Chế định xóa án tích trong luật hình sự Việt Nam

LỜI MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài Xóa án tích là một chế định quan trọng thể hiện nguyên tắc cơ bản của pháp luật hình sự Việt Nam – nguyên tắc nhân đạo. Với chế định này, Nhà nước ta đã ghi nhận sự nỗ lực cải tạo của người phạm tội nhằm xóa bỏ đi vết nhơ đã từng bị kết án của mình, từ đó, giúp xóa bỏ thành kiến của xã hội đối với người phạm tội, giúp họ sớm hòa nhập với cộng đồng và trở thành người có ích cho xã hội. Vì vậy, quy định về xóa án tích có ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với người phạm tội mà còn giúp xã hội ngày càng phát triển và văn minh. Kế thừa và phát triển Bộ luật hình sự 1985, Bộ luật hình sự 1999 là bước phát triển mới trong việc giải quyết vấn đề án tích và xóa án tích trong luật hình sự nước ta. Nhiều quy phạm của chế định xóa án tích đã được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn, tạo điều kiện cho các cơ quan áp dụng pháp luật đấu tranh phòng, chống tội phạm có hiệu quả như phân định lại đối tượng áp dụng, thời hạn xóa án tích trong từng trường hợp xóa án tích . Tuy nhiên, một số quy định về chế định xóa án tích trong Bộ luật hình sự hiện hành, ở những mức độ khác nhau, bộc lộ những thiếu sót và chưa rõ ràng như thiếu văn bản hướng dẫn về xóa án tích, quy định về thời hạn xóa án tích . dẫn đến việc nhận thức và áp dụng quy định về xóa án tích không thống nhất giữa các Tòa án. Trước tình hình đó, việc nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến chế định xóa án tích, trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp để tiếp tục hoàn thiện Bộ luật hình sự hiện hành và giải quyết những vướng mắc của thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự là việc rất cần thiết, không những có ý nghĩa quan trọng về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa cả về thực tiễn trong giai đoạn hiện nay ở nước ta. Vì vậy, em lựa chọn vấn đề "Chế định xóa án tích trong luật hình sự Việt Nam" làm đề tài nghiên cứu cho Khóa luận tốt nghiệp của mình. Tình hình nghiên cứu Trong giới khoa học luật hình sự, chế định xóa án tích chưa thực sự được quan tâm nghiên cứu. Hiện nay, mới có một số tác phẩm hướng tới nghiên cứu chế định xóa án tích như: "Chế định xóa án tích trong Bộ luật hình sự năm 1999" của Nguyễn Thị Minh Phương, Khóa luận tốt nghiệp cử nhân năm 2001."Chế định xóa án tích trong luật hình sự Việt Nam" của Nguyễn Thị Lan, Khóa luận tốt nghiệp cử nhân năm 2003, Khoa Luật trường Đại học Quốc gia Hà Nội. Cũng như một số bài viết trong Giáo trình Luật Hình sự và các cuốn bình luận khoa học Bộ luật hình sự do các tác giả khác nhau thực hiện. Các công trình nghiên cứu khoa học trên đã đưa ra những bàn luận và giải quyết được một số vấn đề mà lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự đặt ra. Tuy nhiên, một số quy định về xóa án tích vẫn chưa đạt đến sự đồng thuận và gây ra nhiều tranh cãi trong giới khoa học luật hình sự hiện nay. Mục đích, phạm vi nghiên cứu - Mục đích: Mục đích của khóa luận là làm sáng tỏ một cách có hệ thống về mặt lý luận những nội dung cơ bản của chế định xóa án tích theo pháp luật hình sự Việt Nam, xác định những bất cập trong thực tiễn để đề xuất những giải pháp tiếp tục hoàn thiện chế định trong thời gian tới và nâng cao hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm ở nước ta hiện nay. - Phạm vi nghiên cứu: Khóa luận nghiên cứu chế định xóa án tích theo luật hình sự Việt Nam dưới góc độ Luật hình sự. Đồng thời, cũng đề cập đến một số quy phạm của Luật tố tụng hình sự, Luật Lý lịch tư pháp nhằm phân tích rõ quy định về xóa án tích. Khóa luận tập trung chỉ ra quy định về xóa án tích theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành nhưng trên cơ sở có đối chiếu, so sánh với quy định về xóa án tích theo pháp luật hình sự trước kia nhằm thấy rõ sự phát triển cũng như những điểm hạn chế còn tồn tại của quy định về xóa án tích hiện hành. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu Phương pháp luận của khóa văn là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như phương pháp hệ thống, lịch sử, lôgíc, phân tích, so sánh, tổng hợp để nghiên cứu khóa luận. Kết cấu của Khóa luận Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Khóa luận gồm 2 chương: Ch­ương 1: Một số vấn đề chung về xóa án tích Ch­ương 2: Chế định xóa án tích theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành

docx58 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 08/03/2013 | Lượt xem: 3322 | Lượt tải: 31download
Tóm tắt tài liệu Chế định xóa án tích trong luật hình sự Việt Nam, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
́u tháng đối với trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù nhưng được hưởng án treo; + Một năm sáu tháng đối với trưởng hợp bị phạt tù đến ba năm; + Hai năm sáu tháng đối với trường hợp bị phạt tù từ trên ba năm đến mười lăm năm; + Ba năm sáu tháng đối với trường hợp bị phạt tù từ trên mười lăm năm. Luật không quy định rõ là người chưa thành niên phạm tội gì thì áp dụng quy định về thời hạn này. Nên phải chăng người chưa thành niên phạm mọi tội phạm không phân biệt tội phạm thuộc Chương XI, Chương XXIV hay không thì đều áp dụng thời hạn này? Về vấn đề này, có quan điểm cho rằng, xuất phát từ chính sách nhân đạo đặc biệt cũng như nguyên tắc lấy mục đích giáo dục là chủ yếu trong việc xử lý trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội nên đối với người chưa thành niên phạm tội thì chỉ áp dụng hình thức đương nhiên xóa án tích mà không áp dụng hình thức xóa án tích do Tòa án quyết định Xem: TS. Uông Chu Lưu, sách “Bình luận khoa học Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999” (đã dẫn), tr. 266 . Tức là trong trường hợp này, dù người chưa thành niên phạm bất cứ tội gì, chỉ cần đảm bảo điều kiện không phạm tội mới trong thời hạn vừa nêu thì sẽ được đương nhiên xóa án tích. Người viết cũng đồng tình với quan điểm trên. Từ đó, có thể thấy, thủ tục xin xóa án tích đối với người chưa thành niên phạm tội cũng thực hiện theo quy định về thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận xóa án tích, được quy định tại Điều 270 BLTTHS 2003 và hướng dẫn tại Mục III của Thông tư liên ngành số 02/1986. Xóa án tích trong một số trường hợp cụ thể Theo hướng dẫn tại Mục V Thông tư liên ngành số 02/1986, thủ tục xóa án tích trong một số trường