Các câu hỏi ôn thi tư tưởng Hồ Chí Minh

Quá trình hình thành và phát triển tthcm. - Từ 1890-1911: giai đoạn hình thành tư tưởng yêu nước và trí hướng cách mạng. Bác tiếp thu truyền thống dt, hấp thụ vốn văn hóa quốc học và hán học, tiếp xúc với văn hóa tây phương, chứng kiến cuộc sống khổ cực của đồng bào. Bác nảy ý định đi tìm đường cứu nước. - Từ 1991-1920: giai đoạn tìm tòi, khảo nghiệm. Năm 1911, bác sang pháp, sau đó sang anh, mỹ.Năm 1913, người từ Mỹ qua lại anh tham gia công đoàn thủy thủ anh. Năm 1919, Người từ Anh lại sang Pháp vào lúc nổ ra CMT10 Nga, Pari sôi động tìm hiểu CMT10. Năm 1919, NAQ ra nhập Đảng xh Pháp. Tháng 8/1920, bác gửi bản yêu sách của nhân dân An-nam đến hội nghị Véc-xay. Đại hội 18 đảng xh pháp thảo luận vấn đề gia nhập quốc tế III, ngày 30/12/1920 HCM biểu quyết tán thành DCS pháp, trở thành người cộng sản ."

doc21 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 02/02/2013 | Lượt xem: 4532 | Lượt tải: 23download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Các câu hỏi ôn thi tư tưởng Hồ Chí Minh, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
người sáng lập nhà nước VN dân chủ, có công lớn trong sự nghiệp lập hiến và lập pháp: một mặt, Người chăm lo hoàn thiện Hiến pháp và hệ thống pháp luật của nhà nước ta, mặt khác, Người chăm lo đưa pháp luật và cuộc sống, tạo cơ chế đảm bảo cho pháp luật được thi hành, cơ chế kiếm tra, giám sát việc thi hành của các cơ quan nhà nước và của nhân dân. Để tiến tới 1 nhà nước pháp quyền mạnh mẽ, có hiệu lực, Bác hồ cho rằng, phải nhanh chóng đào tạo, bồi dưỡng nhằm hình thành một đội ngũ viên chức nhà nước có trình độ văn hóa, am hiểu pháp luật, thành thạo nghiệp vụ hành chính và nhất là phải có đạo đức cần kiệm liêm chính chí công vô tư, một tiêu chuẩn cơ bản của người cầm cân công lý. Để đảm bảo công bằng dân chủ trong tuyển dụng cán bộ nhà nước, Người ký sắc lệnh ban hành quy chế công chức. Công chức theo chế độ chức nghiệp, vì vậy phải qua thi tuyển công chức để bổ nhiệm vào nghạch, bậc hành chính. Nội dung thi tuyển khá toàn diện bao gồm 6 môn thi: chính trị, kt, pháp luật, địa lý, ls và ngoại ngữ. Điều này thể hiện tầm nhìn xa, tính chính quy hiện đại, tinh thần công bằng dân chủ...của tthcm trong việc xây dựng nền móng cho pháp quyền VN. 4-Tthcm về xây dựng nhà nước trong sạch, vững mạnh, hiệu quả Tăng cường pháp luật đi đôi với đẩy mạnh giáo dục đạo đức. Do tập quán của kt tiểu nông, muốn hình thành ngay 1 nhà nước pháp quyền là chưa được, vì vậy một mặt phải nhấn mạnh vai trò của luật pháp, đồng thời tăng cương tuyên truyền, giáo dục pháp luật trong nhân dân nhất là giáo dục đạo đức. Đạo đức và pháp luật là 2 hình thái ý thức xh có thể kết hợp với nhau. Bên cạnh giáo dục đạo đức, Người kịp thời ban hành pháp luật. Kiên quyết chống ba thứ "giặc nội xâm" là tham ô, lãng phí, quan liêu. Sức mạnh và hiệu quả của luật pháp, một mặt dựa vào tính nghiêm minh của thi hành pháp luật, mặt khác dựa vào sự gương mẫu, trong sạch về đạo đức của người cầm quyền. Bác nói: "tham ô, lãng phí,quan liêu, dù cố ý hay không, cũng là bạn đồng minh của thực dân phong kiến,...tôi lỗi ấy cũng nặng như tội việt gian, mật thám." Mác và ăngghen đã từng cảnh tỉnh cán bộ và nhân dân rằng chủ nghĩa quan liêu có thể dẫn các ĐCS cầm quyền đến chỗ "đánh mất 1 lần nữa chính quyền vừa giành được". Lênin cũng viết "...chúng ta bị khốn khổ trước hết về tệ quan liêu. Những người cộng sản đã trở thành tên quan liêu. Nếu có cái gì sẽ làm tiêu vong chúng ta thì chính là cái đó." Vì vậy không thể nói đến 1 nhà nước trong sạch vững mạnh, hiệu quả nếu không kiên quyết, thường xuyên đẩy mạnh cuộc đấu tranh về ngăn chặn tận gốc những nguyên nhân đã gây ra nạn tham ô, lãng phí, quan liêu. Vận dụng tthcm về xây dựng nhà nước VN ngang tầm nhiệm vụ của giai đoạn lịch sử mới. 1-Phát huy dân chủ đi đôi với tăng cường pháp chế XHCN, đảm bảo sự tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân. 2- Cải cách và kiện toàn bộ máy hành chính nhà nước, xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh. 3- Tăng cường sự lãnh đạo của đảng đối với nhà nước; gắn liền với xây dựng, chỉnh đốn đảng với cải cách bộ máy hành chính. Câu 7: Những quan niệm cơ bản của HCM về đại đoàn kết dân tộc. 1. Đại đoàn kết là vấn đề chiến lược, quyết định thành công của cách mạng Tư tưởng ĐĐK không phải là thủ đoạn chính trị nhất thời, không phải là sách lược mà là vấn đề mang tính chiến lược. Người xác định “đoàn kết là lẽ sinh tồn dân tộc ta, lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập tự do, trái lại thì nước ta bị xâm lấn” Từ khi Đảng ra đời, đoàn kết theo TTHCM thực sự là bộ phận hữu cơ trong đường lối CM của đảng, chỉ có đoàn kết mới có sức mạnh đưa CM tới thành công. CM là cuộc chiến đấu khổng lồ, không tập hợp được rộng rãi lực lượng quần chúng thì sẽ không thể thắng lợi. Chủ nghĩa thực dân thực hiện âm mưu chia để trị, vậy ta phải đoàn kết muôn người như một, phải thực hiện chữ “đồng” thì mới thành công. 2. Đại đoàn kết là đại đoàn kết toàn dân Khái niệm "dân" của HCM: "Dân" theo HCM là đồng bào, là anh em một nhà. Dân là không phân biệt già trẻ, trai gái, giàu, nghèo. Dân là toàn dân, toàn thể dân tộc Việt Nam, bao gồm dân tộc đa số, thiểu số, có đạo, không có đạo, tất cả những người sống trên dải đất này. Như vậy dân theo HCM có biên độ rất rộng, vừa được hiểu là mỗi cá nhân, vừa được hiểu là toàn thể đồng bào, nhưng dân không phải là khối đồng nhất, mà là một cộng đồng gồm nhiều giai tầng, dân tộc có lợi ích chung và riêng, có vai trò và thái độ khác nhau đối với sự pháp triển XH. Nắm vững quan điểm giai cấp của Mác-Lênin, HCM chỉ ra giai cấp công nhân, nông dân là những giai cấp cơ bản, vừa là lực lượng đông đảo nhất, vừa là những người bị áp bức bóc lột nặng nề nhất, có tinh thần cách mạng triệt để nhất, là gốc của CM. Vai trò của dân: HCM chỉ rõ dân là gốc của CM, là nền tảng của đất nước, là chủ thể của ĐĐK, là lực lượng quyết định mọi thắng lợi của CM. Phương châm: ĐĐK theo HCM là ai có tài, có đức, có lòng phụng sự tổ quốc và nhân dân, thật thà tán thành hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ thì ta thật thà đoàn kết với họ. Ba nguyên tắc đoàn kết: Muốn đoàn kết thì phải hiểu dân, tin dân, dựa vào dân, tránh phân biệt giai cấp đơn thuần, cứng nhắc, không nên phân biệt tôn giáo, dân tộc, cần xóa bỏ thành kiến, cần thật thà đoàn kết rộng rải. Người