thức đó, Nghị quyết Trung ương 7 (khoá VIII) đề ra chủ trương tiến hành sắp xếp lại tổ chức bộ máy đảng và các tổ chức trong hệ thống chính trị gắn liền với cải cách hành chính theo hướng tinh gọn, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả. Đồng thời, với việc kiên quyết sắp xếp một bước bộ máy các tổ chức trong hệ thống chính trị, thực hiện tinh giảm biên chế, cải cách chính sách tiền lương. Đại hội IX (năm 2001) bên cạnh việc khẳng định mục tiêu xây dựng nền hành chính nhà nước dân chủ, trong sạch, vững mạnh, từng bước hiện đại hoá đã đưa ra một loạt chủ trương, giải pháp có ý nghĩa quan trọng trong cải cách hành chính thời gian tới như điều chỉnh chức năng và cải tiến phương thức hoạt động của Chính phủ, nguyên tắc bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực; phân công, phân cấp; tách cơ quan hành chính công quyền với tổ chức sự nghiệp, dịch vụ công; tiếp tục cải cách doanh nghiệp nhà nước, tách rõ chức năng quản lý nhà nước với sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp; tiếp tục cải cách thủ tục hành chính; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có năng lực; thiết lập trật tự kỷ cương, chống quan liêu, tham nhũng… 2. Kh¸i niÖm vµ nh÷ng néi dung cÇn cã trong c¶i c¸ch hµnh chÝnh tõ n¨m 2001-2010 2. 1 Bèi c¶nh ra ®êi §¹i héi ®¹i biÓu §¶ng cộng s¶n ViÖt Nam lÇn thø IX(th¸ng 4-2001) bªn c¹nh viÖc kh¼ng ®Þnh môc tiªu x©y dùng nÒn hµnh chÝnh nhµ n­íc ®ang trong s¹ch v÷ng m¹nh, tưng b­íc hiÖn ®¹i hãa ®­a ra hµng lo¹t chñ tr­¬ng, gi¶i ph¸p cã ý nghÜa ®Æc biÖt quan träng trong c¶i c¸ch hµnh chÝnh thêi gian nh­ ®iÒu chØnh chøc n¨ng vµ c¶i tiÕn ph­¬ng thøc ho¹t ®éng cña chÝnh phñ, nguyªn t¾c bé qu¶n lý ®a nghµnh, ®a lÜnh vùc, ph©n c«ng, ph©n cÊp t¸ch qu¶n lý nhµ n­íc víi ho¹t ®éng s¸n xuÊt kinh doanh, t¸ch c¬ quan hµnh chÝnh c«ng quyÒn víi tæ chøc sù nghiÖp, dÞch vô c«ng; tiÕp tôc c¶i c¸ch doanh nghiÖp nhµ n­íc , tiÕp tôc c¶i c¸ch thñ tôc hµnh chÝnh ; x©y dùng ®éi ngñ c¸n bé c«ng chøc trong s¹ch cã n¨ng lùc , thiÕt lËp trËt tù kü c­¬ng, chèng quan liªu tham nhòng §Ó thùc hiÖn nghÞ quÕt §¹i héi IX cña ®¶ng. Thñ t­íng chÝnh phñ ®· chØ ®¹o phải nhanh chãng x©y dùng cho ®­îc mét ch­¬ng tr×nh c¶i c¸ch hµnh chÝnh cã chiÕn l­îc , dµi h¹n cña chÝnh phñ. Sau một thêi gian chuÈn bÞ,ngµy 17/9/2001. Thñ t­íng chÝnh phñ ®· ký quyÕt ®Þnh sè 136/2001Q§-TTg phª DuyÖt ch­¬ng tr×nh tæng thÓ c¶i c¸ch hµnh chÝnh nhµ n­íc giai ®o¹n 2001-2010 2.2 Mục tiêu chung  Mục tiêu chung của Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010 là: xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hoá, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả theo nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng, phát triển đất nước. Đến năm 2010, hệ thống hành chính về cơ bản được cải cách phù hợp với yêu cầu quản lý nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Chín mục tiêu cụ thê 1. Hoàn thiện hệ thống thể chế hành chính, cơ chế, chính sách phù hợp với thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước, trước hết là các thể chế về kinh tế, về tổ chức và hoạt động của hệ thống hành chính. 1.Tiếp tục đổi mới quy trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật, khắc phục tính cục bộ trong việc chuẩn bị, soạn thảo các văn bản; đề cao trách nhiệm của từng cơ quan trong quá trình xây dựng thể chế, phát huy dân chủ, huy động trí tuệ của nhân dân để nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật.  2. Xoá bỏ về cơ bản các thủ tục hành chính mang tính quan liêu, rườm rà, gây phiền hà cho doanh nghiệp và nhân dân; hoàn thiện các thủ tục hành chính mới theo hướng công khai, đơn giản và thuận tiện cho dân.  3. Các cơ quan trong hệ thống hành chính được xác định chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và trách nhiệm rõ ràng; chuyển được một số công việc và dịch vụ không cần thiết phải do cơ quan nhà nước thực hiện cho doanh nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức phi Chính phủ đảm nhận. 4. Cơ cấu tổ chức của Chính phủ gọn nhẹ, hợp lý theo nguyên tắc Bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực, thực hiện chức năng chủ yếu là quản lý vĩ mô toàn xã hội bằng pháp luật, chính sách, hướng dẫn và kiểm tra thực hiện.  Bộ máy của các bộ được điều chỉnh về cơ cấu trên cơ sở phân biệt rõ chức năng, phương thức hoạt động của các bộ phận tham mưu, thực thi chính sách, cung cấp dịch vụ công. 5. Đến năm 2005, về cơ bản xác định xong và thực hiện được các quy định mới về phân cấp quản lý hành chính nhà nước giữa Trung ương và địa phương, giữa các cấp chính quyền địa phương; định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và tổ chức bộ máy chính quyền ở đô thị và nông thôn. Các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện được tổ chức lại gọn nhẹ, thực hiện đúng chức năng quản lý nhà nước theo nhiệm vụ và thẩm quyền được xác định trong Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân (sửa đổi). Xác định rõ tính chất, cơ cấu tổ chức, chế độ làm việc của chính quyền cấp xã. 6. Đến năm 2010, đội ngũ cán bộ, công chức có số lượng, cơ cấu hợp lý, chuyên s¹ch v÷ng m¹nh, từng b­íc hiÖn ®¹i hãa ®­a ra hµng lo¹t chñ tr­¬ng, gi¶i ph¸p cã ý nghÜa ®Æc biÖt quan träng trong c¶i c¸ch hµnh chÝnh thêi gian nh­ ®iÒu chØnh chøc n¨ng vµ c¶i tiÕn ph­¬ng thøc ho¹t ®éng cña chÝnh phñ, nguyªn t¾c bé qu¶n lý ®a nghµnh, ®a lÜnh vùc, ph©n c«ng, ph©n cÊp t¸ch qu¶n lý nhµ n­íc víi ho¹t ®éng s¸n xuÊt kinh doanh, t¸ch c¬ quan hµnh chÝnh c«ng quyÒn víi tæ chøc sù nghiÖp, dÞch vô c«ng; tiÕp tôc c¶i c¸ch doanh nghiÖp nhµ n­íc , tiÕp tôc c¶i c¸ch thñ tôc hµnh chÝnh ; x©y dùng ®éi ngñ c¸n bé c«ng chøc trong s¹ch cã n¨ng lùc , thiÕt lËp trËt tù kü c­¬ng, chèng quan liªu tham nhòng.  