Cuộc vận động yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản ở Việt Nam đầu thế kỉ XX

I. Hoàn cảnh lịch sử 1.1. Sự thất bại của phong trào yêu nước dưới ngọn cờ phong kiến và những vấn đề đặt ra trong phong trào giải phóng dân tộc 1.2. Những biến đổi về kinh tế - chính trị - xã hội Việt Nam cuối thế kỉ XIX 1.2.1 Cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp 1.2.2. Tác động đến xã hội Việt Nam 3. Sự thức tỉnh của Châu Á và sự truyền bá Tân thư, tân văn vào Việt Nam II. Nội dung cuộc vận động yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản ở Việt Nam đầu thế kỉ XX 1. Khuynh hướng “dân chủ tư sản” và sự biểu hiện của nó ở Việt Nam 2. Nội dung cuộc vận động yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản ở Việt Nam đầu thế kỉ XX 2.1. Về tư tưởng chính trị a) Phan Bội Châu và xu hướng bạo động b) Phan Châu Trinh và xu hướng cải cách 2.2. Về văn hóa 2.3. Về kinh tế 3. Đặc điểm của cuộc vận động yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản ở Việt Nam đầu thế kỉ XX 4. Một số phong trào tiêu biểu III. Kết quả, ý nghĩa

doc74 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 07/09/2013 | Lượt xem: 16782 | Lượt tải: 30download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Cuộc vận động yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản ở Việt Nam đầu thế kỉ XX, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
lâu có số vốn 50 triệu đồng, sẽ có những xưởng thợ lập ra hơn 60 địa điểm và sẽ có khoảng 70 vạn hội viên. Nguyễn Thượng Hiền cũng kêu gọi mọi người khai phá đất đai để trồng trọt, chăn nuôi, mở hiệu buôn. Như vậy, “trước một đồng, sau hóa muôn vàn”, kinh tế dồi dào, đầu óc mở rộng, dân trí, dân khí được nâng cao và nước nhà sẽ phồn vinh, thịnh vượng. Có thể nói, từ 1906 đến 1909, hướng hoạt động chủ yếu của hội Duy Tân và Phan Bội Châu là tập trung vào chương trình phát triển kinh tế này, nó cũng quan trọng như việc lựa chọn gửi thanh niên du học. Đó là hai nhiệm vụ chính trị phải song song và hỗ trợ lẫn nhau. Phan Bội Châu đã kêu gọi mở rộng công việc thành lập các hội hợp cổ. Lúc này, Nguyễn Thành và các đồng chí của ông ở miền Trung và miền Nam đã lập được 72 chi hội công thương, có trách nhiệm, có trách nhiệm trong thời gian trước mắt cung cấp tiền bạc cho thanh niên Đông Du, đồng thời tạo nên bầu không khí và những phương tiện cho phép họ hoạt động sau khi được đào tạo xong. Trụ sở của các chi hội và các cửa hiệu buôn bán cũng là những “hộp thư” liên lạc giữa những người hoạt động trong và ngoài nước của Hội Duy Tân. Về biện pháp buôn bán để sinh lợi, ngoài vấn đề chú trọng đến việc giao lưu hàng hóa giữa các khu vực kinh tế khác nhau trong nội địa giữa miền núi và đồng bằng, trong nam và ngoài Bắc. Phan Bội Châu cũng nhấn mạnh đến tầm quan trọng của vấn đề buôn bán với nước ngoài để khắc phục tình trạng: “Mấy lâu nay của cải của dân ta như dầu mỡ cứ ra hoài mà không vào”. Cụ mong muốn hàng hóa của nước ta xuất cảng ngày càng nhiều và vượt hẳn khối lượng phải nhập cảng: “Việc buôn bán càng được mở mang, người nước ta lại đồng lòng hiệp sức, chịu xuất của cải để tranh đua với nước ngoài trên đường buôn bán”. Về vấn đề góp vốn, Phan Bội Châu cho rằng không có nhiều vốn thì không thể mở rộng thương điếm, không mong có cái “tiểu thành” hoặc “đại thành”. Nhưng vấn đề mà cụ Phan quan tâm hơn cả chính là ở chỗ, mọi người phải đoàn kết, hợp quần với nhau trong một hoạt động có tổ chức, người góp cửa, người góp công để mưu việc chung. Như vậy, đối với Phan Bội Châu, quy mô của việc buôn bán đã vượt ra khỏi khuôn khổ một quầy hàng nhỏ bé của người tiểu thương mà có dáng dấp của một hãng buôn, một công ti thương mại lớn. Tất nhiên, trong số những người tham gia hoạt động thương mại này phải có người quản lí đứng ra phụ trách và trông coi. Nhưng dưới mắt Phan Bội Châu, quan hệ giữa người quản lí và nhân viên làm việc trong các tổ chức kinh doanh thương nghiệp ấy cũng phải quan hệ giữa những nhà tư bản với những người làm thuê. Những người làm công việc quản lí hay đứng đầu một công ti theo Cụ phải là “những người có đạo đức, có danh vọng”, “những người siêng năng, cần mẫn” được mọi người tin phục cử ra. Đây là một sự lí tưởng hóa cơ cấu của một tổ chức kinh tế mà nội dung hoạt động của nó có tính chất TBCN. Tuy nhiên, khi đề cập đến việc kinh doanh công thương nghiệp, Phan Bội Châu không hề chú ý đến mối quan hệ giữa chủ và thợ và trình độ chuyên môn của người quản lí. Trong tư tưởng kinh tế của Phan Bội Châu, sản xuất nông nghiệp cũng chiếm một vị trí quan trọng. Đây là ngành đem lại của cải vật chất, làm giàu có cho đất nước. Phan Bội Châu khẳng định: đối với nước mà công thương nghiệp chưa phát triển như Việt Nam thì nghề nông càng có vị trí quan trọng. Không chỉ hô hào, Cụ còn kêu gọi đẩy mạnh phát triển nông nghiệp . Phan Bội Châu còn đề cập đến cả tới vấn đề kĩ thuật trong nông nghiệp như dẫn nước vào ruộng…, cải tạo môi trường sống, vấn đề phân vùng cư daan, khai khẩn đất hoang. Để mở mang kinh tế, sản xuất ra nhiều của cải, Phan Bội Châu không quên đề cập đến vấn đề sản xuất công nghiệp, đặc biệt là khai thác tài nguyên phong phú của đất nước, chế tạo ra hàng hóa vật dụng để dùng và đem bán trên thị trường quốc tế để làm giàu cho Tổ quốc. Cụ viết: “Đất nước ta cũng nhiều mỏ vàng, mở bạc cũng có trương đúc, xưởng thợ, sao lại ngu dại để cho của cải mất hết, sớm tối để cho tay chân nhọc nhằn vất vả đến thế? Đó là tại triều đình không có chí đấu lợi, giành quyền đó mà thôi”. 3. Đặc điểm của cuộc vận động yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản ở Việt Nam đầu thế kỉ XX Lãnh đạo: Khởi xướng và lãnh đạo trào lưu này là là những sĩ phu yêu nước tư sản hóa. Hai nhà chí sĩ tiêu biểu cho trào lưu dân tộc chủ nghĩa là Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh. Lập trường yêu nước của các sĩ phu tiến bộ là đoạn tuyệt với tư tưởng “trung quân ái quốc”, bắt đầu có ý thức về dân chủ, dân quyền, đề cao vai trò làm chủ đất nước của nhân dân. “Người dân ta, của dân ta, Dân là của nước, nước là của dân”. Mục tiêu: Họ chủ trương khôi phục độc lập dân tộc và phát triển đất nước theo con đường tư bản chủ nghĩa, đưa nước nhà tiến kịp các nước văn minh trên thế giới. Biện pháp: Để thực hiện được mục tiêu đó, các sĩ phu yêu nước tiến bộ chủ trương phải kết hợp cứu nước với duy tân, tức là học theo tư bản phương Tây, cải tạo xã hội Việt Nam cũ, xây dựng một nước Việt Nam mới the hình ảnh của các nước phương Tây. Tiêu biểu cho chí hướng của sĩ phu duy tân lúc bấy giờ là Văn minh tân học sách (những kế sách xây dựng một nền học mới để đạt được văn minh). Đây là một tài liệu được xem như cương lĩnh hành động chung của các sĩ phu duy tân lúc bấy giờ, chủ trương dùng văn tự nước nhà (chữ Quốc ngữ), hiệu đính sách vở cốt lấy phần thiết thực, sửa đổi phép thi, cổ vũ nhân tài, chấn hưng công nghệ, thương mại, phát triển báo chí. Tác phẩm đã thể hiện một tinh thần tự hào, tự tôn dân tộc, một thái độ đoạn tuyệt với học thuật phong kiến cổ hủ, thật sự tha thiết với việc cải cách xã hội, cải cách học thuật, tha thiết với tự do tư tưởng, với độc lập dân tộc và mong muốn phát triển đất nước theo văn minh phương Tây. Trong khi thống nhất với nhau cùng “ tụng kinh độc lập ở chùa duy tân” thì giữa những người chủ xướng có những lập trường khác nhau về phương thức để đạt đến mục tiêu. Một số người xem việc khôi phục chủ quyền quốc gia, độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết, mở đường cho duy tân thắng lợi. Đối với họ, nhiệm vụ trước mắt là dùng vũ lực đánh đổ ách thống trị của ngoại bang. Xu hướng này gọi là chủ trương bạo động mà người đại diện tiêu biểu là Phan Bội Châu. Một số khác lại xem duy tân là tiền đề dẫn đến khôi phục quốc gia, độc lập dân tộc. Mục tiêu trước mắt của họ là vận động duy tân, “chấn dân khí, khai dân trí, hậu dân sinh”, chứ chưa phải là đánh đổ thực dân Pháp. Xu hướng này được gọi là chủ trương cải cách và người đại diện tiêu biểu là Phan Châu Trinh. Từ hai xu hướng đối lập trên đã hình thành nên một xu hướng dung hòa, tìm sự liên kết, hỗ trợ giữa hai bên. “Tương phản nhi tương thành” là nguyện vọng của đa số sĩ phu yêu nước tiến bộ lúc đó và nó có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp, đậm hay nhạt đến hầu hết các phong trào chống Pháp và làm cho hình thức đấu tranh của trào lưu phong phú, đa dạng. Gắn liền với tư tưởng cứu nước mới là những hình thức và phương pháp đấu tranh mới. Bên cạnh hình thức đấu tranh vũ trang của thời kì trước vẫn được duy trì, các sĩ phu yêu nước đã kết hợp nhiều biện pháp mới về chính trị, kinh tế, văn hóa, ngoại giao, tiến hành cuộc vận động cải cách sâu rộng trong quần chúng. Họ lập các hội yêu nước ( Duy Tân hội, Việt Nam Quang Phục hội), đưa thanh niên xuất dương đi du học để đào tạo nhân tài (phong trào Đông du); mở trường học, xuất bản sách báo, tuyên truyền phổ biến kiến thức mới, diễn thuyết, bình văn, hô hào cải cách phong tục, lập hội buôn, phát triển công thương nghiệp ( Đông Kinh nghĩa thục, phong trào Duy Tân…); tranh thủ sự viện trợ của các nhà yêu nước châu Á đối với cách mạng Việt Nam (Hội Chấn Hoa hưng Á…….). Lực lượng tham gia phong trào cũng có những nét mới. Trào lưu dân tộc chủ nghĩa theo khuynh hướng dân chủ tư sản không những được sự ủng hộ của nông dân mà còn có cả những lực lượng và giai cấp xã hội mới như tư sản, tiểu tư sản, công nhân cùng đông đảo các tầng lớp nhân dân yêu nước khác. Trào lưu dân tộc chủ nghĩa đầu thế kỉ XX đánh dấu một bước tiến mới của phong trào giải phóng dân tộc ở nước ta. Tuy nhiên, ở Việt Nam lúc đó chưa có đầy đủ những điều kiện chín muồi về kinh tế, chính trị nên trào lưu dân tộc chủ nghĩa không tồn tại vững chắc, lâu dài và chưa đưa cách mạng giải phóng dân tộc ở nước ta đi đến thắng lợi được. 4. Một số phong trào tiêu biểu - Phong trào Đông Du Với quan điểm “nợ máu chỉ có thể trả bằng máu”, ngay từ đầu, Phan Bội Châu đã kiên trì chủ trương giành độc lập bằng con đường bạo lực. Từ 1902 đến 1904, Phan đã ra Bắc vào Nam tìm cách liên kết đồng chí để thực hiện mục đích. Tháng 5/1904, Phan Bội Châu, Cường Để và hơn 20 đồng chí (Nguyễn Hàm, Đặng Tử Kính, Thái Thân, Lê Võ…) họp tại nhà của Nguyễn Hàm (Nguyễn Thành) ở Quảng Nam, thành lập một hội đảng bí mật, sau này có tên là Duy Tân Hội. Cường Để được cử làm Hội chủ để “thu phục nhân tâm”, tập hợp sĩ phu yêu nước, tranh thủ sự đồng tình và giúp đỡ của những người trong nước. Mục đích chính của Hội là đánh Pháp, giành lại độc lập cho Tổ quốc. Căn cứ vào việc tôn Cường Để làm Hội chủ, chứng tỏ Duy Tân Hội vẫn chưa thoát khỏi ảnh hưởng của chủ nghĩa quân chủ, nhưng đây là quân chủ lập hiến, vua chỉ có danh mà không có thực quyền. Mọi công việc quan trọng đều do Phan Bội Châu, Nguyễn Thành, Đặng Thái Thân và các hội viên quyết định. Để thực hiện mục đích trên, Hội đã đề ra kế hoạch hành động gồm ba điểm: - Mở rộng thế lực của Hội về người và tài chính. - Xúc tiến công việc chuẩn bị bạo động. - Trù liệu cử người xuất dương cầu viện. Trong kế hoạch hành động, chủ trương xuất dương cầu viện là quan trọng nhất, được giao cho Phan Bội Châu và Nguyễn Thành định liệu. Tuy nhiên, việc cầu viện “không thể thay thế cho công việc vận động và tổ chức trong nước” Phan Bội Châu – Niên biểu, tr 45 , bởi vì “ngoại viện chẳng qua là làm thanh thế cho nội lực”. Vì vậy, Phan Bội Châu chủ trương muốn đánh đuổi Pháp thì nhân dân phải chung sức, chung lòng. Ông đã liên kết với nghĩa quân Yên Thế và kêu gọi 10 giới đồng tâm (các nhà hào phú, các quan tại chức, con em các nhà quyền quý, giáo đồ Thiên Chúa giáo, Đồ đảng và Hội đảng, thủy lục quân, giới phụ nữ, thông ngôn, kí lục và bồi bếp, con em các nhà bị tàn sát, học sinh hải ngoại) hô hào: “Nghìn muôn ức triệu người chung sức, Xây dựng lên cơ nghiệp nước nhà” Văn thơ Phan Bội Châu chọn lọc, tr 168 . Về biện pháp đấu tranh, tuy kiên trì con đường bạo động trong toàn quốc, Phan Bội Châu còn chủ trương tiến hành các biện pháp cải cách kinh tế, văn hóa, tư tưởng. Ông kêu gọi “Phải tổ chức các hội công, nông, thương, học là người trong nước biết có đoàn thể, dễ dàng cho cuộc vận động” Phan Bội Châu – Niên biểu, tr 59. . Sự thành lập Duy Tân Hội đánh dấu một bước tiến quan trọng về tư tưởng và tổ chức cứu nước của những người yêu nước Việt Nam trên con đường chống Pháp, phù hợp với quy luật phát triển của nước ta lúc bấy giờ, trong điều kiện phương Đông mới thức tỉnh theo con đường dân chủ tư sản do các sĩ phu yêu nước tiếp nhận và giai cấp công nhân Việt Nam mới ra đời chưa trở thành một giai cấp tự giác. Thực hiện kế hoạch xuất dương cầu viện, Phan Bội Châu và các hội viên của Duy Tân Hội đều cho rằng nên cầu viện Nhật Bản là nước đồng văn, đồng chủng. Ý kiến của Nguyễn Thành có thể đại diện cho ý kiến chung và giải thích sự lựa chọn này: “Tôi tưởng tình thế liệt cường bây giờ, nếu không phải nước đồng văn đồng chúng tất không ai chịu giúp chúng ta. Nước Tàu đã chịu nhượng Việt Nam cho Pháp, lại thêm hiện nay quốc thể suy hèn, cứu mình không xong mà còn cứu được ai. Duy nước Nhật là một nước tân tiến ở trong nòi giống da vàng mới đánh được Nga, dã tâm