hợp đặc biệt cụ thể như sau: a. Xoá án tích trong trường hợp không có khả năng chấp hành án về phạt tiền, bồi thường, án phí Trong thực tế, có một số người chỉ có khả năng chấp hành một phần hoặc hoàn toàn không có khả năng chấp hành án về phạt tiền, về bồi thường, về án phí. Vì vậy, nếu họ đã không phạm tội mới trong thời hạn pháp luật quy định thì Toà án có thể xoá án tích nếu họ đã được tạm hoãn thi hành án về những khoản đó mà nay họ cũng không có khả năng chấp hành án. Trong những trường hợp này người xin xoá án tích phải xin Giấy chứng nhận của Uỷ ban nhân dân xã, phường hoặc của cơ quan, xí nghiệp, hợp tác xã nơi mình đang làm việc là họ không có khả năng về kinh tế để chấp hành được bản án và việc xoá án cho họ được giải quyết như sau: Nếu người bị hại là tư nhân đồng ý không đòi bồi thường nữa, thì Toà án ra Quyết định xoá án tích trong đó xác nhận ý kiến của người bị hại không đòi bồi thường nữa; nếu người bị hại vẫn đòi bồi thường thì chưa được xoá án tích. Nếu là tiền phạt, tiền bồi thường hoặc án phí phải nộp cho Nhà nước thì trước khi quyết định xoá án tích, Toà án phải xem xét và quyết định việc miễn chấp hành tiền phạt, tiền bồi thường, hoặc tiền án phí cho người bị án nếu bản án đã có hiệu lực pháp luật được 10 năm. Sau đó mới xem xét và quyết định việc xoá án tích. Nếu chưa hết hạn đó thì chưa được xoá án. b. Xóa án tích đối với người đã chết Trong thực tế có trường hợp người bị kết án chết, sau đó gia đình người bị kết án có đơn gửi Tòa án yêu cầu Tòa án xóa án tích cho người bị kết án đã chết. Theo Thông tư liên ngành số 03/1989 sửa đổi, bổ sung Thông tư liên ngành số 02/1986 hướng dẫn thì đối với người bị kết án đã chết, việc xóa án không đặt ra. Vì xóa án tích chỉ có ý nghĩa trong việc xem xét tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm khi người đó phạm tội mới. Do đó, nếu thân nhân của người bị kết án đã chết xin xóa án tích cho người đã chết thì Tòa án cần giải thích về ý nghĩa của việc xóa án tích và trả lại đơn xin xóa án cho họ. Cách tính thời hạn xóa án tích “1. Thời hạn để xoá án tích quy định tại Điều 64 và Điều 65 của Bộ luật này căn cứ vào hình phạt chính đã tuyên. 2. Nếu chưa được xoá án tích mà phạm tội mới, thì thời hạn để xoá án tích cũ tính từ ngày chấp hành xong bản án mới. 3. Việc chấp hành xong bản án bao gồm việc chấp hành xong hình phạt chính, hình phạt bổ sung và các quyết định khác của bản án. 4. Người được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại cũng được coi như đã chấp hành xong hình phạt.” (Điều 67 BLHS năm 1999) Vấn đề thời hạn và cách thức xác định thời hạn trong pháp luật hình sự luôn là vấn đề phức tạp. Điều này không loại trừ thời hạn để xóa án tích. Nhằm tạo cơ sở cho việc xác định thời hạn để xóa án tích, Điều 67 BLHS đã đưa ra các nguyên tắc về cách tính thời hạn, cụ thể: Căn cứ để xác định thời hạn Thời hạn để xóa án tích căn cứ vào hình phạt chính đã tuyên, nghĩa là thời hạn một năm, ba năm, năm năm… quy định tại Điều 64, Điều 65 BLHS được lấy căn cứ từ hình phạt chính trong bản án đã tuyên. Điều này hoàn toàn hợp lý bởi hình phạt chính là biểu hiện tập trung cao nhất sự đánh giá của Tòa án đối với hành vi phạm tội và người phạm tội. Đồng thời bản án kết tội bao giờ cũng có một hình phạt chính còn hình phạt bổ sung thì có thể có hoặc không. Hình phạt chính đã tuyên phải là hình phạt chính được Tòa án tuyên bằng một bản án đã có hiệu lực pháp luật. Bởi vậy, nếu bản án đã bị phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm, thì hình phạt chính đã tuyên phải được hiểu là hình phạt được tuyên trong bản án cuối cùng có hiệu lực pháp luật. Thời điểm bắt đầu tính thời hạn xóa án tích BLHS quy định hai thời điểm bắt đầu thời hạn xóa án tích Thời điểm thứ nhất là ngày chấp hành xong bản án. Ngày chấp hành xong bản án là ngày chấp hành xong cả hình phạt chính và hình phạt bổ sung cũng như các quyết định khác như bồi thường thiệt hại… được ghi nhận trong bản án chứ không phải là ngày chấp hành xong hình phạt chính. Bởi theo khoản 3 Điều 67 BLHS 1999 “Việc chấp hành xong bản án bao gồm việc chấp hành xong hình phạt chính, hình phạt bổ sung và các quyết định khác của bản án”, tức là việc chấp hành xong bản án phải là chấp hành xong mọi biện pháp cưỡng chế của Nhà nước mà Tòa án đã ghi trong bản án. Tùy thuộc vào tội phạm người phạm tội đã thực hiện cũng như các chế tài hình phạt điều luật quy định mà trong từng trường hợp, Tòa án có thể quyết định hình phạt chính, có thể có hoặc không, một hay nhiều hình phạt phụ và các biện pháp tư pháp khác. Ví dụ: Một người bị phạt 2 năm tù về tội trộm cắp tài sản, phải bồi thường cho người bị hại 5 triệu đồng, phải nộp 50 ngàn đồng án phí hình sự sơ thẩm và 250 ngàn đồng án phí dân sự sơ thẩm. Trong trường hợp này theo quy định tại khoản 2 Điều 64 Bộ luật hình sự năm năm 1999 thì người này đương nhiên được xoá án tích, nếu hết thời hạn 3 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù 2 năm, bồi thường xong 5 triệu đồng cho người bị hại, đã nộp đủ 50 ngàn đồng án phí hình sự sơ thẩm và 250 ngàn đồng án phí dân sự sơ thẩm hoặc kể từ ngày hết thời hiệu thi hành hành bản án, người đó không phạm tội mới. Thời hạn 3 năm được tính kể từ ngày chấp hành xong tất cả các quyết định của bản án (bao gồm: hình phạt 2 năm tù, bồi dưỡng cho người bị hại 5 triệu đồng, nộp đủ 50 ngàn đồng án phí hình sự sơ thẩm và 250 ngàn đồng án phí dân sự sơ thẩm) chứ không phải kể từ ngày chấp hành xong hình phạt chính là 2 năm tù. Theo hướng dẫn tại điểm c Điều 11 Nghị quyết 01/2000/NQ – HĐTP thì được coi là chấp hành xong hình phạt chính, hình phạt bổ sung và các quyết khác của bản án trong các trường hợp sau đây: - Người bị kết án tự mình đã chấp hành xong hình phạt chính, hình phạt bổ sung và các quyết định khác của bản án; - Người bị kết án đã chấp hành xong hình phạt chính, hình phạt bổ sung, còn các quyết định về tài sản trong bản án hình sự đã có người nộp thay cho người bị kết án (người thân của người bị kết án đã bồi thường thay, đã nộp tiền án phí, tiền phạt... thay cho người bị kết án hoặc người cùng người bị kết án phải liên đới bồi thường đã bồi thường đủ toàn bộ theo quyết định của bản án); - Người bị xử phạt tù, nhưng được hưởng án treo đã chấp hành xong thời gian thử thách, trong trường hợp đã chấp hành xong hình phạt bổ sung và các quyết định khác của bản án (nếu có). Người được miễn chấp