Chuyên đề Các giải pháp tài chính chủ yếu nâng cao hiệu quả tổ chức sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty TNHH Nhà nước một thành viên kinh doanh dịch vụ nhà Hà Nội

MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu. 2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài. 4. Phương pháp nghiên cứu. 5.Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài. CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ 1.1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 1.1.1. Sự hình thành thị trường chứng khoán 1.1.2. Khái niệm thị trường chứng khoán 1.1.3. Đặc điểm của thị trường chứng khoán 1.1.4.Chức năng của thị trường chứng khoán 1.1.3. Phân loại thị trường chứng khoán 1.1.4.Các nguyên tắc hoạt động của thị trường chứng khoán 1.1.5.Cơ chế điều hành và giám sát thị trường chứng khoán 1.1.5.1. Sự cần thiết phải điều hành và giám sát thị trường chứng khoán 1.1.5.2.Cơ chế điều hành và giám sát thị trường chứng khoán 1.1.6. Chỉ số giá trên thị trường chứng khoán 1.1.6.1. Khái niệm 1.1.6.2. Phân loại chỉ số giá trên thị trường chứng khoán Việt Nam 1.1.6.3. Ý nghĩa của chỉ số giá trên thị trường chứng khoán 1.2. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ 1.2.1. Quan niệm về chính sách tiền tệ 1.2.2. Mục tiêu cao nhất của chính sách tiền tệ 1.3. TỔNG QUAN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ TỚI THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN. 1.3.1. Quan niệm về bình ổn thị thường chứng khoán. 1.3.2. Sự cần thiết phải bình ổn thị trường chứng khoán 1.3.3. Tác động của chính sách tiền tệ tới thị trường chứng khoán 1.3.3.1. Tác động của lãi suất tới thị trường chứng khoán 1.3.3.2. Tác động của việc thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc tới thị trường chứng khoán. 1.3.3.3. Nghiệp vụ thị trường mở và những tác động của nó đến thị trường chứng khoán 1.3.3.4. Chính sách ngoại hối tác động tới thị trường chứng khoán 1.3.3.5. Ảnh hưởng của các công cụ khác của chính sách tiền tệ tới thị trường chứng khoán 1.4. BÀI HỌC KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRONG VIỆC SỬ DỤNG CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VỚI MỤC ĐÍCH BÌNH ỔN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ TỚI BÌNH ỔN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2006 – 2010 2.1. DIỄN BIẾN CHUNG CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2006 - 2010 2.2. TÁC ĐỘNG BÌNH ỔN CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ TỚI THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 2.2.1. Giai đoạn 1(2006): Mốc ghi dấu sự thăng hoa của thị trường chứng khoán Việt Nam 2.2.2 Giai đoạn 2 ( 2007 - 2008): Thời kì thị trường chứng khoán Việt Nam có nhiều biến động lớn 2.2.3. Giai đoạn 3 (2009-2010): Dấu ấn của chính sách tiền tệ trong việc vực dậy thị trường chứng khoán Việt Nam. 2.3. TÌNH HÌNH CỦA MỘT SỐ CỔ PHIẾU ĐƯỢC ĐỀ TÀI CHỌN DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ TRONG GIAI ĐOẠN 2006- 2010 2.3.1. Cổ phiếu của công ty cổ phần phát triển đầu tư công nghệ FPT (mã chứng khoán giao dịch: FPT) 2.3.2. Cổ phiếu của công ty cổ phần cơ điện lạnh Reetech (mã chứng khoán: REE) 2.3.3. Cổ phiếu của ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu (mã chứng khoán: ACB) 2.3.4. Cổ phiếu của tổng công ty cổ phần dịch vụ kĩ thuật dầu khí (mã chứng khoán PVS) 2.4. NHỮNG HẠN CHẾ TRONG VIỆC SỬ DỤNG CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA CHÍNH PHỦ TỪ NĂM 2006 ĐẾN ĐẦU NĂM 2010 2.5. NGUYÊN NHÂN NHỮNG HẠN CHẾ CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ THỰC HIỆN CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP PHÁT HUY NHỮNG TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ NHẰM BÌNH ỔN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 3.1. XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 3.1.1. Xu hướng phát triển của thị trường chứng khoán thế giới hai năm tới (2010 – 2011) 3.1.2. Xu hướng phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam trong thời gian tới. 3.2. ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP SỬ DỤNG HIỆU QUẢ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ NHẰM BÌNH ỔN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM TRONG TƯƠNG LAI 3.2.1. Giải pháp đối với việc sử dụng các yếu tố, các công cụ chính sách tiền tệ tác động bình ổn thị trường chứng khoán Việt Nam. 3.3.2 Giải pháp để chính sách tiền tệ sớm đi vào thực tế. 3.3.3 Giải pháp kết hợp những điều kiện và các chính sách khác nhằm tăng cường hiệu quả sử dụng chính sách tiền tệ bình ổn thị trường chứng khoán. KẾT LUẬN

doc64 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 17/08/2013 | Lượt xem: 1495 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Chuyên đề Các giải pháp tài chính chủ yếu nâng cao hiệu quả tổ chức sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty TNHH Nhà nước một thành viên kinh doanh dịch vụ nhà Hà Nội, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
có khă năng tổ chức và điều hành tốt trong mọi hoạt động của công ty. Đảm bảo việc làm thường xuyên cho trên 800 lao động với mức lương thu nhập bình quân tương đối cao. * Hạn chế: Số lượng và chất lượng nhân lực còn hạn chế, chưa theo kịp tốc độ phát triển của quy mô SXKD, chưa đáp ứng được nhu cầu của nền kinh tế thị trường. Nguồn vốn SXKD còn thiếu không theo kịp tốc độ phát triển của hoạt động SXKD. Máy móc, trang thiết bị thi công của công ty đang trong giai đoạn đầu tư ban đầu mới đáp ứng được cơ bản SXKD. 2.2.2. Tình hình tổ chức vốn kinh doanh của Công ty TNHHNN một thành viên kinh doanh dịch vụ nhà Hà Nội. Bảng 2: Cơ cấu tài sản và nguồn vốn của Công ty. Đơn vị tính: Đồng Việt Nam Chỉ tiêu 31/12/2008 31/12/2009 Số tiền Tỷ trọng Số tiền Tỷ trọng Tổng tài sản 415.757.682.521 100% 464.851.020.435 100% A. Tài sản ngắn hạn 214.931.486.385 51,70% 200.024.443.783 43,03% B. Tài sản dài hạn 200.826.196.136 48,30% 264.826.576.652 56,97% Tổng nguồn vốn 415.757.682.521 100% 464.851.020.435 100% A. Nợ phải trả 342.440.253.356 82,37% 381.912.731.739 82,16% B. Nguồn vốn chủ sở hữu 73.317.429.165 17,63% 82.938.288.696 17,84% (Nguồn: Bảng cân đối kế toán Công ty RESCO., LTD năm 2009) Tính đến 31/12/2009 tổng giá trị tài sản của công ty là 464.851.020.435 đồng đã tăng 49.093.337.914 đồng tương ứng với tỉ lệ tăng 11,81% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó tài sản ngắn hạn là 200.024.443.783 đồng chiếm tỷ trọng 43,03% tổng giá trị tài sản, tài sản dài hạn là 264.826.576.652 đồng chiếm tỷ trọng 56,97% tổng giá trị tài sản. Như vậy ta có thể thấy quy mô kinh doanh của công ty đã tăng so với cùng kỳ năm ngoái, trong đó tài sản dài hạn chiếm tỷ trọng lớn hơn trong tổng tài sản, trong khi tài sản ngắn hạn chiếm tỷ trọng nhỏ hơn. Sự chênh lệch này không nhiều là do đặc điểm SXKD của công ty hoạt động trong lĩnh vực xây dựng và xây lắp các công trình dân dụng, công nghiệp, văn hoá, thể dục thể thao, vui chơi giải trí. Đây là những công