Báo cáo Tiến độ 8: Khuyến nông và sự chấp nhận của nông dân

Ứng dụng kỹthuật và việc cải thiện trong canh tác hiện nay bao gồm: - Ủy thác 2 máy gieo hạt tự động đểanh Phong có thểgia tăng sốlượng cây con. - Cải thiện điều kiện làm việc đối với công nhân đểthực hiện việc ghép cây con. Khi chúng tôi tham quan vào 2/2006, những công nhân đã đảm nhận việc ghép ngoài nhà lưới nhưng bây giờcông nhân làm việc trong nhà mái che. Điều này không chỉ thuận tiện cho công nhân mà còn hiệu quảhơn trong việc điều hành sản xuất cây con. - Theo sau của tiến trình học hỏi tại Úc, anh Phong đã nhanh chóng thích nghi việc trồng rau trong thủy canh và hệthống sàn xuất rau thủy canh sao cho thích hợp với điều kiện của Việt Nam. Anh cũng thay đổi việc quản lý cây trồng dựa trên kinh nghiệm học hỏi mà đã được nhìn thấy tại Úc.

pdf35 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 06/09/2014 | Lượt xem: 1608 | Lượt tải: 3download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Báo cáo Tiến độ 8: Khuyến nông và sự chấp nhận của nông dân, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
reo là một đoạn thép được uốn cong dài 20cm có 2 móc ở 2 đầu. Dây nylon được quấn vào móc treo, dây ở mỗi móc có chiều dài 8m. 7 - Dây nylon được dùng thay choái và treo thẳng; mỗi cuộn dây đều được móc vào 1 hàng dây thép căng sẵn cách mặt đất 2m song song với hàng cây. Mỗi luống trồng cây tương ứng với 2 hàng dây thép. - Cho cà chua leo bằng cách quấn dây nylon quanh thân chính. Khi cây cà chua leo cao trên 2m thì hạ chiều cao bằng cách nới cuộn dây (đổi đầu móc treo) và cho cây đổ về cùng 1 hướng; thông thường 4-5 ngày thì hạ dây treo 1 lần. c/ Chăm sóc - Tưới nước qua hệ thống tưới nhỏ giọt 1 ngày 2 lần tuỳ vào độ ẩm của đất, thường độ ẩm vào khoảng 70-80% là thích hợp cho cà chua sinh trưởng và phát triển. - Tỉa nhánh và số trái/chùm: 10 ngày sau trồng tỉa nhánh, chỉ để 1 thân chính/ 1 cây; khi cà chua đậu quả, tỉa bớt quả, chỉ nên để 4-5 quả/chùm. - Phun thêm nước tạo ẩm độ: Khi cây vào giai đoạn ra hoa, đậu quả nên phun bổ sung thêm nước dạng hạt nhỏ như sương (dùng bình phun như phun thuốc trừ sâu bệnh) vào lúc chiều mát để làm tăng thêm ẩm độ không khí trong nhà màng (thích hợp khoảng 50-55%) giúp hoa đậu trái tốt hơn. - Bón thúc qua hệ thống tưới - 15 ngày sau trồng trở đi bón thúc phân qua hệ thống tưới: 1 tuần/1 lần, 15 phút/lần. Mỗi lần như vậy ngâm ure và kaly theo tỷ lệ 3kg ure/2kg kaly, lọc kỹ lấy nước trong và pha loãng đạt nồng độ 0,5% để tưới. - Từ ngày thứ 35 trở đi, tăng thêm số lần tưới, 5 ngày 1 lần, 15 phút/ lần. 5. Phòng trừ sâu bệnh a/Một số sâu bệnh hại chính Trong vườn ươm: Chú ý đến dòi đục lá và bệnh lở cổ rễ, thối gốc (Pythium hoặc Rhizoctonia) và sử dụng thuốc trong vườm ươm với nồng độ bằng ½ nồng độ khuyến cáo trên bao bì sản phẩm Dòi đục lá (Liriomyza tripholia): dùng thuốc Ofunack, Trigard, Netoxin… Bệnh lở cổ rễ, thối gốc (Pythium hoặc Rhizoctonia): dùng thuốc Benlat C, Rovral, Ridomil, Topsin M Trước khi đem cây con ra trồng nên phun thuốc trừ sâu bệnh, thường dùng: Regent, Confidor, Actara,… Trong nhà màng Sâu hại: Thường ít xuất hiện, nếu có xuất hiện thì thường gặp những loại sau: Sâu vẽ bùa (Agromyza): xuất hiện trong quá trình sinh trưởng và phát triển của cây. Phòng trừ: dùng các loại thuốc Vectimec, Trigard, Polytrin…. Rầy mềm (Thrips spp.): chích hút nhựa, tác nhân truyền bệnh virus. Phòng trừ bằng các loại thuốc Supracide, Polytrin, Actara, Oshin… Bọ trĩ, bọ phấn (Bemisia sp): dùng các loại thuốc Regent, Confidor, Actara, Mosfilan, Oshin… Bệnh hại: Bệnh xoăn lá do virus: Diệt trừ bọ phấn trắng dùng các loại thuốc: Confidor, Mosfilan, Actara, Oshin…. Bệnh nấm hạch (Rhizoctonia solani spp): dùng thuốc Anvil, Validacin, Tilt, Monceren và các loại thuốc gốc đồng Chú ý: nên phun luân phiên các loại thuốc trên, không nên phun một loại nhiều lần và liên tục b/ Biện pháp tổng hợp phòng trừ sâu bệnh hại 8 * Biện pháp canh tác: Thu gom, tiêu huỷ tàn dư cây ngay sau khi thu hoạch. Cày đất, bón vôi bột khử trùng đất (600-650kg/ha). Áp dụng luân canh với rau ăn lá, xà lách,... * Biện pháp sinh học: Ưu tiên sử dụng các loại thuốc sinh học, thuốc thảo mộc gồm các loại trừ sâu như Bt, V-Bt, Pheromone, Neem,.. Thuốc trừ bệnh như Trichoderma, Validacin,... 6. Thu hoạch: Khi trái cà chua ửng đỏ hồng là có thể thu hoạch, khi thu hoạch dùng kéo cắt giữa cuống từng quả hoặc cũng có thể cắt nguyên một chùm và xếp ngay ngắn vào sọt plastic chuyên dụng. 9 KỸ THUẬT TRỒNG DƯA LEO TRONG NHÀ MÀNG Kỹ thuật này được tóm tắt dựa trên kết quả nghiên cứu khả năng trồng dưa leo trong nhà màng tại Lâm Đồng do Viện KHKT NN miền Nam thực hiện trong chương trình hợp tác với Viện Nghiên cứu Rau Hoa Gosford, Úc Châu (Dự án 004/04 VIE). Đây là kỹ thuật công nghệ mới, có hiệu quả cao. Yêu cầu cơ sở vật chất phải đáp ứng những điều kiện sau: 1. Nhà màng chuyên trồng rau ăn quả: khung sườn nhà làm bằng V4, rui mè bằng tầm vông, mái lợp nylon, máng xối bằng tôn, hông cao 4m, chiều cao tới đỉnh nóc 5,7m, có khoảng không đón gió 0,7m. Từ mặt đất lên đến 0,5m quây bằng nylon, từ 0,5m đến 2,7m quây bằng lưới thưa loại 2mm/lỗ, từ 2,7m đến 4m quây bằng nylon để tránh mưa hắt vào nhà, mái lợp polyethylen. Cột nhà màng dùng sắt V4, trong đó sâu xuống đất 0,5m và đổ bê tông từ dưới lên trên 0,3m có đường kính 10cm, khoảng cách chân cột cách nhau 3m, bước nhịp 3m, 1 khoang rộng 7m. 2. Hệ thống dây treo bằng thép (ø = 3mm) cho dưa leo được thiết kế cách mặt đất 2m, song song với mặt đất và buộc vào khung nhà, thiết kế theo dây luống đôi, tức là 2 dây trên một luống cách nhau 0,5m và dây ở luống này cách dây ở luống kia 0,7m. QUY TRÌNH KỸ THUẬT SẢN XUẤT 1. Giống Chọn các giống dưa leo có khả năng sinh trưởng và phát triển tốt, năng suất cao, phẩm chất khá, chống chịu sâu bệnh, đem lại hiệu quả kinh tế cao. Các giống dưa leo đang trồng phổ biến hiện nay TN 140, năng suất có thể đạt 30-32tấn/ha; ngoài ra nếu sử dụng giống Status và Tohoku là những giống chuyên trồng trong nhà màng của Úc, thì tiềm năng năng suất rất cao, có thể đạt trên 100tấn/ha. 2. Thời vụ Do trồng trong nhà màng nên có thể trồng quanh năm 10 3. Gieo ươm cây con a/ Chuẩn bị giá thể ươm cây con giống: Giá thể gồm than