đang hăng lắm. Qua tới đó đem hết lợi hại tỏ với nó, tất nó ứng viện cho ta. Nếu nó không xuất binh nữa mà tư lương mua khí giới, tất có thể dễ lắm. Vậy nên chúng ta muốn khóc sân Tần không chi bằng Nhật Bản là phải” Phan Bội Châu, Toàn tập, tập 6, tr 77. . Ngày 23/2/1905, Phan Bội Châu cùng Tăng Bạt Hổ và Đặng Tử Kính lên đường sang Nhật để cầu viện. Tại đây, Phan đã được gặp hai nhân vật quan trọng của Đảng Tiến Bộ đang cầm quyền là Bá tước Đại Ôi Trọng Tín và Thủ tướng Khuyển Dưỡng Nghị để trực tiếp đặt vấn đề xin Thiên hoàng và Chính phủ Nhật giúp Việt Nam đánh Pháp, nhưng họ đều thoái thác, từ chối việc giúp đỡ về quân sự, chỉ khuyên nên kiên trì chờ đợi thời cơ mới. Trước hết, họ khuyên Phan nên viết sách báo nói rõ thảm trạng xã hội trong nước để tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của dư luận thế giới và cổ động thanh niên ra nước ngoài học tập. Tháng 6/1905, Phan Bội Châu cùng Đặng Tử Kính trở về nước để tiến hành cuộc vận động xuất dương, lập các hội Nông, hội Thương, và hội Học để tập hợp quần chúng và nhanh chóng đưa Cường Để sang Nhật. Đến tháng 10/1905, Phan trở lại Nhật Bản cùng ban thanh niên: Nguyễn Thúc Canh, Nguyễn Điền và Lê Khiết. Năm 1906, Cường Để sang Nhật. Đến 1908, số học sinh du học lên đến 200 người (Bắc Kỳ: 50 người, Trung Kỳ: 50 người, Nam Kì: 100 người). Được sự giúp đỡ của các chính khách Nhật, du học sinh Việt Nam được vào học ở Đông Á đồng văn thư viện do Đông Á đồng văn Hội sáng lập. Chỉ có 5 người là Cường Để, Lương Ngọc Quyến, Lương Nghị Khanh, Trần Hữu Công, Nguyễn Điển được học ở Chấn Vũ quân sự học hiệu. Du học sinh được đào tạo về văn hóa và quân sự cần thiết cho công cuộc đánh Pháp, cứu nước và kiến thiết đất nước sau này. Để quản lý, điều hành hoạt động của du học sinh, giữa năm 1907, Phan Bội Châu tổ chức Công hiến Hội do Cường Để làm Hội trưởng, Phan Bội Châu làm Tổng lí kiêm Giám đốc trực tiếp chỉ đạo tổ chức này. Đến giữa năm 1908, việc học tập của học sinh Việt Nam tại Nhật Bản đã ổn định và phát triển thuận lợi. Nhằm thức tỉnh quốc dân, Phan Bội Châu và các nhà lãnh đạo Duy Tân Hội đã sáng tác nhiều thơ văn, như: Việt Nam vong quốc sử (1905), Khuyến quốc dân tự trợ du học văn (1906), Hải ngoại huyết thư (1906), Kính cáo toàn quốc phụ lão (1906), Đề tỉnh quốc dân hồn (1907). Nhiều thanh niên yêu nước du học như Đặng Tiểu Mẫn, Lương Lập Nham, Lương Nghị Khánh, Đoàn Kì Sinh, Hoàng Trọng Mậu, Trần Hữu Lực, Lâm Quán Trung… đã trở thành những chiến sĩ tận tụy với sự nghiệp giải phóng dân tộc. Đứng trước sự phát triển của phong trào Đông Du, thực dân Pháp một mặt tiến hành khủng bố, mặt khác câu kết với Nhật trục xuất các nhà yêu nước Việt Nam ra khỏi đất Nhật. Tháng 9/1908, Bộ Nội vụ Nhật ra lệnh giải tán Đông Á đồng văn thư viện, Công hiến Hội và trục xuất du học sinh Việt Nam. Tháng 3/1909, Phan Bội Châu cũng bị trục xuất khỏi nước Nhật. Song song với phong trào Đông Du, Phan Bội Châu còn trở về nước vào cuối năm 1906 để cùng các đồng chí tổ chức vận động đánh Pháp trong nước. Phan đã gặp Hoàng Hoa Thám ở Phồn Xương (Yên Thế, Bắc Giang) để bàn kế hoạch hợp tác đánh Pháp; sau đó, Phan đã gặp các đồng chí ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ định kế hoạch hành động chung. Một số chuyên lo diễn thuyết, tuyên truyền, mở các nông, thương, học hội để lo kinh phí cho Hội, thúc đẩy việc duy tân đất nước; một số lo vận động những người yêu nước trong quân đội Pháp phản chiến, chuẩn bị tiến tới bạo động. Mặt khác, tổ chức liên minh hợp tác quốc tế chống kẻ thù chung, Phan Bội Châu đã cộng tác với Vân Nam Tạp chí – một trong những tờ báo của Đảng cách mạng Trung Quốc nhằm tuyên truyền chủ nghĩa dân chủ, phản đối sự xâm lược của đế quốc Anh, Pháp. Tiếp đó, năm 1909, Phan Bội Châu đã cùng với các chí sĩ lưu vong Trung Quốc, Triều Tiên, Ấn Độ, Phi Luật Tân hiện sống ở Nhật thành lập tổ chức Đông Á đồng minh Hội để liên hiệp các nước Châu Á cùng giúp đỡ nhau trong công cuộc cứu nước. Phan Bội Châu được bầu làm Phó Hội trưởng trực tiếp lãnh đạo Hội. Bên cạnh đó, Phan Bội Châu còn sáng kiến thành lập Hội Điền – Quế - Việt liên minh nhằm thu hút sự tham gia của các học sinh người Vân Nam, Quế Châu và các nhà hoạt động cách mạng Việt Nam với mục đích giúp đỡ nhau giải phóng đất nước khỏi ách thống trị và ràng buộc của đế quốc. Những hoạt động trên đây chứng tỏ rằng, Phan Bội Châu đã nhận thức được mối quan hệ khăng khít giữa phong trào cách mạng Việt Nam với phong trào cách mạng Châu Á, mở đầu cho sự hiểu biết và giúp đỡ lẫn nhau giữa những người cách mạng các nước (chủ yếu là Trung Quốc) với các chiến sĩ cách mạng Việt Nam sau này. - Phong trào Duy Tân ở Trung Kỳ Cuộc vận động cải cách, duy tân ở Trung Kỳ được khởi xướng đầu tiên ở Quảng Nam do Phan Châu Trinh và hai đồng chí thân thiết: Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng tiến hành. Cuộc vận động cải cách ở Quảng Nam diễn ra trên nhiều lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội…, bao gồm những hoạt động rất đa dạng, từ việc lập hội buôn, hội canh nông, mở trường học đến việc vận động bài trừ phong tục, tập quán, hủ bại truyền bá những tư tưởng tự cường, dân chủ, vận động đời sống mới, như cắt tóc ngắn, mặc áo ngắn… Về kinh tế, các sĩ phu yêu nước đã lấy buôn bán để tập hợp nhau lại, cùng lo việc nước (dĩ thương hợp quần), vì vậy còn gọi là “Quốc thương”. Việc lập hội buôn chung (hợp thương) được chú ý. Phan Thúc Duyên lập hợp thương Diên Phong, buôn bán các loại thổ sản, trở thành đầu não của các thương hội ở Quảng Nam. Hợp thương này có cơ ngơi khang trang, có phòng tiếp khách, chỗ làm việc, kho chứa hàng, nơi ăn ngủ của nhân viên khoảng 40 người. Thương cuộc Hội An do Bang tá Nguyễn Toán lập ra, buôn bán sỉ và lẻ các loại hàng hóa: vải, gạo, đường, quế, tơ, cau khô, dầu lạc, sách, vở… Hàng hóa được trình bày theo lối mới: Nước mắm Nam Ô cho vào chai có dán nhãn hiệu; trêm các hàng hóa có thẻ tre ghi giá bán… Hàng nhập được xếp vào các kho khác nhau có nhân viên kiểm soát ghi nhận, các nhân viên bán hàng có sổ tay ghi chép hàng xuất nhập. Thương cuộc Hội An còn là nơi hội tụ của sĩ phu có tư tưởng duy tân. Về nông nghiệp, một số sĩ phu mở các hội khai khẩn đất hoang, trồng lúa, ngô, đậu, chè, sắn… Hoạt động sôi động nhất là mở trường học. Đây là hình thức hoạt động chính của các sĩ phu trong việc khai dân trí. Tại đây, nhiều cuộc diễn thuyết, cổ động dân quyền, tự chủ, đổi mới được tổ chức. Các trường học đều dạy chữ Quốc ngữ, chữ Pháp và các môn Toán, Lịch sử, Địa lí Việt Nam, các kiến thức về khoa học tự nhiên, thể