7. Đến năm 2005, tiền lương của cán bộ, công chức được cải cách cơ bản, trở thành động lực của nền công vụ, bảo đảm cuộc sống của cán bộ, công chức và gia đình.  8. Đến năm 2005, cơ chế tài chính được đổi mới thích hợp với tính chất của cơ quan hành chính và tổ chức sự nghiệp, dịch vụ công. 9. Nền hành chính nhà nước được hiện đại hoá một bước rõ rệt. Các cơ quan hành chính có trang thiết bị tương đối hiện đại phục vụ yêu cầu quản lý nhà nước kịp thời và thông suốt. Hệ thống thông tin điện tử của Chính phủ được đưa vào hoạt ®éng 2.3 Nh÷ng néi dung cña c¶i c¸ch Cải cách thể chế Xây dựng và hoàn thiện các thể chế, trước hết là thể chế kinh tế của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thể chế về tổ chức và hoạt động của hệ thống hành chính nhà nước. Đổi mới quy trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật   - Bảo đảm việc tổ chức thực thi pháp luật nghiêm minh của cơ quan nhà nước, của cán bộ, công chức. - Tiếp tục cải cách thủ tục hành chính Cải cách tổ chức bộ máy hành chính - Điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ của Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và chính quyền địa phương các cấp cho phù hợp với yêu cầu quản lý nhà nước trong tình hình mới.  - Từng bước điều chỉnh những công việc mà Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và chính quyền địa phương đảm nhận để khắc phục những chống chéo, trùng lắp về chức năng, nhiệm vụ. Chuyển cho các tổ chức xã hội, tổ chức phi Chính phủ hoặc doanh nghiệp làm những công việc về dịch vụ không cần thiết phải do cơ quan hành chính nhà nước trực tiếp thực hiện.  - Đến năm 2005, về cơ bản ban hành xong và áp dụng các quy định mới về phân cấp Trung ương - địa phương, phân cấp giữa các cấp chính quyền địa phương, nâng cao thẩm quyền và trách nhiệm của chính quyền địa phương, tăng cường mối liên hệ và trách nhiệm của chính quyền trước nhân dân địa phương. Gắn phân cấp công việc với phân cấp về tài chính, tổ chức và cán bộ. Định rõ những loại việc địa phương toàn quyền quyết định, những việc trước khi địa phương quyết định phải có ý kiến của Trung ương và những việc phải thực hiện theo quyết định của Trung ương. Bố trí lại cơ cấu tổ chức của Chính phủ - Điều chỉnh cơ cấu tổ chức bộ máy bên trong của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ - Cải cách tổ chức bộ máy chính quyền địa phương  - Cải tiến phương thức quản lý, lề lối làm việc của cơ quan hành chính các cấp.  - Thực hiện từng bước hiện đại hoá nền hành chính. Đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức - Đổi mới công tác quản lý cán bộ, công chức - Cải cách tiền lương và các chế độ, chính sách đãi ngộ  - Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức - Nâng cao tinh thần trách nhiệm và đạo đức cán bộ, công chức Cải cách tài chính công - Đổi mới cơ chế phân cấp quản lý tài chính và ngân sách, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống tài chính quốc gia và vai trò chỉ đạo của ngân sách Trung ương; đồng thời phát huy tính chủ động, năng động, sáng tạo và trách nhiệm của địa phương và các ngành trong việc điều hành tài chính và ngân sách. - Bảo đảm quyền quyết định ngân sách địa phương của Hội đồng nhân dân các cấp, tạo điều kiện cho chính quyền địa phương chủ động xử lý các công việc ở địa phương; quyền quyết định của các bộ, sở, ban, ngành về phân bổ ngân sách cho các đơn vị trực thuộc; quyền chủ động của các đơn vị sử dụng ngân sách trong phạm vi dự toán được duyệt phù hợp với chế độ, chính sách   - Trên cơ sở phân biệt rõ cơ quan hành chính công quyền với tổ chức sự nghiệp, dịch vụ công, trong 2 năm 2001 và 2002 thực hiện đổi mới cơ chế phân bổ ngân sách cho cơ quan hành chính, xóa bỏ chế độ cấp kinh phí theo số lượng biên chế, thay thế bằng cách tính toán kinh phí căn cứ vào kết quả và chất lượng hoạt động, hướng vào kiểm soát đầu ra, chất lượng chi tiêu theo mục tiêu của cơ quan hành chính, đổi mới hệ thống định mức chi tiêu cho đơn giản hơn, tăng quyền chủ động của cơ quan sử dụng ngân sách. - Đổi mới cơ bản cơ chế tài chính đối với khu vực dịch vụ công - Thực hiện thí điểm để áp dụng rộng rãi một số cơ chế tài chính mới như: + Cho thuê đơn vị, sự nghiệp công, cho thuê đất để xây dựng cơ sở nhà trường, bệnh viện, chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với cán bộ, công chức chuyển từ các đơn vị công lập sang dân lập. + Cơ chế khuyến khích các nhà đầu tư trong nước, nước ngoài đầu tư phát triển các cơ sở đào tạo dạy nghề, đại học, trên đại học, khám chữa bệnh có chất lượng cao v.v… + Thực hiện cơ chế khoán một số loại dịch vụ công cộng như vệ sinh đô thị, cấp, thoát nước, cây xanh công viên, nước phục vụ nông nghiệp… + Thực hiện cơ chế hợp động một dịch vụ công trong cơ quan hành chính. - Đổi mới công tác kiểm toán đối với các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp nhằm nâng cao trách nhiệm và hiệu quả sử dụng kinh phí từ ngân sách nhà nước, xoá bỏ tình trạng nhiều đầu mối thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, đối với các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp. Thực hiện dân chủ, công khai, minh bạch về tài chính công, tất cả chỉ tiêu tài chính được công bố công khai. 3 .C¸c gi¶i ph¸p thùc hiÖn Năm giải pháp thực hiện - Tăng cường công tác chỉ đạo, điều hành. - Thực hiện cải cách hành chính đồng bộ với đổi mới hệ thống chính trị.      - Thực hiện cải cách hành chính đồng bộ từ Trung ương tới địa phương.  - Bố trí đủ nguồn tài chính và nhân lực. - Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền. Bảy chương trình hành động  Bảy chương trình hành động thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010, bao gồm:  - Chương trình 1: “Đổi mới công tác xây dựng, ban hành và nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật” do Bộ Tư pháp và Văn phòng Chính phủ chủ trì. - Chương trình 2: “Nghiên cứu xác định vai trò, chức năng và cơ cấu tổ chức của các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước” giai đoạn I (2003-2005) do Bộ Nội vụ và Văn phòng Chính phủ chủ trì. - Chương trình 3: “Chương trình tinh giản biên chế” do Bộ Nội vụ chủ trì   - Chương trình 4: “Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước giai đoạn I (2003-2005)” do Bộ Nội vụ chủ trì. - Chương trình 5: “Chương trình cải cách tiền lương” do Bộ Nội vụ chủ trì.  - Chương trình 6: “Đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công” do Bộ Tài chính chủ trì.  - Chương trình 7: “Hiện đại hoá hành chính” do Văn phòng Chính phủ chủ trì Tr¸ch nhiªm thùc hiÖn - Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo chung việc triển khai thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010. - Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo, hướng dẫn triển khai thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010. - Các cơ quan được giao chủ trì các chương trình hành động cụ thể chịu trách nhiệm xây dựng chương trình, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, làm đầu mối phối hợp với các cơ quan có liên quan để thực hiện.  - Ban Tổ chức – Cán bộ Chính phủ (nay là Bộ Nội vụ) chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính và Văn phòng Chính phủ xây dựng kế hoạch huy động các nguồn lực trong nước và nước ngoài theo yêu cầu thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010. -Các Bộ, ngành Trung ương và Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương căn cứ Chương trình tổng thể này và sự chỉ đạo, hướng dẫn của Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch cải cách hành chính 5 năm và hàng năm, định kỳ hàng năm báo cáo Thủ tướng Chính phủ và Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ. -Ban Tổ chức – Cán bộ Chính phủ (nay là Bộ Nội vụ), Văn phòng Chính phủ có trách nhiệm theo dõi tiến độ thực hiện, định kỳ báo cáo tình hình và kết quả thực hiện với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. CH¦¥NG II Thùc tr¹ng nÒn hµnh chÝnh nhµ n­íc ta hiÖn nay I. Qu¸ tr×nh c¶i c¸ch hµnh chÝnh trong 5 n¨m qua (2001 – 2005) 1. Kết quả đạt được của cải cách hành chính trong 5 năm qua(2001-2005) Thực hiện chương trình tổng thể CCHC nhà nước (2001- 2010)công cuộc cải cách hành chính đã đạt được những thành tựu quan trọng, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển và ổn định kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự xã hội. Cải cách hành chính đã được triển khai đồng bộ trên  4 lĩnh vực chủ yếu: thể chế, tổ chức bộ máy, xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức và cải cách tài chính công, từng bước đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của bộ máy hành chính, hỗ trợ tích cực và thúc đẩy quá trình cải cách, đổi mới toàn diện của đất nước. Có thể đánh giá chung về kết quả của cải cách hành chính nhà nước trong 5 năm qua như sau: 1.1 Hệ thống thể chế pháp luật từng bước được đổi mới và hoàn thiện, góp phần xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, bảo đảo và phát huy quyền làm chủ của nhân dân Về cơ bản, các chủ trương, quan điểm của Đảng và Nhà nước về chuyển nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã được thể chế hoá, thông qua gần 100 văn bản luật, pháp lệnh ban hành 5 năm qua đã tạo dựng và hoàn thiện khung pháp lý cho các thành phần kinh tế, cho người dân làm ăn và sinh sống. Khuôn khổ thể chế về tổ chức và hoạt động của hệ thống hành chính nhà nước, về công chức, công vụ được chú trọng đổi mới để bảo đảm thích ứng với yêu cầu quản lý nhà nước trong điều kiện chuyển đổi này. Cơ sở pháp lý phân biệt quản lý nhà nước với các hoạt động sự nghiệp dịch vụ công, thúc đẩy xã hội hoá, phân công, phân cấp đã hình thành và từng bước được bổ sung, hoàn thiện. Thủ tục hành chính trên các lĩnh vực được rà soát, sửa đổi theo hướng đơn giản hoá, loại bỏ những khâu phiền hà, trùng lắp, bao gồm thủ tục hành chính trong quan hệ với dân, với doanh nghiệp và quan hệ giữa các cơ quan hành chính nhà nước với nhau. Cùng với các thể chế kinh tế, việc xây dựng và hoàn thiện thể chế về bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, dân chủ hoá đời sống xã hội đã có bước tiến dài, góp phần quan trọng vào ổn định xã hội, khai thác và phát huy các nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội. 1.2. Chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước  được điều chỉnh từng bước phù hợp với yêu cầu quản lý nhà nước trong kink  tế thị trường Chính phủ, các bộ đã tập trung nhiều hơn vào thực hiện chức năng quản lý nhà nước vĩ mô trong phạm vi cả nước, trên các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội; tập trung thời gian và nguồn lực vào việc thực hiện chức năng đích thực của mình là xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, xây dựng và ban hành cơ chế, chính sách, thanh tra, kiểm tra việc tổ chức thực hiện. Đã thực hiện điều chỉnh chức năng quản lý nhà nước giữa các cấp hành chính cho phù hợp với tình hình thực tiễn, trên nguyên tắc mỗi việc chỉ do một cơ quan phụ trách, khắc phục sự trùng lắp, chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ. Chính quyền địa phương được phân cấp nhiều hơn, nhất là trong các lĩnh vực ngân sách, tài chính, biên chế, đầu tư, đất đai, y tế, giáo dục v.v… Trên cơ sở điều chỉnh lại phạm vi, đối tượng quản lý của các cơ quan hành chính nhà nước, phân biệt và tách chức năng quản lý nhà nước của các bộ, ngành và chính quyền địa phương với quản lý sản xuất kinh doanh và quản lý hoạt động sự nghiệp dịch vụ công, từng bước xoá bỏ chế độ chủ quản đối với doanh nghiệp. 1.3. Cơ cấu tổ chức bộ máy hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương  được điều chỉnh, sắp xếp tinh gọn, hợp lý hơn Đồng thời với quá trình chuyển đổi cơ chế kinh tế, từng bước làm rõ phạm vi và nội dung chức năng quản lý nhà nước trên các lĩnh vực, trong những năm qua, đã tiến hành nhiều đợt sắp xếp, điều chỉnh lại tổ chức bộ máy các cơ quan hành chính nhà nước. Trên cơ sở quán triệt nguyên tắc tổ chức bộ đa ngành, đa lĩnh vực, cơ cấu tổ chức Chính phủ được điều chỉnh, thu gọn. Bước vào thời kỳ đổi mới (1986), số đầu mối các cơ quan của Chính phủ là 70 đến Đại hội IX còn 48, vào thời điểm hiện nay còn 38 (26 bộ, cơ quan ngang bộ, 12 cơ quan thuộc Chính phủ). Ở cấp tỉnh, số cơ quan chuyên môn  từ 35 đến 40 đầu mối nay giảm còn từ 20-25; cấp huyện từ 20 -25 nay giảm còn 10 -15 đầu mối các phòng ban chức năng. Cơ cấu bên trong các cơ quan của Chính phủ và chính quyền địa phương cũng có bước điều chỉnh theo hướng phân biệt rõ các đơn vị thực hiện chức năng quản lý nhà nước với các tổ chức sự nghiệp cung cấp dịch vụ công.    1.4. Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức trong bộ máy hành chính nhà nước được nâng lên Công tác xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ, công chức thời gian qua được quan tâm triển khai trên diện rộng, kết hợp huy động nhiều giải pháp và đã đạt được một số kết quả tích cực. Năm 1986, số lượng cán bộ, công chức hành chính, sự nghiệp là 1,2 triệu người, hiện tại là hơn 1,7 triệu người, bằng 2% dân số cả nước, trong đó biên chế trong khối sự nghiệp nhà nước khoảng 1,4 triệu người, và nếu so với nhiều nước trên thế giới, đây là một tỷ lệ không cao. Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998 qua 2 lần sửa đổi vào các năm 2001 và 2003, đã có sự phân loại tương đối rõ đối tượng cán bộ, công chức, tạo căn cứ pháp lý để định ra yêu cầu, tiêu chuẩn về trình độ, năng lực chuyên môn, phẩm chất và chế độ, chính sách đãi ngộ tương ứng (cán bộ qua bầu cử, công chức hành chính, viên chức sự nghiệp, cán bộ giữ chức vụ lãnh đạo trong doanh nghiệp nhà nước, cán bộ chuyên trách và công chức cơ sở cấp xã). Có thể khẳng định, thực hiện  những đổi mới, cải cách chế độ công vụ, công chức 5 năm qua đội ngũ cán bộ công chức đã có bước trưởng thành đáng kể. Một bộ phận công chức hành chính đã có năng lực, trình độ, kỹ năng đáp ứng đòi hỏi của một nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại. 1.5. Phương thức hoạt động của Chính phủ, các bộ ngành trung ương và Uỷ ban nhân dân (UBND) các cấp có bước đổi mới Tinh thần xuyên suốt quá trình đổi mới phương thức hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước là giảm tối đa sự can thiệp hành chính vào hoạt động của thị trường và doanh nghiệp. Các cơ quan nhà nước tập trung làm tốt chức năng định hướng phát triển, tạo lập môi trường pháp lý, cơ chế, chính sách thuận lợi để phát huy các nguồn lực, tăng cường quản lý nhà nước bằng pháp luật. Những nỗ lực cải cách, đơn giản hoá thủ tục hành chính, áp dụng phương  thức quản lý theo cơ chế “một cửa” cả ở ba cấp chính quyền địa phương (kết qủa ở cấp tỉnh 100%, cấp huyện 98%, cấp xã 92% tính tới tháng 5/2007), từ năm 2007 tiếp tục thí điểm tổ chức “một cửa” ở 8 bộ, ngành trung ương, nhằm tạo ra sự thống nhất trong hệ thống hành chính. Việc triển khai quy chế công khai tài chính, quy chế dân chủ ở cơ sở và trong cơ quan hành chính nhà nước v.v… đã có tác dụng tích cực góp phần đổi mới mối quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước với dân, quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước với nhau trong quá trình tổ chức thực hiên công việc và thực thi công vụ. 2. Những hạn chế, yếu kém của nền hành chính nhà nước Tuy đã đạt được những kết quả quan trọng, nhưng so với yêu cầu của công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội và chủ động hội nhập quốc tế thì cải cách hành chính còn chậm, hiệu quả thấp. Nền hành chính còn bộc lộ một số tồn tại, yếu kém sau: 2.1. Hệ thống thể chế pháp luật vẫn còn chưa đồng bộ, thiếu nhất quán và trong một số lĩnh vực chưa bám sát quá trình chuyển đổi khó khăn và phức tạp. Sự chưa đồng bộ của hệ thống thể chế một mặt thể hiện ở chỗ một số luật, pháp lệnh đã ban hành nhưng các nghị định và thông tư hướng dẫn triển khai chậm được ban hành. Sự thiếu nhất quán trong hệ thống thể chế biểu hiện rõ trong việc chậm chuẩn bị và ban hành các văn bản dưới luật, pháp lệnh để hướng dẫn thi hành. Nhiều cơ quan nhà nước vẫn có xu hướng giữ thuận lợi cho hoạt động quản lý của mình nhiều hơn là đáp ứng nhu cầu tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân. Thủ tục hành chính vẫn chưa được cải cách đơn giản hoá triệt để, tính công khai minh bạch còn thấp. Sau một thời gian có những kết quả bước đầu trong cải cách thủ tục hành chính, thời gian gần đây vẫn còn nhiều thủ tục hành chính không hợp lý, phức tạp, tiếp tục gây phiền hà cho dân và doanh nghiệp. 2.2. Chậm xác định rõ chức năng, nhiệm vụ quản lý hành chính nhà nước vĩ mô của các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước, nhất là ở cấp Chính phủ và các bộ. Chính phủ làm gì và làm đến đâu trong cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tương tự như vậy là các bộ và chính quyền các cấp, đây vẫn là vấn đề còn chưa hoàn toàn được làm sáng tỏ. Mặc dù hiện tại Chính phủ đã không còn làm một số việc giống như 20 năm trước đây, nhưng trong thực tế những việc Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phải quyết vẫn quá nhiều chưa xứng tầm Chính phủ. Nhìn tổng thể thì mối quan hệ giữa nhà nước với thị trường, giữa nhà nước với doanh nghiệp, trong đó có doanh nghiệp nhà nước vẫn chưa đủ rõ. 2.3. Tổ chức bộ máy hành chính nhà nước vẫn cồng kềnh, nhiều tầng nấc với 26 bộ, cơ quan ngang bộ và 13 cơ quan thuộc Chính phủ. Bộ máy hành chính ở cấp Trung ương còn quá lớn, số lượng tổ chức bên trong các bộ, ngành còn nhiều và có xu hướng phình ra. Việc thực hiện phân cấp về ngành và lĩnh vực giữa trung ương và địa phương, giữa các cấp chính quyền địa phương còn chậm, vẫn chưa có sự phân biệt rõ về chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của chính quyền đô thị với chính quyền nông thôn. 2.4. Chế độ công vụ mới chậm hình thành đầy đủ, chất lượng cán bộ, công chức chưa đáp ứng với yêu cầu đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội. Đội ngũ cán bộ, công chức còn bất cập về kỹ năng quản lý mới, thiếu tính nhạy bén thị trường, trách nhiệm thực thi công vụ chưa cao. Một bộ phận cán bộ, công chức suy thoái phẩm chất, đạo đức, tham nhũng. Rõ ràng, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức đang là vấn đề có ý nghĩa sống còn không chỉ riêng của công cuộc cải cách hành chính mà của cả sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ đất nước. 2.5. Phương thức, lề lối làm việc còn thủ công, lạc hậu chưa đáp ứng yêu cầu chuyên nghiệp, hiện đại Hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương chưa thực sự thống nhất, thông suốt.  Quy trình làm việc của cán bộ, công chức nhìn chung còn thủ công, thiếu tính chuyên nghiệp. Dấu ấn của cơ chế tập trung quan liêu còn khá đậm nét trong điều hành và tổ chức công việc của các cơ quan và đội ngũ cán bộ, công chức ở tất cả các cấp. Họp hành nhiều, giấy tờ hành chính gia tăng, thẩm quyền và trách nhiệm giải quyết công việc của từng cán bộ,công chức không rõ; đặc biệt khâu phối hợp giữa các cơ quan hành chính nhà nước trong quá trình giải quyết công việc còn yếu. Trang bị thiết bị, điều kiện làm việc của cơ quan hành chính nhà nước nói chung còn nhiều hạn chế. Sau hơn một nửa thế kỷ xây dựng và củng cố chính quyền vẫn còn tới 10% chính quyền cấp xã chưa có trụ sở làm việc, khoảng 30% trụ sở cấp xã là nhà cấp 4, không bảo đảm điều kiện làm việc và giải quyết công việc của dân. Việc triển khai áp dụng các giải pháp kỹ thuật và nhất là công nghệ tin học vào hoạt động quản lý nhà nước còn chậm, đạt hiệu quả thấp. Chủ trương hiện đại hoá nền hành chính, thu hẹp khoảng cách tụt hậu