hành hình phạt còn lại được coi như đã chấp hành xong hình phạt. Đối với hình phạt cảnh cáo thì sau khi bản án có hiệu lực pháp luật thì bản án coi như được chấp hành xong nếu như không có hoặc đã chấp hành xong hình phạt bổ sung và các quyết định khác của bản án. Thời điểm thứ hai là ngày hết thời hiệu thi hành bản án. Trong trường hợp này cần phân biệt thời hạn cần thiết để xem một người bị kết án nhưng hết thời hiệu thi hành án khác với thời hạn để xem người đó đương nhiên được xóa án do hết thời hiệu thi hành án. “Thời hiệu thi hành bản án hình sự là thời hạn do BLHS quy định mà khi hết thời hạn đó người bị kết án không phải chấp hành bản án đã tuyên” (khoản 1 Điều 55 BLHS năm 1999). Như vậy, hết thời hiệu thi hành bản án được hiểu là trường hợp người bị kết án vì một lý do khách quan nào đó như được hoãn chấp hành hình phạt tù nhiều lần, do sự sơ suất của cơ quan có thẩm quyền… nên người bị kết án chưa chấp hành hình phạt và không trốn khỏi địa phương, không phạm tội mới trong thời hạn luật định và khi hết thời hạn này người bị kết án không phải chấp hành bản án đã tuyên nữa. Thời hiệu thi hành bản án được ghi nhận tại khoản 2, khoản 3 Điều 55 BLHS năm 1999 với nội dung: “ a. Năm năm đối với trường hợp xử phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc xử phạt tù từ ba năm trở xuống, b. Mười năm đối với các trường hợp xử phạt tù từ trên ba năm đến mười lăm năm, c. Mười lăm năm đối với các trường hợp xử phạt tù từ trên mười lăm năm đến ba mươi năm.” “Việc áp dụng thời hiệu đối với các trường hợp xử phạt tù chung thân hoặc tử hình, sau khi đã qua thời hạn mười lăm năm, do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.” Thời hiệu thi hành án hình sự được tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Đối với các quyết định về tài sản khác trong bản án hình sự như bồi thường thiệt hại, trả lại tài sản, tịch thu tài sản, án phí…. thì theo quy định của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (trước đây là Điều 21 Pháp lệnh thi hành án dân sự 1993), thời hạn thi hành án dân sự là năm năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật. Nếu trong thời hạn quy định này mà cá nhân được thi hành án, cơ quan tổ chức được thi hành án đã có đơn gửi cơ quan thi hành án yêu cầu thi hành án hoặc thủ trưởng cơ quan thi hành án đã chủ động ra quyết định thi hành án, thì chỉ khi nào người bị kết án thi hành xong các quyết định về tài sản hoặc có quyết định đình chỉ thi hành án thì mới được coi là đã chấp hành xong các quyết định của Tòa án về tài sản trong bản án hình sự. Đối với số tiền bồi thường thiệt hại nếu người được bồi thường là cá nhân tự nguyện không yêu cầu người bị kết án bồi thường (lập thành văn bản) thì được coi như người bị kết án đã bồi thường xong kể từ ngày có văn bản không yêu cầu bồi thường (tôn trọng quyền định đoạt về tài sản của cá nhân). Trong trường hợp người được bồi thường là cá nhân mà trong thời hiệu yêu cầu thi hành án theo quy định của Luật thi hành án dân sự năm 2008 đã không có đơn yêu cầu thi hành đối với số tiền bồi thường thì kể từ ngày hết thời hiệu yêu cầu thi hành án cũng được xác định là hết thời hiệu thi hành bản án và cũng được tính để giải quyết việc xóa án tích. Đối với số tiền phải thu cho Nhà nước như tiền phạt tiền, án phí, lệ phí… mà trong thời gian năm năm kể từ ngày bản án quyết định của tòa án có hiệu lực pháp luật, cơ quan thi hành án dân sự đã không ra quyết định thi hành án thì được xác định là hết thời hiệu thi hành bản án nên cũng được tính để giải quyết việc xóa án tích. Như vậy, hết thời hiệu thi hành án, quyết định thì mới bắt đầu tính thời hạn đương nhiên xóa án tích theo khoản 2 Điều 64 và Điều 65 BLHS. Đối với người mà đã có quyết định của Tòa án thi hành bản án nhưng lẩn trốn việc thi hành và bị truy nã hoặc người được tạm hoãn thi hành án thì thời gian lẩn trốn hoặc thời gian tạm hoãn không được tính vào thời hiệu thi hành án (theo điểm a Mục V Thông tư liên ngành số 02/1986). Pháp luật hình sự quy định cả hai thời điểm bắt đầu tính thời hạn xóa án tích đối với cả trường hợp đương nhiên xóa án tích và xóa án tích theo quyết định của Tòa án. Tuy nhiên, quy định này là chưa hợp lý đối với trường hợp xóa án tích theo quyết định của Tòa án. Bởi Điều 56 BLHS quy định “không áp dụng thời hiệu thi hành bản án đối với tội quy định tại các Chương XI và Chương XXIV BLHS” nhưng tại Điều 65 về xóa án tích theo quyết định của Tòa án đối với những người bị kết án về tội quy định tại hai chương này thì căn cứ tính thời hạn xóa án tích là từ khi hết thời hiệu thi hành bản án. Như vậy, chưa có sự thống nhất giữa các quy định về việc không áp dụng thời hiệu thi hành án với quy định về xóa án tích trong trường hợp người phạm tội tại Chương XI và Chương XXIV. Đối với trường hợp trong thời hạn còn án tích mà lại phạm tội mới thì thời hạn để xóa án tích cũ tính từ ngày chấp hành xong bản án mới. Đây là quy định giúp người bị kết án đề cao ý thức tuân theo pháp luật, sớm được xóa án tích theo quy định của pháp luật. Việc người đã bị kết án phạm tội mới trong thời gian người đó còn mang án tích chứng tỏ người đó chưa thực sự tự cải tạo giáo dục để trở thành người lương thiện. Do vậy, pháp luật hình sự quy định thời hạn để xóa án tích cũ được tính từ ngày chấp hành xong bản án mới nhằm thể hiện tính nghiêm khắc của án tích, làm cho án tích phát huy vai trò, ý nghĩa của nó trong công cuộc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm. Tuy nhiên, việc xác định thời hạn xóa án tích của các bản án trong trường hợp này vẫn phải độc lập với nhau. Có quan điểm cho rằng thời hạn để tính xóa án tích đối với trường hợp phạm tội mới trong thời gian chưa được xóa án tích bao gồm khoảng thời gian để tính xóa án tích cho bản án cũ cộng với thời gian tính để xóa án tích cho bản án mới. Theo quan điểm này thì nếu một người phạm tội lần đầu với thời hạn xóa án tích là 3 năm, chưa hết thời hạn xóa án tích lại tái phạm tội mới với thời hạn xóa án tích là 5 năm thì thời hạn xóa án tích chung sau khi người đó chấp hành xong bản án về tội tái phạm sẽ là 8 năm. Quan điểm này xuất phát từ việc người phạm tội đã phạm tội liên tục, có ý thức chống đối pháp luật cao nên thời hạn thử thách để xác định họ có thực sự hoàn lương hay không cần kéo dài hơn. Tuy nhiên, quan điểm này chưa thực sự hợp lý bởi mặc dù có quy định về việc tổng hợp hình phạt trong các