Cơ sở xây dựng và nội dung cơ bản của luật việc làm ở Việt Nam

LỜI NÓI ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài: Việc làm và thất nghiệp là vấn đề vừa mang tính kinh tế vừa mang tính xã hội sâu sắc. Vấn đề việc làm và thất nghiệp là một trong những thước đo quan trọng cho sự phát triển của một quốc gia, vì vậy hai vấn đề này luôn được mỗi quốc gia nói riêng và toàn thế giới nói chung quan tâm, coi trọng. Việc làm không chỉ mang lại cho con người cơ hội kiếm sống mà còn mang lại cho con người cơ hội để khẳng định bản thân, tìm kiếm địa vị trong xã hội. Việc làm và thất nghiệp trong những năm qua đã trở thành vấn đề được nhiều ngành nhiều cấp quan tâm, nghiên cứu từ những vấn đề vĩ mô đến các vấn đề vi mô nhất. Việt Nam là một quốc gia có nguồn nhân lực dồi dào, và NLĐ cần cù, thông minh, chăm chỉ là một yếu tố quan trọng để phát triển kinh tế xã hội. Tuy nhiên hiện nay, khi nước ta đang bước vào quá trình hội nhập toàn cầu hóa, khu vực hóa, dưới sức ép của thị trường thì vấn nạn thất nghiệp luôn là mối quan tâm hàng đầu trong cuộc sống mà trong thực tiễn giải quyết việc làm cho người dân vẫn là một khó khăn, đòi hỏi sự hỗ trợ của toàn xã hội, Nhà nước va mỗi người. Việc làm cũng là một chế định quan trọng của luật Lao động, tuy nhiên chưa có một văn bản pháp lý riêng đủ lớn danh cho lĩnh vực này. Vì vậy, pháp luật về việc làm trên thực tế còn nhiều hạn chế và tính thực thi chưa cao. Yêu cầu đặt ra là làm sao tạo nên tính thống nhất, đồng bộ trong pháp luật về việc làm để đáp ứng tốt hơn những đòi hỏi của xã hội. 2. Tình hình nghiên cứu: Xuất phát từ tính quan trọng của vấn đề nghiên cứu mà vấn đề việc làm và giải quyết việc làm đã được nghiên cứu khá nhiều từ cấp nhà nước đến những bài viết trên tạp chí. Các công trình nghiên cứu tiếp cận ở những góc độ khác nhau như kinh tế - xã hội, luật học, tuy nhiên mỗi cách nghiên cứu lại tập trung vào mỗi góc độ khác nhau và phần lớn phục vụ cho lĩnh vực kinh tế xã hội 3. Phương pháp nghiên cứu: Bài khóa luận được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin. Ngoài ra bài viết còn được nghiên cứu dưới nhiều phương pháp cụ thể như: phân tích, tổng hợp, chứng minh, quy nạp, so sánh, thống kê v. v. 4. Mục đích nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu: Bài khóa luận góp phần xây dựng quan điểm lý luận pháp lý chuyên ngành về việc làm và giải quyết việc làm trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nghiên cứu và đánh giá các thông tin về việc làm và giải quyết việc làm trong thời kỳ hội nhập kinh tế thế giới. Với đề tài "Cơ sở xây dựng và nội dung cơ bản của luật việc làm ở Việt Nam" bài viết tập trung nghiên cứu trong phạm vi đường lối, chính sách, pháp luật, thực tiễn áp dụng và giải quyết vấn đề về việc làm ở Việt Nam. Về lý luận bài viết tập trung vào hai vấn đề lớn là cơ sở xây dựng và nội dung của pháp luật về việc làm hiện nay. Về phương diện thực tiễn, bài viết là rõ các vấn đề về thực tiễn pháp luật việc làm cũng như thực tiễn áp dụng, thực tiễn giải quyết vấn đề việc làm trong các giai đoạn lịch sử phát triển. 5. Đóng góp của đề tài: Về mặt lý luận, đề tài nghiên cứu, làm rõ các khác niệm về việc làm và các vấn đề liên quan như thất nghiệp, tầm quan trọng của việc làm, giải quyết việc làm Đề tài cũng đóng góp thêm trong việc hệ thống các kiến thức khoa học về việc làm. Về thực tiễn: đề tài cũng nghiên cứu và cung cấp những số liệu và các thông tin liên quan về việc làm, lực lượng lao động .trong những năm qua. 6. Kết cấu của bài viết: Với đề tài "Cơ sở xây dựng và nội dung cơ bản của luật việc làm ở Việt Nam", ngoài phần lời nói đầu, danh mục tài liệu tham khảo, kết luận, bài viết kết cầu gồm 3 chương: MỤC LỤC Trang A. LỜI NÓI ĐẦU B. NỘI DUNG CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VIỆC LÀM VÀ PHÁP LUẬT VỀ VIỆC LÀM 03 1.1. Khái quát chung về việc làm 03 1.1.1. Khái niệm việc làm 03 1.1.1.1. Dưới góc độ kinh tế-xã hội học 03 1.1.1.2. Dưới góc độ Luật học 04 1.1.1.3. Việc làm trên quan điểm của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) 05 1.1.2. Việc làm và thất nghiệp 06 1.1.3. Phân loại việc làm 07 1.1.4. Đặc điểm của việc làm 09 1.1.5. Mối quan hệ về việc làm với quan hệ pháp luật lao động 10 1.1.6. Vai trò của việc làm và giải quyết việc làm 11 1.2. Pháp luật về việc làm 14 1.2.1. Khái niệm pháp luật về việc làm 14 1.2.2. Đối tượng điều chỉnh của pháp luật việc làm 14 1.2.2.1. Quan hệ việc làm giữa người lao động với người sử dụng lao động 15 1.2.2.2. Quan hệ việc làm giữa nhà nước với người lao động 16 1.2.2.3 Quan hệ việc làm giữa nhà nước với các trung tâm giới thiệu việc làm, các cơ sở dịch vụ việc làm với khách hàng 16 1.2.3. Nguyên tắc áp dụng của pháp luật việc làm 16 1.2.4. Vai trò của pháp luật việc làm 18 CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ VIỆC LÀM Ở VIỆT NAM 20 2.1. Pháp luật về việc làm và giải quyết việc làm trước khi có BLLĐ năm 1994 20 2.1.1. Thời kỳ 1945-1954 20 2.1.2. Thời kỳ 1955-1985 22 2.1.3. Thời kỳ l986 đến trước khi có Bộ luật lao động 1994 24 2.2. Pháp luật về việc làm và giải quyết việc từ khi có BLLĐ năm 1994 và thực tiễn thực hiện 28 2.3. Quy định của pháp luật hiện hành về giải quyết việc làm 31 2.3.1. Quy định của pháp luật việc làm về trách nhiệm của cơ quan Nhà nước 31 2.3.2. Quy định về lập quỹ giải quyết việc làm 33 2.3.3. Quy định về các tổ chức giới thiệu việc làm và hoạt động của các tổ chức giới thiệu việc làm 34 2.3.4. Quy định về học nghề, dạy nghề gắn với việc làm 35 2.3.5. Những quy định về hợp đồng lao động 36 2.3.6. Những quy định về đưa người lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài 37 2.3.7. Quy định về giải quyết việc làm cho những người lao động đặc thù 38 2.3.8. Bảo hiểm thất nghiệp 41 2.4. Đánh giá chung 42 CHƯƠNG III: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ VIỆC LÀM VÀ PHƯƠNG HƯỚNG GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM Ở VIỆT NAM 43 3.1. Sự cần thiết của việc hoàn thiện pháp luật việc làm ở Việt Nam 43 3.1.1. Xuất pháp từ thực trạng dân số và việc làm của nước ta hiện nay 43 3.1.2. Xuất phát từ thực trạng của pháp luật về việc làm ở Việt Nam 48 3.2. Phương hướng cơ bản hoàn thiện pháp luật việc làm 52 3.2.1. Hoàn thiện khung pháp luật về việc làm 52 3.2.2. Nghiên cứu xây dựng Luật việc làm 53 3.2.3. Hoàn thiện Bảo hiểm thất nghiệp 53 3.3. Một số giải pháp nhằm giải quyết hiệu quả việc làm ở Việt Nam 54 3.3.1. Bám sát và thể chế hóa chủ trương, đường lối của đảng về việc làm, giải quyết việc làm 54 3.3.2. Đẩy mạnh xuất khẩu lao động 56 3.3.3. Đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm 56 KẾT LUẬN

doc69 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 09/03/2013 | Lượt xem: 1774 | Lượt tải: 3download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Cơ sở xây dựng và nội dung cơ bản của luật việc làm ở Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
