Đảm bảo quyền làm mẹ trong việc nuôi con nuôi

Phụ nữ Việt Nam vốn sinh ra trong một đất nước với nền văn minh nông nghiệp, dựa trên nền tảng nghề trồng lúa nước. Từ bao đời nay, trong gia đình, người phụ nữ có vai trò vô cùng quan trọng và không thể thiếu được. Người phụ nữ là người chăm sóc và giáo dục con cái chủ yếu trong gia đình; sắp xếp, tổ chức cuộc sống gia đình; người phụ nữ giữ vai trò trọng yếu trong việc điều hòa các mối quan hệ gia đình và người phụ nữ góp phần hỗ trợ chồng thành đạt trong cuộc sống. Trong thực tế, phụ nữ và trẻ em là nhóm đối tượng rất dễ bị tổn thương. Bên cạnh đó, quyền của người phụ nữ và trẻ em thường hay bị vi phạm và tình trạng này không chỉ xuất hiện ở Việt Nam mà còn tồn tại ở rất nhiều quốc gia trên thế giới. Do đó, việc ghi nhận bằng pháp luật là điều cần thiết bởi vì: “Đảm bảo bằng pháp luật, một trong những điều kiện quan trọng nhất để quyền con người được thực hiện”. Việc ghi nhận bằng pháp luật sẽ đảm bảo cho các quyền đó được thực hiện. Quyền cao nhất của người phụ nữ là quyền làm mẹ. Cho dù đó là con đẻ hay con nuôi thì người mẹ cũng dành hết tình thương yêu cho người con đó. Qua đề tài: “Đảm bảo quyền làm mẹ trong việc nuôi con nuôi”, chúng ta sẽ tìm hiểu rõ hơn về quyền làm mẹ, nhất là khi quyền đó được thực hiện trong việc nuôi con nuôi, để chúng ta trân trọng nghĩa vụ thiêng liêng đó của người làm mẹ.

doc16 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 08/03/2013 | Lượt xem: 1870 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đảm bảo quyền làm mẹ trong việc nuôi con nuôi, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU:............................................................................................2 NỘI DUNG:.................................................................................................3 I. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ NUÔI CON NUÔI:........................................................3 II. ĐẢM BẢO QUYỀN LÀM MẸ TRONG VIỆC NUÔI CON NUÔI:......................5 Sự thể hiện ý chí của người nhận nuôi con nuôi (Bản chất pháp lý):................5 Điều kiện nhận nuôi con nuôi:...........................................................................8 Quyền làm mẹ trong việc nuôi con nuôi: ..........................................................9 III. HẬU QUẢ PHÁP LÝ CỦA VIỆC CHẤM DỨT NUÔI CON NUÔI: ................12 IV. THỰC TRẠNG NUÔI CON NUÔI VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ NUÔI CON NUÔI TRONG NHỮNG NĂM QUA Ở VIỆT NAM:................................................13 KẾT LUẬN:...............................................................................................14 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO:................................................15 LỜI MỞ ĐẦU Phụ nữ Việt Nam vốn sinh ra trong một đất nước với nền văn minh nông nghiệp, dựa trên nền tảng nghề trồng lúa nước. Từ bao đời nay, trong gia đình, người phụ nữ có vai trò vô cùng quan trọng và không thể thiếu được. Người phụ nữ là người chăm sóc và giáo dục con cái chủ yếu trong gia đình; sắp xếp, tổ chức cuộc sống gia đình; người phụ nữ giữ vai trò trọng yếu trong việc điều hòa các mối quan hệ gia đình và người phụ nữ góp phần hỗ trợ chồng thành đạt trong cuộc sống. Trong thực tế, phụ nữ và trẻ em là nhóm đối tượng rất dễ bị tổn thương. Bên cạnh đó, quyền của người phụ nữ và trẻ em thường hay bị vi phạm và tình trạng