dục, hát. Ở Quảng Nam đã thành lập được 48 trường, trong đó có 4 trường lớn nổi tiếng là Diên Phong, Phước Bình, Phú Lâm, Quảng Phước. Tại Quảng Ngãi, cuộc vận động duy tân cải cách cũng diễn ra với các hình thức như ở Quảng Nam: lập hội buôn, mở trường học, bài trừ mê tín dị đoan, cắt tóc ngắn, mặc áo ngắn… Những người tích cực nhất trong phong trào này ở Quảng Ngãi là Cử nhân Lê Đình Cẩn, Cử nhân Nguyễn Đình Quảng, Tú tài Trần Kì Phong, Cử nhân Lê Khiết… Trường học lớn nhất ở Quảng Ngãi là trường học Sung Tích (huyện Sơn Tịnh) do Cử nhân Nguyễn Đình Quảng chủ trì. Trường có 150 học sinh, không hạn chế về tuổi tác, học ngoài giờ lao động, vào buổi trưa và buổi tối. Về hội buôn, quy mô không lớn như ở Quảng Nam nhưng tồn tại dưới nhiều dạng cửa hàng, như Thuốc Bắc, nội hóa, quán cơm… Những cửa hàng này vừa là nơi liên lạc của các sĩ phu tiến bộ, vừa là nơi cung cấp tài chính cho các hoạt động khác. Về Hội canh nông, có cơ sở chính tại làng Tình Phú (huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi) với vài chục mẫu khẩn hoang, chuyên trồng các loại đậu, khoai lang. Số hội viên khoảng 70 người do Nguyễn Bá Loan làm Hội trưởng. Tại Bình Thuận, một Thư xã được thành lập (1905) được gọi là nhà giảng sách đặt tại đình Phú Tài. Tại Thư xã, những tư tưởng của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, những tư tưởng về dân chủ, tự cường lần lượt được giới thiệu. Năm 1906, Nguyễn Trọng Lợi cùng Nguyễn Quý Anh, Hồ Tá Bang, Trần Lệ Chất, Nguyễn Hiệt Chi, Ngô Văn Phượng lập Công ti Liên Thành buôn bán nước mắm đặt trụ sở ở Phan Thiết, Sài Gòn… Ngoài Liên Thành, nhiều công ti buôn bán khác được thành lập ở Bình Thuận nhưng quy mô nhỏ hơn. Đến năm 1907, Nguyễn Trọng Lợi mở trường tư thục, đặt tên là Dục Thanh. Trường dạy cả chữ Hán, chữ Pháp, chữ Quốc ngữ, thể dục và ca hát. Tại Nghệ An và Hà Tĩnh, Đặng Nguyên Cẩn và Ngô Đức Kế đã góp chung vốn lập Triều Dương thương quán (1906). Một số trường học kiểu mới được thành lập như trường Võ Liệt ở huyện Thanh Chương (Nghệ An), trường Phong Phú ở huyện Thạch Hà (Hà Tĩnh). Tại Thanh Hóa có Học Thành thư xã, có mối liên hệ với Đông Kinh Nghĩa Thục, Triều Dương thương quán ở Nghệ - Tĩnh. Bên cạnh các hoạt động chủ yếu trên, cuộc vận động đổi mới “phong hóa”, cải cách lối sống là một hoạt động độc đáo của phong trào Duy Tân. Phong trào còn sôi động hơn khi phái Duy Tân mở cuộc vận động cắt tóc ngắn, để răng trắng, theo lối sống mới: “Phen này cắt tóc đi tu, Tụng kinh độc lập ở chùa Duy Tân” Trần Huy Liệu, Nguyễn Công Bình, Văn Tạo, 1958, Tài liệu tham khảo cách mạng Việt Nam, tập 3, H: Văn – Sử - Địa, tr 55. Phong trào phát triển mạnh mẽ đến nỗi thực dân Pháp gọi phong trào này và phong trào chống thuế ở Trung Kỳ năm 1908 là “Phong trào cắt tóc ngắn”. Các sĩ phu yêu nước của phong trào còn tuyên truyền, vận động chống chế độ sưu cao, thuế nặng. Ví như vào đầu năm 1908, khi thực dân Pháp thay đổi chế độ xâu thuế, các sĩ phu duy tân ở Nam – Ngãi đã tổ chức những buổi diễn thuyết tại các xóm làng, tố cáo gánh nặng thuế khóa và sự hà lạm của quan lại, khơi dậy lòng phẫn nộ trong nhân dân, nhằm dẫn đến sự phản đối tập thể, những cuộc biểu tình tập hợp đông đảo dân chúng, nhưng vẫn giữ tính chất ôn hòa, như chính quyền thực dân, phong kiến đã khẳng định: “Bọn hiếu sự ở Nam – Ngãi ngầm mưu xúi giục làm loạn, trước thì dụ dân cắt tóc cải trang, kế thì đặt trường diễn thuyết, sau hết thì mê hoặc nhân dân bằng việc kêu giảm thuế, cùng nhau tụ tập xướng làm dân quyền, dần dần đến hống đường náo thị, mà tỉnh phủ huyện quan sở tại không ngăn chặn được” Dẫn theo Nguyễn Thế Anh, 1973, Phong trào kháng thuế ở miền Trung qua các Châu bản triều Duy Tân, Bộ Văn hóa giáo dục và Thanh niên xuất bản, Sài Gòn, tr 25. . Phong trào Duy Tân ở Quảng Nam mở đầu cho phong trào Duy Tân cả nước, được sự hưởng ứng của đông đảo Nho sĩ và dân chúng, khẳng định sức thu hút mạnh mẽ của tư tưởng duy tân theo con đường tư sản và vai trò lãnh đạo của những sĩ phu tiến bộ. Phong trào đã ảnh hưởng lớn đến việc nâng cao trình độ giác ngộ và tinh thần đấu tranh của nhân dân đòi cải cách đời sống về mọi mặt. Vì thế, những thế lực bảo thủ, lạc hậu, điên cuồng chống lại. Đặc biệt, chính quyền thực dân đã tìm cách để ngăn cấm phong trào. Tổng đốc Quảng Nam Hồ Đắc Trung cấm không cho dân chúng tụ tập nghe diễn thuyết. Trần Quý Cáp bị đổi vào Khánh Hòa, Đặng Nguyên Cẩn đang làm Đốc học Hà Tĩnh bị đổi vào Bình Thuận. Ngô Đức Kế bị vu cho tội làm loạn và bị bắt. Lê Đình Cẩn bị Công sứ xét hỏi nhiều lần và bị bắt vào năm 1907. Tất cả những hoạt động cải cách của phong trào Duy Tân ở Trung Kỳ đều mang ý nghĩa cổ động lòng yêu nước, đòi độc lập tự do, phát triển đất nước theo con đường văn minh, tiến bộ và nó không tách rời xu hướng bạo động. Phong trào đã trực tiếp châm ngòi cho phong trào chống thuế ở miền Trung năm 1908. - Phong trào đấu tranh chống sưu thuế ở Trung Kỳ (1908) Từ năm 1898 trở đi, dưới ách thống trị của thực dân Pháp, gánh nặng sưu thuế đè lên nhân dân ta ngày càng nặng nề. Từ đó đến năm 1908, chế độ sưu thuế thay đổi liên tục và không đồng nhất. Theo Nghị định của Toàn quyền Đông Dương, bắt đầu từ ngày 1/1/1908, quy định lại về 10 ngày xâu như sau: Chỉ dành 2 ngày cho xã thôn (bớt 2 ngày so với trước), 8 ngày thuộc về công ích (tăng 2 ngày); trong 8 ngày này, người dân bắt buộc phải nộp thay bằng tiền 2 ngày, 6 ngày còn lại quan tỉnh và Công sứ có thể cho nạp tiền một số ngày hoặc tất cả, hoặc cho đi làm cả 6 ngày. Các tỉnh Nghệ An, Quảng Nam, Khánh Hòa, Ninh Thuận, không cho nộp tiền thay một ngày nào, các tỉnh khác cho nộp thay một hai ngày với giá ngày công 0$20, riêng Bình Thuận cho nạp tiền tất cả nhưng với giá 0$50. Ngoài thuế đinh và lao dịch, năm 1908, thực dân Pháp còn tăng thuế điền lên 8%, làm cho nhân dân bất bình. Bên cạnh đó, nhân dân còn bất mãn với thuế chợ (do bọn chủ thầu thu), thuế rượu (nhân dân chỉ được dùng rượu của các công ti độc quyền Pháp), thuế muối (chính quyền thu mua tất cả muối do nhân dân sản xuất với giá thấp rồi bán cho dân tiêu thụ với giá cao). Trong bối cảnh nhân dân Trung Kỳ đang rên xiết dưới chế độ sưu thuế nặng, tư tưởng duy tân cải cách của các sĩ phu yêu nước tiến bộ được truyền bá vào quần chúng đã làm trỗi dậy ý thức dân tộc, dân chủ, làm cho họ giác ngộ về quyền sống, quyền tự do, quyền làm người và trước hết phải chống sưu cao, thuế nặng. Phong trào bùng nổ ngày 9/3/1908 với cuộc biểu tình của hàng trăm nông dân huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam (trung tâm của phong trào Duy