Đánh giá hiệu quả hoạt động của các Doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa tại Thành phố Cần Thơ

MỤC LỤC MỤC LỤC 1 DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT . MỤC LỤC BIỂU BẢNG . LỜI MỞ ĐẦU 3 CHƯƠNG 1: MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CPH DNNN 6 1.1 Một số vấn đề về DNNN. .6 1.1.1 Khái niệm DNNN .6 1.1.2 Tình hình hoạt động của các DNNN. .6 1.2 Khái niệm và đặc điểm công ty cổ phần 10 1.2.1 Khái niệm công ty cổ phần .10 1.2.2 Đặc điểm công ty cổ phần 10 1.3 Cơ sở lý luận về CPH DNNN 11 1.3.1 Khái niệm CPH DNNN .11 1.3.2 CPH DNNN là một xu thế tất yếu 12 1.3.4 Mục tiêu CPH DNNN .14 1.4 Kinh nghiệm thực tiễn CPH ở một số quốc gia trên thế giới. .16 CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DNNN CPH TẠI TP CẦN THƠ 21 2.1 Thực trạng tình hình CPH DNNN ở Việt Nam 21 2.1.1 Những kết quả đạt được của tiến trình CPH DNNN. .23 2.1.2 Những tồn tại yếu kém của tiến trình CPH DNNN Việt Nam .24 2.2 Khái quát về tình hình KT-XH Thành phố Cần Thơ. .26 2.3 Thực trạng CPH ở TP. Cần Thơ 30 2.3.1 Theo số liệu thống kê của Sở Kế hoạch và Đầu tư TP. Cần Thơ .30 2.3.2 Theo số liệu điều tra năm 2004 .31 2.3.2.1 Cơ cấu ngành nghề và qui mô của các DNNN đã được CPH 32 2.3.2.2 Tiến trình CPH .33 2.3.2.3 Cơ cấu sở hữu của các doanh nghiệp sau CPH 35 2.3.2.4 Lao động 36 2.3.2.5 Hiệu quả kinh doanh của các DNNN sau CPH 37 2.4 Những tồn tại làm chậm tiến trình CPH ở TP. Cần Thơ 39 2.4.1 Nhận thức của các cấp các ngành, cán bộ, công nhân viên: .39 2.4.2 Chủ trương, chính sách về CPH: 39 2.4.3 Xác định giá trị doanh nghiệp .39 2.4.4 Chế độ ưu đãi, ưu tiên 40 2.4.5 Vấn đề hậu CPH .40 CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH TIẾN TRÌNH CPH CÁC DNNN TẠI TP. CẦN THƠ .42 3.1 Giải pháp ở tầm vi mô .42 3.1.1 Nâng cao nhận thức về CPH .42 3.1.2 Xử lý nợ khó đòi, nợ tồn đọng trước khi CPH .43 3.1.3 Hoàn thiện công tác định giá doanh nghiệp. 44 3.1.4 Đảm bảo lợi ích của người lao động trong doanh nghiệp CPH .46 3.1.5 Chính sách đối với cán bộ lãnh đạo doanh nghiệp khi CPH 48 3.1.6 Tiếp tục xử lý hệ quả của quá trình CPH 49 3.2 Giải pháp ở tầm vĩ mô .50 3.2.1 Hoàn thiện môi trường pháp lý cho việc thực hiện CPH 50 3.2.2 Cải tiến các thủ tục hành chính liên quan đến CPH .50 3.2.3 Chính sách ưu đãi đối với DNNN thực hiện CPH .51 3.2.4 Xây dựng tiền đề và tiến tới thành lập trung tâm giao dịch chứng khoán ở TP. Cần Thơ .52 3.2.5 Thiết lập cơ quan chuyên trách về CPH DNNN .53 3.2.6 Quan tâm hơn nữa tình hình sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần .53 KẾT LUẬN 55 PHỤ LỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO LỜI MỞ ĐẦU DNNN được xem là xương sống của nền kinh tế Việt Nam. Nhìn chung, DNNN đang chiếm tới 70% tài sản quốc gia, 50% vốn đầu tư toàn xã hội. Chính vì vậy, DNNN hiện nay đang giữ vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế và có nhiều đóng góp rất lớn vào các nguồn thu của NSNN. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực thì khu vực kinh tế này vẫn bộc lộ rất nhiều mặt yếu kém. Trong nền kinh tế ở nước ta, có nhiều khu vực hoạt động tương đối kém hiệu quả và khu vực DNNN là một trong những khu vực điển hình. Chỉ có khoảng 77,2% số DNNN hiện hoạt động có lãi, số còn lại bị lỗ hoặc hoà vốn. Nhận thức được điều này, Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện nhiều chủ trương, biện pháp tích cực nhằm đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN. Đây được xem như là một việc làm mang tính tất yếu khách quan. Để đổi mới cách quản lý, huy động vốn đầu tư đổi mới công nghệ, tạo thêm việc làm, nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế, giữ vững vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân thì việc thực hiện CPH các DNNN là con đường đúng đắn và phù hợp nhất trong giai đoạn hiện nay. CPH DNNN là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta nhằm huy động thêm nguồn vốn xã hội vào phát triển sản xuất, kinh doanh, tạo động lực mạnh mẽ và cơ chế quản lý năng động để sử dụng có hiệu quả vốn và tài sản của Nhà nước cũng như của toàn xã hội, nâng cao khả năng cạnh tranh doanh nghiệp trong quá trình hội nhập. Đây được xem là một trong những giải pháp chủ yếu để đổi mới cơ bản khu vực kinh tế nhà nước, tăng khả năng cạnh tranh của các DNNN nói riêng và của cả nền kinh tế nói chung trong điều kiện hội nhập. Tuy nhiên, trong thời gian qua, bên cạnh những thành tích đạt được rất đáng khích lệ, chương trình CPH so với yêu cầu và kế hoạch đề ra diễn ra còn chậm. Kế hoạch CPH đưa ra hàng năm nhưng chưa có năm nào thực hiện đạt được kết quả như mong muốn. Một vấn đề đáng lưu tâm nữa là hiện tượng CPH “khép kín” trong nội bộ doanh nghiệp. Sau khi CPH, về nhiều mặt từ nhân sự đến tài chính, quản trị doanh nghiệp vẫn chưa trở thành công ty cổ phần đích thực, khả năng giám sát của cổ đông bị hạn chế. Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do sự nhận thức, về cơ chế chính sách, về bộ máy và tổ chức chỉ đạo thực hiện. Cần Thơ cũng không là một ngoại lệ, tình hình CPH ở TP. Cần Thơ cũng chậm như tình hình chung của cả nước. CPH DNNN với mục tiêu chính là nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động kinh doanh của các công ty đã CPH trên cả nước cũng như ở TP. Cần Thơ. Tuy nhiên, sau CPH, các DNNN đã CPH có đạt được mục tiêu đề ra lúc đầu hay không, thực trạng hoạt động như thế nào ? Để giải đáp các vấn đề trên tôi chọn đề tài: “Đánh giá hiệu quả hoạt động của các DNNN CPH tại Thành phố Cần Thơ” để làm luận văn tốt nghiệp thạc sỹ của tôi. Mục tiêu bao quát trong luận văn này là đánh giá thực trạng tiến trình CPH của Việt Nam nói chung và của TP. Cần Thơ nói riêng; tìm ra những nguyên nhân làm ảnh hưởng đến tiến trình CPH và những tác động của CPH đến sự phát triển và hiệu quả hoạt động của các DNNN ở TP. Cần Thơ; đề ra một số biện pháp nhằm khắc phục những tồn tại của tiến trình CPH ở TP. Cần Thơ. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, đề tài đề cập đến cơ sở lý luận và thực tiễn có liên quan đến tình hình CPH các DNNN ở Việt Nam, tập trung phân tích và đánh giá tác động của CPH đến hiệu quả hoạt động của các DNNN trước và sau khi tiến hành CPH diễn ra trên địa bàn Thành phố Cần Thơ. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số giải pháp góp phần thực hiện thành công và có hiệu quả công cuộc CPH DNNN ở TP. Cần Thơ. Với phạm vi nêu trên, đề tài sử dụng số liệu thứ cấp từ đề tài cấp Bộ của thạc sỹ Trương Đông Lộc về CPH ở Việt Nam, Niên giám thống kê, Ban đổi mới doanh nghiệp, Sở Kế hoạch và Đầu tư TP. Cần Thơ, internet, sách báo, tạp chí và các Nghị định, các văn bản có liên quan của Chính phủ về CPH DNNN. Để làm nổi bật các mục tiêu nghiên cứu, đề tài sử dụng phương pháp phân tích định tính và định lượng dựa trên các biểu bảng thống kê. Nội dung đề tài được trình bày trong 3 chương chính. Sau lời mở đầu, chương 1 trình bày một số cơ sở lý luận và thực tiễn CPH các DNNN. Chương 2 phân tích đánh giá hiệu quả hoạt động của các DNNN CPH tại TP. Cần thơ. Trước khi kết luận, chương 3 đề ra một số giải pháp thích hợp cho tiến trình CPH ở TP. Cần Thơ. Mọi thắc mắc xin liên hệ yahoo : Tuvanluanvan

