Bình luận mô hình liên lết và đánh giá triển vọng phát triển của cộng đồng kinh tế Asean vào năm 2015

I. LỜI MỞ ĐẦU Để có thể đưa ASEAN trở thành một thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất, có tính phát triển cao, phát triển đồng đều giữa các thành viên và hội nhập hoàn toàn vào nền kinh tế toàn cầu thì các quốc gia ASEAN đã đưa hợp tác kinh tế lên một tầm cao mới phù hợp với giai đoạn phát triển hiện nay của ASEAN. Chính vì vậy mà ý tưởng về thành lập một cộng đồng kinh tế của ASEAN (AEC) đã được đưa ra và đang từng bước trở thành hiện thực. Vậy AEC là gì? Mô hình liên kết của nó ra sao? Và triển vọng phát triển của nó đến năm 2015 như thế nào?. Chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu các vấn đề đó thông qua việc giải quyết đề tài: Bình luận mô hình liên lết và đánh giá triển vọng phát triển của Cộng đồng kinh tế ASEAN vào năm 2015. III. KẾT BÀI Như vậy, thông qua việc phân tích, đánh giá mô hình liên kết và triển vọng của AEC chúng ta có thể dễ dàng thấy rằng mặc dù còn nhiều việc phải làm nhưng chỉ sau bốn năm nữa, khi hình thành vào năm 2015, AEC cơ bản sẽ là một thị trường chung, một không gian sản xuất thống nhất dựa trên sự hội tụ mạnh mẽ chính sách, luật lệ và quy định liên quan đến thương mại và đầu tư. AEC sẽ phát huy lợi thế chung của khu vực ASEAN, từng bước xây dựng một nền kinh tế mang tầm khu vực năng động, có tính cạnh tranh cao trên thế giới, đem lại sự thịnh vượng chung cho nhân dân và quốc gia ASEAN.

doc9 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 25/03/2013 | Lượt xem: 3478 | Lượt tải: 11download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Bình luận mô hình liên lết và đánh giá triển vọng phát triển của cộng đồng kinh tế Asean vào năm 2015, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
I. LỜI MỞ ĐẦU Để có thể đưa ASEAN trở thành một thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất, có tính phát triển cao, phát triển đồng đều giữa các thành viên và hội nhập hoàn toàn vào nền kinh tế toàn cầu thì các quốc gia ASEAN đã đưa hợp tác kinh tế lên một tầm cao mới phù hợp với giai đoạn phát triển hiện nay của ASEAN. Chính vì vậy mà ý tưởng về thành lập một cộng đồng kinh tế của ASEAN (AEC) đã được đưa ra và đang từng bước trở thành hiện thực. Vậy AEC là gì? Mô hình liên kết của nó ra sao? Và triển vọng phát triển của nó đến năm 2015 như thế nào?. Chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu các vấn đề đó thông qua việc giải quyết đề tài: Bình luận mô hình liên lết và đánh giá triển vọng phát triển của Cộng đồng kinh tế ASEAN vào năm 2015. II. NỘI DUNG 1. Bình luận về mô hình liên kết của Cộng đồng kinh tế ASEAN 1.1. Khái quát về Cộng đồng kinh tế ASEAN và mô hình liên kết của Cộng đồng kinh tế ASEAN. a. Khái niệm Cộng đồng kinh tế ASEAN Ý tưởng về việc thành lập một cộng đồng kinh tế của ASEAN lần đầu tiên được thủ tướng Goh Chok Tong của Singapore chính thức đưa ra tại Hội nghị cấp cao ASEAN 8 ở Phnom Pênh vào tháng 11 năm 2002 với đề nghị ASEAN xem xét thành lập Cộng đồng kinh tế ASEAN. Sau đó, tại Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 