bùn (70%), phân bò (25- 29%), mụn xơ dừa, vôi, phân NPK, nấm Trichoderma (khoảng 1-5%) được trộn đều và ủ từ 3-6 tháng; sau đó được xay nhuyễn và cho vào các lỗ trên vỉ. Giá thể khi gieo cây cần phải đủ ẩm để hạt giống nảy mầm tốt. b/ Gieo hạt giống: Hạt được gieo vào các lỗ bằng tay hoặc bằng máy gieo hạt chuyên dụng, mỗi lỗ 1 hạt, sau đó phủ trên hạt một lớp mỏng bột giá thể sao cho kín hạt. Xếp các vỉ đã gieo thành 1 khối rồi đậy kín bằng bạt để kích thích hạt nảy mầm, sau 1-2 ngày kiểm tra thấy hạt giống nảy đều thì chuyển vỉ ra để trên giàn ươm và chăm sóc, cần tưới nước cho cây con 1-2 lần/ngày tuỳ độ ẩm của giá thể. Sau 10-15 ngày sau gieo cây giống có từ 2-4 lá thật là có thể đem trồng trong nhà màng. Cây giống khi đem trồng phải đanh cứng cây, không sâu bệnh 4. Trồng và chăm sóc a/ Chuẩn bị đất, phân bón - Dưa leo ưa đất cát pha, thịt nhẹ, tơi xốp, giàu hữu cơ độ pH từ 5,5-6,8 (thích hợp nhất là pH từ 6,0-6,5). - Đất được cày tơi xốp, dọn sạch cỏ dại, tàn dư vụ trước; lên luống rộng 1,2m, cao 15-20cm, rãnh luống rộng 25-30cm. Phân bón: Lượng phân bón cần thiết cho 1 ha dưa leo (để đạt năng suất khoảng 50tấn/ha) - Phân chuồng hoai mục: 35-40 tấn - Phân đạm urê: 300-350kg - Phân lân: 350-400kg - Phân kali: 250-300kg Bón lót toàn bộ phân chuồng, phân lân, 1/10 phân đạm và 1/5 phân kali. Bón rải đều theo rạch hàng, trộn đều ở độ sâu 10-15cm và lấp kín đất trước khi trồng. Lượng phân còn lại dùng để tưới định kỳ vào các thời kỳ sau. (Có thể dùng hỗn hợp phân NPK sau khi đã tính tương ứng lượng đạm, lân, kali) Bón thúc qua hệ thống tưới - 15 ngày sau trồng bón thúc phân qua hệ thống tưới hằng ngày, 1 lần/5 ngày, 15 phút/lần vào 16 giờ. (một lần tưới 5kg phân NPK đã ngâm và lọc bỏ tạp chất ) - Từ ngày thứ 35 trở đi, tăng thêm số lần tưới, 3-4 ngày 1 lần, 15 phút/ lần, vào lúc 16 giờ (một lần tưới 5kg phân NPK đã ngâm và lọc bỏ tạp chất + 3-4kg bánh dầu) - Hiện nay, trên thị trường đã có nhiều loại phân dùng cho hệ thống tưới nhỏ giọt; có thể sử dụng phân NPK của Đức, phân NPK của Haifa (Isarel)... b/ Hệ thống tưới nhỏ giọt Yêu cầu về nước tưới: Không dùng nước bị ô nhiễm, nước thải cống rãnh...Nên sử dụng nguồn nước ngầm dưới lòng đất và được bơm lên bồn chứa. Lắp đặt hệ thống tưới: - Hệ thống tưới gồm: 1 bồn có dung tích 2000lít, 1 bộ lọc và dây tưới nhỏ giọt có lưu lượng nước 1,5-2lít/ giờ/lỗ (có thể sử dụng loại dây 30cm có 1 lỗ nhỏ giọt hoặc 40cm có 1 lỗ nhỏ giọt). - Bồn chứa nước có thể để trên dàn cao 3m so với ruộng được tưới hoặc có thể để ngay ở mặt đất và khi tưới dùng máy bơm 0,5-1hp để bơm vào hệ thống tưới. - Gắn hệ thống tưới nhỏ giọt mỗi luống có 2 dây và cách nhau 40cm, các đầu dây tưới nhỏ giọt sẽ được gắn vào 1 ống, ống này nối với bộ lọc và bộ lọc nối với bồn chứa. 11 Phủ màng phủ plastic: Sau khi gắn xong hệ thống tưới tiến hành phủ màng plastic và đục lỗ trồng cây với khoảng cách cây cách cây 40cm, hàng cách hàng 60cm. c/Trồng và chăm sóc Mật độ: Trồng hàng đôi, với khoảng cách hàng x hàng 60cm, cây x cây 40cm, tương đương với 23.000cây/ha Dây cho dưa leo leo - Móc treo là một đoạn thép được uốn cong dài 20cm có 2 móc ở 2 đầu. Dây nylon được quấn vào móc treo, dây ở mỗi móc có chiều dài 8m. - Dây nylon được dùng thay choái và treo thẳng; mỗi cuộn dây đều được móc vào 1 hàng dây thép căng sẵn cách mặt đất 2m song song với hàng cây. Mỗi luống trồng cây tương ứng với 2 hàng dây thép. - Cho dưa leo leo bằng cách quấn dây nylon quanh thân chính. Khi cây dưa leo leo cao trên 2m thì hạ chiều cao bằng cách nới cuộn dây (đổi đầu móc treo) và cho cây đổ về cùng 1 hướng; thông thường 3-4 ngày thì hạ dây treo 1 lần. Chăm sóc - Tưới nước qua hệ thống tưới nhỏ giọt 1 ngày 2 lần tuỳ vào độ ẩm của đất, thường độ ẩm >80% là thích hợp cho dưa leo sinh trưởng và phát triển. - Tỉa nhánh và số trái/chùm: 10 ngày sau trồng tỉa nhánh, chỉ để 1 thân chính/ 1 cây; khi dưa leo đậu quả, tỉa bớt quả, chỉ nên để 2-3 quả/chùm. 5. Phòng trừ sâu bệnh a/Một số sâu bệnh hại chính Trong vườn ươm: Chú ý đến dòi đục lá và bệnh lở cổ rễ, thối gốc (Pythium hoặc Rhizoctonia) và sử dụng thuốc trong vườm ươm với nồng độ bằng ½ nồng độ khuyến cáo trên bao bì sản phẩm, dùng thuốc Benlat C, Rovral, Ridomil, Topsin M Trước khi đem cây con ra trồng nên phun thuốc trừ sâu bệnh, thường dùng: Confidor, Actara,… Trong nhà màng Sâu hại: Thường ít xuất hiện, nếu có xuất hiện thì thường gặp những loại sau: Rệp (Aphis cracivora Koch): xuất hiện trong quá trình sinh trưởng và phát triển của cây. Phòng trừ: dùng các loại thuốc Confidor, Actara,… Dòi đục lá (Liriomyza tripholia): dùng thuốc Ofunack, Trigard, Netoxin… Bọ trĩ (Thrips spp.): chích hút nhựa, tác nhân truyền bệnh virus. Phòng trừ bằng các loại thuốc Supracide, Polytrin, Actara, Oshin… Bệnh hại: Bệnh khảm lá dưa leo (Cucumber mosaic virus): Diệt trừ bọ phấn trắng dùng các loại thuốc: Confidor, Mosfilan, Actara, Oshin…. Bệnh phấn trắng (Erysiphe cichoracearum): dùng thuốc Daconil, Aliette,... Chú ý: nên phun luân phiên các loại thuốc trên, không nên phun một loại nhiều lần và liên tục b/ Biện pháp tổng hợp phòng trừ sâu bệnh hại * Biện pháp canh tác: Thu gom, tiêu huỷ tàn dư cây ngay sau khi thu hoạch. Cày đất, bón vôi bột khử trùng đất (600-650kg/ha). Áp dụng luân canh với rau họ thập tự, xà lách,... * Biện pháp sinh học: Ưu tiên sử dụng các loại thuốc sinh học, thuốc thảo mộc gồm các loại trừ sâu như Bt, V-Bt, Pheromone, Neem,.. Thuốc trừ bệnh như Trichoderma, Validacin,... 