bản án khác nhau trở thành hình phạt chung để áp dụng đối với người phạm tội, nhưng việc xác định thời hạn để xóa án thì lại căn cứ vào từng bản án đối với từng tội phạm để quyết định. Điều này xuất phát từ bản chất của án tích là hậu quả riêng biệt cho từng tội phạm và từng bản án nên xóa án tích cũng chính là xóa đi hậu quả pháp lý đối với người bị kết án theo từng bản án. Trong trường hợp tổng hợp hình phạt của nhiều bản án, thời hạn xóa án tích cần tính theo hướng có lợi cho người bị kết án, nghĩa là sau khi đã chấp hành xong bản án mới, người bị kết án được tính thời gian để xóa án tích cho tất cả các bản án mà họ đã chấp hành xong trên cơ sở thời hạn của bản án nặng nhất đối với tội mà họ đã phạm. Theo cách tính thời hạn này thì trong ví dụ trên, thời hạn xóa án tích đối với người phạm tội chỉ là 5 năm. Vì vậy có thể xảy ra trường hợp trong cùng một thời gian đều được tính thời hạn xem xét để xóa án tích cho đồng thời hai bản án. Ví dụ: Năm 1990, Tòa án xử phạt anh A mười năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” phải bồi thường thiệt hại và chịu án phí. Do anh A tích cực cải tạo được trả tự do trước thời hạn tù, đến ngày 10/2/2000, anh A chấp hành xong bản án này, chưa được xóa án tích lại phạm tội cố ý gây thương tích, bị Tòa án xử phạt một năm tù, chịu án phí. Đến ngày 10/5/2003, anh A chấp hành xong bản án xử về tội “Cố ý gây thương tích”. Theo quy định tại khoản 2 Điều 67 của BLHS thì tính thời hạn để xóa án tích đối với bản án xử phạt anh A mười năm tù được tính từ ngày 10/5/2003 và theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 64 thì thời hạn xóa án tích là năm năm. Nếu kể từ ngày 10/5/2003 đến hết ngày 10/5/2008 anh A không phạm tội mới thì được xóa án tích đối với bản án này. Còn đối với bản án xử về tội cố ý gây thương tích, thì thời hạn xóa án tích cũng được bắt đầu từ ngày 10/5/2003 và theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 64 thì thời hạn xóa án tích là ba năm. Kể từ ngày 10/5/2003 đến ngày 10/5/2006 nếu anh A không phạm tội mới thì được xóa án tích đối với bản án xử anh A về tội cố ý gây thương tích. Như vậy, có một thời gian được tính thời hạn xem xét để xóa án tích đồng thời cho hai bản án là từ ngày 10/5/2003 đến ngày 10/5/2006. Trong trường hợp anh A phạm tội sau ngày 10/5/2006 đến ngày 10/5/2008 thì căn cứ vào quy định tại Điều 49 BLHS để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm. Pháp luật hình sự chưa quy định về thời hạn xóa án tích trong những trường hợp phạm nhiều tội, trong đó có cả tội thuộc trường hợp đương nhiên được xóa án tích và tội thuộc trường hợp xóa án tích theo quyết định của Tòa án Đặc san tuyên truyền pháp luật số 07/2009 của Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Chính phủ, chủ đề “Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự”, tr. 7. . Ví dụ: Anh A vừa bị kết án 6 năm tù về tội “Phá hoại cơ sở vật chất – kỹ thuật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” theo khoản 2 Điều 61 BLHS năm 1999 vừa bị kết án 1 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 108 BLHS năm 1999 và tổng hợp hình phạt là bảy năm tù. Khi đó cần áp dụng thủ tục xóa án tích như thế nào: theo trường hợp đương nhiên hay theo quyết định của Tòa án. Đồng thời, thời hạn để xóa án tính cho người phạm tội trong trường hợp này tính như thế nào, căn cứ vào mức phạt tù đã được tổng hợp (bảy năm) hay mức phạt tù đối với từng tội? Trường hợp này cần được Tòa án hướng dẫn cụ thể nhằm tránh sự áp dụng pháp luật không thống nhất giữa các Tòa án các cấp. Như vậy, bước đầu pháp luật hình sự đã ghi nhận những điều kiện cơ bản để có thể tiến hành thủ tục xóa án tích cho những người phạm tội. Tuy nhiên, việc thực hiện những quy định đó trên thực tế cũng như những vướng mắc trong quá trình thực thi pháp luật cần phải là vấn đề cần phải xem xét. Một số vướng mắc khi áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự hiện hành về xóa án tích và kiến nghị Vướng mắc khi áp dụng quy định về xóa án tích Xóa án tích là chế định thể hiện tính nhân đạo của chính sách hình sự Việt Nam nhằm khuyến khích những người bị kết án chấp hành nghiêm chỉnh bản án và cải tạo tốt để trở thành công dân có ích cho xã hội. Đối với những người đã từng phạm tội và bị kết án, một lý lịch tư pháp với ba chữ “không can án” có ý nghĩa vô cùng quan trọng cho sự trở về, tái hòa nhập cộng đồng và tham gia vào mọi quan hệ kinh tế xã hội, xóa bỏ mặc cảm tội lỗi cũng như sự phân biệt, kì thị của xã hội đối với họ. Vì vậy, việc cấp Giấy chứng nhận xóa án tích hay Quyết định xóa án tích của Tòa án đã trở thành công việc có ý nghĩa hết sức quan trọng. Tòa án cũng như các cơ quan chuyên ngành khác như Công an, Viện kiểm sát đã cùng nhau phối hợp, giúp đỡ những người đã từng bị kết án được cấp Giấy chứng nhận xóa án tích hay Quyết định xóa án tích đúng theo quy định của pháp luật. Từ năm 1994 đến năm 2003, Tòa án đã ra quyết định xóa án tích cho 417 trường hợp thuộc 58 tỉnh, thành phố thuộc trung ương Xem TS. Nguyễn Phong Hòa, “Thực trạng công tác thi hành án hình sự và những kiến nghị”, tạp chí Tòa án nhân dân số 21/2006, tr. 28. . Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh hàng năm cấp khoảng 1000 giấy chứng nhận xóa án tích cho những người từng bị kết án. Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, trong những năm qua cũng đã quan tâm tới công tác cấp giấy chứng nhận xóa án tích: năm 2007 cấp 21 trường hợp, năm 2008 cấp 24 trường hợp, năm 2009 là 22 trường hợp và năm 2010 là 25 trường hợp. Mặc dù vậy, những số liệu này vẫn cho thấy tỷ lệ xóa án tích còn quá thấp so với số người bị thi hành hình phạt. Thực tế cho thấy, những người phạm tội thường chỉ đến xin xóa án tích khi họ thực hiện hành vi vi phạm và yêu cầu cấp giấy chứng nhận đã được xóa án tích để chứng minh mình không bị coi là phạm tội mới hoặc do đòi hỏi của công việc như cần lý lịch tư pháp để đi lao động nước ngoài, xin việc làm… Với tâm lý ngại khơi lại chuyện cũ, khơi lại dấu vết từng phạm tội và mặc cảm bị kết án, người bị kết án đã tự tước đi quyền được công nhận là người chưa can án, tước đi một số quyền công dân của mình. Đồng thời, hiện nay vẫn tồn tại một số vướng mắc trong quá trình thực thi pháp luật về xóa án tích. Vướng mắc trước hết là thiếu văn bản hướng dẫn về xóa án tích gây ra sự thực thi pháp luật về án tích không thống nhất giữa các Tòa án. Trước