00 1.36 1.34 1.37 3.82 0.60 2001 1.35 1.36 1.35 3.72 0.60 2002 1.32 1.33 1.32 2.84 0.83 2003 1.47 1.42 1.52 4.23 0.55 2004 1.40 1.40 1.40 4.16 0.44 2005 1.31 1.33 1.29 2.76 0.79 2006 1.24 1.25 1.23 2.04 0.95 2007 1.23 1.24 1.22 2.66 0.70 Sơ bộ 2008 1.22 1.23 1.21 3.57 0.33 Cơ cấu - % 1990 100.00 48.78 51.22 19.51 80.49 1991 100.00 48.80 51.20 19.67 80.33 1992 100.00 48.83 51.17 19.85 80.15 1993 100.00 48.86 51.14 20.05 79.95 1994 100.00 48.90 51.10 20.37 79.63 1995 100.00 48.94 51.06 20.75 79.25 1996 100.00 49.01 50.99 21.08 78.92 1997 100.00 49.08 50.92 22.66 77.34 1998 100.00 49.15 50.85 23.15 76.85 1999 100.00 49.17 50.83 23.61 76.39 2000 100.00 49.16 50.84 24.18 75.82 2001 100.00 49.16 50.84 24.74 75.26 2002 100.00 49.16 50.84 25.11 74.89 2003 100.00 49.14 50.86 25.80 74.20 2004 100.00 49.14 50.86 26.50 73.50 2005 100.00 49.15 50.85 26.88 73.12 2006 100.00 49.15 50.85 27.09 72.91 2007 100.00 49.16 50.84 27.47 72.53 Sơ bộ 2008 100.00 49.16 50.84 28.11 71.89 Nguồn: Tổng cục thống kê (www.gso.gov.vn) Điều tra lao động việc làm Về thực trạng việc làm, có thể nói rằng hiện nay Việt Nam đang cố gắng tạo được nhiều việc làm nhất cho người lao động. Hàng năm, trung bình số người bước vào độ tuổi lao động vào khoảng con số 1,1 triệu lao động, với số lượng lao động toàn xã hội chiếm từ 50% dân số cả nước. Bảng số liệu về số lao động đang làm việc ở nước ta trong giai đoạn 2001 -2008. Nghìn người 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 Sơ bộ 2008  Tổng số 38562.7 39507.7 40573.8 41586.3 42526.9 43338.9 44173.8 44915.8 Nguồn: Tổng cục thống kê (www.gso.gov.vn) Điều tra lao động việc làm Bộ trưởng Bộ LĐ-TB&XH đã có quyết định thông qua chương trình công tác lĩnh vực lao động, người có công và xã hội năm 2010.Theo đó, ở lĩnh vực giải quyết việc làm, trong năm 2010 phấn đấu tạo việc làm cho hơn 1,5 triệu lao động.Ở lĩnh vực xuất khẩu lao động, phấn đấu đưa 85.000 người đi làm việc ở nước ngoài. Chủ trương Bộ LĐ-TB&XH đặt ra là theo sát diễn biến thị trường nước ngoài để kịp thời đề xuất các giải pháp nhằm ổn định và phát triển thị trường; tăng cường đưa lao động sang các thị trường mới có thu nhập cao; đẩy mạnh tuyên truyền về chính sách, chế độ, điều kiện, quy trình tuyển chọn; thông tin đầy đủ về điều kiện lao động, thu nhập và sinh hoạt của người lao động; thực hiện các biện pháp công khai, minh bạch, giảm tối đa các khâu trung gian, hạn chế tiêu cực, lừa đảo xuất khẩu lao động. Mục tiêu đặt ra cho dạy nghề trong năm 2010 là tuyển mới dạy nghề hơn 1,7 triệu người, trong đó trung cấp nghề và cao đẳng nghề là 360.400 người; nâng tỉ lệ lao động qua đào tạo nghề lên 30%. Trong khi đó tỷ lệ thất nghiệp hiện nay là: Bảng số liệu tỉ lệ thất nghiệp của lực lượng lao động trong độ tuổi ở khu vực thành thị phân theo vùng từ năm 1996 đến năm 2007: % 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 Cả nước 5.88 6.01 6.85 6.74 6.42 6.28 6.01 5.78 5.60 5.31 4.82 4.64 A. Phân theo vùng Đồng bằng sông Hồng 7.57 7.56 8.25 8.00 7.34 7.07 6.64 6.38 6.03 5.61 6.42 5.74 Đông Bắc 6.42 6.34 6.60 6.95 6.49 6.73 6.10 5.93 5.41 5.07 4 3.85 Tây Bắc 4.73 5.92 5.87 6.02 5.62 5.11 5.19 Bắc Trung Bộ 6.96 6.68 7.26 7.15 6.87 6.72 5.82 5.45 5.56 5.20 5.50 4.95 Duyên hải Nam Trung Bộ 5.57 5.42 6.67 6.55 6.31 6.16 5.50 5.46 Tây Nguyên 4.24 4.99 5.88 5.40 5.16 5.55 4.90 4.39 4.53 4.23 2.38 2.11 Đông Nam Bộ 5.43 5.89 6.44 6.33 6.16 5.92 6.30 6.08 5.92 5.62 5.47 4.83 Đồng bằng sông Cửu Long 4.73 4.72 6.35 6.40 6.15 6.08 5.50 5.26 5.03 4.87 4.52 4.03  B. Một số thành phố lớn Hà Nội 7.71 8.56 9.09 8.96 7.95 7.39 7.08 6.84 Đà Nẵng 5.53 5.42 6.35 6.04 5.95 5.54 5.30 5.16 TP. Hồ Chí Minh 5.68 6.13 6.76 6.88 6.48 6.04 6.73 6.58 Đồng Nai 4.61 4.03 5.52 5.65 4.75 5.14 5.27 4.86 Nguồn: Tổng cục thống kê (www.gso.gov.vn) Điều tra lao động việc làm Như vậy, qua bảng số liệu, chúng ta có thể thấy rằng: tỉ lệ thất nghiệp của nước ta hiện nay là tương đối lớn, mặc dù có xu hướng giảm dần về tỉ lệ `nhưng con số tuyệt đối về thất nghiệp vẫn không giảm và vấn đề thất nghiệp vẫn là một vấn nạn của nước ta cần giải quyết. Tỉ lệ thất nghiệp tồn đọng qua các năm vẫn còn lớn (vào khoảng từ 1 đến 1,5 triệu lao động), tỉ lệ thất nghiệp ở thành thị cao ( khoảng 5-7 %), ở nông thôn, tỉ lệ thất nghiệp tuy không lớn bằng thành thị nhưng tỉ lệ thiếu việc làm lại rất cao (vào khoảng 6-7%). Ngoài ra, trong tình hình kinh tế toàn cầu suy thoái như hiện nay, với mức sụt giảm GDP của Việt Nam gần 2% thì tỉ lệ người thất nghiệp trong năm 2009 có thể tăng ở mức 0,65%, tức là khoảng 3 triệu người. Việt Nam hiện có trên 9 triệu lao động chính thức và gần 36 triệu lao động phi chính thức (khu vực nông thôn). Điều này tạo nên một dòng di chuyển lao động rất lớn từ nông thôn ra thành thị tìm kiếm việc làm, làm cho tình trạng thất nghiệp càng trầm trọng và sự phân bố lao động giữa các vùng càng không không đều: Tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ thiếu việc làm của lực lượng lao động trong độ tuổi lao động phân theo vùng năm 2008 : % Tỷ lệ thất nghiệp Tỷ lệ thiếu việc làm Chung Thành thị Nông thôn Chung Thành thị Nông thôn CẢ NƯỚC 2.38 4.65 1.53 5.10 2.34 6.10 Đồng bằng sông Hồng 2.29 5.35 1.29 6.85 2.13 8.23 Trung du và miền núi phía Bắc 1.13 4.17 0.61 2.55 2.47 2.56 Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung 2.24 4.77 1.53 5.71 3.38 6.34 Tây Nguyên 1.42 2.51 1.00 5.12 3.72 5.65 Đông Nam Bộ 3.74 4.89 2.05 2.13 1.03 3.69 Đồng bằng sông Cửu Long 2.71 4.12 2.35 6.39 3.59 7.11 Nguồn: Tổng cục thống kê (www.gso.gov.vn) Điều tra lao động việc làm Về trình độ văn hóa, dân cư nước ta đã có những tiến bộ vượt bậc sau chiến tranh, nếu năm 1945, nước ta có trên 90% dân số mù chữ thì hiện nay, số dân mù chữ chỉ chiếm khoảng 2%, số người trến 10 tuổi biết đọc biết viết ở Việt Nam chiếm một tỉ trọng lớn (94%) vào hàng đầu thế giới (theo số liệu thống kê về số người trên 10 tuổi biết đọc, biết viết năm 2008), riêng số lượng lao động biết chữ chiếm khoảng 97% tổng lực lượng lao động. Tổng số lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật tăng rất nhanh nhờ vào các chính sách khuyến học và dạo tạo nghề của Nhà nước: số lao động có trình độ đại học trở lên chiếm 4,2%, cao đẳng là 1.5% (2008) và rất nhiều người lao động đã qua trung tâm đào tạo. Mặc dù trình độ lao động đã được cải thiện đáng kể nhưng có một thực tế đang tồn tại ở nước ta là số người lao động chưa có việc làm là rất lớn, các sinh viên ra trường rất đông, nhưng các doanh nghiệp luôn trong tình trạng thiếu nhân lực, hiện nay ở nước ta có đến trên 50% các doanh nghiệp thiếu nhân công. Nguyên nhân là chính là do trình độ của lao động Việt Nam vẫn chưa đáp ứng đủ các yêu cầu đặt ra trong nền kinh tế thị trường, đặc biêt khi nước ta đang tiến hành mở của nền kinh tế để hội nhập với thế giới. Nhờ thực hiện các chính sách việc làm đổi mới, phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần không những tạo ra nguồn cơ hội làm việc đa dạng cho người lao động mà còn thay đổi đáng kể trong cơ cầu phân bố lại nguồn lao động giữa các khu vực kinh tế và thành phần kinh tế. Hiện nay, nguồn lao động làm việc trong các cơ quan nhà nước có xu hướng giảm dần và sự thu hút của các doanh nghiệp, cơ sở ngoài nhà nước ngày càng nhiều. Tại thời kỳ nền kinh tế tập trung bao cấp, người lao động được coi là có việc làm chỉ khi làm việc trong bộ máy nhà nước, nhưng sau quá trình đổi mới năm 1986, nước ta đã có nguồn lao động phong phú trong các thành phần kinh tế, hiện nay chỉ có khoảng 25% lao động