pdf56 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 19/08/2013 | Lượt xem: 1733 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đánh giá hiệu quả hoạt động của các Doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa tại Thành phố Cần Thơ, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
vốn điều lệ là 18,5 tỷ đồng. Với sự chỉ đạo sâu sát của lãnh đạo Thành Uỷ, UBND TP. Cần Thơ, có sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành, thường xuyên theo dõi, đôn đốc tiến trình thực hiện sắp xếp DNNN tại địa phương, Ban chỉ đạo và tổ chuyên viên đã dành nhiều thời gian để giải quyết kịp thời những khó khăn vướng mắc trong quá trình sắp xếp DNNN, đặc biệt là sự linh động trong giải quyết khó khăn cho các DNNN khi tiến hành CPH. Bảng 05: Tình hình CPH doanh nghiệp nhà nước ở TP. Cần Thơ Năm Số lượng DNNN đã CPH Số lượng đơn vị phụ thuộc DNNN đã CPH 1998 01 2000 01 02 2001 02 03 2002 02 2003 04 01 2004 04 04 Tổng cộng 12 12 (Nguồn: Sở Kế hoạch và đầu tư TP. Cần Thơ) Tính đến thời điểm ngày 31/12/2004, sau khi sắρ xếρ lại, TP. Cần Thơ đã CPH được 24 DNNN và đơn vị phụ thuộc DNNN. Con số doanh nghiệp CPH Nguyễn Thị Kim Phượng – Cao Học 5 31 không nhiều nhưng hiệu quả CPH là đáng kể. Hiện tại có 4 DNNN đã CPH chỉ mới đi vào hoạt động. Năm 2004, tình hình CPH DNNN ở TP. Cần Thơ có nhiều chuyển biến theo hướng tích cực, số lượng DNNN đã CPH tăng lên, tuy nhiên quá trình này diễn ra còn quá chậm. Theo kế hoạch mục tiêu đã đề ra năm 2004, lẽ ra TP. Cần Thơ phải CPH đến 26 DNNN và đơn vị phụ thuộc DNNN, nhưng thực tế chỉ CPH được 08 đơn vị, chiếm tỷ lệ 30,76% so với kế hoạch. Mặc dù so với cùng kỳ năm trước tiến trình CPH năm 2004 tăng 60%, nhưng xét về con số tuyệt đối chỉ tăng có 3 đơn vị. Bước đầu, tiến trình CPH phần nào đã mang lại kết quả thỏa đáng cho một số doanh nghiệp. Điển hình như chỉ sau 4 tháng đi vào hoạt động theo mô hình mới, đến cuối tháng 7/2000, công ty cổ phần Thực phẩm rau quả Cần Thơ đã đạt những thành tựu đáng kể. Công ty đã lãi trên 300 triệu đồng, bằng cả năm trước khi tiến hành CPH. Một năm sau, hoạt động của công ty mở rộng bằng việc mở thêm 4 chi nhánh tại các tỉnh ĐBSCL. Số lao động của công ty không những không giảm mà còn tăng 50 người so với trước CPH, thu nhập bình quân người lao động tăng 150.000 đồng/người/tháng. Cuối năm 2000, theo kết quả điều tra của Liên đoàn Lao động Tỉnh Cần Thơ cũ kết hợp với Sở Lao động- Thương binh xã hội, Sở Tài chính vật giá tại các doanh nghiệp CPH cho thấy, hiệu quả hoạt động của hầu hết các công ty cổ phần đều ổn định và tăng trưởng tốt. Bình quân các công ty này có doanh thu tăng 19,5%, lợi nhuận tăng 16%, thu nhập tăng 18,9% và số lao động cũng tăng 18,9% so với trước khi CPH. 2.3.2 Theo số liệu điều tra năm 2004 Trong phần này chúng tôi dùng số liệu điều tra 15 DNNN đã CPH để mô tả thực trạng CPH ở TP. Cần Thơ. Trong số 24 DNNN đã CPH tính đến tháng 12 năm 2004 thì có 8 DNNN mới CPH năm 2004 nên chúng tôi đã không điều tra, và trong số 16 DNNN còn lại thì có 1 doanh nghiệp chúng tôi không thu được số liệu đầy đủ nên trong quá trình phân tích chúng tôi đã loại ra. Mô tả này đề cập đến một số khía cạnh như: cơ cấu và qui mô của các DNNN được CPH, những vấn đề liên quan đến Nguyễn Thị Kim Phượng – Cao Học 5 32 CPH, cơ cấu sở hữu của các công ty sau CPH, tình hình biến động lao động sau CPH, và một số chỉ tiêu phản ánh sự phát triển của các DNNN sau CPH. 2.3.2.1 Cơ cấu ngành nghề và qui mô của các DNNN đã được CPH Theo số liệu điều tra, cơ cấu ngành nghề của các DNNN đã CPH được chia thành 3 nhóm ngành: công nghiệp sản xuất, thương mại dịch vụ và ngành công nghiệp khác. Bảng 06: Cơ cấu DNNN đã CPH phân theo ngành Lĩnh vực kinh doanh Số công ty Tỉ lệ phần trăm (%) Phần trăm tích luỹ (%) Công nghiệp sản xuất 5 33,33 33,33 Thương mại, dịch vụ 7 46,67 80,00 Ngành khác 3 20,00 100,00 Tổng cộng 15 100,00 Nguồn: Số liệu điều tra năm 2004 Từ bảng trên chúng ta thấy rằng số DNNN được CPH thuộc ngành thương mại dịch vụ chiếm tỉ lệ cao nhất (46,67%), kế đến là ngành công nghiệp sản xuất (33,33%) và cuối cùng là ngành công nghiệp khác (20%). Bảng 07: Vốn điều lệ và tài sản của các công ty cổ phần Số công ty Thấp nhất Trung bình Cao nhất Độ lệch chuẩn Vốn điều lệ (triệu đồng) 15 590 9.321 20.000 6.612 Tài sản trước CPH (triệu đồng) 15 944 14.740 33.498 11.830 Tài sản sau CPH (triệu đồng) 15 919 24.350 131.166 32.754 Nguồn: Số liệu điều tra năm 2004 Về qui mô, chúng tôi dùng 3 chỉ tiêu để đo lường qui mô của một công ty là vốn điều lệ, tài sản trước CPH và tài sản sau CPH. Các DNNN được CPH ở TP. Cần Thơ đa phần có qui mô nhỏ (dựa trên vốn điều lệ). Vốn điều lệ trung bình của một doanh nghiệp chỉ có 9,32 tỷ đồng. Doanh nghiệp có vốn điều lệ thấp nhất là 0,59 tỷ và cao nhất là 20 tỷ. Nguyễn Thị Kim Phượng – Cao Học 5 33 Tổng tài sản trung bình của một DNNN trước CPH là 14,74 tỷ đồng, sau CPH là 24,35 tỷ đồng. Chỉ tiêu này cho thấy qui mô của doanh nghiệp được mở rộng sau CPH, tài sản của doanh nghiệp tăng 65,2% so với trước khi CPH. Số DNNN đã được CPH có vốn điều lệ lớn hơn 10 tỷ chiếm tỷ lệ lớn nhất (46,67%). Doanh nghiệp có vốn điều lệ dưới 5 tỷ chiếm 33,33% và thấp nhất là các doanh nghiệp có vốn điều lệ từ 5 đến 10 tỷ (20%) trên tổng số các DNNN đã được CPH. Bảng 08: Cơ cấu DNNN đã CPH phân theo vốn điều lệ Vốn điều lệ Số công ty Tỉ lệ phần trăm (%) Phần trăm tích luỹ (%) Dưới 5 tỷ 5 33,33 33,33 Từ 5 tỷ đến 10 tỷ 3 20,00 53,33 Lớn hơn 10 tỷ 7 46,67 100,00 Tổng cộng 15 100,00 Nguồn: Số liệu điều tra năm 2004 2.3.2.2 Tiến trình CPH Về thời gian CPH, các doanh nghiệp thường mất rất nhiều thời gian để có thể hoàn thành việc CPH doanh nghiệp của mình. Trung bình một doanh nghiệp mất 7,8 tháng để hoàn thành việc CPH; thời gian hoàn thành CPH sớm nhất là 3 tháng và cao nhất là 18 tháng. Theo các doanh nghiệp thì việc xác định giá trị doanh nghiệp là khâu mất nhiều thời gian nhất, đặc biệt là các doanh nghiệp có qui mô lớn. Bảng 09: Thời gian hoàn thành CPH Số công ty Thấp nhất Trung bình Cao nhất Độ lệch chuẩn Thời gian CPH (tháng) 15 3,0 7,8 18,0 3,9 Nguồn: Số liệu điều tra năm 2004 Để xác định đâu là động lực khiến các DNNN đi đến quyết định CPH, chúng tôi đã thu thập thông tin dựa trên điểm xếp hạng mức độ quan trọng của từng yếu tố. Điểm xếp hạng cho từng lý do được tóm tắt ở bảng sau. Nguyễn Thị Kim Phượng – Cao Học 5 34 Dựa vào bảng sau chúng ta thấy rằng lý do quan trọng nhất dẫn đến quyết định CPH của các DNNN là để nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Lý do được ưu đãi về thuế và để huy động thêm vốn với chi phí thấp không phải là lý do chính để khuyến khích doanh nghiệp CPH bởi vì phần lớn các DNNN cho rằng việc ưu đãi về thuế chỉ có tác dụng trong ngắn hạn. Đối với các doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả thì việc phát hành cổ phiếu để huy động thêm vốn không phải là giải pháp tối ưu bởi vì, theo họ, nó có thể làm giảm tỷ lệ cổ tức của các cổ đông. Vì vậy, thay vì phát hành cổ phiếu họ sẽ chọn giải pháp là đi vay ngân hàng. Những doanh nghiệp này do làm ăn có hiệu quả nên họ không gặp khó khăn