thường nói: Năm ngón tay có ngón vắn ngón dài, nhưng vắn dài đều hợp lại nơi bàn tay. Trong mấy mươi triệu người cũng có người thế này người thế khác, dù thế này, thế khác cũng đều là dòng dõi của tổ tiên ta. Muốn ĐĐK phải khai thác yếu tố tương đồng, hạn chế những điểm khác biệt giữa các giai tầng dân tộc, TG. . . Theo HCM, đã là người Việt nam (trừ Việt gian bán nước) điều có những điểm chung: Tổ tiên chung, nòi giống chung, kẻ thù chung là CN thực dân, nguyện vọng chung là độc lập, tự do, hòa bình thống nhất. . . . giai cấp và dân tộc là một thể thống nhất, giai cấp nằm trong dân tộc và phải gắn bó với dân tộc, giải phóng giai cấp công nhân là giải phóng cho cả dân tộc. Phải xác định rõ vai trò, vị trí của mỗi giai tầng XH, nhưng phải đoàn kết với đại đa số người dân lao động (CN, ND, Tri thức, các tầng lớp lao động khác . . .), đó là nền, là gốc của ĐĐK, nòng cốt là công nông. 3. Đại đoàn kết phải có tổ chức, có lãnh đạo Đoàn kết là vấn đề chiến lược, sống còn, không phải là tập hợp ngẫu nhiên, cảm tính, tự phát, mà được xây dựng trên một cơ sở lý luận khoa học. Do đó phải có tổ chức, lãnh đạo để hoàn thành mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH. Sau khi tìm ra con đường cứu nước, HCM luôn quan tâm tới việc hình thành các tổ chức để tập hợp mọi lực lượng, giai tầng cho phù hợp với yêu cầu của CM, trong đó Mặt trận Dân tộc Thống nhất là tổ chức rộng rãi nhất. Đây là điểm khác nhau về cơ bản so với mọi phong trào chống pháp trước đây. Cụ thể : Mặt trận Dân tộc Phản đế Đông Dương 1930-1931. Mặt trận Dân chủ Đông Dương 1936-1939. Mặt trận Việt Minh 1941-1951, Mặt trận Liên Việt (Hội Liên hiệp Quốc dân VN) 29.5.1946 (gồm những người yêu nước không đảng phái lập liên minh yêu nước: Bùi Bằng Đoàn, Huỳnh Thúc Kháng). 07-03-51, V-Minh và Liên Hiệp ĐH hợp nhất lấy tên Liên Việt. Mặt trận Tổ quốc Việt nam 09.55 Ở Miền Nam Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam 20.12.1960 ( Nguyễn Hữu Thọ chủ tịch). Liên minh các Lực lượng Dân tộc Dân chủ và Hòa bình Việt Nam (luật sư Trịnh Đình Thảo, chủ tịch). Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam 6-1969 (Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát, chủ tịch). Năm 1976, Mặt trận Tổ quốc VN ( miền bắc) + với MT dân tộc giải phóng MNVN + Liên minh các lưc lượng dân tộc dân chủ & HBVN đại hội, thống nhất thành lập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Năm nguyên tắc xây dựng Mặt trận: Nền tảng là liên minh công nông Lấy lợi ích tối cao của dân tộc gắn với lợi ích của các tầng lớp lao động làm cơ sở. Đó là độc lập, thống nhất tổ quốc, tự do, hạnh phúc cho người dân, dân giàu, nước mạnh. Đồng thời quan tâm tới lợi ích chính đáng của cá nhân, bộ phận, giải quyết thỏa đáng lợi ích chung và riêng. ĐĐK là lâu dài, chặt chẽ, thiết thực, rộng rãi, vững chắc. ĐĐK phải gắn bó với đấu tranh, đấu tranh để củng cố tăng cường đoàn kết, nêu cao tinh thần tự phê bình và phê bình, chống cô độc, hẹp hòi, đoàn kết một chiều Mặt trận phải do Đảng lãnh đạo, đây là nguyên tắc quan trọng nhất của ĐĐK. - Đảng là thành viên của mặt trận, nhưng là lưc lượng lãnh đạo Mặt trận, là linh hồn khối ĐĐK, Đảng là đảng giai cấp CN VN, vừa là đảng của nhân dân lao động và của dân tộc VN. - Đảng vừa là đạo đức, vừa là văn minh, Đảng phải tiêu biểu cho trí tuệ, lương tâm, danh dự của dân tộc. - Đảng phải là bộ phận trung thành nhất, có năng lực lãnh đạo, có đường lối đúng mới xứng đáng địa vị lãnh đạo mặt trận. Đảng cần tuyên truyền giáo dục, nêu gương, lấy lòng chân thành để cảm hóa, khêu gợi tinh thần tự giác, có thái độ tôn trọng các tổ chức đoàn thể mặt trận, biết lắng nghe người ngoài Đảng. Trong Đảng phải xiết chặt đoàn kết, Đảng viên phải biết giữ gìn sự đoàn kết nhất trí trong Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình. 4. Đoàn kết dân tộc phải gắn liền với đoàn kết quốc tế Đoàn kết trên lập trường giai cấp CN nghĩa là bao hàm cả đoàn kết quốc tế, tạo sự thống nhất giữa lợi ích dân tộc với lợi ích quốc tế, chủ nghĩa yêu nước chân chính gắn với chủ nghĩa quốc tế trong sáng. CM giải phóng dân tộc và CM XHCN ở nước ta muốn thành công đòi hỏi phải đoàn kết quốc tế để tạo sức mạnh đồng bộ và tổng hợp. Thực hiện đoàn kết quốc tế, HCM quan tâm đoàn kết cách mạng nước ta với các phong trào Cộng sản và công nhân quốc tế, với các phong trào giải phóng dân tộc ở các nước trên thế giới, các phong trào đấu tranh cho hòa bình, dân chủ tiến bộ. Người đặc biệt chú trọng xây dựng khối đoàn kết 3 nước đông dương, mặt trận VN –LÀO –CPC, mặt trận nhân dân thế giới đoàn kết với VN. Câu 8: Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại bao gồm những luận điểm nào? 1. Tính tất yếu của việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại Trong quá trình hoạt động lãnh đạo CM HCM đã tổng kết giá trị và sức mạnh truyền thống của dân tộc trường tồn suốt 4000 năm là CN yêu nước, yếu tố cố kết cộng đồng, anh hùng, dũng cảm, sáng tạo, cần cù, thông minh, nhân ái, vị tha, khoan dung, độ lượng. Tuy nhiên khi CNTB trở thành CNĐQ đi xâm lược thuộc địa thì chỉ dựa vào sức mạnh truyền thống sẽ không đủ sức giải phóng dân tộc. Trong quá trình tìm đường cứu nước, người đã tiếp cận sâu sắc CNĐQ, người ra sức hoạt động để tập hợp đoàn kết các lực lượng bị áp bức trên thế giới chống chủ nghĩa ĐQ. Đến với CN Mác-Lênin, người tìm thấy ở đó con đường cứu nước chân chính, trong đó độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, là chân lý của thời đại, CM tháng 10 Nga đã chứng minh điều đó. Sau cách mạng tháng 10 CNXH phát triển thành một hệ thống, phong trào CS và CNQT, phong trào giải phóng dân tộc, phong trào đấu tranh cho hòa bình, dân chủ, tiến bộ xã hội phát triển mạnh mẽ. Từ đó HCM đã sớm có ý thức đặt CMVN vào quỹ đạo CM vô sản thế giới, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của lực lượng cách mạng tiến bộ của thời đại. Nhờ sự kết hợp này mà những giá trị truyền thống dân tộc được nâng lên một trình độ mới, tạo nên những thắng lợi huy hoàng của CMVN.  2. Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại rất phong phú: -Một là, Hồ Chí Minh bao giờ cũng đặt cách mạng Việt Nam, cũng như cách mạng của mỗi nước trong tình hình nhiệm vụ chung của cách mạng thế giới và tác động qua lại giữa chúng. Hồ Chí Minh xác định cách mạng Việt Nam nằm trong phạm trù cách mạng vô sản, tức là thực hiện giải phóng dân tộc tạo tiền đề đưa đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội, góp phần cùng cách mạng thế giới đánh đổ chủ nghĩa tư bản, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Do vậy, cách mạng giải phóng dân tộc phải gắn với cách mạng vô sản, vấn đề thuộc địa trở thành vấn đề quốc tế. Khi gắn cách mạng giải phóng dân tộc với c thế giới, Hồ Chí Minh vẫn nhấn mạnh mỗi dân tộc có những đặc điểm riêng về lịch sử, xã hội, chính trị, kinh tế, những đặc điểm riêng của phương Đông và phương Tây, để trên cơ sở đó vạch ra chiến lược đấu tranh cho thích hợp. -Hai là, Hồ Chí Minh xác định vị trí, nhiệm vụ của cách mạng dân tộc với cách mạng thế giới. H chỉ ra cách mạng thuộc địa là một “cái cánh” của cách mạng vô sản. Chỉ có sự liên hiệp giữa các lực lượng này mới đánh thắng được chủ nghĩa đế quốc. Trong sự đoàn kết đấu tranh này, sức mạnh của cách mạng giải phóng dân tộc có vị trí to lớn trong cách mạng thế giới. Điều mới và sâu sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh là Người đã chứng minh được bọn đế quốc không chỉ áp bức, bóc lột nhân dân các nước thuộc địa mà còn thống trị, bóc lột nhân dân lao động và vô sản nước mình, chống lại phong trào cách mạng thế giới. Cho nên, nếu không có sự kết hợp sức mạnh của mỗi dân tộc với sức mạnh của nhân dân thế giới thì không thể giành thắng lợi được. Hồ Chí Minh đã thực hiện tài tình, sáng tạo về kết hợp cách mạng giải phóng dân tộc với cách mạng vô sản và phong trào đấu tranh của nhân dân lao động chống bóc lột trên thế giới trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi hoàn toàn. Thắng lợi đó xác định vị trí cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam với phong trào cách mạng thế giới và tác động trở lại của sức mạnh thời đại đối với cách mạng Việt Nam. -Ba là, Hồ Chí Minh xác định phải xây dựng tình hữu nghị và hợp tác, sự đoàn kết giữa các dân tộc và vó các nước. Tiếp thu và phát triển tư tưởng tiên tiến của nhân loại, nhất là của chủ nghĩa Mac-Lênin vể tình thương, về hữu nghị, hợp tác và đoàn kết quốc tế, Hồ Chí Minh nhận thức rằng: xây dựng tình hữu nghị và hợp tácgữa các dân tộc là sự đòi hỏi cấp thiết của mỗi dân tộc, của toàn thể nhân loại để đấu tranh cho độc lập, tự do và phát triển. Suốt cuộc đời, Hồ Chí Minh đã phấn đấu cho “tình hữu ái vô sản”. Nó được xây dựng trên cơ sở hợp tác toàn diện, chân thực, hai bên cùng có lợi, sự tôn trọng lẫn nhau giữa nhân dân tất cả các nước. Hồ Chí Minh đặc biệt chú ý xây dựng tình hữu nghị, hợp tác với các nước láng giềng và các nước trong khu vực. -Bốn là, Hồ Chí Minh chỉ rõ, trong khi kết hợp sức mạnh thời đại phải chú ý dựa vào sức mình là chính. Người chỉ ra, muốn người giúp mình thì trước hết mình phải tự giúp mình đã. Điều đó đòi hỏi, mỗi dân tộc phải xây dựng được lực lượng nội tại cho mình để tạo ra thế và lực mới. Khi có thế và lực thì mới có điều kiện để tiếp thu sự giúp đỡ và tranh thủ sức mạnh bên ngoài. Chỉ trên cơ sở như vậy, hợp tác quốc tế giữa các dân tộc mới thực hiện được. Để hợp tác quốc tế có kết quả, theo Người cần phải: Giữ vững độc lập tự chủ. Giữ vững được định hướng chính trị của sự phát đất nước. Chủ động, tỉnh táo, sáng suốt trong quan hệ quốc tế để phân biệt rõ đâu là bạn, đâu là thù. Khi thế giới có nhiều biến đổi phức tạp như hiện nay, thì việc quán triệt và thực hiện các nguyên tắc, nội dung của tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại càng cần thiết và có ý nghĩa to lớn. * thực tiễn Đảng vận dụng kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại Tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là nền tảng chính trị trong đường lối đổi mới của Đảng ta. Thấm nhuần Tư tưởng Hồ Chí Minh, các văn kiện của Đảng trong những năm đổi mới đều khẳng định sự cần thiết phải vận dụng sáng tạo tư tưởng kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại do Người nêu lên. Nghị quyết Đại hội VII của Đảng ( 1991 )khẳng định ; Trong điều kiện mới càng phải coi trọng vận dụng bài học kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế, yếu tố truyền thống với yếu tố hiện đại để phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Trong những năm đổi mới, quan điểm “ Làm bạn với các nước dân chủ và không gây thù oán với một ai” của Hồ Chí Minh được Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm và vận dụng sáng tạo. Văn kiện Đại hội IX của Đảng đã khẳng định : Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển. Trước nguy cơ “ diễn biến hoà bình”, trước việc một số thế lực phản động lợi dụng vai trò giúp đỡ, viện trợ, đặt nhân quyền cao hơn chủ quyền để can thiệp vào công việc nội bộ các nước, hiện nay, hơn lúc nào hết chúng ta cần quán triệt lời dạy của Hồ Chí Minh : Mỗi một người phải nhớ rằng có độc lập mới có tự lập, có tự cường mới có tự do. Người còn chỉ rõ ; Cố nhiên sự giúp đỡ của các nước là quan trọng nhưng không được ỷ lại, không được mong chờ người khác. Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập. Vận dụng tư tưởng trên đây của Hồ Chí Minh phù hợp với xu thế toàn cầu hoá và thời kì đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX khẳng định : chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường. Thực tiễn công cuộc đổi mới vì mục tiêu “ dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” ở nước ta trong suốt thời gian qua đã chứng minh rằng : Tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại luôn được Đảng ta quán triệt, vận dụng một cách sáng tạo và đưa lại những thành tựu to lớn, tạo thế và lực cho dân tộc ta vững bước vào thế kỉ XXI. Câu 10: Nguồn gốc hình thành nội dung tư tưởng nhân văn-đạo đức HCM? Truyền thống nhân văn của dt: "Thương người như thể thương thân", "Người trong 1 nước phải thương nhau cùng"; Truyền thống văn hóa Phương đông và phương tây: Sống có nhân nghĩa, luân lý, coi trọng đạo lý làm người. Đó là lòng từ bi của Phật giáo; đó là lòng báo ái của Thiên Chúa giáo; đó là tư tưởng nhân đạo của CMTS, nhất là CMTS pháp 1789, muốn tự do, bình đẳng, bác ái trong quan hệ giữa con người với con người... Cơ sở hoạt động thực tiễn của người: Quan hệ với nhiều tầng lớp nhân dân trong nước, nhất là nhân dân lao động; Đi nhiều nước trên thế giới, cả nước ĐQTB, cả các nước thuộc địa; Thấu hiểu cuộc sống, tình cảnh, ước vọng của các tầng lớp nhân dân trong xh; Bản thân người cũng đã trải qua nhiều cảnh thăng trầm, vất vả, tủi nhục trong cảnh nước mắt, nhà tan... 4- Chủ nghĩa nhân văn mác-xít: nhất là chủ nghĩa