Chuyên đề Nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn tại chi nhánh ngân hàng ngoại thương Quảng Ninh

Trong bối cảnh kinh tế hiện nay, đứng trước các yêu cầu của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, với phương châm phát huy tối đa nguồn nội lực, tín dụng Ngân hàng trong đó tín dụng ngắn hạn luôn là giải pháp quan trọng về vốn. Để thực hiện ngày một hiệu qủa chức năng vốn có của mình, các Ngân hàng nhận thấy rằng, bên cạnh mở rộng tín dụng nền kinh tế, cần phải cho chất lượng tín dụng là yếu tố quan trọng, thậm trí là yếu tố quan trọng nhất khi thực hiện cho vay. Vì thế nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn luôn là nội dụng quan trọng hàng đầu trong chiến lược phát triển của các Ngân hàng, của chi nhánh Ngân Ngoại thương Quảng Ninh và cũng là định hướng của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam. Để thực hiện được chiến lược này, đòi hỏi phải có sự kết hợp của nhiều điều kiện, từ phía Ngân hàng, khách hàng và môi trường kinh tế. Chuyên đề đã phân tích những vấn đề lý luận cơ bản về tín dụng ngắn hạn và chất lượng tín dụng, phân tích thực trạng hoạt động của Chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Quảng Ninh trong năm qua để từ đó dưới góc độ nhà quản trị Ngân hàng đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng tín dụng của NHTM. Vì điểm nghiên cứu chỉ giới hạn trong một chi nhánh Ngân hàng và với quy mô nghiên cứu của một chuyên đề tốt nghiệp, nên các giải pháp đưa ra mới chỉ mang tính đề xuất.

doc76 trang | Chia sẻ: aquilety | Ngày: 25/09/2015 | Lượt xem: 1469 | Lượt tải: 4download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Chuyên đề Nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn tại chi nhánh ngân hàng ngoại thương Quảng Ninh, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
737 triệu đồng; năm 2010 với tỷ lệ 9% tương ứng với số tiền là 188.868 triệu đồng; năm 2011 với tỷ lệ 10,5% tương ứng với số tiền là 109.547,6triệu đồng. Với khối doanh nghiệp tư nhân ngoài các con số là: năm 2009 với tỷ lệ 6,5% tương ứng với số tiền là 111184 triệu đồng; năm 2010 với tỷ lệ 13,3% tương ứng với số tiền là 279. 105 triệu đồng; năm 2011 với tỷ lệ 15,3% tương ứng với số tiền là 159626,6 triệu đồng.nói chung các thành phần đầu tư nước ngoài và DN tư nhân đều tăng đặc biệt khối tư nhân một phần tư nhân chiếm số lượng lớn và nhà nước đang khuyên khích phát triển . Thành phần đối tượng khác vay( bao gồm hộ gia đình, cá thể .) với tỷ lệ : năm 2009 với tỷ lệ 19,5% tương ứng với số tiền là 218.954,9 triệu đồng; năm 2010 với tỷ lệ 11,9% tương ứng với số tiền là 249.725,7 triệu đồng; năm 2011 với tỷ lệ 10,52% tương ứng với số tiền là 109.756,3triệu đồng. Bảng 2.5: Tín dụng ngắn hạn phân theo thành phần kinh tế: Đơn vị : triệu đồng STT Chỉ tiêu Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011 1 Doanh nghiệp Nhà Nước 687633,8 824723,8 377157 % 40, 2 39,3 36, 15 2 Công ty cổ phần, TNHH 458422,6 556111,5 287223,5 % 26,8 26,5 27,53 3 Đầu tư nước ngoài 119737 188868 109547,6 % 7 9 10,5 4 Doanh nghiệp tư nhân 111184 279105 159626,6 % 6,5 13,3 15,3 5 Các đối tượng khác 218954,9 249725,7 109756,3 % 19,5 11,9 10,52 Tổng 1710532 2098534 1043311 Chỉ tiêu vòng quay vốn cho vay ngắn hạn : Bảng 2.6:Chỉ tiêu vòng vốn cho vay ngắn hạn ĐVT: triệu đồng Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Doanh số thu nợ 4367300,88 3954281, 2 Dư nợ cho vay bình quân 2443169 2414736 Vòng quay vốn tín dụng = doanh số thu nợ / vòng quay vốn bình quân 1,78 1,63 Vòng quay vốn tín dụng cao chứng tỏ chất lượng tín dụng ngắn hạn của NH là tốt song có xu hướng giảm , doanh só thu nợ năm 2011 đã giảm xuống còn 3954281, 2 triệu đồng so với năm 2010 là 4367300,88 triệu đồng Chỉ tiêu về nợ qúa hạn ngắn hạn: Bảng2.7: Chỉ tiêu nợ qúa hạn ngắn hạn ĐVT: triệu đồng Chỉ tiêu Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011 Tổng dư nợ úa hạn ngắn hạn 81577 86215,1 16587,9 Tổng dư nợ ngắn hạn 2602837 3192171,2 1983681 Tỷ lệ nợ qúa hạn(%) = tổng dư nợ úa hạn / trong dư nợ co vay 3, 13 2.7 0,83 Nói về thực trạng rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Ngoại thương QN, ta có thể thấy một nét nổi bật là nợ quá hạn năm 2011 giảm suống một các manh mẽ so với những năm trước : năm2009 nợ quá hạn chiếm 3, 13% tổng dư nợ tương ứng với số tiền là 81.577 triệu đồng, sang năm 2010 tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ có giảm tuy nhiên là không nhiều 2,7%, nhưng tới năm 2011 con số này chỉ còn 0,83%, đây là một điều rất đáng mừng, nó cho thấy các khoản nợ ngắn hạn của ngân hàng Ngoại thương QN rất lành mạnh Phân loại nợ quá hạn theo loại nợ (ngắn hạn và dài hạn) Theo tiêu chí này thì nợ quá hạn các năm theo nợ ngắn hạn và dài hạn tương đối ổn định ; nợ quá hạn theo nợ ngắn hạn : năm 2009 là 81577 triệu đồng tương ứng với 84,5% tổng nợ quá hạn, năm 2010 là 86215,1 triệu đồng tương ứng với 82% tổng nợ quá hạn, năm 2011 là 16587,9 triệu đồng tương ứng với 83,3% tổng nợ quá hạn. Nợ quá hạn theo nợ ngắn hạn qua các năm đều lớn hơn rất nhiều lần so với nợ quá hạn theo nợ nợ dài hạn vì nợ ngắn hạn theo các năm cũng lơn hơn rất nhiều lần so với nợ dài hạn. Bảng 2.8: Phân loại nợ quá hạn theo loại nợ Đơn vị : triệu đồng Chỉ tiêu Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011 Ngắn hạn 81577 86215,1 16587,9 % 84,5 82 83,3 Dài hạn 14933 18925,3 3325,5 % 15,5 18 16,7 Tổng 96510 105140,4 19913,4 Nợ quá hạn phân theo loại tiền Nợ quá hạn theo loại nợ cho vay bằng VND năm nào cũng rất cao và con số tương đối có xu hướng tăng theo các năm : năm 2009 là 85,7% trong tổng nợ quá hạn(tương ứng với số tiền 69.911,5 triệu đồng), năm 2010 là 89,5% trong tổng nợ quá hạn(tăng 3,8% so với năm 2009)(tương ứng với số tiền 77162,5 triệu đồng), năm 2011 là 89,7% trong tổng nợ quá hạn(tăng 0,2% so với năm2010 )(tương ứng với số tiền 14.879,3 triệu đồng). Nợ quá hạn theo nợ cho vay bằng VND luôn cao hơn rất nhiều so với nợ quá hạn theo nợ cho vay bằng ngoại tệ điều này chứng tỏ các khoản nợ cho vay bằng ngoại tệ lành mạnh hơn rất nhiều so với các khoản cho vay bằng VND. Bảng 2.9 : Nợ quá hạn ngắn hạn phân theo loại tiền Đơn vị : triệu đồng Nợ quá hạn Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011 VND 69911,5 77162,5 14.879,3 % 85,7 89,5 89,7 Ngoại tệ quy đổi ra VND 11665,5 9052,6 1708,6 % 14,3 10,5 10,3 Tổng 81577 86215,1 16587,9 Chỉ tiêu nợ khó đòi trong ngắn hạn: Bảng 2.10: Nợ khó đòi trong NH VCB trong 3 năm ĐVT: triệu đồng Chỉ tiêu Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011 Nợ khó đòi 6790 7477 13569 Tổng dư nợ ngắn hạn qúa hạn 81577 86215,1 16587,9 Tỷ lệ nợ khó đòi (%) = nợ khó đòi / tổng dư nợ úa hạn 8,32 8,67 81,8 Nhận xét: chỉ tiêu nợ khó đòi ngắn hạn trong năm 200 9và năm 2010 đều chiếm tỷ trọng nhỏ là 8,32% và 8,67% tuy nhiên năm 2011 thì tỷ lệ nợ khó đòi đã chiếm một tỷ trọng rất lớn là 81,8 % tương ứng với 13569 triệu đồng .Mặc dù dư nợ úa hạn ngắn hạn đã giảm đi nhưng tỷ trọng nợ khó đòi rất cao gây ra tổn thất cho ngân hàng vì vậy cần xem xet kỹ nguyên nhân Nợ khó đòi phân theo thời gian: Bảng 2.11 : Nợ khó đòi tín dụng phân theo thời gian : ĐVT: triệu đồng Chỉ tiêu Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011 Ngắn hạn 6790 7477 13569 % 25,66 30,3 33,53 Trung, dài hạn 19667 17195 26893 % 74,34 69,7 66,47 Tổng 26457 24672 Nhận xét: Tỷ lệ nợ khó đòi trong ngắn hạn đang có xu hướng tăng rõ rệt năm 2011 là 33,53% tăng 3, 23% so với năm 2010và tăng 7,87% so với năm 2009. Mặc dù dư nợ Qúa hạn của NH có xu hướng giảm nhưng tỷ lệ nợ Qúa hạn ở nhóm 4 và năm 5 đã gây nên tình trạng nợ xấu tăng cao .tỷ lệ nợ xấu tăng cao Phân loại nợ khó đòi theo cơ câu ngành kinh tế: Chiếm tỷ trọng lớn trong nợ xấu là ngành sửa chữa và sản xuất đồ dùng gia đình 4 2, 17 % năm 2011 gấp 1,78 lần năm 2010 , nợ xấu trong nghành khai thác mỏ cũng tăng cao năm 2011 là 6.114 triệu đồng tăng 3,48 lần năm 2009 Và gấp 2,37 lần năm 2010, nó cũng chiêm tỷ trọng lớn trong nợ xấu 45,05%. Điều này cho thấy NH cần chú ý đến các ngành này nhiêu hơn khi quyết định cấp tín dụng hay không.Ngoài ra nghành dịch vụ hộ gia đình cũng gây nên tình trạng nợ xấu của NH năm 2011 là 1500 triệu đồng chiếm11,05% Bảng 2.12: Nợ xấu của ngân hàng TMCP VCB trong 3 năm ĐVT : triệu đồng Chỉ tiêu  2009 2010 2011 Công nghiệp khai thác mỏ 1756 2578 6114 Công nghiệp chế biến 500 _ _ Khách san và nhà hàng 850 _ 232 Vận tải kho bãi và thông tin liên lạc _ 321 _ Hoạt động dịch vụ tại hộ gia đình _ 1364 1500 Thương nghiệp sửa chữa xe có động cơ,mô tô ,xe máy,sx đồ dùng cá nhân gia đình 3684 3214 5723 Tổng 6790 7477 13569 Chỉ tiêu mức sinh lời của tín dụng Bảng 2.13: chỉ tiêu mức sinh lời ngắn hạn ĐVT :triệu đồng Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Thu nhâp từ tín dụng 1982367 1654356 Dư nợ cho vay bình quân 2443169 2414736 Chỉ tiêu mức sinh lời (%) 81, 13 68,5 Mức sinh lời của nguồn vốn ngắn hạn cao nhưng có xu hướng giảm điều này có thể giải thích là do doanh số cho vay của NH đã giảm nên doanh số thu nợ cũng sẽ giảm ,mặt khác do tỷ lệ nợ qúa hạn nợ xấu ngày càng tăng nên mức sinh lời sẽ giảm,. Trong bối cảnh nền kinh tế đang khó khăn và chính sách kiềm chế lạm phát đã ảnh hưởng đến chất lượng nền kinh tế rất nhiều,chính phủ đã có những động thái tích cực nhằm làm giảm tỷ lệ nợ xấu và tăng trưởng tín dụng nóng trong NH nguyên nhân gây nên tình trạng tồi tệ chứng khoán và bất động sản. NHNN VN đã đưa mức tăng trưởng tín dụng cho 4 nhóm NH.Chính vì lẽ đó để nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn tại NH VCB cần có những biện pháp nhăm giảm nợ xấu , và sử dụng nguồn vốn có hiệu qủa Trích lập quỹ dự phòng rủi ro tín dụng Bảng 2.14 : Trích lập quỹ dự phòng rủi ro Đơn vị : triệu đồng Năm Tổng phải trích Tổng đã trích Còn thiếu 2009 108689,41 108689,41 0 2010 57719,37 57719,37 0 2011 42772,76 42662 110,76 Dự phòng rủi ro là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra do khách hàng của ngân hàng không thực hiện nghĩa vụ theo cam kết. Dự phòng rủi ro được tính theo dư nợ gốc và hạch toán vào chi phí hoạt động của tổ chức tín dụng. Dự phòng rủi ro tín dụng bao gồm dự phòng cụ thể và dự phòng chung : Dự phòng cụ thể là khoản tiền được trích lập trên cơ sở phân loại cụ thể các khoản nợ theo quy định tại điều 6 và điều 7 Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của thống đốc Ngân hàng Nhà Nước, quy định này để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra. Dự phòng chung là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất chưa xác định được trong quá trình phân loại nợ và trích lập dự phòng cụ thể và trong các trường hợp khó khăn về tài chính của tổ chức tín dụng khi chất lượng các khoản tín dụng suy giảm. Qua bảng trên ta thấy năm 2009 và năm 2010ngân hàng Ngoại thương Quảng Ninh thực hiện đầy đủ về quy định trích lập dự phòng rủi ro. Nhưng năm 2011 việc trích lập quỹ dự phòng rủi ro của Ngân hàng Ngoại thương Quảng Ninh chưa được đầy đủ cụ thể là ngân hàng phải trích lập 22772,76 triệu đồng nhưng hiện tại ngân hàng mới trích lập được 22662 triệu đồng còn thiếu 110,76 triệu đồng. 2.3. Đánh giá chất lượng tín dụng ngắn hạn tại chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Quảng Ninh 2.3.1. Kết quả đạt được Trong năm qua tín dụng ngắn hạn của chi nhánh đã đạt được nhiều kết quả khả quan. Tín dụng ngắn hạn không chỉ tăng trưởng về quy mô mà còn nâng cao dần về chất lượng. Điều này thể hiện rõ rệt qua quy mô dư nợ cho vay ngắn hạn tăng, vòng quay vốn cho vay tăng, tỷ lệ nợ ngắn hạn và tỷ lệ nợ khó đòi giảm nhanh chóng qua các quý. Điều này chứng tỏ rằng vốn vay của Ngân hàng phát huy được tác dụng, doanh nghiệp vay vốn sản xuất kinh doanh có hiệu quả và còn cho thấy hoạt động kinh doanh của Ngân hàng phát triển, đem lại ngày càng nhiều thu nhập. Để đạt được những kết quả trên, chi nhánh đã thực hiện nhiều biện phát, chính sách tích cực, phù hợp với từng thời kỳ phát triển với phương châm “chất lượng, hiệu quả, tăng trưởng bền vững”. Từ những chỉ tiêu trên đây có thể thấy, về cơ bản, hoạt động tín dụng tại phòng tín dụng đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, đa số các chỉ tiêu đều hoàn thành đúng kế hoạch. Cụ thể: Công tác tín dụng của Chi nhánh trong năm 2011 tiếp tục thực hiện với phương châm“ Hiệu quả & an toàn „. Với nỗ lực của các cán bộ Ngân hàng Ngoại thương Quảng Ninh, dư nợ tính đến 31/12/2011 đạt 2.553 tỷ đồng, tăng 6% so với cuối năm 2010 , đạt 88% kế hoạch năm 2011, chiếm 1,49% thị phần trên địa bàn Quảng Ninh. Số lượng khách hàng là các doanh nghiệp có vay vốn tại Chi nhánh hiện là 203 khách hàng. Đến 31/12/2011, dư nợ quá hạn chiếm 0,78% tổng dư nọ. - Cho vay trung dài hạn: chiếm 22,3% tổng dư nợ - Cho vay ngắn hạn: chiếm 77,7% tổng dư nọ Bên cạnh đội ngũ khách hàng truyền thống về xuất nhập khẩu, mở các chương trình hỗ trợ về vốn khách hàng vừa và nhỏ để phát triển kinh doanh, Chi nhánh đang mở rộng thêm loại hình cho vay thể nhân với nhiều hình thức cho vay ưu đãi, hấp dẫn: mua ôtô mới, sửa chữa nhà, phát triển kinh tế tư nhân – gia đình, du học, mua biệt thự tại khu biệt thự, đầu tư xây dựng văn phòng,.... Đến 31/12/2011, dư nợ tại bộ phận tín dụng thể nhân đạt 145 tỷ đồng, chiếm 5,7% tổng dư nợ. Nhìn chung, các khoản vay cá nhân có chất lượng tốt, đảm bảo khả năng trả nợ ngân hàng. 