trình cần một thời gian dài xây lắp mới hoàn thành, nên vòng quay vốn lớn, do đó Công ty cần nhiều tài sản ngắn hạn để đảm bảo cho quá trình SXKD diễn ra thường xuyên liên tục. Đồng thời đầu tư vào lĩnh vực bất động sản cũng là ngành nghề chủ yếu của công ty. Đây chính là tài sản dài hạn. Như vậy để duy trì cả 2 ngành nghề một cách cân bằng thì TSNH và TSDH phải tương đối đồng đều. Do vậy cơ cấu trên của công ty là hợp lý. Về nguồn vốn kinh doanh, trong năm 2009, số nợ phải trả của công ty là 381.912.731.739 đồng chiếm tỷ trọng 82,16% trong tổng nguồn vốn. Còn lại là nguồn vốn chủ sở hữu 82.938.288.696 đồng chiếm tỷ trọng 17,84%. Ta thấy nợ phải trả chiếm tỷ lệ lớn trong tổng nguồn vốn và tăng so với cùng kỳ năm ngoái trong khi nguồn vốn chủ sở hữu chiếm tỷ lệ nhỏ và giảm so với cùng kỳ năm ngoái điều này cho thấy khả năng tự chủ về tài chính của công ty là thấp, đồng thời có thể tăng chi phí sử dụng vốn do vay nợ lớn Xem xét chi tiết hơn về nguồn vốn của công ty qua bảng số 3. - Nợ phải trả: Đến cuối năm 2009 tổng nợ phải trả là 381.912.731.739 đồng chiếm tỷ trọng 82,16% trong tổng nguồn vốn. So với năm 2008 đã tăng 39.472.478.383 đồng ứng với tỷ lệ tăng 11,53%. Trong đó chiếm tỷ trọng lớn nhất là các khoản nợ ngắn hạn, tuy nhiên trong năm 2009 các khoản nợ ngắn hạn lại tăng 9.363.312.425 đồng với tỷ lệ 4,00%. Nợ dài hạn chiếm tỷ trọng nhỏ nhưng trong năm 2009 đã tăng nhẹ 14,50% (đầu năm 2009 chiếm tỷ trọng 31,73% đến cuối năm là 36,33%). Sự tăng nhẹ này chủ yếu là do vay và nợ dài hạn tăng 15,58% (đầu năm 2009 là 104.317.670.743 đồng; cuối năm là 120.573.482.074 đồng), phải trả dài hạn khác tăng 426,76% (đầu năm 2009 là 3.217.733.240 đồng; cuối năm là 16.949.606.748 đồng). Ngoài ra khoản dự phòng trợ cấp mất việc làm cũng tăng 10,93% nhưng chiếm một tỷ lệ nhỏ. Nợ dài hạn chiếm tỷ trọng nhỏ là chưa thật hợp lý, vì xuất phát từ đặc điểm sản xuất kinh doanh chính của công ty là xây dựng và xây lắp nên vòng quay vốn kinh doanh dài, do đó việc thu hồi vốn chậm, để đảm bảo khả năng thanh toán và hoạt động sản xuất kinh doanh thì công ty cần huy động các nguốn vốn dài hạn. Tuy nhiên công ty đó từng bước điều chỉnh tăng các khoản nợ dài hạn trong năm 2009. Nguồn vốn chủ sở hữu: Cuối năm 2009 tăng lên so với đầu năm là 9.620.859.531 đồng tỷ lệ tăng 13,12% nâng vốn chủ sở hữu lên 82.938.288.696 đồng chiếm tỷ trọng 17,84% trong tổng nguồn vốn. Trong đó, vốn chủ sở hữu là 82.720.443.153 đồng chiếm tỷ trọng 99,7%. Còn lại nguồn kinh phí và quỹ khác 217.845.543 đồng chiếm 0,3% tổng nguồn vốn. Để có kết luận cụ thể hơn về tính hợp lý trong công tác tổ chức vốn kinh doanh của công ty, cần xem xét một số chỉ tiêu sau tại bảng 3: Hệ số nợ thời điểm cuối năm 2009 là 82,16% giảm 0,21% so với đầu năm, nguyên nhân do tổng nguồn vốn tăng 49.093.337.914 đồng trong khi nợ phải trả tăng 39.472.478.383 đồng xét về tốc độ tăng của tổng nợ phải trả nhỏ hơn tổng nguồn vốn, nhưng không đáng kể. Xét về phương diện lý thuyết thuần tuý thì công ty hiện đang ở trong tình trạng mắc nợ cao. Hệ số nợ cao chứng tỏ khả năng tự chủ về mặt tài chính của công ty là thấp. Hệ số nợ cao giống như “con dao 2 lưỡi” khi hiệu quả SXKD cao thì chính khoản nợ vay sẽ khuếch đại lợi nhuận vốn chủ sở hữu. Điều này là lý tưởng cho các nhà quản trị tài chính doanh nghiệp sử dụng đòn bẩy tài chính trong quá trình SXKD. Hệ số nợ cao thì chủ sở hữu càng có lợi vì khi đó VCSH chỉ phải đóng góp một phần nhỏ, khi mà công ty tạo được lợi nhuận trên các khoản nợ lớn hơn so với số tiền lãi phải trả thì phần lợi nhuận giành cho chủ sở hữu sẽ ra tăng rất nhanh. Ngược lại, nếu có một biến động xấu cho dù nhỏ sẽ có tác động bất lợi đến tình hình tài chính của công ty. Đồng thời việc duy trì hệ số nợ cao sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc huy động vốn từ bên ngoài. Trong mấy năm qua công ty luôn luôn duy trì được mức lợi nhuận cao (kể cả trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế). Điều đó cho thấy việc sử dụng đòn bẩy tài chính của công ty tỏ ra rất hiệu quả. Tuy nhiên công ty vẫn cần cân nhắc kỹ hơn trước những diễn biến bất thường của nền kinh tế có thể xảy ra trong thời gian tới. Xem xét mối quan hệ giữa cơ cấu tài sản và cơ cấu nguồn vốn của công ty năm 2009 qua bảng 4. Qua bảng 4 cho thấy: Nguồn vốn dài hạn được dùng để tài trợ toàn bộ cho tài sản dài hạn, nguồn vốn ngắn hạn dùng cho tài sản ngắn hạn và một phần tài trợ cho tài sản dài hạn. Cơ cấu nguồn tài trợ như trên làm cho độ an toàn tài chính của công ty giảm, do nguồn vốn ngắn hạn phải tài trợ 1 phần cho tài sản dài hạn, cách thức tài trợ này là chưa thật hợp lý, bởi nguồn vốn ngắn hạn là những khoản nợ doanh nghiệp có nghĩa vụ thanh toán trong 12 tháng, nhưng tài sản dài hạn trong 12 tháng chưa chắc đó chuyển đổi thành tiền để trả nợ cho nguồn vốn ngắn hạn do đó khả năng thanh toán của công ty sẽ bị ảnh hưởng trong năm tới. Đánh giá một cách tổng quát nguồn vốn của công ty đã tăng 11,81% trong đó, cơ cấu nguồn vốn có sự biến động theo xu hướng tăng tỷ trọng VCSH, giảm nợ phải trả. Bên cạnh đó hệ số nợ của công ty đang ở mức cao nên độ an toàn về mặt tài chính là thấp, tuy nhiên cơ cấu nguồn tài trợ của công ty là tương đối hợp lý. 2.2.3. Tình hình quản lý và sử dụng vốn kinh doanh của công ty. 2.2.3.1. Tình hình quản lý và sử dụng vốn lưu động. Công ty có chức năng vừa sản xuất vừa kinh doanh nên vốn lưu động đối với công ty đóng vai trò rất quan trọng, đặc biệt nó chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng vốn kinh doanh của công ty. Kết quả kinh doanh và hiệu quả sử dụng VKD sẽ được nâng cao nếu VLĐ được tổ chức sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả. Kết cấu vốn lưu động của công ty được thể hiện qua bảng 5 Qua bảng 5, kết cấu VLĐ của công ty năm 2009 cho thấy tình hình biến động VLĐ của công ty cụ thể là: tại thời điểm 31/12/2009 tổng VLĐ của công ty là 200.024.443.783 đồng chiếm tỷ lệ 43,03% vốn kinh doanh. Trong đó, khoản mục hàng tồn kho chiếm tỷ trọng cao nhất 80,38% tương ứng với 160.788.373.633 đồng, tiếp đến là các khoản phải thu ngắn hạn 17.349.677.553 đồng với tỷ trọng 8,67%, tài sản ngắn hạn khác 15.923.077.923 đồng với tỷ trọng 7,97% còn lại là vốn bằng tiền. So với đầu năm quy mô vốn lưu động của công ty đã giảm 14.907.042.602 đồng tương ứng với tỷ lệ giảm -6,94%. Để đánh giá toàn diện hơn ta đi phân tích cơ cấu vốn lưu động theo vai trò của vốn trong từng khâu kinh doanh. 