Chuyên đề Phân tích hoạt động cho vay phục vụ mục đích xây/sửa nhà tại ngân hàng An Bình – Chi nhánh Đà Nẵng qua 02 năm 2009 – 2010

LỜI MỞ ĐẦU Lý do chọn đề tài: Hội nhập kinh tế quốc tế là yêu cầu khách quan đối với các quốc gia hiện nay. Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng đó. Kể từ khi gia nhập WTO đến nay, nền kinh tế Việt Nam có những bước chuyển biến sâu sắc trên tất cả các lĩnh vực, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và liên tục qua các năm, tình hình chính trị ổn định, tạo niềm tin cho các nhà đầu tư nước ngoài mạnh dạn đầu tư vào nước ta. Từ đó, góp phần tạo công ăn việc làm cho người dân, tăng thu nhập và nâng cao chất lượng cuộc sống. Khi thu nhập tăng cao kéo theo nhu cầu cải thiện đời sống, nhu cầu tiêu dùng cũng tăng cao, và một nhu cầu nữa không thể thiếu đó là nhu cầu về nhà ở. An cư lạc nghiệp, đây là mong muốn bình dị của người dân Việt Nam từ bao đời nay về một căn nhà để ổn định cuộc sống. Tuy nhiên mong muốn đó thật khó thực hiện khi mà phần đông dân số là những người có thu nhập trung bình hoặc thấp, trong khi giá cả thị trường nhà đất lại rất cao, thì vấn đề tích góp đủ tiền mua nhà trở nên quá khó khăn đối với các gia đình trẻ. Với tốc độ tăng dân số hiện này, Việt Nam đang đứng trước áp lức gia tăng dân số gia tăng tại đô thị điều đó sẽ tạo sức ép lớn về nhà ở. Nắm bắt được nhu cầu cấp bách trên, các NHTM đã đưa ra gói sản phẩm cho vay phục vụ mục đích xây/sửa nhà, là giải pháp tối ưu nhất giúp người dân có thể xây/sửa nhà cho bản thân và gia đình mình. Hoạt động cho vay phục vụ mục đích xây/sửa nhà tuy còn khá mới mẻ ở Việt Nam nhưng lại là lĩnh vực có nhiều tiềm năng phát triển lớn, là hoạt động mang lại mức lợi nhuận cao cho các NHTM nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro, xuất phát từ nhu cầu nhà ở của người dân Việt Nam và cũng từ chính nhu cầu phát triển của mỗi ngân hàng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Xuất phát từ thực tế trên và qua thời gian thực tập nghiên cứu tại phòng khách hàng cá nhân tại ngân hàng An Bình – CN Đà Nẵng, em xin chọn đề tài: “Phân tích hoạt động cho vay phục vụ mục đích xây/sửa nhà tại ngân hàng An Bình – CN Đà Nẵng qua 02 năm 2009 – 2010” cho chuyên đề tốt nghiệp của mình. Nội dung của đề tài gồm 03 chương: Chương I: Cơ sở lý luận về hoạt động cho vay tiêu dùng tại NHTM Chương II: Thực trạng hoạt động cho vay phục vụ mục đích xây/sửa nhà tại ngân hàng An Bình – CN Đà Nẵng qua 02 năm 2009 – 2010. Chương III: Một số biện pháp đẩy mạnh hoạt động cho vay phục vụ mục đích xây/sửa nhà tại ngân hàng An Bình – CN Đà Nẵng. Để hoàn thiện đề tài này, em đãn nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình và quý báu từ cô giáo Th.s LÊ PHÚC MINH CHUYÊN. Bên cạnh đó, trong thời gian thực tập em đã nhận được nhiều sự giúp đỡ từ anh chị tại NHTMCP An Bình – CN Đà Nẵng. Em xin cảm ơn và hi vọng tiếp tục nhận được sự chỉ bảo từ thầy cô và các anh chị phía ngân hàng. Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình nghiên cứu có sử dụng các phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp diễn dịch và quy nạp, phương pháp so sánh, phương pháp logic học và đặc biệt là phương pháp thống kê. Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu về hoạt động cho vay phục vụ mục đích xây/sửa nhà. Phạm vi nghiên cứu: Ngân hàng An Bình – CN Đà Nẵng qua 02 năm 2009 – 2010. MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 6 CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ NGHIỆP VỤ CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NHTM . 8 1.1 Lí luận chung về hoạt động cho vay tại ngân hàng thương mại:. 8 1.1.1 Khái niệm về tín dụng ngân hàng:. 8 1.1.2 Khái niệm cho vay:. 8 1.1.3 Nguyên tắc cho vay:. 8 1.1.4 Phân loại cho vay:. 9 1.1.4.1 Căn cứ theo thời hạn cho vay:. 9 1.1.4.2 Căn cứ theo tính chất của đảm bảo vốn vay:. 9 1.1.4.3 Mục đích sử dụng vốn vay:. 9 1.1.4.4 Theo đối tượng tham gia quy trình cho vay:. 10 1.1.4.5 Theo phương thức vay:. 10 1.2 Lí luận chung về hoạt động cho vay tiêu dùng:. 11 1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của cho vay tiêu dùng:. 11 1.2.1.1 Khái niệm cho vay tiêu dùng:. 11 1.2.1.2 Đặc điểm của cho vay tiêu dùng:. 11 1.2.2 Phân loại cho vay tiêu dùng:. 11 1.2.2.1 Căn cứ vào mục đích vay:. 11 1.2.2.2 Căn cứ vào hình thức vay:. 12 1.2.2.3 Căn cứ vào phương thức hoàn trả:. 12 1.2.3 Vai trò của cho vay tiêu dùng:. 14 1.2.3.1 Đối với Ngân hàng:. 14 1.2.3.2 Đối với người tiêu dùng:. 14 1.2.3.3 Đối với nền kinh tế:. 14 1.2.4 Rủi ro trong cho vay tiêu dùng:. 14 1.2.5 Một số quy định chung về hoạt động cho vay phục vụ mục đích xây/sửa nhà: 15 1.3 Cơ sở lý luận chung về phân tích hoạt động cho vay phục vụ mục đích xây/sửa nhà: 16 1.3.1 Nội dung phân tích:. 16 1.3.1.1 Phân tích hoạt động cho vay phục vụ mục đích xây/sửa nhà theo thời hạn vay: 16 1.3.1.2 Phân tích hoạt động cho vay phục vụ mục đích xây/sửa nhà theo hình thức đảm bảo: 17 1.3.2 Chỉ tiêu phân tích:. 17 1.3.2.1 Doanh số cho vay phục vụ mục đích xây/sửa nhà:. 17 1.3.2.2 Chỉ tiêu phản ánh dư nợ của cho vay phục vụ mục đích xây/sửa nhà:. 18 CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY PHỤC VỤ MỤC ĐÍCH XÂY/SỬA NHÀ TẠI 20 NGÂN HÀNG AN BÌNH – CN ĐÀ NẴNG 20 2.1 Giới thiệu sơ lược về Ngân hàng An Bình – Chi nhánh Đà Nẵng:. 20 2.1.1 Giới thiệu sơ lược về ngân hàng An Bình – CN Đà Nẵng:. 20 2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển tại Ngân hàng An Bình – CN Đà Nẵng:. 21 2.1.3 Chức năng nhiệm vụ của Ngân hàng:. 22 2.1.4 Cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ của các phòng ban:. 23 2.1.4.1 Cơ cấu tổ chức:. 23 2.1.5 Kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng An Bình qua 2 năm 2009 – 2010: 25 2.1.5.1 Các nguồn lực của ngân hàng:. 25 2.1.5.2 Kết quả hoạt động kinh doanh năm 2009 – 2010:. 25 2.1.6 Những quy định chung về hoạt động cho vay phục vụ mục đích xây/sửa nhà/đất, sửa chữa, nâng cấp nhà tại ngân hàng An Bình:. 31 2.2 Phân tích hoạt động cho vay phục vụ mục đích xây/sửa nhà tại ngân hàng An Bình – CN Đà Nẵng qua 2 năm 2009 – 2010:. 33 2.2.1 Phân tích hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng An Bình qua 2 năm 2009 – 2010. 33 2.2.2 Phân tích hoạt động cho vay phục vụ mục đích xây/sửa nhà tại Ngân hàng An Bình qua 2 năm 2009 – 2010:. 35 2.2.2.1 Thị trường bất động sản tại Đà Nẵng năm 2009 – 2010:. 35 2.2.2.2 Nhu cầu xây/sửa nhà tại thành phố Đà Nẵng năm 2009 – 2010:. 36 2.2.2.3 Phân tích hoạt động cho vay phục vụ mục đích xây/sửa nhà tại ngân hàng An Binh – CN Đà Nẵng qua 2 năm 2009 – 2010:. 37 CHƯƠNG III. MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG CHO VAY PHỤC VỤ MỤC ĐÍCH MUA NHÀ/ĐẤT, XÂY/SỬA NHÀ TẠI NGÂN HÀNG AN BÌNH – CN ĐÀ NẴNG 41 3.1 Một số thuận lợi và khó khăn của ngân hàng An Bình – CN Đà Nẵng trong hoạt động cho vay phục vụ mục đích xây/sửa nhà giai đoạn 2009 – 2010 và trong thời gian đến:. 41 3.1.1 Thuận lợi của ngân hàng:. 41 3.1.2 Khó khăn của ngân hàng:. 41 3.2 Định hướng phát triển của ngân hàng An Bình trong năm 2011:. 42 3.3 Một số biện pháp đẩy mạnh hoạt động cho vay phục vụ mục đích mua nhà/đất tại ngân hàng An Bình – CN Đà Nẵng:. 42 3.3.1 Nhóm biện pháp chính:. 42 3.3.2 Nhóm biện pháp hỗ trợ:. 44 LỜI KẾT 47

