Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Việt Nam – Thực trạng và giải pháp

MỤC LỤC [IMG]file:///C:/Users/ADMIN/AppData/Local/Temp/msohtmlclip1/01/clip_image001.gif[/IMG] DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT LỜI MỞ ĐẦU1 1. Sự cần thiết của đề tài1 2. Tình hình nghiên cứu. 2 3. Mục đích nghiên cứu. 4 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. 4 5. Phương pháp nghiên cứu. 4 6. Kết cấu của đề tài4 1.1. Khái quát chung về hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài5 1.1.1.Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI- Foreign Direct Investment)5 1.1.2. Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài8 1.1.3. Các hình thức và bản chất của đầu tư trực tiếp nước ngoài9 1.1.3.1.Doanh nghiệp liên doanh9 1.1.3.2.Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài10 1.1.3.3. Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh11 1.1.3.4.Đầu tư nước ngoài theo hợp đồng BOT, hợp đồng BTO và hợp đồng BT13 1.1.3.5.Đầu tư thông qua mô hình công ty mẹ và con (Holding company)15 1.1.3.6.Hình thức công ty cổ phần16 1.1.3.7.Hình thức chi nhánh công ty nước ngoài16 1.1.3.8.Hình thức công ty hợp danh17 1.1.3.9.Hình thức đầu tư mua lại và sáp nhập (M&A). 18 [IMG]file:///C:/Users/ADMIN/AppData/Local/Temp/msohtmlclip1/01/clip_image002.gif[/IMG]1.2. Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài (ĐTTTNN) đối với sự phát triển kinh tế20 1.2.1.FDI là một trong những nguồn vốn quan trọng để bù đắp sự thiếu hụt vốn đầu tư, góp phần tạo ra sự tăng trưởng và phát triển kinh tế. . 20 1.2.2.FDI mang lại kỹ thuật công nghệ cho nước tiếp nhận đầu tư. 24 1.2.3.FDI thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. 24 1.2.4. FDI góp phần phát triển nguồn nhân lực và tạo thêm nhiều việc làm mới25 1.2.5.Đầu tư trực tiếp nước ngoài thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế26 1.3. Kinh nghiệm của một số nước trong khu vực trong thu hút nguồn vốn FDI và bài học cho Việt Nam31 1.3.1. Kinh nghiệm thu hút vốn FDI của Trung Quốc. 31 1.3.2. Kinh nghiệm thu hút vốn FDI của Thái Lan.33 1.3.3. Kinh nghiệm thu hút vốn FDI của Singapore. 33 1.3.4. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam34 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM38 2.1. Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (ĐTTTNN)38 2.2. Khái quát chung về tình hình thu hút FDI41 2.2.1.Về cơ cấu FDI theo quy mô đầu tư. 41 2.2.3.Về cơ cấu FDI theo địa phương, vùng kinh tế. 46 2.2.4.Về cơ cấu FDI theo ngành kinh tế. 48 2.3.Về cơ cấu FDI theo hình thức đầu tư. 53 2.3. Đánh giá chung về FDI vào Việt Nam thời kỳ 2001 đến hếtQuý I năm 201153 2.3.1.Một số thành công đạt được. 53 [IMG]file:///C:/Users/ADMIN/AppData/Local/Temp/msohtmlclip1/01/clip_image003.gif[/IMG]2.3.2.Những vấn đề còn tồn tại58 2.3.3.Nguyên nhân của các tồn tại59 CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM ĐẨY MẠNH NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TRONG THỜI GIAN TỚI.61 3.1. Bối cảnh trong nước và quốc tế mới trong việc thu hút và sử dụng nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài61 3.1.1. Bối cảnh trong nước. 61 3.1.2. Bối cảnh quốc tế. 63 3.2. Mục tiêu và định hướng thu hút đầu trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam trong thời gian tới.65 3.2.1. Mục tiêu thu hút đầu trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam trong thời gian tới.65 3.2.1.1. Mục tiêu đối với giai đoạn từ năm 2011 đến 202066 3.2.1.2. Định hướng trong thời gian tới67 3.3. Giải pháp nhằm đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư trực tiếp tại Việt Nam73 KẾT LUẬN81 