Tân ở Trung Kỳ) đòi phân bổ xâu thuế cho công bằng. Yêu sách không được giải quyết, ngày 11/3, hàng nghìn người các huyện phẫn uất kéo lên tỉnh, đến tòa sứ xin giảm xâu thuế. Công sứ vừa dọa nạt dân, vừa cho họ cố ý làm loạn, vừa thoái thác trách nhiệm. Dân chúng vẫn ngày đêm ở tại chỗ, một mực đòi giải quyết vì vụ thuế sắp đến kì. Một số người chia đi các vùng lân cận, phân phát truyền đơn, dán cáo thị tuyên truyền chống sưu thuế. Để uy hiếp dân chúng, Công sứ bắt giam ba người đại diện là Lương Châu, Hứa Tạo, Trương Hoành và đày đi Lao Bảo. Nhân dân càng căm phẫn, số người kéo tới ngày một đông, từng đoàn thay nhau, kẻ ở người về, cơm tiền giúp nhau. Đến ngày 12, 13/3, số người lên đến hàng vạn. Hàng ngày Công sứ và các nhân viên ra dụ dỗ, hứa hẹn, dọa nạt nhưng không thuyết phục được họ. Công sứ ra lệnh đàn áp, đánh đập, đoàn biểu tình cũng chỉ tạm thời tản ra rồi tụ họp lại. Cuộc biểu tình bao vây tòa sứ Hội An kéo dài hơn một tháng. Phối hợp với cuộc biểu tình bao vây tòa sứ, nhân dân các huyện của Quảng Nam cũng kế tục nhau nổi dậy. Tại các phủ Điện Bàn, Thăng Bình, Tam Kì, Hòa Vang, Duy Xuyên, tình hình cũng diễn ra tương tự như ở tỉnh thành. Cuộc đấu tranh ngày càng mang tính chất bạo động. Tại các chợ, trang trại, nhân viên thu thuế bị truy đuổi, quần chúng tiến hành vây bắt những tên Việt gian tay sai để trừng trị. Các tên Tri phủ, Tri huyện phải bỏ công đường chạy trốn. Mặc dù thực dân Pháp đã tìm mọi cách để phong toả phong trào chống sưu thuế Quảng Nam, song phong trào nhanh chóng lan truyền sang các tỉnh lân cận. Từ chiều ngày 28/3, phong trào bắt đầu bùng lên ở huyện Bình Sơn tỉnh Quảng Ngãi. Nhân dân Bình Sơn cùng với 25 hào lí các xã kéo đến dinh Công sứ xin giảm sưu thuế. Họ yêu cầu: Giảm thuế thân xuống 1$20. Giảm sưu dịch, bỏ thuế chợ. Trả lại ruộng muối cho làng xã. Tăng thuế rượu và thuế thuốc phiện để bù vào thiếu hụt ngân sách. Trừng trị bọn quan lại tham nhũng. Cuộc đấu tranh có tính chất chính trị hoà bình, đến ngày 31/3/1908, thu hút hàng vạn người trong toàn tỉnh bao vây tỉnh thành. Viên Công sứ không thể nào giải tán được đám biểu tình bằng thuyết phục, dụ dỗ, doạ nạt. Đến ngày 3/4/1908, Công sứ ra lệnh bắt một số người, trong đó có Lê Khiết và Nguyễn Bá Loan, đồng thời cho lính dùng roi, gậy đánh vào đoàn biểu tình nhưng đám người “cúi xuống” dưới roi vọt, đối phó lại bằng một sự gan lì hoàn toàn bất động”. Quần chúng tiếp tục kéo đến tỉnh thành ngày một đông them, đòi thả những người bị bắt. Cùng với không khí đấu tranh sôi nổi ở tỉnh lị, ở các phủ, huyện, nhân dân cũng nổi dậy đấu tranh. Nhân dân đã vây bắt vợ con tên Lãnh binh gian ác (Phan Kế Năng), trừng trị bọn tay sai, đồng thời lập nhà giam để giam giữ. Quần chúng còn kéo đến phá nhà tên Việt gian Nguyễn Thân, xung đột với bọn lính khố xanh bảo vệ. Thực dân Pháp đem quân đàn áp, tình hình có phần dịu lại. Nhưng từ ngày 13/4, hàng vạn quần chúng có vũ trang đã tập trung biểu tình, xung đột với lính khố đỏ. Mãi đến cuối tháng 4, tình hình mới lắng xuống. Ở Bình Định, từ đầu tháng 4, phong trào bùng lên mạnh mẽ. Cũng như ở Quảng Nam, Quảng Ngãi, tại đây, những người biểu tình mang theo dao kéo cắt tóc ngắn cho tất cả những người họ gặp trên đường, kể cả nho lại. Họ gọi nhau là “đồng bào”, khắc con dấu “đồng bào kí”, tiến hành bắt và trừng trị bọn thu thuế chợ, những hào lí có tiếng tàn ác, những phần tử có nợ máu với nhân dân. Đến ngày 18/4, số người biểu tình đông đến hàng vạn, bao vây tỉnh thành, được tổ chức thành nhiều lớp trong ngoài. Lớp bên trong gọi là “dân cảm tử”, lớp bên ngoài gọi là “dân tự cường”. Cuộc bao vây tỉnh thành kéo dài đến cả tháng. Nhiều cuộc xung đột xảy ra giữa binh lính với những người biểu tình. Ở Phú Yên, nhiều truyền đơn được dán ở nơi công cộng, cuộc biểu tình đông đến hàng ngàn người. Do nổ ra muộn (giữa tháng 5) khi mà các nơi đã bị đàn áp, nên nhanh chóng tan rã. Cùng với các tỉnh phía Nam Trung Kì, từ Quảng Nam phong trào lan ra phía Bắc. Ở Thừa Thiên, từ ngày 11/4, nhân dân đã bắt đầu bắt trói Phó Lãnh binh và bắt viên Phủ doãn phải dẫn đầu đoàn biểu tình. Bị thực dân Pháp đàn áp, quần chúng phân thành toán nhỏ đến vây kín Toà Khâm sứ và các dinh thự. Cuộc đấu tranh đã thu hút cả học sinh trường Quốc Tử Giám đến tham dự. Thực dân Pháp thẳng tay đàn áp. Cuộc xô xát lớn đã diễn ra ở Cầu Tràng Tiền. Đoàn biểu tình phải giải tán. Tại Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, quần chúng đã nổi dậy hưởng ứng phong trào chống sưu thuế, nhưng khá muộn (hạ tuần tháng 5) khi ở Quảng Nam, Quảng Ngãi, phong trào đã tan rã nên nhanh chóng bị đàn áp. Cuộc đấu tranh chống sưu thuế của nhân dân miền Trung trong thời gian dài đã làm tê liệt bộ máy chính quyền thực dân, phong kiến ở nông thôn. Trước sức đấu tranh mạnh mẽ của nhân dân các tỉnh miền Trung, thực dân Pháp đã huy động quân đội ở Bắc Kì và Trung Kì hợp sức đàn áp. Cùng với việc đàn áp, giải tán những đoàn biểu tình, lùng sục, bắt bớ, bắn giết những người cắt tóc ngắn, thực dân Pháp còn giải tán những hội buôn, đập phá những trường học do các thân sĩ đứng tên xin phép lập. Những người lãnh đạo phong trào Duy Tân bị kết tội là những kẻ cầm đầu, xúi giục phản loạn. Trần Quý Cáp, Lê Khiết, Nguyễn Bá Loan, Ông Ích Đường, Trịnh Khắc Lập bị kết án tử hình. Hàng chục người bị đày ra Côn Đảo như Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Thúc Duyên, Trần Cao Vân, Ngô Đức Kế… Hàng trăm người khác bị đày ở Lao Bảo, còn chết ở các lao tỉnh không kể. Tóm lại, với mục tiêu trực tiếp là chống sưu thuế, cuộc nổi dậy của nhân dân miền Trung năm 1908 thực chất là một phong trào quần chúng công khai đầu tiên ở Việt Nam, được dấy lên bởi những tư tưởng dân tộc, dân quyền do các sĩ phu duy tân đầu thế kỉ XX truyền bá. Đây là một hiện tượng lịch sử mới chưa từng xảy ra trong cuộc đấu tranh chống Pháp trước đó về phương diện quy mô, tính chất, hình thức đấu tranh, buộc thực dân Pháp phải thay đổi một vài loại thuế và có ảnh hưởng lâu dài về sau, đồng thời làm chấn động chính trường nước Pháp. - Đông Kinh Nghĩa Thục và phong trào Duy Tân ở Bắc Kì. Tháng 3/1907, các sĩ phu yêu nước tiến bộ như Lương Văn Can, Đào Nguyên Phổ, Nguyễn Quyền, Dương Bá Trạc, Lê Đại… đã cùng nhau mở một trường học theo kiểu Khánh Ứng nghĩa thục ở Nhật Bản thời Minh Trị duy tân, lấy tên là Đông Kinh Nghĩa Thục, đặt ở đầu phố Hàng Đào (Hà Nội), nhằm mục đích bồi dưỡng và nâng cao lòng yêu nước, đào tạo nhân tài, truyền bá nền học thuật mới cùng nếp sống văn minh và hỗ trợ cho phong trào Đông Du. Lương Văn Can được cử làm