9, trong Tuyên bố Bali II, các nhà lãnh đạo ASEAN đã nhất trí quyết định thực hiện ý tưởng trên và coi đây là một trong ba trụ cột để xây dựng Cộng đồng ASEAN. Khái niệm về Cộng đồng kinh tế ASEAN có thể được hiểu như sau: Cộng đồng kinh tế ASEAN là liên kết kinh tế của ASEAN, hình thành trên cơ sở một hệ thống thể chế và thiết chế pháp lý, nhằm xây dựng ASEAN trở thành một thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất, có tính cạnh tranh cao, phát triển đồng đều giữa các thành viên và hội nhập hoàn toàn vào nên kinh tế toàn cầu. Như vậy, khái niệm Cộng đồng kinh tế ASEAN không phải là một khái niệm kinh tế quốc tế thuần túy mà thực chất là một khái niệm pháp lý do các nhà lãnh đạo ASEAN xác lập và hoàn thiện trong các văn bản pháp lý của ASEAN. b. Mô hình liên kết của Cộng đồng kinh tế ASEAN Cấu trúc nội dung Theo các văn bản pháp lý của ASEAN, nội dung của AEC bao gồm: Thứ nhất, thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất. Một thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất của ASEAN bao gồm năm yếu tố cốt lõi: Tự do hóa thương mại hàng hóa; Tự do hóa thương mại dịch vụ; Tự do hóa đầu tư; Tự do hóa dòng vốn; Tự do di chuyển lao động ngành nghề. Ngoài ra, thị trường và cơ sở sản xuất cũng bao gồm hai thành phần quan trọng là: các lĩnh vực hội nhập ưu tiên; thực phẩm, nông nghiệp và lâm nghiệp. Thứ hai, khu vực kinh tế cạnh tranh cao. Có sáu yếu tố chủ yếu trong khu vực kinh tế cạnh tranh ASEAN: chính sách cạnh tranh, bảo vệ người tiêu dùng, quyền sở hữu trí tuệ, phát triển cơ sở hạ tầng, thuế và thương mại điện tử. Thứ ba, khu vực phát triển kinh tế đồng đều. Phát triển khu vực kinh tế đồng đều của AEC tập trung vào hai nội dung chính: phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) và thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các quốc gia thành viên. Thứ tư, khu vực hội nhập hoàn toàn vào nền kinh tế toàn cầu. Để làm được điều này thì AEC cần có cách tiếp cận thống nhất với các quan hệ kinh tế đối ngoại; tăng cường sự tham gia của ASEAN vào mạng lưới cung ứng toàn cầu. Phương thức xây dựng và thực hiện Để thực hiện các mục tiêu đã đề ra, ASEAN đã xác định phương thức xây dựng và thực hiện AEC như sau: Đẩy nhanh và hoàn thành các chương trình sáng kiến kinh tế hiện có với các “thời hạn rõ ràng”; Xây dựng các sáng kiến, chương trình và tiếp tục hoàn thiện cơ chế liên kết kinh tế; Áp dụng công thức – X trong hợp tác kinh tế để đẩy nhanh tiến độ hội nhập kinh tế; Phát triển nguồn lực và truyền thông; Tăng cường hợp tác với bên ngoài. Thiết chế pháp lý Thông qua các văn bản pháp lý về AEC, các thiết chế pháp lý của AEC được xác định bao gồm: - Hội nghị cấp cao ASEAN có quyền quyết tối cao đối với việc thi hành AEC như là một phần của Cộng đồng ASEAN. - Hội đồng điều phối ASEAN, gồm các bộ trưởng ngoại giao ASEAN, có trách nhiệm điều phối việc thi hành ba cộng đồng. - Hội đồng AEC bao gồm các bộ trưởng phụ trách lĩnh vực kinh tế của các nước thành viên ASEAN có trách nhiệm đưa ra các định hướng, chính sách, các biện pháp tăng cường hợp tác kinh tế của ASEAN và phối hợp với các cơ quan chuyên ngành cấp bộ trưởng về hợp tác kinh tế trong từng lĩnh vực cụ thể. Hội đồng AEC có hai cơ quan giúp việc là nhóm đặc trách cao cấp về hội nhập kinh tế ASEAN (HLTF) và hội nghị quan chức kinh tế cao cấp (SEOM). - Các cơ quan chuyên ngành cấp bộ trưởng, bao gồm: Hội nghị bộ trưởng kinh tế ASEAN (AEM); hội đồng khu vực thương mại tự do ASEAN (Hội đồng AFTA); Hội đồng khu vực đầu tư ASEAN (AIA); Hội nghị bộ trưởng tài chính ASEAN (AFMM); Hội nghị bộ trưởng nông – lâm nghiệp ASEAN (AMAF); Hội nghị bộ trưởng năng lượng ASEAN (AMEM); Hội nghị cấp bộ trưởng về khoáng sản ASEAN (AMMin); Hội nghị bộ trưởng khoa học và công nghệ ASEAN (AMMST); Hội nghị bộ trưởng ASEAN về viễn thông và công nghệ thông tin (TELMIN); Hội nghị bộ trưởng giao thông vận tải ASEAN (ATM); Hội nghị bộ trưởng du lịch ASEAN (M -ATM); Cơ quan hợp tác phát triển lưu vực sông Mekong của ASEAN (AMBDC); Trung tâm năng lượng ASEAN (ACE); Trung tâm ASEAN – Nhật Bản tại Tokyo. - Ban thư ký ASEAN Cấp độ liên kết Theo lý thuyết về hội nhập kinh tế quốc tế, xét về mặt nội dung, các liên kết khu vực được cấu thành từ một hoặc một số hoặc từ tất cả các nội dung sau: Sự tự do thương mại về hàng hóa; sự tự do thương mại về dịch vụ; sự tự do luân chuyển về đấu tư; sự tự do di chuyển lao động; thuế quan chung đối với bên ngoài; hài hòa hóa và phối hợp chính sách kinh tế vĩ mô; đông tiền và chính sách tiền tệ chung. Cũng căn cứ vào số lượng và tính chất các yếu tố trên, các liên kết kinh tế khu vực được phân thành các cấp độ: Câu lạc bộ thương mại ưu đãi (PTC); Khu vực thương mại tự do (FTA) hay còn gọi là khu vực mậu dịch tự do; Liên minh thuế quan (CU); Thị trường chung (CM); Liên minh kinh tế tiền tệ (EMU). Ta có thể biểu diễn các liên kết như sau: - Đồng tiền chung - Chính sách tiền tệ chung X - Phối hợp chính sách kinh tế X X - Tự do đầu tư - Tự do lao động X X X - Thuế quan chung X X X - Tự do hàng hóa - Tự do dịch vụ X X X X X Khu vực thương mại tự do Liên minh thuế quan Thị trường chung Liên minh kinh tế tiền tệ AEC 1.2. Một số nhận xét về mô hình liên kết của AEC Quan việc nghiên cứu mô hình liên kết của AEC, nhóm chúng tôi đưa ra một số nhận xét sau: Thứ nhất, có thể nói mô hình liên kết của AEC phù hợp với bối cảnh quốc tế và khu vực hiện nay. Với xu thế toàn cầu hóa và chuyển dịch sang nền kinh tế tri thức của nên kinh tế thể giới, xu thế bùng nổ các hiệp định thương mại tự do, sức ép cạnh tranh từ nền kinh tế Trung Quốc, tác động từ chiến lược kinh tế của những nước lơn… Cùng với đó là vấn đề hợp tác trong lĩnh vực kinh tế của ASEAN chưa có hiệu quả. Chính vì vậy mà ASEAN xây dựng Cộng đồng kinh tế là một lựa chọn khôn ngoan và phù hợp với bối cảnh tức thời. Nội dung liên kết của AEC giúp đưa ASEAN trở thành một thực thể kinh tế thống nhất; có khả năng bổ sung và khắc phục điểm yếu của từng quốc gia riêng lẻ trong cạnh tranh với Trung Quốc; phát huy lợi thế để trở thành địa chỉ đầu tư hấp dẫn; cũng để ASEAN có thể thực thi được chính sách trung lập, “đứng cách đều” và “cân bằng quyền lực” giữa các nước lớn. Mô hình liên kết của AEC phù hợp với ASEAN. Bởi lẽ về bản chất, ASEAN