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO LỜI MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết của đề tài Trong sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hoá đất nước, phát triển một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, đầu tư trực tiếp nước ngoài có vai trò hết sức quan trọng. Trong những năm qua hoạt động kinh tế này đã đóng góp không nhỏ vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Thu hút đầu tư nước ngoài như một tất yếu quan trọng đánh dấu quá trình mở cửa trong đường lối đổi mới được khởi xướng từ năm 1986 với nội dung cốt lõi là chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Từ nền kinh tế kín sang nền kinh tế mở, chủ động hội nhập sâu vào nền kinh tế quốc tế, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội. Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, giai đoạn 2001-2010 (tính đến hết 21/12/2010), Việt Nam có 12.213 dự án FDI với tổng vốn đăng ký đạt khoảng 192,9 tỷ USD và vốn thực hiện khoảng 63 tỷ USD với số vốn bình quân đạt 16,2 triệu USD/dự án (vốn đăng ký) và 5,5 triệu USD/dự án (vốn thực hiện). Ngoài ra, theo số liệu của Tổng cục thống kê, giá trị sản xuất công nghiệp tháng 4 năm 2011 theo giá so sánh 1994 ước tính tăng 14,3% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: khu vực kinh tế Nhà nước tăng 3,9% (Trung ương quản lý tăng 4,2%; địa phương quản lý tăng 2,3%); khu vực kinh tế ngoài Nhà nước tăng 17,1%; và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 17,5%. Tính chung bốn tháng đầu năm, giá trị sản xuất công nghiệp tăng 14,2% so với cùng kỳ năm 2010, bao gồm: khu vực kinh tế Nhà nước tăng 5,1% (Trung ương quản lý tăng 5,4%; địa phương quản lý tăng 3,8%); khu vực kinh tế ngoài Nhà nước tăng 16,8%; và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 16,7%. Đời sống đại bộ phận nhân dân được cải thiện cả về mặt vật chất lẫn tinh thần. Đầu tư trực tiếp nước ngoài có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của tất cả các nước trên thế giới nói chung và sự phát triển kinh tế của Việt Nam nói riêng. Nhận thức được tầm quan trọng của nguồn vốn này, dựa vào chính sách và khả năng phát triển của mình mà hầu hết các quốc gia trên thế giới đều mở cửa thu hút nguồn vốn FDI. Cho đến nay, đầu tư trực tiếp nước ngoài được nhìn nhận như là một trong những nhân tố thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Vai trò của FDI được thể hiện rất rõ qua việc đóng góp vào các yếu tố quan trọng của tăng trưởng như bổ sung nguồn vốn đầu tư, đẩy mạnh xuất khẩu, chuyển giao công nghệ, phát triển nguồn nhân lực và tạo việc làm Ngoài ra, FDI cũng đóng góp tích cực vào tạo nguồn thu ngân sách và thúc đẩy Việt Nam hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới. Nhờ có sự đóng góp quan trọng của FDI mà Việt Nam đã đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong nhiều năm qua và được biết đến là quốc gia phát triển năng động, đổi mới, thu hút được sự quan tâm của cộng đồng quốc tế. Với ý nghĩa nêu trên, việc nghiên cứu về đề tài “Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Việt Nam – Thực trạng và giải pháp” là một vấn đề cần thiết, và có ý nghĩa khoa học thực tiễn. 2. Tình hình nghiên cứu Cùng với sự hiện diện của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, các nghiên cứu trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài rất phong phú và đa dạng, thực hiện bởi các cơ quan quản lý Nhà nước và các cá nhân. Có thể nêu các công trình sau: - Bùi Anh Tuấn, Tạo việc làm cho người lao động đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội – 2000. - TS. Phùng Xuân Nhạ, Đầu tư quốc tế, Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia Hà Nội - 2001. - ThS. Lê Minh Toàn, Tìm hiểu Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị Quốc Gia, Hà Nội - 2002. - TS. Trần Nguyễn Trọng Xuân, Đầu tư trực tiếp nước ngoài với công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội - 2002. - TS. Đinh Văn Ân, Hội nhập kinh tế quốc tế và quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam, Báo cáo hội thảo về tác động của Hội nhập kinh tế tháng 6 năm 2004. - TS. Trần Xuân Tùng, Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp, Nhà xuất bản Chính trị Quốc Gia - 2005. - ThS. Nguyễn Văn Tuấn, Đầu tư trực tiếp nước ngoài với phát triển kinh tế ở Việt Nam, Nhà xuất bản Tư Pháp, Hà Nội - 2005. - PGS.TS.Trần Quang Lâm – TS An Như Hải, Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam hiện nay, Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp, Hà Nội – 2005. - Khóa luận tốt nghiệp: Tác động của Đầu tư trực tiếp nước ngoài tới nền kinh tế ở Việt Nam – Bùi Thị Thu Hà, 2009. Đồng thời, các đề tài nghiên cứu khoa học về đầu tư nước ngoài của các bộ ngành phục vụ công tác quản lý nhà nước cũng khá phong phú tập trung vào các vấn đề: phân cấp quản lý nhà nước trong công tác quản lý đầu tư nước ngoài, xây dựng các danh mục thu hút đầu tư nước ngoài, dự báo nguồn vốn đầu tư nước ngoài quốc tế và khu vực, khảo sát nghiên cứu nguồn vốn FDI các khu vực EU, Nhật Bản, Mỹ Những phân tích khoa học trên là rất quan trọng trong việc nghiên cứu vấn đề thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trong thời kỳ mới. Cần đánh giá đẩy đủ những hiệu ứng tích cực và tiêu cực có thể tạo ra qua thu hút FDI. Trên cơ sở đó chỉ ra những định hướng và giải pháp cho hoạt động thu hút đầu tư nước ngoài trong thời gian tới. 3. Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực trạng thu hút FDI thời gian qua, khoá luận chỉ ra một số định hướng và giải pháp nhằm tăng cường thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn FDI tại Việt Nam. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Tập trung vào hoạt động thực tiễn thu hút và sử dụng nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam. - Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Nghiên cứu hoạt động thu hút và sử dụng nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam giai đoạn 2001 đến bốn tháng đầu năm 2011. 5. Phương pháp nghiên cứu Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể: phân tích tổng hợp, thống kê, so sánh, logic, lịch sử cụ thể 6. Kết cấu của đề tài Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các từ viết tắt, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài. Chương 2: Thực trạng thu hút và sử dụng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam. Chương 3: Định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong thời gian tới. 82

doc88 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 19/08/2013 | Lượt xem: 19207 | Lượt tải: 151download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Việt Nam – Thực trạng và giải pháp, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Thông tin và truyền thông 627 4.726.980.676 2.930.933.304 7 Nghệ thuật và giải trí 122 3.461.002.314 1.014.711.935 8 Vận tải kho bãi 295 3.170.931.079 996.363.157 9 Nông, lâm nghiệp; thủy sản 477 3.069.996.071 1.492.649.045 10 Khai khoáng 68 2.939.845.083 2.347.143.692 11 Bán buôn,bán lẻ; sửa chữa 444 1.545.597.053 778.695.007 12 Tài chính ngân hàng, bảo hiểm 73 1.321.475.673 1.171.710.673 13 Y tế và trợ giúp xã hội 71 891.726.437 211.996.506 14 Hoạt động chuyên môn, khoa học công nghệ 934 694.527.211 338.489.233 15 Dịch vụ khác 105 642.237.056 148.728.042 16 Giáo dục và