khi BLHS năm 1999 ra đời, việc xóa án tích được quy định trong hai văn bản Thông tư liên ngành số 02/TTLN ngày 01/8/1986 và Thông tư liên ngành hướng dẫn bổ sung số 03/TTLN ngày 15/7/1989 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an). Nhưng từ khi BLHS năm 1999 ra đời cho đến nay, mới chỉ có Nghị quyết số 01/2000/NQ – HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ngày 4/8/2000 hướng dẫn áp dụng một số quy định trong Phần chung của BLHS 1999 có giải thích một số quy định về xoá án như cách tính thời hạn xóa án tích, điều kiện xóa án tích trong trường hợp đặc biệt. Tuy vậy, đến thời điểm hiện nay vẫn chưa có một văn bản pháp luật nào hướng dẫn cụ thể về thủ tục xóa án tích. BLTTHS năm 2003 có quy định về thủ tục xóa án tích nhưng vẫn còn rất khái quát. Vì vậy, mặc dù hai Thông tư này đã bị bãi bỏ theo Quyết định số 241/QĐ-BTP ngày 12 tháng 02 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp nhưng trên thực tế, các Tòa án vẫn phải vận dụng hướng dẫn tại hai Thông tư này để thực hiện việc xóa án tích cho người phạm tội. Thứ hai, việc quy định về người đương nhiên được xóa án tích chưa rõ ràng gây ra cách hiểu và áp dụng khác nhau. Một là, theo quy định tại Điều 63 BLHS thì người được đương nhiên xóa án tích chỉ được xóa án tích khi có giấy chứng nhận xóa án tích của Tòa án xét xử cấp sơ thẩm. Và nếu không có giấy chứng nhận xóa án tích này thì dù về nguyên tắc, họ đã đảm bảo đủ điều kiện để được xóa án tích nhưng trên thực tế, họ vẫn mang án tích. Vì vậy, xảy ra nghịch lý là cùng phạm tội, cùng bị kết án và cùng chấp hành xong hình phạt và đảm bảo không vi phạm gì trong thời hạn quy định từ khi chấp hành xong bản án. Nhưng một người xin giấy chứng nhận xóa án tích còn một người thì không xin cấp giấy chứng nhận, thì khi họ cùng bị kết án về tội mới như tội lạm dụng tín nhiệm thuộc khoản 1 Điều 158 thì người không xin giấy chứng nhận có thể bị đối mặt với mức án tù lên đến 12 năm tù với tình tiết tăng nặng là tái phạm trong khi người còn lại chỉ có thể bị phạt mức cao nhất là 3 năm tù. Thực tiễn xét xử cũng cho thấy, không ít cơ quan tiến hành tố tụng chỉ quan tâm tới người phạm tội đã được xóa án hay chưa vì nó liên quan đến việc xác định tình trạng tái phạm hay tái phạm nguy hiểm mà ít căn cứ vào điều kiện xin xóa án để xác định người phạm tội có còn án tích hay không? Theo quan điểm người viết, người đương nhiên được xóa án tích được hiểu đây là trường hợp “tự động” mà người đã từng bị kết án được xóa án tích sau khi đã đảm bảo đủ điều kiện luật định. Việc có xin cấp Giấy chứng nhận xóa án tích hay không không thay đổi được bản chất pháp lý là người đó đã được xóa án tích. Hiểu như vậy, mới đảm bảo hết tính chất “đương nhiên” xóa án trong trường hợp đương nhiên xóa án tích cũng như đảm bảo quyền lợi cho những người bị kết án được đương nhiên xóa án tích. Vì vậy, mới đây trong Luật Lý lịch tư pháp năm 2010, bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2010 đã mở rộng thẩm quyền cho Trung tâm lý lịch tư pháp, theo đó, Trung tâm lý lịch tư pháp có nhiệm vụ tự động cập nhật lý lịch về xóa án tích đối với những trường hợp được đương nhiên xóa án tích “Báo cáo thẩm tra dự án Luật lý lịch tư pháp” của Ủy ban tư pháp – Quốc hội ngày 23 tháng 10 năm 2008, tr.3. . Điều 33 Luật Lý lịch tư pháp năm 2010 có quy định đối với những người đủ điều kiện được đương nhiên xóa án tích thì họ có thể xin Tòa án cấp Giấy chứng nhận xóa án tích hoặc xin lý lịch tư pháp với nội dung chưa can án do Trung tâm lý lịch tư pháp cấp. Đây là quy định nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho những người đủ điều kiện được đương nhiên xóa án tích, nhằm giảm bớt thủ tục pháp lý rườm rà, giảm nhẹ gánh nặng hành chính cho cơ quan Tòa án. Hai là, năm 2009, BLHS năm 2009 sửa đổi có quy định không xử lý về hình sự đối với người thực hiện một số hành vi được quy định là tội phạm trong BLHS năm 1999. Ngày 19 tháng 6 năm 2009, Nghị quyết số 33/2009/NQ - QH ra đời hướng dẫn một số điều của Bộ luật hình sự sửa đổi năm 2009, trong đó có quy định về trường hợp đương nhiên xóa án tích đối với những người trong trường hợp này. Theo quy định của Nghị quyết 33/2009/NQ - QH hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật hình sự sửa đổi năm 2009 và Mục 4 Công văn 105/TANDTC- KHXX ngày 17/7/2009 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành khoản 2 Điều 1 Nghị quyết 33/2009/NQ – QH, đối với một số trường hợp đã bị xử lý về tội phạm theo Bộ luật hình sự năm 1999 mà đến Bộ luật hình sự 2009 sửa đổi hành vi này không bị truy cứu trách nhiệm hình sự nữa thì những người thực hiện những hành vi này và bị áp dụng hình phạt sẽ được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt hoặc phần hình phạt còn lại. Và theo điểm e khoản 2 Điều 1 Nghị quyết 33/2009/NQ- QH, những người này đương nhiên được xóa án tích. Tuy nhiên, các văn bản trên lại chưa đề cập đến người trong trường hợp này nếu bị phạt tù nhưng cho hưởng án treo thì xử lý như thế nào. Vì vậy, thực tế đã xảy ra những quan điểm khác nhau trong việc xử lý trường hợp này. Ví dụ như tháng 5 năm 2009, A và B cùng phạm tội trộm cắp tài sản trị giá 500.000 đồng. A bị phạt 6 tháng tù giam còn B được hưởng án treo với thời hạn thử thách là 12 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Theo Nghị quyết 33/2009/NQ - QH, A được miễn chấp hành hình phạt và đương nhiên được xóa án tích còn B không được xóa án tích do chưa có văn bản hướng dẫn. B vẫn phải chịu sự giám sát của chính quyền địa phương nơi cư trú trong thời gian thử thách. Nếu B phạm tội mới trong thời gian thử thách thì cần phải tổng hợp hình phạt về tội cũ và mới theo khoản 5 Điều 60 hay không? Và trong trường hợp này có tính là tái phạm hay tái phạm nguy hiểm hay không? Có ý kiến cho rằng trong trường hợp này, Chánh án đã ra quyết định thi hành án hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo sẽ phải ra quyết định miễn toàn bộ thời gian thử thách còn lại cho người bị án treo và họ đương nhiên được xóa án tích Ths. Lê Văn Luật, “Một số vướng mắc cần tháo gỡ khi thực hiện Nghị quyết 33/2009/NQ- QH 12 ngày 19/6/2009 về việc thi hành luật sửa đổi, bổ sung một số Điều Bộ luật hình sự”, tạp chí Kiểm sát số 4/2010, tr.40. . Trong “Tham luận những vướng mắc trong công tác xét xử các vụ án hình sự năm 2009 và những kiến nghị” tháng 1/2010 của Tòa Hình sự Tòa án nhân dân