nhân đạo cộng sản, khát khao giải phóng cho toàn xh, cho mọi người, nhất là người lao động bị áp bức, bóc lột... * Nội dung tư tưởng nhân văn HCM? Tư tưởng nhân văn HCM có những nội dung nội dung cơ bản sau đây: 1- Con người là vốn quý nhất - nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng: HCM bao giờ cũng nói đến con người cụ thể, lịch sử. Trước khi là người cộng sản Bác nói đến con người trong phạm vi dt: con lạc, cháu hồng; con rồng, cháu tiên. Hai chữ đồng bào là khái niệm yêu thương con người, giống noi. Khi có ánh sáng của CNMLN, nhận thức về con người đã mở rộng "biên độ". Con người mà Bác nói là nhân dân lao động bị áp bức, bị bóc lột. Trong quan hệ xh Bác chia làm hai giống người: những người làm điều thiện và những người làm điều ác, bác đề cập tình hữu ái vô sản. Con người với ba nội dung thể hiện cốt lõi tư tưởng nhân văn HCM: - Một là, sự cảm thông sâu sắc mọi đau khổ của con người nô lệ và con người cùng khổ. - Hai là, quyết tâm hy sinh chiến đấu để g/phóng con người và đem lại tự do h/phúc cho con người. - Ba là, tin tưởng tuyệt đối vào khả năng tự giải phóng con người và không ngừng rèn luyện, phát huy khả năng ấy. HCM đề cập đến con người theo nhiều phạm vi khác nhau và nghĩa rộng, hẹp khác nhau. Nghĩa hẹp, con người chỉ phạm vi gia đình, anh em, họ hàng, bạn bè. Nghĩa rộng, trong phạm vi quốc gia là đồng bào cả nước. Nghĩa rộng, trong phạm vi quốc tế là nhân loại. HCM đặt con người trong quan hệ gắn bó với khối thống nhất của cộng đồng dt, nhưng không phải là 1 khối đồng nhất mà bao gồm nhiều dt, nhiều giai cấp, nhiều tầng lớp, có lợi ích riêng và chung, có thái độ và vai trò khác nhau đối với sự phát triển của xh. Vì vậy, nói đến con người trước hết là nói đến dân, tuyệt đại đa số nhân dân bao gồm công nhân, nông dân, trí thức, vừa là lực lượng đông đảo trực tiếp tham gia lao động sx, vừa là lực lượng có tinh thần, tiềm lực cách mạng to lớn nhất. Theo bác con đường có ba hạng: tích cực, bình thường, kém. HCM có tình yêu thương vô hạn đối với con người. Thương nước, thương dân, thương nhân loại bị áp bức và bác ham muốn tột bậc là "nước ta được độc lập, dân ta được tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành". Tình yêu thương của bác luôn đứng trên lập trường của giai cấp vô sản, nhận thức và hành động theo nguyên tắc của CNMLN, đồng cảm với các dt bị áp bức, HCM có khát vọng giải phóng không chỉ riêng cho dt mình mà cho các dt bị áp bức trên TG. HCM yêu dân còn thể hiện ở niềm tin vào dân. CM là sự nghiệp của quần chúng nhân dân, phải tin dân, dựa vào dân. Tình yêu thương vĩ đại của HCM còn thể hiện ở chỗ suốt đời đấu tranh cho tự do và hạnh phúc của mọi người. Lo cho thiên hạ trước, lo cho mình sau. HCM yêu thương con người, quí trọng con người, kinh trọng nhân dân, chăm lo cho dân. Con người là vốn quí nhất, quí trọng sinh mạng của dân, trong đấu tranh cố gắng ít hy sinh tính mạng. Quý dân, tiết kiệm sức dân, tôn trọng sức và tài của dân, lắng nghe ý kiến của dân. Chăm lo đời sống của dân: "việc gì có lợi cho dân thì hết sức làm dù nhỏ mấy. Việc gì có hại cho dân thì hết sức tránh." Mọi chủ trương chính sách pháp luật phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của dân. 2- Con người vừa là mục tiêu của giải phóng, vừa là động lực của cách mạng: Mục tiêu của cách mạng là giải phóng con người, mang lại tự do, hạnh phúc cho con người; nhưng sự nghiệp giải phóng là do chính con người thực hiện. Với tư cách là mục tiêu của cách mạng, mọi chủ trương đường lối, chính sách của đảng phải vì dân, vì lợi ích của dân. Bao nhiêu lợi ích cũng vì dân. Dân trước hết là GCCN, liên minh với nông dân, trí thức cũng là một tầng lớp cần coi trọng. Với tư cách là động lực của cách mạng, cần phải tổ chức và thức tỉnh hàng chục triệu nông dân, phải thức tỉnh và tổ chức toàn thể GCCN. Có như vậy mới tạo ra sức mạnh to lớn để có thể làm cách mạng thành công. Lịch sử đã chứng minh, quần chúng nhân dân là lực lượng sáng tạo cơ bản, có dân là có tất cả. Phải có chiến lược trồng người. "Vì lợi ích 10 năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người". Xuất phát từ sự đánh giá đúng con người và hiểu biết con người, theo bác cần khơi dậy tính cách tốt, thiện của con người. Phương đông, con người ngưỡng mộ đạo là gương "1 tấm gương sống còn hơn 100 bài diễn văn tuyên truyền". 3. "Trồng người" là chiến lược hàng đầu của cách mạng: HCM có quan điểm coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực. Con người có ý nghĩa chiến lược của sự nghiệp cách mạng ở VN. Muốn xây dựng CNXH, trước hết cần có con người XHCN. Con người trong thời đại mới phải có học thức, chiếm lĩnh đỉnh cao của KHKT. Vì vậy CNXH mới đủ tiềm lực vật chất để chiến thắng CNTB, mới làm cách mạng thắng lợi. Xây dựng con người mới phải toàn diện: có mục đích và lối sống cao đẹp, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có chính kiến. Xây dựng con người có ý thức làm chủ, tự lực, tự cường, gắn quyền lợi và nghĩa vụ. Luôn phấn đấu cho độc lập dt và CNXH. Con người có niềm tin và lạc quan cách mạng. Con người có trí tuệ, trình độ học vấn cao, ngày càng tiến bộ. Con người có sức khỏe. Con người có lòng khoan dung, độ lượng. Dân tộc ta "chỉ đánh kẻ chạy đi, không đánh người chạy lại". Để trồng người, xây dựng con người vừa có cá tính vừa có thể phát triển mọi mặt phải có nhiều biện pháp. Theo HCM, giáo dục là biện pháp quan trọng nhất. Cần hiểu mối quan hệ giữa "tính người " và giáo dục. Tính người vốn thiện và ác, và đây là phạm trù được nho giáo quan tâm. HCM cho rằng "tính người " do giáo dục và nó gắn liền với hoạt động thực tiễn của con người. "Óc của trẻ em trong sạch như tấm lụa trắng. Nhuộm xanh thì nó sẽ xanh. Nhuộm đỏ thì nó sẽ đỏ. Vì vậy sự học tập ở trong trường có ảnh hưởng rất lớn cho tương lai của thanh niên". Nghị quyết Trung ương II, khóa VIII (1996) có nêu định hướng chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000 và 2020. Cần đưa nghị quyết đi vào cuộc sống. HCM coi trọng việc nâng cao dân trí cho toàn dt. Người hướng mọi hoạt động văn hóa, giáo dục, tư tưởng vào việc rèn luyện dt ta thành dt cách mạng và văn minh. HCM nêu khẩu hiệu: Diệt giặc đói, diệt giặc dốt. Bác đi đầu trong việc khai dân trí. Mở các lớp xóa mù chữ, các lớp bình dân học vụ. Người nói: "một dân tộc dốt là 1 dân tộc yếu". Câu 9: Tthcm về đạo đức? Vận dụng tư tưởng nhân văn - đạo đức HCM trong điều kiện đất nước hiện tại? Vị trí, vai trò, sức mạnh của đạo đức: Đạo đức là 1 trong những vấn đề quan tâm hàng đầu của HCM trong sự nghiệp CMVN. - Đánh giá của đảng ta về tư tưởng đạo đức của HCM: Năm 1951, Đại hội 2, tư tưởng của HCM là đường lối chính trị của đảng ta; đạo đức của HCM là đạo đức của đảng; tác phong của HCM là nền nếp làm việc của đảng ta. Năm 1960, đại hội 3, toàn đảng ra sức học tập tư tưởng, đạo đức, tác phong của HCM. Năm 1982, Đại hội 5 toàn đảng học tập 1 cách có hệ thống tư tưởng, đạo đức, tác phong của HCM. Năm 2001, đại hội 9 phát động phong trào học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, tác phong của HCM. Tư tưởng của Chủ tịch HCM nói chung là nền tảng tư tưởng và kim chỉ Nam cho hành động của đảng ta. Tư tưởng đạo đức là bộ phận kết tinh của tư tưởng HCM nói chung. - Các thế hệ người vn phấn đấu cho độc lập dt đến với HCM trước hết là đến với tư tưởng đạo đức của người. "Sống, chiến đấu, lao động, học tập theo gường Bác hồ vĩ đại" là khẩu hiệu chung của người VN. - Tư tưởng đạo đức và bản thân đạo đức của HCM là kết tinh đạo đức của dt, của nhân loại. HCM là điểm sáng về đạo đức đối với TG và đối với VN. Bác nói: "Đối với phương đông, một tấm gương sống còn giá trị hơn 100 bài diễn văn tuyên truyền." - Bác hồ luôn kết hợp giáo dục đạo đức với giáo dục lý tưởng cách mạng. - Vấn đề đạo đức của HCM được quan tâm toàn diện: đối tượng, phạm vi, tất cả các lĩnh vực hoạt động người. HCM coi đạo đức là nền tảng của người cách mạng, cũng giống như gốc của cây, ngọn nguồn của sông, của suối. Như đối với con người, sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng. Bởi lẽ con đường đi đến độc lập dt và CNXH là con đường dài, đòi hỏi sự phấn đấu không ngừng của mỗi người, mỗi thế hệ và nhiều thế hệ nối tiếp nhau. Chăm lo cái gốc, cái nguồn, cái nền tảng ấy là công việc thường xuyên của toàn đảng, toàn dân, của mỗi gia đình và mỗi người trong xh ta. Theo Lênin, "đạo đức là những gì góp phần phá hủy xh cũ của bọc bóc lột và góp phần đoàn kết tất cả những người lao động chung quanh giai cấp vô sản đang sáng tạo ra xh mới của những người cộng sản." HCM cho rằng, đảng "là đạo đức, là văn minh", thì mới hoàn thành sứ mệnh lịch sử vẻ vang của minh. Đảng cộng sản phải tiêu biểu cho trí tuệ, danh dự, lương tâm của dt mình và của thời đại. Trí tuệ là sự hiểu biết đúng đắn về CNMLN, tri thức hiện đại của nhân loại, thực tiễn VN và TG, những quy luật phát triển của CMVN, những hiểu biết để đưa sự nghiệp cách mạng đến thắng lợi. Đạo đức là những phẩm chất mà con người cần có để tham gia vào cuộc đấu tranh cho độc lập dt và CNXH. Muốn làm cách mạng thì con người cần có tâm trong sáng, đạo đức cao đẹp đối với GCCN, nhân dân lao động, với cả dt. Cái tâm ấy phải thể hiện trong các mối q/hệ xh hằng ngày với dân, với nước, với đồng chí, đồng nghiệp, với mọi người xung quanh mình. Phải có tâm có đức mới giữ được CNMLN và đưa chủ nghĩa MLN vào trong cuộc sống. HCM cũng quan tâm giáo dục đạo đức cho cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân lao động. Tùy theo từng thời kỳ cách mạng mà người đề ra những yêu cầu đạo đức sát hợp để mọi người cùng phấn đấu. Trong cuốn Đường kách mệnh, bài đầu tiên nói về tư cách người cách mệnh. HCM đã nêu 1 quan điểm lớn: phải có cái đức để đi đến cái trí, và khi có trí thì cái đức đảm bảo cho người cách mạng giữ vững được chủ nghĩa mà mình đã giác ngộ, chấp nhận, đi theo. Có đức nhưng phải có tài, hồng và chuyên phải kết hợp. Đạo đức là gốc, là vũ khí mạnh mẽ trong cuộc đấu tranh vì độc lập dt và CNXH. 2.Những phẩm chất đạo đức cơ bản của con người VN trong thời đại mới. + Trung với nước, hiếu với dân. Trong mối quan hệ đạo đức thì mối quan hệ giữa mỗi người với đất nước, với nhân dân, với dt là mối quan hệ lớn nhất. Trung, hiếu là phẩm chất quan trọng nhất, bao trùm nhất. Trung, hiếu là những khái niệm đã có trong tư tưởng, đạo đức truyền thống VN và phương đông. HCM vận dụng và đưa vào nội dung mới. Trước kia trung là trung với vua, vì vua và nước là một, nước là của vua. Con hiếu chỉ trong phạm vi gia đình là con cái có hiếu với cha mẹ. HCM đã kế thừa những giá trị đạo đức truyền thống và vượt trội. Trung với nước là trung thành với sự nghiệp giữ nước và dựng nước. Nước là của dân, còn nhân dân là chủ của đất nước. "Bao nhiêu quyền hạn đều của dân, bao nhiêu lợi ích đều vì dân". Trung với nước, hiếu với dân là suốt đời phấn hy sinh độc lập tự do của tổ quốc, vì CNXH, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Bác vừa kêu gọi hành động vừa định hướng chính trị - đạo đức cho mỗi người VN. Đối với cán bộ đảng viên phải suốt đời đấu tranh cho đảng, cho cách mạng, đó là điều chủ chốt của đạo đức cách mạng. Phải tuyệt đối trung thành với đảng, với dân, phải tận trung, tận hiếu, thì mới xứng đáng vừa là đầy tớ trung thành, vừa là người lãnh đạo của dân; dân là đối tượng để phục vụ hết long. Phải nắm vững dân tình, hiểu rõ dân tâm, cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí để dân hiểu được quyền và trách nhiệm của người chủ đát nước. + Yêu thương con người. Kế thừa truyền thống nhân nghĩa của dân tộc, kết hợp truyền thống nhân nghĩa với chủ nghĩa nhân đạo cộng sản, tiếp thu tinh thần nhân văn của nhân loại qua nhiều thế kỷ, qua hoạt động thực tiễn, HCM đã xác định tình yêu thương con người là phẩm chất đạo đức cao đẹp nhất. Tình yêu rộng lớn dành cho những người cùng khổ, những người lao động bị áp bức, bóc lột. HCM chỉ ham muốn cho đất nước được hoàn toàn độc lập, dân được tự do, mọi người ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Chỉ có tình yêu thương con người bao la đến như vậy mới có cách mạng, mới nói đến CNXH và CNCS. Tình yêu thương con người còn là tình yêu bạn bè, đồng chí, có thái độ tôn trọng con người, điều này có ý nghĩa đối với người lãnh đạo. Nghiêm khắc với mình, độ lượng với người khác. Phải có tình nhân ái với cả những ai có sai lâm, đã nhận rõ và cố gắng sửa chữa, đánh thức những gì tốt đẹp trong mỗi con người. Bác căn dặn đảng phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau, trên nguyên tắc tự phê bình và phê bình chân thành. + Cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư. Cần là lao động cần cù, siêng năng, lao động có kế hoạch, sáng tạo năng suát cao; lao động với tinh thần tự lực cánh sinh, không lười biếng, không ỷ lại, không dựa dẫm. Lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của con