Chiến lược xuất khẩu nông sản của tổng công ty nông nghiệp sài gòn đến năm 2015

MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 1 hương 1 . C : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC XUẤT KHẨU 4 1.1- Cơ sở lý luận của chiến lược phát triển ngoại thương . 4 1.1.1. Khái niệm về chiến lược phát triển ngoại thương 4 1.1.2. Các loại hình chiến lược ngoại thương . 4 1.2- Những vấn đề cơ bản của chiến lược xuất khẩu . 6 1.2.1. Nhiệm vụ và vai trò của xuất khẩu đối với quá trình phát triển kinh tế . 6 1.2.1.1. Nhiệm vụ của xuất khẩu . 6 1.2.1.2. Vai trò của xuất khẩu . 7 1.2.2. Những nhân tố ảnh hưởng đến việv lựa chọn chiến lược xuất khẩu . 9 1.2.2.1. Đặc điểm thị trường 9 1.2.2.2. Đặc điểm sản phẩm . . 9 1.2.2.3. Đặc điểm khách hàng 9 1.2.2.4. Đặc điểm môi giới . 9 1.2.2.5. Tiềm lực của doanh nghiệp . 10 1.3- Tổng quan về tình hình xuất khẩu nông sản tại Thành phố Hồ Chí Minh . 10 1.3.1. Kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. 10 1.3.2. Các mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ yếu của Thành phố Hồ Chí Minh . 12 1.3.3. Thị trường xuất khẩu nông sản của Thành phố Hồ Chí Minh . 13 Chương 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU NÔNG SẢN CỦA TỔNG CÔNG TY NÔNG NGHIỆP SÀI GÒN . 2.1. Giới thiệu sơ lược Tổng công ty Nông Nghiệp Sài Gòn . 17 . 17 2.1.3. Cơ cấu tổ chức quản lý . 19 2.1.1. Lịch sử hình thành 17 2.1.2. Chức năng nhiệm vụ 18 2.1.4. Tình hình xuất khẩu trong thời gian từ năm 2002 đến năm 2006 19 2.2. Phân tích thực trạng xuất khẩu nông sản tại Tổng công ty Nông nghiệp Sài Gòn. 22 2.2.1 Phân tích theo thị trường. 22 2.2.2 Phân tích theo cơ cấu mặt hàng . 24 2.2.3. Phân tích theo giá cả . 25 2.2.4. Phân tích theo giá trị . 27 2.2.5. Phân tích môi trường cạnh tranh. . 29 2.3. Đánh giá chung tình hình xuất khẩu nông sản của Tổng công ty Nông nghiệp Sài Gòn . 29 2.3.1.Những cơ hội . 3 2.3.2 Những thách thức. . 31 0 2.3.3.Những điểm mạnh . 33 2.3.4.Những điểm yếu 34 2.4. Ma trận SWOT 37 Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG CHIẾN LƯỢC XUẤT KHẨU NÔNG SẢN CỦA TỔNG CÔNG TY NÔNG NGHIỆP SÀI GÒN ĐẾN NĂM 2015 . 39 3.1. Quan điểm phát triển trong định hướng xuất khẩu hàng nông sản 3.1.1. Quan điểm thứ nhất 40 40 . 43 3.1.2. Quan điểm thứ hai 40 3.1.3. Quan điểm thứ ba . 41 3.1.4. Quan điểm thứ tư 41 3.2. Định hướng phát triển chung của nông sản xuất khẩu Việt Nam đến năm 2015 . 42 3.3. Mục tiêu và định hướng phát triển xuất khẩu nông sản tại Tổng công ty Nông Nghiệp Sài Gòn đến năm 2015 43 3.3.1. Dự báo nhu cầu nhập khẩu nông sản của Thế giới . 3.3.1.1. Mặt hàng gạo . 43 3.3.1.2. Mặt hàng cà phê. . 45 3.3.1.3. Mặt hàng rau quả . 46 3.3.1.4. Nông sản khác ( hạt tiêu, điều, .) . 48 3.3.2. Mục tiêu và định hướng phát triển xuất khẩu nông sản tại Tổng công ty Nông nghiệp Sài Gòn đến năm 2015 . 50 3.3.2.1. Về kim ngạch xuất khẩu nông sản 51 3.3.2.2. Về thị trường xuất khẩu nông sản . 51 61 3.3.2.3. Về cơ cấu nông sản xuất khẩu . 53 3.3.2.4. Về giá xuất khẩu . 55 3.4. Giải pháp và kiến nghị thực hiện chiến lược xuất khẩu nông sản đến năm 2015 . 55 3.4.1. Các giải pháp chủ yếu 55 3.4.1.1. Tăng cường công tác tổ chức thu mua tạo nguồn hàng xuất khẩu . 55 3.4.1.2. Phát triển mở rộng đầu ra cho xuất khẩu nông sản . 57 3.4.1.3. Tổ chức sắp xếp lại doanh nghiệp . 58 3.4.1.4. Xây dựng chiến lược kinh doanh . 59 3.4.1.5. Tập trung phát triển sản phẩm có lợi thế, tổ chức tốt khâu gia công, chế biến, bảo quản để nâng cao chất lượng hàng xuất khẩu . 60 3.4.1.6. Tổ chức tốt công tác xúc tiến thương mại . 3.4.1.7. Xây dựng giá xuất khẩu cạnh tranh . 62 3.4.1.8. Xây dựng thương hiệu cho sản phẩm 63 3.4.2. Các kiến nghị đối với cơ quan Nhà nước, các tổ chức, hiệp hội . 65 3.4.2.1. Các kiến nghị đối với cơ quan Nhà Nước 65 3.4.2.2. Các kiến nghị đối với các tổ chức, hiệp hội . 67 KẾT LUẬN . . 69

pdf79 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 20/08/2013 | Lượt xem: 2751 | Lượt tải: 20download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Chiến lược xuất khẩu nông sản của tổng công ty nông nghiệp sài gòn đến năm 2015, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ấn Năm Năm 2000 2006 2010 Thị trường Số lượng Tỷ trọng % Số lượng Tỷ trọng % Số lượng Tỷ trọng % Châu Mỹ 126.000 30% 356.750 40% 401.000 41% Châu Âu 210.000 50% 337.500 38% 370.000 38% Châu Á 63.000 15% 157.000 18% 165.000 17% Châu Phi 21.000 5% 35.750 4% 40.000 4% Tổng cộng 420.000 100% 887.000 100% 976.000 100% (Nguồn: tổng hợp từ số liệu Cục thống kê và của ICO) Theo số liệu bảng 13, tổng lượng cà phê xuất khẩu của Việt Nam năm 2006 khoảng 887.000 tấn (đạt kim ngạch gần 1,1 tỷ USD).Dự báo trong 5 năm tới, đến năm 2010 xuất khẩu cà phê Việt Nam đạt khoảng 976.000 tấn (tăng bình quân 2% mỗi năm). Về giá, Tổ chức cà phê thế giới (ICO) cũng dự báo giá cà phê thế giới trong thời gian tới cũng sẽ giữ ở mức cao do nguồn cung hạn chế, dự trữ thấp trong khi nhu cầu không ngừng tăng lên. Nhất là sản lượng cà phê của Braxin- một trong những nước xuất khẩu cà phê hàng đầu thế giới, sẽ giảm đáng kể trong niên vụ 2007/2008. Bên cạnh đó, một số nước có nguồn cà phê dồi dào như Braxin, Việt Nam hay Colombia, do điều kiện thời tiết thay đổi thất thường cộng với việc giá vật tư, nhiên liệu leo thang đẩy người trồng vào tình huống khó khăn, khiến diện tích trồng cà phê bị thu hẹp lại. Tại Việt Nam, lượng cà phê tiêu thụ nội địa có xu hướng 53 ngày càng tăng lên, song vẫn chỉ chiếm khoảng 5% tổng sản lượng cà phê cả nước. Thực tế này dẫn đến một hệ quả tất yếu là sản lượng không đáp ứng đủ nhu cầu và giá cà phê trên thế giới sẽ duy trì ở mức cao trong thời gian tới. 3.2.1.3. Mặt hàng rau quả: Trong những năm tới thị trường rau quả toàn cầu nhất là rau quả tươi có xu hướng tăng tỷ trọng giao dịch (do thị trường rau quả chế biến đã bảo hòa và do các sản phẩm tươi có giá trị dinh dưỡng cao hơn) và thị trường sản phẩm hữu cơ ngày càng được chú trọng. Theo FAO, khối lượng rau quả hữu cơ tăng trung bình 20- 30% trong khoảng 5 năm trở lại đây. Theo dự báo của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA), việc tiêu thụ rau sẽ tăng mạnh trong giai đoạn 2005-2020 đặc biệt là rau ăn lá. Nhu cầu nhập khẩu rau dự báo sẽ tăng khoảng 1,8%/năm. Mặt hàng rau hoa quả, một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam có mức xuất khẩu tăng trên 30%/ năm trong 3 năm gần đây, dự báo sẽ là mặt hàng nông sản lớn nhất của sân chơi WTO, trị giá gần 103 tỷ USD. Hiện tại rau quả chưa phải là mặt hàng xuất khẩu thế mạnh của Việt Nam do có nhiều hạn chế về chất lượng giống, chất lượng sản phẩm, công nghệ bảo quản, chế biến… song vẫn phải thừa nhận đây là ngành hàng rất cần được quan tâm ưu tiên đầu tư phát triển ở Việt Nam vì những lý do cơ bản sau: Thứ nhất, lợi thế