này không chỉ xuất hiện ở Việt Nam mà còn tồn tại ở rất nhiều quốc gia trên thế giới. Do đó, việc ghi nhận bằng pháp luật là điều cần thiết bởi vì: “Đảm bảo bằng pháp luật, một trong những điều kiện quan trọng nhất để quyền con người được thực hiện”. Việc ghi nhận bằng pháp luật sẽ đảm bảo cho các quyền đó được thực hiện. Quyền cao nhất của người phụ nữ là quyền làm mẹ. Cho dù đó là con đẻ hay con nuôi thì người mẹ cũng dành hết tình thương yêu cho người con đó. Qua đề tài: “Đảm bảo quyền làm mẹ trong việc nuôi con nuôi”, chúng ta sẽ tìm hiểu rõ hơn về quyền làm mẹ, nhất là khi quyền đó được thực hiện trong việc nuôi con nuôi, để chúng ta trân trọng nghĩa vụ thiêng liêng đó của người làm mẹ. NỘI DUNG I. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ NUÔI CON NUÔI: Nuôi con nuôi có thể được hiểu theo hai góc độ: Là sự kiện pháp lý hoặc là quan hệ pháp luật. Bài viết này đề cập việc nuôi con nuôi dưới góc độ là sự kiện pháp lý theo qui định của pháp luật Việt Nam. Với ý nghĩa là sự kiện pháp lý, việc nuôi con nuôi bao gồm các sự việc sau: - Sự thể hiện ý chí của người nhận nuôi con nuôi. Người nhận nuôi con nuôi phải thể hiện ý chí của mình về việc mong muốn nhận nuôi đứa trẻ và thiết lập quan hệ cha mẹ và con với đứa trẻ đó. Ý chí, mong muốn đó của người nhận nuôi phải thể hiện qua đơn xin nhận nuôi con nuôi. - Sự thể hiện ý chí của cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ của trẻ em được cho làm con nuôi. Ý chí của những người này trong việc cho trẻ em làm con nuôi phải minh bạch và xuất phát từ sự tự nguyện thật sự của bản thân họ mà không có bất cứ sự tác động, thúc ép, dụ dố, hứa hẹn hoặc một áp lực nào. Nói cách khác, ý chí đó phải hoàn toàn độc lập. Nội dung của ý chí đó là đồng ý cho con mình làm con nuôi của người khác. Sự đồng ý đó có thể thể hiện bất cứ lúc nào nhưng nó chỉ có ý nghĩa sau khi đứa trẻ được sinh ra mà còn sống và nó “phải được thể hiện bằng văn bản của cha mẹ đẻ của người đó; nếu cha mẹ đẻ đã chết, mất năng lực hành vi dân sự hoặc không xác định được cha, mẹ thì phải được sự đồng ý của người giám hộ” (Khoản 1 Điều 71 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000). - Sự thể hiện ý chí của bản thân người con nuôi. Theo khoản 2 Điều 71 Luật Hôn nhân và Gia đình qui định: “Việc nhận trẻ em từ đủ chín tuổi trở lên làm con nuôi phải được sự đồng ý của trẻ em đó”. Trong trường hợp này, đứa trẻ tuy chưa được coi có năng lực hành vi đầy đủ nhưng đã có khả năng nhận thức nhất định về cuộc sống, có thể nhận biết và bày tỏ thái độ của mình mong muốn hay không mong muốn làm con nuôi người khác, cũng như cảm nhận được sự an toàn hay không an toàn khi được cho làm con nuôi người khác, khi phải thay đổi môi trường sống,... Do đó, pháp luật qui định đứa trẻ từ đủ chín tuổi trở lên có quyền thể hiện ý chí độc lập, quyết định vấn đề có liên quan trực tiếp đến cuộc sống của mình; sự đồng ý làm con nuôi của đứa trẻ từ đủ chín tuổi trở lên là điều kiện bắt buộc để việc nuôi con nuôi có giá trị pháp lý. - Sự thể hiện ý chí của Nhà nước thông qua việc công nhận (hay không công nhận) việc nuôi con nuôi, thông qua thủ tục đăng ký việc nuôi con nuôi (hay từ chối việc đăng ký nuôi con nuôi). Việc nuôi con nuôi được công nhận tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền làm phát sinh hiệu lực pháp lý của việc nuôi con nuôi. Như vậy, việc nuôi con nuôi là tập hợp các sự kiện pháp lý. Nếu thiếu đi một trong các sự