Biện pháp xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên

ĐỀTÀI :Biện pháp xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên MỤC LỤC Trang Lời nói đầu 1 Chương 1: Đặc điểm tâm, sinh lí lứa tuổi và tác động của những đặc điểm đó đến việc quy định các biện pháp xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên 2 1.1. Khái niệm và đặc điểm người chưa thành niên 2 1.1.1. Khái niệm 2 1.1.2. Đặc điểm 5 1.2. Ảnh hưởng của những đặc điểm của người chưa thành niên đối với việc quy định các biện pháp xử lý vi phạm hành chính 8 Chương 2: Thực trạng pháp luật về các biện pháp xử lý hành chính đối với người chưa thành niên 13 2.1. Quá trình hình thành các quy định pháp luật về biện pháp xử lý hành chính đối với người chưa thành niên 13 2.2. Các biện pháp xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên theo pháp luật hiện hành 17 2.2.1. Các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính 18 2.2.2. Các biện pháp xử lý hành chính khác 21 2.2.3. Các biện pháp khắc phục hậu quả, ngăn chặn vi phạm hành chính và bảo đảm việc xử lý vi phạm hành chính 28 Chương 3: Thực tiễn áp dụng, phương hướng, giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về biện pháp xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên 31 3.1. Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về biện pháp xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên 31 3.1.1. Các biện pháp xử phạt hành chính 31 3.1.2. Biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn 33 3.1.3. Biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng 33 3.1.4. Biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh 38 3.2. Phương hướng, giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về xử lý vi phạm hành chính và nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định đó đối với người chưa thành niên 41 3.2.1. Phương hướng 41 3.2.2. Giải pháp 42 Kết luận Tài liệu tham khảo

doc44 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 26/02/2013 | Lượt xem: 4509 | Lượt tải: 40download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Biện pháp xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ợng tiếp tục vi phạm pháp luật và đảm bảo sự có mặt của đối tượng tại nơi cư trú khi được yêu cầu. Truy tìm đối tượng đã có quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở chữa bệnh trong trường hợp bỏ trốn được áp dụng với người chưa thành niên để đảm bảo việc thực hiện các biện pháp xử lý hành chính khác với đối tượng này. Trong các biện pháp trên thì biện pháp quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất không áp dụng với người chưa thành niên vi phạm pháp luật. Do người nước ngoài là người không có quốc tịch Việt Nam, người chưa thành niên là đối tượng của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính phải là công dân Việt Nam. Các biện pháp còn lại áp dụng với người chưa thành niên như áp dụng với người thành niên. Như vậy, cùng với sự phát triển và hoàn thiện của hệ thống pháp luật nói chung, những quy định về xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên ngày càng đóng vai trò quan trọng trong hệ thống pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, góp phần đáng kể vào thực tiễn đấu tranh phòng, chống hành vi vi phạm pháp luật của người chưa thành niên. Chương III Thực tiễn áp dụng, phương hướng, giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về biện pháp xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên 1. Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về biện pháp xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 ra đời đánh dấu một bước phát triển quan trọng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện quy định pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. Tuy nhiên, các biện pháp xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên chỉ được quy định rải rác, không có hệ thống, trong khi thực tiễn tình hình người chưa thành niên vi phạm pháp luật ngày càng gia tăng. Do đó, việc áp dụng các quy định pháp luật đối với đối tượng này, bên cạnh những thành tựu đạt được cũng gặp không ít khó khăn, vướng mắc. 1.1. Các biện pháp xử phạt hành chính Do nhận thức chưa đúng đắn về những hành động của mình, do ý thức pháp luật chưa cao mà người chưa thành niên vi phạm pháp luật ngày càng gia tăng. Trong những năm gần đây, quy định pháp luật về các biện pháp xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên tương đối phù hợp và đã góp phần tích cực vào việc ngăn chặn tình hình trên. Thực tế cho thấy, chỉ có các hình thức xử phạt chính được áp dụng nhiều đối với người chưa thành niên, còn các hình thức xử phạt bổ sung ít được áp dụng đối với đối tượng này, nhất là khi các biện pháp xử phạt bổ sung lại nặng hơn so với biện pháp xử phạt chính. Việc quy định chỉ phạt cảnh cáo đối với mọi vi phạm hành chính do cố ý của người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phù hợp với quy định của Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, trong trường hợp họ vi phạm nhiều lần nhưng không rơi vào các trường hợp bị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác thì vẫn chỉ bị phạt cảnh cáo, nếu không xử lý nghiêm minh sẽ dẫn đến thái độ coi thường pháp luật, không những không ngăn chặn được họ vi phạm pháp luật mà còn làm gia tăng vi phạm pháp luật ở những đối tượng này. ở một số lĩnh vực quản lý nhà nước, thực trạng xử phạt vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên gặp không ít khó khăn, vướng mắc. Cụ thể trong lĩnh vực giao thông đường bộ, người chưa thành niên vi phạm quy định luật giao thông đường bộ ngày càng tăng về số lượng và mức độ. Những vi phạm thường gặp ở người chưa thành niên như đi không đúng phần đường quy định, đi xe dàn hàng ngang, tụ tập dưới lòng đường, chở người vượt quá quy định…đặc biệt là nạn đua xe trái phép. Trong thời gian qua những hành vi này không những gây mất trật tự công cộng, ảnh hưởng đến những người tham gia giao thông khác mà còn gây ra những hậu quả rất nghiêm trọng. Với những vi phạm đó, việc chỉ áp dụng hình thức phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đối với người chưa thành niên không phát huy hết hiệu quả ngăn chặn cũng như phòng ngừa, đấu tranh chống những hành vi vi phạm tương tự. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên, một trong những nguyên nhân chính là việc xử lý vi phạm luật giao thông đường bộ của cảnh sát giao thông còn hạn chế. Thực tế cho thấy, những người có thẩm quyền xử phạt (cảnh sát giao thông) nhiều lần thấy lỗi của người chưa thành niên mà không xử phạt. Đó có thể là do những tác động khách quan như số lượng người chưa thành niên vi phạm cùng một lúc nhiều (do các em học sinh thường đi cùng nhau thành nhóm đông), hay do nguyên nhân chủ quan là thái độ ngại xử phạt những đối tượng này.Vì vậy, thực tế có rất nhiều hành vi vi phạm có thể áp dụng hình thức phạt cảnh cáo nhưng hình thức này lại ít được áp dụng hơn hình thức phạt tiền. Khi phạt tiền đối với người chưa thành niên, phần lớn các em không có đủ điều kiện để chấp hành quyết định xử phạt. Điều này khiến thủ tục xử phạt thêm phức tạp do phần lớn các trường hợp là xử phạt tại chỗ theo thủ tục đơn giản nhưng người nộp tiền phạt lại là cha mẹ các em - những người không trực tiếp thực hiện hành vi vi phạm. Một tình trạng nữa là việc tiến hành xử phạt không đúng trình tự, thủ tục, trái với quy định của pháp luật. Đó là hiện tượng tiêu cực khi áp dụng hình thức xử phạt tiền, trong đó có việc phạt tiền đối với người chưa thành niên. Ví dụ nhiều trường hợp khi tiến hành xử phạt tại chỗ, người có thẩm quyền xử phạt không ra quyết định xử phạt bằng văn bản hoặc không có biên lai thu tiền phạt như quy định của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính về thủ tục áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm hành chính, mức phạt là do người bị phạt và người có thẩm quyền xử phạt "thoả thuận" với nhau. Một ví dụ khác, gần đây nhất là vụ vũ trường New Centery (tại số 10, Tràng Thi, Hà Nội). Theo các phương tiện thông tin đại chúng có tới hơn 1.116 người bị tạm giữ vào lúc 1h sáng ngày 28/04/2007 cùng với số lượng lớn tang vật thu giữ được tại hiện trường, trong đó phần lớn là người chưa thành niên. Đây rõ ràng là một vụ vi phạm có tổ chức, tuy nhiên trước thực trạng số lượng người chưa thành niên vi phạm đông, việc tiến hành xác định cụ thể hành vi vi phạm để xử lý gặp nhiều khó khăn và không tránh khỏi có những thiếu sót đáng kể. Có nhiều đối tượng là người chưa thành niên có hành vi vi phạm nhưng không hề bị phát hiện, hoặc phát hiện được nhưng không tiến hành áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm hành chính đối với những đối tượng này với nhiều lý do khác nhau. Do đó, 9h sáng cùng ngày nhiều đối tượng bị tạm giữ đã được thả và không hề tỏ ra sợ hãi, thậm chí coi việc bị tạm giữ chỉ là chuyện không may, liệu những đối tượng này có chấm dứt việc thực hiện những hành vi vi phạm tương tự hay không? Thực tế trên đòi hỏi việc xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên nói chung, xử phạt vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên nói riêng cần được thực hiện nghiêm minh theo quy định của pháp luật. 1.2. Biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn Đây là biện pháp không cách ly đối tượng bị áp dụng khỏi cộng đồng, nếu được áp dụng một cách triệt để sẽ mang lại hiệu quả rất cao, đặc biệt với đối tượng người chưa thành niên. ở lứa tuổi này người chưa thành niên chưa quen tách khỏi cuộc sống gia đình, họ cần có sự chăm sóc của gia đình và sự quan tâm của xã hội, do đó chỉ áp dụng biện pháp xử lý hành chính khác có tính chất cách ly người chưa thành niên ra khỏi cộng đồng như đưa vào trường giáo dưỡng hay cơ sở chữa bệnh khi đã áp dụng biện pháp này mà không có hiệu quả (trừ trường hợp người chưa thành niên không có nơi cư trú nhất định). Trong thực tế có rất nhiều vấn đề vướng mắc cần giải quyết khi áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Theo quy định tại khoản 2 Điều 24, khoản 2 Điều 26 Pháp lệnh, biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn được coi là một điều kiện để áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng và đưa vào cơ sở chữa bệnh. Do đó, nhiều địa phương coi biện pháp này chỉ là biện pháp mang tính chất thủ tục, không phát huy được hiệu quả giáo dục của nó, thực tế nhiều nơi chỉ áp dụng cho đúng trình tự. Mặt khác nhiều địa phương lại bỏ qua biện pháp này mà đưa luôn người chưa thành niên vào trường giáo dưỡng, với sự e ngại rằng việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn với đối tượng người chưa thành niên vi phạm pháp luật sẽ tạo môi trường không trong sạch ở địa bàn họ quản lý. Theo thống kê tại Trường giáo dưỡng số 1 ở Hà Nội cho thấy hơn 50% các em chưa được áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đã bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng [2, tr.22]. Trong thực tế, tình hình vi phạm pháp luật diễn biến rất phức tạp, có nhiều đối tượng cần áp dụng biện pháp này nhưng Pháp lệnh không quy định, do đó nhiều văn bản hướng dẫn kèm theo mở rộng đối tượng áp dụng, như Nghị định số 163/2003/NĐ-CP. Việc quy định như vậy là không hợp pháp nhưng nếu không có những quy định đó, nhiều trường hợp các vi phạm hành chính bị bỏ qua do không thể có căn cứ pháp lý để xử lý người vi phạm. Vì vậy biện pháp này ít được áp dụng và nếu có áp dụng thì việc áp dụng thường không theo đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định.Việc thực hiện biện pháp này chỉ mang tính hình thức, dẫn đến buông lỏng người được giáo dục, việc quản lý, giám sát, giáo dục đạt hiệu quả chưa cao, thực tế chỉ áp dụng giáo dục lần đầu, sau đó không thường xuyên liên lạc lại để giáo dục người vi phạm. ở một số nơi, sự phối hợp của các ngành, các đoàn thể trong việc thực hiện công tác này chưa được coi trọng, chủ yếu vẫn là ngành Công an làm, còn các đoàn thể như Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ thì không phối hợp thường xuyên. Mặc dù Pháp lệnh đã có những quy định dành riêng cho người chưa thành niên như có sự tham gia của Uỷ ban dân số, gia đình, trẻ em hoặc Đoàn thanh niên…nhưng nhìn chung pháp luật vẫn quy định trình tự, thủ tục áp dụng chung cho cả người thành niên và người chưa thành niên. Tuy nhiên trong thực tế việc áp dụng như vậy với người chưa thành niên, đặc biệt là người chưa thành niên dưới 16 tuổi là không phù hợp, bởi với các em, việc bị đưa ra trước cuộc họp để kiểm điểm sẽ tạo những áp lực lớn về tâm lý, có thể dẫn đến tác động ngược lại, một số em khi bị xử lý như thế còn tỏ thái độ không sợ hãi, bướng bỉnh, cố chấp…Những biểu hiện này rất phù hợp với tâm lý lứa tuổi các em, có thể dẫn đến những suy nghĩ và hành vi tiêu cực hơn. Tuy nhiên cũng có những nơi công tác này được thực hiện rất tốt. Vấn đề là chúng ta cần thực hiện một cách đồng bộ và có kết quả. Người chưa thành niên chủ yếu thực hiện các vi phạm hành chính như trộm cắp vặt, lừa đảo nhỏ, đánh bạc nhỏ, không thể áp dụng biện pháp này ở xã như ở phường và thị trấn, thực tế ở xã, chỉ cần trộm một con gà cũng có thể coi là trộm cắp vặt, nhưng ở thị trấn, ở phường, do đời sống cao hơn, việc ăn trộm một cái xe đạp mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự cũng bị coi là có hành vi trộm cắp vặt. Như vậy có sự chênh lệch về mức độ vi phạm nhưng lại áp dụng chung một biện pháp xử lý hành chính. Việc áp dụng