doc50 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 15/05/2013 | Lượt xem: 1747 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Chuyên đề Phân tích hoạt động cho vay phục vụ mục đích xây/sửa nhà tại ngân hàng An Bình – Chi nhánh Đà Nẵng qua 02 năm 2009 – 2010, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
iá trị tăng trưởng DS tuyệt đối = Tổng DSCV phục vụ mục đích xây/sửa nhà năm (n) - Tổng DSCV mua nhà năm (n-1) Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết doanh số cho vay phục vụ mục đích xây/sửa nhà trong năm (n) so với năm (n-1) về gía trị tuyệt đối là bao nhiêu. Khi chỉ tiêu này tăng lên, tức là số tiền ngân hàng cung cấp cho khách hàng cũng tăng lên, thỏa mãn tốt hơn nhu cầu của khách hàng. Chỉ tiêu này cũng thể hiện hoạt động cho vay phục vụ mục đích xây/sửa nhà của ngân hàng được mở rộng. Chỉ tiêu phản ánh sự tăng trưởng doanh số cho vay tương đối: Giá trị tăng trưởng DS tương đối = Giá trị tăng trưởng DS tuyệt đối Tổng DSCV phục vụ mục đích xây/sửa nhà năm (n-1) Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết tốc độ tăng trưởng của năm (n) so với năm (n-1). Khi chỉ tiêu này tăng lên thể hiện doanh số cho vay phục vụ mục đích xây/sửa nhà của ngân hàng tăng lên tương đối. Chỉ tiêu phản ánh sự tăng trưởng về tỷ trọng: Tỷ trọng = Tổng DSCV phục vụ mục đích xây/sửa nhà * 100% Tổng doanh số cho vay Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết doanh số của cho vay phục vụ mục đích xây/sửa nhà chiếm tỷ trọng bao nhiêu trong tổng doanh số cho vay. Khi tỷ trọng này tăng lên chứng tỏ hoạt động cho vay phục vụ mục đích xây/sửa nhà đươc mở rộng. Chỉ tiêu phản ánh dư nợ của cho vay phục vụ mục đích xây/sửa nhà: Dư nợ cho vay phục vụ mục đích xây/sửa nhà: Là số tiền mà khách hàng nợ ngân hàng tại một thời điểm. Chỉ tiêu này thường được kết hợp với chỉ tiêu doanh số cho vay phục vụ mục đích xây/sửa nhà để phản ánh hoạt động mở rộng cho vay phục vụ mục đích xây/sửa nhà tại ngân hàng. Giá trị tăng trưởng dư nợ tuyệt đối = Tổng dư nợ cho vay phục vụ mục đích xây/sửa nhà năm (n) - Tổng dư nợ cho vay mua nhà năm (n-1) Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết dư nợ năm (n) tăng so với năm (n-1) về số tuyệt đối là bao nhiêu. Khi chỉ tiêu này tăng lên, tức là số tiền mà khách hàng đang nợ ngân hàng qua các năm đã tăng lên, chứng tỏ rằng hoạt động cho vay phục vụ mục đích xây/sửa nhà được mở rộng. Chỉ tiêu phản ánh sự tăng trưởng dư nợ tương đối: Giá trị tăng trưởng dư nợ cho vay phục vụ mục đích xây/sửa nhà tương đối = Giá trị tăng trưởng dư nợ tuyệt đối x 100% Tổng dư nợ cho vay phục vụ mục đích xây/sửa nhà năm (n-1) Ý nghĩa: Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay phục vụ mục đích xây/sửa nhà năm (n) so với năm (t-1) Chỉ tiêu phản ánh sự tăng trưởng về tỉ trọng: Tỉ trọng = Tổng dư nợ cho vay phục vụ mục đích xây/sửa nhà x100% Tổng dư nợ về hoạt động cho vay Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết dư nợ của hoạt động cho vay phục vụ mục đích xây/sửa nhà chiếm tỉ lệ bao nhiêu trong tổng dư nợ của toàn bộ hoạt động cho vay của ngân hàng. CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY PHỤC VỤ MỤC ĐÍCH XÂY/SỬA NHÀ TẠI NGÂN HÀNG AN BÌNH – CN ĐÀ NẴNG Giới thiệu sơ lược về Ngân hàng An Bình – Chi nhánh Đà Nẵng: Giới thiệu sơ lược về ngân hàng An Bình – CN Đà Nẵng: Ngân hàng An Bình – CN Đà Nẵng được thành lập theo quyết số 1491/QĐ-NHNN ngày 27/07/2006 của thống đốc NHNN, mở chi nhánh NHTMCP An Bình tại thành phố Đà Nẵng và quyết định số 63/QĐ-HĐQT ngày 03/08/2006 của hội đồng quản trị ngân hàng An Bình mở chi nhánh tại thành phố Đà Nẵng. Tên ngân hàng: Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình hay ABBANK. Tên giao dịch: AN BINH COMMERCIAL JOINT STOCK BANK. Trụ sở: 170 Hai Bà Trưng, Phường Đa Kao, Quận 1, TP.HCM CN Đà Nẵng: 179 Nguyễn Chí Thanh, P. Hải Châu, Q Hải Châu, Tp. Đà Nẵng Điện thoại: (84-0511) 2225 262 Website: www.abbank.vn Logo: Tầm nhìn chiến lược: ABBANK hướng đến trở thành một ngân hàng thương mại hàng đầu Việt Nam; hoạt động theo mô hình ngân hàng thương mại trọng tâm bán lẻ theo những thông lệ quốc tế tốt nhất với công nghệ hiện đại, đủ năng lực canh tranh với các ngân hàng trong nước và quốc tế hoạt động tại Việt Nam. Tôn chỉ hoạt động: Phục vụ khách hàng với sản phẩm, dịch vụ an toàn, hiệu quả và linh hoạt; Tăng trưởng lợi ích cho cổ đông; Hướng đến sự phát triển toàn diện, bền vững của ngân hàng; Đầu tư vào yếu tố con người  làm nền tảng cho sự phát triển lâu dài. Lịch sử hình thành và phát triển tại Ngân hàng An Bình – CN Đà Nẵng: Hiện nay Ngân hàng An Bình – CN Đà Nẵng có địa điểm giao dịch tại 179 Nguyễn Chí Thanh, Q.Hải Châu, TP.Đà Nẵng, với 08 điểm giao dịch tại Đà Nẵng, 01 phòng giao dịch ở Tam Kỳ và 01 CN ở Huế. Khi mới thành lập năm 2006, tổng cán bộ của Chi nhánh có 30 người nhưng đến nay con số đó là 110 người (tính đến năm 2009). Năm 2006: Thành lập chi nhánh Ngân hàng An Bình tại Đà Nẵng. Thành phố Đà Nẵng, trung tâm kinh tê trọng điểm tại khi vực miền Trung, nằm trong hành lang kinh tế Đông – Tây có hệ thống hạ tầng đô thị tương đối hoàn chỉnh, hệ thống sân bay, cảng biển, khu công nghiệp và cơ chế chính sách thu hút đầu tư… đã trở thành điểm đến tiềm năng của các tổ chức tài chính Ngân hàng. Chính vì vậy, chi nhánh Ngân hàng An Bình Đà Nẵng được khai trương hoạt động vào tháng 10/2006, đặt mục tiêu trong những năm hoạt động đầu tiên phải nhanh chóng thành lập mạng lưới phục vụ khác hàng tại các tỉnh thành khu vực miền Trung – Tây Nguyên. Sau 01 năm hoạt động, đến 31/2/2007 tổng tài sản cảu chi nhánh đạt 430 tỷ đồng, vốn huy động đạt 415 tỷ đồng, dư nợ tín dụng đạt 350 tỷ đồng. Ngân hàng An Bình – CN Đà Nẵng là chi nhánh đầu tiên trên địa bàn hoạt động có hiệu quả ngay năm đầu tiên. Năm 2007: Thành lập thêm 03 phòng giao dịch: Cùng với sự phát triển của NHTM Việt Nam trong thời kỳ hội nhập và phát triển cảu đất nước, việc tăng vốn điều lệ lên 2.300 tỷ đồng ABBANK trở thành 1 trong 5 NHTMCP lớn nhất Việt Nam. Trong bối cảnh đó, ABBANK Đà Nẵng thành lập thêm 3 phòng giao dịch: 01 PGD tại Trưng Nữ Vương (Đà Nẵng), 01 PGD tại Tam Kỳ và 01 PDG tại Huế. Năm 2008: Ngày 28/01/2008 khai trương PGD Ngân hàng An Bình Nguyễn Chí Thanh Tp. Đà Nẵng. Chiến lược năm 2008 của ABBANK tại khu vực miền Trung – Tây Nguyên sẽ phát triển từ 07 đến 08 chi nhánh và PGD tại các tỉnh Khánh Hòa, Gia Lai, Daklak, Quảng Nam, Quy Nhơn… với định hướng ABBANK Đà Nẵng là điểm giao dịch khai trương hoạt động đầu tiên trong chiến lược phát triển mạng lưới năm 2008 của ABBANK trên toàn quốc nói chung và khu vực miền Trung – Tây Nguyên nói riêng. ABBANK Nguyến Chí Thanh sẽ hoạt động tập trung vào 03 nội dung chính: Triển khai mạnh mẽ cung ứng các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng đến các doanh nghiệp ngành điện, CBCNV Điện Lực và nhân dân trên địa bàn; cung ứng các sản phẩm dịch vụ đa dạng cho các doanh nghiệp, các nhà thầu, đối tác của Tập đoàn Điện Lực Việt Nam, các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn; nhanh chóng đưa thương hiệu ABBANK thực sự gân gũi với khách hàng, được khách hàng yêu mến trên nền tảng sản phẩm dịch vụ đa dạng, công nghệ hiện đại, tận lòng – tận tâm vì khách hàng. Năm 2009: Khai trương 2 địa điển giao dịch tại quận Hải Châu: Sau cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính thế giới năm 2008, tình hình kinh tế năm 2009 có dấu hiệu khởi sắc. Với tình hình đó, ABBANK tiếp tục thực hiện kế hoạch phát triển mạng lưới giao dịch của mình để triển khai mạnh mẽ cung ứng các sán phẩm dịch vụ ngân hàng đến các doanh nghiệp ngành điện, CBCNV Điện Lực, các nhà thầu, đối tác của EVN (tập đoàn điện lực VN), các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn… nhanh chóng đưa thương hiệu ABBANK đến gần hơn với khách hàng. Ngày 27/05/2009 ABBANK chi nhánh Đà Nẵng khai trương 01 điểm tại Phan Chu Trinh (193 Phan Chu Trinh, Q.Hải Châu, Tp.