12 6. Thu hoạch: Khi trái dưa leo chuyển sang màu xanh thẫm là có thể thu hoạch, khi thu hoạch dùng kéo cắt giữa cuống từng quả và xếp ngay ngắn vào sọt plastic chuyên dụng và vận chuyển đến nơi tiêu thụ. 13 HIỆU QUẢ KINH TỀ CỦA VIỆC TRỒNG CÀ CHUA VÀ DƯA LEO TRÊN ĐẤT VÀ TRÊN GIÁ THỂ TRONG NHÀ MÀNG POLYETHYLEN Trong chương trình hợp tác với Viện nghiên cứu Rau-Hoa Gosford, Úc. Phòng nghiên cứu Rau, Viện Khoa học Kỹ thuật NN miền Nam đã tiến hành một thí nghiệm Đánh giá khả năng trồng cà chua và dư leo trong nhà màng tại Lâm Đồng. Đây là một hoạt động trong dự án 004/05 VIE do chương trình CARD tài trợ. Kết quả của thí nghiệm đã cho thấy rằng: - Cà chua trồng trên đất đạt lợi nhuận 48,211 triệu đồng/1000m2 trong khi trồng trên giá thể lỗ vốn 23,276 triệu - Tương tự, dưa leo trồng trên đất đạt lợi nhuận 25,56 triệu đồng/1000m2 trong khi trồng trên giá thể lỗ vốn 5,475 triệu đồng. Lý do chính là giá của giá thể cao và việc quản lý dinh dưỡng thuỷ canh không tốt và chưa có kinh nghiệm. Bảng 1. Hiệu quả của 1000m2 cà chua trồng trên đất tại Lâm Đồng – Việt Nam năm 2007 STT Hạng mục ĐVT Số lượng Đon giá (đ) Thành tiền (đ) A Chi phí đầu vào I Vật tư 1 Phân hữu cơ m3 5 300,000 1,500,000 2 Vôi bột kg 150 300 45,000 3 Ure kg 94 7,000 658,000 4 Lân kg 88 5,000 440,000 5 Ka li kg 80 7,000 560,000 6 Bo kg 5 12,000 60,000 7 Thuốc sâu gói 50 20,000 1,000,000 8 Màng phủ nylon Cuộn 2 500,000 1,000,000 9 Cây ghép cây 2700 380 1,026,000 10 Khác 1 1,000,000 1,000,000 II Công lao động Công 140 50,000 7,000,000 III Tổng chi phí đầu vào (1) 14,289,000 IV Khấu hao máy móc (2) (Nhà lưới, trang thiết bị) 5,000,000 V Tổng cộng (3=1+2) 19,289,000 B Sản phẩm thu được (4) Tấn 15 4,500,000 67,500,000 C Lãi (5=4-3) 48,211,000 14 Bảng 2. Hiệu quả của 1000m2 cà chua trồng trên giá thể tại Lâm Đồng – Việt Nam năm 2007 STT Hạng mục ĐVT Số lượng Đon giá (đ) Thành tiền (đ) A Đầu vào I Vật tư 1 Giá thể m 3 40 1,000,000 40,000,000 2 Hóa chất 10,000,000 3 Thuốc BVTV gói 50 20,000 1,000,000 4 Màng phủ Cuộn 2 500,000 1,000,000 5 Cây ghép cây 2700 380 1,026,000 6 khác 1,000,000 II Công lao động Công 140 50,000 7,000,000 III Tổng chi phí đầu vào (1) 61,026,000 IV Khấu hao máy móc (2) (Nhà lưới, trang thiết bị) 5,000,000 V Tổng cộng (3=1+2) 66,026,000 B Sản phẩm thu được (4) tons 9.5 4,500,000 42,750,000 C Lãi (5=4-3) -23,276,000 Bảng 3. Hiệu quả của 1000m2 dưa chuột trồng trong đất tại Lâm Đồng – Việt Nam năm 2007 STT Hạng mục ĐVT Số lượng Đon giá (đ) Thành tiền (đ) I Đầu vào 1 Phân hữu cơ m 3 4 300,000 1,200,000 2 Vôi kg 100 300 30,000 3 Urea kg 70 7,000 490,000 4 Lân kg 65 5,000 325,000 5 Kali kg 60 7,000 420,000 6 Thuốc BVTV gói 40 20,000 800,000 7 Màng phủ NN Cuộn 2 500,000 1,000,000 8 Cây giống Cây 2700 250 675,000 9 Khác 1 1,000,000 1,000,000 Công lao động Công 100 50,000 5,000,000 Tổng chi phí đầu vào (1) 10,940,000 Khấu hao máy móc (2) (Nhà lưới, trang thiết bị) 3,500,000 Tổng cộng (3=1+2) 14,440,000 II Sản phẩm thu được (4) Tấn 8 8,000,000 64,000,000 II Lãi (5=4-3) 49,560,000 15 Bảng 4. Hiệu quả của 1000m2 dưa chuột trồng trên giá thể tại Lâm Đồng – Việt Nam năm 2007 STT Hạng mục ĐVT Số lượng Đon giá (đ) Thành tiền (đ) I Đầu vào 1 Giá thể m 3 40 1,000,000 40,000,000 2 Hóa chất 8,000,000 3 Thuốc BVTV pack 20 20,000 400,000 4 Màng phủ roll 2 500,000 1,000,000 5 Cây giống seedling 2700 250 675,000 6 Khác 1,000,000 7 Công lao động person/day 100 50,000 5,000,000 Tổng chi phí đầu vào (1) 56,075,000 Khấu hao máy móc (2) (Nhà lưới, trang thiết bị) 3,500,000 Tổng cộng (3=1+2) 59,075,000 II Sản phẩm thu được (4) tons 6,7 8,000,000 53,600,000 II Lãi (5=4-3) -5,475,000 GIỚI THIỆU VỀ HỆ THỐNG THUỶ CANH VÀ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ. Sophie Parks Dưới đây là một số hệ thống thuỷ canh đang được dùng cho sản xuất rau hàng hoá. Bản chất của một hệ thống thuỷ canh là cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng qua rễ bắng dung dịch cùng lúc với việc cung cấp nước. Rể cây được ngâm trong nước dung dịch tĩnh hay chảy hoặc người ta cung cấp dung dịch dinh dưỡng qua hệ thống tưới nhỏ giọt cho cây được trồng trên một giá thể. Như vậy, lối trồng này không dùng đến đất. Dưới đây mô tả các hệ thống thuỷ canh khác nhau. Tất cả các hệ thống thuỷ canh đều phải đảm bảo cung cấp cho cây đủ dinh dưỡng, nước và oxy. CÁC HỆ THỐNG THUỶ CANH Hệ thống thuỷ canh tĩnh Đây là dạng đơn giản nhất. Cây được trồng trên một tấm vật liệu đậy trên miệng một bể nước (dinh dưỡng). Một số hệ thống cần thêm bộ phân sục khí vào bễ dinh dưỡng (Hình 1) 16 Figure 1. Aerated tank culture Kratky (2004) mô tả một hệ thống thuỷ canh dạng theo kiểu này như sau: Dung dịch dinh dưỡng chứa trong bể, cây được trồng vào một rọ nhựa . Đáy của rọ dìm vào dung dịch dinh dưỡng để rễ cây hấp thu dinh dưỡng và nước. Khi mực nước còn 10% so với ban đầu thì cung cấp thêm. Sau đó, chờ cây phát triển và thu hoạch. Hình 2. Hệ thống thuỷ canh tĩnh Tóm tắt 4 điểm chính của mô hình này như sau • Phần trên của rễ cần phải được tiếp xúc với không khí và ẩm độ cao • Tránh để cho rễ bị khô. • Phần dưới của rễ phải tiếp xúc được với nước và dinh dưỡng • Mức dinh dưỡng cần được duy trì bằng hoặc thấp hơn mức ban đầu chứ không được cao hơn(sẽ gây thiếu không khí cho rễ) Ưu điểm của hệ thống thuỷ canh tĩnh • Thiết lập và quản lý đơn giản • Không cần bơm hay điện • Hiệu quả sử dụng nước và dinh dưỡng rất cao • Chỉ cần cung cấp dinh dưỡng 1 lần là xong. 17 Nhược điểm của hệ thống thuỷ canh tĩnh • Không thích hợp cho cây trồng dài ngày. • Yêu cầu nước chất lượng cao vì dùng càng lâu, nồng độ muối càng cao • Hồ nước tĩnh có thể tạo môi trường cho muỗi sinh sôi nảy nở. Thuỷ canh động Trong hệ thống thuỷ canh động, cây được trồng trên một máng nghiêng, rễ ngâm ngập trong dòng chảy của dinh dưỡng. Hệ thống này thường được gọi là Kỹ thuật màng dinh dưỡng (nutrient film technique (NFT). Dinh dưỡng sau khi chảy qua máng được thu gom về bể và bơm ngược trở lại đầu máng để liên tục chu kỳ. Máng cần có bề rộng đủ để bộ rễ phát triển và lắp đặt tao một tốc độ chảy ổn định. Cần tránh việc đọng thành vũng nước trên đường chảy của dòng dung dịch. Để đảm bảo sự thoáng khí, độ dài của mỗi màng không nên quá 30m với độ dốc phù hợp. Khi máng dài cần phải tạo các bậc để đảm bảo đủ dốc. Hình 3. Thuỷ canh động Bán thuỷ canh (thuỷ canh có giá thể) Trong hệ thống này, cây được trồng trên giá thể chứa trong những vật dụng thích hợp (Hình 4.) Giá thể để trồng hoàn toàn không có dinh dưỡng. Giá thể phải có khả năng giữ nước, giữ ẩm và có độ thoáng khí cần thiết nhưng không sũng nước. Hiện nay có một số loại giá thể phổ biến như bọt núi lửa, than bùn, mụn xơ dừa, len đá, mùn cưa. Các loại gía thể này có thể dùng độc lập hoặc phối hợp 2-3 loại với nhau. Cây trồng được cung cấp nước và dinh dưỡng (gọi là dung dịch dinh dưỡng) nhờ một hệ thống tưới nhỏ giọt. Lượng dung dịch dinh dưỡng cần tưới dư 10-20% (chảy ra khỏi chậu trồng cây). Việc này là cần thiết để tránh lắng đọng muối trong giá thể và tồn