người. Kiệm là tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thì giờ, tiết kiệm tiền của nhân dân, của đất nước, của bản thân mình. Tiết kiệm từ cái nhỏ đến cái to; "không xa sỉ, không hoang phí, không bừa bãi". Liêm là "luôn luôn tôn trọng giữ gìn của công và của dân; không xâm phạm một đồng xu, hạt thóc của nhà nước, của nhân dân". Phải trong sạch, không tham lam. Không tham địa vị, không tham tiền, không tham sung sướng. Không tâng bốc mình. Chỉ có một thứ là ham học, ham làm, ham tiến bộ. Hành vi trái với liêm là: ...cậy quyền thế mà đục khoét, ăn của dân, hoặc trộm của công làm của riêng. Dìm người giỏi, để giữ địa vị và danh tiếng của mình là trộm vị. Gặp việc phải, mà sợ khó nhọc nguy hiểm, không dám làm là tham úy lạo. Cụ không nói: người mà không liêm, không bằng súc vất. Cụ mạnh nói: ai cũng tham lợi thì nước sẽ nguy. Chính là thẳng thắng, đứng đắn. Đối với mình, với người, với việc. -Đối với mình, không tự cao, tự đại, luôn chịu khó học tập cầu tiến bộ, luôn kiểm điểm mình để phát huy điều hay, sửa đổi điều dở. -Đối với người, không nịnh hót người trên, xem khinh người dưới; luôn giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đ/kết, không dối trá, lừa lọc. Đối với việc, để công việc lên trên việc tư, làm việc gì cho đến noiư, đến chốn, không ngại khó, nguy hiểm, cố gắng làm việc tốt cho dân cho nước. Chí công vô tư, làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, khi hưởng thụ thì nên đi sau. "Phải lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ". Tính tốt có thể gồm 5 điều: nhân, nghĩa, trí dũng, liêm. Bồi dưỡng phẩm chất đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là để vững vàng qua mọi thử thách: "Giàu sang không quyến rũ, nghèo khó không thể lay chuyển, uy vũ không thể khuất phục". + Tinh thần quốc tế trong sáng. Đó là tinh thần quốc tế vô sản, bốn phương vô sản đều là anh em. Đó là tinh thần đoàn kết với các dt bị áp bức, với nhân dân lao động các nước. Đó là tinh thần đoàn kết của nhân dân VN với tất cả những người tiến bộ trên TG vì hòa bình, công lý và tiến bộ xh. Sự đoàn kết là nhằm vào mục tiêu lớn của thời đại hòa bình, độc lập dt, dân chủ và tiến bộ xh. 3.Những nguyên tắc xh đạo đực mới: + Nói đi đôi với làm. Nói và làm luôn đi đôi với nhau đem lại hiệu quả thiết thực cho chính mình và cho người khác. Nói mà không làm gọi là đạo đức giả. Từ đó Bác trong giáo dục đạo đức vấn đề nêu gương được đặt ra. "Trước mắt quần chúng không phải ta cứ viết lên trán chữ "cộng sản" mà tà được họ yêu mến. Quần chúng chỉ yêu mến những người có tư cách đạo đức". + Xây đi đôi với chống. Xây dựng đạo đức mới trước hết phải giáo dục những phẩm chất, những chuẩn mực đạo đức từ gia đình, nhà trường, xh. Phải khơi dậy ý thức đạo đức lành mạnh ở mọi người. Bên cạnh đó, phải không ngừng chống lại những cái xấu, cái sai, vô đạo đức. Để xây và chống có kết quả phải tạo thành phong trào rộng rãi, phải chống lại chủ nghĩa cá nhân. + Phải tu dưỡng đạo đức suốt đời. Mỗi người phải thường xuyên chăm lo tu dưỡng đạo đức đó là công việc kiên trì bền bỉ, không thể chủ quan tự mãn. "Một dt, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đãi, có sức hấp dẫn lớn, không nhất thiết hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân". Mỗi người ai cũng có điều tốt và dở, thiện và ác. Phải đánh thức những gì tốt đẹp trong mỗi con người. Việc tu dưỡng đạo đức phải thực hiện trong thực tiễn hoạt động hằng ngày, trong lao động sx, chiến đấu, sinh hoạt...và thể hiện trong mối quan hệ hàng ngày. Câu 11: Tư tưởng Hồ chí minh về văn hóa? Những quan điểm chung của HCM về văn hóa. + Văn hóa là toàn những sáng tạo và phát minh. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nói mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu của đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn. Văn hóa là bộ phận của kiến trúc thượng tầng, là đời sống tinh thần của xh. Chính trị, xh được giải phóng thì văn hóa mới được giải phóng. Chính trị giải phóng mở đường cho văn hóa phát triển. HCM đã vạch ra đường lối: phải tiến hành cách mạng chính trị trước, cụ thể là cách mạng gpdt để giành chính quyền, từ đó giải phóng văn hóa, mở đường cho văn hóa phát triển. "Xã hội thể nào thì văn hóa thế ấy. Văn nghệ của ta rất phong phú, nhưng dưới chế độ thực dân và phong kiến nhân dân ta bị nô lệ, thì văn nghệ cũng bị nô lệ, bị tồi tàn, không thể phát triển được." Xây dựng kt để tạo điều kiện cho việc xây dựng và phát triển văn hóa. "Văn hóa là kiên trúc thượng tầng; nhưng cơ sở hạ tầng của xh có kiết thiết rồi thì văn hóa mới được kiến thiết và có đủ điều kiện phát triển được". Như vậy, văn hóa phải ở trong kt và chính trị. Văn hóa phải phục vụ nhiệm vụ chính trị, thúc đẩy xây dựng và phát triển kinh tế. Trong kháng chiến, Người định hướng hoạt động văn hóa, thực hiện khẩu hiệu: "văn hóa hóa kháng chiến, kháng chiến hóa văn hóa", những người hoạt động văn hóa cũng là chiến sĩ trên mặt trận văn hóa. + Chức năng của văn hóa. - Một là, bồi dưỡng tư tưởng đạo đức đúng đắn và tình cảm cao đẹp cho con người. Người thường xuyên quan tâm đến bồi dưỡng lý tưởng cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân. Đó là chức năng cao quý của văn hóa. HCM nói phải làm cho văn hóa soi đường cho quốc dân đi, đi sâu vào tâm lý quốc dân, để xây dựng tình cảm cho con người. - Hai là, nâng cao dân trí, "mọi người phải hiểu biết quyền lợi của mình...phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà, và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ". Khi miền bắc quá độ lên CNXH, người nói "chúng ta phải một nước dốt nát, cực khổ thành 1 nước văn hóa cao và đời sống vui tươi hạnh phúc". - Ba là, bồi dưỡng những phẩm chất tốt đẹp, những phong cách lành mạnh, luôn hướng con người vươn tới chân, thiện, mỹ để không ngừng hoàn thiện bản thân mình. + Tính chất của văn hóa: Tính dân tộc Tính khoa học Tính đại chúng Tthcm về 1 số lĩnh vực chính của văn hóa + Văn hóa giáo dục: Trong nền giáo dục phong kiến, kinh viện xa rời thực tiễn, coi kinh sách của thánh hiền là đỉnh cao của tri thức. Giáo dục phong kiến hướng tới kẻ sĩ, người quân tử, bậc trượng phu, phụ nữ bị tước quyền học. Trong nền giáo dục thực dân, không mở mang trí tuệ, thực hiện ngu dân. Đó là nền văn hóa đồi bại, xảo trá và nguy hiểm hơn cả sự dốt nát. Nền giáo dục của nước VN sau khi được độc lập là nền giáo dục mới. - Mục tiêu của giáo dục là thực hiện cả