trong việc vay nợ từ các ngân hàng thương mại. Bảng 10: Tầm quan trọng của các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định CPH DNNN Lý do Điểm xếp hạng Do được ưu đãi về thuế 2,9 Để nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty 4,8 Để huy động thêm vốn với chi phí thấp 2,8 Do đề nghị hoặc bắt buộc từ các cơ quan quản lý nhà nước 2.6 Nguồn: Số liệu điều tra năm 2004 Để xác định những khó khăn trở ngại làm chậm quá trình CPH ở TP. Cần Thơ, chúng tôi cũng thu thập thông tin trên bảng câu hỏi điều tra về điểm xếp hạng mức độ quan trọng của các khó khăn, trở ngại mà theo chúng tôi nó có ảnh hưởng đến tiến trình CPH. Điểm số cũng được cho từ 1 đến 5 theo thứ tự từ không quan trọng cho đến rất quan trọng. Theo kết quả thống kê được trình bày ở bảng trên, phương pháp định giá tài sản là trở ngại lớn nhất, làm chậm quá trình CPH ở khu vực (4,1 điểm). Vấn đề xử lý nợ tồn đọng của các doanh nghiệp được chọn CPH cũng là một trở ngại lớn, đặc biệt là các doanh nghiệp có số nợ tồn đọng lớn. Ngoài hai trở ngại trên, thủ tục hành chính, hành lang pháp lý và thiếu sự ủng hộ từ giám đốc các DNNN cũng là những Nguyễn Thị Kim Phượng – Cao Học 5 35 khó khăn trong quá trình CPH. Tuy nhiên, đây không phải là những trở ngại chính làm chậm quá trình CPH ở TP. Cần Thơ. Bảng 11: Mức độ quan trọng của những khó khăn trở ngại trong quá trình CPH DNNN Những khó khăn, trở ngại Điểm xếp hạng Phương pháp định giá tài sản (theo qui định Nhà nước) 4,1 Những trở ngại về hành lang pháp lý 2,9 Những trở ngại về thủ tục hành chính 3,2 Thiếu sự ủng hộ từ giám đốc các DNNN 3,7 Vấn đề phúc lợi xã hội của người lao động sau CPH 2,2 Vấn đề xử lý nợ tồn đọng của các doanh nghiệp được chọn CPH 3,9 Nguồn: Số liệu điều tra năm 2004 2.3.2.3 Cơ cấu sở hữu của các doanh nghiệp sau CPH Cơ cấu sở hữu có ảnh hưởng rất lớn đến cơ chế quan lý và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp sau CPH. Để làm cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo chúng tôi chia các chủ sở hữu doanh nghiệp thành 3 nhóm: Nhà nước, cán bộ công nhân viên trong công ty và các nhà đầu tư bên ngoài. Cơ cấu sở hữu của các doanh nghiệp được trình bày ở bảng sau là dựa trên tỷ lệ cổ phiếu nắm giữ của các nhóm cổ đông trong lần đầu tiên phát hành. Kết quả điều tra cho thấy Nhà nước vẫn còn nắm giữ một tỷ lệ khá lớn cổ phiếu ở các công ty cổ phần. Cụ thể là trung bình Nhà nước nắm giữ đến 36,1% số cổ phiếu của một công ty. Đặc biệt có DNNN nắm giữ đến 70% số cổ phiếu. Các công ty cổ phần mà nhà nước nắm giữ trên 50% số cổ phiếu chiếm 20% và thường đây là những công ty có quy mô lớn và đang làm ăn có hiệu quả. Cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp cũng nắm giữ một số lượng khá lớn số lượng cổ phiếu của các doanh nghiệp được CPH. Đối tượng này trung bình sở hữu 38,27% số cổ phiếu của một doanh nghiệp. Đặc biệt có công ty cán bộ công nhân viên nắm giữ đến 80% số cổ phiếu. Tuy nhiên, những doanh nghiệp mà cán bộ công nhân viên nắm giữ một tỷ lệ lớn cổ phiếu thường là những công ty có Nguyễn Thị Kim Phượng – Cao Học 5 36 quy mô nhỏ. Trong các DNNN đã được CPH, các nhà đầu tư bên ngoài nắm giữ trung bình 25,63% số cổ phiếu của một doanh nghiệp. Các nhà đầu tư bên ngoài chủ yếu là các doanh nghiệp và cá nhân trong nước. Bảng 12: Cơ cấu sở hữu của DNNN sau CPH Chủ sở hữu Số công ty Thấp nhất (%) Trung bình (%) Cao nhất (%) Độ lệch chuẩn (%) Nhà nước 15 0,00 36,10 70,00 20,05 Cán bộ CNV trong công ty 15 9,00 38,27 80,00 22,82 Các nhà đầu tư bên ngoài 15 0,00 25,63 59,30 15,99 Tổng cộng 100,00 Nguồn: Số liệu điều tra năm 2004 Với cơ cấu sở hữu như vậy chúng ta có thể khẳng định rằng vai trò của Nhà nước vẫn còn rất lớn trong các công ty cổ phần, đặc biệt là những công ty có quy mô lớn. Ở những công ty đó khi mà nhà nước nắm giữ số cổ phần chi phối thì cơ cấu tổ chức quản lý của công ty gần như không có những thay đổi lớn. Bảng 13: DNNN đã CPH phân tỉ lệ vốn do nhà nước nắm giữ Phần trăm số cổ phiếu Số công ty Tỉ lệ phần trăm (%) Phần trăm tích luỹ (%) Dưới 30% 7 46,67 46,67 Từ 30% đến 50% 5 33,33 80,00 Lớn hơn 50% 3 20,00 100,00 Tổng cộng 15 100,00 Nguồn: Số liệu điều tra năm 2004 2.3.2.4 Lao động Số lao động bình quân của một công ty trước CPH là 148 người, sau CPH là 155 người. Nếu so sánh số lao động bình quân của một công ty trước và sau khi CPH thì từ bảng sau chúng ta thấy rằng bình quân một công ty sau CPH số lao động tăng thêm là 17 người. 40% số công ty có sa thải công nhân và 60% còn lại thì không. Trong số các công ty có người lao động bị thôi việc, bình quân một công ty Nguyễn Thị Kim Phượng – Cao Học 5 37 cho nghỉ việc đến 14 người. Ngược lại, có đến 93% số công ty cổ phần có tuyển mới lao động sau khi CPH. Số lao động tuyển mới bình quân một công ty vẫn là 23 người. Trong số các công ty có tuyển mới lao động thì có đến 72% số công ty chỉ tuyển thêm lao động đã qua đào tạo, 28% số công ty tuyển dụng cả lao động đã qua đào tạo và chưa qua đào tạo. Bảng 14: Tình hình biến động lao động sau CPH Số công ty Thấp nhất Trung bình Cao nhất Độ lệch chuẩn Số lao động trước CPH 15 15 148 650 175 Số lao động sau CPH 15 23 155 650 166 Số lao động bị thôi việc 15 0 14 121 32 Số lao động được tuyển mới 15 0 23 114 31 Nguồn: Số liệu điều tra năm 2004 Qua phân tích ở trên chúng ta thấy rằng sau CPH tình hình lao động trong các công ty có một sự thay đổi đáng kể cả về lượng và chất. Số lao động bị thôi việc chủ yếu là lao động chưa qua đào tạo và không thích ứng với môi trường làm việc mới. Ngược lại, trong tuyển mới lao động, các công ty ngày càng chú trọng hơn đến chất lượng của lao động. 2.3.2.5 Hiệu quả kinh doanh của các DNNN sau CPH Để đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh hay sự phát triển của các DNNN sau CPH, chúng tôi dùng 5 chỉ tiêu sau: doanh thu thực tế, lợi nhuận trước thuế trên doanh thu, lợi nhuận trước thuế trên tài sản có, lợi nhuận trước thuế trên vốn tự có và lương bình quân một năm của người lao động. Theo thống kê từ số liệu điều tra, cả 5 chỉ tiêu kể trên đều đạt kết quả khả quan so với trước khi CPH. Cụ thể doanh thu thực tế bình quân của một doanh nghiệp trước CPH là 15,56 tỷ đồng; sau CPH là 28,339 tỷ đồng, tăng 82,13% so với doanh thu trước khi CPH. Lợi nhuận trước thuế trên doanh thu cũng tăng từ 5,86% trước CPH lên 10,12% sau CPH, tức tăng 72,69%. Lợi nhuận trước thuế trên tổng tài sản và lợi nhuận trước thuế trên vốn tự có sau CPH cũng tăng 121,95% và 67,8% Nguyễn Thị Kim Phượng – Cao Học 5 38 tương ứng so với trước khi CPH. Đặc biệt là lương bình quân của người lao động cũng tăng lên rõ rệt từ 10,49 triệu đồng/năm lên đến 14,79 triệu đồng/năm, tức là tăng khoảng 41%. Bảng 15: Giá trị trung bình của một số chỉ số phát triển DNNN sau CPH Chỉ tiêu Số công ty Trước CPH Sau CPH Chênh lệch % Chênh lệch Doanh thu thực tế (triệu đồng) 15 15.560 28.339 12.779 82,13 Lợi nhuận trước thuế/doanh thu (%) 15 5,86 10,12 4,26 72,69 Lợi nhuận trước thuế/tài sản có (%) 15 7,47 16,58 9,11 121,95 Lợi nhuận trước thuế/vốn tự có (%) 15 15,84 26,58 10,74 67.80 Lương bình quân/năm (triệu đồng) 15 10,49 14,79 4,30 40,99 Nguồn: Số liệu điều tra năm 