đào tạo 133 380.357.322 117.406.481 17 Hành chính và dv hỗ trợ 99 183.818.048 95.243.638 18 Cấp nước;xử lý chất thải 23 63.773.000 37.458.000 Tổng số 11.976 191.359.697.524 61.674.051.727 Nguồn: Trung tâm nghiên cứu đầu tư nước ngoài (CFIS Việt Nam) Về cơ cấu FDI theo hình thức đầu tư Nhà  đầu tư là doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là nhà đầu tư lớn nhất cho Việt Nam với số dự án là 8333 dự án, chiếm 77,5% tổng số dự án và tổng vốn đăng ký chiếm 60,8%. Sau đó là doanh nghiệp liên doanh chiếm 18,56% tổng số dự án và chiếm 32,35% tổng vốn đăng ký. Các hình thức đầu tư khác như hợp đồng hợp tác kinh doanh, công ty cổ phần, công ty mẹ con (công ty quản lý vốn) góp phần làm tăng số dự án và số vốn FDI cho Việt Nam.  Bảng 2.6: Cơ cấu FDI theo hình thức đầu tư năm 2010 PHÂN THEO HÌNH THỨC ĐẦU TƯ STT Hình thức  đầu tư Số dự án Tổng vốn đăng ký (USD) Vốn  điều lệ (USD) 1 100% vốn nước ngoài 8333 102,392,134,883 33,869,189,952 2 Liên doanh 1995 54,484,720,203 15,690,017,834 3 Hợp  đồng hợp tác KD 221 4,961,177,440 4,479,464,521 4 Công ty cổ  phần 18 4,710,116,236 1,359,545,416 5 Hợp  đồng BOT, BT, BTO 9 1,746,725,000 466,985,000 6 Công ty mẹ  con 1 98,008,000 82,958,000 Tổng số 10,747 168,392,881,762 55,948,160,723 Nguồn: Tổng cục thống kê, Niên giám thông kê 2.3. Đánh giá chung về FDI vào Việt Nam thời kỳ 2001 đến hết Quý I năm 2011 Một số thành công đạt được Kết quả thu hút và sử dụng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã được các cơ quan quản lý nhà nước ở các cấp tổng kết, công bố và để lại những dấu ấn riêng. Có thể nói, trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu vừa qua, kết quả thu hút về vốn FDI năm 2010 và bốn tháng đầu năm 2011 (đặc biệt là vốn đã giải ngân) là khả quan và hoạt động sản xuất - kinh doanh cũng như đóng góp từ hoạt động của các doanh nghiệp có vốn FDI là tích cực. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, điểm sáng trong hoạt động đầu tư năm 2010 là tốc độ giải ngân FDI khá tốt. Trong 6 tháng đầu năm, các doanh nghiệp có vốn FDI đã giải ngân được 5,4 tỷ USD, và từ tháng 7 đến hết 22/10/2010 đã giải ngân thêm được 3,6 tỷ USD, đưa tổng vốn thực hiện 10 tháng đạt 9 tỷ USD, tăng 7,1% so 10 tháng đầu 2009. Trong tháng 10/2010, CFIS Việt Nam đã dự báo vốn thực hiện 2010 ước đạt 11 tỷ USD và đó cũng là kết quả cuối cùng được Bộ Kế hoạch và Đầu tư công bố, tăng 11% so năm 2009, trong đó vốn của các nhà đầu tư nước ngoài đạt 8 tỷ USD, tăng 9,5% so 2009 và vượt mức dự kiến cho 2010. Cùng với lượng kiều hối (theo đánh giá của Bộ tài chính năm 2008 đạt 7,2 tỷ USD; năm 2009 đạt 6,7 tỷ USD và năm 2010 đạt trên 8 tỷ USD), vốn FDI thực hiện đã tạo thành nguồn bù đắp quan trọng cho thâm hụt thương mại của Việt Nam. Vốn FDI tiếp tục chiếm tỷ trọng tương đối cao, trên 1/4 (25,8%) tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội năm 2010. Từ đầu năm đến 22/4/2011 thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài đạt 4024,1 triệu USD, bằng 52,2% cùng kỳ năm 2010, bao gồm: Vốn đăng ký 3205,4 triệu USD của 262 dự án được cấp phép mới (giảm 54,9% về vốn và giảm 41,3% về số dự án so với cùng kỳ năm trước); vốn đăng ký bổ sung 818,7 triệu USD của 88 lượt dự án được cấp phép từ các năm trước. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện bốn tháng đầu năm ước tính đạt 3620 triệu USD, tăng 0,6% so với cùng kỳ năm 2010. Hoạt động sản xuất - kinh doanh của các doanh nghiệp FDI những năm vừa qua là tích cực, đóng góp đáng kể vào những thành tựu chung về kinh tế - xã hội. Cụ thể: Thời kỳ 1996 - 2000, không kể nguồn thu từ dầu thô, các doanh nghiệp có vốn FDI đã nộp ngân sách đạt 1,49 tỷ USD. Trong 5 năm 2001 - 2005, thu ngân sách từ khối doanh nghiệp có vốn FDI đạt hơn 3,6 tỷ USD, tăng bình quân 24%/năm. Riêng hai năm 2006 - 2007 khu vực có vốn FDI đã nộp ngân sách trên 3tỷ USD, gấp đôi thời kỳ 1996 - 2000 và bằng 83% thời kỳ 2001 - 2005. Năm 2008, khối doanh nghiệp FDI đã đóng góp vào ngân sách nhà nước 1,982 tỷ USD, tăng 25,8% so với năm 2007. Trong năm 2008, tổng doanh thu của khối các doanh nghiệp FDI lên đến 50,55 tỷ USD. Giá trị xuất khẩu đạt 24,46 tỷ USD, chiếm khoảng 40% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước. Nhập khẩu đạt khoảng 29 tỷ USD. Giá trị sản xuất công nghiệp tăng 17,2% so với năm 2009 và cao hơn mức tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp của cả nước (14,7%). Giá trị xuất khẩu (kể cả dầu khí) đạt 38,8 tỷ USD, tăng 27,8% so năm 2009, chiếm 53,1% tổng kim ngạch xuất khẩu của các nước. Kim ngạch xuất khẩu đạt 36,4 tỷ USD, tăng 39% so với năm 2009, chiếm 42,8% tổng giá trị xuất khẩu của cả nước. Năm 2010, các doanh nghiệp FDI nộp ngân sách Nhà nước đạt 3,1 tỷ USD, tăng 26% so với năm 2009, vượt 6% so kế hoạch đề ra và đóng góp 18,4% tổng thu ngân sách nội địa, đồng thời tạo ra nhiều việc làm mới, đưa tổng số lao động trực tiếp làm việc trong các doanh nghiệp FDI đạt 1,9 triệu lao động, góp phần giải quyết về việc làm cho lao động Việt Nam. Tính đến hết tháng 9 năm 2010, Việt Nam đã thu hút được trên 168 tỷ USD nguồn vốn FDI, bổ sung thêm khối lượng vốn đầu tư cho các lĩnh vực sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong và ngoài nước, đặc biệt là các lĩnh vực công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng. Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/4/2011 ước tính 190,1 nghìn tỷ đồng, bằng 31,9% dự  toán năm, trong đó các khoản thu nội địa là 123,6 nghìn tỷ đồng, bằng 32,4%; trong đó thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) chiếm 29,6%. Cục Đầu tư nước ngoài dự báo: “Việt Nam tiếp tục là điểm đến hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài”, với số vốn FDI thực hiện trong năm 2011 có thể đạt 11-11,5 tỷ USD, trong đó vốn phía nước ngoài đạt khoảng từ 8-8,5 tỷ USD; vốn đăng ký năm 2011 đạt khoảng 20 tỷ USD. Ngoài ra, điều tra triển vọng đầu tư thế giới (WIPS) 2009-2011 của Cơ quan Thương mại và Phát triển của Liên hợp quốc (UNCTAD) cho thấy, Việt Nam vẫn được các công ty xuyên quốc gia (TNCs) đánh giá là 1 trong 15 nền kinh tế hấp dẫn cho đầu tư. FDI đã được nhìn nhận như là một trong những trụ cột góp phần vào tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. FDI là nguồn vốn bổ sung quan trọng cho vốn đầu tư đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển xã hội và tăng trưởng kinh tế. Vai trò của FDI được thể hiện thông qua việc đóng góp vào các yếu tố quan trọng của tăng trưởng kinh tế như: Bổ sung nguồn vốn đầu tư, chuyển giao công nghệ, đẩy mạnh xuất khẩu, tạo việc làm và phát triển nguồn nhân lực. Bên cạnh đó, FDI cũng góp phần thúc đẩy Việt Nam tham gia hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế thế giới. Một trong những đóng góp quan trọng nữa của khu vực FDI là  chuyển giao công nghệ: Chuyển giao công nghệ qua các doanh nghiệp có vốn FDI luôn đi kèm với đào tạo nhân lực quản lý, vận hành, nhờ đó đã góp phần hình thành một đội ngũ các cán bộ, công nhân có trình độ kỹ thuật và tay nghề cao. Đối với một số khâu chủ yếu của dây chuyền công nghệ đặc thù, lao động Việt Nam sau khi được tuyển dụng đều được đưa đi bồi dưỡng kỹ thuật và tay nghề tại các công ty mẹ ở nước ngoài. Đến nay, hầu hết các công nghệ tiên tiến và đội ngũ công nhân kỹ thuật cao đều tập trung chủ yếu trong khu vực