2.2.3.1.1. Vốn bằng tiền và khả năng thanh toán. Căn cứ vào số liệu bảng 5. Tại thời điểm 31/12/2009 vốn bằng tiền của công ty là 5.963.314.674 đồng chiếm tỷ trọng 2,98% giảm 6.160.513.046 đồng với tỷ lệ giảm 50,81%. Với một tỷ trọng vốn bằng tiền thấp như vậy thì không hợp lý với đặc điểm chu chuyển vốn của công ty là vòng quay vốn lớn. Do đó, có thể dẫn tới tình trạng công ty không có đủ tiền để mua nguyên vật liệu cần thiết để đảm bảo cho quá trình SXKD diễn ra liên tục, lúc đó công ty có thể phải đi vay vốn và đẩy hệ số nợ lên cao hơn. Xét thành phần các khoản tiền: tiền mặt 66.123.483 đồng, tiền gửi ngân hàng 5.728.691.191 đồng. Năm 2009 tiền mặt và tiền gửi ngân hàng đều giảm so với cùng kỳ năm ngoái: tiền mặt giảm 226.046.848 đồng, tiền gửi ngân hàng giảm 6.152.966.199 đồng. Tuy nhiên tiền gửi ngân hàng vẫn chiếm tỷ trọng lớn 98,89% chứng tỏ công ty đã và đang đẩy mạnh công tác thanh toán qua ngân hàng bằng hình thức chuyển khoản, lựa chọn phương thức này vừa an toàn vừa tiết kiệm mà công ty lại có thêm một khoản lãi tiền gửi. Để xem xét khả năng thanh toán của công ty, cần đi sâu vào phân tích các chỉ tiêu ở bảng 6. Ta thấy: Hệ số khả năng thanh toán tổng quát đầu năm và cuối năm 2009 đều lớn hơn 1 chứng tỏ tất cả các khoản huy động từ bên ngoài đều có tài sản đảm bảo. Nếu đầu năm cứ một đồng vốn huy động từ bên ngoài thì có 1,214 đồng tài sản đảm bảo thì cuối năm con số này là 1,217 đồng tức là tăng 0,003 đồng tương ứng với tỷ lệ tăng 0,25%. Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn cuối năm so với đầu năm đã giảm 0,096 tương ứng tỷ lệ 10,52% điều này cho thấy khả năng thanh toán của công ty không bằng đầu năm 2009. Hệ số khả năng thanh toán nhanh cuối năm so với đầu năm đã giảm 0,045 tương ứng tỷ lệ giảm 21,59%. Hệ số nhỏ hơn 1 điều này cho thấy khả năng thanh toán nhanh các khoản nợ ngắn hạn là chưa tốt. Hệ số khả năng thanh toán nhanh nhỏ hơn hẳn hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn vì khoản hàng tồn kho chiếm tỷ trọng lớn (trên 80%) tài sản ngắn hạn Qua những phân tích trên ta thấy khả năng thanh toán chung của công ty là tương đối tốt chỉ có chỉ tiêu khả năng thanh toán nhanh và khả năng thanh toán nợ ngắn hạn là chưa tốt song điều này không đáng lo vì đó là các khoản nợ nay chưa đến hạn phải trả. 2.2.3.1.2. Tình hình các khoản phải thu. Vào thời điểm cuối năm, trị giá các khoản phải thu của công ty là 17.349.677.553 đồng chiếm 8,67% giảm 633.774.940 đồng so với đầu năm với tỷ lệ giảm 3,52%. Việc giảm các khoản phải thu chủ yếu là do khoản mục phải thu của khách hàng giảm 1.168.224.550 đồng với tỷ lệ giảm 10,93% và khoản phải thu khác giảm 20.707.440 với tỷ lệ giảm 13,34%, trong khi đó mục trả trước cho người bán tăng 560.910.253 đồng với tỷ lệ tăng 7,86%. Nguyên nhân do trong năm 2009 công ty tập trung triển khai dự án đầu tư chiều sâu xây dựng khu đô thị mới Cổ Nhuế - Xuân Đỉnh, công trình 521 Kim Mã, hoàn thiện các công trình nhà ở đã khởi công do đó cần có thêm vật liệu để đảm bảo quá trình xây dựng được diễn ra liên tục nên các khoản phải trả trước cho người bán tăng là phù hợp. Hơn nữa, xuất phát từ đặc điểm sản xuất kinh doanh của công ty là xây dựng và xây lắp nên khoản mục các khoản phải thu khách hàng chiếm tỷ trọng lớn do việc thanh quyết toán của công ty phụ thuộc rất nhiều từ phía chủ đầu tư theo hợp đồng, có thể hoàn thành công trình đến đâu thanh toán dứt điểm đến đó, hoặc thanh toán toàn bộ sau khi bàn giao công trình hay có thể chủ đầu tư ứng trước vốn. Vòng quay các khoản phải thu và kỳ thu tiền bình quân của công ty năm 2008-2009 được thể hiện qua bảng 7: Qua bảng 7, ta thấy nếu như trong năm 2008 số vòng quay các khoản phải thu là 4,94 vòng thì đến năm 2006 là 6,31 vòng tức là đã tăng 1,37 vòng. Trong khi kỳ thu tiền bình quân lại giảm 16 ngày (từ 73 ngày xuống 58 ngày) có thể thấy kỳ thu tiền bình quân như vậy là tương đối ngắn. Việc vòng quay các khoản phải thu tăng và kỳ thu tiền bình quân giảm là do số dư bình quân các khoản phải thu trong năm tăng không đáng kể nhưng doanh thu bán hàng lại tăng cao (25.915.069.184 đồng so với 85.568.476.250 đồng). Trên đây các khoản phải thu là các khoản mà công ty cung cấp dịch vụ cho khách hàng với tư cách là người bán, ngoài ra công ty còn là người đi mua hàng là người được chiếm dụng vốn của người cung cấp. Để thấy được tình hình về các khoản phải thu và phải trả như thế nào ta xem xét số liệu bảng 8 Có thể thấy đến thời điểm cuối năm tổng các khoản chiếm dụng giảm 5.922.737.973 đồng với tỷ lệ giảm 3,58% trong khi các khoản bị chiếm dụng lại tăng 9.156.877.725 đồng với tỷ lệ tăng 29,12%. Có thể thấy số vốn mà Công ty chiếm dụng lớn hơn nhiều so với số vốn bị chiếm dụng, do đó công ty có thể sử dụng các khoản vốn bị chiếm dụng khi chưa đến hạn thanh toán cho khách hàng như một nguồn vốn bổ sung tài trợ cho các nhu cầu vốn lưu động ngắn hạn của công ty, điều này có nghĩa là công ty được tài trợ thêm một lượng vốn lớn. Việc sử dụng thương mại đối với công ty là tương đối thuận lợi, dễ dàng hơn là đi vay bởi công ty có quan hệ thường xuyên và khá lâu dài với các nhà cung cấp. Tuy nhiên, việc sử dụng tín dụng thương mại thường có chi phí cao hơn, bởi vì các nhà cung cấp sẽ thắt chặt hơn các điều kiện trong thực hiện hợp đồng như tiền phạt hoặc thanh toán lãi trả chậm và công ty mất đi một khoản chiết khấu khi thanh toán tiền hàng trong thời gian được chiết khấu. Từ các vấn đề trên, công ty cần phải theo dõi chặt chẽ các khoản chiếm dụng, tìm nguồn bù đắp kịp thời khi các khoản này đến hạn trả và khống chế tỷ lệ các khoản chiếm dụng ở mức độ hợp lý. 2.2.3.1.3. Tình hình tổ chức và quản lý hàng tồn kho. Qua số liệu bảng 5, ta thấy trong năm 2009 hàng tồn kho là 160.788.373.633 đồng giảm 6.033.324.400 đồng với tỷ lệ giảm 3,62%. Trong đó toàn bộ là chi phí SXKD dở dang do trong năm công ty có nhiều công trình lớn đang trong quá trình xây dựng và hoàn thiện như: khu đô thị Cổ Nhuế-Xuân Đỉnh, Dự án Trung Văn (Phùng Khoan), B15 Đại Kim Định Công, do đặc điểm SXKD của công ty hoạt động trong lĩnh vực xây dựng và xây lắp nên nguyên vật liệu có sẵn ngoài thị trường vì vậy công ty không cần thiết phải dự trữ nguyên vật liệu để tránh hiện tượng ứ đọng vốn không cần thiết trong khâu dự trữ. Để hiểu rõ hơn hiệu quả sử dụng vốn tồn kho cần phải phân tích mối quan hệ giữa hàng tồn kho đối với hoạt động SXKD của công ty qua các chi tiêu ở bảng 9 . Ta thấy vòng quay hàng tồn kho của công ty cuối năm là 0,379 vòng giảm 0,018 vòng so tương ứng tỷ lệ -4,75% so với đầu năm làm tăng số ngày một vòng quay lên 951 ngày điều này là hợp lý với đặc điểm SXKD của công ty. Qua xem xét tình hình tổ chức và quản lý hàng tồn kho ta thấy tỷ trọng hàng tồn kho so với tổng vốn lưu động tăng, tốc độ luân chuyển hàng tồn kho giảm làm số ngày hoàn thành một vòng quay tăng. Chứng tỏ trong năm tiến độ hoàn thành các công trình dở dang là chậm, do đó công ty cần đẩy nhanh tiến độ thi công để sớm hoàn thành công trình đúng tiến độ. 2.2.3.1.4. Hiệu quả sử dụng vốn lưu động. Căn cứ vào bảng 10 ta thấy: * Tốc độ luân chuyển vốn lưu động: Năm 2009 so với năm 2008 tăng cụ thể: số vòng quay VLĐ năm 2009 so với năm 2008 tăng 0,131 vòng với tỷ lệ tăng 32,13% nguyên nhân do doanh thu thuần tăng mạnh (30,29%) còn VLĐ bình quân giảm 1,39%. Vòng quay VLĐ tăng làm kỳ luân chuyển giảm 215 ngày và hàm lượng VLĐ giảm 0,6 đồng. Một vòng quay VLĐ đã tăng 215 ngày chứng tỏ VLĐ luân chuyển năm 2009 đã nhanh hơn so với năm 2008. Từ đó