2004 Cũng theo số liệu điều tra được, hiện tại chưa có một DNNN đã CPH nào có ý định tham gia thị trường chứng khoán, kể cả công ty cổ phần Dược Hậu Giang là công ty có vốn điều lệ cao nhất. Công ty này cho rằng nhiệm vụ trước mắt là phải tậρ trung ổn định chiến lược phát triển trong vòng 5 đến 10 năm, sau đó mới tính đến chuyện có tham gia vào thị trường chứng khoán hay không. Tuy nhiên, một nguyên nhân chính mà hầu hết các công ty cổ phần không muốn tham gia vào thị trường chứng khoán, vì các công ty cổ phần không muốn phải thực hiện báo cáo công khai về tài chính cho các cổ đông và cơ quan quản lý theo đúng quy định. Tóm lại, trong chủ trương đổi mới và sắρ xếρ lại DNNN, CPH là một phương thức cải cách DNNN khá hữu hiệu. Mặc dù còn nhiều hạn chế, nhưng tiến trình CPH ở TP. Cần Thơ có sự chuyển biến tích cực và đạt một số kết quả khả quan. Sau khi thực hiện CPH, biên chế tại doanh nghiệp được tinh giản gọn nhẹ, năng suất lao động tăng, giá thành sản phẩm giảm và lương hình quân tăng cao so trước khi thực hiện CPH. Kết quả đạt được như trên, cơ bản đã giải quyết được một phần nào về vấn đề nhận thức cho các doanh nghiệp thực hiện CPH. Mặt khác, các doanh nghiệp này còn được sự quan tâm ủng hộ từ các cơ quan nhà nước và các đối tác, đặc biệt là sự ủng hộ từ phía các tổ chức tín dụng. Nguyễn Thị Kim Phượng – Cao Học 5 39 2.4 Những tồn tại làm chậm tiến trình CPH ở TP. Cần Thơ CPH DNNN là một vấn đề rất phức tạp, do đó thực tế triển khai CPH tại TP. Cần Thơ cũng bộc lộ không ít những vấn đề bất cập cần phải sửa đổi. 2.4.1 Nhận thức của các cấp các ngành, cán bộ, công nhân viên: Do nhận thức về CPH DNNN chưa được nhất quán trong các cấp các ngành nên không ít ngành, địa phương và một số cán bộ lãnh đạo còn chần chừ, chờ đợi, e ngại chệnh hướng hoặc chưa thực sự yên tâm về hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp sau CPH. Đối với cán bộ cấp trên sợ mất quyền quản lý đối với doanh nghiệp trực thuộc, vì gắn với nó là lợi ích cá nhân, cục bộ; sợ mất bao cấp của Nhà nước khi chuyển sang CPH. Đối với người lao động do chưa thấy rõ được quyền lợi và trách nhiệm của mình nên khi CPH sợ ảnh hưởng đến công ăn việc làm như mất việc hay thu nhập sẽ thấp. Chính vì vậy, họ chưa có sự tích cực ủng hộ, đồng tình cao. 2.4.2 Chủ trương, chính sách về CPH: Các chính sách chủ trương về CPH còn nhiều bất cập như quy trình, thủ tục còn phức tạp, chưa khuyến khích doanh nghiệp và người lao động như việc khống chế mức mua cổ phần của các pháp nhân và thể nhân trong đợt phát hành lần đầu nhằm tránh tình trạng độc quyền, biến CPH thành tư nhân hóa là chưa hợp lý và có ảnh hưởng không tốt đến quá trình CPH DNNN. Việc qui định người sở hữu cổ phần sau ba năm mới được rút cổ phần hoặc sang nhượng cổ phần cũng không hợp lý, gây thiệt thòi cho người lao động trong trường hợp lao động chuyển công tác khác, đồng thời hạn chế việc lưu chuyển vốn trên thị trường. Ngoài ra còn có những qui định chưa rõ ràng về cách giải quyết những khoản nợ khó đòi, tồn đọng nhiều năm trong cơ chế cũ nay ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh; quy định về mua số cổ phần ưu đãi . . . 2.4.3 Xác định giá trị doanh nghiệp Đánh giá sai, thiếu công tâm, khách quan giá trị thực của số tài sản hiện có đối với DNNN thuộc diện CPH theo hướng có lợi cho một số cá nhân. Nguyễn Thị Kim Phượng – Cao Học 5 40 Việc xác định giá trị doanh nghiệp để CPH hiện nay còn mang tính chủ quan do chưa gắn với thị trường, gây phiền hà cho doanh nghiệp. Việc ban hành các qui định về xác định phẩm chất và giá trị tài sản chưa được chú trọng nên quyền quyết định cuối cùng thuộc về Hội đồng định giá doanh nghiệp sau khi bàn bạc, thống nhất với doanh nghiệp. Kết quả thu được nhiều khi không phù hợp với thực tế vì có thể bị chi phối bởi tính cảm quan, thỏa hiệp giữa Hội đồng định giá và doanh nghiệp được định giá. Thêm vào đó, thủ tục CPH rườm rà, còn nhiều vướng mắc và thường kéo dài so với qui định. Theo qui định thì thời gian xác định giá trị công ty cổ phần là 30 ngày, kể từ ngày thành lập Hội đồng xác định giá trị doanh nghiệp, nhưng trên thực tế qui định này không được thực hiện đúng. Các qui định về xác định giá trị doanh nghiệp cũng không phù hợp với thực tế, cách vận dụng chưa xem xét kỹ phần giá trị lợi thế của doanh nghiệp do điều kiện cơ sở hạ tầng mang lại, đặc biệt là uy tín, thương hiệu của doanh nghiệp trên thị trường. 2.4.4 Chế độ ưu đãi, ưu tiên Các DNNN đã CPH chưa được hưởng những ưu đãi, công bằng như những doanh nghiệp do Nhà nước quản lý như quyền sử dụng đất, vay vốn, xuất nhập khẩu… Khi còn là DNNN, doanh nghiệp được hưởng nhiều ưu đãi về tín dụng, song khi trở thành là công ty cổ phần, tức là được xếρ vào hàng ngũ “kinh tế tư nhân” thì chính sách hỗ trợ tín dụng của ngân hàng đối với các công ty này hiện nay vẫn chưa đầy đủ. Nhiều doanh nghiệp sau khi CPH có tâm lý như “bị bỏ rơi” và đây chính là rào cản lớn cho công tác CPH ở TP. Cần Thơ. 2.4.5 Vấn đề hậu CPH - Tăng xu hướng CPH trong nội bộ doanh nghiệp: Việc bán cổ phần thiếu sự công khai, minh bạch còn khép kín trong nội bộ doanh nghiệp ở một số trường hợp đã dẫn đến những yếu kém của DNNN sau CPH và chậm được khắc phục. Với cách làm này các công ty cổ phần sẽ không thực hiện được việc mở rộng đối tượng, quyền mua cổ phần của các nhà đầu tư cũng như việc huy động vốn và thay đổi phương thức quản lý, nâng cao hiệu quả kinh doanh. Nguyễn Thị Kim Phượng – Cao Học 5 41 - Thị trường chuyển nhượng ngầm: Hiện nay, chưa có một DNNN đã CPH nào ở TP. Cần Thơ có cổ phiếu niêm yết trên thị trường chứng khoán. Nguyên nhân, do những điều kiện, thủ tục niêm yết, sự can thiệp mang tính hành chính đã không tạo điều kiện cho các công ty cổ phần tham gia niêm yết trên thị trường chứng khoán. Mặt khác, do các công ty cổ phần ngại khi được niêm yết trên thị trường chứng khoán phải công khai báo cáo tài chính hàng năm. Chính điều này đã không tạo được cơ hội cho các nhà đầu tư tiếp xúc với nguồn hàng cũng như mở rộng đối tượng tham gia mua cổ phần của những doanh nghiệp CPH. Chính vì vậy, thị trường ngầm về cổ phiếu đã diễn ra tương đối phổ biến. - Bộ máy, tư duy, cung cách làm ăn của các DNNN sau khi CPH: Hầu hết các doanh nghiệp khi chuyển thành công ty cổ phần ít được đổi mới mà do bộ máy lãnh đạo trước đây đảm nhận, cách quản lý điều hành vẫn theo kiểu cũ. Việc duy trì đội ngũ lãnh đạo trước đây với cách làm và nếp nghĩ cũ không phù hợp với địa vị pháp lý mới của doanh nghiệp và không phù hợp với cơ chế thị trường. Chính vì vậy, nhiều doanh nghiệp sau khi CPH đã gặp không ít khó khăn về vốn, phương thức hoạt động và công tác quản lý kinh doanh. Một số khác tìm mọi cách để thôn tính dần số cổ phiểu của cổ đông là Nhà nước, mua gom số cổ phiếu khác dưới nhiều thủ đoạn rất tinh vi nhằm thâu tóm quyền lực. Nguyễn Thị Kim Phượng – Cao Học 5 42 CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH TIẾN TRÌNH CPH CÁC DNNN TẠI TP. CẦN THƠ Phải nhìn nhận rằng tiến trình CPH các DNNN ở TP. Cần Thơ đã đạt được kết quả ban đầu khá khả quan, đến cuối năm 2004, cả thành phố đã CPH được 24 DNNN và đơn vị phụ thuộc. Sau CPH, hầu hết các công ty này đều hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Tuy nhiên, cũng phải đánh giá rằng tiến trình CPH các DNNN ở TP. Cần Thơ còn chậm. Trong khuôn khổ bài luận văn này, chúng tôi xin đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả và đẩy nhanh tiến trình CPH ở khu vực. 3.1 Giải pháp ở tầm vi mô 3.1.1 Nâng cao nhận thức về CPH Một DNNN khi tiến hành CPH tất yếu phải thay đổi một số quyền lợi, trách nhiệm của người đang trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp. Mục đích của những người lao động trong doanh nghiệp là có việc làm ổn định và thu nhập đảm bảo cho cuộc sống. Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, việc tăng cường công tác tuyên truyền nhận thức đúng đắn về ý nghĩa chủ trương CPH cho nhân dân và cũng như việc nâng cao nhận thức và nghiệp vụ chuyên môn cho những người có trách nhiệm ở địa phương và các DNNN thuộc diện CPH là công việc đầu tiên phải tiến hành. Mục đích của việc tuyên truyền này nhằm củng cố niềm tin của người lao động cũng như các nhà quản lý doanh nghiệp thấy được lợi ích của CPH. Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước thì sẽ quan tâm đúng mức hơn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các DNNN đã CPH, tránh phân biệt đối xử. Mặc dù, vấn đề nhận thức, tư tưởng là một trở lực lớn đối với tiến trình CPH, nhưng khi vấn đề này được đẩy mạnh tuyên truyền rộng rãi cho đến khi được khơi thông, quán triệt, thì sẽ nhận được sự ủng hộ và tích cực tham gia CPH doanh nghiệp của lực lượng lao động cũng như tạo tâm lý nhằm khuyến khích cho các DNNN tự nguyện đăng ký tham gia CPH. Bên cạnh đó, có thể tranh thủ được sự Nguyễn Thị Kim Phượng – Cao Học 5 43 đồng tình, ủng hộ của các cơ quan hữu quan trong quá trình và sau CPH. Có như vậy thì tiến trình CPH mới diễn ra một cách nhanh chóng. Học tập kinh nghiệm của Hồ Chủ tịch khi Người tuyên truyền cho phong trào hợp tác hóa. Đó là tổ chức các Đại hội cán bộ CPH giỏi để mọi người học tập kinh nghiệm của nhau. Đó là tuyên truyền về những doanh nghiệp sau CPH làm ăn tốt, doanh thu, lợi nhuận, việc làm đều tăng hơn trước. Đó là đào tạo khẩn trương những cán bộ thành thạo CPH để giúp đỡ những nơi khó khăn. Bởi vì, CPH không phải là hoạt động xã hội mang tính phong trào nhất thời, CPH động chạm đến lợi ích biết bao người. Hãy làm mọi cách để cả cán bộ và người lao động đều nhận thấy được lợi ích của CPH đối với họ. Khi đó CPH tự khắc là phong trào của người lao động chân chính mà sức cản của các nhóm đặc lợi không thể nào đối phó được. Đối với các cán bộ vì tư lợi mà cản trở quá trình CPH phải được xử lý công tâm và thích đáng để gạt bỏ các thế lực bảo thủ, nấp dưới danh nghĩa này nọ cản trở lợi ích của người lao động, cản trở lợi ích của quốc gia. Tóm lại, cần phải có giải pháp hữu hiệu để thay đổi nhận thức của các DNNN muốn CPH, có như vậy mới đẩy nhanh được tốc độ phát triển của đất nước, tránh tụt hậu xa hơn về kinh tế cũng như nguy cơ đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. 3.1.2 Xử lý nợ khó đòi, nợ tồn đọng trước khi CPH Vấn đề nợ tồn đọng, nợ khó đòi đang là vấn đề gây nhiều khó khăn khi tiến hành CPH tại các DNNN, đặc biệt là giải quyết nợ khó đòi, nợ tồn đọng nhiều năm trong cơ chế cũ. Hiện nay, các DNNN có những khoản nợ trong xây dựng cơ bản là rất lớn, các doanh nghiệp khó có khả năng thu hồi nợ với nhiều lý do khác nhau, nhưng chủ yếu là do thủ tục xây dựng cơ bản chưa đúng quy định. Hiện tại, TP. Cần Thơ đã có hướng giải quyết là đề nghị các doanh nghiệp này tậρ trung thu hồi nợ, xác định, phân loại nợ để có hướng xử lý. Tuy nhiên, biện pháp này chưa đem lại kết quả thật khả quan. Hiện tại các đơn vị có nợ tồn đọng nhiều như Công ty xây dựng và phát triển đô thị TP. Cần Thơ, Công ty xây dựng Cần Thơ, Công ty xây lắp và phát triển kinh doanh nhà Cần Thơ. Đây cũng chính là đối tượng mà TP. Cần Nguyễn Thị Kim Phượng – Cao Học 5 44 Thơ sẽ CPH trong năm 2004, tuy nhiên do chưa giải quyết được các khoản nợ tồn đọng nên đã được chuyển sang là đối tượng CPH DNNN mới trong năm 2005. Chính vì vậy, để củng cố cho doanh nghiệp trước khi thực hiện CPH, biện pháp trước tiên phải thực hiện là giúp cho các DNNN cơ cấu lại năng lực sản xuất kinh doanh và làm lành mạnh hoá tình tình tài chính, đặc biệt là xử lý các khoản nợ. Để giải quyết tình trạng này Bộ Tài chính cần thiết lập một cơ chế xử lý nợ mới theo hướng cởi mở và thông thoáng hơn. Đồng thời mở rộng quyền cho cơ sở trong việc xử lý những khoản nợ đã mất khả năng thanh toán, chẳng hạn như: - Ban hành cơ chế cho phép các DNNN được khoanh nợ hoặc chuyển nợ Ngân sách thành vốn Nhà nước cấp ở những hoạt động kinh doanh có hiệu quả, nhưng do các doanh nghiệp này đang thiếu vốn kinh doanh. Trong trường hợp các doanh nghiệp có những khoản nợ phải trả quá lớn, thực chất là thất thoát không có khả năng trả nợ, doanh nghiệp không thể kinh doanh có lãi trong vòng 3 năm sau CPH, Thành phố nên xem xét có thể cho xoá hẳn một phần nợ, tạo điều kiện cho DNNN phát triển. - Ngân hàng và các chủ nợ khác có thể chấp nhận cho các doanh nghiệp trả phần nợ gốc không lãi phần còn nợ, nhưng phải trả ngay và có thể xoá một phần nợ nếu được mua cổ phiếu không qua đấu giá (tối đa theo mức khống chế) ở các doanh nghiệp thực hiện CPH. 3.1.3 Hoàn thiện công tác định giá doanh nghiệp. Xác định giá trị doanh nghiệp là một nội dung vô cùng quan trọng trong quá trình CPH đòi hỏi mang tính kỹ thuật nghiệp vụ cơ bản, nhưng rất phức tạp và khó khăn. Để công tác định giá được thực hiện chính xác và nhanh chóng, cần phải: - Bổ sung hệ thống các văn bản hướng dẫn việc xác định chất lượng tài sản để làm cơ sở cho việc định giá như các phương pháp hoặc tiêu chuẩn cụ thể hơn để xác định hao mòn hữu hình, nhà cửa, phương pháp xác định giá trị quyền sử dụng đất, đặc biệt là xác định giá trị hao mòn vô hình của các thiết bị, lợi thế doanh nghiệp, giá trị thương hiệu. Hiện tại có một số tài sản không biết định giá như thế nào là đúng. Chẳng hạn như đối với tài sản của công ty cổ phần là xe ô tô thì việc định giá Nguyễn Thị Kim Phượng – Cao Học 5 45 xe là một công việc hết sức khó khăn. Đối với những xe cũ, được mua vào những năm 70, sau thời gian sử dụng quá lâu, tài sản đã bị hư hỏng quá nhiều nên cũng đã được thay thế nhiều phụ tùng với các nhãn hiệu khác nhau. Do đó, sản phẩm cuối cùng của xe chỉ là một sản phẩm chấρ vá, không biết ô tô đó mang nhãn hiệu gì và phải định giá như thế nào là đúng. - Bổ sung, sửa đổi quy định về xác định giá trị doanh nghiệp của Hội đồng xác định giá trị doanh nghiệp theo hướng khách quan hơn, nhanh chóng và đảm bảo sự công bằng về lợi ích giữa Nhà nước và các cổ đông. Kết quả mang lại của Hội đồng mang lại còn chủ quan, thiếu chính xác, chưa phản ánh đúng giá trị thực của doanh nghiệp nên người mua cổ phiếu thường không tin tưởng vào kết quả định giá này. Mặt khác, nếu Hội đồng xác định giá trị doanh nghiệp được thành lập chậm trễ sẽ ảnh hưởng đến kết quả xác định giá trị doanh nghiệp do thời gian kiểm kê và thời gian thẩm tra xác định giá trị doanh nghiệp cách xa nhau. Thực hiện tốt được điều này sẽ đẩy nhanh tiến độ CPH do rút ngắn được thời