có vốn FDI. Tạo công ăn việc làm và đào tạo nghề là một trong những đóng góp quan trọng của khu vực FDI. Trong năm 2008, khối doanh nghiệp có vốn FDI đã tạo ra trên 200 nghìn việc làm mới trong tổng số 1,6 triệu việc làm mới tạo được của cả nước, nâng tổng số lao động làm việc trong các dự án FDI lên 1,467 triệu người. Đến năm 2010, khối doanh nghiệp FDI tiếp tục tạo thêm nhiều việc làm mới cho người lao động. Tính đến hết năm 2010, lĩnh vực FDI đang sử dụng 1,9 triệu lao động trực tiếp và tạo ra hàng triệu việc làm gián tiếp khác, góp phần quan trọng trong việc giải quyết việc làm cho người lao động Việt Nam. Ngoài ra, FDI cũng góp phần mở rộng hợp tác đầu tư  với các nước và thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, đặc biệt sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Tính đến hết tháng 4 năm 2011, đã có 92 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam. Trong số 96 tập đoàn của 16 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam có 81 tập đoàn đứng trong danh sách “Global 500” do Tạp chí Fortune bình chọn. Các tập đoàn đa quốc gia có khoảng 300 dự án đầu tư tại Việt Nam. Với công nghệ cao, tiềm lực tài chính mạnh, các tập đoàn này đã đầu tư các dự án tập trung vào các lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế Việt Nam như: Công nghiệp dầu khí, ngân hàng, công nghiệp điện tử  - viễn thông, sản xuất ôtô. Với tình hình chính trị ổn định, vị thế quốc tế của Việt Nam đang được nâng cao cùng với các hoạt động kinh tế đối ngoại tích cực trong năm 2010 của lãnh đạo cấp cao, Đảng và nhà nước ta sẽ tiếp tục củng cố lòng tin và làm gia tăng mối quan tâm của nhà ĐTNN đối với nước ta trong năm 2011 và những năm tiếp theo. Những vấn đề còn tồn tại Sự  mất cân đối trong ngành nghề đầu tư: Một số ngành thu hút được khối lượng vốn đầu tư trực tiếp khá lớn như khu công nghiệp, khách sạn, xây dựng, du lịch…Riêng đối với du lịch, các dự án đổ vào đầu tư ngày càng nhiều. Trong khi đó có nhiều ngành khác rất cần vốn đầu tư nước ngoài nhưng lại không thu hút được nhiều như tài chính ngân hàng, nông nghiệp, thuỷ lợi… Trình độ quản lý các dự án còn yếu: Việc thực hiện luật pháp cũng như giải quyết các thủ tục pháp lý đối với các dự án FDI còn rườm rà, một số cán bộ gây phiền nhiễu cho các doanh nghiệp. Bên cạnh đó có một số đảng viên và một bộ phận người dân chưa nhận thức đúng về chủ trương chuyển đổi kinh tế làm chậm tiến độ của các dự án đầu tư. Vấn  đề lao động tại doanh nghiệp FDI: Các doanh nghiệp FDI tập trung khai thác lợi thế nhân công rẻ, trình độ còn yếu kém, tại một số doanh nghiệp FDI, người lao động còn phải làm việc quá sức với sức ép nặng về tâm lý hoặc bị ngược đãi. Các chủ đầu tư nước ngoài chỉ tập trung ở  một số vùng lãnh thổ nhất định: Một trong những hạn chế nữa của khu vực FDI là các doanh nghiệp có vốn FDI chủ yếu tập trung vào đầu tư tại các khu vực đô thị lớn mà chưa được phân bổ đều giữa các địa phương trong cả nước, điều này cũng là một trong những nguyên nhân làm gia tăng khoảng cách phát triển giữa vùng đô thị và vùng nông thôn, giữa miền ngược và miền xuôi. Hơn nữa, FDI tập trung quá nhiều tại các thành phố lớn sẽ càng gia tăng sức ép cho các đô thị này về dân số, hạ tầng đô thị. Các dự án FDI chưa thực sự thu hút được những thành tựu khoa học tiên tiến hiện đại: Những máy móc, công nghệ mới nhập khẩu vào các doanh nghiệp FDI tuy tăng về số lượng, chủng loại và hiện đại hơn các công nghệ mà chúng ta đã có, nhưng các công nghệ này phần lớn là những loại “cũ người mới ta”. Các dây chuyền đó đa số đã lỗi thời hoặc qua sử dụng dưới 70% ở nước ngoài nhưng do trình  độ về khoa học kỹ thuật ở