như thế là chưa phù hợp do quy định của pháp luật chưa phù hợp. 1.3. Biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng Biện pháp này chỉ được áp dụng với đối tượng là người chưa thành niên. Trong quá trình thực hiện đã mang lại hiệu quả nhất định. Hiện nay trong cả nước có bốn trường giáo dưỡng do Bộ Công an quản lý là trường giáo dưỡng số II ở Ninh Bình, trường giáo dưỡng số III ở Đà Nẵng, trường giáo dưỡng số IV ở Đồng Nai và trường giáo dưỡng số V ở Long An. Nhiều địa phương còn tổ chức những cơ sở giáo dục dành riêng cho trẻ em. Ví dụ tại thành phố Hồ Chí Minh có trường thiếu niên hư số I, số II, số III; ở Hà Nội có Trường phổ thông nội trú dạy nghề số I, thường gọi là trường giáo dưỡng số I, do thành phố Hà Nội quản lý. Theo Báo cáo tổng kết tình hình thực hiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính của Bộ tư pháp ngày 01/11/2005, số liệu thống kê ở một số tỉnh cho thấy: từ tháng 10/2002 đến tháng 03/2005, tỉnh Kon Tum đưa vào trường giáo dưỡng 32 trường hợp, tỉnh Quảng Bình có 61 trường hợp, tỉnh Phú Thọ có 50 trường hợp; từ năm 2002 đến năm 2004, tỉnh Hoà Bình có 2 trường hợp vào trường giáo dưỡng…Số liệu thống kê cho thấy việc áp dụng biện pháp này ở các tỉnh khác nhau là khác nhau, có tỉnh áp dụng nhiều, có tỉnh áp dụng ít. Nhìn chung, có thể thấy những năm qua, cùng với hiện tượng người chưa thành niên thực hiện hành vi trái pháp luật gia tăng đáng kể về số lượng thì đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng cũng tăng lên. Tính đến 19/11/2003 có 12.005 người chưa thành niên bị áp dụng biện pháp này. Sự gia tăng này ngoài nguyên nhân do số lượng người chưa thành niên vi phạm pháp luật gia tăng còn do Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 thay đổi thẩm quyền ra quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác theo hướng mở rộng thẩm quyền cho Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện. Phần lớn người chưa thành niên bị áp dụng hình thức này là những người có hoàn cảnh gia đình không mấy thuận lợi, nhiều người phải lang thang kiếm sống, trình độ văn hóa thấp, phần lớn chỉ mới học hết bậc tiểu học. Điều này khiến trong thực tế việc áp dụng biện pháp này gặp rất nhiều khó khăn, cần sự nỗ lực rất nhiều của những người trực tiếp tham gia làm công tác quản lý, giáo dục tại trường giáo dưỡng. Thực tế tại các trường giáo dưỡng, việc dạy văn hóa và giáo dục phổ cập cho học sinh luôn là công việc được ưu tiên hàng đầu. Từ năm 1995 đến nay các trường giáo dưỡng đã tổ chức được 276 lớp học cho 12.353 lượt học sinh học văn hoá. Hàng năm số học sinh xếp loại học lực khá giỏi 40,09%; trung bình là 54,73%; số còn lại xếp loại yếu kém khoảng 5,18%. Tỉ lệ học sinh lên lớp hàng năm trung bình là 95,31%; tỉ lệ thi tốt nghiệp đạt 100%. Chỉ tính riêng bốn trường giáo dưỡng do Bộ Công an quản lý, năm 2002 - 2003 có 58 lớp học văn hoá cho 1.888 đối tượng là người chưa thành niên. Trong đó: bậc tiểu học có 32 lớp với 1014 học sinh; bậc THCS có 26 lớp với 874 học sinh [5, tr.50]. Qua đó có thể thấy, việc dạy văn hoá tại các trường giáo dưỡng trong thời gian qua đã đạt được những kết quả nhất định. Tuy nhiên, hiện nay chương trình dạy văn hoá ở các trường giáo dưỡng đang gặp phải rất nhiều khó khăn, đặc biệt là việc đảm bảo chương trình giảng dạy. Theo quy định tại Điều 6 Nghị định số 142/2003/NĐ-CP, trường giáo dưỡng có nhiệm vụ dạy văn hoá cho người chưa thành niên vi phạm hành chính, tại đây các em cũng phải được xoá mù chữ và và phổ cập tiểu học. Mặc dù trường giáo dưỡng đã có nhiều cố gắng để thực hiện trách nhiệm của mình theo quy định của pháp luật nhưng do điều kiện liên quan đến tổ chức giảng dạy và học tập gặp không ít khó khăn trở ngại như: số người không biết chữ chiếm tỉ lệ cao, trình độ văn hoá thấp và không đồng đều, nhà trường không có điều kiện tổ chức thành một lớp học, ở những nơi đã tổ chức được việc dạy văn hoá thì việc tổ chức các kì thi và cấp bằng văn hoá lại chưa làm được vì phần lớn các em chưa lĩnh hội đủ những kiến thức tối thiểu. Do đó, chất lượng giáo dục đối với người chưa thành niên trong các trường giáo dưỡng thấp hơn nhiều so với các cơ sở giáo dục khác ở bên ngoài. Một tình trạng thực tế là sau khi hết thời gian ở trường, trở về với gia đình và xã hội, mặc dù đã được học văn hoá nhưng trình độ của các em hầu như không tương xứng với trình độ của các bạn cùng lứa tuổi ở các trường bên ngoài. Đây cũng là một khó khăn mà các em phải đối mặt khi muốn tiếp tục học ở các cấp tiếp theo. Về việc dạy nghề, các trường có tổ chức dạy nghề cho đối tượng là người chưa thành niên. Thực tế cho thấy ở một số trường giáo dưỡng, việc dạy nghề cho các em chưa được coi trọng mà chỉ chú ý nhiều đến lao động bắt buộc. Việc đầu tư cho các hoạt động dạy nghề, lao động hướng nghiệp còn nhiều hạn chế do những nguyên nhân khác nhau như khó khăn về vật chất, thiếu công cụ, phương tiện dạy nghề, thiếu giáo viên hoặc trình độ giáo viên còn hạn chế. Vì vậy, một số cơ sở không có khả năng đào tạo nghề cho các em mà mới chỉ dừng lại ở mức độ giới thiệu, làm quen với công việc có tính lao động phổ thông, đơn giản hoặc dạy những nghề không phù hợp, không có khả năng giúp các em tìm việc làm khi các em được về với gia đình. Điều này làm cho vấn đề tái hoà nhập cộng đồng trở nên phức tạp, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của các em. Sau đây là tình hình thực tế ở một số trường giáo dưỡng: Qua thực tế ở Trường giáo dưỡng số II (thuộc xã Mai Sơn, huyện Yên Mô, Ninh Bình) tính đến năm 2006, có khoảng 1.300 học sinh, trong đó chủ yếu là học sinh nam, chỉ có 18 học sinh nữ. Có hai loại đối tượng được đưa vào trường: những người chưa thành niên vào trường bằng quyết định tư pháp theo quy định của Nghị định 52/2001/NĐ-CP và bằng quyết định hành chính theo quy định của Nghị định 142/2003/NĐ-CP. Trong đó người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 14 tuổi chiếm tỉ lệ thấp nhất là 5,5%; đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chiếm 31,6%; từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi chiếm tỉ lệ cao nhất 62,9%. Trường tiếp nhận đối tượng là người chưa thành niên vi phạm pháp luật của các tỉnh khu vực phía Bắc bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng. Phần lớn các em sinh ra và lớn lên ở nông thôn, đồng bằng (43,3%) nhưng do hoàn cảnh gia đình khó khăn, phải lang thang kiếm sống, không có điều kiện được chăm sóc về mọi mặt, do đó dẫn đến vi phạm pháp luật, trong đó có vi phạm hành chính; ở thành phố, thị xã: 36,6%; miền núi: 20,1%; dân tộc ít người: 20%. Có rất nhiều hành vi vi phạm từ hành vi có mức độ nguy hiểm thấp hơn đến những những hành vi có mức độ nguy hiểm cao như tội giết người, hiếp