Đà Nẵng). Ngày 29/12/2009 ABBANK chi nhánh Đà Nẵng tổ chức lễ khai trương tại Quang Trung (194 – 196 Quang Trung – Tp.Đà Nẵng). ABBANK Đà Nẵng với việc thành lập thêm điểm giao dịch ABBANK Phan Chu Trinh và ABBANK Quang Trung sẽ góp phần tích cực hơn nữa và sự phát triển chung của hệ thống dịch vụ ngân hàng – tài chính của Đà Nẵng nói riêng và khu vực miền Trung - Tây Nguyên nói chung. Để quy mô phát triển ngày càng lớn mạnh, bên cạnh việc mở rộng các điểm giao dịch trên toàn quốc, ABBANK đã hoàn thiện mạng lưới giao dịch hiện tại bằng cách đầu tư nâng cấp các PGD lên cấp chi nhánh. Ngày 25/12/2009 PGD tại Tp.Huế được NHNN Việt Nam ch phép nâng cấp thành Chi nhánh Thừa Thiên Huế Chức năng nhiệm vụ của Ngân hàng: Huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư và các tổ chức kinh tế bằng VND với các hình thức đa dạng: Tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi thanh toán không kỳ hạn, có kỳ hạn. Đáp ứng mọi nhu cầu tài khoản của khách hàng. Huy động vốn thông qua việc phát hành các loại thẻ thanh toán. Cho vay vốn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn bằng VND, ngoại tệ đối với tất các thành phần kinh tế. Đồng tài trợ cho các dự án có vốn đầu tư của Nhà nước và nước ngoài. Cho vay tiêu dùng. Cho vay tín chấp hiện đang được áp dụng. Cho vay cầm cố các loại chứng từ có giá. Dịch vụ ngân hàng: thực hiện các dịch vụ thanh toán, chuyển tiền nhanh qua mạng vi tính, chuyển tiền điện tử. Cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ của các phòng ban: Cơ cấu tổ chức: Giám đốc Phó Giám đốc (Phụ trách kinh doanh) Phó Giám đốc (Phụ trách tài chính) P. QHKH PGD Hải Châu PGD Liên Chiểu P. QLTD PGD Phan Châu Trinh QTK Núi Thành P.Hành chính nhân sự P.Kế toán Bộ phận Marketing PGD Nguyễn Văn Linh PGD Hùng Vương PGD Trưng Nữ Vương Quan hệ trực tuyến Quan hệ chức năng Chức năng và nhiệm vụ của các phòng ban: Ban giám đốc bao gồm: Giám đốc và phó giám đốc có nhiệm vụ đề ra mục tiêu, kế hoạch và chỉ đạo hoạt động của chi nhánh. Trong đó, giám đốc là người đứng đầu và chịu trách nhiệm trước hội sở về hoạt động của chi nhánh, còn các phó giám đốc trợ giúp giám đốc trực tiếp chỉ đạo công việc tác nghiệp hằng ngày và chịu trách nhiệm trước giám đốc. Phòng QHKH cá nhân và Doanh nghiệp: có trách nhiệm tìm kiếm, khai thác, tiếp nhận hồ sơ khách hàng, kiểm tra các điều kiện rút vốn, triển khai các chính sách khách hàng, triển khai các sản phẩm thẻ, sản phảm tín dụng, thanh toán quốc tế.... Phòng quản lý rủi ro tín dụng: Với chức năng nghiên cứu phân tích quản lý rủi ro nhằm đảm bảo phát triển tín dụng an toàn. Thực hiện chính sách quản lý rủi ro tín dụng, quản lý danh mục đầu tư, thẩm định rủi ro đối với từng khoản cấp tín dụng, cho vay thu hồi nợ. Phòng hành chính nhân sự: chịu trách nhiệm xây dựng kế hoạch chiêu mộ đảm bảo nguồn lực cho chi nhánh, kế hoạch đào tạo bồi dưỡng cán bộ hằng năm trình hội sở duyệt và theo dõi thực hiện các kế hoạch đó, thực hiện chế độ chính sách đối với cán bộ công nhân viên về tiền lương, thưởng… tham mưu cho ban giám đốc trong việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật… Phòng kế toán giao dịch và ngân quỹ: gồm 2 bộ phận: Bộ phận kế toán giao dịch: tiếp xúc khách hàng, huy động vốn,…Ngân quỹ có trách nhiệm tổ chức thu, chi tiền mặt, giấy tờ có giá; giao, nhận các tài sản khác đối với các giao dịch viên và với khách hàng (đối với các giao dịch tiền mặt vượt hạn mức của giao dịch viên). Bộ phận kế toán nội bộ: thực hiện công việc kế toán hằng ngày thu thập báo cáo hằng ngày, tháng, quý, năm cho lãnh đạo cơ quan thanh tra. Hệ thống các phòng giao dịch: Thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng như chi nhánh nhưng trong giới hạn của phòng giao dịch. Bộ phận Marketing phát triển mạng lưới: Tìm hiểu, thu thập, đánh giá các thông tin liên quan trong nội bộ và bên ngoài như: thị trường, đối thủ cạnh tranh…nhằm tham mưu, đề xuất kế hoạch phát triển và quản lý mạng lướiPhòng khách hàng cá nhân: Thực hiện các hoạt động cho vay và huy động vốn từ khách hàng cá nhân Phòng khách hàng doanh nghiệp: Thực hiện các hoạt động cho vay và huy động vốn từ khách hàng doanh nghiệp. Kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng An Bình qua 2 năm 2009 – 2010: Các nguồn lực của ngân hàng: Cơ sở vật chất: Địa điểm giao dịch: Chi nhánh Đà Nẵng được thành lập vào cuối năm 2006 đến nay đã có 08 điểm giao dịch trên địa bàn Đà Nẵng: ABBANK Đà Nẵng – 179 Nguyễn Chí Thanh, Q.Hải Châu, TP.Đà Nẵng. ABBANK Hùng Vương – 195 Hùng Vương, Q.Hải Châu, TP.Đà Nẵng. ABBANK Nguyễn Văn Linh – 174 Nguyễn Văn Linh, Q.Hải Châu, TP.Đà Nẵng ABBANK Phan Chu Trinh – 193 Phan Chu Trinh, Q.Hải Châu, TP.Đà Nẵng ABBANK Trưng Nữ Vương – 391 Trưng Nữ Vương, Q.Hải Châu, TP.Đà Nẵng ABBANK Hải Châu – 194-196 Quang Trung, Q.Hải Châu, TP. Đà Nẵng ABBANK Liên Chiểu – 183 Tôn Đức Thắng, Q.Liên Chiểu, TP. Đà Nẵng Hệ thống máy ATM: Hiện nay ngân hàng An Bình có 08 máy ATM trên địa bàn thành phố Đà Nẵng Kết quả hoạt động kinh doanh năm 2009 – 2010: Hoạt động huy động vốn: Nguồn vốn đóng vai trò quan trọng trong quá trình hoạt động của ngân hàng, nó quyết định đến quy mô kinh doanh cũng như quy mô, trong đó vốn huy động đóng vai trò chính trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Nguồn vốn này chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng nguồn vốn và giũ vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Bảng 1: Nguồn vốn huy động ĐVT: Triệu đồng Nguồn: Báo cáo cân đối tổng hợp năm 2009; 2010 Tháng 12/2008 Chính phủ ban hành Nghị Quyết số 30 về những giải pháp cấp bách nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng, bảo đảm an sinh xã hội. Gói kích cầu hỗ trợ các doanh nghiệp và cấc hộ gia đình được thự hiện với nhiều giải pháp như giảm lãi suất cơ bản, hỗ trợ lãi suất vay vốn lưu động 4%/năm, bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, giãn thời gian nộp thuế… Nhờ sự chỉ đạo của Chính phủ và sự nổ lực cố gắng của cán bộ ngành, địa phương nên tốc độ tăng trưởng trong năm 2009 của các cơ sở sản xuất và doanh nghiệp cả nước nói chung, tại thành phố Đà Nẵng nói riêng vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng hợp lý. Điều này tạo điều kiện tạo nguồn thu nhập và hình thành nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư. Khác với sự biến động của lãi suất cơ bản vào năm 2008, tăng mạnh ở 6 tháng đầu năm và giảm ở 6 tháng cuối năm. Trong 6 tháng đầu năm 2009, lãi suất huy động ở các ngân hàng tăng nhẹ ở tất cả các kỳ hạn, từ kỳ hạn tuần đến kỳ hạn 36 tháng, để phục vụ cho nhu cầu vay của các doanh nghiệp trong năm 2009 dưới sự tác động của việc phục hồi nền kinh tế. Hình 1: Lãi suất huy động tiền gởi VNĐ năm 2009 Nguồn: Phân tích biến động lãi suất từ năm 2005 đến 2009 Lãi suất huy động tại ngân hàng An Bình áp dụng ở mức cao, đặc biệt đối với gói sản phẩm “gửi tiết kiệm bậc thang” ở