so với các nước trong khu vực như Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010 đã đề ra vẫn là một thách thức lớn. 3. Nguyên nhân của những tồn tại, yếu kém 3.1. Cải cách hành chính ở nước ta đang được triển khai cùng với một loạt các cuộc cải cách khác, đó là đổi mới từng bước hệ thống chính trị, cải cách lập pháp ,cải cách tư pháp, cải cách kinh tế, cải cách doanh nghiệp nhà nước …Nhiều vấn đề, vốn thuộc cải cách hành chính, nhưng tự thân cải cách hành chính không thể cải cách được, mà phải đặt trong tổng thể đổi mới hệ thống chính trị để xem xét giải quyết. Chính sự không đồng bộ của CCHC với các cuộc cải cách khác là một trong những nguyên nhân làm cho cải cách hành chính chậm, hiệu quả thấp. 3.2. Cải cách hành chính hiệu quả chưa cao, có nguyên nhân về nhận thức. Nhận thức của chúng ta về một nhà nước pháp quyền XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN còn rất hạn chế, điều đó cũng ảnh hưởng nhất định đến kết quả cải cách ở các lĩnh vực, trong đó có CCHC.  3.3.  Mặc dù mấy năm gần đây có những chuyển biến tích cực trong sự chỉ đạo của chính phủ, nhưng nhìn chung chưa có sự chỉ đạo kiên quyết, tập trung của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đối với toàn bộ quá trình cải cách hành chính trong phạm vị cả nước .      Các thành viên Chính phủ, Chủ tịch UBND các tỉnh chưa đặt thường xuyên thực hiện nhiệm vụ CCHC trong phạm vi trách nhiệm của mình. Ban chỉ đạo cải cách hành chính các cấp hoạt động còn hình thức, chưa phát huy vai trò, trách nhiệm giúp người đứng đầu cơ quan hành chính các cấp trong chỉ đạo và kiểm tra thực hiện các nhiệm vụ CCHC đã xác định   3.4. Chế độ công vụ, công chức mới chưa hoàn chỉnh, đội ngũ cán bộ côngchức còn chưa ngang tầm với yêu cầu nhiêm vụ quản lý mới trong quá trình chuyển đổi .Nhìn chung chưa tạo được động lực cho CCHC, trong đó có vấn đề chế độ chính sách cho đội ngũ cán bộ, công chức. Chế độ tiền lương vẫn chưa được cải cách cơ bản theo yêu cầu của NQ TW 7 Khoá VIII năm 1999, chưa đảm bảo đời sống của cán bộ, công chức và gia đình họ. Điều này tác động không nhỏ đến động cơ và thái độ làm việc , đến những biểu hiện tiêu cực như: không an tâm làm việc, móc ngoặc, trục lợi, nhũng nhiễu trong một bộ phận cán bộ, công chức . 3.5. Ngoài những nguyên nhân chủ yếu trên đây, công tác cải cách hành chính còn gặp nhiều cản trở. Đáng chú ý là: một mặt nhận thức chưa đầy đủ về vị trí, tính chất, yêu cầu của cải cách hành chính, mặt khác cải cách hành chính đụng chạm đến bộ máy, con người nên rất khó khăn, phức tạp; mặt khác thói quen, nếp nghĩ, cách làm của đội ngũ cán bộ, công chức và của bản thân bộ máy hành chính còn mang nặng dấu ấn của cơ chế tập trung quan liêu bao cấp không dễ dàng thay đổi.   Những nguyên nhân và cản trở này cần phải được nhận thức đầy đủ để có những giải pháp khắc phục một cách có hiệu quả trong thời gian tới. II. CÁC NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP ƯU TIÊN CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH GIAI ĐOẠN 2006 -2010 1. Mục tiêu, yêu cầu: Nghị quyết Đại hội Đảng X đã xác định phải tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, coi đây là một trong bốn giải pháp cơ bản để thực hiện thắng lợi kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm ( 2006- 2010 ), nhiệm vụ thường xuyên của tất cả các tổ chức trong hệ thống chính trị.    Đẩy mạnh cải cách hành chính hướng tới mục tiêu xây dựng cho được một nền hành chính phục vụ nhân dân, phục vụ phát triển bảo đảm dân chủ, thống nhất, thông suốt, hiện đại, hiệu lực, hiệu quả. Đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất và trình độ đáp ứng yêu cầu  phát triển đất nước, vì lợi ích của nhân dân theo đúng yêu cầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân. Đến năm 2010, hệ thống hành chính được cải cách cơ bản phù hợp với các yêu cầu của cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. 2. Bối cảnh đẩy mạnh cải cách hành chính giai đoạn 2006-2010 Năm năm tới là thời kỳ phải tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo  sự chuyển biến thật sự về chất của hệ thống hành chính nhà nước. Nền hành chính đang đứng trước một loạt các yêu cầu và thách thức, trong đó có các yêu cầu chủ yếu sau đây. 2.1. Yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân; phát huy dân chủ, tăng cường kỷ luật, kỷ cương, phòng chống tham nhũng và  nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải có  một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đảm bảo sự lãnh đạo và quản lý đất nước bằng pháp luật. Từ đó, yêu cầu đặt ra là phải nhanh chóng hoàn thiện các thể chế liên quan tới chức năng, thẩm quyền của từng cơ quan trong hệ thống hành chính. Thể chế hoá và công khai, minh bạch các vấn đề này là đòi hỏi bức xúc của thực tiễn của cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Các cơ quan hành chính, từng công chức hoạt động trên cơ sở pháp luật, chỉ được làm những việc mà pháp luật quy định. Ý thức tôn trọng và thực thi nghiêm chỉnh pháp luật phải được xây dựng, giáo dục và trở thành một tố chất của công chức trong thực thi công vụ. 2.2. Việc hoàn thiện đầy đủ thể chế của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự điều tiết  của nhà nước Bước chuyển từ thể chế kinh tế cũ sang thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cần được hoàn tất về cơ bản trong 5 năm tới. Cả hệ thống hành chính nhà nước phải được cải cách phù hợp với bước chuyển cơ bản này. Vai trò của Nhà nước, của Chính phủ trong kinh tế thị trường  cần được điều chỉnh phù hợp với hình thành  hệ thống thể chế . 2.3 Thực hiện cải cách mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng sau khi ra nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) thực sự là bối cảnh mới cần được nhận thức đầy đủ Hội nhập kinh tế sâu rộng vừa tạo ra thời cơ thuận lợi, vừa đặt ra những thách thức không nhỏ, đòi hỏi phải đổi mới, cải cách nền hành chính. Sức ép cạnh tranh trên thị trường khu vực và thế giới ngày càng gay gắt, quyết liệt khi chúng ta thực hiện các cam kết tự do hoá thương mại, đầu tư trong khối ASEAN và trong Hiệp định thương mại với Hoa Kỳ, nhất là tham gia  WTO. 2.4. Cải cách hành chính phải hướng tới xây dựng một nền hành chính chuyên nghiệp hiện đại, phù hợp với yêu cầu phát triển của cách mạng khoa học công nghệ và nền kinh tế trí thức của thế k ỷ 21 Yêu cầu hiện đại hoá và xây dựng nền hành chính điện tử sẽ có tác động mạnh tới tổ chức và hoạt động và phương thức quản lý mới của cơ quan hành chính nhà nước các cấp. 3. Một số nhiệm vụ trọng tâm cải cách hành chính giai đoạn 2006-2010 Trên cơ sở kiên trì thực hiện mục tiêu và nội dung của Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010, năm năm tới tập trung trọng điểm các nhiệm vụ và giải pháp đẩy mạnh cải cách hành chính có hiệu quả. 3. 