tối cao đã nêu ý kiến về hướng xử lý trong trường hợp này là Chánh án ra quyết định miễn chấp hành hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo, trong đó ghi rõ về việc miễn chấp hành hình phạt án treo cùng với thời gian thử thách. Ví dụ: B bị phạt tù 6 tháng và cho hưởng án treo với thời gian thử thách là 12 tháng thì Quyết định miễn chấp hành hình phạt cũng phải ghi rõ: “Căn cứ vào điểm e khoản 2 Điều 1 Nghị quyết 33/2009/NQ - QH, miễn chấp hành hình phạt 6 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng đối với bị cáo B, bị cáo đương nhiên được xóa án tích”. Hơn nữa, theo điểm c khoản 2 Điều 1 Nghị quyết 33/2009/NQ - QH hướng dẫn thì không xử lý hình sự đối với người thực hiện hành vi quy định tại khoản 1 Điều 138 trừ trường hợp có yếu tố định tội khác mà tài sản bị chiếm đoạt dưới 2 triệu đồng. Vậy nếu một người có một tiền sự (bị xử lý hành chính) mà phạm tội trộm cắp tài sản dưới 2 triệu sẽ bị đưa ra xét xử. Tuy nhiên, điều này sẽ mâu thuẫn với điểm e khoản 2 Điều 1 Nghị quyết 33. Bởi theo điểm e khoản 2 Điều 1 Nghị quyết 33, những người được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt thì đương nhiên được xóa án tích. Nên nếu một người có hành vi trộm cắp tài sản năm 2008 và đã chấp hành xong hình phạt thì sẽ đương nhiên được xóa án tích và đến năm 2009, người này trộm cắp tài sản dưới 2 triệu đồng sẽ không phạm tội. Như vậy, nếu có tiền án về tội trộm cắp tài sản dưới 2 triệu đồng thì không được tính là có yếu tố định tội khác còn tiền sự về tội trộm cắp được coi là yếu tố định tội khác. Điều này đồng nghĩa với việc tiền án có lợi hơn tiền sự? Về mặt thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận xóa án tích cũng còn có phần khó khăn. Cụ thể là đương sự phải làm đơn theo mẫu và giấy chứng nhận đã thi hành án xong (cả phần hình phạt và phần dân sự). Tiếp đó là có giấy chứng nhận không phạm tội mới sau khi chấp hành hình phạt tù của công an cấp quận, huyện cùng bản sao hộ khẩu, bản sao chứng minh nhân dân. Để có được giấy chứng nhận không phạm tội mới, đương sự phải có giấy xác nhận của chính quyền địa phương nơi cư trú là có tiến bộ, chấp hành tốt các quy định. Nếu cư trú ở nhiều nơi khác nhau thì họ phải có giấy chứng nhận ở tất cả các nơi để công an cấp quận, huyện nơi cư trú hiện tại. Ngoài ra, việc quy định thẩm quyền xóa án tích chỉ thuộc về Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử người phạm tội cũng gây cho người xin xóa án tích khó khăn. Chẳng hạn như một người phạm tội đã bị một tòa án quận của thành phố Hà Nội xử sơ thẩm, sau khi chấp hành hình phạt xong, đương sự vào Tp. Hồ Chí Minh làm ăn sinh sống lâu dài, nếu cần phải xin cấp giấy chứng nhận xóa án tích thì người này phải trở vào thành phố Hà Nội, đến đúng tòa án đã xử sơ thẩm mình để xin cấp Giấy chứng nhận xóa án tích. Hơn nữa, pháp luật hình sự chưa quy định về quyền kháng cáo của người có đơn xin xóa án tích theo trình tự phúc thẩm nếu như họ không đồng ý với quyết định của Chánh án nhất là quyết định bác đơn xin xóa án, đã làm hạn chế quyền của người xin xóa án tích. Như vậy, bên cạnh việc đẩy mạnh công tác xóa án tích, cũng đã xảy ra rất nhiều bất cập trong quá trình thực thi pháp luật hình sự về xóa án tích. Vì vậy, cần có những hướng dẫn cụ thể hơn nữa nhằm đảm bảo sự thống nhất cũng như đúng đắn trong công tác xóa án tích. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật quy định về xóa án tích Việc hoàn thiện hệ thống pháp luật là điều kiện tiên quyết để đảm bảo sự thực thi pháp luật đúng đắn trên thực tế. Trước hết, cần ban hành một văn bản pháp luật quy định cụ thể về vấn đề xóa án tích nhằm thay thế cho hai Thông tư liên ngành số 02/1986 và Thông tư liên ngành số 03/1989. Việc ban hành văn bản pháp luật quy định chi tiết chặt chẽ về án tích và xóa án tích mới đảm bảo sự áp dụng pháp luật được đúng đắn và thống nhất. Thứ hai, BLHS cần đưa ra một khái niệm pháp lý chuẩn mực về án tích và xóa án tích nhằm đảm bảo cách hiểu thống nhất và áp dụng pháp luật đồng bộ giữa các Tòa án. Thứ ba, BLHS cần quy định thêm về thời hạn xóa án tích của một số loại hình phạt, cụ thể: Một là, quy định về xóa án tích đối với hình phạt trục xuất. Bởi Bộ luật hình sự hiện nay chưa làm rõ là người bị tuyên phạt trục xuất có chịu án tích hay không? Về vấn đề này, tồn tại hai quan điểm: Quan điểm thứ nhất cho rằng trục xuất bản chất “là hình phạt chính nhưng lại không mang án tích và người bị áp dụng hình phạt trục xuất sẽ không có án tích” Xem: Trịnh Tiến Việt, “Một số quy định của phần chung Bộ luật hình sự năm 1999 cần tiếp tục hoàn thiện”, Hội thảo Khoa học cấp khoa của Đại học Luật Hà Nội tháng 9/ 2008, tr. 158. . Bởi tại Điều 64, 65 BLHS quy định về xóa án tích lại hoàn toàn không đề cập đến hình phạt trục xuất. Đồng thời, trục xuất được hiểu là “buộc người nước ngoài bị kết án phải rời khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” (Điều 32 BLHS năm 1999) nên đằng nào sau khi bị trục xuất, người bị kết án trục xuất cũng sẽ không còn ở Việt Nam và vấn đề án tích đặt ra là không cần thiết. Quan điểm thứ hai cũng là quan điểm người viết đồng tình là vẫn cần quy định xóa án tích đối với hình phạt trục xuất Xem: TS. Dương Tuyết Miên, “Hoàn thiện quy định của BLHS hiện hành về các hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù”, Hội thảo Khoa học cấp khoa của Đại học Luật Hà Nội tháng 9/2008, tr. 122. . Bởi, theo Điều 32 BLHS năm 1999, trục xuất là một hình phạt, vậy nên, người bị áp dụng hình phạt trục xuất vẫn phải chịu hậu quả pháp lý đặc trưng của hình phạt là án tích - đặc trưng cơ bản để phân biệt hình phạt với các biện pháp xử lý khác. Hơn nữa, thực tế cho thấy, một số trường hợp người nước ngoài phạm tội, sau khi ra khỏi lãnh thổ Việt Nam, chỉ một thời gian ngắn họ quay về Việt Nam. Vì pháp luật Việt Nam chưa quy định rõ sau bao lâu kể từ ngày bị trục xuất họ được quay lại Việt nam nên họ vẫn có thể nhập cảnh và nếu họ tiếp tục phạm tội ở Việt Nam thì lần bị kết án trục xuất trước không bị coi lại có án tích là chưa hợp lý. Bởi cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ là những hình phạt nhẹ hơn trục xuất nhưng Điều 64 quy định có án tích là một năm trong khi trục xuất lại không đề cập gì. Vì vậy, cần quy định thời hạn xóa án tích đối với hình phạt trục xuất theo hướng là một năm kể từ ngày chấp hành xong bản án hoặc từ ngày hết hiệu lực thi hành bản án. Quy định thời hạn xóa án tích một năm đối với hình phạt trục xuất là phù hợp bởi, xét về tính chất của hình phạt thì hình phạt trục xuất thuộc hệ thống hình phạt chính nhẹ hơn hình phạt tù (như cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ). Thời hạn một năm cũng là thời gian phù hợp để người bị kết án có thể cải tạo, tu dưỡng bản thân mình để hòa nhập với cộng đồng, trở thành người có ích cho xã hội. Hai là, quy định thêm về thời hạn xóa án tích đối với hình phạt tù chung thân, tử hình. Quy định tại điểm d khoản 2 Điều 64 và điểm c khoản 1 Điều 65 BLHS năm 1999 chỉ đề cập đến thời hạn xóa án tích đối với người bị kết án phạt tù có thời hạn với mức tù hơn 15 năm. Vậy có cần quy định cách tính thời hạn xóa án tích đối với người bị tuyên phạt tù chung thân và tử hình sau khi cơ quan có thẩm quyền xác định người bị kết án tử hình có đủ điều kiện để được ân giảm hay không? Một số quan điểm xuất phát từ bản chất của hình phạt tù chung thân là hình phạt giam cầm người bị kết án suốt cuộc đời còn lại, còn hình phạt tử hình là hình phạt nghiêm khắc nhất nhằm tước đoạt đi sinh mạng của người bị áp dụng hình phạt. Như vậy, không cần thiết phải đặt ra vấn đề án tích đối với hình phạt tù chung thân và tử hình bởi thực tế không có ý nghĩa cho việc xác định tái phạm. Tuy nhiên, trên thực tế có nhiều trường hợp hình phạt đã tuyên không phải là hình phạt mà người bị kết án phải thi hành trên thực tế. Đó là trường hợp trước khì thi hành án tử hình phát hiện người bị kết án là phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi hoặc người bị kết án tử hình được ân giảm. Theo quy định tại Điều 35 BLHS thì người này sẽ được chuyển hình phạt tử hình xuống tù chung thân và chuyển chung thân được giảm nhiều lần và đảm bảo thực tế chấp hành hình phạt 20 năm. Mặt khác, theo khoản 4 Điều 55 BLHS năm 1999 quy định “Việc áp dụng thời hiệu đối với các trường hợp xử phạt tù chung thân hoặc tử hình, sau khi đã qua thời hạn mười lăm năm, do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao”. Như vậy, về nguyên tắc, có thể áp dụng thời hiệu thi hành án đối với các trường hợp xử phạt tù chung thân và tử hình. Nên câu hỏi đặt ra là nếu hết thời hiệu thi hành án đối với trường hợp xử phạt tù chung thân hoặc tử hình và người đó đáp ứng điều kiện để được xóa án tích theo Điều 64, Điều 65 BLHS năm 1999 thì liệu người đó có được xóa án tích hay không? Hơn nữa, trên thực tế có thể xảy ra trường hợp đang trong quá trình chấp hành án tù chung thân thì lại phạm tội thì có cần xác định là có án tích để tính tình tiết tái phạm, tái phạm nguy hiểm hay không? Vì vậy, nên sửa đổi khoản 2 Điều 64 theo hướng: “7 năm trong trường hợp hình phạt tù từ hơn 15 năm, tù chung thân, tù chung thân chuyển xuống tù có thời hạn, tử hình chuyên xuống tù chung thân”, sửa đổi khoản 1 điểm c Điều 65 theo hướng “đã bị phạt tù trên 15 năm, tù chung thân, tù chung thân được giảm xuống hình phạt tù có thời hạn, tử hình chuyển xuống tù chung thân mà không phạm tội mới trong thời hạn 10 năm kể từ khi chấp hành xong bản án”. Thứ tư, trong BLHS cần quy định lại về thời điểm bắt đầu tính thời hạn trong trường hợp xóa án tích theo quyết định của Tòa án, theo đó, thời điểm bắt đầu tính thời hạn của xóa án tích theo quyết định của Tòa án kể từ khi chấp hành xong bản án. Đồng thời BLHS mới chỉ quy định thời hiệu thi hành án có liên quan đến các hình phạt chính nên cần nghiên cứu quy định đối với hình phạt bổ sung. Vì trong thực tế, nhiều trường hợp đã thi hành xong hình phạt chính nhưng do các lý do khách quan chưa thể thi hành các hình phạt bổ sung hoặc các quyết định nên chưa được xóa án tích. Thứ năm, nên quy định lại điểm c khoản 2 Điều 64 BLHS theo hướng tách hai thời hạn tương ứng với hai loại tội nghiêm trọng và rất nghiêm trọng bởi việc áp dụng chung thời hạn xóa án tích cho cả hai loại tội nghiêm trọng và rất nghiêm trọng là chưa thực sự hợp lý, chưa phân hóa hết tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội. Thứ sáu, cần có hướng dẫn cụ thể của Tòa án về trường hợp xóa án tích trong trường hợp tổng hợp hình phạt vừa có tội phạm thuộc Chương XI và Chương XXIV vừa có các tội phạm khác. Thứ bảy, cần quy định giản lược về thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận xóa án tích. Cụ thể là không cần phải yêu cầu đương sự xác nhận ở Công an cấp quận, chỉ cần công an cấp phường là đủ bởi đây là nơi gần dân nhất, nắm rõ tình hình nhất. Ngoài ra, cần quy định cụ thể thời hạn cho việc cấp giấy chứng nhận. Thêm vào đó, đối với những bản án đơn giản, chỉ cần căn cứ vào bản án và các biên lai của đương sự (ví dụ về việc đã chấp hành hình phạt xong, biên lai đóng án phí...) là đủ mà không cần đến sự xác nhận của cơ quan thi hành án . Như vậy, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật quy định về xóa án tích không chỉ nhằm tạo hành lang pháp lý chặt chẽ giúp những người phạm tội có thể dễ dàng hòa nhập với cộng đồng mà còn tạo thuận lợi cho chính các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc thực thi pháp luật, giải thích pháp luật. KẾT LUẬN CHƯƠNG II Trong Chương II, Khóa luận tập trung nghiên cứu và phân tích các quy định của pháp luật hiện hành về xóa án tích như các trường hợp xóa án tích, điều kiện cũng như thủ tục xóa án tích trong từng trường hợp, cách tính thời hạn xóa án tích. Từ đó, chỉ ra và phân tích những vướng mắc trong quá trình áp dụng quy định của pháp luật về xóa án tích. Pháp luật hiện hành quy định bốn trường hợp xóa án tích: đương nhiên xóa án tích, xóa án tích theo quyết định của Tòa án, xóa án tích trong trường hợp đặc biệt và xóa án tích đối với người chưa thành niên. Theo đó, tùy thuộc vào những điều kiện đặc trưng để áp dụng từng trường hợp xóa án tích mà thủ tục xin xóa án tích là khác nhau. Trong khi đó, hiện nay chưa có văn bản pháp luật nào hướng dẫn cụ thể, chi tiết về thủ tục xóa án tích trong từng trường hợp. Hơn nữa, việc quy định chưa đầy đủ, rõ ràng về thời hạn xóa án tích đối với một số hình phạt như trục xuất, tù chung thân, tử hình; thời hạn xóa án tích trong trường hợp tổng hợp hình phạt… gây ra các cách hiểu và áp dụng không thống nhất giữa các Tòa án. Bởi vậy, việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về xóa án tích là yêu cầu cấp thiết trong công cuộc xây dựng pháp luật hình sự Việt Nam hiện nay. Đồng thời, do nhận thức chưa đúng về tầm quan trọng của