cho thấy công tác quản lý và sử dụng VLĐ của công ty năm 2009 là tốt hơn nhiều so với năm 2008. * Tỷ suất lợi nhuận vốn lưu động sau thuế: Năm 2009 đạt 6,43% tăng 2,49% so với năm ngoái với tỷ lệ tăng 63,29%. Có thể thấy trong năm 2008 cứ 1 đồng VLĐ tham gia vào quá trình SXKD đã tạo ra 0,0394 đồng lợi nhuận sau thuế còn năm 2006 tạo ra được 0,0643 đồng lợi nhuận sau thuế tăng 0,0249 đồng. Nguyên nhân do VLĐ bình quân giảm 1,39% còn lợi nhuận sau thuế tăng 61,02%. Đồng thời mức độ tiết kiệm VLĐ trong năm 2009 là -66.890.127.260 đồng. Qua phân tích trên ta thấy việc quản lý và sử dụng VLĐ của công ty là rất hợp lý, các chỉ tiêu vòng quay VLĐ và tỷ suất lợi nhuận VLĐ đều tăng và trong năm đã tiết kiệm được 66.890.127.260 đồng VLĐ. Công ty nên cố gắng duy trì và phát huy trong thời gian tới. 2.2.3.2. Tình hình quản lý và sử dụng vốn cố định. 2.2.3.2.1. Đánh giá chung về cơ cấu tài sản dài hạn Để đánh giá chung về cơ cấu tài sản dài hạn ta dựa vào bảng sau: Bảng 11: Cơ cấu Tài sản dài hạn của Công ty Đơn vị tính Đồng Việt Nam Chỉ tiêu Số tiền Tỷ trọng Các khoản phải thu dài hạn Tài sản cố định 8.405.345.034 3,17 Bất động sản đầu tư 241.936.778.828 91,36 Các khoản đầu tư tài chính dài hạn 4.902.002.475 1,85 Tài sản dài hạn khác 9.582.450.315 3,62 Tổng cộng TSDH 264.826.576.652 100 (Nguồn: Bảng cân đối kế toán Công ty RESCO., LTD năm 2009) Ta thấy cơ cấu tài sản của công ty như sau: Tài sản cố định là 8.405.345.034 đ chiếm tỷ trọng 3,17% tài sản dài hạn. Tỷ trọng nảy rất nhỏ chứng tỏ công ty đã thu hồi được một lượng vốn lớn, bất động sản đầu tư của công ty là 241.936.778.828 đ chiếm tỷ trọng rất lớn 91,36%, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn và tài sản dài hạn khác chiếm tỷ trọng lần lượt là 1,85% và 3,62%. Cơ cấu trên của công ty là hợp lý, vì ngành nghề của công ty chủ yếu hoạt động trong lĩnh vưc xây dựng và xây lắp nên các khoản đầu tư vào bất động sản phải chiếm tỷ trọng lớn. 2.2.3.2.2 Tình trạng trang bị, mua sắm tài sản cố định. Qua bảng cân đối kế toán ta thấy tại thời điểm 31/12/2009 tài sản cố định là 8.405.345.034 đồng chiếm 1,81% tổng tài sản đã giảm so với đầu năm. Nguyên nhân do chi phí xây dựng cơ bản dở dang giảm từ 157.465.476.474 đồng xuống còn 82.974.000 đồng, chứng tỏ một lượng vốn lớn của công ty đã được thu hồi. Qua bảng 12, cơ cấu tài sản cố định ta thấy tính đến thời điểm 31/12/2009 tổng nguyên giá tài sản cố định của công ty là 22.458.772.971 đồng trong đó: - TSCĐ khác chiếm tỷ trọng cao nhất chiếm 61,09% tổng nguyên giá tài sản cố định, nếu so với đầu năm máy móc, thiết bị đã tăng 561.904.762 đồng. - Nhà cửa, vật kiến trúc cuối năm chiếm 6,80% tổng nguyên giá tài sản cố định. - Phương tiện vận tải truyền dẫn không đổi vẫn là 3.119.853.722 đồng chiếm tỷ lệ 13,89% tổng nguyên giá tài sản cố định. - Thiết bị dụng cụ quản lý cuối năm là 4.054.560.923 đồng chiếm tỷ trọng 18,05% tổng nguyên giá tài sản cố định. 2.2.3.2.3. Tình hình khấu hao tài sản cố định. Hiện nay, công ty đang áp dụng nguyên tắc khấu hao theo đường thẳng, nguyên tắc ghi nhận tài sản cố định (hữu hình, vô hình, thuê tài chính): theo nguyên tắc giá gốc. Tài sản hình thành từ đầu tư xây dựng cơ bản, ghi nhận theo giá trị quyết toán được phê duyệt của đầu tư xây dựng cơ bản hoàn thành hoặc theo giá thực tế mua sắm. Qua số liệu bảng 13 ta thấy. Tính đến thời điểm cuối năm 2009 nguyên giá của tài sản cố định là 22.422.234.796 đồng số khấu hao luỹ kế 14.099.863.762 đồng với hệ số hao mòn là 62,88%. Điều này nói lên tài sản cố định mới khấu hao quá một nửa, giá trị còn lại của tài sản cố định chiếm 37,12% so với nguyên giá. Cụ thể: - Nhà cửa, vật kiến trúc có nguyên giá là 1.527.984.219 đồng với hệ số hao mòn 95,29%. Điều này có nghĩa là đến cuối năm giá trị còn lại của nhà cửa, vật kiến trúc chỉ còn 71.968.700 đồng tương ứng với tỷ lệ 4,71% so với nguyên giá. Nhà cửa, vật kiến trúc đã khấu hao gần hết. - Phương tiện vận tải truyền dẫn có nguyên giá 3.119.853.722 đồng với hệ số hao mòn 51,04%, giá trị còn lại là 1.527.598.717 đồng tương ứng tỷ lệ 48,96% so với nguyên giá. - Thiết bị, dụng cụ quản lý có nguyên giá 4.054.560.923 đồng với hệ số hao mòn 45,02%, giá trị còn lại là 2.229.345.850 đồng tương ứng tỷ lệ 54,98% so với nguyên giá. -Tài sản cố định khác có nguyên giá 13.719.835.932 đồng với hệ số hao mòn 67,25%. Giá trị còn lại là 4.493.457.767 đồng tương ứng tỷ lệ 32,75% so với nguyên giá Qua những đánh giá trên ta thấy tài sản cố định của công ty mới khấu hao được 62,88%, tuy vậy nhà cửa vật kiến trúc đă gần khấu hao hết cần thay thế trong năm tới. Đối với tài sản khác công ty cũng cần chú trọng công tác bảo dưỡng sửa chữa để tài sản cố định hoạt động tốt tạo điều kiện khấu hao hết bảo toàn vốn cố định. 2.2.3.2.4. Hiệu quả sử dụng vốn cố định. Để đánh giá trình độ tổ chức cũng như việc sử dụng VCĐ của công ty, ngoài việc phân tích cơ cấu tài sản cố định và tình trạng kỹ thuật tài sản cố định cần đánh giá hiệu quả sử dụng VCĐ. Qua các chỉ tiêu bảng 14 ta thấy: Hiệu suất sử dụng VCĐ của công ty năm 2009 là 1,29 tăng 0,61 so với năm ngoái với tỷ lệ tăng 90,06%. Điều này cho thấy nếu như trong năm 2008 cứ một đồng VCĐ đầu tư vào SXKD mang lại cho công ty 0,68 đồng doanh thu thuần thì sang năm 2009 đã tăng lên thành 1,29 đồng. Nguyên nhân là so với năm 2009 doanh thu thuần tăng 25.915.069.184 đồng ứng với tỷ lệ tăng 30,29%, trong khi vốn cố định bình quân năm 2009 là 86.702.905.800 đồng giảm 39.780.246.109 đồng so với năm 2008 ứng với tỷ lệ giảm 31,45%(sự giảm mạnh của VCĐ bình quân là do trong năm 2009 công ty đã tách một phần tài sản cố định là nhà, cửa cho thuê nên đã chuyển thành khoản mục bất động sản đầu tư dẫn đến VCĐ bình quân của công ty trong năm giảm). Điều này cho thấy công ty đã sử dụng rất có hiệu quả vốn cố định. Hiệu suất sử dụng tài sản cố định năm 2009 là 5,28 tăng so với năm ngoái với mức tăng 1,05 với tỷ lệ tăng 24,7%. Nếu năm 2008 một đồng tài sản cố định tham gia vào hoạt động SXKD tạo ra 4,24 đồng doanh thu thuần thì sang năm 2009 đã tạo ra 5,28 đồng doanh thu thuần. Điều này cho thấy trong năm 2009 công ty đã sử dụng tài sản cố định rất có hiệu quả. Tỷ suất lợi nhuận VCĐ của công ty năm 2009 là 15,4% tăng 8,84% so với năm ngoái với tỷ lệ tăng 134,89%. Điều này cho thấy trong năm 2009 cứ một đồng VCĐ bình quân tạo ra 0,154 đồng lợi nhuận sau thuế tăng 0,0,0884 đồng so với năm ngoái. Tổng lợi nhuận sau thuế TSLN trên TSDH TSDH bình quân = Nếu các chỉ tiêu trên được tính trên tổng tài sản dài hạn thì thấp hơn. Ta đi xem xét chỉ tiêu sau: 13.350.941.728 LNST TSDH TSLN TSDH = = 232.826.386.394 = = 0,057 5,7% Trong đó: đồng 264.826.576.652+200.826.196.136 TSDH bình quân 2009 = 2 = 232.826.386.394 Các chỉ tiêu nếu tính trên toàn bộ tài sản dài hạn của công ty thì thấp hơn nhiều vì đặc điểm ngành nghề chính là xây dựng và xây lắp do đo các công trình xây dựng dở dang là rất lớn chưa hoàn thành để đưa vào khai thách sử dụng nên chưa mang lại lợi nhuận. Vì vậy, công ty cần đẩy mạnh tiến độ thi công sớm hoàn thành công trình để đưa vào phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh, góp phần nâng cao năng lực sản xuất cho công ty. Kết luận: Qua những nhận xét trên về các chỉ tiêu phản ánh sử dụng VCĐ ta thấy tài sản cố định của công ty mới khấu hao được 60%, hiệu quả sử dụng VCĐ trong năm 2009 là tốt. Tuy nhiên, VCĐ chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn nên chưa thực sự phán ánh chính xác ảnh hưởng của nó tới quá trình sử dụng vốn kinh doanh. Trước xu thế hội nhập hiện nay sự cạnh tranh giữa các DN trở lên gay gắt hơn bao giờ hết nên trong thời gian tới công ty cần có kế hoạch sử dụng bảo dưỡng tài sản cố định đồng thời trang bị thêm những trang thiệt bị mới hiện đại góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh. 2.2.4. Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của Công ty RESCO., LTD. Qua bảng 15 các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả vốn kinh doanh ta thấy: - Doanh thu thuần năm 2009 so với năm 2008 đã tăng 25.915.069.184 đồng với tỷ lệ tăng 30,29% điều này đã làm cho tỷ suất lợi nhuận doanh thu thuần tăng lên 0,015 tương ứng tỉ lệ tăng 14,86%. Nguyên nhân do tốc độ tăng lợi nhuận sau thuế cao hơn tốc độ tăng của doanh thu thuần (49,65% so với 30,29%). - Vòng quay toàn bộ vốn: đây là chỉ tiêu phản ánh khái quát nhất về tình hình sử dụng vốn kinh doanh của công ty. Trong năm 2009 vốn kinh doanh luân chuyển được 0,253 vòng so với năm 2008 đã nhanh hơn 0,021 vòng tương ứng tỷ lệ tăng 9,13%. Nguyên nhân do tốc độ tăng của doanh thu thuần nhanh hơn tốc độ tăng vốn kinh doanh bình quân (30,29% so với 19,38%). - Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu: đây là chỉ tiêu quan trọng nhất, là mục tiêu mà các DN hướng tới. Ta thấy trong năm 2009 chỉ tiêu này của công ty đạt 17,1 tức là một đồng vốn chủ sở hữu mang lại 0,171 đồng lợi nhuận sau thuế tăng 0,045 đồng so với năm 2008 tương ứng với tỷ lệ tăng 35,7% điều này là do trong năm 2009 tốc độ tăng của lợi nhuận sau thuế lớn hơn so với tốc độ tăng của vốn chủ sở hữu bình quân (49,65% so với 19,38%). VKD VKD TSLN VKD = LNST = / / DTT = Vòng quay tổng vốn x LNST DT - Tỷ suất lợi nhuận vốn kinh doanh (TSLN VKD): năm 2009 là 3,03 tăng 0,61% so với năm 2008 tương ứng với tỷ lệ tăng 25,35%. Điều này cho thấy trong năm 2009 một đồng vốn mà công ty bỏ ra thì thu được 0,0303 đồng lợi nhuận sau thuế. Để tìm hiểu nguyên nhân của lợi nhuận đạt được từ một đồng vốn kinh doanh bình quân ta đi sâu xem xét các nhân tố ảnh hưởng TSLN VKD thông qua phương trình Dupont phương trình được triển khai như sau: Tổng hợp mức độ ảnh hưởng của vòng quay vốn kinh doanh và tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu tới tỷ suất lợi nhuận trên vốn kinh doanh. D TSLN VKD2009 = 11,98 (0,25 - 0,23) + 0,25 (11,98 – 10,43) = 0,0396 + 0,3875 = 0,4271 Như vậy, vòng quay vốn kinh doanh thay đổi làm cho TSLN VKD tăng 0,0396 đồng và TSLN DTT tăng 0,3875 đồng . Qua phân tích các chỉ tiêu cho thấy, các chỉ tiêu TSLN DTT; TSLN VCSH và TSLN VKD đều tăng. 2.2.5. Đánh giá chung về tình hình tổ chức và sử dụng vốn kinh doanh ở Công ty RESCO., LTD. 2.2.5.1. Những thành tích đã đạt được. Qua phân tích tình hình quản lý và sử dụng vốn kinh doanh của công ty ta thấy: - Tổng nguồn vốn kinh doanh của công ty 2009 đã được mở rộng hơn so với với năm 2008. - Khả năng thanh toán của công ty cũng được đảm bảo. - Công ty đã tổ chức quản lý và sử dụng tiết kiệm các khoản mục chi phí do đó lợi nhuận sau thuế tăng theo doanh thu. - Trong năm công ty đã chủ động đầu tư và đổi mới một số máy móc thiết bị, hiện đại hoá công cụ, dụng cụ quản lý, nâng cao trình độ cán bộ nhân viên, giải quyết việc làm cho 850 người với thu nhập bình quân 2,8 triệu đồng/ người/ tháng. - Công ty đã áp dụng những phương thức quản lý mới, tăng cường hạch toán kinh doanh, tiết kiệm chi phí đảm bảo công tác hạch toán kinh doanh một cách kịp thời chính xác làm cơ sở kiểm tra, quản lý chi phí nhằm hạ giá thành sản phẩm. 2.2.5.2. Một số tồn tại. Qua phân tích thực trạng sử dụng vốn kinh doanh của công ty ta thấy vẫn còn một số tồn tại trong công tác quản lý và sử dung vốn kinh doanh. * Về cơ cấu nguồn vốn. - Nợ phải trả chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng nguồn vốn (82,16%) làm cho khả năng thanh toán của công ty giảm, đồng thời khả năng tự chủ về vốn của công ty là thấp, làm phát sinh các chi phí sử dụng vốn * Về cơ cấu vốn. - Vốn cố định: Mặc dù trong năm công ty có đầu tư mua sắm TSCĐ nhưng chỉ đầu tư cho bộ phận quản lý chưa chú trọng vào tài sản dùng cho SXKD. - Vốn lưu động: Thời gian thi công các công trình xây dựng kéo dài, tiến độ thanh toán cho các công trình hạng mục chậm làm cho thời gian thu hồi vốn dài, điều này đã làm cho lãi vay tăng cao. * Cũng như các DN khác tình trạng thiếu vốn cho hoạt động SXKD của công ty đang là vấn đề nan giải. Khả năng huy động vốn luôn không đáp ứng đủ nhu cầu vốn. Hiện nay, nguồn VKD và lợi nhuận để lại chỉ đáp ứng được một phần nhu cầu vốn, vì vây công ty vẫn phải vay ngân hàng và các tổ chức tín dụng dẫn đến chi phí sử dụng vốn cao, ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh. Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU GÓP PHẦN NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH Ở CÔNG TY TNHH NHÀ NƯỚC MỘT THÀNH VIÊN KINH DOANH DỊCH VỤ NHÀ HÀ NỘI. 3.1. Định hướng phát triển của công ty trong thời gian tới. 3.1.1. Mục tiêu chung của công ty từ nay đến năm 2015: - Xây dựng công ty trở thành một DN trách nhiệm hữu hạn Nhà Nước một thành viên có năng lực mạnh về tài chính, thị trường, về khoa học công nghệ trong kinh doanh dự án phát triển nhà và đô thị, kinh doanh xây lắp, kinh doanh dịch vụ cho thuê nhà và văn phòng, góp phần trong sự nghiệp xây dựng và phát triển thủ đô. - Củng cố, phát triển đa dạng hoá sản phẩm và loại hình kinh doanh trên cơ sở chuyên môn hoá cao từng bộ phận SXKD và chuyên nghiệp hoá từng bộ phận quản lý. Phấn đấu đạt mức tăng trưởng các chỉ tiêu kinh tế doanh thu, lợi nhuận hàng năm từ 8% - 12%, khẳng định thương hiệu trên thị trường xây dựng ở thủ đô, tiến tới các tỉnh, thành trong nước. - Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với nhà nước và đảm bảo việc làm, chăm lo cải thiện đời sống, điều kiện làm việc và từng bước nâng cao thu nhập cho người lao động. 3.1.2. Kế hoạch phát triển SXKD từ nay đến 2015. - Từ nay đến năm 2015 công ty tập trung vào kinh doanh các dự án phát triển nhà và đô thị dân cư, các dự án đầu tư chiều sâu của công ty. Hoạt động thi công xây lắp chủ yếu tập trung vào việc hoàn thành các dự án do công ty làm chủ đầu tư. Do đó, giá trị sản lượng từ thi công xây lắp tự thực hiện chiếm tỷ trọng lớn trong giá trị SXKD. Dự kiến sau khi các công trình hoàn thành, đưa vào sử dụng, khai thác, doanh thu và lợi nhuận của công ty sẽ có bước chuyển biến đáng kể. - Cơ cấu phát triển các sản phẩm chủ yếu của công ty: định hướng của công ty trong những năm tới sẽ chuyển dịch dần từ kinh doanh dự án phát triển nhà đô thị sang lĩnh vực kinh doanh dịch vụ cho thuê nhà, văn phòng, khách sạn... Theo đó mục tiêu của công ty đến năm 2015 cơ cấu SXKD theo 3 ngành nghề chính: + Kinh doanh dự án phát triển nhà đô thị, định hướng đến năm 2015 chiếm tỷ trọng 55-60% giá trị SXKD. + Kinh doanh nhận thầu xây lắp, định hướng đến năm 2015 chiếm tỷ trọng 15-20% giá trị SXKD. + Kinh doanh dịch vụ cho thuê nhà, định hướng đến năm 2015 chiếm tỷ trọng 20-25% giá trị SXKD. Kinh doanh khác chiếm tỷ trọng 5-10%. 