1. Chính phủ, các bộ, Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện vai trò chức năng quản lý nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với các nội dung hoạch định chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; xây dựng và ban hành thể chế, chính sách; hướng dẫn việc tổ chức thực hiện; thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm. Kiên quyết thực hiện việc chuyển giao mạnh các chức năng, nội dung công việc không thuộc chức năng của hệ thống hành chính cho các tổ chức xã hội, tổ chức phi Chính phủ, tổ chức sự nghiệp dịch vụ công, tổ chức doanh nghiệp, tư nhân đảm nhiệm ngày càng nhiều hơn theo hướng đẩy mạnh xã hội hoá. Chính phủ, các bộ thực hiện quản lý vĩ mô trong phạm vi cả nước đối với các lĩnh vực kinh tế - xã hội; tiếp tục đẩy mạnh việc phân cấp quản lý hành chính giữa Trung ương và địa phương, giữa chính quyền địa phương một cách đồng bộ trên từng ngành, lĩnh vực; quy định rõ thẩm quyền quyết định và chịu trách nhiệm đối với những vấn đề phân cấp để các địa phương chủ động tổ chức thực hiện được sát thực, nhanh chóng, kịp thời, có hiệu quả. Đồng thời, tăng cường quản lý nhà nước sau phân cấp của các bộ, ngành Trung ương để đảm bảo tính thống nhất quản lý ngành, lĩnh vực trong cả nước. 3. 2. Để xây dựng và làm cho bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh cần gắn chặt cải cách hành chính với chống tham nhũng bằng các biện pháp mạnh mẽ và quyết liệt. Tập trung vào xoá bỏ căn bản cơ chế “xin - cho” đối với các lĩnh vực, các cấp hành chính để loại bỏ tiêu cực, sách nhiễu, tham nhũng sinh ra từ cơ chế “xin - cho” này. Tiếp tục xoá bỏ triệt để hơn “cơ chế chủ quản đối với doanh nghiệp nhà nước” bằng cách cải cách cả các cơ quan hành chính, cơ quan chủ quản và cải cách doanh nghiệp nhà nước. Trên cơ sở tách hẳn giữa quản lý hành chính nhà nước với quản lý sản xuất - kinh doanh, tiến hành cổ phần hoá mạnh doanh nghiệp nhà nước và Công ty hoá doanh nghiệp nhà nước để hoạt động theo Luật Doanh nghiệp. Đây là giải pháp căn bản nhất để loại bỏ cơ chế chủ quản và cơ quan chủ quản đối với doanh nghiệp nhà nước và để chống tham nhũng từ cơ chế sinh ra. 3. 3. Để thực hiện được mục tiêu làm cho bộ máy nhà nước tinh gọn, có hiệu lực, hiệu quả thì trên cơ sở đã kết luận rõ nội dung chức năng quản lý nhà nước và phân cấp mạnh để làm tốt quản lý vĩ mô, cần phải có quyết tâm cao trong việc cơ cấu lại tổ chức bộ máy Chính phủ, các bộ, cơ quan hành chính địa phương các cấp để đạt tới mô hình “Nhà nước nhỏ nhưng mạnh và xã hội to” để phát triển theo xu hướng cải cách chung của các nước. Từ đó, cần thực hiện nhất quán nguyên tắc tổ chức bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực đối với tất cả các bộ để thay thế hay loại bỏ mô hình bộ quản lý đơn ngành, đơn lĩnh vực trong cơ cấu tổ chức của Chính phủ. Mặt khác, cần sắp xếp, hợp nhất một số cơ quan ngang bộ và cơ quan thuộc Chính phủ để chuyển chức năng quản lý nhà nước của cơ quan đó vào các bộ tương ứng. Coi đây như là nguyên tắc cần thống nhất để thu gọn số lượng các bộ đến mức cần thiết và khắc phục được nhiều hơn các lĩnh vực quản lý giao thoa, chồng lấn khó phân công, phối hợp do cơ cấu tổ chức Chính phủ có nhiều bộ, ngành sinh ra. 3. 4. Tiếp tục triển khai đồng bộ, nâng cao chất lượng cơ chế “một cửa” theo yêu cầu công khai, minh bạch coi đó như là một bước đột phá trong cải cách thủ tục hành chính đi vào chiều sâu để loại bỏ mạnh thủ tục hành chính rườm rà, nhiều cửa phức tạp, nảy sinh tiêu cực, tham nhũng, cản trở các hoạt động kinh tế - xã hội. Qua đó làm thay đổi và tạo lập được mối quan hệ mới giữa các cơ quan hành chính với công dân, doanh nghiệp, tổ chức xã hội; giữa nhà nước với thị trường; giữa thị trường với doanh nghiệp. Cơ chế “một cửa” còn tạo sự liên thông giữa các cơ quan chức năng trong giải quyết thủ tục hành chính được nhanh chóng, kịp thời, rõ trách nhiệm ở từng khâu công việc; tạo điều kiện cho việc cơ cấu lại tổ chức được tinh gọn, hợp lý hơn ở các cấp hành chính 3. 5. Phải tạo động lực nội tại bên trong của cải cách hành chính theo yêu cầu nhìn thẳng vào sự thật khách quan để lựa chọn cơ chế, chính sách được đúng và trúng. Mấu chốt nhất trong các yếu tố tạo động lực hiện nay là phải có chính sách tiền lương và các chế độ đối xử đối với cán bộ, công chức hành chính nhà nước được thoả đáng, yên tâm làm việc trong thực thi công vụ, không nhận hối lộ, không muốn hối lộ, chú trọng góp sức làm tăng trưởng kinh tế; qua đó sẽ trở thành yếu tố thu hút được nhiều những người tài năng thực sự vào làm việc trong khu vực hành chính nhà nước. Tuy nhiên, vì đây chính là chủ thể và đối tượng cải cách hành chính nên phải có chế định tạo áp lực làm việc minh bạch, trong sạch, có trách nhiệm cao; mức lương phải gắn với hiệu quả công việc của cán bộ, công chức đảm nhận; nếu vi phạm sẽ bị xử lý rất nghiêm và liên quan đến vị trí công việc còn hay mất để họ tự có sự lựa chọn tự giác. 3. 6. Cải cách căn bản hơn việc xây dựng và đào tạo lại đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước trong điều kiện mới cho theo kịp và đáp ứng được yêu cầu thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của hệ thống hành chính nhà nước được cơ cấu lại tổ chức bộ máy gọn nhẹ, quản lý nhà nước đa ngành, đa lĩnh vực . Cần phải nhất quán thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cả về năng lực và phẩm chất theo những tiêu chuẩn xác định phù hợp với tính chất và yêu cầu quản lý đối với từng ngành, từng lĩnh vực và mỗi cấp quản lý. Nhất là chất lượng hoạt động của đội ngũ cán bộ, công chức hành chính là đòi hỏi cấp thiết hiện nay. Quyết tâm cơ cấu lại biên chế đội ngũ cán bộ, công chức theo mục tiêu đổi mới về chất để thay thế mạnh những người thấp kém về năng lực, phẩm chất, không đáp ứng được yêu cầu thực thi công vụ với chất lượng cao của nền hành chính hiện đại. 3. 