làm việc trọng thành phần kinh tế nhà nước. Ngoài ra cũng có sự dịch chuyển đáng kể từ thành việc làm nông nghiệp, thủ công nghiệp sang ngành công nghiệp và dịch vụ. Tuy nhiên, trong nông nghiệp, sức lao động vẫn chưa được sử dụng một cách hiệu quả, còn nhiều lãng phí, một người lao động trong lĩnh vực nông nghiệp hiện nay chỉ sử dụng khoảng 70% sức lao động và thời gian lao động (năm 1997 là 73,14; năm 1998 là 71,13; năm 1999 là 73,56; năm 2000 là 74,19). Đây là hiện tượng dôi thừa lao động, đặc biệt là vào thời kỳ nông nhàn, nông dân không có việc làm. Tóm lại: nguồn lao động của nước ta rất rồi dào, có nhiều phẩm chất quý giá, tuy nhiên, số lao động thất nghiệp và thiếu việc làm rất lớn, sự phân bố lao động không đồng đều giữa các vùng kinh tế. Nguồn lao động vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của thời đại, trình độ còn non kém đòi hỏi phải thường xuyên nâng cao tay nghề để đáp ứng được với thời đại mới. Tỉ lệ thất nghiệp ở thành thị rất cao, khoảng 5-7%, lao động thiếu việc làm ở nông thôn rất nghiêm trọng. Năng suất lao động lại rất thấp: Theo bảng số liệu về năng suất lao động xã hội, tổng sản phẩm trong nước/giá trị tăng thêm trên thực tế bình quân 1 lao động đang làm việc: Triệu đồng/người 2000 2004 2005 2006 2007 Sơ bộ 2008 Tổng 11.7 17.2 19.7 22.5 25.9 32.9 Nguồn: Tổng cục thống kê (www.gso.gov.vn) Điều tra lao động việc làm Tiền lương còn thấp hơn so với yêu cầu cuộc sống nhưng tốc độ tăng tiền lương lại cao hơn tốc độ tăng năng suất lao động. Năng lực hoạch định chính sách còn bộc lộ nhiều yếu kém, các chính sách thiếu đồng bộ, các chính sách tiêu dùng vẫn còn nhiều hạn chế... 3.1.2. Xuất phát từ thực trạng của pháp luật về việc làm ở Việt Nam: Pháp luật về việc làm hiện nay của nước ta cũng là một trong những nguyên nhân buộc phải có những thay đổi nhất định để phù hợp với yêu cầu thực tế. * Về các thành tựu đạt được: BLLĐ 1994 ra đời và sau 3 lần sửa đổi là một sự kiện pháp lý quan trọng trong lịch sử pháp luật lao động nước ta. Cùng với các văn bản pháp luật về việc làm khác, BLLĐ đã tạo nên một khung pháp lý cho quan hệ việc làm hình thành, duy trì và phát triển. Thứ nhất, pháp luật về việc làm đã tạo nên khung pháp lý về việc làm trong cơ chế thị trường khá hoàn chỉnh. Cùng với các văn bản pháp luật khác liên quan như: Luật Công đoàn, Luật Đầu tư, Luật giáo dục, Luật Doanh nghiệp... đã hình thành một hệ thống các quy định việc làm, giải quyết việc làm khá hoàn chỉnh trên cả hai phương diện là phát triển kinh tế - xã hội nhằm tạo việc làm mới, duy trì việc làm cho người lao động. Thứ hai, pháp luật việc làm hiện nay đã xóa bỏ, khắc phục các quy định pháp luật việc làm trong cơ chế tập trung bao cấp, tiếp cận nền kinh tế thị trường trên lĩnh vực việc làm. Pháp luật về việc làm hiện nay đã không những thừa nhận quyền lao động của công dân mà còn thừa nhận quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp của công dân trong nhiều thành phần kinh tế xã hội khác nhau, quy định trách nhiệm của Nhà nước phối hợp với toàn xã hội trong lĩnh vực giải quyết việc làm. Tạo điều kiện cho người lao động chủ động, sáng tạo trong công việc của mình, xóa bỏ tâm lý thụ động, dựa dẫm vào nhà nước. Thứ ba, pháp luật về việc làm của Việt Nam dần phản ánh những tiêu chuẩn và thông lệ quốc tế. Những quan niệm về việc làm, nội dung về hợp đồng việc làm, nguyên tắc về việc làm, giải quyết việc làm...hầu như phù hợp với các thông lệ quốc tế, tạo điều kiện cho nền kinh tế Việt Nam nói riêng và vấn đề giải quyết việc làm nói chung mang tính quốc tế. Thứ tư, việc áp dụng pháp luật việc làm trong thời gian qua đã có tính khả thi cao, đạt được nhiều thành quả quan trọng trong các chương trình việc làm quốc gia, quỹ quốc gia... Trong những năm gần đây, số lượng việc làm mới được tạo ra ngày càng tăng nhanh (hiện nay vào khoảng 1,4 triệu chỗ/năm). Đặc biệt, khi nền kinh tế thế giới trong năm vừa qua đã bị khủng hoảng ở rất nhiều quốc gia trên thế giới, thì Việt Nam tuy có bị ảnh hưởng nhưng vẫn giữ được tính ổn định nhất định trong nền kinh tế quốc gia nói chung và vấn đề việc làm nói riêng. Thứ năm, xây dựng và áp dụng khá thành công Bảo hiểm thất nghiệp. Đến nay, đã có 7.858 lao động đăng ký hưởng trợ cấp thất nghiệp. Số lượng hồ sơ đề nghị được hưởng là gần 4.000, trong đó có trên 2.000 hồ sơ đã được giải quyết nhận trợ cấp. Điều này đã tạo cơ hội cho người lao động đảm bảo mức sinh hoạt tối thiểu trong thời gian tìm việc làm mới. * Những tồn tại, nhược điểm trong pháp luật về việc làm. Bộ luật Lao động đã tạo hành lang pháp lý quan trọng, điều chỉnh một cách hài hòa, ổn định mối quan hệ lao động giữa người sử dụng lao động và người lao động, góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất và đời sống xã hội. Tuy nhiên, trước bối cảnh nền kinh tế và xã hội phát triển nhanh, nhất là từ khi Việt Nam gia nhập WTO, một số quy định trong BLLĐ đã bộc lộ những bất cập cần sửa đổi, bổ sung nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia vào quan hệ lao động nói chung và việc làm nói riêng. Thứ nhất, pháp luật về việc làm còn tản mạn, sơ sài, thiếu nội dung, chưa bao quát hết các vấn đề việc làm, hay nói cách khác, khung pháp lý về việc làm còn thiếu hệ thống và thiếu sự đồng bộ. Nhiều quy định của pháp luật còn nhiều bất cập như thất nghiệp, bảo hiểm thất nghiệp, quảng cáo, hội chợ việc làm tuyển lao động, hội chợ việc làm... Trong bản thân các quy định về việc làm hiện hành cũng còn nhiều vấn đề chưa được cụ thể, đồng bộ, chồng chéo giữa các văn bản pháp luật như: Theo tinh thần của BLLĐ và Luật Dạy nghề 2006, trường hợp người học nghề, tập nghề được doanh nghiệp tổ chức dạy nghề không thu phí học nghề, nếu đã ký hợp đồng lao động và cam kết làm việc cho doanh nghiệp theo một thời hạn nhất định mà không làm việc hoặc chấm dứt hợp đồng trước thời hạn cam kết làm việc cho doanh nghiệp thì phải bồi thường chi phí dạy nghề (theo Điều 24, BLLĐ, Điều 37 Luật Dạy nghề 2006). Tinh thần của BLLĐ và Luật Dạy nghề là vậy, nhưng Nghị định số 44/2003/NĐ-CP do Chính phủ ban hành đã loại trừ một số trường hợp, đó là khi người lao động chấm dứt hợp đồng lao động đúng và đủ theo các quy định tại Điều 37 BLLĐ thì không phải bồi hoàn chi phí đào tạo. Tuy nhiên, một số người lao động đã căn cứ vào lỗ hổng của pháp luật lao động hiện hành, đã đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không xác định thời hạn của mình theo đúng quy định của pháp luật, không thực hiện cam kết làm việc cho doanh nghiệp trong một thời hạn như đã thỏa thuận. Một trường hợp nữa là: hiện nay Bảo hiểm thất nghiệp đã được tiến hành từ ngày 1/1/2009, nhưng sau một thời gian thực hiện đã bộc lộ những bất cập nhất định mà trước hết là thủ tục chi trả bảo hiểm và quản lý lao động. Theo các quy định về bảo hiểm thất nghiệp, một số thủ tục hiện nay khá vòng vo, khiến nhân viên hướng dẫn hồ sơ phải mất nhiều thời gian giải thích cho người lao động hiểu rõ. Điều này khiến cho nhiều lao động phải đi lại nhiều lần và một số điểm tiếp nhận hồ sơ bị quá tải. Người lao động có 7 ngày để đăng ký mất việc, và trong vòng 15 ngày kể từ ngày đăng ký phải hoàn tất hồ sơ. Đúng theo luật thì từ ngày 16 trở đi người lao động chính thức được