ba chức năng của văn hóa bằng dạy và học. Đó là đào tạo những con người mới có đức có tài. Học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Cải tạo tri thức cũ, đào tạo tri thức mới. Đào tạo những lớp người kế tục sự nghiệp cách mạng x/dựng đất nước giàu mạnh và văn minh. Mở mang dân trí từ việc xóa nạn mù chữ, chống giặc dốt, kết hợp phổ cập và nâng cao. - Phải cải cách giáo dục, xây dựng hệ thống trường, lớp với chương trình và nội dung dạy học thật khoa học, hợp lý, phù hợp với bước phát triển của ta. Phải luôn gắn giáo dục với thực tiễn VN, học đi đôi với hành, học kết hợp với lao động sản xuất. Giáo dục phải có tính định hướng đúng đắn, rõ ràng, thiết thực - Học ở mọi nơi, mọi lúc, học mọi người; học suốt đời; coi trọng việc tự học, tự đào tạo và đào tạo lại. "Học không biết chán, học không bao giờ đủ, còn sống còn phải học" - Phải không ngừng nâng cao dân trí. Học tập văn hóa gắn với học tập khoa học kỹ thuật. + Văn hóa văn nghệ: - Văn nghệ là mặt trận, nghệ sỹ là chiến sỹ, tác phẩm văn nghệ là vũ khí sắc bén trong đấu tranh cách mạng, trong xây dựng xh mới, con người mới. "Ngòi bút của các bạn cũng là những vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính, trừ tà". "Cũng như các chiến sỹ khác, chiến sỹ nghệ thuật có nhiệm vụ nhất định, tức là phụng sự tổ quốc, phụng sự kháng chiến, phụng sự nhân dân, trước hết là công, nông, binh. Để làm tròn nhiệm vụ, chiến sỹ nghệ thuật cần có lập trường vững vàng, tư tưởng đúng...đặt lợi ích của kháng chiến, của tổ quốc, của nhân dân lên trên hết." - Văn nghệ phải gắn với thực tiễn của đời sống nhân dân. "Thật là 1 thế giới thần tiên. Nhưng tôi nhớ mường tượng như Lỗ Tấn, nhà đại văn hào của cách mạng Trung Hoa đã nói 1 câu đại ý như thế này: Người trần lên tiên có lẽ cũng thích thật. Nhưng nhìn mãi cái đẹp không thay đổi rồi cũng thấy chán, thấy nhật nhẽo và mới biết rằng muốn tìm thấy sự thay đổi, sự ham mê thật thì phải trở về với cuộc sinh hoạt thực tại của con người." Thực tại đem lại nguồn sinh khí vô tận cho văn nghê. Chiến sỹ văn nghệ phải thật hòa mình với quần chúng và không được quên rằng "...chỉ có nhân dân mới nuôi dưỡng cho sáng tác của nhà văn bằng những nguồn nhựa sống. Còn nếu nhà văn quên điều đó-thì nhân dân cũng sẽ quên anh ta." Thực tiễn không chỉ là nguồn nuôi dưỡng những sáng tác, mà còn là những tinh hoa trong sáng tác dân gian đã được chắt lọc từ thế hệ này qua thế hệ khác. Nhân dân cũng sáng tác văn hóa văn nghệ và hưởng thụ văn nghệ, chúng ta thường gọi là sáng tác dân gian. Những sáng tác ấy là "những hòn ngọc quý". - Phải có những tác phẩm văn nghệ xứng đáng với thời đại mới của đất nước và của dân tộc. Phải phản ánh cho hay, cho chân thật sự nghiệp của cách mạng của nhân dân. "Quần chúng mong muốn những tác phẩm có nội dung chân thật và phong phú, có hình thức trong sáng và vui tươi. Khi chưa xem thì muốn xem, xem rồi thì bổ ích". "Cần làm cho món ăn tinh thần được phong phú, không nên bắt mọi người chỉ được ăn 1 món thôi. Cũng như vào vườn hoa, cần cho mọi người thấy nhiều loại hoa đẹp." Như vậy văn nghệ phản ánh chân thực những gì đã có trong đời sống của nhân dân, mà còn hướng dẫn nhân dân loại bỏ cái giả, cái sai, cái không đúng, để vươn tới cái lý tưởng, đó chính là sự phản ánh có tính hướng đích của văn nghệ. Chính điều đó mở đường cho sáng tạo không giới hạn của văn nghệ sĩ. + Văn hóa đời sống Quan điểm xây dựng đời sống mới thực sự là quan điểm độc đáo của HCM về văn hóa. Khái niệm đời sống mới bao gồm cả đạo đức mới, lối sống mới và nếp sống mới, ba nội dung ấy có quan hệ mật thiết với nhau, trong đó đạo đức đóng vai trò chủ yếu. - Đạo đức mới. Theo HCM là thực hành đời sống mới cần, kiệm, liêm chính. - Lối sống mới. Đó là lối sống văn minh, tiên tiến, kết hợp hài hòa truyền thống tốt đẹp của dt và tinh hoa văn hóa của nhân loại. Cần phải "sửa đổi những việc rất cần thiết, rất phổ thông, trong đời sống của mọi người, tức là sửa đổi cách ăn, cách mặc, cách ở, cách đi lại, cách làm việc". Năm cách phải sửa đổi...có nghĩa là nói về mặt văn hóa của ăn, mặc, ở...Mặt văn hóa của ăn, mặc, ở...phụ thuộc vào lối sống có văn hóa hay không có văn hóa của con người. - Nếp sống mới. Quá trình xây dựng lối sống mới làm cho nó dần dần trở thành thói quen ở mỗi người, thành phong tục tập quán của cả cộng đồng trong phạm vi địa phương hay cả nước gọi là nếp sống mới. Nếp sống mới phải kế thừa những truyền thống tốt đẹp, những thuần phong mỹ tục lâu đời của nhân dân ta. Cái gì cũ mà xấu thì bỏ. Cái gì cũ mà không xấu thì phải sửa đổi cho hợp lý. Cái gì cũ mà tốt thì phát triển thêm. Cái gì mới mà hay thì phải làm. * Tthcm về xây dựng nền văn hóa mới, con người mới? Vận dụng tthcm trong việc xây dựng nền văn hóa mới hiện nay? Tthcm về xây dựng nền văn hóa mới, con người mới: - Tthcm về xây dựng nền văn hóa mới bao gồm nhiều lĩnh vực, trong đó có 3 lĩnh vực chính là văn hóa giáo dục, văn hóa nghệ thuật và văn hóa đời sống mới. Người nói: Xã hội XHCN mà chúng ta sẽ xây dựng là 1 xh có một trình độ phát triển kt rất mạnh và ngày càng hiện đại, đồng thời còn có 1 trình độ văn hóa rất cao, rất toàn diện và rất sâu sắc. Nền văn hóa mới đó thể hiện sự văn minh và tính ưu việt của CNXH. Nhân dân lao động là chủ thể sáng tạo và cũng là chủ thể hưởng thụ nền văn hóa XHCN đó. - Tthcm rất coi trọng vấn đề xây dựng con người mới tương ứng với 1 chế độ xh mới. Người đã nhiều lần chỉ rõ: Muốn xây dựng CNXH phải có con người mới XHCN. Người coi việc xây dựng con người mới XHCN vừa là mục tiêu vừa là động lực của CNXH. Con người mới XHCN có các đặc trưng cơ bản sau đây: + Có ý thức và trình độ, năng lực làm chủ. + Là người lao động mới, có tri thức, có năng lực thực hành, có sức khỏe, làm việc có hiệu quả và chất lượng. + Là người sống có văn hóa, có tình nghĩa, đạo lý, có kỷ luật và trách nhiệm; + Là người có tinh thần yêu nước trong sáng và tinh thần quốc tế chân chính; 2-Vận dụng tthcm trong việc xây dựng nền văn hóa mới hiện nay: Vận dụng tthcm về văn hóa, trong nhiều nghị quyết của Đảng và nhà nước, nhiều lần đã chỉ rõ: phải chú trọng xây dựng và phát triển nền văn hóa VN tiên tiến, đậm đà bản sắc dt và xây dựng con người mới XHCN. Xây dựng nền văn hóa mới, con người mới theo tthcm tron giai đoạn hiện nay là: a) Giáo dục tinh thần yêu nước và yêu CNXH, có ý chí phấn đấu vươn lên làm cho đất nước thoát khỏi tình trạng kt nghèo nàn lạc hậu, làm cho đất