Thục trưởng (Hiệu trưởng), Nguyễn Quyền làm Giám học. Trường có bốn ban công tác: Ban giáo dục lo việc chiêu sinh, tổ chức việc dạy học; Ban cổ động lo việc tuyên truyền ảnh hưởng của trường trong các tầng lớp nhân dân; Ban tu thư lo việc biên soạn tài liệu; Ban tài chính lo việc thu chi kinh phí. Trường thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân, lúc đầu có từ 400 đến 500 học sinh, về sau tăng đến hơn 1000 người. Học sinh không phải đóng học phí, được cấp giấy bút, sách vở. Nhà trường có thư viện và kí túc xá cho một số học sinh nghèo ăn ở, học tập. Trường có ba bậc học là tiểu học, trung học và đại học nhưng không phải là ba cấp học nối tiếp nhau, theo một hệ thống có chương trình được hoạch định. Tiểu học được dạy cho những người mới học Quốc ngữ, trung học và đại học dạy cho những người lớn đã thông chữ Hán hoặc muốn học chữ Pháp. Chương trình học bao gồm các môn Lịch sử, Địa lí, Toán pháp, Luân lí, Khoa học thường thức (cách trí) được dạy bằng chữ Quốc ngữ, có kèm theo chữ Hán, chữ Pháp. Ngoài việc dạy học, Đông Kinh Nghĩa Thục còn tổ chức các buổi diễn thuyết, bình văn nhiều lần trong tháng để cổ động học chữ Quốc ngữ, hô hào thực nghiệp, bài trừ hủ tục, mê tín dị đoan, dùng hàng nội hoá, cắt tóc ngắn, mặc quần áo gọn gang, chống lối học từ chương theo kiểu khoa cử Nho học, kịch liệt lên án bọn tham quan ô lại, kêu gọi đoàn kết đấu tranh theo gương Cách mạng Pháp, Mĩ, Nhật. Đông đảo nhân dân đến dự: Buổi diễn thuyết người đông như hội, Kì bình văn khách đến như mưa” Thơ văn yêu nước đầu thế kỉ XX, H: Văn học, Hà Nội, 1976, tr 706. Biên soạn và dịch thuật tài liệu cũng là một hoạt động quan trọng của Đông Kinh Nghĩa Thục. Sách chữ Hán của Đông Kinh Nghĩa Thục khá phổ biến lúc bấy giờ là Nam quốc địa dư, Nam quốc vĩ nhân truyện, Quốc dân độc bản… Sách chữ quốc ngữ do nhà trường biên soạn gồm chủ yếu là những bài “ca” viết theo thể thơ lục bát, như Bài ca địa dư và lịch sử nước nhà, Kêu hồn nước, Phen này cắt tóc đi tu, Á tế ca, Đề tỉnh quốc dân hồn, Thiết tiền ca được phổ biến rộng rãi. Nhà trường còn chú ý dịch ra chữ Quốc ngữ nhiều sách và thơ văn chữ Hán của Trung Quốc hoặc của những người Việt Nam viết bằng chữ Hán như Trung Quốc tân giáo khoa thư, Văn minh tân học sách, Hải ngoại huyết thư, Đầu Pháp Chính phủ thư, Cáo lậu hủ văn… Ngoài việc đẩy mạnh các hoạt động của nhà trường, các sĩ phu còn đẩy mạnh phong trào duy tân trên các lĩnh vực khác, như phong trào cắt tóc ngắn, chấn hưng công nông, thương nghiệp như mở các hiệu buôn Đồng Lợi Tế, Công ti Đông Thành Xương, Công ti Quảng Hưng Long, Hồng Tân Hưng… mở các đồn điền ở châu Yên Lập (Hưng Hoá), ở huyện Mĩ Đức (Hà Đông). Địa bàn hoạt động của trường lúc đầu chủ yếu trong thành phố Hà Nội, sau lan rộng ra ngoại thành và các tỉnh lân cận như Hà Đông, Sơn Tây, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương, Nam Định… Từ Bắc Kì, Đông Kinh Nghĩa Thục mở rộng ảnh hưởng tới Trung Kì, Nam Kì. Đông Kinh Nghĩa Thục có các cơ sở bí mật, đưa đón học sinh ủng hộ tài chính cho phong trào Đông Du. Các công ti, hiệu buôn đồng thời là cơ sở bí mật đưa đón học sinh ủng hộ tài chính cho phong trào Đông Du. Tài liệu của Phan Bội Châu từ nước ngoài gửi về được giảng dạy và tuyên truyền trong trường. Đông Kinh Nghĩa Thục còn đóng vai trò quan trọng trong việc động viên lòng yêu nước, vận động binh lính chuẩn bị bạo động chống Pháp. Lê Đại thường tiếp xúc với binh lính ở thành Hà Nội để bàn bạc chuẩn bị đầu độc lính Pháp (6/1908). Ảnh hưởng của Đông Kinh Nghĩa Thục ngày càng mạnh, thực dân Pháp cho đó là “là phiến loạn” ở Bắc Kì và thẳng tay đàn áp. Tháng 12/1907, nhà trường bị đóng cửa, sách báo của trường bị cấm lưu hành và bị tịch thu. Những người sáng lập và các giáo viên của trường, trong đó có Lương Văn Can, Nguyễn Quyền, Vũ Hoành, Dương Bá Trạc… đều bị bắt. Tuy chỉ tồn tại được 9 tháng, nhưng Đông Kinh Nghĩa Thục có vai trò quan trọng trong cuộc vận động giải phóng dân tộc trong những năm đầu thế kỉ XX. Đông Kinh Nghĩa Thục không chỉ đơn thuần là một trường học, thực chất nó là một tổ chức cách mạng do các sĩ phu yêu nước tiến bộ tổ chức. Trước hết, đây là một cuộc vận động văn hoá và tư tưởng lớn mang tính chất dân tộc, dân chủ thời cận đại mà thành tích nổi bật là đề cao và phổ biến chữ Quốc ngữ, khẳng định tân học, phê phán tư tưởng phong kiến Nho giáo. Mặt khác, hoạt động tuyên truyền chấn hưng thực nghiệp và hoạt động kinh doanh của nó cũng góp phần thúc đẩy nền kinh tế tư sản dân tộc non trẻ phát triển. Những hoạt động của Đông Kinh Nghĩa Thục đã nâng cao tinh thần yêu nước, cách mạng của quần chúng nhân dân, lôi cuốn họ vào cuộc đấu tranh cho độc lập, tự do và giàu mạnh của đất nước, chuẩn bị về tinh thần và tư tưởng cho sự nghiệp đấu tranh cách mạng dân tộc dân chủ trong thời đại mới rộng lớn hơn sau đó. - Cuộc vận động Duy Tân ở Nam Kì Cuộc vận động Duy Tân cũng diễn ra mạnh mẽ ở Nam Kì. Những người có công lớn nhất tiến hành cuộc vận động là Trần Chánh Chiểu và Nguyễn Thần Hiến, Nguyễn Thành Út, Nguyễn An Khương. Họ đều xuất thân từ tầng lớp trên trong xã hội lúc bấy giờ. Hoạt động mạnh mẽ của phong trào ở đây là sự hưởng ứng phong trào Đông Du, với số học sinh chiếm một nửa trong số 200 thanh niên Việt Nam đi Đông Du lúc bấy giờ. Để đưa học sinh đi du học, Nguyễn Thần Hiến đã thành lập “Khuyến du học hội”. Số tiền ủng hộ Đông Du từ trong nước gửi ra thì Nam Kì chiếm nhiều nhất. Nhiều phụ huynh học sinh của Nam Kì đã sang Nhật động viên du học sinh. Kinh doanh công, thương nghiệp cũng đã diễn ra sôi nổi. Nguyễn Thành Út, Trần Chánh Chiểu thành lập Minh Tân công nghệ xã (6/1908). Đây là một công ty cổ phần có điều lệ gần giống như các công ty Pháp lúc bấy giờ. Trụ sở chính của công ty đặt tại chợ Mỹ Tho, kinh doanh các ngành nghề: kéo sợi, dệt vải, làm xà phòng, thuộc da, chế tạo đồ pha lê, sản xuất diêm. Một số hàng hóa của công ty như diêm, xà phòng đã có thể cạnh tranh trên thị trường, song đến cuối tháng 10-1908, Trần Chánh Chiểu bị bắt, công ty ngừng hoạt động. Ngoài Minh Tân công nghệ xã, Trần Chánh Chiểu còn lập Minh Tân khách sạn ở Mĩ Tho và Nam Trung khách sạn ở Sài Gòn. Đây vừa là cơ sở kinh doanh, đồng thời cũng là nơi hội họp của những người cùng chí hướng. Những tác phẩm của Phan Bội Châu như Kỉ niệm lục, Sùng bái giai nhân… được phổ biến gần như công khai tại đây. Nguyễn An Khương đã tích cực ủng hộ phong trào Đông Du, hô hào kinh doanh công, thương nghiệp và lập ra Chiêu Nam Lầu (gần chợ Sài Gòn). Cơ sở của doanh nghiệp gồm ba tầng kinh doanh ăn uống ( cả bình dân và