hưởng bảo hiểm thất nghiệp. Nhưng thực tế, để có thể hoàn tất việc xét duyệt, cơ quan lao động cần thêm 5 ngày. Như vậy, đến ngày 20 sau khi đăng ký, người lao động sẽ được hưởng khoản tiền này. Theo quy định, người lao động chỉ được hưởng trợ cấp nếu thời gian mất việc là từ 15 ngày trở lên; tức là sau khi có quyết định thôi việc, trong thời gian 15 ngày, người lao động chưa tìm được việc làm mới thì sẽ được hưởng trợ cấp thất nghiệp. Vì vậy, người lao động sau khi đã đăng ký mất việc, nhưng trong 15 ngày tiếp theo đã tìm được việc làm mới và có hợp đồng thử việc thì xem như không đủ điều kiện để hưởng trợ cấp thất nghiệp. Điều này cũng phát sinh trường hợp nhiều lao động xin doanh nghiệp mới chậm ký hợp đồng lao động để được hưởng trợ cấp; cũng có nhiều công ty chỉ ký hợp đồng sau khi thử việc 1 tháng, nên có tình trạng người lao động đã có việc làm mới vẫn được nhận trợ cấp. Đây là điều bất cập, bởi vì giấy tờ vẫn là hợp lệ nên không thể ngưng chi trả trợ cấp cho người lao động được. Thêm khó khăn nữa cho người lao động là một số doanh nghiệp không phổ biến về khoản trợ cấp này cho người lao động, nên nhiều người khi biết thì đã quá hạn đăng ký. Để giải quyết, người lao động phải giải trình và có sự xác nhận của doanh nghiệp mà trên thực tế không phải doanh nghiệp nào cũng chấp thuận giải quyết. Bên cạnh đó, nhiều người lao động khi làm thủ tục đăng ký mất việc mới rõ là doanh nghiệp không đóng bất cứ khoản bảo hiểm nào cho họ. Do đó, quyền lợi của họ là không hề có. Ngoài ra, một số doanh nghiệp còn nợ đọng bảo hiểm xã hội, khiến cho cơ quan bảo hiểm không chốt sổ được, cũng ảnh hưởng nhiều đến việc nhận trợ cấp thất nghiệp của người lao động. Thứ hai, nhiều quy định của pháp luật việc làm thiếu tính khả thi, hiệu lực thực tế chưa cao, người dân khó hiểu và không thể áp dụng vào đời sống lao động, một số quy định chủ yếu mang tính tượng trưng khẩu hiệu do nặng về chính sách ưu đãi, ví dụ: hàng năm, Chính phủ trình Quốc hội chương trình và quỹ làm việc quốc gia. Tuy nhiên, đối với chương trình việc làm, Chính phủ thì phân lớn đưa ra các chỉ tiêu cho giai đoạn sắp tới, còn với quỹ việc làm thì Chính phủ lại trình Quốc hội số kinh phí dành cho quỹ dự toán chi ngân sách hàng năm và quy định số kinh phí ngân sách nhà nước dành cho quỹ quốc gia về việc làm trong tổng ngân sách dành cho thực hiện nhiệm vụ của ngành lao động, thương binh, xã hội. Như vậy, chương trình và quỹ việc làm quốc gia chưa phát huy hết ý nghĩa của nó và chưa thực sự phù hợp với thực tiễn. Ngoài ra, các quy định dành cho các đối tượng lao động đặc thù còn thiếu tính khả thi. Mặc dù pháp luật đã có những quy định cụ thể cho từng đối tượng này trong việc ưu tiên và bình đẳng trong công việc, tuy nhiên, trong thực tế, sự bình đẳng giữa nam và nữ vẫn chỉ là mang tính hình thức, nặng về chính sách. Thứ ba, pháp luật về việc làm mới chỉ đề cập đến mục tiêu số lượng việc làm được tạo ra chứ chưa thật sự chú trọng đến mặt chất lượng việc làm. Đây là một thực trạng xuất phát từ các đặc điểm dân số Việt Nam ở mục 3.1.1 nên việc cần giải quyết đầu tiên là tạo ra nhiều việc làm cho người lao động, chống lại tình trạng thất nghiệp. Mặc dù nhà nước có nhiều quy định để đào tạo người lao động nhưng chất lượng người lao động vẫn còn rất thấp, người lao động vẫn chưa bắt kịp với nền kinh tế thị trường với tác phong công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Có thể kết luận rằng: Các quy định của pháp luật hiện hành có những tác động to lớn, tích cực trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực việc làm và giải quyết việc làm. Về cơ bản, các quy định của pháp luật phù hợp với tình hình và yêu cầu của quan hệ việc làm trong nền kinh tế thị trường, tạo ra hành lang pháp lý quan trọng để cho các mối quan hệ phát triển, ổn định và lành mạnh. Tuy nhiên pháp luật về việc làm của nước ta còn nhiều bất cập cần giải quyết để hoàn thiện hơn. 3.2. Phương hướng cơ bản hoàn thiện pháp luật việc làm: Phương hướng giải quyết việc làm là những phương diện cơ bản cần quán triệt nhằm thực hiện các hoạt động một cách tổng thể có hiệu quả vấn đề việc làm. 3.2.1. Hoàn thiện khung pháp luật về việc làm: Như đã phân tích ở mục 3.1 thì khung pháp lý việc làm ở Việt Nam cần có những thay đổi nhất định để hoàn thiện hơn, hợp lý hơn, tạo ra mặt bằng pháp luật thông thoáng, có cơ sở chắc chắn để các chủ thể thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình trong vấn đề việc làm. Nhà nước cần tạo sự thống nhất, đồng bộ trong hệ thống các văn bản pháp luật về việc làm từ Hiến pháp đến các văn bản khác; đồng thời hoàn thiện chế định về việc làm trong pháp luật lao động. Về BLLĐ, cần sửa đổi, bổ sung về chương trình và quỹ việc làm cho phù hợp. Bởi lẽ, theo quy định hiện hành, hàng năm Chính phủ trình quốc hội quyết định chương trình và quỹ quốc gia về việc làm. Đây là một quy định chưa thực sự phù hợp với thực tiễn, thiếu tính khả thi. Bởi lẽ hiện tại, thông thường Chính phủ và UBND cấp tỉnh chủ yếu đưa ra các chỉ tiêu về việc làm trong một năm và cố gắng thực hiện các chỉ tiêu đó, việc trình lên chương trình và quỹ quốc gia hàng năm về việc làm đôi khi mang tính hình thức nên chưa thực sự đạt kết quả cao. Môt vấn đề nữa là chưa có cơ chế quan lý quỹ việc làm quốc gia, điều này cũng khiến cho quỹ về việc làm chưa được thực hiện có hiệu quả vì vậy cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung quy định của pháp luật về chương trình và quỹ việc làm cho phù hợp với tình hình hiện nay. Đối với người lao động đặc thù, mà điển hình là người lao động nữ, các quy định của pháp luật nên sửa đổi các quy định mang tính hình thức trong việc ưu tiên các lao động nữ. 3.2.2. Nghiên cứu xây dựng Luật việc làm: Việc làm là một trong những mối quan tâm hàng đầu của nước ta trong nhiều năm nay, có tầm quan trọng đối với quan hệ lao động, đối với thị trường lao động, vừa nang tính toàn quốc, vừa mang tính toàn cầu. Trong hệ thống pháp luật về việc làm, từ BLLĐ đến các văn bản pháp luật về việc làm khác, vấn đề việc làm luôn là trọng tâm và được đề cập đến nhiều nhất, hơn nữa như phân tích ở phần trên thì pháp luật việc làm còn nhiều tản mạn, chồng chéo ở nhiều văn bản nên cần thiết phải có một văn bản quy định riêng về việc làm, đó là Luật việc làm. Luật việc làm ra đời có thể khắc phục được những bất cập trên, sẽ bao quát được các nội dung, thể hiện được các cơ chế pháp lý như quan niệm về việc làm, thất nghiệp, các biện pháp pháp lý nhằm giải quyết việc làm, trách nhiệm của Nhà nước, trách nhiệm của người lao động, người sử dụng lao động.... 3.2.3. Hoàn thiện Bảo hiểm thất nghiệp: Thất nghiệp là một hiện tượng kinh tế - xã hội nghiêm trọng có tính toàn cầu, ảnh hưởng nghiêm trọng đến mọi lĩnh vực, gây ra hậu quả xấu đối với nền kinh tế và tác động tiêu cực đến người lao động. Vì vây, chống thất nghiệp là nhiệm vụ của không chỉ là đối với từng quốc gia mà đối với quốc tế. Phần lớn các quốc gia đều xây dựng cơ chế bảo hiểm thất nghiệp. Trước đây, trong hệ thống pháp luật Việt Nam mới chỉ có một số các quy định về việc trợ cấp mất việc làm. Như đã phân tích ở trên, loại chi trả này chủ yếu do doanh nghiệp, người sử dụng lao động chịu, người lao động và Nhà