bao gồm các quốc gia thành viên mà giữa họ có sự khác biệt nhau rất lớn về thể chế chính trị, sự phát triển kinh tế - xã hội, sự đa dạng trong văn hóa. Nếu như không có sự gắn kết đặc biệt thì Cộng đồng kinh tế ASEAN khó có thể trở thành hiện thức. Với nội dung liên kết của AEC, các quốc gia trong thành viên của ASEAN tồn tại thống nhất trong một “thị trường và cơ sở thống nhất” của AEC. Từ đó tăng khả năng cạnh tranh với các nền kinh tế lớn. Thu hẹp khoảng cách giữa các quốc gia thành viên và thức đẩy sự hội nhập kinh tế hơn nữa của nhóm quốc gia kém phát triển trong khối để đảm bảo tất cả các quốc gia thành viên được hưởng lợi bình đẳng từ các lợi ích trong hội nhập kinh tế của khối. Thứ hai, AEC là mô hình liên kết chưa có tiền lệ trên thế giới. Hay nói một cách cụ thể hơn, AEC là một Thị trường chung “trừ” hoặc mộ khu vực tự do “cộng”. So với AFTA, AEC là cấp độ liên kết cao hơn. AEC hướng tới một thị trường chung có “4 quyền tự do” (tự do lưu chuyển 4 yếu tố của sản xuất: hàng hóa, dịch vụ, vốn và lao động), nhưng sự tự do các yếu tó dịch vụ, vốn và lao động chỉ ở mức yếu: “tự do một số lĩnh vực dịch vụ” chứ chưa phải là tất cả các lĩnh vực dịch vụ, “tự do di chuyển vốn hơn” so vơi trước đây chứ chưa phải hoàn toàn tự do di chuyển vốn và “tự do di chuyển lao động lành nghề” chứ chưa phải tự do di chuyển mọi hình thức lao động. Hay nói cách khác mô hình liên kết của AEC không thay thế mà bao hàm và nâng cấp các cơ chế, chương trình và sáng kiến sẵn có của ASEAN (AFTA, AFAS, AIA…). Nội dung liên kết và các biện pháp để có thể thực hiện được những nội dung đó không phải là những biện pháp hoàn toàn mới, mà là những biện pháp đã và đang được ASEAN triển khai trong khuôn khổ các thỏa thuận và hiệp định đã có và có thêm những biện pháp để tự do di chuyển hơn về vốn và lao động kỹ năng lành nghề. Thứ ba, so với liên minh kinh tế - tiền tệ của EU hiện nay (EUM) thì mức độ liên kết kinh tế của ASEAN còn thấp hơn nhiều bởi EU đã cho ra đời được đồng tiền EURO vào ngày 1/1/2002 và cấp độ liên kết khu vực của nó Liên minh kinh tế tiền tệ. AEC cũng không giống với EEC trước đây (từ năm 1968 EEC chuyển từ liên minh hải quan thành một thị trường chung). EEC bắt đầu từ một thị trường chung thống nhất cho một vài sản phẩm (than, thép…) để sau này phát triển thành thị trương chung cho mọi sản phẩm dưới sự điều phối mang tính siêu quốc gia của Ủy ban châu Âu. Nguyên tắc ra quyết định của AEC là nguyên tắc đòng thuận còn của EEC là nguyên tắc đa số. AEC không có đầu tàu kinh tế tương tự như Anh, Pháp, Đức trong ECC. AEC là một cộng đồng kinh tế mở và các nước thành viên AEC còn phụ thuộc nhiều vào thị trường xuất khẩu, vốn và công nghệ ở bên ngoài. Còn EU vẫn luôn là một trong những trung tâm kinh tế, khoa học kĩ thuật lớn nhất thế giới do đó mô hình liên kết kinh tế trong EU cao và sâu hơn so với AEC là điều dễ hiểu. EU có 4 thành viên thuộc Nhóm các nước G8, có thị trường rộng lớn… Sự hội nhập kinh tế của châu Âu thể hiện ở 4 chính sách chung là chính sách thương mại chung, chính sách ngư nghiệp chung, chính sách giao thông vận tải chung và chính