dâm. Số liệu thống kê cho thấy: Hành vi vi phạm Tỉ lệ (%) Gây rối trật tự công cộng 3,96 Cố ý gây thương tích 3,96 Trộm cắp 75,57 Hiếp dâm 1,32 Giết người 0,55 Lừa đảo chiếm đoạt tài sản 3,43 Cướp 2,0 Cưỡng đoạt 4,4 Các hành vi vi phạm khác 4,81 Qua bảng số liệu thấy hành vi trộm cắp chiếm tỉ lệ cao nhất (75,57%), chiếm tỉ lệ thấp nhất là hành vi giết người (0,55%). Tình trạng người chưa thành niên thực hiện hành vi trộm cắp đang ngày càng gia tăng, ở bất cứ nơi nào, không kể nông thôn hay thành phố, thị xã, miền núi hay dân tộc ít người. Thực tế cho thấy các đối tượng này khi mới vào trường, phần lớn có trình độ văn hoá thấp: có 2,87% mù chữ; 12,98% học từ lớp 1 đến lớp 5; 71,72% học từ lớp 6 đến lớp 9; 12,43% học từ lớp 10 đến lớp 12. Thành phần xuất thân của những đối tượng được đưa vào trường rất phức tạp, có đủ các thành phần xuất thân từ gia đình công nhân viên chức đến gia đình người lao động. Hoàn cảnh gia đình của các em không mấy thuận lợi: có đến 29% bố (mẹ) chết và 71% còn cả bố mẹ nhưng bố mẹ lại li dị hoặc cuộc sống gia đình không hạnh phúc. Nhìn chung các em đều sống ngoài sự quản lý của gia đình. Công tác giáo dục ở trường gặp rất nhiều khó khăn do các em khi vào trường sức khoẻ không tốt, bất cần, mặc cảm, định kiến, bức xúc, tâm lý phức tạp, bất thường, động cơ học tập thiếu đúng đắn, ngại học, chán học. Nhà trường phải áp dụng mọi biện pháp thích hợp nhất, đặc biệt là sự nỗ lực không ngừng của mỗi cán bộ, thày cô giáo ở trong trường. Trường có rất nhiều hoạt động thiết thực, tạo điều kiện để các em có thể học tập, lao động trong môi trường lành mạnh nhất như: kiểm tra sức khoẻ định kì, tổ chức cho học sinh mới vào trường làm quen với nội quy, sinh hoạt ở trường. Sau khoảng 1 tháng, căn cứ vào lứa tuổi, sức khoẻ để biên chế vào các đội có giáo viên chủ nhiệm quản lý mọi mặt lao động, học tập bán thời gian từ lớp 1 đến lớp 9. Trường cũng tổ chức đánh giá thi đua, khen thưởng và quyết định cho ra trường căn cứ vào thời hạn trong quyết định chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng. Hiện nay ở trường đang tổ chức dạy nghề bậc 2/7 với nội dung gồm 4 nghề: vi tính văn phòng; mộc, trạm khắc; cơ khí, hàn và xây dựng. Trường có những chương trình giáo dục đạo đức công dân riêng (chỉ dành để giảng dạy trong trường giáo dưỡng), có chương trình giáo dục giới tính, tình dục, sức khoẻ sinh sản; tổ chức diễn đàn, tuyên truyền với sự tham gia của các đoàn thể như Hội phụ nữ Việt Nam; có phòng tư vấn cho học sinh; những nhu cầu thiết yếu cho sinh hoạt hàng ngày của các em được đảm bảo (nước sinh hoạt, điện…). Trường giáo dưỡng số III (nằm cách thành phố Đà Nẵng gần 30km, thuộc địa bàn xã Hòa Vang, Thành phố Đà Nẵng) là nơi tập trung giáo dục cải tạo các đối tượng vị thành niên vi phạm pháp luật tại khu vực miền Trung - Tây Nguyên. Tính đến cuối năm 2006, trường có khoảng 700 đối tượng với 16 đối tượng là các em nữ, trong đó có 30% là từ đủ 12 tuổi đến dưới 14 tuổi, 70% từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi. Ngược lại với trường giáo dưỡng số II, ở đây phần lớn các em sống ở thành phố, thị xã (95%), còn lại sống ở nông thôn và vùng sâu vùng xa (5%). Đa số các em có trình độ văn hoá thấp, nhiều em đã 16 - 18 tuổi nhưng mới chỉ học đến lớp 1, lớp 2; một số khác hoàn toàn mù chữ, hầu hết lười học hoặc bày tỏ thái độ không muốn học. Khi làm trắc nghiệm tại trường, có đến 50% các em không còn tin tưởng vào gia đình do các em đã bị bỏ rơi, phải lang thang kiếm sống…Toàn trường có 3 đối tượng bị nhiễm HIV, trong số 16 đối tượng nữ của trường thì có 1 em bị nhiễm căn bệnh này. Đây là trường hợp do bị cha dượng cưỡng hiếp, em đã bỏ nhà đi lang thang, bụi đời, rồi tiêm chích và quan hệ với nhiều người khác. Nhà trường thành lập Hội đồng tư vấn gồm 10 thành viên, thường xuyên tổ chức các cuộc nói chuyện, chia sẻ với các em. Giáo viên được bố trí ăn ở cùng các em để các em có cảm giác như ở chính gia đình mình, được chăm sóc, quan tâm, chỉ bảo. Trên đây là một số thông tin thực tế về hai trong số bốn trường giáo dưỡng do Bộ Công an quản lý trong cả nước. Qua đó có thể thấy được tình hình thực tiễn của việc áp dụng các quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính với đối tượng người chưa thành niên bằng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng với những kết quả đạt được cũng như khó khăn, vướng mắc cần giải quyết. 1.4. Biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh Hiện này trong cả nước có 77 cơ sở chữa bệnh, người chưa thành niên bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính này chỉ gồm có người chưa thành niên bán dâm có tính chất thường xuyên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi. Ngoài ra đối với người chưa thành niên nghiện ma tuý thì theo Nghị định số 135/2004/NĐ-CP phải được đưa vào Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội để cai nghiện. Với đối tượng người chưa thành niên bán dâm có tính chất thường xuyên, thực tế việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng gặp rất nhiều khó khăn bởi việc xác định như thế nào là "bán dâm có tính chất thường xuyên" là rất khó. Do việc theo dõi quản lý số lượng đối tượng này có nhiều bất cập nên việc chứng minh họ "bán dâm có tính chất thường xuyên" để áp dụng biện pháp này bị hạn chế, thường thì phạt tiền rồi cho về, nên hiệu quả của biện pháp này với đối tượng người chưa thành niên bán dâm có tính chất thường xuyên bị hạn chế. Việc quy định đối tượng có bệnh án hay không có bệnh án cũng bị đưa vào cơ sở chữa bệnh dẫn đến khó khăn cho việc quản lý, phòng ngừa các bệnh lây nhiễm giữa các đối tượng do thực tế những đối tượng này hầu hết sức khoẻ không tốt, khi vào cơ sở chữa bệnh, hay mang theo những bệnh xã hội khó chữa. Điều 113 Pháp lệnh quy định: "Trong trường hợp một người thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật vừa thuộc đối tượng đưa vào cơ sở giáo dục, vừa thuộc đối tượng đưa vào cơ sở chữa bệnh hoặc vừa thuộc đối tượng đưa vào trường giáo dưỡng, vừa thuộc đối tượng đưa vào cơ sở chữa bệnh thì cơ quan có thẩm quyền chỉ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh", quy định này để nhằm giúp các đối tượng của tệ nạn xã hội có điều kiện chữa bệnh, lao động và học nghề, tái hoà nhập cộng đồng sau này. Quy định này xuất phát từ thực tế, phần lớn các đối tượng vì dính vào tệ nạn xã hội như mại dâm, ma tuý, nhất là ma tuý nên mới thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật khác. Chính vì thế nếu chữa bệnh và ngăn không để cho họ tiếp tục tham gia vào các tệ nạn xã hội cũng chính là loại trừ những nguyên nhân dẫn đến các hành vi vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, thực tế ở các cơ sở chữa bệnh tình trạng quá tải gây rất nhiều khó khăn cho việc chữa bệnh, có những nơi không có một đối tượng nào bị đưa vào cơ sở giáo dục, trong khi cơ sở chữa bệnh trở nên quá tải do có quá nhiều đối tượng bị áp dụng biện pháp này. Cụ thể như ở Quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng, năm 2004 không có đối tượng nào bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục. Do các đối tượng thuộc diện đưa vào cơ sở giáo dục đồng thời cũng nghiện ma tuý nên chỉ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh với đối tượng này. Mặt khác, ở một số địa phương, các đối tượng thuộc diện phải đưa vào cơ sở giáo dục đã cố tình nghiện để chỉ bị vào cơ sở chữa bệnh thay vì phải vào cơ sở chữa bệnh. Số liệu thống kê ở một số quận, huyện, tỉnh thành trong cả nước [2, tr.12, 13] cho thấy: - Năm 2004, huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương đã lập hồ sơ đưa 21 gái mại dâm vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc. - Từ năm 2002 đến năm 2004, Hoà Bình đã lập hồ sơ đưa vào cơ sở chữa bệnh 50 đối tượng gái mại dâm. - Từ tháng 10/2002 đến tháng 03/2005, tỉnh Kon Tum đã có 30 trường hợp đưa vào cơ sở chữa bệnh; tỉnh Lào Cai có 91 trường hợp đưa vào cơ sở chữa bệnh; tỉnh Phú Thọ có 86 đối tượng đưa vào Trung tâm Lao động xã hội. Trong các đối tượng trên có cả những đối tượng là người chưa thành niên. Với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma tuý đã được cai nghiện tại gia đình, cộng đồng hoặc đã được giáo dục nhiều lần tại xã, phường, thị trấn mà vẫn còn nghiện hoặc không có nơi cư trú nhất định thì được đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc dành riêng cho họ (theo khoản 1 Điều 29 Luật phòng chống ma tuý). Việc đưa những đối tượng này vào cơ sở chữa bệnh không coi là việc áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính. Nhìn chung cơ sở vật chất tại các cơ sở chữa bệnh vẫn còn thiếu thốn, trong khi việc chữa bệnh cho những đối tượng này đòi hỏi rất cao về điều kiện cơ sở vật chất cũng như những người tham gia công tác chữa bệnh. Thực tế áp dụng các quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên, bên cạnh những kết quả đạt được cần phát huy cũng có nhiều vấn đề khó khăn cần giải quyết, khắc phục được những khó khăn đó sẽ tạo điều kiện cho việc xây dựng Bộ luật xử lý vi phạm hành chính trong tương lai gần. 2. Phương hướng, giải pháp hoàn thiện quy Định pháp luật về xử lý vi phạm hành chính và nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định đó đối với người chưa thành niên 2.1. Phương hướng Nghị quyết số 48-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 đặt ra mục tiêu "xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi công khai, minh bạch". Một trong những định hướng quan trọng là "xây dựng và hoàn thiện pháp luật về giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, y tế, văn hoá - thông tin, thể thao, dân tộc, tôn giáo, dân số, gia đình, trẻ em, và chính sách xã hội". Việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về xử lý vi phạm hành chính nói chung, xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên nói riêng cũng không nằm ngoài mục tiêu đó. Trong bối cảnh kinh tế - xã hội hiện nay, cùng với sự phát triển về mọi mặt, hệ thống pháp luật Việt Nam cần phải ngày càng hoàn thiện, đặc biệt là pháp luật về xử lý vi phạm hành chính vì nó liên quan đến mọi lĩnh vực quản lý của Nhà nước. Đây là một yêu cầu khách quan đòi hỏi chúng ta cần có những phương hướng, giải pháp cụ thể để pháp luật Việt Nam thực sự phục vụ cho quá trình hội nhập quốc tế. Đã có rất nhiều văn bản pháp luật quy định về xử lý vi phạm hành chính được ban hành. Tuy nhiên văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất là Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính. Xét về mặt hiệu lực pháp lý, việc quy định như vậy là chưa phù hợp. Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính quy định những vấn đề liên quan trực tiếp đến các quyền cơ bản của công dân như: tạm giữ người (Điều 44); khám người (Điều 47); khám nơi cất giấu phương tiện vi phạm hành chính (Điều 49)…Do đó thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về xử lý vi phạm hành chính phải thuộc về Quốc hội, điều đó có nghĩa là việc xây dựng một Bộ luật hoặc Luật về xử lý vi phạm hành chính để thay thế cho Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính là cần thiết. Xuất phát từ yêu cầu dó, Bộ luật xử lý vi phạm hành chính cần khẩn trương được ban hành. Trong đó, các quy định về xử lý vi phạm hành chính với người chưa thành niên là một phần có vị trí đặc biệt quan trọng. Ngoài những quy định chung, phải xây dựng những quy định riêng phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của đối tượng này, hạn chế tối đa việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế mang tính trừng phạt. Để làm được điều đó phải căn cứ vào tình hình thực tế áp dụng các quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên, từ đó rút ra những mặt được, những mặt chưa được, tạo điều kiện cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật, bởi pháp luật phải xuất phát từ đời sống thực tế, ngược lại có như vậy mới đi vào thực tế và có tính khả thi. Cùng với việc xây dựng, hoàn thiện các quy định pháp luật cần đơn giản hoá trình tự, thủ tục áp dụng các quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên. Khi đã có cơ sở pháp lý đầy đủ, cần tổ chức thực hiện có hiệu quả những quy định của pháp luật về các biện pháp xử lý vi phạm hành chính nói chung, biện pháp xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên nói riêng. Đòi hỏi có sự tham gia tích cực của mỗi cá nhân, tổ chức trong xã hội. Do người chưa thành niên là đối tượng "đặc biệt" nên sau khi bị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính, nhất là các biện pháp xử lý hành chính khác như giáo dục tại xã, phường, thị trấn, đưa vào trường giáo dưỡng, cần phải có sự quan tâm nhất định để các em có thể sống hoà nhập với cộng đồng. Nếu công tác này được làm tốt sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác đối với người chưa thành niên. 2.2. Giải pháp 2.2.1. Hoàn thiện các quy định pháp luật về xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên - Trong thời gian qua, việc thực hiện các quy định pháp luật về biện pháp xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên đã góp phần rất quan trọng trong việc giáo dục, phòng ngừa và ngăn chặn vi phạm pháp luật ở đối tượng này. Tuy nhiên cần có một số sửa đổi bổ sung cho phù hợp, nhằm giải quyết những khó khăn vướng mắc trong thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên. + Về xử phạt vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên, cụ thể