rất rõ ràng của Việt Nam là có thể phát triển đa dạng nhiều loại rau quả trên cơ sở điều kiện về đất đai, khí hậu mà nhiều quốc gia không có được. Thứ hai, một khi giải quyết được những hạn chế nêu trên thì đây có thể là một ngành có khả năng mở rộng và phát triển sản xuất lớn lao mà không chịu nhiều áp lực về môi trường sinh thái và phát triển bền vững. Thứ ba, nếu có thể ưu tiên phát triển được ngành hàng này thì nhiều vấn đề xã hội cũng sẽ được giải quyết một cách hiệu quả như vấn đề tạo việc làm cho người lao động, giảm bớt khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng miền, phát triển các khu vực nông thôn, miền núi, vùng đồng bào dân tộc khó khăn. Kim ngạch xuất khẩu rau quả của nước ta năm 2006 đạt trên 234 triệu USD. Việt Nam phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu bình quân giai đoạn 2006 -2010 là 23-25%/năm - đạt kim ngạch khoảng 700 triệu USD vào năm 2010; 54 giai đoạn 2011 – 2015 là 30%/năm – đạt kim ngạch khoảng 1.750 triệu USD vào năm 2015. Về thị trường xuất khẩu, ngoài thị trường Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc, trong thời gian tới cần hướng tới các thị trường khác để đa dạng hoá tránh lệ thuộc trong xuất khẩu như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Liên Bang Nga, EU… Các thị trường mục tiêu được lựa chọn dựa trên cơ sở sau đây: - Thị trường Trung Quốc: nhu cầu nhập khẩu những năm gần đây khoảng 680 triệu USD/năm, xuất khẩu của Việt Nam năm 2005 vào Trung Quốc chiếm 5,1% kim ngạch nhập khẩu của nước này, phấn đấu đến 2010 nâng tỷ lệ này lên khoảng 15% (đạt kim ngạch trên 100 triệu USD). - Thị trường Đài Loan: nhu cầu nhập khẩu những năm gần đây khoảng 270 triệu USD/năm, xuất khẩu của Việt Nam năm 2005 vào Đài Loan chiếm 9,3% kim ngạch nhập khẩu của nước này, phấn đấu đến 2010 nâng tỷ lệ này lên trên 18% (đạt kim ngạch trên 50 triệu USD). - Thị trường Nhật Bản: nhu cầu nhập khẩu những năm gần đây khoảng gần 6 tỷ USD/năm, xuất khẩu của Việt Nam năm 2005 vào Nhật Bản chỉ chiếm 0,5% kim ngạch nhập khẩu của nước này, phấn đấu đến 2010 nâng tỷ lệ này lên 2% (đạt kim ngạch trên 120 triệu USD). Tuy nhiên, để có thể thâm nhập vào thị trường thế giới, rau quả Việt Nam phải đạt các tiêu chuẩn quốc tế đảm bảo chất lượng rau quả như EUROGAP, HACCP và ISO 9001-2000. Nếu không có chu trình nông nghiệp an toàn GAP, trái cây và rau quả Việt Nam không những tiếp tục sa sút trong xuất khẩu mà còn gặp khó khăn ngay tại thị trường trong nước vì không thể cạnh tranh với hàng ngoại. 3.3.1.4. Nông sản khác ( hạt tiêu, hạt điều nhân …) Ngoài 2 mặt hàng gạo và cà phê đứng vị trí thứ 2 thế giới, xuất khẩu hạt tiêu đứng đầu thế giới; điều nhân đứng thứ 5 thế giới. Việt Nam hiện chiếm 27% thị 55 phần của thế giới về xuất khẩu điều, chiếm 24% thị phần thế giới về xuất khẩu tiêu… cụ thể như sau: 3.3.1.4.1. Mặt hàng hạt tiêu : Trong 5 năm gần đây (2001-2006), hạt tiêu VN nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường thế giới và khẳng định vị trí số 1 về sản lượng và tổng lượng xuất khẩu. Xu hướng trên thị trường thế giới đang tiếp tục có những thuận lợi cho hạt tiêu Việt Nam do: - Thời tiết không thuận lợi cộng với sâu bệnh lan rộng khiến cho sản lượng hạt tiêu toàn cầu năm 2007, theo dự báo của Tổ chức hạt tiêu thế giới (IPC), sẽ sụt giảm từ 15%-20%. Năm 2006, VN cung ứng cho thị trường thế giới 116.670 tấn, chiếm gần 50% tổng lượng cung, tăng 21% so với năm trước đó. - Trước dự báo trong những năm tới nhiều nước sẽ sụt giảm về sản lượng trong khi nhu cầu trên thế giới thường tăng trên dưới 3,5%/năm, mức nhu cầu bình quân trên thị trường thế giới khoảng 240.000 tấn/năm, vị trí số 1 của nước ta càng được củng cố. Giới kinh doanh hạt tiêu cũng cho rằng, nếu ngành hồ tiêu Việt Nam chỉ “biến động một ít” thì cũng sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến thị trường hạt tiêu thế giới. Về giá xuất khẩu: Trước tình hình hạt tiêu Việt Nam được các nhà kinh doanh trên thế giới quan tâm đặt hàng, đồng thời giá hạt tiêu được dự báo sẽ tăng cao ổn định ở mức từ 2.200-2.500 USD/tấn trong năm 2007 và vẫn còn cao ở các năm tiếp theo. Nhìn chung, mặt hàng hạt tiêu của Việt Nam có lợi thế cạnh tranh cao do chiếm thị phần quan trọng trong tổng cung trên toàn thế giới, cho thấy thuận lợi rất lớn cả về thị trường và giá cả xuất khẩu. Tuy nhiên, việc sản xuất hồ tiêu không phải không gặp khó khăn. Trong sản xuất còn chênh lệch năng suất, tiêu chết, giá thành tiêu tăng, chất lượng chưa cao, vùng nguyên liệu chưa đầu tư. Về xuất khẩu, giá vẫn kém giá tiêu cùng loại của các nước từ 200-300 USD/tấn. Tiêu của ta chưa có thương hiệu, việc xúc tiến thương mại còn nhiều hạn chế...Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, mục tiêu xuất khẩu tiêu năm 2007 đạt 90.000 tấn, từ năm 56 2008-2010 ổn định 100.000 tấn/năm. Đồng thời hướng tới sản xuất tiêu sạch - tiêu hữu cơ theo công nghệ mới. 3.3.1.4.2. Mặt hàng hạt điều : - Về sản lượng và thị trường: Theo kế hoạch năm 2006 của Vinacas là thu về 600 - 650 triệu USD, trong bối cảnh giá nhân điều thế giới đang cao, bình quân 5.000USD/tấn. Dự báo của Vinacas năm 2007, với tốc độ gia tăng sản lượng và chất lượng điều thô trong nước như bốn năm qua, đến năm 2007, mặt hàng điều xuất khẩu sẽ đạt một tỷ USD (tốc độ tăng khoảng 40%/năm). Điểm đặc biệt trong sự tăng trưởng ngoạn mục này là việc mở rộng thị trường. Trước đây xuất khẩu điều thường tập trung vào Trung Quốc, nhưng nay đã vào được các thị trường cao cấp như Mỹ, EU. Năm 2005 thị trường Mỹ chiếm 41% kim ngạch xuất khẩu điều Việt Nam. Về sản phẩm, từ chỗ chỉ lo xuất khẩu 100% nhân điều, nay các doanh nghiệp đã đầu tư máy móc để chế biến các loại bánh kẹo từ hạt điều nhân để gia tăng giá trị xuất khẩu, đồng thời quay trở lại cung cấp cho thị trường rộng lớn trong nước. - Về giá: do xuất khẩu nhân điều liên tục tăng trưởng trong các năm qua khiến cho giá điều thô cũng biến động thất thường. Năm 2006 giá điều thô trong nước đã vượt qua ngưỡng 1.000USD/tấn so với 750-800 USD/ tấn năm 2005, được xem là mức tăng cao nhất từ trước tới nay. Nhìn chung, nhu cầu hạt điều nhân trên thế giới và giá nhập khẩu của các nước vẫn duy trì ở mức cao cho thấy thị trường hạt điều của Việt Nam hết sức có triển vọng trong tương lai. 3.3.2. Mục tiêu và định hướng phát triển xuất khẩu nông sản tại Tổng công ty Nông nghiệp Sài Gòn từ nay đến năm 2015 Mục tiêu phát triển xuất khẩu nông sản tại Tổng công ty Nông nghiệp Sài Gòn đến năm 2015 được xây dựng dựa vào các cơ sở sau đây: Một là, chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn đến năm 2010 đã đề ra mục tiêu và biện pháp đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu trên cơ sở chuyển đổi cơ 57 cấu sản xuất và chuyển giao khoa học công nghệ vào sản xuất nông - lâm nghiệp, đẩy