7. Thực hiện mở rộng việc áp dụng một số cơ chế, chính sách mới đối với một số lĩnh vực đang làm như áp dụng chế độ tự chủ toàn diện, tự chịu trách nhiệm của các đơn vị sự nghiệp dich vụ công trên cơ sở có một cuộc cải cách các tổ chức sự nghiệp dịch vụ công; cơ chế khoán biên chế và kinh phí hoạt động thường xuyên cho cơ quan hành chính nhà nước. Mặt khác chú trọng phát huy nhiều sáng kiến, thí điểm mới trong cải cách hành chính nhà nước. 3. 8. Cần đổi mới căn bản, toàn diện hơn phương thức làm việc và sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ và cơ quan hành chính địa phương các cấp nhằm theo kịp và đi đầu trong cải cách hành chính. Coi đó là yếu tố thúc đẩy mạnh tiến trình cải cách hành chính. Trên cơ sở hoàn thiện Quy chế làm việc của Chính phủ, của mỗi cơ quan hành chính để vừa phải làm việc theo Quy chế, vừa loại bỏ những công việc không thuộc chức trách của mình nhằm khắc phục tình trạng bao biện làm thay hoặc đùn đẩy trách nhiệm giữa các cấp hành chính. Đưa nhanh việc áp dụng công nghệ thông tin vào quản lý hành chính, hình thành từng bước “Chính phủ điện tử” để nâng cao hiệu lực, hiệu quả chỉ đạo, điều hành tập trung, thống nhất của Chính phủ và hệ thống hành chính các cấp. Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và người đứng đầu cơ quan hành chính các cấp cần tập trung nhiều hơn vào sự chỉ đạo, điều hành đối với cải cách hành chính một cách kiên quyết và chịu trách nhiệm hàng đầu về kết quả cải cách hành chính trước Đảng, trước toàn dân. Đổi mới tổ chức và chỉ đạo thực hiện của Ban chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ theo hướng tăng cường hiệu lực và hiệu quả. III. Mét sè néi dung träng t©m trong c«ng cuéc c¶i c¸ch hµnh chÝnh n¨m 2009 tõ thùc tiÔn t¹i tÜnh LẠNG SƠN Nhằm tiếp tục triển khai và cụ thể hoá các nội dung về cải cách hành chính ban hành kèm theo Quyết định số 421/QĐ-UBND ngày 13/3/2007 của UBND tỉnh về phê duyệt Chương trình cải cách hành chính tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2006-2010 và Chương trình hành động số 78/CTr-UBND ngày 30/01/2008 của UBND tỉnh về thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước; ngày 12/3/2009, UBND tỉnh Lạng Sơn đã ban hành Quyết định số 428/QĐ-UBND về Phê duyệt Kế hoạch cải cách hành chính tỉnh Lạng Sơn năm 2009. Theo Kế hoạch trên, UBND tỉnh yêu cầu tất cả các sở, ban, ngành, UBND các huyện, thành phố phải xây dựng Kế hoạch cải cách hành chính của cơ quan, đơn vị, đảm bảo việc tổ chức triển khai thực hiện công tác cải cách hành chính tại đơn vị đem lại hiệu quả thiết thực; đồng thời, Kế hoạch cũng xác định, trong năm 2009 tỉnh tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính và ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước (đặc biệt là ứng dụng công nghệ thông tin trong triển khai thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông). Một số nội dung chủ yếu trong công tác cải cách hành chính năm 2009 của tỉnh Lạng Sơn theo Kế hoạch UBND tỉnh đã ban hành như sau: 1. Về cải cách thể chế Đẩy mạnh ban hành Kế hoạch cải cách hành chính tại các sở, ban, ngành và Uỷ ban nhân dân các huyện, thành phố; đảm bảo việc triển khai thực hiện cải cách hành chính được thiết thực, hiệu quả. Tiếp tục ban hành quyết định quy định về cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh; Uỷ ban nhân dân các huyện, thành phố. Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng việc thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông, trong đó: - Rà soát các quyết định quy định về trình tự, thủ tục thực hiện cơ chế một cửa đối với các lĩnh vực đã được UBND tỉnh ban hành từ năm 2003 nhằm bãi bỏ các quyết định không còn phù hợp. - Ban hành quyết định mới quy định về thực hiện cơ chế một cửa, trong đó quy định thẩm quyền ban hành quyết định thực hiện cơ chế một cửa đối với cấp huyện cho Chủ tịch UBND cấp huyện. - Rà soát các lĩnh vực đang thực hiện theo cơ chế một cửa tại các sở, ngành (do Giám đốc các sở, ngành ban hành thực hiện từ năm 2004 đến 2008) để sửa đổi, thay thế, đồng thời bổ sung thêm lĩnh vực thực hiện. - Tiếp tục mở rộng triển khai thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông (trước mắt, triển khai thực hiện cơ chế một cửa tại Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; triển khai thực hiện cơ chế một cửa liên thông tại Sở Xây dựng và thí điểm triển khai thực hiện cơ chế một cửa liên thông tại một số đơn vị cấp huyện và cấp xã). Đẩy mạnh việc kiểm tra tình hình thực hiện công tác cải cách hành chính, đặc biệt là cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông. 2. Về cải cách tổ chức, bộ máy Tiếp tục hoàn thiện việc sắp xếp cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh và cấp huyện. Sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới Quy chế làm việc của các cơ quan hành chính nhà nước ở cấp tỉnh và cấp huyện Tăng cường công tác kiểm tra, hướng dẫn việc thực hiện Quyết định số 25/2008/QĐ-UBND ngày 31/10/2008 của UBND tỉnh về Ban hành Quy định về phân công, phân cấp quản lý tổ chức bộ máy, biên chế và cán bộ, công chức, viên chức. 3. Xây dựng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức Xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức năm 2009 của tỉnh; đồng thời, thực hiện đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, công chức, viên chức các cấp theo Kế hoạch đã ban hành bằng nhiều hình thức thích hợp, đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã. Thực hiện tuyển dụng bổ sung công chức hành chính; tiếp tục tuyển dụng viên chức sự nghiệp các đơn vị thuộc các sở, ngành và các huyện, thành phố (đặc biệt là viên chức sự nghiệp ngành Giáo dục). Xây dựng tiêu chuẩn chức danh Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng và tương đương thuộc Sở và thuộc UBND cấp huyện. 