sách nông nghiệp chung (là chính sách quan trọng nhất). Chính sách thương mại chung của EU không chỉ được thực hiện trong khuôn khổ hợp tác song phương, đa phương mà còn những ưu đãi đơn phương dành cho các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam Một điểm khác biệt nữa giữa AEC và EU là AEC là các nền kinh tế cộng chứ không phải là một thực thể kinh tế đơn nhất đã được nhất thể hóa như Liên minh kinh tế - tiền tệ châu Âu. Phương thức hợp tác của AEC vẫn là phương thức liên chính phủ và ra quyết định theo nguyên tắc đồng thuận. Điều này hoàn toàn khác so với “phương thức cộng đồng” của Cộng đồng kinh tế châu Âu, theo đó tất cả các vấn đề thuộc phạm vi của cộng đồng đều được các quốc gia thành viên chuyển giao chủ quyền cho Cộng đồng kinh tế châu Âu. Tuy nhiên, nguyên tắc đồng thuận đang gây trở ngại cho AEC bởi nguyên tắc này làm chậm quá trình hợp tác, hội nhập kinh tế của các quốc gia thành viên. Do sự đa dạng về thể chế chính trị, trình độ phát triển kinh tế và nhiều nét khác biệt về văn hóa – xã hội giữa các quốc gia thành viên nên quá trình thương lượng để có sự đồng thuận của tất cả các quốc gia thành viên thường kéo dài rất lâu. Một quyết định, một vấn đề…không được thông qua khi có một quốc gia thành viên không đồng ý. Trong khi đó, hội nhập kinh tế, hợp tác kinh tế… đòi hỏi sự quyết định nhanh chóng, kịp thời và nắm bắt được thời cơ để có thể hợp tác, phát triển. Chính vì vậy mà nguyên tắc thể hiện những hạn chế của nó trong lĩnh vực kinh tế. Để khắc phục những điểm yếu của nguyên tắc đồng thuận trong lĩnh vực kinh tế, tăng tính linh hoạt, năng động và đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế thì AEC áp dụng công thức – X trong quá trình thực hiện vấn đề kinh tế. Khác với công thức 2+X trước đây (cho phép các quốc gia thành viên có dủ điều kiện có thể thực hiện trước các hoạt động hội nhập kinh tế) chỉ phản ánh quá trình hội nhập đi từ số ít các quốc gia muốn “vượt trước”, công thức –X (ASEAN –X hay 10-X) cho phép các quốc gia chưa đủ điều kiện có thể thực hiện các cam kết kinh tế chậm hơn so với lộ trình chung những không được hưởng ưu đãi mở cửa từ các quốc gia thực hiện thoe lộ trình chung. Điều này phản ánh quá trình hội nhập đi từ số nhiều và một khả năng là những nước chậm trễ có thể bị đặt ra ngoài lề của quá trình đó. 2. Đánh giá triển vọng của Cộng đồng kinh tế vào năm 2015. Tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ bảy, tháng 1/2007 tại Xê-bu, Phi-li-pin, các nhà lãnh đạo ASEAN đã thông qua xây dựng Kế hoạch tổng thể và Lộ trình chiến lược thực hiện AEC với các biện pháp chi tiết và một thể chế thực thi chặt chẽ, đồng thời quyết định đẩy nhanh mục tiêu hoàn thành AEC vào năm 2015 mà theo dự kiến ban đầu của các nhà lãnh đạo ASEAN là vào năm 2020. Theo kế hoạch, từ năm 2015 AEC sẽ là một thị trường chung, một không gian sản xuất thống nhất. Thị trường ấy sẽ phát huy lợi thế chung của khu vực ASEAN để từng bước xây dựng một khu vực năng động, có tính cạnh tranh cao trên thế giới, đem lại sự thịnh vượng chung cho nhân dân và các quốc gia ASEAN. Điều mong đợi hơn cả là việc AEC có thể