gian CPH. - Trên thế giới có nhiều phương thức định giá cổ phiếu doanh nghiệp cần CPH. Phương thức Hội đồng thẩm định giá với sự chủ trì của Bộ tài chính hiện nay tỏ ra bất cập ở những phương diện: Cán bộ của Bộ tài chính không đủ nên nhiều doanh nghiệp phải chờ; cán bộ của Bộ tài chính không thể am hiểu giá của các loại vật tư máy móc chuyên dùng của nhiều ngành khác nhau nên định giá không chính xác; nguyên tắc thỏa thuận giữa doanh nghiệp và Hội đồng thẩm định giá mang nhiều tính chất chủ quan, không phản ánh đúng giá thị trường... Theo chúng tôi, nên áp dụng các hình thức định giá của thị trường tài chính như đấu giá, định giá của các tổ chức định giá chuyên nghiệp, tư vấn định giá của các công ty chứng khoán... Về đại thể, nên đa dạng các phương pháp định giá cho phù hợp với từng đối tượng doanh nghiệp. Muốn vậy, cơ quan chuyên trách về CPH phải có phương án cho từng loại đối tượng đó. Thậm chí có thể thuê chuyên gia và các doanh nghiệp định giá của nước ngoài. Ngoài ra cần cải tiến hệ thống kế toán thống kê theo chuẩn mực thế giới. Việc làm này có nhiều cái lợi như: tạo mặt bằng chung cho các công ty cổ Nguyễn Thị Kim Phượng – Cao Học 5 46 phần có vốn trong nước và nước ngoài có chuẩn so sánh thống nhất; tạo bình đẳng cho người đầu tư trong nước và nước ngoài; dễ xác định giá trị doanh nghiệp. - Chính phủ cần qui định bắt buộc đối với các DNNN trước khi CPH thì giá trị doanh nghiệp phải được công ty kiểm toán độc lập đánh giá và xác nhận. Có như thế thì người mua cổ phiếu mới tin tưởng vào kết quả định giá của hội đồng thẩm định, đảm bảo sự công bằng về lợi ích giữa Nhà nước và các cổ đông khác, đồng thời rút ngắn được thời gian CPH. 3.1.4 Đảm bảo lợi ích của người lao động trong doanh nghiệp CPH Nhà nước cần tạo điều kiện cho tất cả cán bộ công nhân viên trong các DNNN đã CPH đều có thể tham gia mua cổ phần, đặc biệt là đối với những cán bộ không có đủ khả năng để mua cổ phần trong doanh nghiệp. Do đó, Nhà nước nên có những chính sách cho cán bộ công nhân viên mua cổ phần bằng cách vay tín dụng với lãi suất thấp, thời gian dài giống như Nhà nước hỗ trợ cho nông dân vay vốn để sản xuất. - Đối với lao động nghèo trong doanh nghiệp CPH: Cần bỏ mức khống chế “không được vượt quá 20% tổng số cổ phần nhà nước bán theo giá ưu đãi” đối với số cổ phần mua trả dần của người lao động nghèo trong doanh nghiệp. Thay vì bán chịu cổ phiếu cho người nghèo theo giá ưu đãi, có thể áp dụng phương thức cấp không một số lượng cổ phiếu nhất định tương đương với mức ưu đãi 30%. Doanh nghiệp sau CPH không phải ghi nợ, theo dõi suốt 10 năm. Hơn nữa, rủi ro cổ phiếu bán chịu trở thành một khoản nợ khó đòi sau này cũng sẽ bị loại trừ. Việc xác định lao động thuộc diện nghèo nên giao cho Ban giám đốc, Đảng ủy, Công đoàn bình xét. Thông tư số 03/LĐTBXH ngày 9/1/1999 của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội về quy định chuẩn nghèo chỉ nên dùng làm tài liệu tham khảo. Thông tư này rất khó áp dụng vì không có căn cứ cụ thể để xác định thu nhập của người lao động. Nếu chỉ căn cứ những khoản thu nhập chính thức thì bình quân thu nhập đầu người trong gia đình của hầu hết người lao động là dưới 300.000 đồng; như vậy dễ xảy ra tranh chấp. Nguyễn Thị Kim Phượng – Cao Học 5 47 - Cần có sự phân biệt mức độ ưu đãi (số cổ phần cho mỗi năm làm việc thực tế) đối với người lao động theo ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh, khắc phục tình trạng dàn trải, mang tính bình quân như hiện nay. - Nên mở rộng phạm vi đối tượng được hưởng chế độ ưu đãi đến cả các cán bộ, công nhân viên của doanh nghiệp thực hiện CPH đã nghỉ hưu, nghỉ việc chờ giải quyết chế độ, nghỉ mất sức lao động để ghi nhận sự đóng góp của họ trong quá trình tạo dựng doanh nghiệp trước CPH. Tuy nhiên mức độ ưu đãi đối với đối tượng này cần có sự phân biệt so với những người đang làm việc. Người lao động gắn bó với doanh nghiệp trong suốt quá trình hình thành và phát triển sẽ không khỏi băn khoăn, lo lắng khi doanh nghiệp thực hiện CPH. Đảm bảo lợi ích người lao động trong quá trình CPH đòi hỏi sự quan tâm đúng mức của Nhà nước và doanh nghiệp. - Đối với người lao động dôi dư sau CPH: Việc CPH tất yếu sẽ dẫn đến một bộ phận người lao động mất việc hoặc thôi việc và con số này sẽ càng lớn lên khi đẩy mạnh triển khai CPH. Giải quyết triệt để vấn đề xã hội này sẽ giúp giảm trở lực to lớn đối với tiến trình CPH. Các chính sách ưu đãi người lao động cũng nên thống nhất theo nguyên tắc thị trường: tức có thể bán ưu đãi, cho không hoặc cho vay để mua cổ phiếu nhưng nguyên tắc là phải để cổ phiếu có tính chuyển đổi tức người lao động có quyền bán cổ phiếu nếu họ thấy có lợi hơn giữ. Hình thức ngăn cản người lao động bán cổ phiếu với lý do bảo vệ sở hữu cho người lao động đã làm cho việc mua cố phiếu của người lao động không khác góp vốn cho doanh nghiệp kinh doanh vào thập kỷ 80 và triệt tiêu các thế mạnh của công ty cổ phần như sức ép giá cổ phiếu buộc ban quản lý doanh nghiệp phải quản lý tốt, là hình thức đầu tư linh hoạt phù hợp với nhu cầu của người lao động... Theo chúng tôi, để bảo vệ người lao động, cần thúc ép ban quản lý doanh nghiệp và người lao động làm việc tốt để họ thấy sở hữu cổ phiếu tốt hơn bán hoặc chờ giá tăng mới bán, hoặc tổ chức thị trường chứng khoán cho tốt để người lao động không bị lừa gạt, hoặc thông qua các tổ chức đoàn thể xã hội đoàn kết người Nguyễn Thị Kim Phượng – Cao Học 5 48 lao động thành cổ đông đa số kiểm soát ban quản lý doanh nghiệp; là trang bị kiến thức để người lao động biết xử lý cổ phiếu tốt... chứ không nên áp chế người lao động trong kỷ luật chết người là có cổ phiếu mới được làm việc ở doanh nghiệp CPH, bởi đó là hành vi đi ngược lại lợi ích của chính người lao động tự do, đi ngược lại lợi ích của thị trường chứng khoán và thậm chí vi phạm pháp luật. 3.1.5 Chính sách đối với cán bộ lãnh đạo doanh nghiệp khi CPH Cần phải có những chính sách hỗ trợ trong việc đào tạo bồi dưỡng nhằm nâng cao kiến thức cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo doanh nghiệp trước CPH về các lĩnh vực như thông tin kinh tế thị trường, cơ hội thách thức của sự hội nhập, đặc biệt là các phương thức xử lý các vấn đề sẽ xảy ra trong quá trình và sau CPH. Để cho công tác quản lý trong doanh nghiệp sau CPH được tốt và có hiệu quả cao, cần phải khuyến khích các cán bộ tham gia thi tuyển giám đốc nhằm chọn ra người lãnh đạo có trình độ chuyên môn giỏi, có tinh thần trách nhiệm cao trong việc đảm nhận quản lý doanh nghiệp sau CPH. Nhà nước cần có những chính sách nhằm khuyến khích các cán bộ thiếu khả năng quản lý, điều hành trong các DNNN thuộc diện CPH xin tự nguyện xin rút khỏi ban lãnh đạo cũ của doanh nghiệp. Sau khi rút ra khỏi doanh nghiệp này, họ sẽ được phân công những công việc phù hợp với khả năng của mình trong những DNNN không thuộc diện CPH để làm việc tiếp tục. Tuy nhiên, cần áp dụng mạnh các biện pháp hành chính xử lý đối với cán bộ lãnh đạo của các DNNN thuộc diện CPH cố tình trì hoãn thực hiện CPH, mặc dù đã hội đủ những điều kiện để thực hiện CPH như: dùng biện pháp thay thế, chuyển đổi công tác đối với bộ phận Ban Giám đốc hoặc cho