thượng lưu) và khách sạn. Ngoài các cơ sở kinh doanh nêu trên, việc lập quán ăn, các cửa hàng bám lúa gạo, lập nhà in, bào chế thuốc Bắc, vận tải đường sông, cho vay nhẹ lãi, diễn ra phổ biến ở Sài Gòn và rải rác khắp các tỉnh Nam Kì. Hình thức hoạt động có tính chất độc đáo của phong trào Duy Tân ở Nam Kì là xuất bản tờ báo Lục tỉnh tân văn bằng chữ Quốc ngữ do Trần Chánh Chiểu làm chủ bút. Báo ra mỗi tuần một số, đều đặn từ tháng 11-1907 đến 11-1908, được 52 số với sự cộng tác của nhiều nhân sĩ Việt Nam ở Nam Kì, Nam Trung Kì và Campuchia. Báo công khai cổ xúy cho phong trào Duy Tân: hô hào bỏ cờ bạc, hút sách…, giảm bớt nghi thức khi cưới xin, ma chay, thực hiện thuần phong mĩ tục, kêu gọi giành quyền lợi kinh tế trong thương mại, dịch vụ, đấu thầu…đang nằm trong tay Hoa kiều và Ấn kiều được chings phủ Pháp bảo trợ. Mặt khác, Lục tỉnh tân văn còn lên án bọn quan lại tham nhũng, kêu gọi đồng bào hợp quần, tương thân tương ái. “ Có thể nói đây là tờ báo đối lập đầu tiên của làng báo Việt Nam ra đời trong hoàn cảnh chính trị , kinh tế đặc biệt của xứ Nam Kì”. Phong trào Duy Tân ở Nam Kì ra đời ở một miền đất sớm trở thành thuộc địa khai thác của thực dân Pháp nên về phương diện kinh tế và văn hóa có những yêu cầu và hình thức tổ chức ở mức độ cao hơn so với phong trào Duy Tân ở Bắc Kì và Trung Kì. Động lực chính của phong trào là những người thuộc tầng lớp trên của xã hội, còn nhiều gắn bó về tinh thần với nhà Nguyễn và tư tưởng quân chủ. Chủ trương của Phan Bội Châu và danh nghĩa Cường Để có vai trò quan trọng trong việc tập hợp lực lượng này. - Việt Nam Quang phục Hội Sau khi phong trào Đông Du bị giải tán, tháng 3-1909, Phan Bội Châu và các đồng chí về Trung Quốc hoạt động ( chỉ còn 5 người ở lại Nhật Bản). Cuối năm 1910, Phan Bội Châu cùng đại bộ phận đồng chí ở Quảng Đông sang Xiêm xây dựng cơ sở ở Bạn Thầm ( Đông Bắc Thái Lan). Năm 1911, Cách mạng Tân Hợi thành công, lật đổ triều đình Mãn Thanh ở Trung Quốc và Chính phủ Dân quốc lâm thời được thành lập ở Nam Kinh. Sự kiện đã đem lai cho Phan Bội Châu và các đồng chí của ông một nguồn phấn khởi và tin tưởng mới, họ xem đây là cơ hội tốt cho Cách mạng Việt Nam. Vì vậy Phan Bội Châu cùng hơn 1000 đồng chí tử Xiêm, Nhật Bản trở lại Trung Quốc để tiếp tục cuộc vận động cứu nước. Tháng 6-1912, tại Quảng Đông ( Trung Quốc), Phan Bội Châu cùng các đồng chí mở Hội nghị tuyên bố giải tán Duy Tân Hội, từ bỏ lập trường quân chủ, đề ra Nghị án dân chủ chủ nghĩa và thành lập Việt Nam Quang Phục Hội. Tôn chỉ duy nhất của Hội là: Đánh đuổi giặc Pháp bằng con đường vũ lực, khôi phục nước Việt Nam, thành lập nước Cộng hòa Dân quốc Việt Nam. Hội trưởng là Cường Để và Tổng lí là Phan Bội Châu. Bộ máy lãnh đạo chung là Việt Nam Quang Phục Hội chính phủ ( giống như một chính phủ lâm thời của nước Việt Nam sau này), đặt ở hải ngoại, gồm ba bộ phận chính: Bộ Tổng vụ: Do Cường Để kiêm nhiệm làm Bộ trưởng và Phan Bội Châu làm Phó Bộ trưởng. Bộ Bình Nghị: Gồm đại biểu của ba xứ ( Nguyễn Thượng Hiền đại biểu Bắc Kì, Phan Bội Châu đại biểu Trung Kì, Nguyễn Thần Hiến đại biểu Nam Kì). Bộ Chấp hành: Gồm 10 ủy viên đặc trách các mặt quân sự, kinh tế, giao tế, văn thư, thứ vụ, vận động, tuyên truyền… Để chuẩn bị cho cuộc đấu tranh vũ trang sắp tới, Việt Nam Quang phục Hội đã tiến hành lập ra một đội “Quang phục quân”, cán bộ chỉ huy đều là các sĩ quan và học viên quân sự đã tốt nghiệp từ các trường sĩ quan Bắc Kinh, Quân nhu Bắc Kinh, Cán bộ lục quân Quảng Tây. Hội cũng đã soạn thảo Phương lược Quang phục quân, quy định tổ chức, kỷ luật và hoạt động của quân đội; quy định Quốc Kì ( hình chữ nhật nền vàng có 5 ngôi sao đỏ), Quân Kì (nền đỏ 5 ngôi sao trắng). Để tạo nguồn tài chính, Hội đã phát hành Quân dụng phiếu. Nhằm tranh thủ sự giúp đỡ của Đảng cách mạng Trung Quốc đối với cách mạng Việt Nam, tháng 8-1912, Phan Bội Châu đã xúc tiến thành lập Hội Chấn Hoa hưng Á, do Đặng Cảnh Á người Trung Quốc làm Hội trưởng và Phan Bội Châu làm Phó Hội trưởng. Chương trình hành động của hội nhằm chủ yếu giúp cho Việt Nam Quang phục Hội thực hiện nhanh chóng việc đánh đổ thực dân Pháp xâm lược; trong đó bước 1 là viện trợ cho Việt Nam ; bước 2 viện trợ cho Ấn Độ, Miến Điện và bước 3 là viện trợ cho Triều Tiên. Ngay sau khi ra đời, Hội cử người về nước để vận động đấu tranh vũ trang. Để gây tiếng vang “kinh thiên động địa”, nhằm “thức tỉnh đồng bào”, “kêu gọi hồn nước”, Hội chủ trương ám sát những tên thực dân đầu sỏ, kể cả Toàn quyền Đông Dương Anbe Xarô ( Albert Saraut) và những tên tay sai đắc lực của chúng. Các phái viên của Hội về nước đã dùng tạc đạn giết được tên Tuần phủ Thái Bình là Nguyễn Duy Hàn (4-1913) và 2 tên trung tá Pháp ở khách sạn Hà Nội (4-1913). Cũng trong năm 1913, Hội liên tiếp phái nhiều nhóm Quang phục quân tiến đánh các đồn binh của Pháp dọc biên giới Việt – Trung, như các đồn Tà Lùng (Cao Bằng), Bình Liêu (Đông Triều), nhưng không thu được kết quả. Từ đó, hoạt động vũ trang của Việt Nam Quang phục Hội tạm lắng, đến chiến tranh thế giới thứ nhất mới hoạt động trở lại. Bản thân Phan Bội Châu cũng bị bọn quân phiệt Trung Quốc bắt ở Quảng Đông (24-12-1913) và bị giam đến tháng 2-1917 mới ra khỏi tù. Cùng với Duy Tân Hội trước đó, sự ra đời và hoạt động của Việt Nam Quang phục Hội khẳng định xu hướng bạo động là hạt nhân tư tưởng cứu nước của Phan Bội Châu. Mặt khác, sự ra đời của tổ chức này đánh dấu một bước tiến mạnh hơn trong tư tưởng chính trị của những người lãnh đạo cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ trên con đường dân chủ tư sản. Lần đầu tiên vấn đề chủ trương thành lập chế độ dân chủ cộng hòa được nêu lên trong cương lĩnh của một tổ chức cách mạng. III. Kết quả, ý nghĩa Cuộc vận động yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản cuối cùng thất bại xuất phát từ nhiều nguyên nhân: Những nhân tố mới xuất hiện trong xã hội Việt Nam phát triển chưa đủ mạnh để tạo dựng ra một giai cấp, một bộ máy lãnh đạo đủ khả năng lãnh đạo, dẫn dắt đấu tranh. Trình độ dân trí của người Việt Nam còn thấp, chưa có khả năng am hiểu sâu sắc, đầy đủ, hệ thống của tư tưởng dân chủ tư sản ở châu Âu. Còn bộ phận tư sản mới ra đời cũng cón rất non yếu, năng lực hạn chế. Tư tưởng dân chủ tư sản ở đầu thế kỉ XX phàn lớn tiếp thu qua tân thư, tân văn nên không tránh khỏi sự bớt xén, lệch lạc. Cuộc vận động yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản bị thất bại còn vì nó động chạm đến quyền lợi của thực dân Pháp ở Đông Dương và phần nào đó ảnh hưởng đến đường lối kinh tế, chính trị của Pháp ở Việt Nam. Cho