đọng dung dịch quanh vùng rễ cây. Có thể thu gom phần dung dịch dư để xử lý và tái sử dụng. Việc này có thể làm thủ công (hứng, đổ trở về thùng cấp dinh dưỡng bằng xô) hoặc dùng bơm để bơm trở về thùng cấp dinh dưỡng. Nếu hệ thống thuỷ canh này không thu hồi, sử dụng lại thì gọi là hệ thống thuỷ canh hở. 18 Figure 4. Bán thuỷ canh (thuỷ canh dùng giá thể) Bán thuỷ canh ở Việt Nam Việt Nam có nguồn vật liệu địa phương làm giá thể tốt như mụn xơ dừa, than bùn, bã mía, vỏ lạc, tro trấu và bọt núi lửa. Bán thuỷ canh ở Việt Nam đã thành công trong việc sử dụng phối hợp các nguồn vật liệu nói trên. Tuy nhiên, cần phải biềt rằng các nguyên liệu khác nhau có những đặc điểm khác nhau. Ví dụ, sau một khoảng thời gian, than bùn khó … hơn là mụn xơ dừa và các vật liệu khác. Than bùn Việt Nam có khả năng cố định lân rất mạnh. Các đặc điểm nói trên không gây trở ngại trong việc sử dụng làm giá thể. Ưu điểm của mô hình bán thuỷ canh • Phù hợp cho cây trồng dài ngày • Nếu dùng hệ thống bán thuỷ canh hở thì nguồn nước chất lượng không cao hoặc dung dịch dinh dưỡng hay thay đổi vẫn dùng được. Nhược điểm mô hình bán thuỷ canh • Chi phí xây dựng cao và thường xuyên phải có điện • Hiệu quả sử dụng nước và dinh dưỡng có thể không cao trong hệ thống thuỷ canh hở vì dinh dưỡng dư thừa không được tái sử dụng. • Người sản xuất cần có một trình độ, kiến thức nhất định về kỹ thuật. QUẢN LÝ DINH DƯỠNG TRONG HỆ THỐNG THUỶ CANH Một điều rất quan trọng là những người áp dụng kỹ thuật thuỷ canh cần phải có những hiểu biết tối thiểu về nhu cầu dinh dưỡng của cây trồng và hoá chất để có thể pha dung dịch và quản lý dung dịch dinh dưỡng này. Cây trồng yêu cầu một số lượng lớn các nguyên tố dinh dưỡng bao gồm các nguyên tố đa lượng như : Ni tơ (N), Kaly (K), Canxi (Ca), Manhe (Mg), Phot pho (P) và Lưu huỳnh (P) và các nguyên tố vi lượng như Clo (Cl), sắt (Fe), Bo (B), Mangan (Mn), Kẽm (Zn), Đồng (Cu), Niken (Ni), và Molipden (Mo). Chuẩn bị dung dịch dinh dưỡng Đối với người mới bắt đầu làm quen với thuỷ canh, tốt nhất là mua phân thuỷ canh đã trộn sẵn. Nếu không, có thể tự trộn lấy từ các loại hoá chất riêng biệt. Việc pha dinh dưỡng có thể bằng 2 cách, pha thành dung dịch (loãng) cây có thể dùng ngay hay pha dung dịch gốc (đậm đặc) thành 2 thùng riêngbiệt rồi pha loãng sau. Nếu mua phân trộn sẵn, cần chú ý hàm lượng 2 nguyên tố canxi và ma nhê. Rick Donnan khuyến cáo: hàm lượng canxi cao nhất là bằng 30% đạm, ma nhê thì bằng 20-30% lượng 19 can xi. Ông cũng khuyên rằng không nên sử dụng ure hoặc loại hoá chất có chứa quá 10% đạm amon. Phổ biến nhất đối với những người trồng rau thương phẩm bằng thuỷ canh là chuẩn bị dung dịch gốc và dự trữ để pha loãng dùng dần. Trong trường hợp này cần có 2 thùng để pha riêng tránh hiện tượng kết tủa của một số loại muối (Photphat canxi, sulphat canxi hay photphat sắt). Dung dịch gốc này thường đặc gấp 100 đến 200 lần dung dịch dùng cho cây. Dung dịch gốc này cần được cất giữ ở nơi mát 27-30oC để tránh hỏng. Hầu hết các công thức trồng cây đều tương tự nhau. Ví dụ công thức dùng cho xà lách cũng có thể dùng cho cà chua (Bảng 1) Báng 1. Công thức dùng cho xà lách ‘Huett’ . Pha 3,4 lít dung dịch A và 3,4 lit dung dịch B với 1000 lít nước Để dùng cho cây. Dung dịch Thành phần Hàm lượng (%) Dung dịch gốc (g /L) #pH>6.0 pH<6.0 A Calcium nitrate Ca(NO3)2 – H2O 18.8 Ca 15.5 N 109 109 *Iron chelate (Fe EDTA) 13.2 Fe 5.6 5.6 B +(MAP) ammonium phosphate (NH4H2PO4) 12.2 N 26.9 P 8.7 không Potassium dihydrogen phosphate (KH2 PO4) 28.7 K 22.8 P 16.3 29.0 Potassium nitrate (KNO3) 38 K 13 N 133.3 133.3 Magnesium sulphate (MgSO4) 9.8 Mg 13 S 58.1 58.1 Boric acid (H3BO3) 17.7 B 0.35 0.35 Zinc sulphate (ZnSO4.7H2O) 22.7 Zn 0.2 0.2 Manganous sulphate (MnSO4.H2O) 32.9 Mn 0.2 0.2 Copper sulphate (CuSO4.5H2O) 25.6 Cu 0.035 0.035 Sodium molybdate (Na2MoO4.2H2O) 39.7 Mo 0.01 0.01 20 Quản lý dung dịch dinh dưỡng và chế độ tưới Trong hệ thống thuỷ canh tĩnh, việc quản lý dinh dưỡng rất đơn giản. Khi dung dịch đã được chuẩn bị, tuỳ theo kích thước của bể trồng và loại cây trồng mà cung cấp đủ cho đến cuối vụ. Trong hệ thống thuỷ canh động, hoặc bán thuỷ canh, việc quản lý dinh dưỡng có phần phức tạp hơn, nhất là trường hợp dung dịch được tái sử dụng (hệ thống thuỷ canh kín). Nếu người SX tạo được sự ổn dịnh xung quanh vùng rễ cây trồng sẽ phát triển tốt. Hiện có một số cách đơn giản có thể dùng để hỗ trợ cho việc quản lý nước và dinh dưỡng xung quanh bộ rễ cây trồng. Đó là việc quản lý lượng dung dịch cấp dư trong hệ thống bán thuỷ canh, đo pH, EC và hàm lượng dinh dưỡng. Trong hệ thống NFT, người SX có thể điều chỉnh dung dịch tái sử dụng. Trong hệ thống bán thuỷ canh, lượng nước cấp dư cần được thu trong 24 tiếng đồng hồ để theo đó mà điều chỉnh. Nếu việc theo dõi được tiến hành đều đặn mỗi ngày thì sau một khoảng thời gian cần xem xét đối chiếu với kết quả sinh trưởng, phát triển của cây trồng để có quyết định phù hợp trong quản lý. Tỷ lệ nước dinh dưỡng cấp dư Tỷ lệ nước dinh dưỡng cấp dư là thông tin hữu ích cho phép biết được lượng nước dinh dưỡng cây thực dùng. Người sản xuất cần biết lượng nước họ đã cung cấp cho mỗi cây (lượng nước vào) và lượng nước ra (nước cấp dư) để tính phần trăm nước cấp dư. Để biết lượng nước cấp dư, dùng 1 dụng cụ, hứng nướic dư từ 1 số cây (chia lượng nước cho số cây hứng lất số trung bình), sau đó tính theo công thức Phần trăm nước dư = lượng nước vào X 100 Lượng nước ra Lượng nước dư cần dưới 20%. Một hệ thống quản lý tốt, tỷ lệ nước cấp dư cần giảm thấp, hiệu quả nhất là ở mức dưới 5% Duy trì pH và EC pH của dung dịch nuôi cây nói chung thường ở mức 5,5-6,5. Nhu cầu pH có thể thay đổi loại cây trồng. Có thể dùng axit nitric để giảm pH, dùng KOH để tăng pH. Khi cây trồng hấp thu nước và dinh dưỡng, pH có thể thay đổi xung quanh vùng rễ. Theo dõi lượng nước dư trong vòng 24 giờ có thể biết được pH vùng rễ. pH nước dư nên ở mức 6,0-7,0. Nếu mức pH này thay đổi, cần điều chỉnh tỷ lệ đạm và đạm nitrat. EC của dung dịch có thể khác nhau tuỳ thuộc vào loại cây trồng, tuổi cây và điều kiện thời tiết. D Đơn vị đo phổ biết nhất thường dùng lá miliSiemen trên centimet (mS/cm). Chất lượng nước dùng cho thuỷ canh cần phải được kiểm tra trước tiên. Nước