mạnh xuất khẩu; phấn đấu đến năm 2010 có kim ngạch xuất khẩu từ 7-8 tỷ USD, nâng cao vị thế của Việt Nam trong việc xuất khẩu hàng nông lâm sản trên thị trường thế giới. Hai là, mục tiêu chung tại Đại hội lần thứ X của Đảng: “… Đẩy mạnh xuất khẩu, chủ động về nhập khẩu, kiềm chế và thu hẹp dần về nhập siêu. Tăng nhanh tỷ trọng xuất khẩu các sản phẩm chế biến có giá trị tăng thêm cao, giàu hàm lượng công nghệ, có sức cạnh tranh, tạo thêm các sản phẩm xuất khẩu chủ lực mới, hạn chế và tiến tới chấm dứt xuất khẩu tài nguyên thiên nhiên và nông sản chưa qua chế biến. Củng cố và mở rộng thị trường xuất khẩu, tạo thị trường ổn định cho các mặt hàng có khả năng cạnh tranh; tăng thêm thị phần ở các thị trường lớn và khai mở các thị trường còn nhiều tiềm năng. Phấn đấu đưa tổng kim ngạch xuất khẩu 5 năm tới lên hơn 2 lần 5 năm trước …” Ba là, dựa vào đề án phát triển xuất khẩu giai đoạn 2006 – 2010 được Chính phủ đã phê duyệt ngày 30/6/2006. Bốn là, dựa vào các dự báo nhu cầu nhập khẩu nông sản của thế giới trong những năm tới. Năm là, căn cứ vào tình hình xuất khẩu thực tế của Tổng công ty Nông nghiệp Sài Gòn trong thời gian qua và khả năng trong thời gian tới. Trên các cơ sở đó, Tổng công ty Nông nghiệp Sài Gòn xây dựng các mục tiêu định hướng xuất khẩu nông sản từ nay đến năm 2015 như sau: 3.3.2.1. Về kim ngạch xuất khẩu nông sản: Mục tiêu xuất khẩu của Tổng công ty Nông nghiệp Sài Gòn trong 10 năm tới (2006 – 2015) chia làm 2 giai đoạn: ¾ Giai đoạn 2006-2010: kim ngạch xuất khẩu tăng với tốc độ bình quân là 12%/năm. Trong đó xuất khẩu nông sản chiếm 45% trong tổng kim ngạch xuất khẩu. ¾ Giai đoạn 2011-2015: kim ngạch xuất khẩu tăng với tốc độ bình quân là 15%/năm. Trong đó xuất khẩu nông sản chiếm 50% tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu. 58 Với tốc độ này, kim ngạch xuất khẩu nông sản của Tổng công ty trong tới gian từ 2006 đến 2015 được thể hiện ở bảng sau: Bảng 14: Dự kiến kim ngạch xuất khẩu nông sản giai đoạn 2006 -2015 ĐVT: 1.000USD Chỉ tiêu Năm 2006 Năm 2010 Năm 2015 Kim ngạch XK trực tiếp 26.083 38.603 67.555 - Trong đó: nông sản 10.433 17.371 33.777 Tỷ lệ % XK nông sản/ tổng Kim ngạch XK 40% 45% 50% ( Nguồn: dự báo dựa theo tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu do tác giả tự tính toán). 3.3.2.2. Về thị trường xuất khẩu nông sản Một trong những khâu then chốt của chiến lược phát triển xuất nhập khẩu đến năm 2010 của Việt Nam là mở rộng và đa dạng hóa thị trường. Dự kiến, khu vực thị trường Châu Á giảm dần tỷ trọng từ 48,5% năm 2006 xuống còn 45,5% năm 2010 song vẫn giữ tỷ lệ chiếm ưu thế trong cơ cấu xuất nhập khẩu hàng hóa Việt Nam. Xuất khẩu vào khu vực thị trường Châu Âu cần đảm bảo tăng nhẹ tỷ trọng từ 18,2% năm 2006 lên 22% vào năm 2010. Xuất khẩu vào thị trường Châu Mỹ tăng dần tỷ trọng 22,5% năm 2006 lên 24% vào năm 2010. Tỷ trọng xuất khẩu vào khu vực thị trường Châu Phi tăng khá từ 2,2% năm 2006 lên 2,8% năm 2010. Khu vực thị trường Châu Đại Dương và các thị trường khác có tỷ trọng giảm từ 8,6% năm 2006 xuống 4,7% năm 2010. Bảng15: Dự kiến cơ cấu thị trường năm 2006 và năm 2010 Thị trường Cơ cấu năm 2006 (%) Cơ cấu năm 2010 (%) 1. Châu Á 48,5 45,5 - ASEAN 16,5 11,5 - Trung Quốc 9,7 10,7 - Nhật Bản 14,2 12,4 2. Châu Âu 18,2 22,0 59 - EU -25 16,9 20,5 3. Châu Mỹ 22,5 24,0 - Hoa Kỳ 20,4 23,1 4. Châu Phi 2,2 2,8 5. Châu Đại Dương và thị trường khác 8,6 5,7 (Nguồn : Bộ Thương mại, Trích Đề án phát triển xuất khẩu 2006 – 2010) Từ những cơ sở định hướng chiến lược ở trên, cơ cấu thị trường xuất khẩu nông sản của TCTNNGS trong thời gian cũng phát triển theo hướng giảm dần sự phụ thuộc quá nhiều vào thị trường Châu Á, tăng dần tỷ trọng xuất khẩu vào thị trường Châu Âu, bắt đầu thâm nhập vào thị trường Châu Mỹ, vẫn duy trì tiếp tục thị trường Trung Đông. Định hướng cho thời gian 10 năm tới, TCTNNSG vạch ra những thị trường xuất khẩu nông sản chủ yếu sau: • Các nước Châu Á: được coi là thị trường truyền thống của TCTNNSG nói riêng và của các doanh nghiệp xuất khẩu của Thành phố Hồ Chí Minh nói chung. Trong thời gian qua, kim ngạch xuất khẩu vào các thị trường này tương đối lớn chiếm trung bình trên 70% tổng kim ngạch nông sản xuất khẩu, cụ thể là tập trung vào thị trường các nước sau: ƒ Trung Quốc (cả Hong Kong): thị trường lớn, gần, tiêu thụ rất nhiều loại nông sản, thị hiếu gần với sản phẩm của nước ta. Chủ yếu là cao su; gạo; hạt điều, rau quả. ƒ Các nước ASEAN: gần nước ta về địa lý, nên nhu cầu và thị hiếu tiêu dùng nông sản gần gũi với Việt Nam. Gạo là mặt hàng chính xuất sang 3 nước: Indonesia, Malaysia và Philippines. Các mặt hàng khác: cao su, hồ tiêu, hạt điều, cà phê... xuất sang các nước này chủ yếu qua trung gian Singapore, Thái Lan... ƒ Nhật: xuất khẩu nông sản Việt Nam vào thị trường này chủ yếu là các mặt hàng: cà phê, cao su, chè, và một số rau quả chế biến, nấm, điều, lâm sản... Nhật là thị trường đòi hỏi chất lượng cao, nghiêm ngặt về tiêu chuẩn chất lượng và vệ sinh dịch tễ, hàng rào bảo hộ cho sản xuất nông nghiệp rất cao. 60 • Các nước EU: với thị trường này, kim ngạch xuất khẩu khoảng 1,4 triệu USD/năm; chủ yếu là cà phê, gạo, cao su, hồ tiêu, đồ gỗ thành phẩm, nhất là đồ gỗ ngoài trời, hạt điều, chè và một số quả nhiệt đới đã chế biến... • Mỹ: kim ngạch xuất khẩu mới đạt trên 600 ngàn USD/năm, trong đó cà phê, điều, hồ tiêu chiếm khoảng gần 90%. Dung lượng lớn, chủng loại đa dạng và yêu cầu về tiêu chuẩn, chất lượng không quá khắt khe như các nước phát triển khác. Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ là một điều kiện thuận lợi cho hàng nông sản Việt Nam xâm nhập thị trường này. • Các nước Châu Phi, Trung Đông: (Iran, Iraq,…) đang tiêu thụ nhiều loại nông sản của ta như: gạo, chè, quế, hồi,…. kim ngạch đạt trên 1,1 triệu USD/năm. 3.3.2.3. Về cơ cấu nông sản xuất khẩu Trong cơ cấu xuất khẩu của Tổng công ty Nông nghiệp Sài Gòn, nhóm hàng nông sản là một trong 4 nhóm hàng chiếm tỷ trọng lớn (khoảng 40% kim ngạch xuất khẩu của Tổng công ty trong thời gian qua). Theo định hướng chung của Thành phố và cả nước, TCTNNSG đang cố gắng thay đổi cơ cấu hàng xuất khẩu theo hướng từ xuất khẩu nguyên liệu thô sang xuất khẩu sản phẩm chế biến và tiếp đến là xuất khẩu sản phẩm mang hàm lượng công nghệ cao. Đến năm 2010, xuất khẩu các mặt hàng nông sản chiếm khoảng 45% và đến năm 2015, tỷ trọng này sẽ là 50%. Về cơ cấu xuất khẩu trong những năm tới cần cải tiến theo những hướng dưới đây: ¾ Thứ nhất, giảm dần tỷ trọng xuất khẩu nông sản thô, nông sản dưới dạng nguyên liệu hoặc ít qua chế biến (như cà phê, hạt điều) ¾ Thứ hai, xây dựng các mặt hàng xuất khẩu chủ lực. Đó là những mặt hàng có khả năng tạo ra kim ngạch xuất khẩu lớn, có thị trường ổn định và có khả năng và ưu thế mở rộng và phát triển (gạo, rau quả) ¾ Thứ ba, nâng cao chất lượng hàng xuất khẩu để tăng sức cạnh tranh hàng hóa của ta trên thương trường quốc tế (gạo, cà phê, tiêu, điều) 61 ¾ Thứ tư, đảm bảo sự đa dạng hóa ngành hàng và mặt hàng xuất khẩu cho phù hợp với nhu cầu của thị trường (các sản phẩm chế biến từ gạo, từ rau quả) Trên các nguyên tắc đó, cơ cấu mặt hàng nông sản xuất khẩu cần ưu tiên của TCTNNSG trong thời gian tới là gạo, cà phê, điều, rau quả với khối lượng xuất khẩu dự kiến như sau: Bảng16: Khối lượng các mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ yếu đến 2015 ĐVT: tấn/năm Mặt hàng Giai đoạn 2006-2010 Giai đoạn 2011-2015 1.Gạo 25.000 44.000 2. Cà phê 1.600 3.000 3. Điều 900 1.600 4. Rau quả 700 1.200 ( Nguồn: dự báo dựa theo tốc độ tăng trưởng hàng xuất khẩu do tác giả tự tính toán) 3.3.2.4. Về giá xuất khẩu Một trong những bất lợi của xuất khẩu nông sản là giá xuất khẩu thường xuyên biến động, nhiều rủi ro. Rủi ro về giá là rủi ro chung đối với mọi hoạt động sản xuất kinh doanh vì giá cả là do thị trường quyết định. Tuy nhiên, trong hoạt động xuất khẩu nông sản thì rủi ro về giá có những nét riêng như sau: - Chính phủ khó có thể tác động vào giá cả như đối với các mặt hàng trong nước vì thị trường ở đây là thị trường toàn cầu. - Ngoài những tác động từ môi trường vĩ mô thì giá cả nông sản còn chịu sự thay đổi thời tiết ở quốc gia xuất khẩu. Đây chính là nhân tố làm giá cả nông sản trên thị trường thế giới rất khó dự đoán, xác suất rủi ro là khá cao so với các ngành nghề khác. 62 Chính vì vậy, trong xuất khẩu đặc biệt là xuất khẩu nông sản cần quan tâm cân đối giữa giá vốn sản phẩm, giá của các đối thủ cạnh tranh, nhận thức của người mua về giá trị cộng thêm để xây dựng chiến lược giá xuất khẩu cạnh tranh. Nếu giá thấp sẽ không có lãi, ngược lại giá cao sẽ không có cầu. 3.4. Giải pháp và kiến nghị thực hiện chiến lược xuất khẩu nông sản của Tổng Công ty Nông nghiệp Sài Gòn đến năm 2015. 3.4.1. Các giải pháp chủ yếu: 3.4.1.1. Tăng cường công tác tổ chức thu mua tạo nguồn hàng xuất khẩu : Trong thời gian qua, công tác tổ chức thu mua tạo nguồn hàng xuất khẩu của các công ty xuất khẩu nông sản TP.HCM, nói chung và Tổng Công ty Nông nghiệp Sài Gòn nói riêng còn nhiều hạn chế, không phát huy được năng lực sản xuất và khả năng lưu thông hàng hóa. Từ khi chuyển sang cơ chế thị trường với hoạt động của nhiều thành phần kinh tế và dưới tác động của quy luật giá trị và quy luật cung cầu, thực hiện thương mại hóa nông sản cùng với thương mại hóa vật tư kỹ thuật nông nghiệp, người nông dân sản xuất hàng hóa với tư cách là người chủ trong sản xuất kinh doanh đã dần dần thích nghi với cơ chế thị trường, khả năng tiếp cận các nguồn thông tin về nhu cầu của thị trường và giá cả hàng hóa nông sản đã hình thành, quan hệ giữa người mua (doanh nghiệp) và người bán (nông dân) ngày càng thắt chặt hơn; thể hiện ở chỗ hai bên đã xây dựng mối quan hệ dựa trên hiệu quả kinh tế-xã hội làm chuẩn để tính toán bố trí sản xuất, áp dụng tiến bộ kỹ thuật và chọn phương thức lưu thông, tiêu thụ sản phẩm. Tổng công ty đã thực hiện phương thức thu mua hàng nông sản xuất khẩu, mua sản phẩm của nông dân và bán vật tư kỹ thuật thông qua thị trường hoặc hợp đồng kinh tế do hai bên thỏa thuận. Mặc dù vậy, cho đến nay thị trường nông thôn nhìn chung vẫn chưa được khởi sắc, vai trò của các doanh nghiệp nhà nước còn rất yếu, thương nghiệp hợp tác xã cũng hoạt động không đều và rời rạc, đã hình thành một số lớn doanh nghiệp như công ty TNHH, các Doanh nghiệp tư nhân, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tham gia vào thị trường mua bán nông sản. Mặc dù hàng hóa nông sản sản xuất chưa nhiều nhưng đã có hiện tượng bị ứ đọng, giá cả tuy đã được điều chỉnh, 63 nhưng do tác động của quy luật cung cầu cho nên lúc sản phẩm nhiều, tiêu thụ chậm, người nông dân thường bị ép giá và thua thiệt. Do vậy, để góp phần vào chính sách thu mua hàng nông sản cho nông dân, Tổng Công ty Nông nghiệp Sài Gòn cần thực hiện một số vấn đề nhằm thúc đẩy công tác thu mua nông sản như sau : + Một là, sử dụng các nguồn vốn sẵn có của Tổng Công ty đáp ứng cao nhất cho yêu cầu thu mua nông sản phục vụ xuất khẩu: vốn cho thu mua hàng nông sản xuất khẩu là điều kiện không thể thiếu để thúc đẩy phát triển hàng nông sản xuất khẩu, trong khi nguồn vốn của Nhà nước đầu tư từ tích lũy nội bộ Nhà nước cho Tổng Công ty Nông nghiệp Sài Gòn còn có hạn, thì việc tận dụng các nguồn vốn khác nhau để thúc đẩy thu mua nông sản xuất khẩu là điều cần thiết, khắc phục được tình trạng thiếu vốn của các công ty xuất khẩu nông sản tại TP.HCM. Muốn vậy, cần tổ chức liên kết với các địa phương ở đồng bằng sông Cửu Long (có nguồn cung ứng gạo dồi dào) hoặc các tỉnh Miền đồng Nam bộ (tiêu, điều), hoặc Tây nguyên (cà phê), các hợp tác xã sản xuất rau ở thành phố… để tạo chân hàng vững chắc, bằng cách thành lập các công ty liên doanh theo hình thức cổ phần, tạo thế liên kết kinh tế lâu dài, và có nguồn vốn mạnh đảm bảo cho công tác thu mua được ổn định, một mặt chủ động nguồn hàng cung ứng cho xuất khẩu mặt khác tận thu được nguồn nông sản; đưa công tác thu mua nông sản đi vào kế hoạch, mặt khác vừa đảm bảo cho người sản xuất hàng nông sản xuất khẩu yên tâm vì có thị trường thu mua ổn định. + Hai là, xây dựng mức giá thu mua nông sản phải hợp lý vừa đảm bảo hiệu quả cho Tổng Công ty Nông nghiệp Sài Gòn, vừa thỏa đáng lợi nhuận cho người sản xuất. Thực tế vừa qua cho ta thấy giá thu mua nông sản chịu ảnh hưởng rất lớn của quy luật cung cầu, khi cung cao hơn cầu giá nông sản giảm xuống người sản xuất bị thiệt, trái lại khi mức cung thấp hơn cầu, giá nông sản được nâng lên có lợi cho người sản xuất nhưng người tiêu dùng và xuất khẩu sẽ gặp khó khăn. Để khắc phục tình trạng này, Tổng Công ty Nông nghiệp Sài Gòn cần xây dựng chính sách giá thu mua hợp lý nhằm bao tiêu sản phẩm cho người nông dân, thông qua hình thức ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm, chính sách này cần được Nhà nước hướng dẫn 64 với mức giá thu mua tối thiểu, khi giá thị trường xuống thấp hơn giá tối thiểu các công ty nông sản cần mua hết nông sản của người sản xuất với mức giá tối thiểu, một mặt đảm bảo cho người sản xuất thu hồi đủ vốn để tiếp tục đầu tư vào chu kỳ sản xuất kế tiếp, mặt khác thu được mức lãi tối thiểu đủ cho các khoản nộp thuế ...và một phần lợi nhuận khuyến khích cho người sản xuất. 3.4.1.2. Phát triển mở rộng đầu ra cho xuất khẩu nông sản: Thị trường hàng xuất khẩu nông sản của Tổng Công ty Nông nghiệp Sài Gòn thời gian qua tập trung lớn nhất vào thị trường Châu Á (69%), các thị trường khác như Châu Âu, Châu Mỹ, Trung đông mặc dù có sự phát triển nhưng vẫn chiếm tỷ trọng không đáng kể. Để phát triển mạnh sản xuất nông sản hàng hóa, trước hết phải có thị trường tiêu thụ sản phẩm, ở đây ta nhấn mạnh đến thị trường xuất khẩu nông sản. Thực hiện điều này, Tổng Công ty Nông nghiệp Sài Gòn cần tiếp tục duy trì ổn định và từng bước mở rộng cả về chiều rộng lẫn chiều sâu đối với các thị trường đã có (mặt hàng gạo: có thị trường Indonesia, Cuba...; mặt hàng cà phê: có thị trường Mỹ, Anh, Đức...; mặt hàng rau quả: có thị trường Canada, Pháp...) khôi phục quan hệ với các thị trường truyền thống (như Nga, Trung Quốc, Thái Lan ...), tìm thị trường và bạn hàng mới (Estonia, Thuỵ sĩ...), giảm sự tập trung quá mức vào một vài thị trường (gạo xuất phần lớn qua Indonesia), mặt khác không ngừng tìm kiếm thâm nhập vào một số thị trường mới như Nhật (mặt hàng gạo) và các nước ở Châu Phi (nơi có nhu cầu nông sản khá cao, đặc biệt là nhu cầu nhập khẩu gạo...). Bên cạnh đó, Tổng Công ty Nông nghiệp Sài Gòn cần tạo một số thị trường và bạn hàng lâu dài về những mặt hàng xuất khẩu chủ yếu, giảm xuất khẩu qua thị trường trung gian (xuất khẩu hồ tiêu, hạt điều qua thị trường trung gian Thái lan, Singapore). Khắc phục một tồn tại mà hiện nay khá nhiều các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản tại Thành phố Hồ Chí Minh đang đương đầu là một số hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam thường phải qua một hoặc nhiều khâu trung gian mới tới được thị trường tiêu thụ, chính điều này làm cho giá bán của ta thường thấp hơn so với một số nước trong khu vực, lợi nhuận bị cắt xén. 65 3.4.1.3. Tổ chức sắp xếp lại doanh nghiệp thành viên trực thuộc Tổng Công ty Nông nghiệp Sài Gòn: Tổng Công ty Nông nghiệp Sài Gòn là một doanh nghiệp nhà nước được tổ chức lại theo mô hình công ty mẹ - công ty con, quá trình tái cấu trúc lại Tổng công ty cần thực hiện theo hướng: - Tổ chức sắp xếp lại các doanh nghiệp thành viên có cùng ngành hàng kinh doanh xuất nhập khẩu thành một đơn vị, nhằm tránh sự chồng chéo chức năng trong kinh doanh, giảm chi phí lưu thông, tập trung được nguồn lực (vốn, cơ sở vật chất kỹ thuật, nguồn nhân lực...) tránh sự cạnh tranh không lành mạnh từ bên trong Tổng công ty. Cụ thể như sắp xếp, tổ chức lại 9 đơn vị hạch toán phụ thuộc thành 5 đơn vị theo hướng chuyên ngành, tinh gọn và có hiệu quả: + Công ty Chăn nuôi và chế biến thực phẩm Sài Gòn (sáp nhập từ 5 đơn vị sau: Xí nghiệp Chăn nuôi heo Đồng Hiệp, Xí nghiệp Chăn nuôi heo Phước Long, Xí nghiệp Heo giống cấp I, Xí nghiệp Thức ăn gia súc An Phú, Xí nghiệp Chế biến thực phẩm Nam Phong). +Công ty giống cây trồng (chuyển thành đơn vị phụ thuộc công ty mẹ). +Trung tâm giống thủy sản (chuyển thành đơn vị phụ thuộc công ty mẹ). +Công ty XNK Nông Lâm Hải sản (chuyển thành đơn vị phụ thuộc công ty mẹ). +Công ty Đầu tư hạ tầng Sài Gòn (chuyển thành đơn vị phụ thuộc công ty mẹ). - Thực hiện cổ phần hóa các doanh nghiệp làm ăn hiệu quả, mạnh dạn giải thể những doanh nghiệp yếu kém, làm ăn thua lỗ, tạo điều kiện thu hồi vốn tập trung cho các doanh nghiệp có chiều hướng phát triển; thông qua cổ phần hóa sẽ thu hút được nguồn vốn từ bên ngoài, đáp ứng cho nhu cầu phát triển của Tổng công ty. Cụ thể : * Tiến hành cổ phần hóa 3 DNNN như sau: Công ty thủy sản Việt Long – Sài Gòn, Công ty Lâm nghiệp Sài Gòn, Công ty Gia cầm Thành phố. * Bán đấu giá : Xí nghiệp khai thác chế biến và dịch vụ thủy sản. * Phá sản 03 xí nghiệp: Xí nghiệp sản xuất chế biến nông lâm sản xuất khẩu, Xí nghiệp Nấm, Công ty công nghiệp cơ khí Sài Gòn. 66 - Cần nhanh chóng quy hoạch và đào tạo nguồn nhân lực có đầy đủ năng lực, có khả năng đánh giá chính xác nhu cầu của thị trường; am hiểu các chính sách về xuất nhập khẩu của nhà nước và các tập quán, chuẩn mực trong thương mại quốc tế. Tùy vào điều kiện về tài chính của Tổng công ty, có thể sử dụng nhiều phương pháp như: khuyến khích nhân viên học thêm, hỗ trợ kinh phí học tập, hoặc cho đi đào tạo trong nước, học ở nước ngoài; có chính sách giữ người giỏi làm việc lâu dài ở Tổng công ty, cũng như thu hút người tài từ bên ngoài vào làm việc choTổng công ty... 3.4.1.4. Xây dựng chiến lược kinh doanh để đạt mục tiêu phát triển bền vững và dài hạn. Từ khi hình thành (1996) đến nay, Tổng Công ty Nông nghiệp Sài Gòn chỉ xây dựng chiến lược tổng thể toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh, chưa xây dựng cho những chiến lược cụ thể cho từng hoạt động cụ thể; theo thời gian, chiến lược này đã không còn phù hợp với những biến động của thị trường hiện nay. Chưa có bộ phận hoạch định, phân tích và đánh giá việc thực hiện chiến lược. Do đó, Tổng công ty chỉ xây dựng kế hoạch hàng năm để “cố gắng tồn tại trong ngắn hạn”. Do vậy Tổng công ty cần có chiến lược kinh doanh để đạt mục tiêu phát triển bền vững và dài hạn. Cụ thể khi xây dựng chiến lược cần chú ý một số nội dung sau: * Một là, đảm bảo các yêu cầu định hướng chiến lược: - Tạo ra ưu thế về chi phí và giá trị cho khách hàng: đặt ra mục tiêu cạnh tranh bằng cách chuyển hóa những lợi thế về lao động rẻ hay tài nguyên dồi dào để cung cấp những sản phẩm có ưu thế cơ bản về chi phí và lợi thế cho khách hàng. - Tạo ra ưu thế về giá trị của sản phẩm: thông qua đầu tư công nghệ, kỹ thuật chế biến, bảo quản, tạo ra hàng hóa nông sản có chất lượng cao, hay có sự khác biệt về sản phẩm cùng loại trên thị trường - Tạo ra ưu thế về tiếp thị và tổ chức tiêu thụ: chủ động nắm bắt các kênh phân phối, tiếp cận trực tiếp với khách hàng, để nắm bắt nhu cầu thị trường. * Hai là, phân tích lợi thế cạnh tranh trong tương quan với các đơn vị cùng ngành, để ra quyết định chiến lược đúng đắn. 67 3.4.1.5. Tập trung phát triển sản phẩm có lợi thế, tổ chức tốt khâu gia công, chế biến, bảo quản để nâng cao chất lượng hàng xuất khẩu. Chất lượng hàng nông sản xuất khẩu là một trong những yếu tố quan trọng, quyết định rất lớn đến hiệu quả của xuất khẩu, đến thị trường hàng nông sản, trên cơ sở ngày càng nâng cao chất lượng hàng nông sản thông qua quá trình sản xuất, gia công, chế biến và bảo quản nông sản sau thu hoạch. Việc chuyển dần từ xuất khẩu nông sản thô sang nông sản chế biến có ý nghĩa hết sức quan trọng trong chiến lược xuất khẩu nông sản của Tổng Công ty Nông nghiệp Sài Gòn vào thị trường nông sản thế giới thể hiện rõ nét trên các yếu tố sau đây: + Một là, khắc phục tình trạng môi trường sinh thái bị xâm phạm nghiêm trọng, đất canh tác bình quân trên đầu người bị thu hẹp; nếu không xuất khẩu nông sản dưới dạng chế biến để tăng hiệu quả thì khả năng tích lũy và đầu tư kém . + Hai là, chuyển sang nông sản chế biến sẽ hình thành những cơ sở mới thu hút lượng lao động tại địa phương, góp phần ổn định tình hình kinh tế - xã hội của đất nước. + Ba là, thị trường nông sản thô trong tương lai bị thu hẹp dần, do xu hướng đòi hỏi của thị trường với chất lượng sản phẩm ngày càng cao, nhất là mặt hàng gạo, cà phê, hạt tiêu, rau quả … do sự tác động