kiện cấu thành tập hợp đó thì không làm phát sinh quan hệ pháp luật cha mẹ và con giữa người nhận nuôi và đứa trẻ được nhận nuôi. Do đó, dưới góc độ là sự kiện pháp lý, việc nuôi con nuôi là cấu thành sự kiện – sự kiện pháp lý phức hợp. Theo Điều 67 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 qui định: “Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi, bảo đảm cho người được nhận làm con nuôi được trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục phù hợp với đạo đức xã hội...”, theo điều này thì nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha, mẹ và con lâu dài, bền vững giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi thông qua việc đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi các bên có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật, vì lợi ích tốt nhất của trẻ em được nhận làm con nuôi, bảo đảm trẻ em được yêu thương, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trong môi trường gia đình thay thế. Về chế định nuôi con nuôi: Chế định pháp lý là: “Tập hợp các qui phạm pháp luật có điểm giống nhau cùng điều chỉnh một nhóm các quan hệ xã hội tương ứng”. Từ đó suy ra chế định nuôi con nuôi là: “Tổng hợp các qui phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực nuôi con nuôi. Chế định nuôi con nuôi thể hiện ý chí của Nhà nước và phù hợp với các điều kiện kinh tế - xã hội từng giai đoạn lịch sử nhất định”. II. ĐẢM BẢO QUYỀN LÀM MẸ TRONG VIỆC NUÔI CON NUÔI: 1. Sự thể hiện ý chí của người nhận nuôi con nuôi (Bản chất pháp lý): Quyền của người làm mẹ được thể hiện hoàn toàn trong ý chí của người nhận nuôi con nuôi. Người nhận nuôi con nuôi có thể nhận nuôi con nuôi vì nhiều lý do khác nhau nhưng trước hết là từ nhu cầu của người nuôi muốn nuôi dưỡng một đứa trẻ nhằm thiết lập quan hệ cha mẹ và con giữa hai bên. Nhu cầu đó bị chi phối trước tiên từ yếu tố tình cảm, xuất phát từ ý chí và sự chủ động của người nhận nuôi con nuôi; thường thì cảm xúc của người mẹ bao giờ cũng lớn hơn của người cha, chức năng thiên bẩm của người phụ nữ là làm mẹ nên khát khao được làm mẹ luôn luôn nhen nhóm, thôi thúc trong lòng người phụ nữ; nếu người mẹ đó không có khả năng sinh con hoặc người chồng không có khả năng giúp người vợ mang thai và sinh con thì khát khao làm mẹ đó càng thôi thúc người phụ nữ hơn. Thông qua việc nhận nuôi một đứa trẻ, người phụ nữ muốn thỏa mãn những nhu cầu nhất định của bản thân và gia đình. Bản thân người phụ nữ đó mới nhận thức được đầy đủ và hiểu rõ mong muốn của mình trong việc nhận nuôi con nuôi. Như vậy, nhu cầu của người nuôi là lí do chủ yếu dẫn tới việc nhận nuôi con nuôi. Người nhận nuôi con nuôi thường có suy nghĩ kĩ càng trước khi đi đến quyết định nhận nuôi con nuôi. Việc có nhận nuôi con nuôi hay không là do chính bản thân người nhận nuôi quyết định trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, chủ động và hiểu biết đầy đủ về hậu quả pháp lý của nó. Song sự tự nguyện đó phải xuất phát từ nhu cầu tình cảm, tinh thần của người nhận nuôi con nuôi và phù hợp với lợi ích của người được nhận làm con nuôi thì mới được coi là hợp pháp. Nếu việc nhận nuôi con nuôi xuất phát từ những động cơ, mục đích trái pháp luật, trái đạo đức sẽ không có giá trị pháp lý. Trong trường hợp cả hai vợ chồng cùng nhận nuôi con nuôi thì bản chất của vấn đề vẫn không thay đổi, có khác chỉ là ở chỗ sự thể hiện ý chí mong muốn nhận nuôi con nuôi phải là ý chí chung của cả hai vợ chồng. Hai vợ chồng phải thỏa thuận và thống nhất được về việc nhận nuôi con nuôi. Trong đơn xin nhận nuôi con nuôi phải đứng tên cả hai vợ chồng với tư cách là cha nuôi và mẹ nuôi. Tuy nhiên, vấn đề sẽ phức tạp hơn khi người nhận nuôi con nuôi đã có vợ (chồng), nhưng vợ (chồng) của họ không muốn nhận nuôi con nuôi. Trong trường hợp này, đơn xin nhận nuôi con nuôi phải có chữ kí của cả hai vợ và chồng. Qui định này có phần chưa được rõ ràng nên có thể dẫn tới nhiều cách hiểu khác nhau. Trong đơn xin nhận nuôi con nuôi, người nhận nuôi có thể được trình bày nguyện vọng của mình xin đích danh một trẻ em nào đó từ cơ sở nuôi dưỡng hoặc từ gia đình. Nếu chưa xác định được đích danh trẻ em cần xin làm con nuôi thì người nhận nuôi có thể trình bày nguyện vọng của mình về đặc điểm của trẻ em mà họ muốn nhận nuôi như tuổi, giới tính, tình trạng sức khỏe, tình trạng gia đình của đứa trẻ: là trẻ em mồ côi, bị bỏ rơi hay đang sống tại gia đình,... Nguyện vọng đó của người nhận nuôi về nguyên tắc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền tôn trọng và đáp ứng nếu có đối tượng trẻ em thích hợp. Như vậy, người nhận nuôi con nuôi hoàn toàn chủ động thể hiện ý chí trong việc xin nhận nuôi một đứa trẻ phù hợp với nguyện vọng, tình cảm của mình. Chỉ khi người xin nuôi con nuôi không bày tỏ ý muốn của mình về đứa trẻ cụ thể muốn nhận nuôi thì khi đó cơ quan có thẩm quyền có thể giới thiệu bất cứ trẻ em nào cho họ. Từ sự phân tích trên cho thấy, người nhận nuôi con nuôi luôn chủ động và độc lập trong việc nhận nuôi con nuôi. Việc nhận nuôi con nuôi thể hiện rõ ý chí đơn phương từ phía người nhận nuôi. Người nhận nuôi thể hiện ý chí của mình một cách chủ động khách quan thông qua đơn xin nhận nuôi con nuôi. Họ cũng có thể đưa đơn bất cứ khi nào họ muốn. Hành vi đó của người nhận nuôi con nuôi chỉ phát sinh hậu quả pháp lý khi có người được nhận nuôi phù hợp, được cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ đồng ý và được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận. Như vậy, sự thể hiện ý chí của người nhận nuôi con nuôi là hành vi pháp lý đơn phương; nó chỉ có hiệu lực khi các chủ thể có liên quan tiếp nhận. Tóm lại, trong ý chí của người nhận nuôi con nuôi, quyền làm mẹ cũng được thể hiện phần nào. Tuy nhiên, trong trường hợp cả hai vợ chồng cùng nhận nuôi con nuôi hoặc một trong hai bên vợ hoặc chồng muốn nhận nuôi con nuôi thì phải có sự thỏa thuận, thống nhất cả hai bên, trong trường hợp này thì hầu như quyền làm mẹ của người phụ nữ bị hạn chế nhiều do phải phụ thuộc vào quyết định của người chồng và gia đình người chồng. 2. Điều kiện nhận nuôi con nuôi: Về cơ bản, điều kiện của người nhận con nuôi được qui định tại Điều 14 trong Luật Nuôi con nuôi năm 2011 kế thừa quy định của Điều 69 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000. Cụ thể như sau: “1. Người nhận con nuôi phải có đủ các điều kiện sau đây: a) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; b) Hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên; c) Có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi; d) Có tư cách đạo đức tốt. 2. Những người sau đây không được nhận con nuôi: a) Đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên; b) Đang chấp hành quyết định xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh; c) Đang chấp hành hình phạt tù; d) Chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thanh niên vi phạm pháp