3.1.3. Các lĩnh vực kinh doanh chủ yếu. Hoạt động đầu tư dự án được xác định là hoạt động trọng điểm và hàng đầu của công ty; hoạt động xây lắp có vai trò quan trọng, đầu tư khai thác với hiệu quả tối đa và kinh doanh chuyên nghiệp trên lĩnh vực kinh doanh dịch vụ cho thuê nhà, văn phòng và khách sạn. * Lĩnh vực kinh doanh phát triển nhà và đô thị. Đây là lĩnh vực mũi nhọn của công ty, phát triển lĩnh vực kinh doanh này sẽ tạo nguồn công việc và động lực thúc đẩy kinh doanh xây lắp. Trong thời gian tới công ty sẽ tập trung: - Tổ chức triển khai tốt các dự án hiện có như dự án Khu đô thị mới Cổ Nhuế - Xuân Đỉnh, lô 15 Định Công; dự án tổ hợp văn phòng khách sạn căn hộ cho thuê 512 Kim Mã; dự án đầu tư xây dựng HTKT và nhà ở cho CBCNV bệnh viện Bạch Mai; dự án tại xã Phùng Khoan - Trung Văn; dự án Cổ Nhuế mở rộng. - Tham gia đấu thầu các dự án xây dựng của thành phố, xin làm chủ đầu tư một số công trình mà công ty đang triển khai lập kế hoạch chi tiết. - Tổ chức thực hiện các dự án đầu tư chiều sâu: nâng cấp và xây mới một số khách sạn, biệt thự cũ, một số khu nhà hiện công ty đang quản lý khai thác như: 512 Kim Mã, 40 Tăng Bạt Hổ, 340 Bà Triệu. - Khai thác lĩnh vực kinh doanh dự án ở Hà Nội và mở rộng địa bàn sang các tỉnh lân cận. * Lĩnh vực kinh doanh xây lắp. Trong giai đoạn từ nay đến 2015 nguồn công việc chính cho kinh doanh xây lắp là tổ chức thi công các công trình trong dự án mà công ty đang làm chủ đầu tư. Thông qua kết quả hoạt động kinh doanh xây lắp để khẳng định và củng cố thương hiệu của công ty, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác đấu thầu và nhận đấu thầu xây lắp trong tương lai. Dự kiến trong lĩnh vực kinh doanh này công ty sẽ tập trung: - Đầu tư trang thiết bị và ứng dụng công nghệ hiện đại, nâng cao năng lực toàn diện để đảm bảo tổ chức thực hiện các dự án, công trình có quy mô lớn, yêu cầu kỹ thuật, mỹ thuật cao, các công trình hạ tầng kỹ thuật hiện đại. - Củng cố và xây dựng các xí nghiệp xây lắp mạnh, có đủ năng lực để mỗi xí nghiệp đảm nhận giá trị sản lượng trung bình 20 tỷ đồng. - Đẩy mạnh hoạt động đấu thầu và nhận đấu thầu thi công xây lắp, khai thác thị trường Hà Nội, phát triển ra các tỉnh lân cận. * Lĩnh vực kinh doanh dịch vụ cho thuê nhà, văn phòng, khách sạn. - Không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ cho thuê nhà, đáp ứng kịp thời yêu cầu của khách hàng, duy trì tỷ lệ diện tích cho thuê nhà đạt 90-95%, khai thác thế mạnh truyền thống trong công tác cho thuê nhà, tạo nguồn tài chính cho hoạt động SXKD khác. - Đầu tư nâng cấp các khu nhà hiện đang cho thuê và xây mới tại một số địa điểm có lợi thế thương mại. - Hình thành thêm một số xí nghiệp kinh doanh dịch vụ thương mại và cho thuê nhà để quản lý và khai thác với hiệu quả cao các dự án có diện tích thương mại và văn phòng cho thuê. - Ứng dụng công nghệ quản lý, hệ thống thông tin, quảng cáo hịên đại trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ thương mại và cho thuê nhà. 3.1.4. Các giải pháp để nâng cao hiệu quả SXKD của công ty. - Đầu tư công nghệ và trang thiết bị trong giai đoạn 2010-2015. Đầu tư thêm các phương tiện, máy móc thiết bị hiện đại, đồng bộ phục vụ thi công các công trình với quy mô lớn, các trang thiết bị phục vụ thi công các công trình hạ tầng và giao thông, đảm bảo chất lượng và tiến độ thi công các công trình xây dựng. Dự kiến năm 2010 đến năm 2015 sẽ đầu tư từ 4 đến 8 tỷ đồng. Chú trọng và khuyến khích nghiên cứu và ứng dụng các đề tài khoa học, các sáng kiến cải tiến kỹ thuật. Ứng dụng công nghệ thông tin vào quá trình điều hành SXKD như quản lý dự án, quản lý xây lắp, quản lý tài chính, quản lý nhân sự, quản lý vật tư, phục vụ công tác điều hành SXKD của công ty được hiệu quả hơn và thuận tiện hơn. Đầu tư chiều sâu, triển khai kế hoạch xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2000 vào các hoạt động SXKD của công ty. - Công tác tài chính. Phân cấp quản lý. Đa dạng hoá các hình thức huy động vốn hợp lý bảo đảm cho hoạt động SXKD và xây dựng kế hoạch sử dụng vốn một cách hiệu quả để có được nguồn vốn ổn định. Tăng cường kiểm tra việc sủ dụng vốn của đơn vị, nhằm tránh những thất thoát và không bị ứ đọng về vồn. Đẩy mạnh công tác thu hồi công nợ; thực hiện song song giữa các bước để đảm bảo khi bàn giao công trình cho chủ đầu tư cũng là lúc lập xong hồ sơ thanh quyết toán công trình. Đẩy mạnh tiến độ triển khai thi công các dự án kinh doanh nhà, tổ chức thi công nhanh gọn, dứt điểm các hạng mục thiết yếu, đồng thời có phương án tiếp thị đồng bộ, sớm đưa dự án vào kinh doanh để thu hồi vốn cho doanh nghiệp. Củng cố thương hiệu, giữ uy tín với khách hàng trong hoạt động kinh doanh cho thuê nhà, luôn đảm bảo diện tích cho thuê đạt 90-95%, tạo nguồn thu hiệu quả cho công ty. - Công tác tổ chức. Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện các văn bản pháp quy nội bộ phục vụ công tác quản lý điều hành. Đẩy nhanh việc xây dựng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế ISO và đưa vào áp dụng trong năm 2015. Phân công nhiệm vụ và trách nhiệm cụ thể trong Ban Giám đốc; cơ cấu lại lực lượng cán bộ giữa các phòng, ban, xí nghiệp một cách hợp lý phù hợp với tình hình thực tế. Phát huy triệt để nội lực, quản trị tốt nguồn nhân lực của công ty; tuyển chọn đề bạt cán bộ có trình độ chuyên môn cao, có phẩm chất chính trị, đạo đức và lối sống lành mạnh, có tâm huyết với doanh nghiệp. Xây dựng chế độ đãi ngộ thoả đáng, có chính sách khen thưởng động viên kịp thời đối với những cá nhân, tập thể hoàn thành tốt nhiệm vụ nhằm phát huy tốt nhất năng lực của đội ngũ CBCNV phục vụ sự phát triển của công ty. Đối với CBCNV-LĐ hiện có Công ty sẽ phân loại để có kế hoạch sử dụng cho phù hợp, đồng thời nghiên cứu vận dụng các chính sách do Nhà nước ban hành đối với người lao động dôi dư. - Công tác đào tạo. Chú trọng công tác quy hoạch đào tạo nguồn cán bộ đối với đội ngũ cán bộ khung của công ty. Chú trọng công tác đào tạo và đào tạo lại đối với đội ngũ cán bộ kỹ thuật chủ chốt, tạo điều kiện để phát huy và mở rộng phạm vi hoạt động SXKD. Đối với công nhân kỹ thuật đào tạo theo hướng nâng cao tay nghề, dự kiến sẽ ký hợp đồng đào tạo và đặt đơn tuyển dụng với các trường đào tạo nghề của Bộ Xây dựng. - Củng cố các tổ chức đoàn thể trong doanh nghiệp. Cụ thể hoá các Quy định của Nhà nước về hoạt động của các tổ chức đoàn thể trong công ty. Xây dựng quy