nước hầu như không có nghĩa vụ. Đây là một bất cập lớn: trong khi số người thất nghiệp vẫn còn rất lớn thì bản thân doanh nghiệp, người sử dụng lao động không thể gánh chịu trách nhiệm này, còn bản thân người lao động, là quyền lợi của chính bản thân lại không tham gia. Điều đó đòi hỏi cần có một cơ chế mới cho vấn đề này như là một loại bảo hiểm do cả người sử dụng lao động và người lao động cùng có trách nhiệm. Như vậy, sẽ làm cho quyền lợi người lao động được đảm bảo và người sử dụng lao động cũng không phải rơi vào tình trạng trì trệ kéo dài thời gian chi trả bảo hiểm. Đáp ứng nhu cầu đó, Bảo hiểm thất nghiệp đã được triển khai từ ngày 1/1/2009. Nhưng chỉ mới sau một thời gian thực hiện, bảo hiểm thất nghiệp đã bộc lộ những bất cập như đã phân tích ở mục 3.1.2 vì vậy, cần có những biện pháp cụ thể để giải quyết những bất cập này như là: cần có sự phối hợp giữa cơ quan lao động, cơ quan bảo hiểm xã hội, doanh nghiệp, và bản thân người lao động. Việc đưa ra các hình phạt để răn đe doanh nghiệp là điều cần thiết, nên cơ quan lao động cần thực hiện nghiêm. Bên cạnh đó, cơ quan bảo hiểm xã hội cũng cần đẩy nhanh quá trình khởi kiện doanh nghiệp không nộp bảo hiểm xã hội để quyền lợi người lao động không bị ảnh hưởng, đơn giản hóa thử tục đăng ký hưởng bảo hiểm thất nghiệp để bảo đảm quyền lợi cho người lao động. 3.3. Một số giải pháp nhằm giải quyết hiệu quả việc làm ở Việt Nam: Bên cạnh những phương hướng hoàn thiện pháp luật về việc làm, để giải quyết hiệu quả các vấn đề về việc làm mà cụ thể là tạo thêm nhiều việc làm mới, giảm tỷ lệ thất nghiệp thì cần thực hiện một số biện pháp cụ thể vừa mang tính pháp lý, vừa mang tính kinh tế-xã hội sau: 3.3.1. Bám sát và thể chế hóa chủ trương, đường lối của đảng về việc làm, giải quyết việc làm: Theo từng giai đoạn, Nhà nước đưa ra các Chương trình quốc gia về việc làm, Các chương trình này cũng là một hình thức nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết việc làm, là mục tiêu chung cho phát triển kinh tế, xã hội. Trong thời gian tới, các chương trình quốc gia về việc làm vẫn là một giải pháp hữu hiệu nhưng cần có nhưng chính sách, cơ chê cho phù hợp với từng giai đoạn, thời kỳ và đáp ứng nhu cầu hiện tại. Với những khó khăn về tốc độ dân số tăng cao trên 1%/năm, hàng năm trên 1 triệu người bước vào tuổi lao động; thị trường lao động phát triển không đồng đều; có tới 60- 70% là lao động phổ thông; hệ thống các kênh giao dịch việc làm gián tiếp còn hạn chế,... đã gây ảnh hưởng không nhỏ tới khả năng tạo việc làm trong giai đoạn 2006-2010. Do vậy, Chương trình mục tiêu Quốc gia về việc làm đến năm 2010 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt nhằm giải quyết việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động đề có cơ hội có việc làm, góp phần nâng cao năng khả năng cạnh tranh của nền kinh tế. Mục tiêu chung của Chương trình mục tiêu Quốc gia về việc làm đến năm 2010 là góp phần bảo đảm việc làm cho khoảng 49,5 triệu lao động, tạo việc làm mới cho 8 triệu lao động trong 5 năm (2006-2010) và giảm tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị xuống 5% vào năm 2010. Trong đó, mục tiêu cụ thể đến năm 2010 sẽ tạo việc làm cho 2- 2,2 triệu lao động thông qua Chương trình mục tiêu Quốc gia về việc làm đến năm 2010, trong đó tạo việc làm trong nước cho 1,7- 1,8 triệu lao động theo các dự án vay vốn tạo việc làm từ Quỹ quốc gia về việc làm và tạo việc làm ngoài nước cho 40- 50 vạn lao động từ các hoạt động của doanh nghiệp xuất khẩu lao động và Quỹ hỗ trợ việc làm ngoài nước. Chương trình này cũng sẽ thực hiện nâng cao năng lực và hiện đại hoá 30- 40 Trung tâm giới thiệu việc làm và hoàn thiện hệ thống thông tin thị trường lao động; nâng số người được tư vấn và giới thiệu việc làm lên 4 triệu người trong 5 năm; tập huấn nghiệp vụ cho 75 000 cán bộ công tác lao động việc làm. Trong 2 năm 2006 và 2007, Chính phủ đã phê duyệt nguồn vốn bổ sung 485 tỷ đồng cho Quỹ quốc gia về việc làm để phân bổ cho 64 tỉnh thành và các tổ chức đoàn thể chính trị-xã hội. Cộng với nguồn vốn thu hồi quay vòng đã góp phần đưa doanh số cho vay hàng năm từ 1.200- 1.400 tỷ đồng, cùng với gần 300 tỷ đồng nguồn vốn Quỹ giải quyết việc làm của 30 địa phương đã thực hiện cho vay hàng chục nghìn dự án của các cơ sở kinh doanh và hộ gia đình, góp phần tạo việc làm cho 350.000 lao động/năm. Ngoài ra, để đảm bảo hiệu quả của các chương trình này, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp trong lĩnh vực kinh tế, tạo việc làm cũng như hỗ trợ trực tiếp tạo việc làm và phát triển thị trường lao động. Đó là, việc kết hợp đồng thời giữa các chương trình kinh tế như chương trình phát triển nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, chương trình xuất khẩu lao động, các chương trình đào tạo nghề, nâng cao trình độ lao động.... 3.3.2. Đẩy mạnh xuất khẩu lao động:. Trong thời đại toàn cầu hóa, việc di chuyển lao động từ quốc gia này sang quốc gia khác đã trở thành hiện tượng khá phổ biến. Việt Nam hiện là một trong những nước đứng đầu khu vực Đông Nam Á về xuất khẩu lao động với khoảng 500.000 lao động đang làm việc tại 40 quốc gia và vùng lãnh thổ (2006). Tuy nhiên, xuất khẩu lao đông vẫn là một trong những vấn đề cần được quan tâm khi mà các hiện tượng xấu trong lĩnh vực này ngày càng trầm trọng, vì vậy, cần phải có những biện pháp quan trọng nhằm đưa xuất khẩu lao động trở thành một biện pháp giải quyết việc làm hữu hiệu và lành mạnh: Thứ nhất, cần đưa vấn đề này vào trong một tổng thể của chiến lược phát triển kinh tế, trong đó điểm mấu chốt là giải quyết công ăn việc làm cho mọi người có khả năng lao động. Việc xây dựng cơ sở hạ tầng, việc dùng ngân sách để yểm trợ các dự án phát triển công nghiệp phải hướng vào điểm mấu chốt đó. Việc hoạch định chính sách theo hướng đó và công bố rộng rãi chính sách này sẽ làm người dân tin tưởng vào tương lai đất nước, thấy an tâm là mình sẽ không bị bỏ rơi trong quá trình phát triển và như vậy giảm được áp lực khi tham gia xuất khẩu lao động. Thứ hai, đặt kế hoạch đưa lao động đi thực tập và làm việc tại các nước phát triển theo một chương trình chuẩn bị chu đáo để bảo đảm người lao động có thể học tập qua công việc và quyền lợi lao động được bảo vệ. Nâng cao trình độ lao động di xuất khẩu để họ có một trình độ học vấn nhất định, để làm tốt công việc của mình và dễ thích nghi với điều kiện văn hoá. Thứ ba, trong vài năm tới, vấn đề xuất khẩu lao động vấn là một hiện tượng phổ biến, do đó cần tổ chức tốt để hoạt động này có hiệu quả hơn, tránh tình trạng lao động bị bóc lột như trong thời gian qua. Nói cụ thể hơn, cần thu thập, phân tích thông tin liên quan đến thị trường lao động, tổ chức theo dõi, quản lý  tại các nước và phổ biến rộng rãi trong nước để người dân có đủ cơ sở chọn lựa có nên tham gia xuất khẩu lao động hay không. 