tạo nên sự liên kết chuỗi giữa các doanh nghiệp ASEAN, đóng góp vào việc xây dựng năng lực cạnh tranh của ASEAN với thế giới, từ đó góp phần giảm khoảng cách giàu nghèo, khoảng cách phát triển và thúc đẩy ổn định xã hội. Như vậy, AEC không đơn thuần là tập hợp của các cam kết tự do hóa thương mại, đầu tư mà được xây dựng dựa trên sự thống nhất, hài hòa cao về hệ thống tiêu chuẩn, quy trình quản lý hoạt động thương mại, đầu tư và khả năng điều phối chặt chẽ các chính sách vĩ mô giữa các nước thành viên. Tuy nhiên, đó chỉ là kế hoạch được các nhà lãnh đạo ASEAN đặt ra trong tương lai, thực tế, để xem xét kế hoạch đó có khả thi hay không chúng ta cần xét xem ASEAN đã và đang làm được những gì, gặp khó khăn và thuận lợi gì trong việc tiến tới xây dựng AEC ? Trước hết có thể khẳng định việc xây dựng thành công AEC trong năm 2015 là rất khả quan. Mặc dù trong quá trình đưa ra ý tưởng và xây dựng AEC có nhiều ý kiến trái chiều. Có ý kiến cho rằng, việc xây dựng AEC chỉ là ý tưởng khó thành hiện thực trong tương lai gần do có thách thức toàn cầu như khủng hoảng kinh tế, và sự khác biệt về trình độ phát triển kinh tế của các nước thành viên. Cũng có ý kiến cho rằng việc xây dựng AEC là điều không cần thiết trong khi nó đã có Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Khu vực Đầu tư ASEAN (AIA). Nhưng theo quan điểm của nhóm chúng tôi thì AEC sẽ được xây dựng theo đúng thời hạn vào năm 2015 đã đề ra. Có thể khẳng định như vậy vì: Thứ nhất, trong xu thế hiện nay, việc hình thành Cộng đồng kinh tế ASEAN là rất cần thiết. Bởi AEC được thành lập nhằm đáp ứng những đòi hỏi tất yếu bên trong của quá trình hội nhập của ASEAN. Sự bất ổn về chính trị, khoảng cách quá lớn về trình độ phát triển kinh tế giữa các thành viên và sức cạnh tranh thấp là những lý do đang làm giảm sút một hình ảnh ASEAN năng động trong mắt các nhà đầu tư nước ngoài. AEC hình thành, liên kết trong ASEAN sẽ được tăng cường , từ đó góp phần đối phó hữu hiệu với mối đe dọa cạnh tranh từ Trung Quốc và Ấn Độ. Cộng đồng kinh tế còn giúp cho các nước tránh khỏi nguy cơ bị hòa tan trong dòng chảy hội nhập…Vì vậy sự ra đời của AEC là hết sức cần thiết. Thứ hai, quá trình toàn cầu hóa và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ tiếp tục là hai nét đặc trưng của kinh tế thế giới thời gian tới, tạo ra những tác động thuận chiều cho việc xây dựng AEC. Tự do hóa thương mại, xu thế đàm phán và kí kết các hiệp định thương mại tự do song phương và khu vực tiếp tục được đẩy mạnh. Toàn cầu hóa cũng mang lại cho các nước thành viên ASEAN cơ hội tăng trưởng kinh tế cao, làm thay đổi cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao mức sống và thu nhập của người dân… Thứ ba, quá trình hợp tác liên kết ASEAN có cơ hội được thúc đẩy mạnh hơn do sự phát triển của liên kết kinh tế Đông Á. Sự nỗ lực hợp tác giữa các nước Đông Á có ảnh hưởng rất lớn đến triển vọng hợp tác, liên kết ASEAN vì ASEAN không chỉ là một bộ phận hợp thành quan trọng của Đông Á, mà ASEAN còn được coi là có vai trò nòng cốt, khởi xướng nhiều sáng kiến cho hợp tác Đông Á và châu Á, Thái Bình Dương trên lĩnh vực