2.3.2 Những hạn chế Mặc dù hoạt động tín dụng ngắn hạn năm qua đạt được kết quả đáng kể nhưng chất lượng ngắn hạn chưa cao. Những hạn chế đó biểu hiện như sau: Về phía Ngân hàng + Việc tuân thủ quy trình nghiệp vụ cho vay có lúc bị bỏ qua, nhất là trong khâu thẩm định tín dụng. Trong tín dụng ngắn hạn, thời gian và thời cơ kinh doanh là một yếu tố quan trọng đối với cả doanh nghiệp và Ngân hàng do vậy cán bộ tín dụng đôi khi bỏ qua một số bước trong phân tích tín dụng, dẫn đến tiềm ẩn các rủi ro cho Ngân hàng. + Vòng quay vốn của Chi nhánh chưa đạt mức chung của toàn hệ thống. Điều này cho thấy chi nhánh còn hạn chế trong khâu tính toán kỳ hạn trả nợ, chưa xác định được tốc độ chu chuyển vốn trong các doanh nghiệp và sự kết hợp về sự kết hợp về tốc độ chu chuyển của từng doanh nghiệp trong hệ thống các doanh nghiệp - khách hàng, để thiết lập vòng quay vốn tối ưu. Vòng quay vốn chưa cao còn cho thấy công tác thu hồi nợ chưa tốt. Vòng quay vốn là một chỉ tiêu quan trong không chỉ đảm bảo cho khả năng thu hồi nợ của Ngân hàng, mà còn đảm bảo một nguồn vốn đầy đủ, sẵn sàng cho việc mở rộng tín dụng. Về phía doanh nghiệp: +Khả năng sử dụng vốn của doanh nghiệp còn hạn chế, doanh nghiệp làm ăn không hiệu quả. Doanh nghiệp vay được vốn mà không sử dụng hiệu quả thì sẽ không có lợi nhuận, không trả được nợ cho Ngân hàng. Có những doanh nghiệp vay vốn để thực hiện những dự án lớn song lại hoàn toàn thất bại, dẫn đến vỡ nợ từ đó không chỉ đặt doanh nghiệp vào trạng thái phá sản mà còn gây thiệt hại cho Chi nhánh Ngân hàng. + Thái độ trả nợ của khách hàng đôi khi là không tích cực. Có nhiều doanh nghiệp vayvốn Ngân hàng song không tích cực trả nợ, có thái độ chần chừ không trung thực trong việc thực hiện nghĩa vụ đối với Ngân hàng gây cản trở và thiệt hại đối với hoạt động của Ngân hàng. Về phía Ngân hàng +Phương thức cho vay ngắn hạn chưa đa dạng hiện nay, chi nhánh chỉ áp dụng nhiều nhất hai phương thức cho vay ngắn hạn là cho vay từng lần và cho vay theo hạn mức. Hai phương thức này hoặc mang tính thụ động, chờ khách hàng yêu cầu về vốn vay thì đáp ứng, hoặc không có sự đảm bảo nào cho việc thu hồi nợ ngoài sự đảm bảo từ phía khách hàng vay vốn. +Quy trình thẩm định còn một số bất cập. Mặc dù đã có sổ tay tín dụng được áp dụng chung trong toàn hệ thống Ngân hàng Đầu tư và Phát triển nhưng việc áp dụng các chi tiết của quy trình cho vay nhiều khi mới chỉ dừng lại ở lý thuyết. Một số cán bộ tín dụng vẫn chưa tuân thủ hoàn toàn chặt chẽ, hoặc không có điều kiện thực hiện theo các quy định của sổ tay, mà một phần lớn là dựa trên kinh nghiệm. Do vậy, đôi khi các bước thẩm định bị coi nhẹ hay thậm chí bỏ qua làm ảnh hưởng tới chất lượng thẩm định, từ đó làm ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng. + Mặc dù thông tin vừa thiếu vừa không chính xác vừa không cập nhật. Ngân hàng có nhiều nguồn thông tin để thẩm định một khách hàng, tuy nhiên hiện nay nguồn thông tin chủ yếu nhất vẫn là các tài liệu do khách hàng lập. Điều này không đảm bảo được tính khách quan chính xác của số liệu. Thậm chí, Ngân hàng cũng khó phát hiện được các sai sót trong các báo cáo. hiện nay, Ngân hàng nhà nước đã thành lập trung tâm thông tin tín dụng để cung cấp hồ sơ khách hàng. Song những hồ sơ này không thể cung cấp đầy đủ thông tin về khách hàng vì đó chỉ là thông tin trong quá khứ, thông tin ở trạng thái tĩnh. Việc thiếu thông tin, không nắm rõ tình hình khách hàng như vậy sẽ có thể dẫn Ngân hàng đến các rủi ro tín dụng. + Chiến lược hỗ trợ khách hàng vay vốn còn hạn chế. Các cán bộ tín dụng còn thể hiện sự thụ động trong việc cùng khách hàng tìm kiếm, phát triển phương án kinh doanh. Cán bộ tín dụng hầu như mới chỉ dừng lại ở tư vấn cho khách hàng về các điều kiện thủ tục vay vốn mà chưa cùng họ tìm ra cách thức tháo gỡ khó khăn, tìm ra cách thức đáp ứng vốn tốt nhất cho họ cùng họ thực hiện một phần hoặc tham gia tư vấn chuyên môn cho dự án xin vay. + Công tác kiểm tra kiểm soát còn chưa tốt. Cho vay là một hoạt động có nhiều rủi ro. Công tác kiểm tra, kiểm soát là rất quan trọng đối với hoạt động này. Thực hiện tốt công tác này không chỉ giúp sớm nhận ra các sai sót và xử lý kịp thời, hạn chế bớt tổn thất cho cả Ngân hàng và khách hàng mà còn có ý nghĩa dự báo, ngăn ngừa tổn thất nâng cao chất lượng tín dụng. Thời gian qua, công tác kiểm tra, kiểm soát còn chưa tốt, còn có những khoản vay xấu mà không được phát hiện kịp thời, để rơi vào tình trạng nợ quá hạn nợ khó đòi. CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG NGẮN HẠN TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG QUẢNG NINH 3.1 Định hướng hoạt động kinh doanh của Chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Quảng Ninh trong năm 2012 “An toàn , chất lượng , hiệu quả tăng trưởng bền vững” _ An toàn : tiếp tục nâng cao năng lực tài chí Chất lượng thực hiện phân loại nợ xấu, phấn đấu trích đủ DPRR đối với dư nợ TDTM , tăng cường kiểm soát và xử lý nợ xấu phát sinh, xử lý nợ xấu và nợ tồn đọng . Nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ cung ứng cho khách hàng đáp úng nhu cầu ngày càng tăng của khách hàng- Hiệu quả : Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động thông qua việc điều chỉnh cơ cấu tài sản nợ, tài sản có theo hướng: Từng bứơc đẩy mạnh sang hoạt động dịch vụ, hoạt động đầu tư vốn, giảm dần tín dụng xây lắp, tăng tín dụng ngắn hạn trong đó tập trung vào tín dụng thưong mại xuất nhập khẩu, tín dụng ngoài quốc doanh, tư nhân cá thể đẩy mạnh tín dụng cá nhân tín dụng tiêu dùng..... Tập trung cho những lĩnh vực khu vực ngành nghề, địa bàn có khả năng sinh lời và nguồn thu tín dụng lớn đảm bảo tăng trưởng nhưng an toàn rủi ro thấp sinh lời và thu nhập nhiều hiệu quả cao- Tăng trưởng bền vững: Mở rộng và tăng thị phần hoạt động dịch vụ và huy động vốn, đảm bảo tăng trưởng quy mô phù hợp với năng lực tài chính và khả năng kiểm soát rủi ro. Đẩy mạnh dịch vụ theo hướng đột phá tập trung vào các dịch vụ phí tín dụng , dịch vụ tài chính, đưa vào khai thác các sản phẩm dịch vụ mới, gắn liền tăng trưởng hoạt động dịch vụ ứng dụng công nghệ hiện đại. Tiếp tục mở rộng và phát triển mạng lưới và các kênh phân phố 3.2 Định hướng hoạt động tín dụng ngắn hạn của Chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Quảng Ninh đến năm 2012 Chi nhánh tiếp tục phát huy các thể mạnh về công nghệ và uy tín thương hiệu của một ngân hàng đối ngoại trên địa bàn, đồng thời kết hợp với đa dạng hóa các hình thức, các công cụ huy động vốn như: kỳ phiếu, trái phiếu, phát triển các sản phẩm ngân hàng hiện đại, tích hợp nhiều tiện ích, mở rộng màng lưới giao dịch, áp dụng chính sách lãi suất