của khoa học kỹ thuật vào sản xuất và công nghệ chế biến ngày càng tốt hơn, hiện đại hơn, năng suất cao hơn, kỹ thuật bảo quản vận chuyển thành phẩm cũng có nhiều tiến bộ giảm đáng kể lượng hao hụt và thời gian giao nhận hàng hóa giữa các địa phương, giữa các khu vực và giữa các nước có trao đổi mậu dịch nông sản. Để nâng cao hiệu quả gia công, chế biến và bảo quản nông sản Tổng Công ty cần thực hiện đầu tư công nghệ chế biến nông sản, tạo ra sản phẩm đa dạng về chủng loại, mẫu mã, kiểu dáng với giá thành cạnh tranh tại thị trường trong và ngoài nước. Tuy nhiên, cần phải xác định chính xác một số mặt hàng chủ lực để đầu tư chiều sâu, tránh dàn trải cho nhiều mặt hàng nhằm tạo ra các “cực tăng trưởng” trong hoạt động chế biến xuất khẩu nông sản. Những mặt hàng Tổng Công ty Nông 68 nghiệp Sài gòn cần tập trung phát triển trong thời gian tới vừa có khả năng tăng trưởng nhanh trong một thời gian dài, vừa có kim ngạch lớn là : gạo, nhân điều và cà phê. Bên cạnh đó, cần phải luôn kịp thời nắm bắt được thông tin về thị trường xuất khẩu, thông tin về sản phẩm như: kích cỡ, bao bì đóng gói, và những tiêu chuẩn vệ sinh phù hợp với từng thị trường xuất khẩu, đảm bảo cho sản phẩm giữ được thế cạnh tranh trên thị trường thế giới . 3.4.1.6. Tổ chức tốt công tác nghiên cứu thị trường và xúc tiến thương mại. - Xây dựng kế hoạch xúc tiến thương mại lớn cho từng năm, có thể thực hiện độc lập hoặc phối hợp với các chương trình xúc tiến thương mại của các tổ chức như: Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư của thành phố (ITPC), của Hiệp hội Lương thực, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Hiệp hội cà phê cacao Việt Nam, Hiệp hội các Doanh nghiệp Việt Nam … - Tập trung ưu tiên công tác xúc tiến thương mại tại các thị trường chủ lực và các mặt hàng chủ lực kể cả việc thuê mướn các công ty tư vấn phân tích và dự báo thị trường, giới thiệu khách hàng. - Tham gia các hội thảo, hội chợ, triểm lãm tổ chức trong và ngoài nước, quảng cáo và tiếp thị qua mạng Internet, một mặt để giới thiệu hình ảnh, quảng bá sản phẩm của Tổng Công ty Nông nghiệp Sài Gòn; mặt khác tiếp cận được các đối tác trong và ngoài nước để có thể ký kết được nhiều hợp đồng thương mại hoặc hợp đồng liên doanh có giá trị cao. - Tiếp tục phối hợp và khai thác vai trò của các Thương vụ, đại diện thương mại của Việt Nam tại nước ngoài. Mở một số văn phòng đại diện tại nước ngoài để thuận lợi trong việc giao dịch mua bán, trao đổi thông tin về thị trường…. Tổ chức nhiều đoàn cán bộ, chuyên gia khảo sát tiếp thị các thị trường lớn trên thế giới. Xây dựng mạng lưới khách hàng ổn định, nhất là các khách hàng lớn để qua đó thâm nhập mạng lưới phân phối toàn cầu và chủ động thực hiện tiến độ xuất khẩu đối với những mặt hàng Tổng công ty có giao dịch lớn. 69 - Đào tạo đội ngũ làm công tác xúc tiến thương mại có đủ trình độ, năng lực chuyên môn và giữ trọng trách kinh doanh của Tổng công ty. 3.4.1.7. Xây dựng giá xuất khẩu cạnh tranh. Có nhiều phương pháp và tiêu chí đánh giá khác nhau để xác định khả năng cạnh tranh của một mặt hàng trên thị trường. Song dựa trên phương pháp so sánh giá phí với giả định các điều kiện khác không đổi (so sánh giá CIF + thuế nhập khẩu của hàng hóa cùng loại (giá XK) vào nước nhập khẩu với mức giá tiêu thụ bình quân của mặt hàng tiêu thụ bình quân cùng loại trên thị trường nước đó; nếu giá xuất khẩu nhỏ hơn giá tiêu thụ nội địa thì sản phẩm sẽ cạnh tranh được - phương pháp này đã được nhiều nhà kinh tế trên thế giới sử dụng. Để xây dựng giá xuất khẩu cạnh tranh cho sản phẩm nông sản của Tổng Công ty Nông nghiệp Sài Gòn cần : - Phân tích các nguyên nhân làm tăng giá thành sản xuất sản phẩm hoặc phí lưu thông. Đây là công việc tổng hợp bao gồm nhiều khâu: rà soát, đánh giá lại tính tiên tiến và hiện thực của hệ thống định mức kinh tế - kỹ thuật đang sử dụng đặc biệt là định mức tiêu hao nguyên vật liệu. - Tìm cách hạ giá thành sản phẩm bằng một số biện pháp như: đầu tư hệ thống kho tàng, bảo quản gạo, cà phê, hạt điều; giảm tỷ lệ hao hụt, thất thoát, bằng việc đầu tư máy móc thiết bị hiện đại bảo đảm được chất lượng sản phẩm đến thị trường tiêu thụ nước ngoài, tận dụng phụ phẩm của sản phẩm gạo (như sử dụng tấm, cám) đưa vào sản xuất thức ăn chăn nuôi làm giảm giá thành sản phẩm heo thịt của Tổng công ty. - Có nguồn hàng dự trữ dồi dào, để tránh biến động giá trên thị trường đặc biệt là mặt hàng gạo, cà phê, hạt điều cần dự trữ nguồn hàng nhiều, để có thể ký những hợp đồng lớn và đảm bảo thời gian giao hàng cho khách hàng nước ngoài. Nhằm khắc phục những bất lợi trong xuất khẩu của Tổng công ty Nông nghiệp Sài Gòn và của các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản tại Thành phố Hồ Chí Minh là sự phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu vào các tỉnh lân cận. Nguồn cung nguyên liệu không ổn định làm cho giá xuất khẩu luôn biến động. 70 - Giảm chi phí trung gian bằng cách giao dịch, mua bán trực tiếp với khách hàng có nhu cầu tiêu thụ; không phải qua các công ty môi giới vừa không nắm được nhu cầu của khách hàng vừa bị công ty môi giới ép giá như trường hợp xuất khẩu hồ tiêu, hạt điều của Tổng công ty qua thị trường trung gian Thái lan, Singapore trong thời gian vừa qua. 3.4.1.8. Xây dựng thương hiệu cho sản phẩm. Thương hiệu dù lớn hay nhỏ đều mang lại những lợi ích kinh tế cho doanh nghiệp. Thương hiệu có trọng trách với người tiêu dùng cả về mặt chất lượng, giá trị của sản phẩm và cả về mặt đạo đức kinh doanh của doanh nghiệp. Thời gian qua, hàng nông sản Việt Nam có sản lượng xuất khẩu khá cao trên thế giới như: hồ tiêu, điều, gạo, cà phê … Tuy nhiên một số mặt hàng nông sản cũng gặp khó khăn trong việc xuất khẩu do chất lượng, số lượng không ổn định; Bên cạnh đó, việc xây dựng thương hiệu cho nông sản cũng chưa được chú trọng nên gây nhiều bất lợi, thiệt thòi cho nông sản Việt Nam trên thị trường thế giới. Nhiều doanh nghiệp xuất khẩu; đặc biệt là xuất khẩu nông sản như cà phê, trái cây … đã có nhiều nỗ lực để xây dựng thương hiệu sản phẩm của mình để xây dựng hình ảnh doanh nghiệp và tạo được uy tín và có chỗ đứng trên thị trường trong nước cũng như thị trường thế giới. Tuy nhiên, đó là một số trường hợp hiếm hoi trong các loại sản phẩm thuộc ngành nông nghiệp, nhìn chung một số thương hiệu nông sản Việt Nam chỉ có thương hiệu do truyền thống để lại như: gạo nàng Hương Chợ Đào, nếp cái Hoa vàng, bưởi Năm Roi và chỉ có một số ít thương hiệu mới như cà phê Trung Nguyên, trái cây Vinamit… Trong thời điểm hiện nay, khi các thương hiệu ngày càng vươn mình ra khỏi thị trường trong nước thì chúng cũng sẽ nhanh chóng trở thành những thương hiệu toàn cầu. Trên thực tế, cùng một loại hàng hóa nhưng sản phẩm của doanh nghiệp này bán chạy với giá cao hơn so với sản