việc xóa án tích của chính những người bị kết án cũng như công tác tuyên truyền pháp luật chưa sâu rộng nên người bị kết án không biết được quyền lợi của mình để yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xóa án tích khi có đủ điều kiện. Một số địa phương chưa chủ động quan tâm chu đáo đến hoạt động này, thủ tục xóa án tích còn phức tạp, người bị kết án theo quy định phải làm đơn gửi Tòa án đã xét xử sơ thẩm nhưng không được hướng dẫn cụ thể nên nhiều trường hợp công an cấp huyện chỉ thực hiện sau khi Tòa án có yêu cầu bằng văn bản. Vì vậy, việc tăng cường tuyên truyền giáo dục các quy định của Bộ luật Hình sự nói chung và các quy định về xóa án tích nói riêng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, không những nhằm phát huy hết giá trị, vai trò đích thực của các chế định trong Bộ luật hình sự nói chung và chế định xóa án tích nói riêng mà còn nhằm nâng cao tinh thần tự giác, ý thức về quyền lợi công dân của chính những người phạm tội trong công tác phòng và chống tội phạm. Sự thiếu đồng bộ và phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền cũng là một tác nhân gây khó khăn cho công tác xóa án tích. Việc ra được quyết định xóa án tích đúng đắn phải đảm bảo sự thực hiện đồng bộ của các cơ quan chuyên ngành có liên quan bao gồm Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân, Cơ quan Công an. Vì vậy, cần nâng cao trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc xóa án tích. Hiện nay, việc tăng thẩm quyền cho Trung tâm lý lịch tư pháp cũng như việc đầu tư hệ thống kỹ thuật về lý lịch tư pháp thống nhất trên toàn quốc sẽ giúp đỡ rất lớn cho Tòa án trong việc cấp giấy chứng nhận xóa án tích cho người phạm tội. Nhưng điều này cũng đòi hỏi sự phối hợp ngày càng chặt chẽ hơn nữa giữa các cơ quan có thẩm quyền bao gồm Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan Công an… để đảm bảo lượng thông tin luôn cập nhật, chính xác. Có như vậy, mới làm cho những quy định của pháp luật hình sự về xóa án tích thực sự đi vào cuộc sống, góp phần đấu tranh, phòng ngừa và chống tội phạm có hiệu quả cao hơn. Tóm lại, việc hoàn thiện quy định của pháp luật hiện hành về xóa án tích cũng như việc đẩy mạnh chất lượng của công tác xóa án tích không những đảm bảo quyền lợi hợp pháp của những người xin xóa án tích mà còn đảm bảo được ý nghĩa thực tiễn sâu sắc của pháp luật hình sự Việt Nam. KẾT LUẬN Việc nghiên cứu vấn đề xóa án tích là một việc có ý nghĩa to lớn cả về mặt lập pháp cũng như thực tiễn. Trong khóa luận, tác giả đã nghiên cứu quy định của xóa án tích trên cả hai phương diện: lý luận và thực tiễn. Trong chương I, tác giả đã tập trung tìm hiểu về lịch sử lập pháp của quy định xóa án tích từ đó tập trung nghiên cứu về khái niệm xóa án tích. Mặc dù pháp luật chưa quy định cũng như chưa có một khái niệm thống nhất trong giới khoa học Luật Hình sự nhưng có thể hiểu xóa án tích “là chế định nhân đạo trong luật hình sự Việt Nam, thể hiện sự xóa bỏ việc mang án tích đối với người bị kết án và bị áp dụng hình phạt, theo quy định tại các điều từ Điều 64 đến Điều 67 của Bộ luật này. Người được xóa án tích coi như chưa bị kết án và được Tòa án cấp sơ thẩm cấp Giấy chứng nhận xóa án tích hoặc Quyết định xóa án tích”. Trong chương II, tác giả đã tập trung chỉ ra và phân tích quy định của Bộ luật hình sự hiện hành về xóa án tích, từ đó, tìm hiểu thực tiễn áp dụng những quy định xóa án tích. BLHS hiện hành trên cơ sở kế thừa những quy định của BLHS năm 1985 đã quy định bốn trường hợp xóa án tích với những điều kiện, thủ tục xóa án tích khác nhau phụ thuộc vào từng đối tượng phạm tội, loại tội phạm cũng như loại và mức độ hình phạt bị áp dụng. Điều này vừa thể hiện tính chất nhân đạo đối với từng đối tượng phạm tội vừa thể hiện chính sách phân hóa tội phạm sâu sắc của pháp luật hình sự Việt Nam. Tuy nhiên, hiện nay, công tác xóa án tích vẫn còn một số điểm vướng mắc. Việc thiếu văn bản pháp luật quy định cụ thể về vấn đề thủ tục xóa án tích gây ra không ít khó khăn trong việc cấp Giấy chứng nhận xóa án tích hay Quyết định xóa án tích vì thiếu cơ sở pháp lý. Một số quy định về xóa án tích chưa được đề cập tới như thời hạn xóa án tích đối với một số hình phạt như trục xuất, tù chung thân, tử hình…, cách xác định thời hạn xóa án tích trong trường hợp tổng hợp hình phạt. Đồng thời, một số quy định chưa thực sự rõ ràng dẫn tới những cách hiểu cũng như áp dụng không thống nhất như quy định về thời hạn xóa án tích khi phạm tội mới… Vì vậy, người viết cho rằng việc hoàn thiện quy định của BLHS về chế định xóa án tích là nhiệm vụ quan trọng trong công cuộc hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam. Điều này không chỉ có ý nghĩa nâng cao trình độ lập pháp của pháp luật hình sự Việt Nam mà còn nhằm đảm bảo tối đa quyền lợi hợp pháp của những người phạm tội. Nhiệm vụ trước hết là cần ban hành văn bản pháp luật nhằm quy định cụ thể về xóa án tích như khái niệm xóa án tích, thủ tục xóa án tích trong từng trường hợp. Đồng thời, đảm bảo sự thống nhất trong công tác áp dụng pháp luật, cần làm rõ một số quy định hiện còn đang gây ra các cách hiểu khác nhau như quy định về xóa án tích đối với người chưa thành niên, quy định về thời hạn xóa án tích trong trường hợp tổng hợp hình phạt, tổng hợp bản án. Hơn nữa, cần quy định thêm một số quy định về thời hạn xóa án tích đối với một số hình phạt như trục xuất (thời hạn là một năm), tù chung than, tử hình (thời hạn là bảy năm hoặc mười lăm năm) cũng như trong trường hợp người được miễn hình phạt (thời hạn là một năm), xóa án tích đối với trường hợp người phạm nhiều tội (trong đó có cả tội phạm thuộc Chương XI và Chương XXIV BLHS năm 1999 và tội phạm khác)… Song hành với việc hoàn thiện pháp luật thì việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền pháp luật hình sự nói chung, quy định về xóa án tích nói riêng để những người phạm tội hiểu rõ được quyền lợi của mình cũng như đẩy mạnh sự phối hợp của các cơ quan chuyên ngành sẽ có ý nghĩa tích cực cho việc nâng cao hiệu quả công tác xóa án tích trong thời gian tới. Trên đây là công trình nghiên cứu mang tính chất khoa học đầu tiên của em. Vì sự nhận thức về vấn đề này còn hạn chế, em kính mong sự đóng góp ý kiến của các thầy giáo, cô giáo cũng như của các bạn./. MỤC LỤC DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docxChế định xóa án tích trong luật hình sự Việt Nam.docx