linh hoạt hấp dẫn, các nghiệp vụ hoán đổi lãi suất, quyền chọn,... để cung cấp các sản phẩm huy động vốn ngày càng đa dạng và hiện đại hơn đến khách hàng, nâng cao tỷ trọng tiền gửi doanh nghiệp trên tổng huy động vốn từ khách hàng từ 26% năm 2011, 36% năm 2011 lên 40% năm 2012. dự kiến cuối năm2012 tổng nguồn vốn của Chi nhánh tăng 15% so với năm 2011, trong đó nguồn vốn huy động từ dân cư và các tổ chức kinh tế đạt 7.500 tỷ đồng, tăng 19% so với năm2011 . Tính trung bình trong giai đoạn 2010-2015 tốc độ tăng trưởng huy động vốn của Chi nhánh dự kiến khoảng 16,4% do sự phát triển không ngừng của các tổ chức tài chính, tín dụng và các tổ chức kinh tế trên địa bàn như hiện nay làm gia tăng các loại hình đầu tư cạnh tranh với hoạt động gửi tiền của ngân hàng. Vì vậy, bên cạnh các giải pháp về nghiệp vụ, Chi nhánh đã và sẽ tiếp tục nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng, nâng cao chất lượng dịch vụ và văn minh trong giao tiếp, từng bước áp dụng mô hình quản lý và tổ chức giao dịch trong khối ngân hàng bán lẻ theo chuẩn mực của một ngân hàng thương mại điện tử. * Cho vay: Kế hoạch đến cuối năm2012, Chi nhánh sẽ đạt dư nợ tín dụng tăng 20% so với năm 2011. Khống chế tỷ lệ nợ quá hạn dưới mức 2% giảm dần tỷ lệ nợ xấu, nợ khó đòi. Tăng dần tỷ trọng cho vay trung, dài hạn đầu tư tài sản cố định trong cơ cấu tín dụng của Chi nhánh, kế hoạch 2012 đạt 28% tổng dư nợ. 3.3. Một số giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Quảng Ninh 3.3.1. Nâng cao trình độ nghiệp vụ của cán bộ tín dụng: Nhân tố con người luôn giữ vị trí trung tâm, chi phối và có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả của công việc. Đối với hoạt động tín dụng mà cụ thể là tín dụng ngắn hạn, con người có vai trò hết sức quan trọng, do vậy để nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn không thể không quan tâm tới nhân tố con người mà cụ thể ở đây chính là cán bộ tín dụng. Cụ thể Ngân hàng Ngoại thương Quảng Ninh cần xây dựng một đội ngũ cán bộ tín dụng đảm bảo cả về chất lượng và số lượng, đáp ứng tốt yêu cầu của công việc. Chất lượng của đội ngũ cán bộ tín dụng cần đáp ứng ở các phương diện gồm trình độ chuyên môn kinh nghiêm công tác và tư cách đạo đức. Về trình độ chuyên môn, cán bộ tín dụng cần được đào tạo chính quy, có kiến thức cơ bản về kinh tế thị trường và hệ thống Ngân hàng - Tài chính, trong đó cần nắm vững về tài chính doanh nghiệp, thẩm định dự án đầu tư, bên cạnh đó đội ngũ này cần có khả năng phân tích và tổng hợp nhạy bén. Phạm vi cho vay của Ngân hàng Ngoại thương Quảng Ninh rất đông, đặc biệt là hoạt động tín dụng ngắn hạn nền đội ngũ cán bộ tín dụng ngoài kiến thức chuyên ngành cần có thểm kiến thức khác nhau về xã hội, văn hoá, chính trị, kỹ thuật và các khả năng về ngoại ngữ, vi tính...... Trước hết để có thể nâng cao chất lượng tín dụng, Ngân hàng Ngoại Thương Quảng Ninh cần coi trọng hơn nữa công tác tuyển dụng, nâng cao chất lượng đầu vào, áp dụng chính sách tuyển dụng công khai tuyển dụng từ trong các trường học để chọn đựoc cán bộ tín dụng có phẩm chất đạo đức tốt có trình độ chuyên môn cao, sức khoẻ và nhiệt tình làm việc. Trong nền kinh tế thị trường luôn biến động, hàng ngày có một lượng lớn thông tin mà cán bộ tín dụng phải xử lý trên tất cả các lĩnh vực khác nhau, bên cạnh đó trong quá trình công tác nhiều kiến thức bị mai một. Nếu cán bộ tín dụng không được trang bị và bổ sung thêm kiến thức thì sẽ không thể đáp ứng nổi công việc bởi vậy cần phải thường xuyên thực hiện việc đào tạo cán bộ tín dụng . Việc đào tạo cán bộ cần có một chương trình và kế hoạch chi tiết đối với từng nhân viên nhằm đảm bảo phát huy tối đa khả năng đóng góp của cán bộ tín dụng , ngoài ra phải có sự phối hợp chạt chẽ và chia sẻ trách nhiệm giữa các tổ chức, các cấp lãnh đạo, các đơn vị thành viên. Hoạt động đào tạo được thể hiện trong nước thông qua vịêc đề cử cán bộ tham gia các lớp ngắn hạn, Ngân hàng Ngoại Thương cần khuyến khích các cán bộ tiếp tục học cao học, thạc sĩ và tiến sĩ. Ngày nay xu hướng hội nhập đòi hỏi các cán bộ tín dụng cần có những kiến thức sâu rộng, hiểu biết về kinh tế thế giới, bởi vậy việc đào tạo không chỉ thực hiện trong nước mà cần có sự giao lưu, hợp tác với các tổ chức nước ngòai đưa cán bộ chủ chốt ra nước ngoài nhằm học tập những kiến thức mới, đóng góp có hiệu qủa đối với hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Về tư cách đạo đức, việc thẩm định dự án và ra quyết định cho vay đều chứa đựng những nhận định mang tính chủ quan của cán bộ tín dụng , nếu cán bộ tín dụng có trình độ và kinh nghiệm những lại thiếu đi tư cách đạo đức thì kết quả sẽ bị bóp méo sai lệch và chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng . Bởi vậy Ngân hàng cần có chính sách lương bổng, thưởng phạt hợp lý, thoả mãn nhu cầu vật chất chính đáng của nhân viên, chú trọng nhân tài đãi ngộ chất xám để khuyến khích những nhân viên có năng lực tâm huyết với Ngân hàng. 3.3.2. Đa dạng hoá các hình thức thu hút vốn ngắn hạn Đa dạng hoá hình thức thu hút vốn là một trong các hoạt động có ý nghĩa đầu tiên và quan trọng đối với sự hình thành, phát triển của một Ngân hàng. Có thu hút được vốn thì Ngân hàng mới có thể cho vay và thực hiện các hoạt động khác. Nguồn vốn không chỉ có ý nghĩa trong việc đảm bảo khả năng cho vay của Ngân hàng về quy mô mà còn cho phép có được cơ cấu cho vay hợp lý, nhất là về thời hạn. Do vậy trong thời gian tới công tác nguồn vốn phải được đẩy mạnh với một số giải pháp sau: _ Đa dạng hóa các hình thức huy động vốn. Ngoài các hình thức huy động truyền thống Ngân hàng cần đưa ra các hình thức mới,thu hút và đa dạng hoá như các hình thức tiết kiệm trả góp, tiết kiệm có thưởng, đẩy mạnh phát hành trái phiếu, kỳ phiếu với nhiều thời hạn và lãi suất linh hoạt, lãi suất bậc thang....Nhất là hiện nay, các Ngân hàng đang cạnh tranh rất gay gắt, cho nên Ngân hàng phải chuyên biệt hoá sản phẩm của mình, làm nổi bật sản phẩm vởi những đặc tính riêng và các dịch vụ hoàn hảo hơn( thủ tục nhanh chóng, thuận tiện, giảm bớt thời gian và chi phí cho cả Ngân hàng và khách hàng... ) _ Mở rộng mạng lưới huy động vốn trên các địa bàn trong cả nước, không chỉ mở mới thêm mà còn phải tăng quy mô của mỗi kỳ tiết kiệm trên địa bàn. Bằng các biện pháp như quảng cáo kết hợp với phong cách phục vụ chu đáo, tuyên truyền,.... cần tạo nên hình ảnh riêng của Chi nhánh cũng như của một hệ thống NHTM Việt Nam. _ Duy trì và phát triển thêm nhiều mối quan hệ tín dụng với các doanh nghiệp lớn. Đây là những đối tác quan trọng của Ngân hàng, vừa tiến hành vay vừa cung cấp nguồn vốn cho Ngân hàng. Lợi thế của nguồn vốn này là chi phí thấp