doanh nghiệp giải thể. Biện pháp này đã áp dụng có hiệu quả ở một số địa phương như TP. Hồ Chí Minh, Nam Định. Thành phố cần có chính sách qui định tiêu chuẩn cán bộ quản lý chủ chốt của DNNN, xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ trong DNNN. Có qui định chế độ đãi ngộ và chế độ trách nhiệm đối với những cán bộ quản lý DNNN theo hướng khuyến khích về vật chất và tinh thần căn cứ vào mức độ đóng góp vào kết quả hoạt động của doanh nghiệp; đồng thời có chế tài phù hợp với từng loại Nguyễn Thị Kim Phượng – Cao Học 5 49 hình DNNN để xử lý những cán bộ quản lý doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả do nguyên nhân chủ quan. Cần nâng cao nhận thức và nghiệp vụ chuyên môn cho những người có trách nhiệm ở các DNNN thuộc diện CPH. Tiến trình CPH không thể diễn ra một cách nhanh chóng nếu như không có sự ủng hộ từ phía các DNNN. 3.1.6 Tiếp tục xử lý hệ quả của quá trình CPH Về cơ cấu sở hữu, Nhà nước không nên nắm giữ quá nhiều cổ phiếu của một công ty. Đối với những công ty mà Nhà nước nắm giữ tỷ lệ cổ phiếu chi phối (từ 51% trở lên) thì chủ tịch HĐQT, giám đốc, kế toán trưởng thường là những người đại diện cho phần vốn của Nhà nước và gần như không có thay đổi so với DNNN trước đây. Từ đây, Nhà nước có thể can thiệp sâu rộng vào các hoạt động sản xuất kinh doanh của các công ty. Như vậy, việc CPH chỉ là hình thức “bình mới, rượu cũ”, và vì vậy không có những chuyển biến lớn về tổ chức quản lý, điều hành của công ty. Theo chúng tôi, Nhà nước nên mạnh dạn mở rộng tỷ lệ cổ phiếu nắm giữ cho các nhà đầu tư có tiềm lực ở bên ngoài (trừ một số ít công ty thuộc lĩnh vực Nhà nước cần nắm giữ cổ phiếu chi phối), đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài. Có như vậy các ty cổ phần mới có điều kiện tiếp cận các nguồn vốn, công nghệ và kỹ năng quản lý hiện đại ở bên ngoài. Trên cơ sở đó chắc chắn hiệu quả hoạt động của các công ty sẽ được nâng lên. Đối với những DNNN đã CPH mà Nhà nước không cần nắm giữ cổ phần chi phối, có thể giao hết cho nhà đầu tư thông qua bán 100% giá trị vốn của Nhà nước hiện có tại doanh nghiệp. Mặt khác, cũng phải quan tâm khống chế tỉ lệ mua cổ phiếu tối đa đối với cán bộ lãnh đạo, khuyến khích cán bộ công nhân mua nhiều cổ phần để tham gia quản lý công ty. Có biện pháp ngăn chặn việc cán bộ công nhân bán hết cổ phiếu ưu đãi của mình cho một người, làm mất đi ý nghĩa việc CPH DNNN là đa dạng hoá sở hữu chứ không phải tư nhân hoá sở hữu. Thành lập bộ phận theo dõi, giúp đỡ các công ty cổ phần tháo gỡ những khó khăn trong quá trình sản xuất kinh doanh, nhất là khâu dùng vốn của Nhà nước thu Nguyễn Thị Kim Phượng – Cao Học 5 50 được trong quá trình CPH hỗ trợ cho công ty cổ phần vay để thay đổi thiết bị công nghệ, phát triển qui mô sản xuất đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường. 3.2 Giải pháp ở tầm vĩ mô 3.2.1 Hoàn thiện môi trường pháp lý cho việc thực hiện CPH Để đẩy mạnh tiến trình CPH các DNNN, cần phải có một môi trường pháp lý vững chắc và sự ổn định của nền kinh tế vĩ mô. Nhà nước đã ban hành nhiều bộ luật nhằm xác lập và hoàn thiện môi trường pháp lý cho các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường có định hướng của nhà nước. Tuy vậy, để tiến trình CPH được thông suốt hơn, các ngành, bộ cần nghiên cứu ban hành các văn bản dưới luật ngày càng hoàn chỉnh hơn nhằm tạo điều kiện cho quá trình CPH các DNNN ở các tỉnh thành thực hiện có kết quả. Nghị định của Chính phủ số 187/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2004 đã quy định, hướng dẫn một cách chi tiết hơn những vấn đề bất cập trong những văn bản trước đây. Tuy nhiên vẫn còn một số điểm cần xem xét lại như: thẩm quyền phê duyệt phương án CPH và quyết định chuyển DNNN thành công ty cổ phần, chính sách ưu đãi đối với doanh nghiệp CPH, quyền lợi của người lao động trong công ty cổ phần ... Mặt khác các văn bản trên mang tính pháp lý chưa cao, Nhà nước nên nghiên cứu ban hành luật cổ phần, tạo nền tảng vững chắc để các doanh nghiệp làm căn cứ thực hiện CPH. Trước mắt, có thể nghiên cứu soạn thảo một pháp lệnh trình Uỷ Ban thường vụ Quốc hội ban hành. 3.2.2 Cải tiến các thủ tục hành chính liên quan đến CPH Phải kiên quyết xóa bỏ cửa quyền trong dịch vụ hành chính của nhà nước theo phương châm nhà nước phải tạo điều kiện cho doanh nghiệp, chứ không được dựa vào quyền được giao để gây khó dễ cho doanh nghiệp. Một điều phi lý là sở địa chính hiện nay vẫn làm theo kế hoạch cứng nên cuối năm nếu kế hoạch đã hoàn thành thì dừng lại chờ năm sau chứ không cấp tiếp giấy cho dân sợ chỉ tiêu sang năm cao hơn không hoàn thành. Để buộc các cơ quan hành chính tạo điều kiện thời gian cho doanh nghiệp sau CPH, thiết nghĩ phải củng cố cơ quan kiểm tra, kiểm Nguyễn Thị Kim Phượng – Cao Học 5 51 soát chính các cơ quan hành chính và đề cao ý thức và khả năng sử dụng pháp luật của các doanh nghiệp. Cần đơn giản hoá các thủ tục hành chính liên quan đến quá trình CPH. Các thành viên trong Ban đổi mới doanh nghiệp của thành phố không nên kiêm nhiệm quá nhiều công việc khác nhau. Khi tiếp xúc với chúng tôi, một số doanh nghiệp than phiền rằng việc sắp xếp một cuộc họp có đầy đủ các thành viên trong Ban đổi mới doanh nghiệp để giải quyết các vấn đề liên quan đến CPH của doanh nghiệp nhiều khi rất khó khăn và vì vậy nó đã góp phần kéo dài thời gian CPH của doanh nghiệp. 3.2.3 Chính sách ưu đãi đối với DNNN thực hiện CPH. Nhà nước cần ban hành các chính sách để tạo ra môi trường kinh doanh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, đặc biệt là giữa các DNNN và DNNN đã CPH: - Xoá bỏ dần các ưu đãi mang tính chất bao cấp kéo dài đối với DNNN như cho vay với lãi suất ưu đãi, cho khoanh nợ, xoá nợ, dãn nợ, đặc biệt là đối với những DNNN làm ăn thua lỗ thường xuyên qua các năm. - Nhà nước thu hồi hoặc tăng mức thuế phải nộp đối DNNN đã sử dụng phần đất không đúng với mục đích đã đề ra ban đầu, đặc biệt đối với các trường hợp đơn vị được sử dụng phần đất đai với diện tích quá rộng có vị trí thuận lợi nhưng không không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ như nộp tiền sử dụng đất hoặc tiền thuê đất . . . - Xoá bỏ các hình thức trợ cấp, trợ giá và ưu đãi kiểu bao cấp đối với các hình thức khác. - Cần có chính sách hỗ trợ cho các DNNN trong diện CPH nhưng hiện đang làm ăn thua lỗ nhằm tạo điều kiện cho các DNNN mạnh dạn tham gia vào tiến trình CPH như cho vay vốn tín dụng với lãi suất ưu đãi hoặc miễn giảm thuế trong thời gian đầu… Sau khi CPH, cần tạo điều kiện giúp đỡ họ bằng cách cung cấp các thông tin cần thiết về giá cả, thị trường, khoa học công nghệ và đặc biệt giúp họ đào tạo đội ngũ các bộ quản lý, công nhân kỹ thuật. Đối với người lao động trong doanh nghiệp, nhà nước không chỉ bán cổ phần với giá ưu đãi mà có thể bán chịu cổ phần không tính lãi cho người lao động không đủ tiền mua. Nguyễn Thị Kim Phượng – Cao Học 5 52 Các DNNN trước khi CPH được hưởng rất nhiều ưu đãi về quyền sử dụng đất, được vay vốn từ các ngân hàng thương mại quốc doanh với lãi suất thấp không cần thế chấp, được khoanh nợ khi gặp rủi ro, được xét miễn giảm thuế dễ dàng ... Khi chuyển sang hoạt động theo luật