kinh tế và cả chính trị. Thứ tư, thực tiễn triển khai xây dựng AEC đã có những thành tựu đáng kể. Về thương mại hàng hóa, kể từ năm 2010, các nước ASEAN-6 áp dụng thuế suất bằng 0% đối với hầu hết các mặt hàng, 4 nước còn lại sẽ thực hiện vào năm 2015. Tiếp đó trên cơ sở Chương trình thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung (CEPT/AFTA), hiệp định ATIGA được xây dựng là chương trình giảm thuế thành công nhất của ASEAN từ trước đến nay, đồng thời cập nhật nhiều thỏa thuận mà ASEAN đã đạt được qua hơn 15 năm thực hiện CEPT/AFTA. Về thương mại dịch vụ, đầu tư Hiệp định Đầu tư toàn diện ASEAN (ACIA) đã được kí tại hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 14 (02/2009) để thay thế các hiệp định AIA và IGA. Việc thu hiện thu hẹp khoảng cách phát triển và hợp tác tiểu vùng đang được tích cực triển khai. Đến nay Kế hoạch hành động IAI đã thực hiện xong giai đoạn I gồm 134 dự án với số vốn huy động là hơn 48 triêu USD và đang tiến hành triển khai Kế hoạch hành động IAI giai đoạn II (2009-2015). Hợp tác kinh tế với các đối tác bên ngoài là một trọng tâm lớn trong hoạt động của ASEAN, trong đó EU, Mỹ, Nhật, Trung Quốc và Hàn Quốc là các đối tác nổi bật. ASEAN đã hoàn tất Hiệp định Khu vực mậu dịch tự do ASEAN- Ôxtraylia- Niudilân (02/2009) và Hiệp định đầu tư ASEAN- Hàn Quốc (06/2009). Điều này cho thấy ASEAN đã có rất nhiều nỗ lực để có thể hình thành AEC đúng thời hạn. Bên cạnh đó, chúng ta cũng không thể phủ nhận những khó khăn, thách thức mà ASEAN đã và sẽ gặp phải trên con đường xây dựng AEC. Có thể khái quát quá trình xây dựng AEC phải đối mặt với ba trở ngại lớn, nổi bật . Một là, vấn đề khoảng cách phát triển. Vấn đề khác biệt về định lượng (GNP, GDP bình quân đầu người...) có thể khắc phục theo thời gian, nhưng những khác biệt về chất (thể chế, chính sách...) thì không dễ dàng. Hai là, thị trường ASEAN là một thị trường “cộng” chứ không hoàn toàn “hòa nhập” của tất cả thị trường các nước thành viên, với những chính sách kinh tế không công khai, phát triển ở nhiều cấp độ, lại chủ yếu hướng ra bên ngoài chứ không phải vào thị trường nội khối. Ba là, ASEAN không có một nền kinh tế đầu tàu và một đồng tiền mạnh để dẫn dắt khu vực. Trong khi đó, viễn cảnh một "Cộng đồng kinh tế Đông Á" lại tỏ ra hấp dẫn hơn AEC do khu vực này có hai nền kinh tế lớn là Nhật Bản và Trung Quốc. III. KẾT BÀI Như vậy, thông qua việc phân tích, đánh giá mô hình liên kết và triển vọng của AEC chúng ta có thể dễ dàng thấy rằng mặc dù còn nhiều việc phải làm nhưng chỉ sau bốn năm nữa, khi hình thành vào năm 2015, AEC cơ bản sẽ là một thị trường chung, một không gian sản xuất thống nhất dựa trên sự hội tụ mạnh mẽ chính sách, luật lệ và quy định liên quan đến thương mại và đầu tư. AEC sẽ phát huy lợi thế chung của khu vực ASEAN, từng bước xây dựng một nền kinh tế mang tầm khu vực năng động, có tính cạnh tranh cao trên thế giới, đem lại sự thịnh vượng chung cho nhân dân và quốc gia ASEAN.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docBình luận mô hình liên lết và đánh giá triển vọng phát triển của Cộng đồng kinh tế ASEAN vào năm 2015.doc