tương đối do chủ yếu là tiền gửi không kỳ hạn. Củng cố quan hệ tín dụng với họ sẽ giúp Ngân hàng có một nguồn vốn, ổn định lâu dài. _ Đối với một Ngân hàng lãi suất luôn là yếu tố quan trọng quyết định việc mở rộng hay thu hẹp việc huy động vốn, có chiếm lĩnh đựơc thị trường hay không, cần phải xây dựng chính sách mềm dẻo, linh hoạt. Chính sách lãi suất huy động luôn phải được xây dựng trên cơ sở đảm bảo được lợi ích cho người gửi tiền và lợi ích của Ngân hàng, taọ thế cạnh tranh thuận lợi cho Ngân hàng. Lãi suất cần phải cụ thể, chi tiết cho từng đối tượng vốn. Đây là vấn đề mà thời gian qua Chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội đã thực hiện tương đối tốt. Tuy nhiên, vẫn cần phải tiếp tục thực hiện tốt hơn, chi tiết, đa dạng nhiều mức lãi suất ứng với từng nguồn vốn đồng thời phải luôn cân đối hợp lý trong tổng nguồn vốn. _ Chính sách chăm sóc khách hàng phải được nâng lên, đa dạng hoá hình thức thanh toán, nhanh chóng phát triển hình thức thanh toán thẻ để tạo sự tiện lợi cho khách hàng đồng thời là nguồn huy động khả thi của Ngân hàng 3.3.3. Nâng cao chất lượng công tác thẩm định dự án Một trong những nguyên nhân lớn nhất làm hạn chế chất lượng tín dụng cụ thể là tín dụng ngắn hạn, là chất lượng thẩm định. Thẩm định tín dụng là khâu thẩm tra,kiểm tra khách hàng và thẩm tra các dự án xin vay trên nhiều tiêu chí, từ đó mới là cơ sở đưa ra quyết định cho vay hay không cho vay, cho vay như thế nào. Do vậy chất lượng tín dụng phụ thuộc rất lớn đến chất lượng thẩmđịnh. Một số giải pháp nâng cao chât lượng thẩm định là: Một là : Nâng cao chất lượng thu thập thông tin. Thông tin là đầu vào của việc thẩm định . Thông tin không chính xác , không đày đủ thì thẩm định sẽ không đúng, Ngân hàng không thực sự hiểu biết khách hàng thì dẫn đến việc cho vay không hiệu quả. Để nâng cao chất lượng thông tin, cần có nhiều giải pháp, có thể kể đến là: Thu thập thông tin từ bên trong doanh nghiệp thông qua các hình thức phỏng vấn trực tiếp người vay và gặp gỡ tại cơ sở để tìm hiểu chặt chẽ về ngành nghề sản xuất kinh doanh , tiềm năng của sản phẩm khách hàng sản xuất trên thị trường, mục đích vay vốn, tình hình tài chính của người vay. Một số thông tin khác liên quan đến doanh nghiệp như lịch sử và xu hướng phát triển, đội ngũ cán bộ, trình độ quản lý, quan hệ đối tác đều tiết lộ khả năng , triển vọng của doanh nghiệp . một yêu cầu quan trọng khác trong việc thu thập thông tin là phải phân biệt được các thong tin trọng yếu và không trọng yếu, đánh giá được mức độ tin cậy của thông tin từ đó mới có hướng thu thập những thông tin thực sự cần thiết Thu thập thông tin từ bên ngoài qua nhiều nguồn chính thức hoặc không chính thức. Nguồn thông tin chính thức là thông tin của các cơ quan chức năng như kiểm toán độc lập, trung tâm thông tin tín dụng, các cơ quan hữu quan như cơ quan thuế, hải quan, công an, toà án... Nguồn thông tin cũng có thể là không chính thức đã cơ quan hệ tín dụng từ mối quan hệ khác, từ dư luận xã hội, phương tiện thông tin đại chúng. Thu thập thông tin của Ngân hàng còn phải hướng tới xây dựng một hệ thống thông tin đầy đủ về thị trường, giá cả, các dự báo, xây dựng các tiêu quan trọng từng và trong toàn ngành và trong toàn nền kinh tế để làm căn cứ so sánh, đánh giá khi phân tích, chấm điểm tín dụng . Trong việc thu thập thông tin phải tính đến không chỉ yếu tố chính xác tin cậy, mà còn phải tính đến chi phí để có các thông tin đó. Có như vây, hoạt động tín dụng mới mang lại được thu nhập cho Ngân hàng. Hai là, nâng cao chất lượng xử lý thông tin. Từ những thông tin thu thập được, cần phải xử lý theo nhiều cách thức để đưa ra kết luận hợp lý, đúng đắn. Thông tin thu thập được có rất nhiều, song cần phải sàng lọc được những thông tin quan trong và tin cậy. Các thông tin thu thập được đều là số liệu trong quá khứ và mang tính thời điểm. Nhưng Ngân hàng không chỉ cần quan tâm đến kết quả hoạt động của khách hàng trong trạng thái tĩnh ở một thời điểm nào, mà cần phân tích khách hàng trong trạng thái động. Do đó, khi xử lý thông tin, không chỉ phân tích đơn thuần các chỉ tiêu thời điểm, còn cần phải phân tích tỷ lệ giữa các năm, giữa các doanh nghiệp trong cùng ngành, tìm hiểu được xu hướng phát triển của doanh nghiệp. Qua đó, Ngân hàng cũng đánh giá được rủi ro của doanh nghiệp xem xét tính khả thi của dự án xin vay. Khi thẩm đinh, Ngân hàng tập trung vào phân tích tài chính khách hàng và tài chính dự án xin vay. Ngân hàng cần đưa ra hệ thống tiêu chuẩn để thẩm định, như tiêu chuẩn 5C (Capability – năng lực hoạt động, Capital – vốn. Character – uy tín. Condition - điều kiện và Collateral- thế chấp), hoặc tiêu chuẩn 5P( Purpose- mục đích, Payment – trả nợ, Protection – bảo vệ, Policy – chính sách và Pricing - định giá). Việc chấm điểm tín dụng là một cách xử lý thông tin hiệu quả. Tuy nhiên, với các thang điểm rời rạc như hiện nay, còn nhiều chỉ tiêu chung chung cho mọi doanh nghiệp thì việc phân tích định lượng chưa mang lại hiệu quả cao. Nếu chỉ lấy đó làm căn cứ chính để xem xét cấp tín dụng thì rõ ràng, Ngân hàng chịu rủi ro rất lớn. Do vậy, khi phân tích tín dụng không nên phân tích mọi chỉ tiêu vừa không cần thiết vừa có thể không mang lại hiệu quả hay thậm chí các con số tính toán được lại phản ánh sai lệch. Việc phân tích định tính là rất quan trọng 3.3.4 Đảm bảo thực hiện tốt quy trình cho vay Tuy nhiên, các cán bộ tín dụng cũng phải rất linh hoạt trong việc áp dụng quy trình này vào từng trường hợp cụ thể. Đối với khách hàng đã có quan hệ tín dụng lâu dài với Ngân hàng, thì các bước dẫn hồ sơ, thủ tục là không cần thiết, bước thu thập, điều tra thông tin có thể giảm nhẹ do kế thừa thông tin có sẵn, cán bộ tín dụng cần thiết phải thực hiện đầy đủ, kỹ lưỡng các bước trong quy trình, để đảm bảo rằng khách hàng hiểu rõ và thực hiện được các yêu cầu của Ngân hàng. Trong cho vay ngắn hạn, thời gian và thời cơ là yếu tố quan trọng không chỉ đối với doanh nghiệp xin vay mà còn đối với Ngân hàng cho vay. Do đó, áp dụng một quy trình linh hoạt, vừa đảm bảo các quy định, vừa giảm nhẹ các thủ tục, giảm bớt thời gian cần thiết. Thực hiện tốt quy trình cho vay đòi hỏi cán bộ Ngân hàng phải thực hiện tốt ngay ở từng bước của quy trình, vì bước sau có tính kế tiếp bước trước. Do đó, tuân thủ quy trình chặt chẽ mà lại rất linh hoạt là điều kiện quan trọng để có được quyết định cho vay đúng đắn, tạo điều kiện hết sức cho khách hàng, đồng thời đảm bảo an toàn, sinh lợi cho Ngân hàng. Chất lượng tín dụng nhờ đó được nâng cao. 3.3.5.