3.3.3. Đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm: Trong vấn đề giải quyết việc làm, đào tạo nghề là một biện pháp nhằm nâng cao trình độ người lao động, vì vậy vấn đề này luôn được quan tâm đến một cách có hệ thống. Với một nền kinh tế cần có đội ngũ lao động có kiến thức, kỹ năng nghề với cơ cấu và trình độ phù hợp lại càng đòi hỏi dạy nghề phải thay đổi mạnh mẽ, phát triển nhanh mới đáp ứng nhu cầu bức thiết cho nền kinh tế. Để chuẩn bị cho bước đột phá trong công tác dạy nghề giai đoạn 2011-2020, Tổng cục Dạy nghề, Bộ LĐ-TB&XH xác định cần triển khai đồng bộ các giải pháp để thực hiện chỉ tiêu dạy nghề năm 2010. Trong các giải pháp này, cần ưu tiên lựa chọn những nghề, những trường có năng lực để tập trung đào tạo đội ngũ công nhân kỹ thuật đạt trình độ tiên tiến ngang bằng các nước trong khu vực, phục vụ các ngành kinh tế mũi nhọn, ngành nghề trọng điểm và xuất khẩu lao động. Ngoài ra, việc xây dựng chương trình khung cũng rất quan trọng vì các chương trình này sẽ giúp các trường vừa có chuẩn mực nhất định theo yêu cầu chung, vừa có "độ mở" để nâng cao trình độ đào tạo. Nhiều trường còn được phép chủ động tham khảo chương trình đào tạo của các trường nước ngoài, giúp học viên nâng cao tay nghề, có khả năng sử dụng các loại máy móc, công nghệ hiện đại. Trên thực tế, 164 chương trình khung trình độ cao đẳng nghề đã được xây dựng nhưng 30% còn lại vẫn chưa được nhiều trường bổ sung và ít có khả năng phát triển. Để khắc phục tình trạng này, các trường cần thu hút doanh nghiệp tham gia xây dựng chương trình khung nhằm đáp ứng nhu cầu thiết thực của doanh nghiệp và thị trường lao động. Để đạt được mục tiêu của các năm sắp tới và khắc phục những hạn chế của công tác đào tạo nghề năm 2009, cần chú trọng đẩy mạnh và phát triển hệ thống quản lý, kiểm soát chất lượng dạy nghề. Tiếp tục kiểm định chất lượng cơ sở dạy nghề và tiến tới thực hiện kiểm định chương trình đào tạo, đẩy nhanh kiểm định chất lượng đào tạo ở các cơ sở dạy nghề. Nhiệm vụ trọng tâm của năm 2010 là hoàn thành việc thành lập và tập trung đầu tư trung tâm dạy nghề tại 63 huyện nghèo nhằm hỗ trợ tạo việc làm tại chỗ, xóa nghèo bền vững. Năm 2010 và những năm tiếp theo, dạy nghề sẽ được chú trọng theo chiều sâu, phát triển các trường cao đẳng, trung cấp nghề có năng lực đào tạo một số nghề đạt chuẩn quốc gia. Trong đó, lựa chọn những nghề, những trường có năng lực để đào tạo đội ngũ công nhân kỹ thuật đạt trình độ tiên tiến của các nước công nghiệp phát triển cho các ngành kinh tế mũi nhọn, ngành kinh tế trọng điểm và xuất khẩu lao động. Bên cạnh đó, cần chỉ đạo các cơ sở dạy nghề chuyển mạnh từ đào tạo theo năng lực sẵn có của cơ sở dạy nghề sang dạy nghề theo nhu cầu của doanh nghiệp và theo thị trường lao động, tiến tới đào tạo nghề theo vị trí làm việc, theo địa chỉ sử dụng... từng bước nâng tỷ lệ lao động đã qua đào tạo nghề. Bên cạch các giải pháp trên, để có thể giải quyết có hiệu quả số lượng lao động thiếu việc làm, cần tạo tính chủ động, khuyến khích các chủ thể tham gia tạo và giải quyết việc làm cho người lao động, gắn với việc xây dựng và phát triển thị trường lao động, nâng cao trách nhiệm và vai trò của nhà nước trong việc tạo việc làm, giải quyết việc làm, kiểm soát và xử lý vi phạm pháp luật về việc làm. KẾT LUẬN Đối với một con người nói riêng, đối với toàn xã hội nói chung và đối với một nền kinh tế thì việc làm không chỉ là vấn đề có ý nghĩa sinh tồn và còn là yếu tố thúc đẩy phát triển. Việc làm tồn tại trong tất cả các phương diện kinh tế-xã hội, chính trị-pháp lý, vừa là một vấn đề nóng bỏng trong từng năm, vừa là chiến lược lâu dài, vừa là vấn đề của mỗi quốc gia, vừa là vấn đề của toàn cầu. Đối với Việt Nam, trong điều kiện kinh tế đang ngày càng phát triển mạnh mẽ cùng với xu hướng toàn cầu hóa mà điểm mốc quan trọng nhất là việc gia nhập tổ chức Thương mại thế giới WTO thì vấn đề việc làm ngày càng trờ nên bức xúc, quan trọng. Nghiên cứu một cách tỉ mỷ và tìm ra phương pháp giải quyết một cách hiệu quả nạn thất nghiệp là một bước tiến quan trọng của trong quá trình phát triển bền vững của đất nước, phát huy mọi tiềm năng về nhân lực, thúc đẩy nền kinh tế thị trường phát triển. Về phương diện pháp luật nói riêng, việc làm là một trong những chương pháp lý quan trọng trong BLLĐ, vấn đề việc làm được nhà nước ta đưa vào hệ thống phát luật từ rất lâu và trải qua hàng thập kỷ, đã trở nên dần hoàn thiện với những mang tính chất tích cực và đạt hiệu quả trong thực tiễn. Việc thực hiện các quy định về việc làm trong BLLĐ và các văn bản liên quan trong thời gian qua đã thu được những thành tựu đáng kể, giải quyết được một số lượng lao động thất nghiệp lớn, tạo ra nhiều việc làm, cải thiện chất lượng lao động. Tuy nhiên, pháp luật về việc làm còn bộc lộ nhiều điểm chưa thật phù hợp, còn tồn tại một số quy định bất cập với thực tế. Điều này dẫn đến tình trạng chưa thể giải quyết hiệu quả tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm, cơ cấu lao động chưa phù hợp, sự chuyển dịch cơ cấu lao động giữa thành thị với nông thôn, giữa các vùng kinh tế chưa thật sự mạnh mẽ và chắc chắn. Trước những đòi hỏi và thách thức trong nền kinh tế thị trường hiện nay và những vấn đề còn tồn đọng trong pháp luật về việc làm, một yêu cầu được đặt ra là phải ngày càng hoàn thiện khung pháp lý về việc là, tạo hành lang pháp lý vững chắc nhằm nâng cao tính khả thi của các quy định về việc làm nói riêng và luật lao động nói chung. Kết hợp với những thay đổi về pháp luật là những thay đổi của những phương pháp trên thực tiễn, các chương trình giải quyết việc làm, nâng cao vai trò quản lý và đi đầu của Nhà nước trong các mục tiêu hạ thấp tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị, thiếu việc làm ở nông thôn./. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO: Trường đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật Lao động. Trường đại học kinh tế Quốc dân, Giáo trình kinh tế phát triển. Bộ giáo dục và đào tạo, Giáo trình triết học Mác-Lênin. Nguyễn Hữu Dũng và Trần Hữu Trung, chính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam", Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1997. Nguyễn Hữu Dũng, "Chiến lược an toàn việc làm trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước", Tạp chí Lao động và Công đoàn, 2000. TS. Lưu Bình Nhưỡng, "Hoàn thiện hệ thống chính sách xã hội" , tạp chí nghiên cứu lập pháp (01), Hà Nội, 2003. Trần Văn Hằng, "Xuất khẩu lao động, cơ hội và thách thức", tạp chí Lao động và Xã hội", 2003. TS. Nguyễn Thị Kim Phụng, "Cần rà soát lại để hoàn thiện chế độ lao động nữ". Tạp chí Lao động và Xã hội, 2000. Bộ luật lao động 1994 Luật số Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động số 35/2002/QH10 do Quốc hội thông qua ngày 02/04/2002 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật lao động đã được Quốc hội khoá IX, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 23 tháng 6 năm 1994. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật lao động số 74/2006/QH11 ngày 29/11/2006 sửa đổi, bổ sung một số điều của Chương XIV của Bộ luật lao động ngày 23 tháng 6 năm 1994 đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật lao động ngày 02 tháng 4 năm 2002. Luật số 84/2007/QH11 ngày 02/04/2007 sửa đổi, bổ sung Điều 73 của Bộ luật lao động ngày 23 tháng 6 năm 1994 đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật lao động ngày 02 tháng 4 năm 2002 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật lao động ngày 29 tháng 11 năm 2006. Nghị định số 195/CP của Chính phủ ngày 31/12/1994 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của BLLĐ về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và Nghị định số 109/2002/NĐ-CP của Chính phủ ngày 27/12/2002 sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 195/CP. Nghị định số 196/CP của Chính Phủ ngày 31/12/1994 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của BLLĐ về thỏa ước lao động tập thể và nghị định số 93/2002/NĐ-CP ngày 11/11/2002 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 196/CP. Nghị định số 41/CP của Chính phủ ngày 6/7/1995 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của BLLĐ về kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất và Nghị định số 33/2003/NĐ-CP của Chính phủ ngày 2/4/2003 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 41/CP. Nghị định số 81/CP của Chính phủ ngày 23/11/1995 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của BLLĐ về lao động là người tàn tật và Nghị định số 116/2004/NĐ-CP của Chính phủ ngày 23/4/2004 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 81/CP. Nghị định số 23/CP của Chính phủ ngày 18/4/1996 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của BLLĐ về những quy định riêng đối với lao động nữ và Thông tư số 03/TT-BLĐTBXH của Bộ lao động thương binh xã hội ngày 13/1/1997 về việc hướng dẫn một số điều của Nghị định số 23/CP. Nghị định số 114/2002/NĐ-CP của Chính phủ ngày 31/12/2002 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của BLLĐ về tiền lương; Thông tư số 28/2007/TT-BLĐTBXH của Bộ lao động thương binh và xã hội ngày 05/12/2007 sửa đổi Thông tư số 13/2003/TT-BLĐTBXH và Thông tư số 14/2003/TT-BLĐTBXH hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 114/2002/NĐ-CP. Nghị định số 39/2003/NĐ-CP của Chính phủ ngày 18/4/2003 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của BLLĐ về việc làm. Nghị định số 44/2003/NĐ-CP của Chính phủ ngày 9/5/2003 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của BLLĐ về hợp đồng lao động và Thông tư số 21/2003/TT-BLĐTBXH ngày 22/9/2003 hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định 44/2003/NĐ-CP Nghị định số 133/2007/NĐ-CP của Chính phủ ngày 08/8/2007 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLLĐ về giải quyết tranh chấp lao động. Thông tư số 22/2007/TT-BLĐTBXH của Bộ lao động thương binh xã hội ngày 23/10/2007 hướng dẫn về tổ chức hoạt động của Hội đồng hòa giải lao động cơ sở và hòa giải viên lao động. Nghị đính số 12/2008/NĐ-CP của Chính phủ ngày 30/1/2008 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Điều 176 của BLLĐ về hoãn hoặc ngừng đình công và giải quyết quyền lợi của tập thể lao động. Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 2006 Nghị định số 126/2007/NĐ-CP của Chính phủ ngày 01/8/2007 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Nghị định số 98/2009/NĐ-CP của Chính phủ ngày 30/10/2009 quy định mức lương tối thiểu vùng đối với lao động Việt Nam làm việc cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, cơ quan, tổ chưc nước ngoài, tổ chức quốc tế và cá nhân người nước ngoài tại Việt Nam. Nghị định số 141/2005/NĐ-CP của Chính phủ ngày 11/11/2005 về quản lý lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài. Webside của Tổng cục thống kê: www.gso.gov.vn Triển khai bảo hiểm thất nghiệp từ 1.1.2009. Báo điện tử Lao Động số 297 Ngày 23/12/2008 Cập nhật: 8:19 AM, 23/12/2008. Cơ sở xây dựng và nội dung cơ bản của pháp luật việc làm ở Việt Nam MỤC LỤC A. LỜI NÓI ĐẦU B. NỘI DUNG CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VIỆC LÀM VÀ PHÁP LUẬT VỀ VIỆC LÀM 1.1. Khái quát chung về việc làm 1.1.1. Khái niệm việc làm 1.1.1.1. Dưới góc độ kinh tế-xã hội học 1.1.1.2. Dưới góc độ Luật học 1.1.1.3. Việc làm trên quan điểm của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) 1.1.2. Việc làm và thất nghiệp 1.1.3. Phân loại việc làm 1.1.4. Đặc điểm của việc làm 1.1.5. Mối quan hệ về việc làm với quan hệ pháp luật lao động 1.1.6. Vai trò của việc làm và giải quyết việc làm 1.2. Pháp luật về việc làm 1.2.1. Khái niệm pháp luật về việc làm 1.2.2. Đối tượng điều chỉnh của pháp luật việc làm 1.2.2.1. Quan hệ việc làm giữa người lao động với người sử dụng lao động 1.2.2.2. Quan hệ việc làm giữa nhà nước với người lao động 1.2.2.3 Quan hệ việc làm giữa nhà nước với các trung tâm giới thiệu việc làm, các cơ sở dịch vụ việc làm với khách hàng 1.2.3. Nguyên tắc áp dụng của pháp luật việc làm 1.2.4. Vai trò của pháp luật việc làm CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ VIỆC LÀM Ở VIỆT NAM 2.1. Pháp luật về việc làm và giải quyết việc làm trước khi có BLLĐ năm 1994 2.1.1. Thời kỳ 1945-1954 2.1.2. Thời kỳ 1955-1985 2.1.3. Thời kỳ l986 đến trước khi có Bộ luật lao động 1994 2.2. Pháp luật về việc làm và giải quyết việc từ khi có BLLĐ năm 1994 và thực tiễn thực hiện 2.3. Quy định của pháp luật hiện hành về giải quyết việc làm 2.3.1. Quy định của pháp luật việc làm về trách nhiệm của cơ quan Nhà nước 2.3.2. Quy định về lập quỹ giải quyết việc làm 2.3.3. Quy định về các tổ chức giới thiệu việc làm và hoạt động của các tổ chức giới thiệu việc làm 2.3.4. Quy định về học nghề, dạy nghề gắn với việc làm 2.3.5. Những quy định về hợp đồng lao động 2.3.6. Những quy định về đưa người lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài 2.3.7. Quy định về giải quyết việc làm cho những người lao động đặc thù 2.3.8. Bảo hiểm thất nghiệp 2.4. Đánh giá chung CHƯƠNG III: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ VIỆC LÀM VÀ PHƯƠNG HƯỚNG GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM Ở VIỆT NAM Sự cần thiết của việc hoàn thiện pháp luật việc làm Việt Nam 3.1.1. Xuất pháp từ thực trạng dân số và việc làm của nước ta hiện nay. 3.1.2. Xuất phát từ thực trạng của pháp luật về việc làm ở Việt Nam 3.2. Phương hướng cơ bản hoàn thiện pháp luật việc làm 3.2.1. Hoàn thiện khung pháp luật về việc làm Nghiên cứu xây dựng Luật việc làm Hoàn thiện Bảo hiểm thất nghiệp 3.3. Một số giải pháp nhằm giải quyết hiệu quả việc làm ở Việt Nam 3.3.1. Bám sát và thể chế hóa chủ trương, đường lối của đảng về việc làm, giải quyết việc làm 3.3.2. Đẩy mạnh xuất khẩu lao động 3.3.3. Đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm KẾT LUẬN MỤC LỤC Trang A. LỜI NÓI ĐẦU B. NỘI DUNG CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VIỆC LÀM VÀ PHÁP LUẬT VỀ VIỆC LÀM 03 1.1. Khái quát chung về việc làm 03 1.1.1. Khái niệm việc làm 03 1.1.1.1. Dưới góc độ kinh tế-xã hội học 03 1.1.1.2. Dưới góc độ Luật học 04 1.1.1.3. Việc làm trên quan điểm của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) 05 1.1.2. Việc làm và thất nghiệp 06 1.1.3. Phân loại việc làm 07 1.1.4. Đặc điểm của việc làm 09 1.1.5. Mối quan hệ về việc làm với quan hệ pháp luật lao động 10 1.1.6. Vai trò của việc làm và giải quyết việc làm 11 1.2. Pháp luật về việc làm 14 1.2.1. Khái niệm pháp luật về việc làm 14 1.2.2. Đối tượng điều chỉnh của pháp luật việc làm 14 1.2.2.1. Quan hệ việc làm giữa người lao động với người sử dụng lao động 15 1.2.2.2. Quan hệ việc làm giữa nhà nước với người lao động 16 1.2.2.3 Quan hệ việc làm giữa nhà nước với các trung tâm giới thiệu việc làm, các cơ sở dịch vụ việc làm với khách hàng 16 1.2.3. Nguyên tắc áp dụng của pháp luật việc làm 16 1.2.4. Vai