có thễ chưa các ion như là Na, Cl, Mg, CaCO3, những nguyên tố làm tăng EC. Các loại cây trồng khác nhau có khả năng chống chịu mức EC cao khác nhau. Ví dụ cà chua là chống chịu, dưa leo trong bình, ớt nhạy cảm mạnh với EC. Ở mức EC 4,5 mS/cm, cà chua có thể không ảnh hưởng đến sinh trưởng nhưng ớt có thể giảm 25% sự sinh trưởng. Xà lách cũng chỉ thích hợp trong phạm vi EC 0,5-2,5 mS/cm. Trong hệ thống thuỷ canh có giá thể, EC của dung dịch dư, chảy ra khỏi giá thể cho biết EC vùng rễ cây trồng. Khi c ây tr ồng đang th ời k ỳ đậu quả, trời nóng, gió, cây trồng sẽ hấp thu nhiều nước hơn dinh dưỡng, khi đó EC vùng rễ sẽ tăng cao. Trong trường hợp này, để tránh hại rễ cần giảm EC hoặc tăng lượng dung dịch cấp dư. Xử lý dung dịch dinh dưỡng cấp dư Dung dịch dinh dưỡng cấp dư có thể là vấn đề gây ô nhiễm môi trường nếu như không xử lý tốt. Hệ thống bán thuỷ canh không tái sử dụng phần dinh dưỡng cấp dư thải ra ít dung dịch thừa hơn các hê thống khác. Hệ thống có tái sử dụng dinh dưỡng thừa thì lâu lâu lại 21 phải thay dung dịch, do đó sẽ thải ra nhiều hơn. Phương pháp xử lý đơn giản và hiệu quả là dùng tưới cỏ dại (như cây cỏ tranh) hay chứa vào hồ, vũng sình và trồng rau ưa đầm lầy ở đó, ví dụ có thễ trồng rau muống Tài liệu tham khảo: Badgery-Parker, J. 2003. Managing waste water with a wetland, NSW Agriculture, Orange, Australia Casper Publications web site: Dirou, J., Headley, T., Huett, D., Stovold, G. and Davison, L. 2003. Constructing a reed bed to treat runoff water – a guide for nurseries NSW Agriculture, Orange, Australia. Huett, D. 1993. Managing nutrient solutions in hydroponics. NSW Agriculture, Orange. Kratky, B. A. 2004. A suspended pot, non-circulating hydroponic method. Acta Horticulturae 648, 83-89. Mason, J. 2005. Commercial Hydroponics. 2nd Ed. Kangaroo Press, Sydney Australia. Morgan, L. 2003. Hydroponic Lettuce Production, A comprehensive, Practical and Scientific Guide to Commercial Hydroponic Lettuce Production. Casper Publications, Sydney, Australia. 22 Phụ lục 2 CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC IV-TIN CẬP NHẬT HUẤN LUYỆN VÀ TỔ CHỨC LỚP HỌC ĐỒNG RUỘNG VÀ NÔNG DÂN LÀM NGHIÊN CỨU (hoạt động của Viện KHKTNNMN, 1-3/12/2006 Người báo cáo: TS Ngô quang Vinh Từ ngày 1 đến 3 tháng 12 năm 2006, khoá tập huấn với tiêu đề Huấn luyện, tổ chức lớp học đồng ruộng và Nông dân làm thí nghiệm” đã được tổ chức tại Trà Vinh. Lớp Huấn luyện đã tập hợp 45 người của Tổ SX rau an toàn (7 nữ). Bài giảng được trình bày bởi 1 TS, 1 Thạc sỹ và 2 nông dân giỏi. Các bài giảng đã tập trung vào các nội dung IPM, Bảo vệ thực vật và PAR. Khoá tập huấn diễn ra trong 2,5 ngày với 2 ngày trong phòng và một nửa ngày ngoài đồng để thực tập. Mục đích khoá huấn luyện: 1. Giới thiệu cho nông dân và cán bộ đị phương tầm quan trong củ việc Nông dân tự nghiên cứu, tìm hiểu và tự giải quyết những vướng mắc củ mình cũng như phương pháp mới giúp đỡ nông dân của các cơ quan nông nghiệp và cơ quan khoa học. 2. Khái niệm về Nghiên cứu có sự tham gia của Nông dân và phương pháp tổ chức, hoạt động nhóm Nghiên cứu của nông dân. 3. Hướng dẫn và tổ chức 3 nhóm PAR và hướng dẫn họ thực hiện 6 lớp học đồng ruộng và 1 thí nghiệm củ Nông dân với sự giúp đỡ của nông dân tiên tiến, cán bộ viện KHKTNNMN và TT Khuyến nông. 4. Thảo luận và lập kế hoạch để thực hiện FFS với các cây rau: cải ngọt, cải rổ, xà lách và cần tây cũng như thí nghiệm lự chọn lưới tạo bóng để trồng ngò rí và cần tây. 5. Nâng cao kiến thức cho nông dân tham gia nhóm Nông dân làm nghiên cứu bao gồm: ƒ Nguyên tắc IPM trên rau và áp dụng trong SX cải ngọt, cải rổ, xà lách và cần tây. ƒ Kiến thức căn bản về bệnh, những hiểu biết căn bản về hoá chất BVTV dùng để phòng trừ bệnh trong IPM trên rau. ƒ Kiến thức căn bản về sâu, những hiểu biết căn bản về hoá chất BVTV dùng để phòng trừ sâu trong IPM trên rau. ( học trong lớp và xác định sâu bệnh trên đồng ruộng) ƒ Nội dung và phương pháp học trên đồng ruộng (quan sát, thảo luận, ghi chép), phương pháp ghi chép. ƒ Nội dung và phương pháp học tập trong nhóm (vấn đề, thảo luận, gỉai pháp hay phương pháp giải quyết). 6. Hướng dẫn nông dân làm bẫy côn trùng và nuôi sâu thành bướm để nông dân trong nhóm nhận biết được bướm củ các loài sâu, qua đó áp dụng vào phòng tránh Kết quả của khoá huấn luyện ƒ Các học viên đều đã hiểu bài giảng và vui vẻ tham gia các nhóm Nông dân làm nghiên cứu. • 3 nhóm làm thí nghiệm đồng ruộng đã được thành lập với 2 người trợ giúp / nhóm (nông dân giỏi, CB Viện và CB khuyến nông). Mỗi nhóm tổ chức 2 thí nghiệm trong 2 vụ. 23 • 3 lớp học đồng ruộng và 2 thí nghiệm của ND sẽ được tổ chức vào tháng 12, 3 lớp học đồng ruộng khác sẽ tổ chức vào tháng 1 năm 2007. Các hoạt động tiếp theo Theo kê hoạch, ngày 10 và 11 tháng 12, 3 lớp học đồng ruộng sẽ tổ chức buổi họp đầu tiên với sự tham gia của CB Viện KHKTNNMN và TT Khuyến nông. Cuộc họp sẽ thảo luận và nông dân sẽ quyết định mọi việc về tổ chức và các vấn đề kỹ thuật ở mỗi nhóm, Sau khi họp các lớp học đồng ruộng và thí nghiệm sẽ bắt đầu. 24 Phụ lục 3. Tập huấn tại Đà Lạt và một trường hợp nông dân điển hình BÁO CÁO VỀ LỚP TẬP HUẤN TẠI ĐÀ LẠT 1. TÊN LỚP TẬP HUẤN Tập huấn về Đảm bảo chất lượng, Sau thu hoạch, Thực hành NN tốt và Bảo vệ thực vật” 2. Giới thiệu - NGÀY: 3-4 tháng 5, 2007 - ĐỊA ĐIỂM: TP Đà Lạt, tỉnh Lân Đồng, Vietnam - Ban tổ chức: + Phí Việt Nam: TS. Lê Thị Khánh, Trưởng Bộ môn nghiên cứu Rau TS. Trần Văn Minh, Hiệu trưởng Đại học Nông Lâm Huế (HUAF) TS. Nguyễn Văn Kết, Trưởng Khoa Nông học, Đại học Đà lạt ThS. Lê thị Như Bích, Phó Khoa Nông học, Đại học Đà lạt KS. Hồ Công Hưng, CB nghiên cứu Bộ môn nghiên cứu Rau KS. Hồ Công Hưng, CB nghiên cứu Bộ môn nghiên cứu Rau ThS. Nguyễn Đình Thi, Giảng viên khoa sinh lý thực vật, Đại học Nông Lâm Huế (HUAF) + Phía Úc: TS. Suzie Newman, Bộ môn Nghiên cứu Rau (sau thu hoạch) TS. Nguyen Quoc Vong, Bộ môn Nghiên cứu Rau (Nhà tạo giống) TS. Sophie Parks, Bộ môn Nghiên cứu Rau (Sinh lý thực vật) Ông Joseph Ekman, Khuyến nông viên (Hê thống đảm bảo chất lượng) - Học viên: + Nông dân giỏi từ các tỉnh miền Tring, Việt Nam + Các khuyến nôn viên từ 12 tỉnh miền Trung (Nghean, Hatinh, Quangbinh, Quangtri, Thua Thien Hue, Danang, Quangnam, Quang