các kỳ hạn dài sẽ được hưởng lãi suất lên đến 9,7%/năm kỳ hạn 60 tháng. Dưới tác động của sự biến động lãi suất như vậy tính đến 31/12/2009 tổng nguồn vốn huy động của ngân hàng đạt 1.075.365 triệu đồng tiền gửi của khách hàng chiếm tỷ trọng lớn 99,39% (tương đương 1.068.817 triệu đồng), tiền gửi tiết kiệm của cá nhân chiếm tỷ trọng lớn với 63,65% trong lượng tiền gửi của khách hàng; tiền gửi của khách hàng tổ chức chiếm 36,65% triệu đồng; vay từ các TCTD khác chiếm 0.61% (tương đương 6.548 triệu đồng) trong khối lượng tiền huy động vốn của ngân hàng. Tổng nguồn vốn huy động của ngân hàng tính đến 31/12/2010 đạt 1.319.583 triệu đồng, tăng 244.218 triệu đồng so với năm 2009 với tốc độ tăng 22,71%. Kết quả này được hình thành từ: Trong 6 tháng đầu năm 2010, lãi suất tăng so với cùng kỳ năm 2009 với mặt bằng lãi suất mới biến động quanh ngưỡng 12%/năm. Việc lãi suất huy động tăng cao làm cho mặt bằng lãi suất cho vay cũng bị đẩy lên trong điều kiện áp dụng cơ chế lãi suất thỏa thuận; vì vậy tháng 7/2010 để tạo sự thống nhất về mặt bằng lãi suất huy động trên thị trường, NHNN và Hiệp hội ngân hàng đã yêu cầu các NHTM đồng thuận giảm lãi suất huy động vốn bằng VND để góp phần thực hiện hạ mặt bằng lãi suất của thị trường theo Nghị quyết 23/NQ – CP ngày 7/5/2010 của Chính phủ đến tháng 7 lãi suất huy động VND đón đợt điều chỉnh giảm đầu tiên ở mức 11 – 11,2% cho các kỳ hạn và duy trì khá ổn định cho đến tháng 10, lãi suất huy động một lần nữa được điều chỉnh xoay quanh mức 10,8 – 11%. Tuy nhiên, trước sức ép của lạm phát vào những tháng cuối năm, tỷ lệ lãi suất huy động ở lần điều chỉnh giảm thứ hai đã ngay lập tức gia tăng sau khi NHNN thực hiện điều chỉnh tăng lãi suất cơ bản lên 9%. Mặt bằng lãi suất huy động mới được thiết lập ở mức 12%, cuộc đua tranh lãi suất quyết liệt giữa các ngân hàng đã được đưa lên đến đỉnh điểm khi lãi suất huy động được đưa lên đến 17%/năm. Mặt khác năm 2010, kinh tế - xã hội của Đà Nẵng đã dần ổn định và phát triển, tổng sản phẩm trong nước – GDP của thành phố đạt 10.274.000 triệu đồng, tăng 11,54% so với cùng kỳ năm ngoái. Sản xuất công nghiệp thành phố có mức tăng trưởng khá, ước tính giá trị sản xuất công nghiệp đạt 12.431.330 triệu đồng tăng 14,35% so vói cùng kỳ năm 2009. So với năm 2009, tổng vốn đầu tư phát triển thực hiện là 18.936.000 triệu đồng, tăng 12,33% so với năm 2009, 11,39% so với kế hoạch. Đến cuối năm 2010 thành phố đã có nhiều khởi sắc, đời sống của người dân sung túc hơn. Tuy nhiên, năm 2010 cũng là năm nền kinh tế có nhiều biến động. Chịu sự tác động của giá vàng trên thế giới giá vàng tại Việt Nam cũng tăng mạnh đạt đến ngưỡng 38 triệu/lượng. Lạm phát hoành hành các nền kinh tế trên thế giới, các yếu tố rủi ro sau khủng hoảng khiến vàng trở thành tài sản được ưa chuộng để tích trữ, hơn nữa, bất chấp giá vàng đang ở mức cao nhưng các công ty khai thác vẫn không đáp ứng đủ nhu cầu, điều này khiến cho giả vàng tăng lên thêm nhanh chóng. Bên cạnh đó, vàng là công cụ đầu từ, cất trữ thay cho đôla hay đem tiền đi gởi tiết kiệm là thói quen của nhiều người dân Việt Nam. việc tăng giá mạnh của vàng đã kéo giá của đồng đôla Mỹ tăng với 21.500đồng/USD. Tăng giá vàng, đồng thời giá đôla cũng được kéo theo đã làm cho người dân rút/giảm tiền gửi tiết kiệm tại các ngân hàng để mua vàng/đôla để tích trữ đã làm cho khối lượng tiền được gửi giảm mạnh tại các NHTM nói chung, tại ngân hàng An Bình nói riêng. Trong năm 2010 lượng tiền huy động được từ khách hàng cá nhân, đạt 607.733 triệu đồng tăng giảm 22,80% so với năm 2009 (tương đương 72.590 triệu đồng). Huy động vốn từ các tổ chức đạt 704.67915 triệu đồng tăng 81,39% so với năm 2009 (tăng 316.185 triệu đồng) trong đó khối lượng tiền gửi có kỳ hạn tăng mạnh với 503.620 triệu đồng. Hoạt động sử dụng vốn: Bảng 2: Hoạt động sử dụng vốn ĐVT: triệu đồng Nguồn: Báo cáo cân đối tổng hợp năm 2009, 2010 Đầu năm 2009, Thủ tướng Chính phú đã ban hình Quyết định số 131/QĐ-NHNN để hỗ trợ lãi suất trong ngắn hạn (tối đa là 8 tháng) cho khách hàng vay sản suất - kinh doanh bằng VND nhằm giảm giá thành sản phẩm hàng hóa, duy trì sản xuất, kinh doanh và tạo việc làm trong điều kiện nền kinh tế bị tác động bởi khủng hoảng tài chính và suy thoái thế giới. Trong đầu năm 2010 mặt bằng lãi suất cho vay bằng VND bắt đầu giảm và sẽ còn giảm đáng kể bởi các ngân hàng bắt đầu vào cuộc đua giảm lãi suất. Từ ngày 15/4 Ngân hàng An Bình đã xác lập một mặt bằng lãi suất cho vay thỏa thuận mới ở mức 14-16%/năm tùy vào đối tượng khách hàng. Đối tượng được khác Ngân hàng ưu tiên cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ có quản trị tốt, các khoản vay tài trợ xuất khẩu, các khách hàng sản xuất kinh doanh các sản phẩm, mặt hàng có thị trường tiêu thụ ổ định, trực tiếp sản xuất tạo ra sản phẩm thiết yếu cho nền kinh tế. Ngân hàng An Bình tài trợ xuất khẩu trước giao hàng với mức lãi suất ưu đãi từ 14%-14,5%/năm đối với VND và 5-5,25%/năm đối với vay bằng USD; chiết khấu bộ chứng từ xuất khẩu lãi suất ưu đãi 13,5-14%/năm đối với VND và 4,5-4.75%/năm đối với vay bằng USD. Riêng khách hàng có TSĐB tốt, có giao dịch thanh toán thường xuyên và chưa từng phát sinh nợ quá hạn tại ngân hàng cũng như các tổ chức tín dụng khác, ABBANK áp dụng mức lãi suất chỉ còn 13-13,5%/năm. Cùng với mức lãi suất tốt được hỗ trợ, quy tình, thủ tục vay vốn ngắn gọn cho doanh nghiệp, rút ngắn thời gian thẩm định hồ sơ vay vốn của ngân hàng đã đem lại DSCV của ngân hàng An Bình – CN Đà Nẵng năm 2010 là 7.136.372 triệu đồng tăng 24,63% so vớ năm 2009 (tương đương 1.410.362 triệu đồng). Hoạt động cho vay của ngân hàng cũng được mở rộng đáng kể, và hiệu quả hơn, điều này được thể hiện qua dư nợ năm 2009 là 1.030.267 triệu đồng, dư nợ năm 2010 được tăng lên 1.284.022 triệu đồng tăng 24,63% so với năm 2009 (tương đương 253.755 triệu đồng); doanh số thu nợ cũng được tăng lên 1.327.552 triệu đồng so với năm 2009. Kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng: Bảng 3: Kết quả hoạt động kinh doanh ĐVT: Triệu đồng Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng năm 2009, 2010 Qua bảng số liệu trên cho thấy, tổng thu nhập của chi nhánh tăng trong năm 2010, tăng 74,16% (tương đương 92.789 triệu đồng) so với năm 2009. Trong đó, thu nhập từ lãi tăng cao với 73,55% (tương đương 88.189 triệu đồng) nguyên nhân do chất lượng của ngân hàng được nâng cao, thu nhập từ hoạt động dịch vụ tăng 47,05% (tương đương 1.699 triệu đồng). Bên cạnh đó tổng chi phí tăng hơn so với năm 2009 do trả lãi tiền gửi, trả lãi vay và chi phí marketing để thu hút khách hàng. Kết quả, lợi nhuận trước thuế của ngân hàng tăng 25,76% (tương đương 5.126 triệu đồng), khẳng định vị thế của ngân hàng tại Đà Nẵng và đánh dấu cho sự phát triển của ngân hàng trong những năm tiếp theo. Những quy định chung về hoạt động cho vay phục vụ mục đích xây/sửa nhà/đất, sửa chữa, nâng cấp nhà tại ngân hàng An Bình: Đối tượng vay: + Là cá nhân người Việt Nam, hộ gia đình hiện đang sinh sống hoạt động và cư trú hợp pháp trên lãnh thổ Việt Nam. + Cá nhân là người nước ngoài (là người không có quốc tịch Việt Nam – theo Nghị định 51/2009/NĐ-CP ngày 03/06/2009) đáp ứng các điều kiện người nước ngoài được mua và sở hữu nhà tại Việt Nam theo quy định. Trường hợp khách hàng vay là cá nhân là người nước ngoài đơn vị kinh doanh chuyển về Khối KHCN để