là hình thức phạt tiền. Trong nhiều trường hợp người chưa thành niên không có đủ điều kiện chấp hành biện pháp xử phạt này, ví dụ người chưa thành niên sống lang thang, không gia đình, không có người giám hộ. Do đó, bên cạnh việc quy định người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể bị áp dụng hình thức phạt tiền, cần quy định những trường hợp được miễn, giảm khi họ không có điều kiện nộp phạt. Việc quy định như vậy sẽ phù hợp với thực tế và tránh tình trạng quy định của pháp luật không có tính khả thi. + Về Điều 23, so với Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995, đối tượng bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đã được quy định cụ thể hơn với bốn nhóm đối tượng, trong đó đối tượng là người chưa thành niên gồm: người từ đủ 12 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm nghiêm trọng do cố ý quy định trong Bộ luật Hình sự (theo điểm a khoản 2) và người từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nhiều lần có hành vi trộm cắp vặt, lừa đảo nhỏ, đánh bạc nhỏ, gây rối trật tự công cộng (theo điểm b khoản 2). Tuy nhiên việc quy định bằng cách liệt kê như vậy khiến cho nhiều đối tượng bị "bỏ lọt"; mặt khác dẫn đến sự mâu thuẫn với điểm b khoản 2 Điều 24 Pháp lệnh. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 24, một trong những đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng là "người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm ít nghiêm trọng…quy định tại Bộ luật Hình sự mà trước đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú nhất định" nhưng Điều 23 lại không quy định "người chưa đủ 12 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm ít nghiêm trọng quy định tại Bộ luật Hình sự" là đối tượng bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Như vậy, cần phải sửa đổi bổ sung Điều 23 cho phù hợp với Điều 24 của Pháp lệnh theo hướng mở rộng đối tượng bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn bao gồm cả người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm ít nghiêm trọng quy định tại Bộ luật Hình sự. Bên cạnh đó, về mặt hình thức pháp lý, việc xử dụng các cụm từ "trộm cắp vặt, lừa đảo nhỏ, đánh bạc nhỏ" là chưa chính xác, gây khó khăn trong việc xác định đối tượng nào sẽ bị áp dụng biện pháp xử phạt này. + Về Điều 26 Pháp lệnh, đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh là người nghiện ma tuý và người bán dâm có tính chất thường xuyên, trong đó người chưa thành niên bị áp dụng biện pháp này là người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bán dâm có tính chất thường xuyên (theo điểm b khoản 2 Điều 26); người chưa thành niên nghiện ma tuý không là đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh, quy định này hoàn toàn phù hợp với quy định của Luật phòng chống ma tuý mà theo đó, việc đưa người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma tuý vào cơ sở chữa bệnh không coi là việc xử lý vi phạm hành chính. Tuy nhiên, theo chúng tôi, người chưa thành niên nghiện ma tuý ít nhiều cũng phải chịu trách nhiệm về hành vi nghiện ma tuý của mình như việc phải chịu trách nhiệm về việc thực hiện một số hành vi vi phạm pháp luật khác, do đó, nên coi việc đưa vào cơ sở chữa bệnh cũng là một biện pháp xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên nghiện ma tuý. Điều này cần được lưu ý khi xây dựng Bộ luật xử lý vi phạm hành chính, trong đó xây dựng các quy định về xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên. + Về Điều 113, đây là một quy định hoàn toàn mới so với Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995, quy định về xử lý trường hợp một người vừa thuộc đối tượng đưa vào cơ sở giáo dục, vừa thuộc đối tượng đưa vào cơ sở chữa bệnh hoặc vừa thuộc đối tượng đưa vào trường giáo dưỡng, vừa thuộc đối tượng đưa vào cơ sở chữa bệnh, theo đó người này chỉ bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh. Tuy nhiên trong thực tiễn áp dụng, việc quy định như trên đã gây không ít khó khăn, vướng mắc cần giải quyết (như trình bày tại mục 3.1.4). Do đó quy định này là chưa phù hợp, cần sửa đổi, bổ sung. Có ý kiến cho rằng, thay vì quy định như thế nên xây dựng những mô hình lồng ghép: trong A có B, trong B có A (trong các cơ sở chữa bệnh đồng thời tổ chức thực hiện chức năng như ở trường giáo dưỡng hoặc trong các trường giáo dưỡng đồng thời tổ chức thực hiện chức năng như ở các cơ sở chữa bệnh) sẽ giảm đáng kể số lượng người bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh, để không còn tình trạng "quá tải" tại các cơ sở chữa bệnh. + Việc quy định thời hạn tối thiểu áp dụng một số biện pháp xử lý hành chính khác đối với người chưa thành niên còn quá ngắn, chưa phát huy tối đa mục đích của việc áp dụng các quy định của pháp luật, như quy định thời hạn áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng là từ sáu tháng đến hai năm. Tuy nhiên, thời hạn đó là chưa đủ để có thể giáo dục người chưa thành niên có hành vi vi phạm pháp luật (phần lớn là đã vi phạm pháp luật nhiều lần) trở thành công dân lương thiện, sống có ích cho xã hội. Mặt khác thực tế cho thấy, các cơ quan có thẩm quyền rất ít khi quyết định đưa vào trường giáo dưỡng với thời hạn sáu tháng vì hiệu quả không cao, trong khi các cơ quan mất rất nhiều thời gian, công sức để xác minh, theo dõi một thời gian dài mới hoàn chỉnh được hồ sơ, đủ điều kiện để đưa một đối tượng vào trường giáo dưỡng. Tương tự, việc quy định thời hạn áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh với người bán dâm có tính chất thường xuyên là từ ba tháng đến mười tám tháng nhưng thời hạn ba tháng rất ít được áp dụng, thời hạn đó không đủ để chữa bệnh và dạy nghề cho người vi phạm. Việc quy định như vậy sẽ không phát huy tối đa hiệu quả của của việc áp dụng pháp luật với các đối tượng. + Ngoài ra, cần cụ thể các quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên vi phạm hành chính gây ra. Hiện nay Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 chỉ quy định chung chung: "người chưa thành niên vi phạm hành chính gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật" (khoản 3 Điều 7). Nghị định số 134/2004/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính có quy định cụ thể hơn: "người chưa thành niên vi phạm hành chính mà gây thiệt hại thì trách nhiệm bồi thường được thực hiện theo quy định tại Điều 40 của Luật hôn nhân và gia đình và các khoản 2, 3 Điều 611 của Bộ luật Dân sự". Tuy nhiên Bộ luật Dân sự năm 2005 chỉ quy định việc bồi thường thiệt hại do "người dưới 15 tuổi trong thời gian học tại trường mà gây thiệt hại thì trường học phải bồi thường thiệt hại xảy ra" (khoản 1 Điều 621). - Trong khuôn khổ của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính, với 