công ty thì các công ty cổ phần (DNNN đã CPH) không được hưởng các chính sách trên, đó là sự thiệt thòi và làm giảm khả năng cạnh trạnh của các doanh nghịêp này. Vì vậy, cần phải có chính sách ưu đãi đối với các công ty mới CPH, nhất là khâu hỗ trợ vốn để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh. Nhanh chóng thực hiện công ty hóa các DNNN chưa CPH, nhằm xác lập trách nhiệm đại diện sở hữu những nguồn vốn tại doanh nghiệp, để DNNN được hoạt động trong môi trường pháp lý bình đẳng với những doanh nghiệp khác. 3.2.4 Xây dựng tiền đề và tiến tới thành lập trung tâm giao dịch chứng khoán ở TP. Cần Thơ Thị trường chứng khoán là trung tâm phản ánh hoạt động kinh tế của các công ty, là nơi cung ứng các nguồn vốn và phân phối các cơ hội đầu tư cho công ty và công chúng. Trên thực tế, thị trường chứng khoán là điều kiện ra đời và hoạt động của các công ty cổ phần. Vì vậy, cùng với sự ra đời và hoạt động của các công ty cổ phần theo Luật công ty và quá trình CPH các DNNN, Nhà nước cần tạo điều kiện để hình thành trung tâm giao dịch chứng khoán tại TP. Cần Thơ cũng như tại một số thành phố lớn trên cả nước. Nhà nước cần thành lập công ty tài chính nhà nước có trách nhiệm quản lý, sử dụng và kinh doanh nguồn vốn thuộc sở hữu nhà nước trong các DNNN được CPH. Công ty này sẽ góp phần quan trọng cho sự ra đời và hoạt động của thị trường chứng khoán, đồng thời cũng là một công cụ điều tiết của nhà nước đối với hoạt động của thị trường này. Nhà nước cũng cần soạn thảo những qui định cụ thể nhằm chọn lựa, cho phép một số tổ chức tài chính quốc tế tham gia vào thị trường này để tạo môi trường và động lực cạnh tranh đối với các tổ chức tài chính của Việt Nam, qua đó học tập, Nguyễn Thị Kim Phượng – Cao Học 5 53 rút kinh nghiệm, dần dần nâng cao trình độ ngang tầm với đòi hỏi của hoạt động thị trường chứng khoán trong nước và quốc tế. 3.2.5 Thiết lập cơ quan chuyên trách về CPH DNNN Thực tế, qua gần 10 năm thực thi CPH DNNN cho thấy, CPH là một chương trình đầy khó khăn và phức tạp, một mặt do bao hàm nhiều mục tiêu, mặt khác do động chạm đến nhiều vấn đề kinh tế, xã hội, chính trị liên quan đến nhiều tầng lớp người khác nhau. Nếu cứ tiếp tục CPH theo kiểu phong trào tự giác hiện nay thì có thể dự báo CPH những năm tới sẽ khó đạt kế hoạch đặt ra. Theo kinh nghiệm tư nhân hóa ở một số nước thành công, cần phải thiết lập một cơ quan chuyên trách đủ mạnh để dồn tâm lực vào quá trình xây dựng chương trình, mục tiêu, phương án CPH khoa học, khả thi trên phạm vi tổng thể bỏ qua lợi ích cục bộ của các cơ quan chủ quản và kiên quyết thực hiện tới cùng chương trình đó. Cách làm theo kiểu phong trào những năm qua đã dẫn đến các hậu quả không mong muốn như: CPH diễn ra rất chậm do phải chờ các cơ quan chủ quản và doanh nghiệp tự nguyện; các DNNN dễ cổ phần hóa và có lợi cho các bên liên quan khi CPH thì làm nhanh, các doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc xin rút, hoặc tìm mọi cách lẩn tránh, kéo dài quá trình làm thủ tục; nhà nước không kiểm soát được quá trình CPH nên đôi khi bị thất thoát vốn nhà nước... Do vậy, cấp thiết phải thiết lập cơ quan chuyên trách về CPH để thực sự đặt quá trình CPH trên cơ sở khoa học và kiểm soát được từ phía nhà nước cũng như linh hoạt, kiên quyết khi giải quyết khó khăn, vướng mắc trong quá trình CPH . 3.2.6 Quan tâm hơn nữa tình hình sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần Cần tạo điều kiện cho người lao động và những người góp vốn vào công ty cổ phần làm chủ thật sự của công ty, thay đổi phương pháp quản lý, tạo động lực thúc đẩy công ty cổ phần kinh doanh có hiệu quả thích ứng với cơ chế thị trường. Có kế hoạch kịp thời hỗ trợ, tư vấn khi công ty gặp khó khăn, quản lý và phân phối vốn vay ưu đãi từ nguồn vốn nhà nước thu về trong quá trình thực hiện CPH, giúp công ty cổ phần đầu tư thay đổi công nghệ. Nguyễn Thị Kim Phượng – Cao Học 5 54 Trên đây là một số giải pháp với hy vọng góp phần đẩy mạnh và có hiệu quả tiến trình CPH các DNNN tại TP. Cần Thơ. Để quá trình CPH thực hiện tốt phát huy được tác dụng cần phải có sự quyết tâm cao của các cấp các ngành, các địa phương và sự đồng tình, hưởng ứng của các doanh nghiệp, của người lao động và của toàn xã hội. Nguyễn Thị Kim Phượng – Cao Học 5 55 KẾT LUẬN CPH DNNN là một chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta, một giải pháp quan trọng hàng đầu nhằm đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN. Đây là một trong những giải pháp đa dạng hóa hình thức sở hữu trong các DNNN, xác định chủ sở hữu đích thực của doanh nghiệp, huy động nguồn vốn nhàn rỗi của nhân dân và của xã hội để đầu tư đổi mới công nghệ, phát triển doanh nghiệp, tạo thêm động lực thúc đẩy doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn, tăng sức cạnh tranh để hội nhập quốc tế. Qua nghiên cứu cơ sở lý luận và phân tích hoạt động thực tiễn của tiến trình CPH các DNNN trên địa bàn TP. Cần Thơ, chúng ta có thể khẳng định rằng CPH DNNN là một chủ trương lớn hoàn toàn đúng đắn của Đảng và Nhà nước, nhằm tăng cường hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, góp phần thực hiện mục tiêu KT-XH đẩy mạnh công cuộc đổi mới, hội nhập với khu vực và thế giới. Tuy nhiên, tiến trình CPH DNNN ở TP. Cần Thơ diễn ra còn chậm, các DNNN còn rất bỡ ngỡ và gặp nhiều khó khăn trở ngại trong việc thực hiện CPH. Mặt khác môi trường pháp lý của ta chưa được hoàn thiện, còn nhiều bất cập gây không ít trở ngại cho quá trình CPH. Đặc biệt là sự thiếu vắng của thị trường chứng khoán, làm cho các nhà đầu tư không nắm được tiêu chuẩn giá cả trong việc đánh giá cổ phiếu của các công ty cổ phần. Các DNNN đã được CPH ở TP. Cần Thơ đa phần có qui mô nhỏ và Nhà nước vẫn còn nắm giữ một tỷ lệ cổ phiếu khá lớn trong các công ty này. Chính vì vậy Nhà nước vẫn còn ảnh hưởng rất lớn đến tổ chức hoạt động của rất nhiều công ty cổ phần. Một điều đáng mừng là sau CPH số lượng lao động ở các công ty cổ phần chẳng những không giảm mà còn tăng lên. Điều này cho thấy rằng quy mô của các công ty sau CPH đã được nâng lên. Qua toàn bộ nội dung đề tài cho thấy, CPH DNNN là con đường đúng đắn để đổi mới, sắp xếp lại DNNN góp phần phát triển KT-XH của đất nước nói chung và TP. Cần Thơ nói riêng. Con đường này còn dài và còn rất nhiều gian nan, đòi hỏi Nguyễn Thị Kim Phượng – Cao Học 5 56 chúng ta phải tập trung nhiều nỗ lực hơn nữa mới có thể thực hiện thành công sự nghiệp CPH. Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng CPH ở TP. Cần Thơ, chúng tôi đã đưa ra một số giải pháp với hy vọng những giải pháp này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả và đẩy nhanh tiến trình CPH ở TP. Cần Thơ trong thời gian sắp tới. Tuy đã có nhiều cố gắng, nhưng do trình độ và thời gian có hạn, luận văn không thể tránh khỏi những khiếm khuyết. Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy, cô và các bạn quan tâm để đề tài được hoàn thiện hơn. Nguyễn Thị Kim Phượng – Cao Học 5

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfĐánh giá hiệu quả hoạt động của các Doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa tại Thành phố Cần Thơ.pdf
Luận văn liên quan