chế làm việc giữa Chủ tịch Công ty, Giám đốc Công ty và Ban Chấp hành Đảng uỷ, BCH Công đoàn và các tổ chức đoàn thể khác. Kiện toàn BCH Đảng uỷ bao gồm các đồng chí tiêu biểu cho Đảng bộ, có đức, có tài, đủ năng lực, trí tuệ lãnh đạo công ty trong thời kỳ mới. Kiện toàn BCH Công đoàn và BCH Đoàn TNCSHCM có đủ năng lực lãnh đạo, hướng mọi hoạt động của các tổ chức Công đoàn, Đoàn thanh niên phục vụ cho nhiệm vụ trung tâm của công ty. 3.2. Một số giải pháp đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh ở Công ty TNHH Nhà nước một thành viên kinh doanh dịch vụ nhà Hà Nội. Trong những năm qua Công Ty TNHH Nhà nước một thành viên kinh doanh dịch vụ nhà Hà Nội đã quan tâm và coi trọng công tác quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh. Công ty đã đạt được những kết quả đáng khích lệ như: lợi nhuận tăng, đời sống của cán bộ công nhân viên được cải thiện. Song bên cạnh đó vẫn còn một số tồn tại cần khắc phục như: cơ cấu vốn lưu động không hợp lý, vốn lưu động trong thanh toán nhiều, hệ số nợ cao chủ yếu là nợ ngắn hạn. Với nhận thức như vậy, em xin mạnh dạn đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm góp phần hoàn thiện hơn nữa công tác nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh ở Công ty TNHH Nhà nước một thành viên kinh doanh dịch vụ nhà Hà Nội như sau: 3.2.1. Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động. Trong năm 2009, Công ty đã có nhiều cố gắng trong việc bố trí một cơ cấu vốn lưu động hợp lý, công tác quản lý cũng như sử dụng vốn lưu động đã có một số hiệu quả nhất định. Tuy nhiên để phát huy những thành tích cũng như nâng cao hơn nữa những thành tích đó, theo em Công ty cần thực hiện một số vấn đề sau: Một là: Đẩy mạnh công tác thu hồi nợ, theo dõi và quản lý công nợ một cách chính xác và khoa học nhằm hạn chế vốn bị chiếm dụng. Căn cứ vào bảng cân đối kế toán năm 2009 của Công ty, ta thấy các khoản phải thu cuối năm so với đầu năm đă giảm 3,52%. Tuy nhiờn công ty cần có biện pháp nhanh chóng thu hồi nợ tránh hiện tượng bị chiếm dụng vốn, làm giảm hiệu quả sử dụng vốn thậm chí bị thất thoát vốn. Trên thực tế Công ty không thể một lúc thu hồi toàn bộ số nợ, cho nên công ty cần có kế hoạch thu hồi nợ một cách chính xác và khoa học. Theo em công ty cần thực hiện một số giải pháp cơ bản sau: - Công ty nhanh chóng thu hồi các khoản “phải thu của khách hàng”, bởi đây là khoản phải thu lớn nhất, có giá trị lớn và có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn, đến tốc độ luân chuyển của đồng vốn. Đồng thời tránh hiện tượng bị chiếm dụng vốn và gây hiện tượng thất thoát vốn của công ty. Công ty cần theo dõi sát sao tình hình của đối tượng nợ và có biện pháp thu hồi nợ, nếu có thể nên kết hợp với các cơ quan pháp luật để nhanh chóng thu hồi vốn đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh không bị gián đoạn. - Tiếp theo, các khoản “trả trước cho người bán”, công ty cần cân nhắc kỹ nhiều yếu tố để có quyết định phù hợp. Các yếu tố đó bao gồm: Các khoản chiết khấu được hưởng, uy tín của người bán và khả năng thanh toán hiện hành của công ty. Bên cạnh đó ,để hạn chế tối đa các khoản nợ, công ty cần có chính sánh giá cả hỗ trợ để khuyến khích khách hàng thanh toán như: Chiết khấu giảm giá cho khách hàng thanh toán ngay, thanh toán trước thời hạn. Ngoài ra trong quá trình ký kết với bạn hàng công ty cần đánh giá tốt khả năng tài chính của họ để trong quá trình thực hiện hợp đồng tránh được những rủi ro có thể xảy ra; nếu khách hàng không có đủ khả năng để thanh toán ngay thì công ty nên cho họ thế chấp hoặc chấp nhận có người bảo lãnh trung gian; nếu khách hàng thanh toán chậm thì tiến hành phạt theo hợp đồng thoả thuận lúc ký kết. - Công ty cần đẩy nhanh tốc độ thi công, sớm hoàn thành bàn giao công trình, đồng thời phải đảm bảo và nâng cao chất lượng công trình, hạng mục công trình; cùng với đó phải sớm hoàn thiện hồ sơ thanh quyết toán công trình, bởi vì công tác thanh quyết toán phụ thuộc vào tốc độ thi công, nghiệm thu bàn giao công trình. - Trích lập dự phòng các khoản phải thu khó đòi. Cùng với việc đẩy mạnh công tác thu hồi nợ, công ty nên trích lập quỹ dự phòng các khoản phải thu khó đòi. Trong những năm qua và năm 2009 công ty chưa trích lập khoản dự phòng này. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường biến động và thường có những rủi ro bất ngờ xảy ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh thì một bộ phận nợ phải thu của khách hàng (nợ khó đòi) không thu được là điều rất dễ xảy ra. Vì thế để tránh những rủi ro, biến động có ảnh hưởng xấu đến tình hình tài chính, công ty cần nên trích lập quỹ dự phòng các khoản phải thu khó đòi song song với các biện pháp đôn đốc khách hàng trả nợ. Hai là: Công ty cần quan tâm đến vấn đề giải quyết hàng tồn kho. Hiện tại hàng tồn kho của công ty đang ở mức cao 160.788.373.633 đồng. Trong khoản mục hàng tồn kho chỉ có chi phí sản xuất kinh doanh do đó công ty nên đẩy nhanh tiến độ thi công để kết chuyển chi phí kinh doanh dở dang vào giá thành sản xuất, rút ngắn thời gian thi công, khuyến khích người lao động tăng năng suất thi công bằng hình thức khen thưởng vật chất- tinh thần kịp thời, xử lý kỷ luật với các cá nhân cũng như tập thể thờ ơ thiếu trách nhiệm với công việc, đồng thời tổ chức thực hiện việc giám sát thi công tại công trường một cách chặt chẽ và nghiêm khắc xử lý những vi phạm. 3.2.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định. Việc sử dụng VCĐ của công ty trong năm qua đã đạt một số kết quả hết sức khả quan như với một lượng VCĐ ít hơn công ty đã đạt được một khối lượng lợi nhuận ròng nhiều hơn năm 2008, có nghĩa công ty đã sử dụng VCĐ có hiệu quả hơn, đạt được điều đó là do trong năm 2009 công ty đã làm tốt một số vấn đề như: tăng cường những biện pháp để quản lý chặt chẽ và sử dụng có hiệu quả TSCĐ (Công ty đã giao TSCĐ cho từng ban, tổ đội và các đơn vị thi công trong đó quy định rõ ràng, cụ thể quyền hạn trách nhiệm của từng bộ phận trong việc quản lý và sử dụng TSCĐ; thường xuyên đánh giá và đánh giá lại TSCĐ); Từng bước đổi mới TSCĐ đặc biệt những TSCĐ là các máy móc thiết bị trực tiếp tham gia và hoạt động SXKD từ đó nâng cao được hiệu quả hoạt động SXKD nói chung và hiệu quả sử dụng vốn nói riêng. Để nâng cao hiệu quả sử dụng VCĐ ở công ty hơn nữa, em xin có một số kiến nghị sau: - Công ty cần đầu tư nghiên cứu nâng cấp, đổi mới TSCĐ, đặc biệt là máy móc, thiết bị. Đồng thời cũng sẽ từng bước xây dựng cho mình một cơ cấu TSCĐ hợp lý hơn, trong đó TSCĐ phục vụ trực tiếp vào hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ ngày càng một có tỷ trọng cao hơn. Đầu tư nâng cấp đổi mới TSCĐ sẽ làm cho tỷ trọng của VCĐ trong tổng số vốn kinh doanh của công ty được nâng lên, khắc phục được một phần tình trạng mất cân đối trong cơ cấu vốn của công ty. Cụ thể công ty nên làm một số công việc sau để nâng cao năng lực công nghệ phục vụ sản suất và khắc phục những điểm yếu: + Với một số máy móc, thiết