phẩm của doanh nghiệp kia. Điều đó không có gì lạ bởi tên tuổi của sản phẩm này được người tiêu dùng tín nhiệm hơn. Thương hiệu- đó là chuyện sống còn của doanh nghiệp sản xuất. 71 Người tiêu dùng không chỉ trả tiền cho giá trị sản phẩm mà còn trả tiền cho sự hài lòng của mình khi mua được sản phẩm có thương hiệu nổi tiếng và hiểu được nguồn gốc xuất xứ của sản phẩm. Do đó, có thể nói, đồng thời với việc bảo đảm chất lượng thì xây dựng thương hiệu cho nông sản là một trong những nhiệm vụ cấp bách của các doanh nghiệp hiện nay. Do vậy, một trong những giải pháp quan trọng mà Tổng công ty NNSG cần quan tâm là có kế hoạch xây dựng thương hiệu sản phẩm đối với những sản phẩm chủ lực- sản phẩm có thế mạnh của Tổng Công ty. Cụ thể như sau: - Xác định sản phẩm chủ lực của Tổng công ty (gạo, cà phê, hạt điều, rau quả) và có chi phí thỏa đáng đầu tư cho việc xây dựng thương hiệu sản phẩm đó. - Tiếp cận các nguồn vốn của Nhà Nước thông qua chương trình hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng thương hiệu bằng ngân sách quốc gia (thông qua Cục Xúc tiến thương mại của Bộ Thương mại) - Đăng ký nhãn hiệu hàng hoá, tạo điều kiện pháp lý cho việc bảo vệ thương hiệu sản phẩm nông sản khi xảy ra tranh chấp về thương hiệu. 3.4.2. Các kiến nghị đối với các cơ quan Nhà nước, các tổ chức, hiệp hội: 3.4.2.1. Các kiến nghị đối với các cơ quan Nhà nước: ¾ Nhà nước có chính sách khuyến khích các chủ thể trực tiếp tham gia sản xuất nông nghiệp, chuyển mạnh cơ cấu kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế nông nghiệp hàng hóa và những ngành hàng có lợi thế cạnh tranh cao, phù hợp với xu hướng thị trường. ¾ Phát triển mạnh công nghiệp chế biến và các ngành công nghiệp phụ trợ (các ngành công nghiệp sản xuất máy móc thiết bị, phụ tùng phục vụ nông nghiệp) góp phần gia tăng giá trị hàng nông sản Việt Nam. ¾ Triển khai các chương trình ứng dụng rộng rãi những tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và hạ giá thành sản phẩm. Đẩy mạnh việc triển khai các chương trình giống, công nghệ sinh học, đổi mới thiết bị, công nghệ sau thu hoạch tăng tỷ lệ nông sản chế biến và giá trị gia tăng. 72 ¾ Qui hoạch vùng nguyên liệu, ban hành các chính sách về thuế sử dụng đất, các khoản phí và lệ phí ưu đãi cho sản xuất nông nghiệp, do đây là ngành có hiệu quả kinh doanh thấp cũng như chịu nhiều rủi ro do thiên tai … ¾ Nhà nước cần nghiên cứu sớm hình thành thị trường “giao dịch sau” cho nông sản hàng hóa. Đây không phải là thị trường mua bán hàng hóa trực tiếp, giao nhận ngay; mà là nơi tiến hành các giao dịch ký kết các hợp đồng mua bán, việc giao nhận và thanh toán sẽ được tiến hành vào một thời điểm xác định trong tương lai. Tại đây người nông dân sẽ tránh được những rủi ro trong trường hợp cung vượt cầu, và những khó khăn khi vận chuyển sản phẩm của mình đến nơi tiêu thụ, người mua có thể chủ động được lượng hàng hóa kinh doanh và tăng cường được lợi ích mỗi khi hàng hóa trở nên khan hiếm. ¾ Nhà nước cần có ngay chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp, hỗ trợ người nông dân theo lối mới, phù hợp với quy tắc WTO. Cụ thể, Nhà nước cần chăm lo phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ thương mại nông sản: đường giao thông, hệ thống chợ bán buôn, trung tâm giới thiệu hàng hóa; trợ cấp khuyến nông và phục vụ phát triển nông nghiệp; xây dựng chiến lược phát triển mạnh ngành nông sản; nhanh chóng hoàn thành chu trình nông nghiệp an toàn VietGAP… ¾ Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến xuất khẩu nhằm hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu vào thị trường mục tiêu, cụ thể: - Xây dựng cơ sở dữ liệu chuyên sâu về thị trường xuất khẩu - mặt hàng; đi sâu vào nhận định đánh giá. - Có chương trình hỗ trợ xuất khẩu cho doanh nghiệp tiềm năng. - Tiếp tục tạo cơ hội giao thương cho doanh nghiệp xuất khẩu với các đoàn doanh nghiệp nước ngoài. - Tiếp tục tổ chức đoàn doanh nghiệp TP.HCM có hỗ trợ kinh phí từ ngân sách đi tiếp cận thị trường nước ngoài. - Hướng dẫn các doanh nghiệp về thương mại điện tử, xây dựng các trang Web về nông sản. 73 - Giúp doanh nghiệp xuất khẩu xây dựng và bảo vệ thương hiệu cho nông sản. ¾ Xây dựng kế hoạch thâm nhập thị trường mục tiêu thông qua: - Tổ chức hội nghị chuyên đề về thị trường xuất khẩu mục tiêu và các quy định thương mại của thị trường đó. - Thành lập các văn phòng đại diện xúc tiến thương mại ở nước ngoài. - Hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng quan hệ với các nhà phân phối trên thị trường mục tiêu nước ngoài. 3.4.2.2. Các kiến nghị đối với các tổ chức, hiệp hội: ¾ Các hiệp hội ngành hàng, đặc biệt là các Hiệp hội như VFA, Vinacafe, Vinacas… tiếp tục nâng cao vai trò đại diện doanh nghiệp xuất khẩu nông sản; xây dựng chiến lược xuất khẩu từng ngành hàng, phối hợp hành động giữa các doanh nghiệp trong hoạt động xúc tiến xuất khẩu và mở rộng thị trường thế giới, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Hội viên. ¾ Tìm tòi đổi mới trong công tác thông tin thông qua liên kết với nhiều đối tác, từ trung tâm thông tin Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đến các cơ sở của địa phương như Sở Thương mại các tỉnh và một số doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh cũng như tại các tỉnh phụ cận. ¾ Phát triển Câu lạc bộ của những nhà xuất khẩu hàng đầu của nhiều loại nông sản. Câu lạc bộ nên có định hướng hoạt động rõ ràng, với mục tiêu tạo sức mạnh liên kết giữa các doanh nghiệp, cùng hỗ trợ nhau trong việc phát triển sản phẩm, mở rộng thị trường và tránh sự cạnh tranh không lành mạnh. ¾ Tổ chức các chương trình đào tạo từ công nhân kỹ thuật cho đến chuyên gia về công nghệ chế biến, cán bộ quản lý xuất nhập khẩu. Đặc biệt, cần quan tâm hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc đào tạo và hướng dẫn hệ thống quản lý chất lượng nông sản để người sản xuất hiểu được yêu cầu chất lượng của thế giới, nhằm đầu tư đúng hướng và tăng cường quản lý chất lượng đồng bộ. 74 ¾ Phát huy vai trò tích cực của các hiệp hội trong việc thu thập và cung cấp thông tin, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tăng cường liên doanh, liên kết để có tiếng nói chung trên thị trường, hạn chế bị đối tác nước ngoài ép giá. Các hiệp hội nên thành lập quỹ dự phòng rủi ro theo ngành hàng để giúp các doanh nghiệp vượt qua những thời kỳ khó khăn. TÓM TẮT CHƯƠNG 3: Trên cơ sở xác định rõ các quan điểm, mục tiêu và định hướng phát triển xuất khẩu nông sản của Tổng công ty Nông Nghiệp Sài Gòn, chúng tôi xây dựng chiến lược xuất khẩu nông sản đến năm 2015 với những giải pháp chủ yếu như: tăng cường công tác tổ chức thu mua tạo nguồn hàng xuất khẩu; phát triển mở rộng đầu ra cho xuất khẩu nông sản; tổ chức sản xuất lại doanh nghiệp thành viên; tập trung