ngai, Binh dinh, Phu yen, Khanh hoa, Ninh thuan) + Lãnh đạo các Công ty như Công ty Organik, Công ty Đất sạch, Chi cục BVTV + Các cán bộ phụ trách nông nghiệp, các trang trại SX cây rau giống +Người bán hoặc cung cấp cây rau giống. + Đại diện các trường Đại học Nông Lâm Huế, Đại học Đà Lạt, Đại học Nông Lâm TPHCM. + Đại diện các huyện thuộc tỉnh Lâm Đồng, + Đại diện các Công ty tại TPHCM, Đà Lạt, Lâm Đồng, Đà Nẵng. + Báo cáo viên từ Viện Nghiên cứu Rau-Hoa Gosford, Viện Nghiên cứu Rau Hà Nội, Viện KHKTNNMN, Đại học Nông Lâm Huế. 3. Mục tiêu: Cung cấp những kiến thực căn bản về đảm bảo chất lượng, sau thu hoạch, thực hành SX NN tốt, mô hình canh tác trong nhà màng. Trao đổi và chia sẻ kinh nghiệm và thông tin giữa các học viên để phát triển rau an toàn tại miền Trung VN. 4. Chương trình 4.1. Báo cáo - Lý thuyết : + Sản xuất trong nhà màng. 25 + Thực hành NN tốt (GAP), Quản lý chất lượng sau thu hoạch- từ nông trại đến chợ. + Sản xuất rau và áp dụng công nghệ cao trong SX rau ở VN, Phát triển Rau-Hoa công nghệ cao tại Đà Lạt, Lâm Đồng. + Kỹ thuật chế biến rau của các Công ty rau quả. + Định hướng những kỹ thuật mới cho Nông dân. + Trao đổi và chia sẻ kinh nghiệm và thông tin giữa các học viên 4.2. Thăm đồng Sẽ thăm vườn rau thuỷ canh tại Đại học Đà Lạt, nhà chế biến rau tại Công ty Organik, thăm Các trại rau, nhà lưới và trồng rau trong nhà lưới tại Đà Lạt. 4.3. Trao đổi và chia sẻ kinh nghiệm tại phòng họp có sử dụng tranh, ảnh. 5. KẾT QUẢ Lớp tập huấn bắt đầu ngày 3//5/2007, do TS Lê Thị Khánh, trưởng BM Kỹ thuật làm vườn, TS Trần văn Minh, Hiệu trưởng Trường Đại học NL Huế chũ trì, với sự có mặt của 68 người gồm các ND tiên tiến, cán bộ khuyến nông, Chi cục BVTV các tỉnh miền Trung VN. Lãnh đạo các Công ty như Công ty Organik, Công ty Đất sạch, Chi cục BVTV, các cán bộ NN tại Đà lạt. Trong 2 ngày (3 và 4/5/2007), đã có 9 chủ đề được trình bày bởi các báo cáo viên là TS từ ĐHNL Huế, Viện RQHN và Viện KHKTNNMN, Tồng số học viên 68 người, có 16 nữ (23,5%), nam 52 người (76,5%) Ngày 3/5, nội dung các báo cáo như sau: - Buổi sáng: + giới thiệu Dự án CARD 004/04 VIE + Những thách thức của nghề trồng rau Việt Nam trong kỷ nguyên mới của WTO + Sản xuất trong nhà màng. + NN CN cao và hướng tiếp cận + Áp dụng CN cao và hướng CN cao trong SX rau Hoa tại Đà Lạt, Lâm Đồng + Thảo luận giữa các học viện về chủ đề này - Buổi chiều: + SX rau và áp dụng CN cao trong SX rau tại VN + Quản lý chất lượng sau thu hoạch- từ nông tại đến chợ. + Thực hành NN tốt (GAP) + SX và cung ứng rau an toàn tại các tỉnh miền Trung VN + Thảo luận giữa các học viện về chủ đề này Ngày 4/5, nội dung như sau: Thăm đồng: + Thăm SX rau trong nhà lưới, + SX rau hữu cơ + Kỹ thuật sau thu hoạch + Kỹ thuật bảo quản + Kỹ thuật chế biến + Thảo luận giữa các học viện về chủ đề này * Thảo luận và đánh giá khóa học Tổng số hộc viên tham dự trong khóa tập huấn là 68 người là những nông dân điển hình, cán bộ khuyến nông, chi cục BVTV, sở nông nghiệp, công ty, người bán hạt giống, người sản xuất cây giống. 26 Mỗi học viên được cấp một bộ tài liệu sau khóa học các học viên được phát một bản đánh giá mức độ thành công của dự án. Dựa trên những họat động của khóa học, đặc biệt từ việc đánh giá khóa học của các học viên đã nói lên thành công của lớp tập huấn. 6. PHẢN HỒI TỨ CÁC HỌC VIÊN Đánh giá ý kiến từ các học viên (người tham gia lớp học) 68 phiếu đánh giá đã được thực hiện bởi các học viên. Bảng 1. Kết quả phản hồi từ lớp tập huấn. 3-4 /5, 2007 tại Đà lạt (ĐVT: %) STT và chủ đề Mức độ % Rõ ràng 100 1. Mục tiêu lớp tập huấn Không rõ ràng 0 Rất tốt 100 Tốt 0 2. mục tiêu các vấn đề tập huấn Khá 0 Rất tốt 100 Tốt 0 Khá 0 3. Phương pháp truyền đạt, người truyền đạt và cách trình bày(cho nông dân và cán bộ khuyến nông) Tạm được 0 Rất tốt và có ích 100 tốt và có ích 0 4. nội dung khóa tập huấn Buồn tẻ và không có ích 0 Rất tốt 18.8 Tốt 8.1 5. tinh thần học tập của học viên Khá 73.1 Tốt 100 Khá 0 6. tài liệu, thông tin phục vụ lớp tập huấn kém 0 Rất tốt và đầy đủ 0 Tốt và đủ 100 Được 0 7. thiết bị phục vụ lớp tập huấn Nghèo nàn và thiếu 0 Vừa đủ 6.3 Quá dài 0 8. Cả quá trình tập huấn Quá ngắn 93.7 - nơi ở 0 Tốt 0 Khá 0 Không tốt 0 - Tập huấn làm cho bạn biết được 37.5 9. Khác Rất nhiều 62.5 Không nhiều lắm 0 Dựa trên họat động của lớp tập huấn và đặc biệt là sự đánh giá phản hồi từ các học viên đã nói lên được sự thành công của lớp tập huấn, và mục tiêu đề ra đã đạt được. Khuyến cáo 27 100% học viên đã đề nghị nên tổ chức nhiều lớp tập huấn liên quan về vấn đề thị trường va công nghệ sau thu hoạch cho việc phát triển rau tại Đà Lạt. Những nông dân tiêu biểu nghĩ rằng người nông dân chưa tạo ra mạng lưới họat động từ khâu sản xuất tới khâu sau thu họach, khâu thị trường và khâu tiêu thụ. Bởi vì người nông dân còn rất nghèo, đầu tư quá thấp, công nghệ lạc hậu, phương tiện thông tin.. 100% học viên cám ơn HUAF đã giúp họ trong việc tiêu thụ sản phẩm đến những thị trường. 100% học viên nghĩ rằng họ có thể sản xuất rau an toàn nếu nhận được sự trợ giúp từ phía chính phủ. S 7. PHỤ LỤC 7.1. CHƯƠNG TRÌNH TẬP HUẤN (Ngày 2- 4/5/2007) Thời gian Nội dung Người chịu trách nhiệm Ngày 2/5/2007 Buổi chiều Đón tiếp đại biểu, nhận phồng ở và ăn tối ở khách sạn Hồng Vân Ban tổ chức Ngày 3/5/2007 7h30 -8h00 Đón tiếp và nhận tài liệu Ban tổ chức 8h00-8h10 Đọc lời khai mạc GS.TS. Trần Văn Minh (HUAF) 8h10-8h25 Giới thiệu dự án CARD 004/04VIE Dr.Lê Thị Khánh 8h25-9h25 Những khó khăn trong sản xuất rau của Việt Nam khi gia nhập WTO Dr.Nguyễn Quốc Vọng 9h25 -9h40 Nghỉ giữa giờ, chụp ảnh lưu niệm Tất cả đại biểu 9h40- 10h40 Sản xuất rau trong nhà lưới Dr. Sophie Parks 10h40-11h20 Nông nghiệp công nghệ cao, hướng tiếp cận Dr. Ngo QuangVinh 11h20-12h00 Áp dụng công nghệ cao và hướng công nghệ cao trong sản xuất rau hoa tại Đà Lạt – Lâm Đồng Dr.Nguyen Van Ket (Đại học Đà Lạt) 12h00-13h00 Ăn trưa tại Khách sạn Hồng Vân Tất cả đại biểu 13h00 -14h00 Sản xuất rau và ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất rau tại Việt Nam PGS.TS. Trần Khắc Thi (RIFAV) 14h00-15h00 Quản lý chất lượng sản phẩm sau thu hoạch – từ cánh đồng đến chợ Dr.Suzie Newman 15h00-15h15 Nghỉ giữa giờ Tất cả đại biểu 15h15- 16h45 Thực hành nông nghiệp tốt (GAP) KS.Joseph Eman 16h45- 17h15 Sản xuất và lưu thông rau ở Thừa Thiên Huế Dr. Lê Thị Khánh 17h15-17h45 Thảo luận Tất cả đại biểu 18h30 -21h00 Ăn tối tại khách sạn Hồng Vân Tất cả đại biểu Ngày 4/5/2007 7h30-11h00 Thăm khu sản xuất rau hoa công nghệ cao tại Đại Học Đà Lạt, chợ rau hoa, trang trại sản xuất. Tất cả đại biểu 11h00-11h30 Bế mạc hội nghị GS.TS. Trần Văn Minh 28 (HUAF) 13h30-17h30 Nhóm chuyên gia Úc và Đại học Huế thăm trang trại sản xuất rau ở Dức Trọng (mô hình của Dr. Vinh) Ban tổ chức 7. 