nước VN trở thành một quốc gia dân giàu, nước mạnh, xh công bằng dân chủ và văn minh, sánh vai cùng các quốc gia tiên tiến trên TG. Bồi dưỡng TG quan, phương pháp luận của CNMLN và tthcm. c.Giáo dục tư tưởng đạo đức, lối sống cao đẹp, có nhân phẩm, lương tâm, danh dự, giản dị, tiết kiệm. Sống và làm việc theo p/luật. d) Về nhân văn: bồi dưỡng tinh thần nhân ái, khoan dung, đoàn kết, tương thân tương ái, chân thành giúp đỡ lẫn nhau e) Về văn hóa: có thói quen tự học chủ động sáng tạo; biết tự rèn luyện mình, nâng cao trình độ dân trí về mọi mặt, phù hợp với tri thức thời đại; vươn lên chiếm lĩnh các thành tựu về khoa học kỹ thuật tiên tiến trên TG; biết giữ gìn và phát triển bản sắc văn hóa dt trong quá trình hội nhập. f) Dũng cảm đấu tranh chống và xóa bỏ từng bước các tệ nạn và tiêu cực xh, làm cho môi tường xh ngày càng trong sạch lành mạnh... Câu 16: Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân như thế nào? + Nhà nước của dân theo quan điểm của Hồ Chí Minh. Nhà nước của dân là Nhà nước tập trung mọi quyền lực vào tay nhân dân. Điều 1, Hiến pháp năm 1946 do Hồ Chí Minh làm trưởng ban soạn thảo khẳng định: “Tất cả quyền bính trong nước là của đoàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”. Điều 32 của Hiến pháp 1946 cũng quy định: “Những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phán quyết”. Dân cũng có quyền bầu cử và ứng cử vào Quốc hội, đồng thời thông qua Quốc hội để bầu ra Chính phủ. Dân cũng có quyền bãi miễn đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân nếu những đại biểu đó tỏ ra không xứng đáng. “Nhà nước của dân là Nhà nước do dân làm chủ. Người dân được hưởng mọi quyền dân chủ, nghĩa là người dân có quyền tự do sống và làm việc theo khả năng và sở thích của mình trong phạm vi pháp luật cho phép. Nhà nước của dân phải bằng mọi nỗ lực, hình thành được các thiết chế dân chủ để thực thi quyền làm chủ của nhân dân. Trong Nhà nước dân chủ, dân là chủ còn cán bộ nhà nước, từ chức Chủ tịch nước trở xuống đề là “công bộc” của nhân dân. Hồ Chí Minh luôn căn dặn cán bộ không dược ỷ thế lộng quyền: “Cậy thế mình ở trong ban này ban nọ, rồi ngang tàng phóng túng, muốn sao được vậy, còn khinh dư luận, không ngĩ đến dân. Quên rằng dân bầu mình ra là để làm việc cho dân, chứ không phải để cậy thế với dân”. + Nhà nước do dân. Đó là Nhà nước do dân dựng xây lên. Cán bộ trong các ban, ngành của Chính phủ do dân lựa chọn, bầu ra. Tài chính của Chính phủ do dân đóng góp. Đường lối lãnh đạo, cơ cấu tổ chức của Nhà nước do dân góp ý dựng xây. Các hoạt động của Nhà nước do dân kiểm soát, Hồ Chí Minh thường khẳng định: Tất cả các cơ quan Nhà nước là phải dựa vào nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự kiểm soát của nhân dân. “Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ”. + Nhà nước vì dân. Đó là Nhà nước phục vụ lợi ích và nguyện vọng của nhân dân. Ngoài mục đích phục vụ nhân dân, Nhà nước ta không có mục đích nào khác. Sinh thời Hồ Chí Minh từng nói: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc, và hạnh phúc của quốc dân. Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo, - là vì mục đích đó. Đến lúc nhờ quốc dân đoàn kết, tranh dược chính quyền, uỷ thác cho tôi gánh việc Chính phủ, tôi lo lắng đêm ngày, nhẫn nhục cố gắng – cũng vì mục đích đó”. Trong Nhà nước vì dân, cán bộ từ Chủ tịch nước trở xuống đều là “công bộc” của dân. Bác thường căn dặn cán bộ: Tất cả những thứ chúng ta dùng hàng ngày đều do dân cung cấp. Do vậy phải hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. “Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh”. Tóm lại, nnhưng của dân, do dân, vì dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh là Nhà nước dân chủ. Trong đó, “bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân… chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra… Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đề ở nơi dân”. + Vì sao chúng ta lại xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân? Xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân là tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước, là mục tiêu xuyên suốt cuộc đời hoạt động và lãnh đạo cách mạng của Hồ Chí Minh. Ngay từ năm 1927 – trong cuốn Đường cách mệnh, Người đã chỉ rõ: “Chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh, thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc”. + Làm thế nào để xây dựng được một Nhà nước thực sự của dân, do dân, vì dân? Trước hết, phải giữ vứng bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước. Nhà nước phải đặt dưới lãnh đạo của Đảng - đội tiên phong của giai cấp công nhân. Hồ Chí Minh đã nhiều lần khẳng định: Chỉ có liên minh với giai cấp công nhân, dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân, nhân dân lao động mới có thể tự giải phong mình vàxây dựng được một xã hội thực sự bình đẳng và tiến bộ. Thứ hai, phải bảo đảm quyền tự do dân chủ của nhân dân trong việc lựa chọn và bầu ra Chính phủ thông qua Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu. Mọi công dân đều có quyền bầu cử để lựa chọn các đại biểu đại diện cho nguyện vọng và quyền lợi của mình. Mọi công dân đều có cơ hội tham gia vào các công việc của Nhà nước thông qua quyền ứng cử và các cuộc trưng cầu dân ý. Thứ ba, phải bảo đảm cho dân có quyền kiểm soát chính phủ. Hồ Chí Minh chỉ rõ: Dân có quyền góp ý với Chính phủ, dân có quyền bãi miễn các đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân nếu họ không hoàn thành nhiệm vụ. Tuy nhiên, để thực hiện được điều này, đòi hỏi người dân phải có một trình độ nhất định. Vì vậy, cùng với việc trao quyền cho dân, cần phải có chính sách giáo dục nâng cao nhận thức cho dân. Thứ tư, phải xây dựng một hệ thống luật pháp chặt chẽ và khoa học dựa trên nguyện vọng và quyền lợi của nhân dân, đông thời làm cho pháp luật có hiệu quả trong thực tế. Sự công bằng và trât tự xã hội chỉ có thể được thiết lập khi nó được bảo đảm bằng một hệ thống luật pháp nghiêm minh. Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Trăm đều phải có thần linh pháp quyền”. Thứ năm, phải xây dựng được đội ngữ cán bộ, từ Trung ương đến địa phương thực sự trong sạch, vững mạnh, đủ đức đủ tài, vừa bảo đảm tốt vải trò người lãnh đạo, quản lý vừa thực sự là người đầy tớ trung thành của nhân dân.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docCác câu hỏi (kèm theo đáp án) ôn thi tư tưởng HCM.doc