4.Cải cách tài chính công Thực hiện rà soát, điều chỉnh, sửa đổi Quy chế chi tiêu nội bộ cho phù hợp, nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện Nghị định số 130/2005/NĐ-CP của Chính phủ về Quy định chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với các cơ quan nhà nước. Nâng cao chất lượng việc thực hiện Nghị định số 43/2006/NĐ-CP, ngày 25/4/2006 của Chính phủ về việc Quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập. Xây dựng quy định về chế độ phụ cấp đối với cán bộ, công chức làm việc tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả ở các cấp trên địa bàn tỉnh. 5. Hiện đại hoá nền hành chính Triển khai ứng dụng phần mềm Văn phòng điện tử e-Office trong hoạt động một số cơ quan nhà nước đã thực hiện cơ chế một cửa. Triển khai Dự án nâng cấp phần mềm quản lý cán bộ, công chức, viên chức tỉnh Lạng Sơn. Xây dựng và triển khai Dự án phần mềm dùng chung phục vụ cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông. Tiếp tục triển khai áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2000 vào hoạt động của các cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh. Trong năm 2009, tỉnh sẽ triển khai áp dụng tại một số sở và UBND huyện còn lại (12 đơn vị) và áp dụng tại một số đơn vị sự nghiệp. Từ năm 2007 đến 2008, tỉnh đã triển khai áp dụng tại 13 sở, 6 UBND cấp huyện, 3 UBND cấp xã và 11 đơn vị sự nghiệp. KẾT LUẬN Với đề tài trên ta có thể thấy được nọi dung cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010 lần đầu tiên trong quá trình cải cách , chính phủ đã có một chương trình có tính chiến lược dài hạn, xác định rõ 4 lĩnh vực cải cách là. Ccải cách thể chế, cải cách tổ chức bộ máy hành chínhãyây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ công chức và cải cách hành chính công xác định rõ được mục tiêu và các nhiệm vụ cải cách, xác định các giải pháp thực hiện nhằm đảm bảo thắng lợi công cuộc cải cách Nội dung cải cách sẽ là công cụ quan trọng để chính phủ chỉ đạo các bộ ngành trung ương và chính quyền địa phương các cấp đảy mạnh cải cách hành chính Tóm lại việc cải cách hành chính ở việt nam trong những năm qua và trong tương lai đi theo hướng làm cho bộ máy hành chính hoàn bị hơn, hoạt động có hiệu quả hơn phục vụ nhân dân ngày càng đúng pháp luật tốt hơn và tiết kiệm nhất dần từng bước chuyển nền hành chính từ cơ quan cao quản thành các cơ quan phục vụ dân, làm cho các dịch vụ hành chính đối với dân công dân là khách hàng của nền hành chính và là người đánh giá khách quan nhất về mọi hoạt động của bộ máy nhà nước, bộ máy hành chính. Tất cả những mục tiêu đó của cải cách hành chính cũng nhằm góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với bản chất của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Chủ biên: PGS – TS Thái vĩnh Thắng, Tiến sĩ Vũ Hồng Anh –“ Giáo Trình Luật Hiến Pháp Việt Nam”, Đại Học Luật Hà Nội – NXB công anh nhân dân 2. Nội dung của các lần đại hội:” Đại hội lần thứ VI, Đạj hội lần thứ VII, Đại hội lần thứ VIII” 3. Quyết định số 428/QĐ-UBND tỉnh lạng sơn về phê duyệt kế hoạch cải cách hành chính 4. website: WWW.cảicáchhànhchính.gov.vn đ Môc lôc Trang Më ®Çu............................................................................................................. 1 I.Lý do chän ®Ò tµi......................................................................................... 1 1. NhiÖm vô vµ môc ®Ých.................................................................................. 2 2.§èi t­îng ph¹m vi nghiªn cøu...................................................................... 2 3.Ph­¬ng ph¸p nghiªn cøu............................................................................... 3 4. ý nghÜa cña viÖc nghiªn cøu......................................................................... 3 II. Néi dung..................................................................................................... 4 Ch­¬ng 1. Kh¸i qu¸t c¸c néi dung c¶i c¸ch hµnh chÝnh............................. 4 1. C¶i c¸ch hµnh chÝnh qua c¸c lÇn ®¹i héi...................................................... 4 2. Kh¸i niÖm vµ c¸c néi dung cÇn cã trong c¶i c¸ch hµnh chÝnh tõ n¨m 2001 – 2010.............................................................................................................. 9 2.1. Bèi c¶nh ra ®êi.......................................................................................... 9 2.2. Môc tiªu chung.......................................................................................... 10 2.3. Néi dung cña c¶i c¸ch............................................................................... 12 3. C¸c gi¶i ph¸p thùc hiÖn................................................................................ 15 Ch­¬ng 2. Thùc tr¹ng nÒn hµnh chÝnh nhµ n­íc ta hiÖn nay.................... 17 I. Qu¸ tr×nh c¶i c¸ch hµnh chÝnh trong 5 n¨m qua (2001 – 2005)............. 17 1. KÕt qu¶ ®¹t ®­îc cña c¶i c¸ch hµnh chÝnh trong 5 n¨m qua (2001 – 2005). 17 2. Nh÷ng h¹n chÕ yÕu kÐm cña nÒn hµnh chÝnh nhµ n­íc................................ 20 3. Nguyªn nh©n cña nh÷ng tån t¹i yÕu kÐm..................................................... 23 II. C¸c nhiÖm vô vµ gi¶i ph¸p ­u tiªn c¶i c¸ch hµnh chÝnh giai ®o¹n 2006 – 2010...................................................................................................... 24 1. Môc tiªu, yªu cÇu........................................................................................ 24 2. Bèi c¶nh ®Èy m¹nh c¶i c¸ch hµnh chÝnh giai ®o¹n 2006 – 2010.................. 25 3. Mét sè nhiÖm vô träng t©m c¶i c¸ch hµnh chÝnh giai ®o¹n 2006 – 2010..... 26 III. Mét sè néi dung träng t©m trong c«ng cuéc c¶i c¸ch hµnh chÝnh n¨m 2009 tõ thùc tiÔn t¹i tØnh L¹ng S¬n...................................................... 30 1. VÒ c¶i c¸ch thÓ chÕ....................................................................................... 31 2. VÒ c¶i c¸ch tæ chøc bé m¸y.......................................................................... 32 3. X©y dùng n©ng cao chÊt l­îng ®éi ngò c¸n bé c«ng chøc........................... 32 4. C¶i c¸ch tµi chÝnh c«ng................................................................................ 33 5. HiÖn ®¹i ho¸ nÒn hµnh chÝnh........................................................................ 33 KÕt luËn........................................................................................................... 34 Tµi liÖu tham kh¶o.......................................................................................... 35

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docBáo cáo thực tập- cải cách hành chính ở cấp huyện, thực trạng và giải pháp.doc
Luận văn liên quan