phát triển sản phẩm có lợi thế, tổ chức tốt khâu gia công, chế biến bảo quản để nâng cao chất lượng hàng xuất khẩu; tổ chức tốt công tác nghiên cứu thị trường và xúc tiến thương mại; xây dựng giá xuất khẩu cạnh tranh và xây dựng thương hiệu cho sản phẩm. Để các giải pháp trên được thực hiện đồng bộ và hiệu quả, góp phần thực hiện thành công chiến lược xuất khẩu nông sản của Tổng công ty Nông nghiệp Sài Gòn đến 2015, ngoài sự nỗ lực phấn đấu của bản thân doanh nghiệp, cần có sự quan tâm hỗ trợ của các cơ quan Nhà nước, các tổ chức, hiệp hội ngành hàng để doanh nghiệp có thể phát triển và đứng vững trên thương trường nhất là trong điều kiện hội nhập ngày nay. 75 KẾT LUẬN Hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực đã trở thành hiện thực đối với các quốc gia trên thế giới. Tự do hóa thương mại đang ngày càng trở thành một tất yếu khách quan đối với mọi quốc gia. Trong khi đó, đối với các nước đang phát triển như Việt Nam, chiến lược phát triển kinh tế hướng vào xuất khẩu đang tỏ rõ những ưu thế hơn hẳn so với chiến lược phát triển dựa vào thay thế nhập khẩu. Trong những năm qua hoạt động xuất nhập khẩu nói chung và xuất khẩu nông sản nói riêng đã góp phần rất lớn vào sự phát triển của đất nước, tạo những tiền đề to lớn về vốn, thúc đẩy mạnh mẽ tiến trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước. Tổng Công ty Nông nghiệp Sài Gòn là một doanh nghiệp nhà nước, có những điều kiện thuận lợi để phát triển ngành nông sản xuất khẩu. Tuy nhiên trong những năm qua mặc dù được Nhà nước quan tâm chỉ đạo, có nhiều chính sách thúc đẩy hỗ trợ xuất khẩu, nhưng nhìn chung xuất khẩu nông sản của Tổng Công ty Nông nghiệp Sài Gòn còn đứng trước những thử thách to lớn do chưa xây dựng được một chiến lược lâu dài để có thể tiến vững chắc vào thị trường nông sản thế giới. Chính vì lẽ đó, qua việc phân tích thực trạng và tiềm năng xuất khẩu nông sản của Tổng Công ty Nông nghiệp Sài Gòn trong thời gian qua cho ta nhận xét : - Mặc dù hoạt động xuất khẩu nông sản của Tổng Công ty Nông nghiệp Sài Gòn còn biểu hiện nhiều yếu kém như hoạt động marketing cho sản phẩm nông sản còn sơ lược, chưa đi vào chiều sâu, công tác nghiên cứu thị trường chưa được đầu tư đúng mức, chưa chú trọng đến việc nâng cao chất lượng sản phẩm nông sản thông qua gia công, chế biến và nhất là thiếu sự liên kết chặt chẽ giữa các công ty sản xuất hàng nông sản xuất khẩu trong TP.HCM cũng như ở các Tỉnh có lợi thế về nguồn cung cấp nguyên liệu nông sản. 76 - Tuy nhiên trong thời gian qua vai trò hoạt động xuất khẩu nông sản của Tổng Công ty Nông nghiệp Sài Gòn đã có những đóng góp nhất định vào việc thực hiện các mục tiêu kinh tế- chính trị và xã hội của TP.HCM. Để tạo điều kiện cho hoạt động xuất khẩu hàng nông sản của Tổng Công ty Nông nghiệp Sài Gòn ngày càng phát huy thế mạnh là một tổng công ty lớn của Nhà nước, Luận án đã đề xuất một số giải pháp mang tính định hướng như: tăng cường công tác thu mua tạo nguồn hàng xuất khẩu, phát triển mở rộng đầu ra cho xuất khẩu nông sản; tổ chức sắp xếp lại doanh nghiệp thành viên; xây dựng chiến lược kinh doanh; tập trung phát triển sản phẩm có lợi thế, tổ chức tốt khâu gia công, chế biến, bảo quản để nâng cao chất lượng hàng xuất khẩu; tổ chức tốt công tác nghiên cứu thị trường và xúc tiến thương mại; xây dựng giá xuất khẩu cạnh tranh; xây dựng thương hiệu cho sản phẩm. Bên cạnh đó, Luận án cũng nêu một số kiến nghị đối với các cơ quan Nhà nước, các tổ chức, hiệp hội có liên quan nhằm hỗ trợ, tạo điều kiện cho hoạt động xuất khẩu nông sản của Tổng Công ty Nông nghiệp Sài Gòn ngày càng phát triển; đồng thời cũng nêu lên một số giải pháp để tiến tới xây dựng một chiến lược xuất khẩu nông sản dài hạn (2006-2015) nhằm giải quyết tốt mối quan hệ về lợi ích giữa Tổng Công ty Nông nghiệp Sài Gòn và người sản xuất hàng nông sản thông qua chính sách giá cả phù hợp, đảm bảo cho người kinh doanh có lãi và người sản xuất có điều kiện tích lũy vốn để tái sản xuất mở rộng, góp phần thắng lợi vào sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước. 77 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Chi cục thống kê Thành phố Hồ Chí Minh. Niên giám thống kê Thành phố Hồ Chí Minh năm 2005. 2. Hòang Thị Chỉnh, Nguyễn Phú Tụ, Nguyễn Hữu Lộc (2005), Giáo trình kinh tế quốc tế, Nhà xuất bản Thống Kê. 3. Văn Cương (2006), “Xuất khẩu nông sản: thiếu chiến lược, bị ép giá …”, Báo Sài Gòn Giải Phóng. 4. Nguyễn Thị Liên Diệp, Phạm Văn Nam (2003), Chiến lược và chính sách kinh doanh, Nhà xuất bản Thống Kê. 5. Hải Hà (2007), “Xây dựng Thương hiệu: Cần chiến lược phát triển toàn cầu”, Tạp chí Thị Trường, (5276), tr 4-5. 6. Đỗ Duy Hà (2006), “Khả năng cạnh tranh của nông sản Việt Nam trước thềm gia nhập WTO”, Kinh tế và Dự báo, (số 9/2006), tr22-24. 7. Minh Hoài (2006), “Tiêu thụ nông sản theo hợp đồng”, Tạp chí phát triển kinh tế , (số tháng 9/2006), tr 16-20. 8. Nguyễn Thị Xuân Lan (2004), Kinh doanh nông sản xuất khẩu trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh: những lợi thế và bất lợi trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, Báo cáo khoa học, Sở khoa học công nghệ, Thành phố Hồ Chí Minh. 9. Bùi Xuân Lưu, Nguyễn Hữu Khải (2006), Giáo trình kinh tế ngoại thương, Nhà xuất bản Lao Động – Xã hội. 10. Trần Lê (2003), “Sức cạnh tranh của nông phẩm. Bước vào hội nhập: thách thức nhiều hơn cơ hội”, Thời báo kinh tế Việt Nam, (48). 11. Nguyễn Văn Nam (2005), Thị trường xuất nhập khẩu rau quả, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội. 78 12. Phan Minh Ngọc (2006), “Vai trò thực của xuất khẩu”, Thời báo kinh tế Sài Gòn, (672), tr 38 -39. 13. Nguyễn Đông Phong (1996), Chiến lược thâm nhập thị trường thế giới hàng nông sản của Thành phố Hồ Chí Minh, luận án Phó Tiến sĩ khoa học kinh tế. 14. Đinh Văn Thành (2006), Các biện pháp phi thuế quan đối với hàng nông sản trong thương mại quốc tế, Nhà xuất bản Lao động xã hội, Hà Nội. 15. Võ Thanh Thu (2005), Quan hệ kinh tế quốc tế. Nhà xuất bản Thống kê. 16. Nguyễn Quốc Vọng (2005), “Những thách thức mới của nông nghiệp Việt Nam”, Thời báo kinh tế Sài Gòn tháng 9/2005. 17. Nguyễn Quốc Vọng (2007), “Nông dân Việt Nam trong sân chơi WTO”, Thời báo kinh tế Sài Gòn, (839), tr 18-19. 18. Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam (2005), Cẩm nang xuất khẩu cho doanh nghiệp 2006, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin – Hà Nội. 19. Mai Thị Thanh Xuân (2006), “Công nghiệp chế biến với việc nâng cao giá trị hàng nông sản xuất khẩu ở Việt Nam”, Nghiên cứu kinh tế , (341), tr 66- 70. 20. Tổng cục thống kê 2005. Niên giám thống kê năm 2005.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfChiến lược xuất khẩu nông sản của tổng công ty nông nghiệp sài gòn đến năm 2015.pdf
Luận văn liên quan