trò của pháp luật việc làm 18 CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ VIỆC LÀM Ở VIỆT NAM 20 2.1. Pháp luật về việc làm và giải quyết việc làm trước khi có BLLĐ năm 1994 20 2.1.1. Thời kỳ 1945-1954 20 2.1.2. Thời kỳ 1955-1985 22 2.1.3. Thời kỳ l986 đến trước khi có Bộ luật lao động 1994 24 2.2. Pháp luật về việc làm và giải quyết việc từ khi có BLLĐ năm 1994 và thực tiễn thực hiện 28 2.3. Quy định của pháp luật hiện hành về giải quyết việc làm 31 2.3.1. Quy định của pháp luật việc làm về trách nhiệm của cơ quan Nhà nước 31 2.3.2. Quy định về lập quỹ giải quyết việc làm 33 2.3.3. Quy định về các tổ chức giới thiệu việc làm và hoạt động của các tổ chức giới thiệu việc làm 34 2.3.4. Quy định về học nghề, dạy nghề gắn với việc làm 35 2.3.5. Những quy định về hợp đồng lao động 36 2.3.6. Những quy định về đưa người lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài 37 2.3.7. Quy định về giải quyết việc làm cho những người lao động đặc thù 38 2.3.8. Bảo hiểm thất nghiệp 41 2.4. Đánh giá chung 42 CHƯƠNG III: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ VIỆC LÀM VÀ PHƯƠNG HƯỚNG GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM Ở VIỆT NAM 43 3.1. Sự cần thiết của việc hoàn thiện pháp luật việc làm ở Việt Nam 43 3.1.1. Xuất pháp từ thực trạng dân số và việc làm của nước ta hiện nay 43 3.1.2. Xuất phát từ thực trạng của pháp luật về việc làm ở Việt Nam 48 3.2. Phương hướng cơ bản hoàn thiện pháp luật việc làm 52 3.2.1. Hoàn thiện khung pháp luật về việc làm 52 3.2.2. Nghiên cứu xây dựng Luật việc làm 53 3.2.3. Hoàn thiện Bảo hiểm thất nghiệp 53 3.3. Một số giải pháp nhằm giải quyết hiệu quả việc làm ở Việt Nam 54 3.3.1. Bám sát và thể chế hóa chủ trương, đường lối của đảng về việc làm, giải quyết việc làm 54 3.3.2. Đẩy mạnh xuất khẩu lao động 56 3.3.3. Đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm 56 KẾT LUẬN DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO: Trường đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật Lao động. Trường đại học kinh tế Quốc dân, Giáo trình kinh tế đầu tư. Bộ giáo dục và đào tạo, Giáo trình triết học Mác-Lênin. Nguyễn Hữu Dũng và Trần Hữu Trung, chính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam", Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1997. Nguyễn Hữu Dũng, "Chiến lược an toàn việc làm trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước", Tạp chí Lao động và Công đoàn, 2000. TS. Lưu Bình Nhưỡng, "Hoàn thiện hệ thống chính sách xã hội" , tạp chí nghiên cứu lập pháp (01), Hà Nội, 2003. Trần Văn Hằng, "Xuất khẩu lao động, cơ hội và thách thức", tạp chí Lao động và Xã hội", 2003. TS. Nguyễn Thị Kim Phụng, "Cần rà soát lại để hoàn thiện chế độ lao động nữ". Tạp chí Lao động và Xã hội, 2000. Bộ luật lao động 1994 Luật số Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động số 35/2002/QH10 do Quốc hội thông qua ngày 02/04/2002 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật lao động đã được Quốc hội khoá IX, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 23 tháng 6 năm 1994. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật lao động số 74/2006/QH11 ngày 29/11/2006 sửa đổi, bổ sung một số điều của Chương XIV của Bộ luật lao động ngày 23 tháng 6 năm 1994 đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật lao động ngày 02 tháng 4 năm 2002. Luật số 84/2007/QH11 ngày 02/04/2007 sửa đổi, bổ sung Điều 73 của Bộ luật lao động ngày 23 tháng 6 năm 1994 đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật lao động ngày 02 tháng 4 năm 2002 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật lao động ngày 29 tháng 11 năm 2006. Nghị định số 195/CP của Chính phủ ngày 31/12/1994 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của BLLĐ về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và Nghị định số 109/2002/NĐ-CP của Chính phủ ngày 27/12/2002 sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 195/CP. Nghị định số 196/CP của Chính Phủ ngày 31/12/1994 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của BLLĐ về thỏa ước lao động tập thể và nghị định số 93/2002/NĐ-CP ngày 11/11/2002 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 196/CP. Nghị định số 41/CP của Chính phủ ngày 6/7/1995 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của BLLĐ về kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất và Nghị định số 33/2003/NĐ-CP của Chính phủ ngày 2/4/2003 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 41/CP. Nghị định số 81/CP của Chính phủ ngày 23/11/1995 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của BLLĐ về lao động là người tàn tật và Nghị định số 116/2004/NĐ-CP của Chính phủ ngày 23/4/2004 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 81/CP. Nghị định số 23/CP của Chính phủ ngày 18/4/1996 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của BLLĐ về những quy định riêng đối với lao động nữ và Thông tư số 03/TT-BLĐTBXH của Bộ lao động thương binh xã hội ngày 13/1/1997 về việc hướng dẫn một số điều của Nghị định số 23/CP. Nghị định số 114/2002/NĐ-CP của Chính phủ ngày 31/12/2002 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của BLLĐ về tiền lương; Thông tư số 28/2007/TT-BLĐTBXH của Bộ lao động thương binh và xã hội ngày 05/12/2007 sửa đổi Thông tư số 13/2003/TT-BLĐTBXH và Thông tư số 14/2003/TT-BLĐTBXH hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 114/2002/NĐ-CP. Nghị định số 39/2003/NĐ-CP của Chính phủ ngày 18/4/2003 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của BLLĐ về việc làm. Nghị định số 44/2003/NĐ-CP của Chính phủ ngày 9/5/2003 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của BLLĐ về hợp đồng lao động và Thông tư số 21/2003/TT-BLĐTBXH ngày 22/9/2003 hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định 44/2003/NĐ-CP Nghị định số 133/2007/NĐ-CP của Chính phủ ngày 08/8/2007 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLLĐ về giải quyết tranh chấp lao động. Thông tư số 22/2007/TT-BLĐTBXH của Bộ lao động thương binh xã hội ngày 23/10/2007 hướng dẫn về tổ chức hoạt động của Hội đồng hòa giải lao động cơ sở và hòa giải viên lao động. Nghị đính số 12/2008/NĐ-CP của Chính phủ ngày 30/1/2008 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Điều 176 của BLLĐ về hoãn hoặc ngừng đình công và giải quyết quyền lợi của tập thể lao động. Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 2006 Nghị định số 126/2007/NĐ-CP của Chính phủ ngày 01/8/2007 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Nghị định số 98/2009/NĐ-CP của Chính phủ ngày 30/10/2009 quy định mức lương tối thiểu vùng đối với lao động Việt Nam làm việc cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, cơ quan, tổ chưc nước ngoài, tổ chức quốc tế và cá nhân người nước ngoài tại Việt Nam. Nghị định số 141/2005/NĐ-CP của Chính phủ ngày 11/11/2005 về quản lý lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài. Webside của Tổng cục thống kê: www.gso.gov.vn Triển khai bảo hiểm thất nghiệp từ 1.1.2009. Báo điện tử Lao Động số 297 Ngày 23/12/2008 Cập nhật: 8:19 AM, 23/12/2008.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docCơ sở xây dựng và nội dung cơ bản của luật việc làm ở Việt Nam.doc
Luận văn liên quan