luật; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em. 3. Trường hợp cha dượng nhận con riêng của vợ, mẹ kế nhận con riêng của chồng làm con nuôi hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi thì không áp dụng quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này.” Luật nuôi con nuôi quy định độ tuổi tối thiểu người xin nhận con nuôi được tiến hành thủ tục xin nhận con nuôi (hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên) là nhằm đảm bảo việc người xin nhận con nuôi có đủ điều kiện cần thiết để nuôi dưỡng con nuôi. Qui định này cũng đảm bảo cho người mẹ có đủ điều kiện cần thiết để nuôi dưỡng con nuôi như kiến thức, suy nghĩ chín chắn, kinh tế ổn định,... 3. Quyền làm mẹ trong việc nuôi con nuôi: Theo Điều 74 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 qui định về quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi: “Giữa cha mẹ nuôi và con nuôi có các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con theo qui định tại Luật này, kể từ thời điểm đăng ký việc nuôi con nuôi...”, tức là khi xác lập quan hệ cha mẹ nuôi và con nuôi thì quyền và nghĩa vụ của hai bên được qui về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đẻ và con đẻ. Áp dụng theo Điều 34 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 về nghĩa vụ và quyền của cha mẹ, theo đó thì mẹ nuôi có nghĩa vụ và quyền thương yêu, trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con nuôi; tôn trọng ý kiến của con nuôi; chăm lo việc học tập và giáo dục để con nuôi phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội, mẹ nuôi không được phân biệt đối xử giữa các con, ngược đãi, hành hạ, xúc phạm con; không được lạm dụng sức lao động của con chưa thành niên; không được xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội. Theo Điều 36 qui định về nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng thì người làm mẹ có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng con nuôi chưa thành niên hoặc con nuôi đã thành niên nhưng bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Người mẹ còn có quyền và nghĩa vụ giáo dục con theo qui định tại Điều 37 của Luật này: “Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền giáo dục con, chăm lo và tạo điều kiện cho con học tập. Cha mẹ tạo điều kiện cho con được sống trong môi trường gia đình đầm ấm, hoà thuận; làm gương tốt cho con về mọi mặt; phối hợp chặt chẽ với nhà trường và các tổ chức xã hội trong việc giáo dục con. Cha mẹ hướng dẫn con chọn nghề; tôn trọng quyền chọn nghề, quyền tham gia hoạt động xã hội của con. Khi gặp khó khăn không thể tự giải quyết được, cha mẹ có thể đề nghị cơ quan, tổ chức hữu quan giúp đỡ để thực hiện việc giáo dục con”. Hơn nữa, mẹ nuôi còn có quyền đại diện cho con nuôi theo qui định tại Điều 39: “Cha mẹ là người đại diện theo pháp luật của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự, trừ trường hợp con có người khác làm giám hộ hoặc có người khác đại diện theo pháp luật”. Và có quyền thay đổi họ, tên; xác định dân tộc của con nuôi (Điều 75 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000). Ngoài các quyền về nhân thân, trong việc nuôi con nuôi, người làm mẹ còn có quyền quản lý tài sản riêng của con, có quyền định đoạt tài sản riêng của con chưa thành niên theo qui định tại các Điều 45, Điều 46 của Luật này. “Điều 45. Quản lý tài sản riêng của con 1. Con từ đủ mười lăm tuổi trở lên có thể tự mình quản lý tài sản riêng hoặc nhờ cha mẹ quản lý. 2. Tài sản riêng của con dưới mười lăm tuổi, con mất năng lực hành vi dân sự thì do cha mẹ quản lý. Cha mẹ có thể uỷ quyền cho người khác quản lý tài sản  riêng của con. 3. Cha mẹ không quản lý tài sản riêng của con trong trường hợp người tặng cho tài sản hoặc để lại tài sản thừa kế theo di chúc cho người con đã chỉ định người khác quản lý tài sản đó hoặc những trường hợp khác theo quy định của pháp luật. Điều 46. Định đoạt tài sản riêng của con chưa thành niên 1. Trong trường hợp cha mẹ quản lý tài sản riêng của con dưới mười lăm tuổi thì có quyền định đoạt tài sản đó vì lợi ích của con, có tính đến nguyện vọng của con, nếu con từ đủ chín tuổi trở lên. 2. Con từ đủ mười lăm tuổi đến dưới mười tám tuổi có quyền định đoạt tài sản riêng; nếu định đoạt tài sản có giá trị lớn hoặc dùng tài sản để kinh doanh thì phải có sự đồng ý của cha mẹ.” Quyền của người mẹ trong việc nuôi con nuôi không những được thể hiện trực tiếp trong các qui định của pháp luật mà nó còn được thể hiện gián tiếp qua nghĩa vụ của con nuôi. Như con nuôi có bổn phận yêu quý, kính trọng, biết ơn, hiếu thảo với cha mẹ, lắng nghe những lời khuyên bảo đúng đắn của cha mẹ, giữ gìn danh dự, truyền thống tốt đẹp của gia đình, có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ. Nghiêm cấm con có hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm cha mẹ (Điều 35 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000). Như vậy, trong pháp luật hiện hành, bảo đảm quyền của người mẹ trong việc nuôi con nuôi tuy không được qui định rõ ràng, cụ thể là người mẹ nhưng cũng đã thể hiện được tính nhân đạo phần nào trong pháp luật của ta đã cố gắng bảo vệ tốt nhất quyền lợi của phụ nữ và trẻ em, nhóm đối tượng rất dễ bị tổn thương. III. HẬU QUẢ PHÁP LÝ CỦA VIỆC CHẤM DỨT NUÔI CON NUÔI Khi xác lập quan hệ mẹ nuôi-con nuôi thì người mẹ cũng có quyền chấm dứt việc nuôi con nuôi. Theo qui định của pháp luật về tố tụng dân sự, người mẹ nuôi có quyền yêu cầu Tòa án hoặc đề nghị Viện kiểm sát yêu cầu Tòa án ra quyết định chấm dứt việc nuôi con nuôi trong các trường hợp được qui định tại Điều 76 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000: “Cha mẹ nuôi và con nuôi đã thành niên tự nguyện chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi; con nuôi bị kết án về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của cha, mẹ nuôi; ngược đãi, hành hạ cha, mẹ nuôi hoặc có hành vi phá tán tài sản của cha, mẹ nuôi;...”, đồng thời quyền này của người mẹ cũng được qui định tại Điều 25 về căn cứ chấm dứt việc nuôi con nuôi trong Luật Nuôi con nuôi năm 2011. “Khi chấm dứt việc nuôi con nuôi theo quyết định của Toà án, các quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi cũng chấm dứt; nếu con nuôi là người chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình thì Toà án ra quyết định giao người đó cho cha mẹ đẻ hoặc cá nhân, tổ chức trông nom, nuôi dưỡng.”(Điều 78 Luật Hôn nhân và Gia đình), qui định này đã bảo đảm quyền lợi chính đáng cho cha mẹ nuôi cũng là bảo đảm quyền cho mẹ nuôi. IV. THỰC TRẠNG NUÔI CON NUÔI VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ NUÔI CON NUÔI TRONG NHỮNG NĂM QUA Ở VIỆT NAM: - Thực trạng nuôi con nuôi: vào đầu những năm 90 của Thế kỷ XX, khi người nước ngoài đến Việt Nam nhận nuôi con nuôi tăng đột biến thì số lượng đăng ký nuôi con nuôi trong nước chiếm tỷ lệ thấp hơn số lượng đăng ký nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, ví