Đa dạng hoá các hoạt động cho vay và dịch vụ hỗ trợ cho vay Theo sự phát triển của nền kinh tế, nhu cầu về vốn ngày càng phức tạp và đa dạng. Để hoạt động tín dụng có hiệu quả, thì cần thiết phải đáp ứng được trước hết là nhu cầu đó. để nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn, trước hết phải đáp ứng được các nhu cầu đa dạng của tín dụng ngắn hạn. Do đó, đa dạng hoá phương thức cho vay là điều kiện cần đạt được chất lượng cho vay. Bên cạnh hai phương thức cho vay ngắn hạn chủ yếu tại Chi nhánh, cần phát triển thêm các phương thức khác. Một trong những phương thức Chi nhánh có thể áp dụng là cho vay luân chuyển. Tại chi nhánh, một bộ phận lớn khách hàng kinh doanh trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ, công nghiệp chế biến. Đối với những khách hàng này. Chi nhánh hiện vẫn đang phát triển 2 phương thức cho vay từng lần và cho vay theo hạn mức. Tuy nhiên, đối với khách hàng có quan hệ tín dụng thường xuyên với Chi nhánh thì phương thức cho vay từng lần tỏ ra tốn kém về thời gian và chi phí cho khách hàng, không nên áp dụng. Phương thức cho vay theo hạn mức hịên đang được áp dụng tỏ ra phù hợp hơn. Nhưng việc kiểm soát khoản vay trong trường hợp này là khó khăn đối với Ngân hàng. Các khoản vay theo hạn mức tín dụng không tách biệt, Ngân hàng khó kiểm soát chi tiết từng khoản vay, cho nên dẫn đến rủi ro tín dụng. Trong khi đó, cho vay theo phương thức luân chuyển đòi hỏi người vay phải xuất trình các chứng từ hợp pháp, hợp lệ về hàng hóa đã nhập thì mới xuất khoản vay. Việc cho vay căn cứ vào số lượng giá trị hàng hoá thực nhập như vậy không chỉ hỗ trợ vốn kịp thời cho khách hàng, không tốn kém nhiều thời gian và chi phí ( cùng có những ưu điểm của cho vay theo hạn mức) mà còn định hướng cho số tiền vay của Ngân hàng được sử dụng đúng mục đích Một phương thức cho vay có hiệu quả khác là cho vay ứng trước căn cứ vào giá trị của giấy tờ có giá. đây thực chất là chiết khấu chứng từ có giá( chủ yếu là thương phiếu). Đối với Ngân hàng, đây là hình thức cấp tín dụng ngắn hạn ít rủi ro, vì Ngân hàng luôn nắm trái quền đòi nợ chính ở các giấy tờ có giá. Nếu trường hợp Ngân hàng không thu hồi được nợ của người phát hành, thì có thể truy đòi ở những người liên đới hoặc có thể đem tái chiết khấu tại NHNN khi chứng từ đến hạn thanh toán. Một ưu điểm nữa của phương thức chiết khấu là chứng từ được chiết khấu thường có tính thanh khoản cao, thậm chí gần như tiền mặt. Với thời hạn ngắn, an toàn cao, đây là một phương thức cho vay ngắn hạn tốt Ngoài ra, khi chiết khấu chứng từ có giá, các doanh nghiệp thường ghi tăng tài khoản tiền gửi của mình tại Ngân hàng để thực hiện thanh toán. Số tiền này có thể chưa được sử dụng toàn bô, và như vậy nguồn vốn của Ngân hàng lại tăng lên. Ngân hàng được hưởng toàn bộ số lãi trên số tiền đó. Hiện nay, Chi nhánh đã có thực hiện chiết khấu giấy tờ có giá, song còn rất hạn chế. Với những ưu điểm trên, cho vay luân chuyển và cho vay ứng trước là phương thức cho vay ngắn hạn hiệu quả. Phát triển các phương thức này sẽ giúp nâng cao chất lượng cho vay ngắn hạn ở Chi nhánh. 3.3.6. Tăng cường công tác kiểm tra kiểm soát và quản lý các khoản cho vay Quản lý tín dụng là công tác quan trọng trong quy trình cho vay. Quản lý tín dụng tốt là điều kiện đủ để có các khoản tín dụng tốt an toàn. Đây là điều kiện cần thiết để đảm bảo chất lượng tín dụng. Công tác này gồm quản lý, kiểm soát khoản vay; xử lý những phát sinh và thu hồi nợ. Sau khi giải ngân, cán bộ tín dụng phải thường xuyên theo dõi việc sử dụng vốn của đơn vị. Cán bộ tín dụng cần phải theo dõi tiến độ thực hiện của phương án vay vốn. Ơ nước ta hiện nay, việc cung cấp các thông tin về kế toán tài chính từ phía khác hàng còn rất hạn chế, không đầy đủ, cập nhật,và thậm chí không hoàn toàn tin tưởng thì việc theo dõi kiểm soát khách hàng không chỉ thực hiện qua việc xem xét các báo cáo tài chính là đủ mà phải trực tiếp nhanh nhạy bám sát hoạt động sản xuất kinh doanh của họ. Cán bộ tín dụng cần có những đợt kiểm tra định kỳ đến cơ sở và cả những đợt kiểm tra bất kỳ. Trong mỗi đợt kiểm tra cán bộ cần tận dụng triệt để thời gian tiếp xúc ở đơn vị đảm bảo xem xét tất cả các yếu tố liên quan đến đặc tính của khoản cho vay . Cán bộ tín dụng cần : - Đánh giá tinh thần trách nhiệm của chủ doanh nghiệp đối với vốn vay Ngân hàng thông qua trách nhiệm gặp gỡ trao đổi với cán bộ tín dụng về những vấn đề liên quan đến khoản vay và khả năng nghĩa vụ hoàn trả nợ. - đánh giá khả năng thanh toán của khách hàng qua các chỉ tiêu về khả năng thanh toán (khả năng thanh toán nhanh, khả năng thanh toán hiện hành) để đảm bảo khách hàng có thể thực hiện được lịch trả nợ. - Đánh giá lại dự án vay vốn trong thực tế, so sánh, xem xét sự khác biệt giữa dự án và thực tế ở các chỉ tiêu như quy mô, doanh thu, lợi nhuận, hiệu suất sử dụng tài sản , sức cạnh tranh của sản phẩm. Qua đó tìm hiểu xu hướng phát triển để có những nhận định đúng về dự án về khoản vay về những rủi ro tiềm ẩn, đặt cơ sở để xử lý các phát sinh nếu có sau này. - Đánh giá lại tài sản đảm bảo về giá trị và tình trạng, xem xét giá trị đó có còn đáp ứng được các tỷ lệ yêu cầu so với giá trị khoản vay hay không. Ngân hàng luôn cần có sự diều chỉnh kịp thời trong việc cung ứng vốn vay cho tương ứng với tài sản đảm bảo, hoặc yêu cầu doanh nghiệp phải bổ xung tài sản đảm bảo. - Ngân hàng cũng cần theo dõi quyền lợi hợp pháp của mình đối với tài sản đảm bảo để chắc chắn về một nguồn thu hồi nợ khi khách hàng không trả hoặc không trả được nợ. - Đánh giá sự thay đổi trong tình hình tài chính cùa doanh nghiệp , cơ cấu vốn, tình hình phân chia lợi nhuận trong doanh nghiệp. Nếu có sự thay đổi bất thường về cơ cấu vốn tăng nợ bất thường...... thì đó là dấu hiệu cho thấy doanh nghiệp đang hoạt động không tốt. - Đặc biệt đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ ngoài quốc doanh, chủ doanh nghiệp thường không tách bạch tiền cho hoạt động sản xuất kinh doanh và tiền để chi tiêu gia đình. Do đó cán bộ tín dụng cần phải khéo léo tìm hiểu việc sử dụng vốn vay của khách hàng , việc quản lý tài chính của bản thân người vay, từ đó đánh gía được khả năng sử dụng vốn có hiệu quả hay không của họ. 3.3.7.Giải pháp đẩy mạnh hoạt động maketing Ngân hàng Trong bối cảnh nền kinh tế cạnh tranh gay gắt hiện nay, trong lĩnh vực Ngân hàng việc tìm đựoc thế mạnh riêng bằng chất lượng hoạt động là vấn đề quan tâm của mọi Ngân hàng . Xây dựng được một chính sách maketing hiệu quả từ đó nâng cao chất lượng tín dụng là càn thiết để tăng năng lực cạnh tranh cho Ngân hàng. - Thành lập bộ phận nghiên cứu thị trường. Là một doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, một mục tiêu quan trọng của Ngân hàng là mở rộng thị phần, tăng thu nhập. Để thực hiện điều này