124 điều, việc xây dựng một chương riêng quy định đối với người chưa thành niên khó có thể thực hiện được dù điều đó là cần thiết. Điều 7 của Pháp lệnh dành quy định về xử lý người chưa thành niên vi phạm hành chính nhưng đó là những quy định chung nhất về độ tuổi, các biện pháp xử lý hành chính có thể áp dụng với người chưa thành niên, trách nhiệm hành chính mà người chưa thành niên phải gánh chịu khi vi phạm hành chính. Muốn đi sâu tìm hiểu, phải xem xét từng quy định cụ thể của Pháp lệnh để tìm ra những quy định riêng đối với người chưa thành niên. Do đó, khi xây dựng Bộ luật xử lý vi phạm hành chính trong tương lai, cần có một chương riêng quy định đối với người chưa thành niên. Có thể tham khảo quy định tại chương X của Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định đối với người chưa thành niên phạm tội, trong đó quy định những vấn đề cụ thể như: nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội; các biện pháp tư pháp, các hình phạt được áp dụng với người chưa thành niên phạm tội…hoặc chương XI của Bộ luật Lao động với những quy định riêng đối với lao động chưa thành niên và một số loại lao động khác. Khi xây dựng những quy định riêng đối với người chưa thành niên cần: + Căn cứ vào những đặc điểm tâm sinh lí của đối tượng này trên cơ sở của những nghiên cứu khoa học do đặc điểm tâm sinh lí là một trong những yếu tố quyết định đến hành vi của người chưa thành niên. Muốn vậy, phải tổ chức nghiên cứu cơ bản, toàn diện về người chưa thành niên nói chung, người chưa thành niên có hành vi trái pháp luật nói riêng và pháp luật về xử lý vi phạm hành chính với đối tượng này của các nước khác. + Căn cứ vào những đặc điểm nhân thân của người chưa thành niên. Những đặc điểm về nhân thân như độ tuổi, giới tính, hoàn cảnh gia đình…đặc biệt là hoàn cảnh gia đình của người chưa thành niên. Rất nhiều người chưa thành niên vi phạm pháp luật là do tác động của điều kiện gia đình không thuận lợi, do đó phải có những quy định riêng với người chưa thành niên mới đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của họ. 2.2.2. Nâng cao hiệu quả; khắc phục khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật đối với người chưa thành niên - Với biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn: Cần quy định biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn như một biện pháp độc lập; không nên coi đây là điều kiện để áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác như đưa vào trường giáo dưỡng hay đưa vào cơ sở chữa bệnh. Khi áp dụng biện pháp này, phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa chính quyền địa phương, các tổ chức xã hội và gia đình tạo điều kiện để những người được giáo dục sửa chữa sai phạm, trở thành người sống có ích cho xã hội. - Biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng: hiện nay có rất nhiều người chưa thành niên vi phạm pháp luật bị áp dụng biện pháp này. Tại trường, các em có điều kiện để học văn hoá, được giáo dục hướng nghiệp, học nghề, lao động và sinh hoạt. Để nâng cao hiệu quả của biện pháp này, các trường giáo dưỡng cần thực hiện một số giải pháp sau: + Tuy trường là nơi dành cho những đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, nhưng ngoài sự tham gia của lực lượng cán bộ là Công an, phải tạo điều kiện cho những người làm công tác giáo dục tham gia giáo dục đối tượng người chưa thành niên vi phạm pháp luật, bởi hơn ai hết họ hiểu và cảm thông sâu sắc với hoàn cảnh của người chưa thành niên vi phạm pháp luật, có kĩ năng nghề nghiệp trong việc giáo dục những đối tượng này. + Nhà trường nên tăng cường tổ chức các chuyến thăm của tình nguyện viên cùng với các hoạt động thể thao, văn hoá văn nghệ, nhằm tạo cho người chưa thành niên có cơ hội tiếp xúc với nhiều người lớn tuổi và bạn bè cùng trang lứa, xoá bỏ mọi mặc cảm tội lỗi, thiết lập được mối quan hệ gắn kết giữa người chưa thành niên với chính gia đình của họ và với cộng đồng xã hội để các em không có cảm giác mình bị bỏ rơi, yên tâm cải tạo và học tập. + Bên cạnh việc dạy văn hoá, việc hướng nghiệp dạy nghề cho các em cũng được chú trọng, để sau khi ra trường, các em có thể tự tìm cho mình một nghề, sống hoà nhập với mọi người xung quanh, không tiếp tục con đường vi phạm pháp luật. + Tạo điều kiện để người chưa thành niên tái hoà nhập cộng đồng: tái hoà nhập cộng đồng là giai đoạn sau khi hết thời gian bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng. Việc tái hoà nhập cộng đồng có ý nghĩa quan trọng. Người chưa thành niên bị đưa vào trường giáo dưỡng nhằm mục đích giáo dục là chính, tạo điều kiện để các em được sống cuộc sống bình thường. Tuy nhiên không ít em sau khi ra trường không những nhanh chóng quay lại "đường cũ" mà còn ngày càng lấn sâu hơn vào các tệ nạn xã hội, thực hiện những hành vi nguy hiểm cho xã hội. Nếu làm tốt công tác tái hoà nhập cộng đồng cho người chưa thành niên sẽ góp phần làm tăng hiệu quả của biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng. Gia đình là nơi gắn bó thân thiết nhất với các em, do đó mọi thành viên trong gia đình cần quan tâm đến người chưa thành niên sau khi ra khỏi trường, giúp các em hoà nhập với cộng đồng, không phân biệt đối xử, gây cho các em cảm giác tự ti mặc cảm. Về vai trò của chính quyền địa phương: Trong nhiều trường hợp, người chưa thành niên vi phạm pháp luật là do sự quản lý lỏng lẻo của gia đình, hoặc do chính hoàn cảnh gia đình tác động tiêu cực đến các em, nhiều em không còn tin tưởng vào gia đình mình, lúc này khi trở về với cộng đồng, chính quyền địa phương có vai trò ý nghĩa rất quan trọng trong việc giám sát cũng như quản lý đối tượng này. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền địa phương với Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, với các nhà hảo tâm trong việc giúp đỡ về tài chính, dạy nghề cũng như tạo việc làm cho những người chưa thành niên, nhằm giúp các em có nghề nghiệp, có thu nhập thường xuyên để từng bước ổn định cuộc sống. Thiết lập một cơ chế kiểm tra, giám sát giữa các cơ quan, tổ chức và cán bộ quản lý những trường hợp được giao trách nhiệm quản lý tại địa phương, đảm bảo việc hoà nhập cộng đồng cho những đối tượng này đạt kết quả tốt hơn. Một trong những điển hình về công tác thực hiện tái hoà nhập đối với người chưa thành niên là chúng ta đã xây dựng thí điểm các cơ sở dạy nghề ở Hải Phòng và Quảng Ninh, các cơ sở dạy nghề này được hỗ trợ về kinh phí đào tạo của Quỹ nhi đồng thế giới của Liên hợp quốc. Các em được học những ngành nghề phù hợp nguyện vọng của mình. Sau khi học xong, các cơ sở đó phải có trách nhiệm nhận các em vào làm. - Tại các cơ sở chữa bệnh: Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị cho các cơ sở chữa bệnh, đặc biệt ở khu vực dành cho người chưa thành niên bởi họ là những người có nhu cầu chăm sóc riêng về thể chất cũng như tinh thần. Nhà nước cần có những ưu đãi đặc biệt dành cho người trực tiếp thực hiện hoạt động chữa bệnh tại các cơ sở chữa bệnh, do họ luôn có nguy cơ bị lây nhiễm cao các bệnh xã hội từ những đối tượng bị áp dụng biện pháp này. 2.2.3. Thực hiện công tác tuyên truyền, giáo dục ý thức pháp luật ở người chưa thành niên Đây là công việc có ý nghĩa đặc biệt quan trọng do các em đều đang trong quá trình hoàn thiện nhận thức về mọi mặt, trong đó có nhận thức về pháp luật. Nếu không được giáo dục một cách đúng đắn, nhận thức pháp luật của các em dễ bị lệch lạc, dẫn đến thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật. Gia đình và nhà trường có vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện công tác tuyên truyền giáo dục ý thức pháp luật cho các em. Trước hết là gia đình, nhất là cha mẹ các em phải là những người gương mẫu, nghiêm chỉnh chấp hành những quy định của pháp luật, sống và làm việc theo pháp luật để các em noi theo, có như vậy mới hình thành ở các em ý thức pháp luật đúng đắn. Nhà trường là nơi các em tham gia học tập, rèn luyện đạo đức. ở đó, các em được sống trong môi trường tập thể. Thày cô giáo bên cạnh việc dạy văn hoá cho các em còn có nhiệm vụ giúp cho các em hoàn thiện nhận thức về mọi mặt, trong đó có nhận thức pháp luật. Nên đưa vào bài giảng những bài học bổ ích, có tác động tích cực đến ý thức của các em, đó là những bài học về tình yêu thương, về sự quan tâm giúp đỡ lẫn nhau, về những gương người tốt, việc tốt…Nên tổ chức thường xuyên những buổi ngoại khoá, giúp các em tiếp cận nhiều hơn với những thông tin pháp luật, quy định của pháp luật. 2.2.4. Các giải pháp khác - Cần phải thường xuyên tiến hành tổng kết thực tiễn xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên, từ đó tiến hành xây dựng mới hoặc sửa đổi những quy định về xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên, xem xét những quy định nào cần sửa đổi, bổ sung, những quy định nào cần được thay thế. Do các quy định pháp luật không những phải đúng về mặt hình thức pháp lý, phù hợp về mặt nội dung pháp lý mà còn phải phù hợp với thực tiễn, có như vậy mới có tính khả thi khi áp dụng vào thực tiễn. - Cần phải thúc đẩy hợp tác quốc tế, trao đổi kinh nghiệm với các nước trong khu vực và trên thế giới về việc xây dựng và thực hiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính với người chưa thành niên. Tình hình người chưa thành niên vi phạm pháp luật đang là mối quan tâm của tất cả các quốc gia trên thế giới, không chỉ riêng ở Việt Nam. Do đó, chúng ta cần thúc đẩy hợp tác quốc tế về mọi mặt, vừa tạo điều kiện để các em được học hành, giáo dục trong điều kiện tốt nhất, tránh tình trạng các em vi phạm pháp luật do những tác động tiêu cực từ phía gia đình, bạn bè và xã hội vừa có biện pháp giáo dục hiệu quả nhất đối với những em có hành vi vi phạm pháp luật. Trên đây là những giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện các quy định về xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên, góp phần vào việc xây dựng một Bộ luật xử lý vi phạm hành chính xuất phát từ thực tiễn và đi vào thực tiễn. Kết luận Giai đoạn chưa thành niên là giai đoạn phát triển với những thay đổi phức tạp về sinh lý và tâm lý. ở giai đoạn này, các em bắt đầu có những nhận thức đầy đủ hơn về thế giới xung quanh. Bên cạnh những mặt tích cực, các em cũng rất dễ bị lôi kéo, dụ dỗ thực hiện những hành vi sai trái, đó là những hành vi trái với đạo đức xã hội, trái với những quy định của pháp luật. Khoản 1 Điều 58 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định: "Trẻ em vi phạm pháp luật được gia đình, nhà trường và xã hội giáo dục, giúp đỡ để sửa chữa sai lầm, có ý thức tôn trọng pháp luật, tôn trọng quy tắc của đời sống xã hội và sống có trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội". Việc áp dụng biện pháp xử lý với đối tượng người chưa thành niên vi phạm pháp luật là cần thiết nhưng với mục đích chính là răn đe, giáo dục, phòng ngừa. Do đó, pháp luật về xử lý vi phạm hành chính cần tính đến những đặc điểm này khi quy định các biện pháp xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên. Đó phải là những quy định riêng, cụ thể, tạo cơ sở pháp lý cho việc áp dụng những quy định đó đối với người chưa thành niên trong thực tế. Có như vậy mới phát huy hiệu quả răn đe, giáo dục, phòng ngừa của pháp luật, ngăn chặn vi phạm hành chính ở người chưa thành niên đồng thời vẫn đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên vi phạm pháp luật. Trên đây là những nội dung chính mà đề tài đề cập đến, trên cơ sở đó đưa ra phương hướng, giải pháp cụ thể với mong muốn đóng góp ý kiến cho việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về biện pháp xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên, nâng cao hiệu quả việc áp dụng các biện pháp đó trong thực tiễn đối với đối tượng này. Tài liệu tham khảo Nghị quyết số 48-NQ/TW của Bộ chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020. Báo cáo tổng kết tình hình thực hiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính số 3225/BTP/PLHS-HC. Giáo trình Luật hành chính Việt Nam, Trường đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân năm 2006. Giáo trình Tâm lý học, Trường Đại học sư phạm Hà Nội. Tạp chí Luật học số 4/2006. Tạp chí Tâm lý học số 4/2004. Từ điển Luật học, NXB Bách khoa, Hà Nội năm 1999. Từ điển Tiếng Việt, Viện ngôn ngữ học năm 2004. Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1992 sửa đổi. Bộ luật Dân sự 2005. Bộ luật Hình sự 1999. Bộ luật Lao động. Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2005. Luật phòng chống ma tuý 2000. Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995. Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002. Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính năm 1989. Nghị định số 134/2003/NĐ-CP ngày 14/11/2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002. Nghị định số 142/2003/NĐ-CP ngày 24/11/2003 của Chính phủ quy định việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng. Nghị định số 163/2003/NĐ-CP ngày 19/12/2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Nghị định số 135/2004/NĐ-CP ngày 10/06/2004 của Chính phủ Quy định chế độ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh theo Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính và chế độ áp dụng với người chưa thành niên, người tự nguyện vào cơ sở chữa bệnh. Mục lục

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docBiện pháp xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên.doc
Luận văn liên quan