được hướng dẫn cụ thể. Điều kiện vay: + Có hộ khẩu thường trú, tạm trú cùng địa bàn chi nhánh, phòng giao dịch của ABBANK. + Khách hàng có độ tuổi từ 20-50 và thời hạn kết thúc khoản vay không quá 60 tuổi đối với nam, 55 tuổi đối với nữ. Trường hợp khách hàng vay/bảo lãnh có độ tuổi nằm ngoài quy định, ban tín dụng hoặc ban Giám đốc có quyền tự quyết định việc tự cấp tín dụng cho khách hàng này. + Có TSĐB là BĐS đang sở hữu hoặc chính BĐS định mua hoặc BĐS của bên thứ 3 là cha, mẹ, anh/chị, em ruột, người hôn phối. + Đối với cho vay xây dựng, sửa chữa, nâng cấp nhà làm thay đổi kết cấu nhà khách hàng phải có giấy phép của cơ quan có thẩm quyền cấp theo quy định pháp luật bắt buộc; đồng thời phải có dự toán chi phí xây dựng, sửa chữa nhà và đáp ứng đủ các điều kiện về tài sản hình thành trong tương lai. + Tái tài trợ nhu cầu mua nhà/đất nhưng thời gian sảy ra việc mua nhà/đất đến thời điểm ABBANK xét duyệt cho vay không quá 18 tháng. Việc tái tài trợ xây dựng, sửa chữa, nâng cấp nhà đến thời điểm ABBANK xét duyệt cho vay không quá 12 tháng. + Chưa từng phát sinh nợ nhóm 3 trở đi tại ABBANK và các TCTD khác. Mức cho vay: Phù hợp với yêu cầu vay vốn và khả năng trả nợ của khách hàng tối đa là 90% tổng nhu cầu vốn và không quá 70% tổng giá trị của TSĐB. Phương thức cho vay: Cho vay từng lần. Lãi suất: Theo quy định hiện hành của ngân hàng Thời hạn cho vay: Tối đa là 20 năm tối với vay mua nhà/đất, 10 năm đối với tái mua nhà/đấtt,sửa chữa, nâng cấp nhà đất. Phương pháp thu nợ: Trả góp gốc đều hàng tháng: + Nợ gốc trả đều hàng tháng, ân hạn nợ gốc tối đa không quá 36 tháng. + Lãi trả hàng tháng, tính trên dư nợ thực tế. Trả góp đều hàng tháng (gốc+lãi) – amort (hàng tháng khách hàng sẽ trả một số tiền như nhau): + Nợ gốc trả hàng tháng/quý, không áp dụng ân hạn nợ gốc. + Lãi trả hàng tháng tính trên dư nợ thực tế. Trả theo ¼ thời hạn thời hạn khoản vay. Số tiền trả gốc hàng kỳ tăng dần phù hợp với kỳ vọng và khả năng tăng thu nhập của khách hàng trong tương lai. Cụ thể: + Trong ¼ thời gian đầu của thời hạn khoản vay, khách hàng được ưu đãi trả nợ gốc ở mức tối thiếu 10% giá trị khoảng vay. + Trong ¼ thời gian đầu của thời hạn khoản vay, khách hàng được ưu đãi trả nợ gốc ở mức tối thiếu 20% giá trị khoảng vay. + Trong ¼ thời gian đầu của thời hạn khoản vay, khách hàng được ưu đãi trả nợ gốc ở mức tối thiếu 30% giá trị khoảng vay. + Trong khoản thời gian còn lại đến khi kết thúc khoản vay khách hàng phải trả góp phần nợ gốc còn lại của khoản vay. Trong đó: + Nợ gốc trả đều hàng tháng/quý trong từng ¼ thời hạn khoản vay tương ứng. + Lãi trả hàng tháng, tính trên dư nợ thực tế. + CVQHKH phải thẩm định cụ thể và thuyết minh rõ nguồn thu nhập của khách hàng đủ khả năng trả nợ theo các thời đoạn tiếp theo. + Trường hợp khách hàng trả trước hạn: Phí phạt = 0,1% x số tiền trả trước hạn x số tháng vay còn lại. Nếu trường hợp khách hàng trả phí phạt sớm và lớn hơn 6% x số tiền trả trước hạn: Phí phạt trả trước hạn tối đa = 6% x số tiền trả trước hạn. Hình thức đảm bảo nợ vay: + TSĐB là BĐS có giấy chủ quyền thuộc sỡ hữu hợp lệ của người vay hoặc chính BĐS người vay dự định mua hoặc được bảo lãnh bằng tài sản của người thân (bố mẹ, anh chị em ruột). + TSBBD là BĐS chưa có chủ quền hợp lệ mà Giấy sỡ hữa chỉ dưới dạng hợp đồng mua/bán của chủ đầu tư được ABBANK chấp nhận thì giá trị của TSĐB là giá trị của phòng thẩm định tài sản của ABBANK quy định từng thời kỳ. Phù hợp với yêu cầu vay vốn và khả năng trả nợ của khách hàng tối đa là 90% tổng nhu cầu vốn nhưng không vượt quá 70% giá trị TSĐB. Phân tích hoạt động cho vay phục vụ mục đích xây/sửa nhà tại ngân hàng An Bình – CN Đà Nẵng qua 2 năm 2009 – 2010: Phân tích hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng An Bình qua 2 năm 2009 – 2010. Nếu như năm 2008 việc vay ngân hàng để mua nhà hay sắm xe máy, ô tô là chuyện khó như lên trời thì đến đầu năm 2009 nhu cầu của người tiêu dùng tăng lên, các ngân hàng cũng sẵn sàng bơm vốn vào lĩnh vực này. Hiện nay, cho vay tiêu dùng hiện đang được các ngân hàng đánh giá là sản phẩm chủ đạo của mình. Bảng 4: Hoạt động cho vay tiêu dùng. ĐVT: Triệu đồng Nguồn: Báo cáo về số liệu tín dụng năm 2009; 2010 Qua bảng số liệu trên ta DSCV năm 2009 là 5.726.046 triệu đồng, DSCV năm 2010 là 7.136.372 tăng 177.090 triệu đồng với tốc độ tăng trưởng là24,63%. Trong đó DSCV tiêu dùng năm 2009 là 395.288 triệu đồng, chiếm 0,69% trong tổng DSCV, chỉ chiếm một tỷ tương đối nhỏ trong tổng doanh số cho vay của ngân hàng, sang năm 2010 DSCV tiêu dùng đạt 524.590 triệu đồng với mức tăng 7,35%. Kết quả này có được là nhờ vào quá trình đa dạng hóa danh mục sản phẩm cho vay tiêu dùng như: cho vay phục vụ mục đích xây/sửa nhà, mua ôtô, cho vay du học… cùng các chính sách khuyến mãi, sự nổ lực của ban lãnh đạo, toàn thể nhân viên ngân hàng An Bình – CN Đà Nẵng, ngân hàng đã nắm bắt kịp thời nhu cầu về vốn của các thành phần kinh tế, chủ động tìm kiếm khách hàng mới để cho vay và giữ lại khách hàng truyền thống và mở rộng mạng lưới hoạt động trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Với tốc độ phát triển hiện nay của thành phố, ngân hàng có thể mở rộng cho vay tiêu dùng lên nữa khi thu nhập của người dân trên địa bàn ngày càng tăng. Về doanh số thu nợ năm 2010 đạt 6.717.526 triệu đồng tăng 1.327.552 triệu đồng (tương đương 24,63%) so với năm 2009 trong đó doanh số thu nợ cho vay tiêu dùng năm 2010 đạt 378.061 triệu đồng tăng 140.467 triệu đồng (tương đương 59,12%) năm 2009. Mức tăng doanh số thu nợ tăng biểu hiện hoạt động cho vay của ngân hàng có hiệu quả. Kết quả của công tác thu nợ đạt được là nhờ sự đôn đốc, chỉ đạo của ban giám đốc trong việc giao kế hoạch đến các phòng ban. Vì doanh số thu nợ ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng nên ngân hàng cần tăng cường công tác thu nợ, góp phần giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng. Doanh số cho vay và doanh số thu nợ ản hưởng đến chỉ tiêu dư nợ. Chỉ tiêu dư nợ phản ánh hiệu quả kinh doanh của ngân hàng và luôn đươc ngân hàng quan tâm đến, dư nợ tăng cho thấy hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng được mở rộng. Khách hàng đến vay tiêu dùng chủ yếu dưới hình thức chế chấp nhà đất. Dư nợ cho vay tiêu dùng năm 2010 của ngân hàng đạt 201.005 triệu đồng tăng 77.555 triệu đồng so với năm 2009 (tương đương 62,82%). Mức độ tăng trưởng dư nợ của ngân hàng thể hiện mức độ cạnh tranh của ngân hàng An Bình so với các ngân hàng khác trên địa bàn thành phố. Nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn/dư nợ cũng là các chỉ tiêu mà ngân hàng luôn quan tâm đến. Nợ quá hạn năm và tỷ lệ nợ quá hạn/dư nợ của cho vay tiêu dùng năm 2009 lần lượt là: 288 triệu đồng và 0,23%, năm 2010 nợ quá hạn cho vay tiêu dùng của ngân hàng là 109 triệu đồng giảm 179 triệu đồng so với năm 2009. Phân tích hoạt động cho vay phục vụ mục đích xây/sửa nhà tại Ngân hàng An Bình qua 2 năm 2009 – 2010: Thị trường bất động sản tại Đà Nẵng năm 2009 – 2010: Cuối năm 2008 thị trường bất động sản tại Việt Nam nói chung và tại Đà Nẵng nói riêng đang nằm trong tình trạng đóng băng, người có nhu cầu mua nhà thì không mua được nhà để ở còn người có tiền thì không có nhu cầu thực. Tình trạng này kéo dày đến đầu năm 2009, cho đến khi Chính phủ đưa ra gói kích cầu 1 tỷ USD, hỗ trợ xuất khẩu, hoãn thuế thu