chất lượng hoạt động tín dụng phải tiếp tục được nâng cao. Ngược lại công tác nghiên cứu thị trường nhất là trong sự cạnh tranh gia tăng, càng tỏ ra là một nhân tố thúc đẩy hoạt động cho vay cả về quy mô và chất lượng. Trong xu hướng ngày nay thành lập một bộ phận nghiên cứu thị trường là cần thiết để tiếp cận tốt hơn nhu cầu của khách hàng. Nghiên cứu thị trường ở đây không chỉ là nghiên cứu thị trường Ngân hàng mà là nghiên cứu thị trường của khách hàng. + nghiên cứu thị trường của Ngân hàng: bộ phận nghiên cứu thị trường sẽ nghiên cứu các nhu càu vay vốn trên thị trường, khả năng cung cấp vốn vayvà thị phần hiện có về các sản phẩm cùng loại của các Ngân hàng cạnh tranh, tìm hiểu hình thức cho vay ngắn hạn nào là hiệu quả, chất lượng tín dụng ngắn hạn tại Ngân hàng đói thủ ra sao. Từ đó Ngân hàng có thể đưa ra những giải pháp để hoàn thiện sản phẩm cho vay ngăn hạn của mình, vừa căn cứ trên nhu cầu thị trường vừa căn cứ trênmức độ cạnh tranh. Ngân hàng cũng có thể kịp thời loại bỏ những món vay nhiểu rủi ro không hiệu qủa tất cả là nhằm đưa ra các khoản vay chất lượng cao. Hiện nay, phần lớn khách hàng của chi nhánh đều tự chủ về tài chính song việc cung cấp các thông tin tài chính của khách hàng còn chửa đẩy đủ chưa đủ đột tin cậy. Việc dự đoán triển vọng của doanh nghiệp không thể chỉ dựa trên các báo cáo tài chính mà còn phải dựa trên các thông tin về thị trường sản phẩm. Bộ phận nghiên cứu thị trưòng của khách hàng cần phải tìm hiểu rõ các thông tin về thị trường loại sản phẩm mà khách hàng sản xuất. Số lượng các doanh nghiệp cung ứng sản phẩm, nhu cầu của thị trưòng về sản phẩm, phân đoạn thị trường của sản phẩm , vị trí cạnh tranh của khách hàng về giá cả, chất lượng , thị phần...... từ đó có thể đưa ra các dự đóan khả năng thành công của khách hàng mức độ rủi ro dự án của khách hàng . Nghiên cứu thông tin thị trường khách hàng còn là biện pháp kiểm tra đối chiếu thông tin khách hàng cung cấp cho Ngân hàng, từ đó hiểu biết sâu sắc hơn về khách hàng. Có như vậy mới có thể thực hiện tín dụng có chất lượng. - Xây dựng chính sách khách hàng hợp lý: Tuy đã triển khai một chính sách khách hàng hợp lý song trong thời gian tới chi nhánh cần củng cố hơn nữa công tác này nhằm thu hút đông đảo khách hàng sử dụng dịch vụ cũng như gửi tiền và vay tiền của Ngân hàng. Trong cơ cấu khách hàng phần lớn khách hàng hiện tại của chi nhánh là các doanh nghiệp nhà nước. Việc cơ cấu lại khách hàng theo hướng mở rộng hơn đói với các doanh nghiệp ngoài quóc doanh là hướng đi đúng đắn mà chi nhánh cần tiếp tục thực hiện. Đồng thời cho vay nhất là cho vay ngắn hạn của Ngân hàng mới chỉ giành phần lớn là cho vay kinh doanh cho vay tiêu dùng chưa được chú trọng đúng mức. Nằm trong địa bàn dân cư , đối với chi nhánh cho vay tiêu dùng là một thị trường còn nhiều tiềm năng cần khai thác tích cực hơn. 3.4 Kiến nghị Để nâng cao chất lượng tín dụng Chi nhánh cần phải nâng cao công tác kiểm tra kiểm soát. Là một hoạt động quan trọng nhằm đảm bảo chất lượng hoạt động của Ngân hàng. Công tác này trực tiếp ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng, trong đó có tín dụng Ngắn hạn. Việc kiểm tra, kiểm soát ở đây không chỉ đơn thuần là kiểm tra theo các số liệu chỉ tiêu như hiện nay mà quan trọng hơn, là kiểm tra tính tuân thủ quy chế, quy định, quy trình cho vay của các cán bộ tín dụng, đảm bảo họ làm việc theo đúng pháp luật, trên cơ sở lợi ích của Ngân hàng kết hợp với lợi ích Khách hàng. Việc kiểm tra này, cần được coi là hoạt động tự giác, khách quan, việc kiểm tra kiểm soát mới thực sự có ý nghĩa điều chỉnh kịp thời hoạt động của Ngân hàng trong đó có hoạt động tín dụng Ngắn hạn Là một chi nhánh trực thuộc hệ thống Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, nằm trong hệ thống Ngân hàng của nền kinh tế, thì hoạt động của Ngân hàng Ngoại thương Quảng Ninh có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới hệ thống này. Chất lượng tín dụng ngắn hạn của Chi nhánh phụ thuộc không chỉ vào các yếu tố liên quan trực tiếp đến cấp chi nhánh, trực tiếp thuộc Chi nhánh, mà còn có chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác liên quan đến cấp hệ thống. Để nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn tại Chi nhánh trên góc độ Chi nhánh, chuyên đề xin đưa ra một số kiến nghị như sau: 3.4.1 Đối với Nhà Nước _ Chính phủ cần tao lập môi trường pháp lý đầy đủ, đồng bộ, chặt chẽ để người vay và người cho vay thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mìNgân hàng. _ Chính phủ cần ổn định kinh tế vĩ mô, vì đây là môi trường chung của mọi hoạt động kinh tế, của bản thân Ngân hàng cũng như khách hàng vay vốn. _ Chính phủ tiếp tục ban hành và hoàn thiện Luật kế toán và Luật Kiểm toán nhà nước để có chuẩn mực trong công tác kế toán, kiểm toán. Đối với các NHTM, đây là nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới chất lượng thông tin tín dụng ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng. _ Chính phủ cần có biện pháp giải quyết dứt điểm nợ tồn đọng trong cho vay theo Chỉ đinh của Chính phủ, đẩy mạnh tiền trình cơ cấu lại nợ để lành mạnh hoá tình hình tài chính. Hiện nay, các NHTM chưa đạt được tỷ lệ an toàn COOK là do có vốn chủ sở hữu quá nhỏ. Vơi mức vốn chủ sở hữu nhỏ như vậy, việc mở rộng hoạt động là khó khăn và đi kèm nhiều rủi ro. Do vậy, Chính phủ cần nghiên cứu đề án bổ sung cho cac NHTM, hoặc cho phép các NHTM phát hành cổ phiếu để tăng vốn điều lệ. 3.4.2 Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà Nước Cho đến nay đặc trưng cơ bản của hệ thống giám sát hoạt động tín dụng của NHNN vẫn chủ yếu là dựa trên sự tuân thủ các luật lệ đã được đặt ra, tức là _ NHNN cần hướng dẫn việc thực hiện các Nghị quyết của NHNN, nghị định của Chính Phủ liên quan đến các NHTM một cách cụ thể, kịp thời. NHNN cũng có thể tổ chức thường xuyên các khoá tập huấn cần thiết dành cho cán bộ các NHTM. _ NHNN cần nghiên cứu, cải tiến thủ tục để các NHTM chủ động hơn trong hoạt động, chẳng hạn trong việc quyết định mức thu các loại phí dịch vụ, chủ động trong tổ chức cơ cấu, bổ nhiệm cán bộ sao cho phù hợp với thực tiễn ở mỗi Ngân hàng. _ Cho phép NHTM xây dựng các chính sách lương, thưởng để khuyến khích cán bộ tín dụng làm tốt, hạn chế các tiêu cực có thể nảy sinh. _ Cùng hệ thống NHTM, NHNN cần đầy mạnh tuyên truyền, giáo dục để người dân hiểu biết đúng đắn về hoạt động Ngân hàng, ngày càng chủ động tích cực tiếp cận NHTM. Hiểu biết đúng đắn của người dân là điều kiện cần thiết để Ngân hàng có môi trường thuận lợi cho phát triển. 