bị còn có thể cải tiến để nâng cao công nghệ hiện tại (như máy trộn vữa, máy trộn bê tông, máy nén khí, máy ép cọc, máy lu các loại,) thì công ty có thể chỉ cần mua sắm các linh kiện để lắp ráp và thay thế, đồng thời đầu tư chất xám để kéo dài thời gian hoạt động, đa dạng hoá tính năng và nâng cao hiệu suất sử dụng. Phương án đầu tư này không cần phải tập trung quá nhiều vốn, không thay đổi đột ngột công nghệ hiện tại, thích hợp với những giai đoạn ít vốn, trình độ của công nhân còn hạn chế. Kể cả trong những trường hợp có khả năng lớn về tài chính, đây vẫn là phương án đầu tư có hiệu quả vì nó có tác dụng hạn chế bớt chi phí mà vẫn tăng lợi ích thu về. + Lập kế hoạch dài hạn về mua sắm các TSCĐ hiện đại đặc biệt là các máy móc, thiết bị nhằm đáp ứng đòi hỏi cao của thị trường xây lắp, tạo điều kiện rút ngắn thời gian thi công, tiết kiệm chi phí và hạ thấp đơn giá bỏ thầu. Các thiết bị mua sắm, hay đầu tư nâng cấp phải là các thiết bị có tính chất quan trọng, quyết định đến phần lớn giá trị của công trình. Đầu tư vào nâng cấp, mua sắm mới các TSCĐ hiện đại là rất tốn kém do đó cần phải xây dựng một kế hoạch cụ thể để mua sắm từng TSCĐ một cho phù hợp với khả năng tài chính của công ty và sử dụng có hiệu quả nhằm hạn chế tối đa hao mòn vô hình vì trình độ khoa học kỹ thuật ngày nay đang phát triển rất nhanh. Tuy nhiên, việc đầu tư vào nâng cấp, đổi mới TSCĐ hiện đại là rất tốn kém, do đó công ty nên mua sắm từng loại một cho phù hợp với khả năng tài chính của công ty. Nếu công ty chưa đủ điều kiện để mua mới thì nên tìm nguồn thuê hoặc hợp tác kinh doanh với một số công ty khác, những công ty có ưu thế về công nghệ. Tài sản cố định trong công ty được trích khấu hao theo phương pháp khấu hao đường thẳng. Việc công ty sử dụng phương pháp khấu hao này có ưu điểm như dễ tính, đơn giản, mức khấu hao không đổi qua các thời kỳ khác nhau từ đó giá thành sản phẩm ổn định cao qua các thời kỳ, giúp công ty lập các kế hoạch chi phí, doanh thu, lợi nhuận tương đối chính xác. Tuy nhiên phương pháp này cũng có nhược điểm cơ bản là không phản ánh chính xác mức độ hao mòn thực tế của TSCĐ vào giá thành sản phẩm trong các thời kỳ sử dụng khác nhau. Hơn nữa, do tính bình quân nên tốc độ thu hồi vốn chậm, làm TSCĐ của công ty chịu ảnh hưởng bất lợi của hao mòn vô hình. Vì thế, công ty cần linh hoạt trong việc lựa chọn phương pháp khấu hao TSCĐ để tránh những nhược điểm trên, nhưng vẫn giữ được những ưu điểm của nó. Theo em, Công ty có thể áp dụng phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh. Nội dung của phương pháp này là trong những năm đầu sử dụng TSCĐ người ta sử dụng phương pháp khấu hao giảm dần, còn những năm cuối của TSCĐ (Khi mức khấu hao bé hơn mức khấu hao bình quân giữa giá trị còn lại của TSCĐ ở những năm cuối chia cho số năm sử dụng còn lại của TSCĐ) thì sử dụng phương pháp bình quân. Tuy nhiên, mọi sự thay đổi trong việc áp dụng phương pháp khấu hao TSCĐ đều phải được cơ quan có thẩm quyền cấp trên chấp nhận. Bên cạnh đó, Công ty cần tăng cường công tác quản lý sử dụng TSCĐ, nên tiến hành phân loại cũng như phân cấp TSCĐ, đồng thời trích lập các quỹ đầu tư phát triển cũng như chi phí sửa chữa, bảo dưỡng TSCĐ hiện có của công ty. 3.2.3. Một số giải pháp mang tính tổng hợp. Một là: Tổ chức tốt công tác hạch toán kế toán và phân tích tài chính. Đây là một giải pháp quan trọng nhằm tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, kiểm soát đối với hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung, tình hình tài chính nói riêng. Trong những năm qua, công ty đã làm khá tốt công tác hạch toán kế toán, tuy nhiên công tác phân tích tài chính vẫn chưa thực sự được chú trọng, bởi những con số do bộ phận kế toán thu thập, cung cấp chỉ là những con số thống kê nếu như nó không được phân tích, xử lý một cách khoa học, đây có thể nói là một hạn chế của công ty. Theo em, cùng với việc làm tốt công tác hạch toán kế toán, công ty cần chú trọng hơn nữa tới nghiệp vụ phân tích tài chính; Công ty nên áp dụng hình thức kế toán quản trị song song với hình thức kế toán tài chính như hiện nay, điều đó sẽ góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả của công tác hạch toán kế toán và phân tích tài chính doanh nghiệp. Hai là: Công ty cần quan tâm đúng mức tới đời sống cán bộ công nhân viên cả về mặt vật chất lẫn tinh thần. Trong những năm gần đây công tác này đã được công ty chú trọng, song theo em thì cũng chưa được hợp lý lắm. Điều này được thể hiện, theo thông lệ những cán bộ, nhân viên có thành tích, có nhiều cố gắng trong sản xuất kinh doanh, có sáng kiến kỹ thuật, thì Công ty nên có những hình thức khen thưởng động viên kịp thời nhằm khích lệ họ phát huy hơn nữa những thành tích đó. Nhưng ở công ty thì không có hình thức động viên khen thưởng kịp thời mà đợi đến cuối quý, cuối năm hay kết thúc công trình, giai đoạn của hạng mục công trình mới đưa ra các hình thức động viên, khen thưởng, điều đó làm giảm hiệu quả của hình thức này. Khen thưởng kịp thời, động viên giúp đỡ những gia đình khó khăn, tổ chức các hoạt động văn hoá thể thao sẽ tạo ra một không khí thi đua sôi nổi trong toàn bộ công ty, đây chính là sức mạnh nội lực giúp công ty vượt qua những khó khăn và phát triển đi lên. Đồng thời gián tiếp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh nói chung, hiệu quả sử dụng vốn nói riêng. Vì thế, trong thời gian tới công ty cần có sự quan tâm hơn nữa đến công tác này. 3.3. Một số kiến nghị đối với cơ quan quản lý Nhà nước. Công tác quản lý và sử dụng vốn, khả năng khai thác vốn SXKD của công ty có thực sự phát huy được hiệu quả hay không, điều này không chỉ phụ thuộc vào trình độ cán bộ hay tổ chức thực hiện của công ty, mà còn phụ thuộc vào các yếu tố khách quan như chế độ, chính sách, quy chế tài chính, môi trường hoạt động. - Chính phủ và Bộ Tài chính cần có sự ổn định trong việc ban hành các chế độ quản lý tài chính và hạch toán kinh doanh, tránh tình trạng chế độ chính sách thay đổi thường xuyên gây lúng túng cho DN trong quá trình quản lý hoạt động của mình. Mặt khác cần có sự sửa đổi để phù hợp với xu thế phát triển của thị trường, cân nhắc đến các yếu tố cạnh tranh, những tác động của nhân tố bên ngoài như thực trạng kinh tế, sự biến động về cung cầu, giá cả, năng lực hoạt động của DN. - Đẩy mạnh phát triển thị trường vốn, thị trường tài chính, đẩy mạnh hoạt động của thị trường chứng khoán, tạo điều kiện cho DN huy động vốn từ các tổ chức, dân cư, tạo điều kiện cho DN đa dạng hoá hình thức kinh doanh giúp phân tán rủi do và đa dạng hoá nguồn lợi nhuận phù hợp với mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận của doanh nghiệp. - Hoàn thiện hệ thống thông tin kinh tế và dự báo thị trường để DN có những quyết định kịp thời và sáng suốt trong hoạt động SXKD nhằm nâng cao hiệu sử dụng vốn.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docTrang chính.doc
  • docthuy ngoc bai nop32.doc
  • docVKD12.doc
Luận văn liên quan