nhập, đặc biệt giảm lãi suất cơ bản xuống còn 7%/năm, động thái này đã giúp cho các ngân hàng giảm lãi suất cho vay, giải quyết được lượng vốn huy động đang bị tồn lại do lãi suất cho vay qua cao. Năm 2010 có thế được xem là một năm nở rộ của thị trường BĐS tại Đà Nẵng. Với cơ chế và chính sách thông thoáng của chính quyền thành phố Đà Nẵng, các nhà đầu tư trong và ngoài nước có thể mua BĐS một cách dễ dàng, hơn nữa nền kinh tế Đà Nẵng có những dấu hiệu phục hồi rõ nét và trên đà phát triển đã khiến cho thị trường BĐS tại Đà Nẵng trở nên hấp dẫn hơn trong mắt các nhà đầu từ. Giá BĐS Đà Nẵng còn khá rẻ, cơ sở hạ tầng, môi trường tự nhiên, xã hội tại Đà Nẵng khá tốt. Bên cạnh việc đầu tư cho một TSĐB cho tương lai, BĐS tại Đà Nẵng còn có khả năng sinh lời khi các dịch vụ ăn theo du lịch như: nhà nghỉ, nhà cho thuê, khách sạn, bán hàng lưu niệm đang là định hướng phát triển chính của Đà Nẵng. Nhu cầu xây/sửa nhà tại thành phố Đà Nẵng năm 2009 – 2010: Trái ngược với năm 2008 trở về trước hoạt động cho vay phục vụ cho sinh hoạt hằng ngày của các ngân hàng là sự manh mún, dè chừng, từ năm 2009 hoạt động này dường như trở thanh mối quan tâm hàng đầu của các ngân hàng; bởi đây là kênh đầu tư thiết thực làm tăng mối quan hệ giữa khách hàng với ngân hàng cũng như đem lại lợi nhuận cao cho ngân hàng. Đối với khách hàng, nhu cầu mua đất làm nhà, mua nhà để ở đã xuất hiện từ rất lâu nhưng không phải ai cũng có điều kiện để đáp ứng nhu cầu này ngay khi còn trẻ. Nhưng nay thì khác, không cần tích góp cả đời để có thể xây được một ngôi nhà; những thành phần cá nhân dân cư có nguồn vốn thấp nhưng có nhu cầu mua nhà/đất để ở hoặc sữa chữa nâng cấp nhà cũng được các ngân hàng tạo điều kiện để đáp ứng nhu cầu của mình. Với nổ lực đáp ứng nhu cầu thiết thực của khách hàng, hàng loạt chính sách khuyến mãi quà tặng đươc áp dụng, giảm và hỗ trợ lãi suất được các ngân hàng đua nhau tung ra. Tại ABBank, sản phẩm cho vay phục vụ mục đích xây/sửa nhà, đất cũng đang được áp dụng với nhiều lợi thế cạnh tranh. Khách hàng đến vay mua nhà tại ABBank có thể được đáp ứng tới 90% nhu cầu vốn, thay vì 70% nhu cầu như trước đây. Ngoài ra, khách hàng được ân hạn trả nợ gốc tối đa tới 36 tháng với lãi suất cạnh tranh nhất trên thị trường hiện nay là 12%/năm. Thời gian trả nợ kéo dài tới 20 năm theo phương thức trả góp đều lãi giảm dần hoặc trả theo phương thức góp đều một khoản cố định trong thời gian vay. Ngoài ra, khi vay mua nhà tại ABBank, khách hàng còn được hưởng nhiều ưu đãi như được tặng bảo hiểm nhân thọ cho khách hàng vay vốn. Phân tích hoạt động cho vay phục vụ mục đích xây/sửa nhà tại ngân hàng An Binh – CN Đà Nẵng qua 2 năm 2009 – 2010: Bảng 5: Hoạt động cho vay phục vụ mục đích xây/sửa nhà. ĐVT: triệu đồng Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng năm 2009, 2010 Qua bảng số liệu trên ta thấy hoạt động cho vay phục vụ mục đích xây/sửa nhà chiếm một tỷ trọng lớn trong hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng, chiếm 54,24% trong tổng doanh số cho vay tiêu dùng năm 2009 và chiếm 50,66% trong tổng doanh số cho vay tiêu dùng năm 2010. Đầu năm 2009 thị trường nhà đất tại thành phố Đà Nẵng vẫn còn nằm trong tình trạng ảm đạm, hầu như không có người mua nhưng tại thời điểm này giá nguyên vật liệu và nhân công năm 2009 đang ở mức thấp cộng với chính sách hỗ trợ của ngân hàng, hoạt động cho vay phục vụ mục đích xây/sửa nhà vẫn được diễn đêu đặn, đến 31/12/2009 doanh số cho vay phục vụ mục đích xây/sửa nhà của ngân hàng đạt 214.409 triệu đồng chiếm 54,24% trong tổng doanh số cho vay tiêu dùng của ngân hàng và doanh số cho vay phục vụ mục đích xây/sửa nhà năm 2010 đạt 265.748 triệu đồng tăng 32,71% (tương đương 51.399 triệu đồng) so với năm 2009. Thị trường BĐS đầu năm 2009 vẫn còn nằm trong tình trạng đóng băng khiến cho các doanh nghiệp, nhà đầu tư gặp khó khăn trong việc hoàn trả lãi/gốc cho ngân hàng dẫn đến doanh số thu nợ của ngân hàng trong những tháng đầu năm 2009 thấp, tuy nhiên doanh số này được cải thiện dần trong những tháng cuối năm trong những tháng đầu năm ở mức cao và tỷ lệ này giảm dần đến các tháng cuối năm. Doanh số thu nợ năm 2010 đạt 378.061 triệu đồng tăng 59,12% (tương đương 104.467 triệu) so với năm 2009. Nợ quá hạ và tỷ lệ nợ quá hạn/dư nợ của ngân hàng trong cho vay phục vụ mục đích xây, sửa nhà năm 2010 cũng giảm so với năm 2009 lần lượt là: 29 triệu đồng (tương đương 40,28%) và 0,02% so với năm 2009. Điều này chứng tỏ hiệu quả kinh doanh của ngân hàng cao hơn năm 2009. Phân tích hoạt động cho vay phục vụ mục đích xây/sửa nhà tại ngân hàng An Bình – CN Đà Nẵng qua 2 năm 2009 – 2010 theo hình thức đảm bảo: Ở bất kỳ hoạt động cho vay nào, để đảm bảo cho khả năng thu hồi vốn ngân hàng cũng yêu cầu khách hàng phải đảm bảo cho khoảng vay của mình. Khách hàng có thể đảm bảo bằng cách cầm cố, thế chấp, đảm bảo bằng tài sản hình thành từ vốn vay hay bằng tài sản của bên thứ ba hay đảm bảo bằng uy tín của mình hoặc bên thứ ba. Theo Nghị định 178/1999NĐ-CP nêu rõ: “Tổ chức tín dụng có quyền lựa chọn, quyết định cho vay có đảm bảo bằng tài sản, cho vay có đảm bảo không bằng tài sản theo quy định của nghị định này và chịu trách nhiệm về quyết định của mình…” Hầu hết các NHTM đều có tỉ lệ cho vay có bảo đảm bằng tài sản cao hơn nhiều so với cho vay có bảo đảm không bằng tài sản. Tuy nhiên, cho vay tiêu dùng nói chung, cho vay phục vụ mục đích xây/sửa nhà luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro, để hạn chế các rủi ro đó ngoài việc thẩm định nâng lực tài chính của khách hàng, ngân hàng An Bình chỉ áp dụng hình thức đảm bảo bằng thế chấp tài sản của bên đi vay hoặc bên thứ ba hoặc đảm bảo bằng tài sản hình thành từ vốn vay. Bảng 7: Hoạt động cho vay phục vụ mục đích xây/sửa nhà theo hình thức đảm bảo ĐVT: Triệu đồng Nguồn: Báo cáo về số liệu tín dụng năm 2009; 2010 Đối với hình thức thế chấp: + Thế chấp BĐS từ chính chủ: Doanh số cho vay thế chấp BĐS từ chính chủ tăng 69,75% (tương đương 70.798 triệu đồng), tỷ trọng chiếm 65% trong tổng doanh số cho vay phục vụ mục đích xây/sửa nhà. Hình thức cho vay này được mở rộng qua năm 2010 thể hiện qua dư nợ cho vay thế chấp năm 2010 tăng 20,66% (tương đương 21.4048 triệu đồng). Do năm 2010 thị trường BĐS Đà Nẵng nở rộ, giá BĐS tăng cao. Giá đất tăng lên nên nhũng người có xu hướng vay tiền sẽ có giá trị tài sản cao nên vay được một số tiền lớn hơn. Nợ quá hạn năm 2010 giảm 40% (tương đương 14 triệu) so với năm 2009, tỷ lệ nợ quá hạn/dư nợ giảm 0,02% so với năm 2009. + Thế chấp BĐS từ người thân(bảo lãnh): Bảo lãnh là hình thức bảo đảm có liên quan đến nhiêu đối tượng hơn so với thế chấp. Đối với hình thức này ngoài sự giám sát từ phía ngân hàng còn có sự quan tâm của bên bảo lãnh đối với người được bảo lãnh (bên vay vốn). Trong năm 2010 DSCV đối với hình thức này 32,60% (tương đương 15.386 triệu) so với năm 2009, doanh số dư nợ đạt 54.100 tăng nhẹ 1,99% (tương đương 1.053 triệu đồng) so với năm 2009 nguyên nhân có lẽ do bên bảo lãnh tập trung nguồn vốn vào thị trường BĐS, ngoài ra với tâm lý lo lắng do năm 2010 lãi suất biến động cao khiến họ e dè khi quyết định bảo lãnh cho người khác hay không. Doanh số thu nợ năm 2010 tăng 10,84% (tương đương 4.013 triệu đồng). Điều này cho thấy quá trình thu nợ khách hàng của ngân hàng tương đối tốt, do sự tích cực của cán bộ tín dụng trong