2. DANH SÁCH ĐẠI BIỂU 7.2.1. DANH SÁCH ĐẠI BIỂU VÀ NHỮNG NGƯỜI CÓ BÀI TRÌNH BÀY STT Họ và tên Địa chỉ 1 GS.TS. Trần Văn Minh HUAF 2 Dr.Nguyễn Quốc Vọng Viện Rau Gosford 3 Dr.Suzie Newman Viện Rau Gosford 4 Dr. Sophie Parks Viện Rau Gosford 5 KS.Joseph Eman Viện Rau Gosford 6 Dr. Trần Khắc Thi RIFAV 7 Dr.Nguyễn Văn Kết Đại học Đà Lạt 8 Dr. Ngô Quang Vinh IAS 9 Dr. Lê Thị Khánh HUAF 10 Gregory Faupvet Metro, Đà Nẵng 11 Phạm S Sở Nông nghiệp và PTNT Lâm Đồng 12 Dr. Trần Quốc Hùng Công ty Việt Lâm – Đà Lạt 13 Dr.Lê Văn Hưởng Trung Tâm Núi Bà , Đà lạt 14 Dr. Phạm Xuân Tùng Trung tâm Rau hoa Khoai tây – Đà Lạt 15 Dr. Nguyễn Bá Hùng Công ty Organik , Đalat 16 Dr. Paul Olivier Công ty Rau, Dalat 17 Dr. Park Young Bae Công ty công nghệ cao Hà Quốc (Tại Dalat) 18 Dr. Kim Jin Kook Công ty sản xuất nông nghiệp, Dalat 19 Đinh Công Mười Công ty xuất nhập khẩu rau ASIA – Lâm Đồng 20 Trường Tộ Sở Khoa học và Công nghệ Lâm Đồng 7.2.2. DANH SÁCH HỌC VIÊN THAM DỰ STT Họ và tên Địa chỉ 1 HoÀng Kim Đại học Thủ Đức, TP HCM 2 Nguyễn Thị Hoa Đại học Đà Lạt 3 Hồ Công Hùng Đại học Huế 4 Nguyễn Hữu Đức Đại học Đà Lạt 5 Lê Bá Dũng Đại học Đà Lạt 6 Hoàng Viết Hậu Đại học Đà Lạt 7 Hồ Thị Tươi Đại học Đà Lạt 8 Ngô Minh Dũng Huyện Đức Trọng – Lâm Đồng 9 Nguyễn Phong Nông dân - Huyện Đức Trọng – Lâm Đồng 10 Nguyễn Thị An Cán bộ khuyến Nông – TP Vinh – Nghệ An 11 Hồ Thị Quý Cán bộ khuyến Nông Huyện Đức Trọng – Lâm Đồng 12 Phan Văn Thắng Cán bộ khuyến Nông – TP Vinh – Nghệ An. 13 Ngô Quang Vượng Nông dân – TP Vinh – Nghệ An 14 Võ Trọng Hòe Nông dân Anh Sơn – Nghệ An 15 Nguyễn Văn Niên Nông dân huyện Nghi Lộc – Nghệ an 29 16 Nguyễn Trung An Khuyến nông viên – Diễn Châu – Nghệ an 17 Nguyễn Hữu Ngọc CB Khuyến Nông Hà Tĩnh 18 Lâm Xuân Thái Extensionist, Ha Tinh Province 19 Thái Thị Lâm Extensionist,Vu Quang, Ha Tinh 20 Nguyễn Văn Minh Nông dân ở Nghi Xuân – Hà Tĩnh 21 Hoàng Văn Trường Khuyến Nông Quảng Bình 22 Lê Ngọc Duân Chi cục BVTV Quảng Trạch – Quảng Bình 23 Hoàng Văn Nam Khuyến Nông – Đông Hội - Quảng Bình 24 Nguyễn Bảy Khuyến nông tỉnh Quảng Trị 25 Phạm Văn Tường Nông dân Đồng Thanh – Quảng Trị 26 Nguyễn Văn Hòa Nông dân – Triệu Phong – Quảng Trị 27 Nguyễn Thị Diêm Nông dân Đông Hà – Quảng Trị 28 Ng. Thị Thảo Nguyên Khuyến nông Thừa Thiên Huế 29 Nguyễn Văn Tý Nông dân Quảng Thành – Thừa Thiên Huế 30 Nguyễn Văn Dũng Nông dân – Hòa Vang – Quảng Nam 31 Phạm Mỹ Linh RIFAV 32 Huỳnh Ngọc Lãnh Công ty giống Đà Nẵng 33 Phạm Văn Vinh Nông dân Đại Lộc Quảng Nam 34 Đặng Thiên Khuyến nông Hội An – Quảng Nam 35 Võ Nam Giang Khuyến Nông Quảng Nam 36 Nguyễn Đình Vượng Nông dân Quảng Nam 37 Nguyễn Mẫn Nông dân Nghĩa Thành – Quảng Ngãi 38 Nguyễn Văn Hai Nông dân Nghĩa Thành – Quảng Ngãi 39 Võ Thị Văn Khuyến Nông Nghĩa Dũng Quảng Ngãi 40 Trần Thị Thu Ngân Khuyến Nông Quảng Ngãi 41 Nguyễn Đình Lãm Nông dân Quảng Ngãi 42 Lê Văn Phụng Nông dân Bình Tây – Quảng Ngãi 43 Trần Văn Tùng Nông dân Quy NHơn – Bình Định 44 Hồ Văn Hợi Khuyến Nông Phú Yên 45 Phạm Tân Hảo Nông dân sông cầu – Phú Yên 46 Nguyễn Sửa Khuyến Nông Phan Rang – Bình Thuận 47 Nguyễn Văn Mạnh Khuyến Nông Ninh Thuận 48 Trần Thị Trang Khuyến Nông Nha – Khánh Hòa 49 Thái Thị Thu Hoài Nông dân Khánh Hòa 50 Bùi Thị Bích Vân Truyền hình Đà Lạt 51 Trần Quốc Toàn Báo Nông nghiệp Thừa Thiên Huế 52 Trần Ngọc Nghi Nông dân Đà lạt 53 Đỗ Thanh Hùng Chủ tịch phương Xuân Hương – Đà lạt 54 Phạm Công Định Chủ tịch phường 6 – Đà lạt 55 Trần Văn Liên Hiệp hội nông dân Đà lạt 56 Lưu Minh Tuấn Hiệp hội nông dân Lâm Đồng 57 Trần Đức Quang Phường Phước Thành – Đà Lạt 58 Võ Thanh Liêm Công ty đất sạch- Bến Tre 59 Võ Thị Minh Nguyệt Công ty đất sạch – TP HCM 60 Trần Nguyễn Hùng Công ty đất sạch – TP HCM 61 Trần Văn Hào Công ty Organik – Đà lạt 62 Nguyễn Thị Hoài Thương Công ty Organik – Đà lạt 63 Hoàng Thị Thúy Trang trại Phong Thúy – Đà Lạt 30 64 Ngô Văn Chính Trang trại Phong Thúy – Đà Lạt 65 Nguyễn Văn Hương Trang trại Phong Thúy – Đà Lạt 66 Nguyễn Văn Đào Công ty Trang Nông 67 Nguyễn Văn Chương Công ty Xuân Mai - TPHCM 68 Vũ Tuấn Minh HUAF 31 CÂU CHUYỆN VỀ N.H.PHONG, Đà THAM GIA KHÓA HỌC TẠI ÚC VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA IAS VÀ CHÍNH PHỦ ÚC. Anh N.H.Phong, 45 tuổi, sinh sống tại Liên Nghĩa, Đức Trọng, Lâm Đồng, là một trong 4 người tham gia khóa học tham quan tại Úc từ 10-11/2006, 3 nghiên cứu viên từ IAS, FAVRI, và HUFA được sự tài trợ của chính phủ Úc, chương trình CARD. Anh Phong là một nông dân, tham gia khóa học tham quan bằng kinh phí tự túc. Tuy vậy sau chuyến tham quan, anh Phong đã thay đổi quan điểm về sản xuất và thị trường cũng như định hướng trong việc sản xuất rau bền vững. 1. Thay đổi nhận thức và hành động. Từ lâu Anh Phong cũng giống như những nông dân trồng rau ở Việt Nam, chỉ trồng rau và bán rau cho thương lái. Họ không quan tâm đến những vấn đề theo sau đó. Vì thế, giá cả về sản phẩm và lợi nhuận của họ thuộc về thương lái. Đối với người tiêu thụ, họ cũng không có trách nhiệm về chất lượng sản phẩm từ những người trồng. Từ chuyến tham quan việc sản xuất và tiêu thụ rau tại Úc, Anh đã nhận thức rằng những người sản xuất rau phải tham gia vào chuỗi cung cấp và tiêu thụ-sản xuất. Đặc biệt, những người sản xuất phải gánh trách nhiệm sản phẩm rau trên ruộng sản xuất. Trong trường hợp thế này người trồng sẽ đạt được lợi nhuận cao hơn thông qua việc bán sản phẩm có “ Uy Tín và Trách Nhiệm”. Thông qua việc nhận thức này, Anh Phong quyết định tổ chức sản xuất kết nối với thị trường, hơn thế nữa, Anh đã chỉ cho những nông dân khác về việc trồng và cung cấp rau tốt và việc bán sản phẩm trực tiếp đến các siêu thị với nhãn hiệu của chính tên anh. Tất cả các sản phẩm đều được đóng gói trong điều kiện tốt và phù hợp mà Anh và những nông dân khác chưa từng làm bao giờ. Để làm được điều này, Anh Phong đã xây dựng nhà kho dùng cho việc sau thu họach với diện tích 100 m2. Cà chua, bắp cải, cải thảo, xà lách, khoai lang, khoai tây đều được để trong nhà kho, sản phẩm được làm sạch và đóng gói. Khỏang 10 công nhân làm việc tại đây. Năm 2007, 2008 Anh Phong đã cung cấp cho Sài Gòn Coop 60-100 tấn/tháng. 