nên cả xu hướng bạo động và cải cách trong con mắt của thực dân Pháp đều nguy hiểm giống nhau và đều bị đàn áp. Cho dù bị thực dân Pháp đàn áp nhưng xu hướng cách mạng dân chủ tư sản ở Việt Nam đầu thế kỉ XX có ý nghĩa cực kì quan trọng. Đánh dấu bước phát triển mới trông tư duy yêu nước Việt Nam trong thời đại mới, đoạn tuyệt với phong kiến, chuyển sang lập trường dân chủ tư sản. Nảy sinh nhiều hình thức phong phú đa dạng: bạo động, cải cách, công khai, bí mật. Đã tạo dựng được cơ sở cho sự xuất hiện một lớp người mới có tư duy mới để tiếp tục đưa phong trào yêu nước phát triển ở giai đoạn sau chiến tranh thế giới thứ nhất. Làm thức tỉnh ý thức dân tộc trong quảng đại quần chúng nhân dân trong viêc xác định rõ đâu là bạn đâu là thù, phương thức đấu tranh, thể chế chính trị, cách thức tổ chức lực lượng. Để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu cho cách mạng sau này. Có đóng góp rất quan trọng về mặt tư tưởng chính trị văn hóa. Cảnh tỉnh chế độ thống trị của thực dân Pháp, buộc chính quyền thực dân cải cách trên một số lĩnh vực có lợi cho nhân dân Việt Nam và điều chỉnh đường lối cai trị từ chủ trương đồng hóa sang hợp tác kéo dài từ đầu thế kỉ XX cho đến 1945 (mở trường đại học, tiến hành cải cách giáo dục, nới lỏng độc quyền. KẾT LUẬN Từ sau khi hoàn thành cuộc xâm lược nước ta bằng quân sự, thực dân Pháp đã tìm nhiều cách, dùng nhiều thủ đoạn để thủ tiêu cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta. Nhưng cuộc đấu tranh ấy không những không bị dập tắt mà còn ngày càng gay gắt và mãnh liệt hơn. Bước sang đầu thế kỉ XX, tình hình trong và ngoài nước có nhiều biến đổi mới. Tác động của cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp (1897 – 1914) làm cho xã hội Việt Nam từ một xã hội phong kiến chuyển dần sang một xã hội thực dân nửa phong kiến, mà đặc trưng nổi bật là sự hình thành một nền kinh tế trong đó kinh tế thực dân mang tính chất độc quyền giữ địa vị chi phối, kinh tế phong kiến được bảo tồn, kinh tế tư sản dân tộc quá nhỏ bé, bị kìm hãm nghiêm trọng và sự xuất hiện của những tầng lớp, những giai cấp xã hội mới như: tư sản dân tộc, tiểu tư sản, công nhân. Do sự phát triển quá chậm chạp về kinh tế, các tầng lớp trong khoảng đầu thế kỉ XX cũng còn đang trên con đường hình thành, chưa một giai cấp nào có ý thức đầy đủ về mình. Cũng trong khoảng thời gian này, trên thế giới, nhất là ở phương Đông, một phong trào cách mạng dân chủ tư sản mà Lê-nin gọi là sự thức tỉnh của Châu Á, nổ ra sôi nổi nhằm giải phóng các dân tộc ở phương Đông khỏi sự đè nén của chủ nghĩa đế quốc phương Tây. Chiến thắng của Nhật Bản năm 1905 trước Nga hoàng càng kích thích thêm phong trào này. Trong hoàn cảnh trong nước và ngoài nước như vậy, phong trào giải phóng dân tộc ở nước ta không thể giữ nguyên tính chất cũ. Xuất phát từ yêu cầu phát triển khách quan của xã hội Việt Nam, cụ thể là yêu cầu dân tộc và dân chủ, từ ảnh hưởng của trào lưu cách mạng dân chủ tư sản từ bên ngoài, phong trào yêu nước ở Việt Nam đã chuyển sang một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc trong phạm trù cách mạng dân chủ tư sản. Tầng lớp sĩ phu phong kiến yêu nước và tiến bộ đã đóng vai trò rất quan trọng trong cuộc chuyển hướng này. Họ đã đưa phong trào cách mạng Việt Nam tiến kịp vào trào lưu cách mạng thế giới và tạo nên một đà tiến công của quần chúng cách mạng vào thành trì của chủ nghĩa thực dân Pháp, để lại cho phong trào cách mạng sau chiến tranh thế giới thứ nhất những bài học kinh nghiệm quý báu, những điều kiện thuận lợi. Trong số những sĩ phu yêu nước đầu thế kỉ XX, Phan Bội Châu là người có những đóng góp rất to lớn. Phong trào do các ông phát động nổ ra trong phạm vi toàn quốc chủ yếu là đi theo con đường bạo động cách mạng với nhiều hình thức phong phú như bạo động kết hợp với cải cách, bí mật kết hợp với công khai, binh biến, biểu tình, mở hội buôn, lập trường học… Do đó, phong trào đã lôi cuốn được đông đảo nhân dân như dân nghèo và tiểu tư sản thành thị, binh lính, nông dân các dân tộc ít người tham gia. Nhưng, do những hạn chế có tính chất lịch sử, những người lãnh đạo phong trào chưa nhận thức đầy đủ và sâu sắc về nội dung và nhiệm vụ của một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, nên chưa định ra được một đường lối và một kế hoạch hành động khoa học, lâu dài và toàn diện, chưa lôi cuốn được quần chúng cách mạng vào một cuộc chiến đấu thống nhất bởi một cương lĩnh, chương trình hành động chung và chặt chẽ. Hơn nữa, lực lượng cơ bản nhất của cách mạng là nông dân chưa được huy động triệt để và có tổ chức. Đó là những nhược điểm lớn làm cho phong trào cách mạng đầu thế kỉ XX thất bại. Tuy nhiên, sự thất bại ấy là một bước tiến gần tới đích của sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân ta, vì đã để lại cho những người kế tục sự nghiệp ấy những bài học kinh nghiệm và sự cổ vũ về tinh thần rất quý báu. TÀI LIỆU THAM KHẢO Nguyễn Ngọc Cơ, (2007), Phong trào dân tộc trong đấu tranh chống Pháp ở Việt Nam 1885 – 1918, Nxb Đại học sư phạm, Hà Nội. Nguyễn Ngọc Cơ (chủ biên), (2007), Lịch sử Việt Nam từ 1858 đến 1918, Nxb Đại học sư phạm, Hà Nội. Trần Văn Giàu, (1957), Lịch sử Việt Nam từ 1897 đến 1914, Nxb Xây dựng, Hà Nội. Đỗ Hòa Hới, Phan Châu Trinh và sự thức tỉnh dân tộc đầu thế kỉ XX, Triết học, số 1/1992. Đỗ Thị Hòa Hới, (1996), Tìm hiểu tư tưởng dân chủ của Phan Châu Trinh, H: KHXH, Hà Nội. Đỗ Hòa Hới, Phan Châu Trinh và sự thức tỉnh dân tộc thế kỉ XX, Tạp chí Triết học, số 3/2005. Đỗ Hòa Hới, Tư tưởng canh tân sáng tạo nền văn hóa Việt Nam đầu thế kỉ XX của chí sĩ Phan Châu Trinh, Tạp chí Triết học, số 11/2005. Đinh Xuân Lâm (chủ biên), (1999), Đại cương lịch sử Việt Nam, tập 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội. Đinh Xuân Lâm, Chương Thâu, Tìm hiểu thêm về tư tưởng bạo động của Phan Bội Châu, NCLS số 5(182)/1978. Trần Huy Liệu, Phan Bội Châu tiêu biểu cho cuộc vận động yêu nước đầu thế kỉ XX, NCLS số 105/1967. Tôn Quang Phiệt, (1958), Phan Bội Châu và một giai đoạn chống Pháp của nhân dân Việt Nam, Nxb: Văn hóa, Hà Nội. Hồ Song, Phan Châu Trinh – thực tế và ảo vọng, NCLS số 1/1995. Phan Đăng Thanh, Tư tưởng lập hiến của Phan Châu Trinh, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, số 11/2005. Chương Thâu, Đinh Xuân Lâm, Phan Bội Châu và chủ trương phát triển kinh tế phục vụ cuộc vận động cách mạng đầu thế kỉ XX, NCLS số 5/1980.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docCuộc vận động yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản ở Việt Nam đầu thế kỉ XX.doc