việc đôn đốc, nhắc nhở khách hàng trả nợ đúng hạn. Nợ quá hạn và tỷ lên nợ quá hạn/dư nợ cũng giảm so với năm 2009 lần lượt nợ quá hạn giảm 40% (tương đương 8 triệu đồng), tỷ lệ nợ quá hạn/dư nợ giảm 0,02%. Đối với hình thức đảm bảo bằng tài sản hình thành từ vốn vay: DSCV năm 2010 tăng 41,83% (tương đương 27.375 triệu đồng), dư nợ tăng 1,57% (tương đương 1.936 triệu đồng) so với năm 2009. Trong năm 2010 hình thức cho vay đảm bảo bằng tài sản hình thành từ vốn vay được mở rộng hơn. Nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn/dư nợ giảm lần lượt 41,18% (tương đương 7 triệu đồng) và 0,004% so với năm 2009. CHƯƠNG III. MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG CHO VAY PHỤC VỤ MỤC ĐÍCH MUA NHÀ/ĐẤT, XÂY/SỬA NHÀ TẠI NGÂN HÀNG AN BÌNH – CN ĐÀ NẴNG Một số thuận lợi và khó khăn của ngân hàng An Bình – CN Đà Nẵng trong hoạt động cho vay phục vụ mục đích xây/sửa nhà giai đoạn 2009 – 2010 và trong thời gian đến: Thuận lợi của ngân hàng: Đà Nẵng được biết đến với thành phố trẻ năng động, tốc độ phát triển cơ sở hạ thầng diễn ra nhanh chóng đồng bộ và hiện đại, môi trường đầu tư hấp dẫn, tính tiên phong và quyết đoán của lãnh đạo thành phố được đề cao. Bất cứ ai cũng có thể thấy được tất cả các khu phố cũ, nhếch nhác, các khu đất trống đều được phê duyệt quy hoạch tạo ra một diện mạo mới cho thành phố, đây là địa điểm tiền năng cho các hoạt động đầu tư. Chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần của thành phố thông qua việc đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính về đăng ký kinh doanh, tiếp cận đất đai; ban hành các chính sách ưu đãi đầu tư; triển khai các chưong trình hỗ trợ doanh nghiệp, đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh… đã huy động được các nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư, khuyến khích người dân và các thành phần kinh tế tham gia đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh, tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống còn 5%. Đời sống người dân ổn định hơn (thu nhập bình quân năm 2009 là 1.706USD/người), nhu cầu mua nhà/đất để ở cũng được tăng lên theo. Ngân hàng An Bình – CN Đà Nẵng có 08 chi nhánh, PGD tại trung tâm thành phố, nơi người dân cho nhu cầu mua nhà/đất cao. Khó khăn của ngân hàng: Mặc dù ngân hàng chính sách vay nhà/đất với thời hạn vay đến 20 năm, thời gian ân hạn 36 tháng nhưng dư nợ cho vay phục vụ mục đích xây/sửa nhà tại ngân hàng An Bình – CN Đà Nẵng năm 2009 và năm 2010 tương đối thấp. Theo quy đinh tại Thông tư 13 cho vay bất động sản được định nghĩa dựa trên Luật kinh doanh bất động sản, tức mục đích mua bất động sản là để trao đổi, mua bán, tạo ra lợi nhuận. Chính vì vậy, tiêu chí để phân biệt khoản vay với mục đích tiêu dùng hay kinh doanh trước tiên dựa trên số bất động sản đã sở hữu của người đi vay, sau đó sẽ xét đến mục đích vay. Trường hợp người vay chưa sở hữu nhà, có nguồn thu nhập ổn định từ lương thì ngân hàng sẽ xếp vào vay tiêu dùng. Trường hợp đã có một hoặc hai căn nha, ngân hàng sẽ xem xét đến nguồn trả nợ, nếu nguồn trả nợ từ lương vẫn có thể tính là vay tiêu dùng. Ngược lại nguồn trả nợ từ cho thuê nhà hoặc từ việc bán một trong các bất động sản đã sở hữu thì phải tính là vay kinh doanh bất động sản.  Trường hợp người vay đã có từ ba căn nhà trở lên đều phải tính là cho vay bất động sản. Tuy nhiên, với trường hợp người vay chưa có nhà nhưng mua đất nền thì vẫn tính là cho vay bất động sản. Ngược lại, đã có đất mà vay tiền xây nhà thì được tính là vay tiêu dùng vì phục vụ nhu cầu đời sống. Với quy định trên làm cho các ngân hàng khó khăn trong việc xác định xếp loại mua nhà hay mua BĐS. Trong năm 2011 với chủ trương thắt chặt cho vay vào lĩnh vực phi sản xuất của Chính Phủ, do đó mức lãi suất hiện nay với sản phẩm cho vay phục vụ mục đích xây/sửa nhà của các ngân hàng đang khá cao, dao động trong khoảng 20%-22%/năm. Với mức lãi suất này không phải khách hàng nào cũng có thể chấp nhận được, do đó dư nợ đối với cho vay phục vụ mục đích mua nhà của ngân hàng trong năm nay có thể giảm. Định hướng phát triển của ngân hàng An Bình trong năm 2011: Năm 2011 ngân hàng sẽ tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng, nhất là công nghệ thông tin đi theo định hướng phát triển ngân hàng bán lẻ, mở rộng hợp tác với các đối tác để đưa sản phẩm tiện ích đến nhiều người hơn nữa. Một số biện pháp đẩy mạnh hoạt động cho vay phục vụ mục đích mua nhà/đất tại ngân hàng An Bình – CN Đà Nẵng: Nhóm biện pháp chính: Tăng quy mô vốn của ngân hàng: Cho vay phục vụ mục đích xây/sửa nhà/đất là hoạt động cho vay trong dài hạn, thường kéo dài từ 6 năm đến 10 năm, vì vậy giá trị các khoảng vay thường lớn. Do đó để đẩy mạnh hoạt động cho vay phục vụ mục đích xây/sửa nhà/đất ngân hàng cần tăng quy mô vốn, đặc biệt cần phải huy động nguồn vốn trung và dài hạn thì mới có khả năng tăng cho vay phục vụ mục đích xây/sửa nhà/đất – đáp ứng nhu cầu khách hàng. Ngân hàng phải đa dạng hóa hình thức huy đông vốn, tăng cường khả năng huy động từ các sản phẩm tiền gửi, tiền tiết kiệm với nhiều kỳ hạn khác nhau và nâng cao tiện ích cho sản phẩm. Với nhiều kỳ hạn khác nhau sẽ đem lại sự thuận tiện cho khách hàng khi họ chưa xác định được nguồn vốn sẽ sử dụng trong tương lai. Để tăng khă năng huy động của mình, ngân hàng An Bình tiếp tục quá trình đổi mới công nghệ, tránh để những sai sót nhầm lẫn sảy ra làm ảnh hưởng đến lợi ích của người gởi tiền, gây mất uy tín, tạo dư luận không tốt về ngân hàng. Xây dựng cơ chế cho vay linh hoạt: Lãi suất luôn là yếu tố được quan tâm hàng đầu đến việc sử dụng các sản phẩm của ngân hàng, đặc biệt đối với hoạt động cho vay tiêu dùng lãi suất luôn cao hơn so với các sản phẩm khác. Lãi suất là công cụ quan trọng để thu hút khách hàng, vì vậy đối với từng đối tượng khách hàng cần có những chính sách lãi suất phù hợp. Đối với khách hàng truyền thống, có mối quan hệ tốt với ngân hàng cần có mức lãi suất hợp lý. Hoạt động cho vay phục vụ mục đích mua nhà thường có kỳ hạn dài với mức lãi suất cao, do đó ngân hàng cần tặng thêm các tiện ích khác cho khách hàng như bảo hiểm nhà ở. Thời gian vay và hạn mức vay cũng là yếu tố tạo nên sự cạnh tranh cho ngân hàng. Tạo điều kiện vay vốn với thủ tục đơn giản, nhanh chóng. Trong điều kiện hiện nay thì việc chứng minh thu nhập chính xác của khách hàng đến vay mua nhà/đất rất khó khăn bởi việc thanh toán hiện nay vẫn còn được thực hiện chủ yếu bằng tiền mặt, ngân hàng chỉ có thể xác định được khoảng thu nhập chính thức từ lương mà thôi. Vì vậy, ngân hàng nên tạo điều kiện đối với các đối tượng khách hàng có khả năng về tài chính nhưng khó chứng minh chính xác nguồn thu nhập của họ. Nếu ngân hàng chứng minh được khách hàng có việc làm ổn định, có khoản thu nhập phù hợp với quy định vay, có nguồn trả nợ tốt cũng như TSĐB nhưng không có hộ khẩu tại địa bàn mà ngân hàng có chi nhánh, PGD thì ngân hàng nên mở rộng đối tượng cho vay. Nhóm biện pháp hỗ trợ: Đẩy mạnh công tác Marketing ngân hàng: Trong xu thế phát triển nền kinh tế dịch vụ ngày nay, hoạt động marketing, chăm sóc khách hàng có tác động rất quan trọng đến hoạt động phát triển thị trường dịch vụ của ngân hàng, đặc biệt đối với nhóm khách hàng cá nhân. Bởi tâm lý khách hàng cá nhân chịu tác động mạnh của số đông. Tăng cường truyền tải thông tin tới đa số công chúng giúp khách hàng cóp