dụ: từ năm 1990 đến năm 1996, số trẻ làm con nuôi người Việt Nam chiếm 48.03%, trong khi đó số trẻ làm con nuôi người nước ngoài chiếm 51.07%. Từ năm 2001 đến nay, người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi chịu sự điều chỉnh của hệ thống pháp luật chặt chẽ hơn và chỉ có công dân của các nước đã ký kết hiệp định hợp tác về nuôi con nuôi với Việt Nam mới được nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi, nên số lượng đăng ký nuôi con nuôi nước ngoài giảm đi rất nhiều. Vì vậy, tỉ lệ nuôi con nuôi trong nước cao hơn nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. - Quản lý Nhà nước về nuôi con nuôi: Nghị định 219/HĐBT ngày 20/11/1987 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã chuyển giao công tác hộ tịch từ Bộ Công an sang Bộ Tư pháp và UBND các cấp quản lý. Từ đó đến nay, Bộ Tư pháp đã thống nhất quản lý công tác hộ tịch trong đó có vấn đề nuôi con nuôi. Tuy có sự thay đổi về cơ quan qunar lý nhưng việc nuôi con nuôi vẫn được đăng ký tại UBND cấp xã, nơi cư trú của người nhận nuôi con nuôi hoặc của người được nhận làm con nuôi. Thực tế quản lý Nhà nước về nuôi con nuôi cho thấy còn tồn tại một số vướng mắc như: nhiều trường hợp không đăng kí nuôi con nuôi, khi muốn đăng kí thì con nuôi đã trên 15 tuổi nên không thực hiện được; vấn đề nuôi con nuôi giữa những người có quan hệ họ hàng chưa được pháp luật qui dịnh rõ ràng, thống nhất; còn tồn tại một số trường hợp nhận nuôi con nuôi không đúng mục đích, nhưng không có cơ sở cụ thể để từ chối đăng kí việc nuôi con nuôi. Từ thực trạng của việc nuôi con nuôi và quản lí Nhà nước về nuôi con nuôi có thể nhận định rằng đã đến lúc phải có một đạo luật riêng về vấn đề nuôi con nuôi, qui định chi tiết, cụ thể về vấn đề nuôi con nuôi. Trên cơ sở đó, Luật Nuôi con nuôi đã được ban hành, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2011. KẾT LUẬN Nuôi con nuôi – một hiện tượng xã hội, một chế định pháp lý đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử pháp luật Việt Nam. Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha, mẹ và con giữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi...; dựa trên ý chí chủ quan của các chủ thể tham gia quan hệ nuôi con nuôi. Việc nuôi con nuôi được qui định trong Luật hôn nhân và gia đình có ý nghĩa góp phần bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em, bảo vệ bà mẹ và phụ nữ; việc ra đời một đạo luật riêng về nuôi con nuôi là Luật Nuôi con nuôi năm 2011 càng thể hiện rõ hơn tầm quan trọng của chế định này. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Trường Đại học Luật Hà Nôi, Giáo trình Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam, Nxb. CAND, Hà Nội, 2009. 2. Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000. 3. Luật Nuôi con nuôi năm 2011. 4. Bộ môn Luật hôn nhân và gia đình, “Hoàn thiện chế định nuôi con nuôi trong pháp luật Việt Nam”, Đề tài khoa học cấp trường, Trường Đại học Luật Hà Nội. 5. Nguyễn Phươmg Lan, “Bản chất pháp lý của việc nuôi con nuôi theo pháp luật Việt Nam”, Tạp chí luật học, 3/2004, tr. 30-34. 6. Kiều Thị Huyền Trang, “Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với nhau ở trong nước”, Khóa luận tốt nghiệp. 7. Công văn số: DL_NCON, “Đề cương giới thiệu Luật Nuôi con nuôi”, Trang tin điện tử Cục thuế Bình Dương, 8.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docĐảm bảo quyền làm mẹ trong việc nuôi con nuôi.doc
Luận văn liên quan