3.4.3 Kiến nghị đối với Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam _ Về quy trình cho vay, mặc dù đã ban hành Quy định tín dụng đối với khách hàng trọng hệ thống Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, song cần ban hành những văn bản hướng dẫn cụ thể hơn nữa về thực hiện quy trình cho vay. Một số quy định cụ thể về quy trình áp dụng cho từng loại tín dụng ngắn hạn nhìn chung còn chưa đầy đủ. Căn cứ vào quy trình mà NHNN đặt ra, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cần có hướng dẫn chi tiết để giúp cán bộ tín dụng nắm bắt và thực hiện được đúng công việc đảm bảo chất lựơng công việc. _ Về đảm bảo tiền vay, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã ban hành công văn hướng dẫn bổ sung thực hiện đảm bảo tiền vay, trong đó, có quy định các nội dung cần thực hiện. Tuy nhiên, cần có sự hướng dẫn cụ thể hơn nữa, nhất là sự hỗ trợ về chuyên môn để thành lập Tổ thẩm định tài sản đảm bảo tại Chi nhánh. Hiện nay, đây vẫn còn là một vấn đề chưa giải quyết được ở Ngân hàng Ngoại thương Quảng Ninh. _ Về nhân sự, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cũng cần thực hiện tốt hơn nữa chính sách về nhân sự: tuyển chọn, đào tạo cán bộ, khen thưởng, kịp thời, rõ ràng. Ngân hàng Ngoại thươngViệt Nam cần tiếp tục thường xuyên có chính sách đào tạo cán bộ qua các lớp tập huấn cấp Hệ thống, gửi cán bộ đi đào tạo chuyên sâu, nghiên cứu các nghiệp vụ mới, công nghệ Ngân hàng hiện đại trên thế giới để tìm cách áp dụng vào Ngân hàng. Tuyển chọn nhân sự ngày càng trở nên quan trọng. Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam phải có chính sách tuyển chọn đúng đắn để từng bước nâng cao trình độ đội ngũ đưa Ngân hàng vươn đến tầm cao của các hoạt động và dịch vụ chuyên nghiệp, hoàn hảo. _Về chương trình hiện đại hoá Ngân hàng, đây là chương trình mà Ngân hàng chủ động triển khai tích cực từ trước đến nay, đã đưa lại những kết quả nhất định. Trong thời gian tới, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cần tiếp tục triển khai mạnh mẽ hơn, nhanh chóng áp dụng công nghệ tiên tiến trong hoạt động của mình, đồng thời, luôn tích cực cập nhật, học hỏi công nghệ mới, tạo điều kiện áp dụng nhanh chóng các công nghệ này ở các Ngân hàng chi nhánh. _Về phát triển hợp tác quốc tế, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cần đẩy mạnh hơn nữa quan hệ hợp tác quốc tế để khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn lực bên ngoài, mở rộng hoạt động kinh doanh trên thị trường tiền tệ quốc tế, từng bước tiến gần đến các tiêu chuẩn quốc tế trong hoạt động. _Về hình ảnh và văn hoá doanh nghiệp, Ngân hàng Ngoại thươngViệt Nam đã rất chủ động, tích cực, trong việc xây dựng thương hiệu: “An toàn, chất lượng, hiệu quả, tăng trưởng bền vững”. Việc cũng cố, làm tôn vinh thương hiệu này không chỉ trong tầm quốc gia mà còn ở tầm quốc tế có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam nói chung và hệ thống các chi nhánh nói riêng. KẾT LUẬN Trong bối cảnh kinh tế hiện nay, đứng trước các yêu cầu của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, với phương châm phát huy tối đa nguồn nội lực, tín dụng Ngân hàng trong đó tín dụng ngắn hạn luôn là giải pháp quan trọng về vốn. Để thực hiện ngày một hiệu qủa chức năng vốn có của mình, các Ngân hàng nhận thấy rằng, bên cạnh mở rộng tín dụng nền kinh tế, cần phải cho chất lượng tín dụng là yếu tố quan trọng, thậm trí là yếu tố quan trọng nhất khi thực hiện cho vay. Vì thế nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn luôn là nội dụng quan trọng hàng đầu trong chiến lược phát triển của các Ngân hàng, của chi nhánh Ngân Ngoại thương Quảng Ninh và cũng là định hướng của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam. Để thực hiện được chiến lược này, đòi hỏi phải có sự kết hợp của nhiều điều kiện, từ phía Ngân hàng, khách hàng và môi trường kinh tế. Chuyên đề đã phân tích những vấn đề lý luận cơ bản về tín dụng ngắn hạn và chất lượng tín dụng, phân tích thực trạng hoạt động của Chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Quảng Ninh trong năm qua để từ đó dưới góc độ nhà quản trị Ngân hàng đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng tín dụng của NHTM. Vì điểm nghiên cứu chỉ giới hạn trong một chi nhánh Ngân hàng và với quy mô nghiên cứu của một chuyên đề tốt nghiệp, nên các giải pháp đưa ra mới chỉ mang tính đề xuất. Em hi vọng rằng phần nghiên cứu trên phần nào có ý nghĩa đối với chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Quảng Ninh cũng như các NHTM nói chung. Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo ThS Nguyễn Văn Phương cùng với các anh chị tại phòng tín dụng Chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội đã hướng dẫn tận tình chỉ bảo em trong quá trình thực tập cũng như thực hiện chuyên đề này. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1.Quản trị Ngân hàng thương mại 2. Tiền tệ Ngân hàng và thị trường tài chính 3. Giaó trình Ngân hàng thương mại 4. Thông tin tín dụng tại phòng tín dụng của chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương Quảng Ninh MỤC LỤC DANH MỤC BẢNG BIỂU ĐỒ Bảng 2.1:Tăng trương tín dụng ngắn hạn trong NH 39 Bảng 2.2: Dư nợ phân theo thời hạn 39 Bảng 2.3 : Phân loại dư nợ tín dụng ngắn hạn theo nhóm 40 Bảng 2.4 :Bảng phân loại dư nợ ngắn hạn theo loại tiền cho vay 41 Bảng 2.5: Tín dụng ngắn hạn phân theo thành phần kinh tế: 42 Bảng 2.6:Chỉ tiêu vòng vốn cho vay ngắn hạn 43 Bảng2.7: Chỉ tiêu nợ qúa hạn ngắn hạn 43 Bảng 2.8: Phân loại nợ quá hạn theo loại nợ 44 Bảng 2.9 : Nợ quá hạn ngắn hạn phân theo loại tiền 45 Bảng 2.10: Nợ khó đòi trong NH VCB trong 3 năm 45 Bảng 2.11 : Nợ khó đòi tín dụng phân theo thời gian : 46 Bảng 2.12: Nợ xấu của ngân hàng TMCP VCB trong 3 năm 47 Bảng 2.13: chỉ tiêu mức sinh lời ngắn hạn 47 Bảng 2.14 : Trích lập quỹ dự phòng rủi ro 48 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan bản chuyên đề là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, có sự hỗ trợ từ giáo viên hướng dẫn là thầy Nguyễn Văn Phương. Các số liệu, kết quả nêu trong khóa luận là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng có ghi trong phần tài liệu tham khảo. Một lần nữa, tôi xin khẳng định về sự trung thực của lời cam kết trên. Quảng Ninh, ngày 11 tháng 5 năm 2012 Tác giả chuyên đề Phạm Thị Tuyết Ngân DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT NHTM : Ngân hàng thương mại TMCP : Thương mại cổ phần NHNT Việt Nam : Ngân hàng ngoại thương Việt Nam NH TMCP NT QN : Ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương Quảng Ninh PGD : Phòng giao dịch TNHH : Trách nhiệm hữu hạn DN TN : Doanh nghiệp tư nhân

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doctd12_14_6573.doc
Luận văn liên quan