2. Thay đổi trong kỹ thuật và định hướng sản xuất rau. Nhu cầu của xã hội và của con người đang thay đổi hướng đến những sản phẩm nông nghiệp an tòan hơn và tốt hơn. Khách hàng sẽ trả tiền cao hơn và quan tâm nhiều hơn về chất lượng của rau. Nước Úc và những nước phát triển khác là một bức tranh của Việt Nam trong tương lai. Chúng ta có tất cả những khả năng để làm như họ làm. Anh Phong đã suy nghĩ và đã quyết định đi đầu trong cuộc chạy đua này đối với những sản phẩm có giá trị cao trong lúc người khác không có ý kiến về điều này. Anh Phong đã đi theo những tiến trình nghiên cứu cua IAS một cách thiết thực trong dự án đã được tài trợ của Úc và dự án được tài trợ của Tỉnh Lâm Đồng. Trong những dự án này, IAS đã tạo ra những mô hình trồng rau trong nhà màng kết hợp với những tiến bộ kỹ thuật khác. Trong mô hình, chúng tôi đã đạt được 15kg/m2 cà chua. Ứng dụng mô hình của chúng tôi, anh Phong đã đạt được hơn 20kg/m2 cà chua thông việc sử dụng giống tốt hơn. Đến nay anh đã trồng xong 2 vụ và đang thu hoạch vụ thứ 3 với năng suất khoảng 35-40 kg/m2 tùy thuộc vào loại giống. Cà chua này là rau an toàn và bán trực tiếp tới siêu thị với tên Trang Trại Hồng Phong. Theo hướng phát triển, anh Phong nói rằng anh sẽ thành lập và phát triển trang trại theo hướng công nghệ cao diện tích 50 ha, trong đó 10 ha rau với 5 ha nhà màng và 10 ha nhà lưới. Công trình này đang được bắt đàu với 0.1 ha nhà màng và 1 ha nhà lưới và một nhà kho dùng cho khâu sau thu hoạch 200 m2. Kế họach 2008-2010, 3 ha nhà màng và 10 ha nhà lưới sẽ được xây dựng cùng với 14 ha cho sản xuất rau an toàn. 32 Để sản xuất và bán rau, anh Phong đã tổ chức 1 nhóm gồm 7 nông dân bao gồm những người bà con họ hàng và bạn bè thân thiết. Họ đã ký hợp đồng với Sài Gòn Coop-Mart và Metro Cash và Carry để cung cấp sản phẩm. 3. Theo hướng Thực Hành Sản Xuất Nông Nghiệp Tốt. Anh Phong đã thay đổi rất nhiều trong quá trình quản lý cây trồng theo hướng GAP. Hầu hết sự những thay đổi trong quản lý cây trồng đó là quan tâm môi trường làm việc và công nhân. Anh cũng đã đạt được những ghi nhận trang trại tốt hơn. Tham quan trang trại của Anh, chúng ta sẽ thấy từ trang trại đến văn phòng làm việc đều sạch sẽ. Tất cả những phế thải đều được thu gom ca xử lý. Trở về từ chuyến tham quan tại Úc, anh Phong đã đầu tư để xây dựng lại 200 m2 dùng cho văn phòng, xây mới 400 m2 cho việc ghép cà chua. Điều lý thú nhất là anh Phong, người đầu tiên của Tỉnh Lâm Đồng có 2 máy gieo hạt tự động được nhập về từ Úc. Đối với công nhân, anh Phong quyết định chuyên môn hóa theo nhóm để quản lý tốt hơn, trả lương cao hơn và những ưu đãi khác. Có thể nói tại Tỉnh Lâm Đồng, không có người nào có điều kiện làm việc cho công nhân tốt hơn như trang trại của Anh Phong. Phong is in plastic house of more than 30kg of tomato/m2 A corner of safe vegetable farm of Phong’s group 33 Báo cáo từ vấn đề 5. Nghiên Cứu trường hợp I, anh Phong, nhà sản xuất giống cây con và nhà trang trại rau, Tỉnh Lâm Đồng. Xuyên suốt khóa học của dự án, anh Phong được cải thiện trong việc sản xuất cây con và việc điều hành trang trại tại Đức Trọng, Lâm Đồng. Những tiến bộ này có thể một phần đóng góp từ chuyến tập huấn kỹ thuật mà anh nhận được trong dự án này. Huấn luyện bao gồm - Tham quan học tập tại Úc từ 2-29/06/2006 - Nhóm dự án Úc đã cung cấp những lời khuyên trong quá trình tham quan trang trại của anh Phong 2/2006, 5/2006, 10/2006 và 5/2007. - Trợ huấn máy gieo hạt - Trợ huấn kỹ thuật về trồng rau bởi Tiến Sĩ N.Q.Vinh, IAS Ứng dụng kỹ thuật và việc cải thiện trong canh tác hiện nay bao gồm: - Ủy thác 2 máy gieo hạt tự động để anh Phong có thể gia tăng số lượng cây con. - Cải thiện điều kiện làm việc đối với công nhân để thực hiện việc ghép cây con. Khi chúng tôi tham quan vào 2/2006, những công nhân đã đảm nhận việc ghép ngoài nhà lưới nhưng bây giờ công nhân làm việc trong nhà mái che. Điều này không chỉ thuận tiện cho công nhân mà còn hiệu quả hơn trong việc điều hành sản xuất cây con. - Theo sau của tiến trình học hỏi tại Úc, anh Phong đã nhanh chóng thích nghi việc trồng rau trong thủy canh và hệ thống sàn xuất rau thủy canh sao cho thích hợp với điều kiện của Việt Nam. Anh cũng thay đổi việc quản lý cây trồng dựa trên kinh nghiệm học hỏi mà đã được nhìn thấy tại Úc. Anh Phong hăng say với những thí nghiệm giống mới và hiện nay thực hiện những thí nghiệm đồng ruộng và những thí nghiệm giống trong nhà kính, Anh Phong có thể được xem như một nhà nông Tiên Phong, và điều hành sản xuất giống cây con cho những nông dân trong khu vực, điều này giường như được hiểu bởi những nông dân khác đánh giá rất cao cho vị trí của Anh như là một nhà sản xuất giống cây con mà có vai trò tác động trong sản xuất cà chua trong khu vực, phương tiện và thích ứng những phương pháp, kỹ thuật mới. Phong is intoducing his postharvest process to CARD-PMU, Mr. Kieth and Ms. Juan A corner of a modern house for grafting tomatoes in Phong’s farm 34 Những nông dân kết gắn trong những chuyến tham quan học hỏi chắc chắn là hướng thành công trong việc khuyến khích nhanh chóng những kỹ thuật mới và chúng tôi chắc chắn sẽ khuyến cáo điều này. Photo 3. Installing the mechanical precision air seeder – February 2006 Photo 4. Mechanical precision air seeders improving production efficiency – April 2007 Photo 5. Grafting operation carried out in greenhouse – February 2006 Photo 6. New grafting set-up in specially constructed shed with improved efficiency – April 2007 Photo 7. Mr Phong implementing new practices in his greenhouse. A variety trial in his greenhouse April 2007 Photo 8. Tomato variety trial on Mr Phong’s property – April 2007 35 Photo 9. Experimenting with new techniques Mr Phong’s greenhouse April 2007

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfnong_nghiep_107__7824.pdf
Luận văn liên quan