các thông tin nhất quán, hiểu được cơ bản vế các dịch vụ của ngân hàng và lợi ích của sản phẩm dịch vụ ngân hàng. Hoạt động marketing ngân hàng có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức: quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng (đài truyền hình, đài phát thanh, báo chỉ, quảng cáo ngoài trời) hoặc chỉ là gởi thư ngỏ đến khách hàng khi ngân hàng thành lập thêm chi nhánh hay tăng thêm các tiện ích cho sản phẩm. Bên cạnh đó hoạt động chăm sóc khách hàng thường kỳ của ngân hàng cần được chú trọng nhiều hơn: gọi điện thăm hỏi khách hàng, tư vấn kịp thời thông qua điện thoại, website, email hay tại các hòm thư ý kiến của ngân hàng. Tờ rơi hay thư ngỏ của ngân hàng đến khách hàng cần phải giới thiệu ấn tượng về sản phẩm của mình, thiết kê tờ rơi./thư ngỏ phù hợp với đối tượng khách hàng mà ngân hàng hướng đến. Trên website của ngân hàng hiện nay đã có mục giới thiệu về tiện ích của sản phẩm cho vay phục vụ mục đích xây/sửa nhà/đất, các điều kiện vay vốn, hồ sơ cần phải có, bên cạnh đó ngân hàng nên bổ sung thêm mục truyn vấn vào tài khoản của khách hàng vay tiền mua nhà, giúp cho khách hàng có thể theo dõi tình hình trả nợ và chủ động thanh toán nợ gốc và lãi khi đến hạn cho ngân hàng. Không ngừng mở rộng, hiện đại hóa chi nhánh và các phồng giao dịch trên địa bàng thành phố để nâng cao uy tín và hình ảnh của ngân hàng đối với khách hàng. Tuy nhiên, yếu tố con người vẫn quan trọng hơn cả. Ngân hàng cần đào tạo đội ngũ nhân viên chuyên sâu trong lĩnh vực marketing, chủ động tìm kiếm khách hàng, nắm bắt được tâm lý khách hàng. Đội ngũ nhân viên ngân hàng luôn có thái độ phục vụ văn minh, lịch sự, tận tình thể hiện được văn hóa kinh doanh của ngân hàng. Ngân hàng thường xuyên tổ chức các hội nghị khách hàng, gặp gỡ và tiếp xúc với khách hàng, phát phiếu thăm dò ý kiến, thu nhận các ý kiến đánh giá của khách hàng. Từ đó, ngân hàng có thể hiểu rõ hơn nhu cầu, mong muốn của khách hàng đối với ngân hàng, giúp ngân hàng có thể có những biện pháp khắc phục những điểm còn thiếu sót, chưa phù hợp, hoàn thiện sản phẩm hơn và có thể cho ra đời nhiều sản phẩm mới thỏa mãn tối đa nhu cầu của khách hàng, tăng cường mối quan hệ với khách hàng. Ngân hàng cần tổ chức nhiều chương trình khuyến mại, bốc thăm trúng thưởng với những món quà ý nghĩa cho khách hàng, tăng khả năng cho vay của ngân hàng. Ngân hàng An Bình cần tích cực hơn nữa trong việc tham gia các hoạt động xã hội như việc tài trợ cho một giải bóng đá, một chương trình trên truyền hình hay chương trình tư vấn sức khỏe, các hoạt động ủng hộ người nghèo, người tàn tật thì hình ảnh ABbank sẽ thân thiện hơn, có uy tín hơn đối với khách hàng, có thể thu hút một số lượng lớn khách hàng tiềm năng. Những hình thức tài trợ này sẽ đem lại những hiệu quả tích cực. Mở rộng mạng lưới kinh doanh của ngân hàng: Hiện nay ngân hàng chỉ có 08 địa điểm giao dịch trên toàn thành phố; đây dường như còn ít so với các ngân hàng khác cũng như trên mật độ của thành phố. Do đó, khả năng tiếp cận với các đối tượng khách hàng nằm xa trung tâm thành phố còn thấp. Tâm lý của người dân Việt Nam thường tin tưởng vào việc giao dịch ngay tại ngân hàng vì vậy mở rộng mạng lưới hoạt động của ngân hàng trên phạm vi toàn quốc sẽ nâng cao hình ảnh của ngân hàng. Mặt khác trong điều kiện vay vốn của ngân hàng quy định khách hàng vay vốn phải có hộ khẩu thường trú tại nơi ngân hàng có chi nhánh hoặc phòng giao dịch thì việc mở rộng mạng lưới hoạt động sẽ giúp cho thị trường hoạt động của ngân hàng được mở rộng hơn. Ngoài ra ngân hàng cần xác định rõ thị trường mục tiêu ở những nơi có mật độ dân số đông đúc, tốc độ phát triển nhanh thì nhu cầu về nhà/đất sẽ nhiều hơn. Nâng cao trình độ nghiệp vụ, phong cách phục vụ của nhân viên ngân hàng: Dù ngân hàng có thiết bị máy móc hiện đại đến đâu thì máy móc vẫn không thể thay thể con người được, đặc biệt với tâm lý của người dân Việt Nam khi được tiếp xúc với một nhân viên hơn máy móc, đem lại cảm giác thân thiện hơn. Vì vậy, vai trò của nhân viên ngân hàng rất quan trọng không chỉ ở trình độ chuyên môn mà còn ở thái độ làm việc của họ nữa. Nâng cao trình độ chuyên môn, phong cách phục vụ cũng như đạo đức nghề nghiệp không chỉ tạo sự thoải mái cho khách hàng mà còn giúp giữ chân khách hàng và đem đến những khách hàng mới cho ngân hàng nữa. Hiện đại hóa công nghệ của ngân hàng: Không ngừng nâng cao mức độ hiện đại công nghệ phù hợp với tiềm lực tài chính của ngân hàng và đảm bảo phù hợp với xu thế chung của quốc tế. Đây cũng là yếu tố quyết định đến chất lượng của sản phẩm dịch vụ của ngân hàng.. Việc hiện đại hóa công nghệ ngân hàng sẽ tiết kiệm được chi phí về lao động, thời gian cũng như phục vụ khách hàng được tốt hơn. Hệ thống công nghệ thông tin phải đảm bảo thực hiện nhanh chóng, thuận tiện và bảo mật thông tin cho khách hàng. Tăng tính liên kết giữa các sản phẩm của ngân hàng: Tăng tính liên kết giữa các sản phẩm của ngân hàng như cho vay phục vụ mục đích mua nhà với dịch vụ gửi tiền, dịch vụ thanh toán quan tài khoản… sẽ thu hút khách hàng vay tiền và sử dụng thêm các sản phẩm khách cua ngân hàng nữa. LỜI KẾT Mặc dù hoạt động cho vay cho vay tiêu dùng nói chung, cho vay phục vụ mục đích xây/sửa nhà mới nói riêng mới được hình thành và phát triển nhưng do đặc thù của nghiệp vụ này là đáp ứng nhu cầu thiết thực của mọi người nên đây là lĩnh vực đầy tiềm năng phát triển.Cho vay phục vụ mục đích xây/sửa nhà không chỉ giúp cho ngân hàng đa dạng hóa danh mục sản phẩm, tăng mối quan hệ với khách hàng mà còn tăng lợi nhuận của ngân hàng lên nữa. Qua quá trình thực tập và nghiên cứu tại ngân hàng An Bình – CN Đà Nẵng em xin đóng góp một số biện pháp trng chuyên đề này, hy vọng có thể góp một phần nào đó trong việc hoàn thiện hơn nữa nghiệp vụ cho vay phục vụ mục đích xây/sửa nhà tại ngân hàng An Bình – CN Đà Nẵng. Do kiến thức còn hạn chế nên đề tài không tránh những thiếu sót mong các thầy cô góp ý để em có thể hoàn thành đề tài của mình. Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn cô Th.s LÊ PHÚC MINH CHUYÊN cũng như các anh chị tại NHTMCP An Bình – CN Đà Nẵng đã giúp đỡ em hoàn thành đề tài này./. Đà Nẵng, ngày 06 tháng 04 năm 2011 SVTH NGUYỄN THỊ PHÚ LAI TÀI LIỆU THAM KHẢO Nguyễn Thị Tuyên Ngôn (2009). Biến động lãi suất huy động VDN từ năm 2005 đến nay. Phan Thị Thanh Thảo (2008). Giáo trình Nghiệp vụ ngân hàng thương mại. Đại học Duy Tân Các quy định của NHNN. Các báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng An Bình – CN Đà Nẵng trong 02 năm 2009 – 2010. www.anbinhbank.com.vn www.danang.gov.vn LỜI CẢM ƠN Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa Quản Trị Kinh Doanh cũng như các thầy cô giảng dạy trong trường Đại học Duy Tân đã truyền đạt những kiến thức quý báu cho em trong những năm học vừa qua. Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn cô Lê Phúc Minh Chuyên đã tận tình hướng dẫn, động viên và giúp chúng em trong suốt thời gian thực hiện đề tài này. Và để có được kết quả như ngày hôm nay, chúng em rất biết ơn gia đình, đã động viên, khích lệ, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất trong suốt quá trình học tập cũng như quá trình thực hiện đề tài này. Một lần nữa chúng em xin chân thành cảm ơn!

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docbai_hoan_chinh_lai_3502.doc
Luận văn liên quan