nước ta còn nhiều hạn chế, trình độ quản lý và tiếp nhận kiểm định dự án còn yếu kém nên đôi khi chúng ta vẫn chấp nhận chúng như công nghệ tiên tiến ở Việt Nam. Một hậu quả tất yếu của việc sử dụng công nghệ cũ, lạc hậu đó là vấn đề ô nhiễm môi trường, làm ảnh hưởng tới tốc độ tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội. (Vụ việc tại Công ty Vedan là một ví dụ điển hình). Nguyên nhân của các tồn tại Có  nhiều nguyên nhân tác động đến tình hình thu hút FDI của Việt Nam, trong đó phải kể đến như: Môi trường đầu tư của nước ta chưa thông thoáng, thủ tục hành chính còn rườm rà …, không đủ hấp dẫn các nhà đầu tư. Hiệu quả của các dự án đầu tư trước đây không tạo được lòng tin cho các nhà đầu tư nước ngoài. Hệ thống kết cấu hạ tầng của Việt Nam mặc dù đã được đầu tư nhiều trong một vài năm trở lại đây nhưng vẫn còn yếu kém, chưa đáp ứng được nhu cầu của các nhà đầu tư và doanh nghiệp, đặc biệt là hệ thống cấp điện, nước, đường giao thông, cảng biển, hệ thống kết cấu hạ tầng ngoài hàng rào các khu công nghiệp. Tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực đã qua đào tạo, đặc biệt là công nhân kỹ thuật và kỹ sư ngày càng rõ rệt, không chỉ xảy ra ở các khu kinh tế mới hình thành mà còn ở cả những trung tâm công nghiệp như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương... Nhiều thủ tục hành chính kéo dài ảnh hưởng kết quả sản xuất kinh doanh. Hệ thống luật pháp về ĐTNN vẫn còn có những chồng chéo, chưa rõ ràng dẫn tới lúng túng trong việc triển khai thực hiện. Công tác quy hoạch còn thiếu đồng bộ, nhất quán. Chính sách ưu đãi chưa thỏa đáng làm ảnh hưởng đến sức hấp dẫn của Việt Nam đối với các nhà đầu tư quốc tế. Công tác thông tin, tổng hợp còn những bất cập khiến cho thông tin thiếu thông suốt, không đầy đủ và chưa kịp thời, gây khó khăn cho công tác quản lý, điều hành. Ngoài ra sự cạnh tranh và điều tiết của thị trường nội địa đã phần nào làm mất đi cơ hội cho chủ đầu tư nước ngoài, nhất là cho những  lĩnh vực đạt lợi nhuận cao như khách sạn, văn phòng, căn hộ cho thuê. Bên cạnh đó, chúng ta chưa có hệ thống luật thống  nhất và hoàn chỉnh. Các bộ luật và chính sách được sửa đổi liên tục. Luật đầu tư nước ngoài của Việt Nam tuy có thoáng hơn một số nước trong khu vực song hay thay đổi lớn nên các  nhà đầu tư tâm lý không yên tâm khi vào Việt Nam. Đồng thời các thủ tục pháp lý để được cấp phép đầu tư, thủ tục triển khai dự án còn phức tạp, mất thời gian, đôi khi còn phát sinh rất nhiều chi phí từ bên ngoài. Công tác đền bù giải phóng mặt bằng chưa được các cấp chính quyền kết hợp chặt chẽ với các nhà đầu tư nước ngoài giải quyết nhanh chóng và ổn thỏa, đảm bảo lợi ích của cả hai bên. CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM ĐẨY MẠNH NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TRONG THỜI GIAN TỚI. 3.1. Bối cảnh trong nước và quốc tế mới trong việc thu hút và sử dụng nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 3.1.1. Bối cảnh trong nước Giai đoạn 2001 - 2009, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 7,4%/năm; cơ cấu kinh tế trong GDP ngày càng phát triển theo hướng hợp lý, cơ cấu kinh tế trong GDP của Việt Nam là 20,89% nông nghiệp, 41,03% công nghiệp và 38,08% dịch vụ. Bên cạnh đó còn có các yếu tố như: cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế ngày càng được củng cố; sự phát triển của nền kinh tế trong môi trường chính trị xã hội cơ bản ổn định so với các nước trong khu vực; môi trường hợp tác, liên kết kinh tế ngày càng được phát triển và mở rộng. Những yếu tố này cơ bản tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút và phát triển hoạt động thu hút FDI ở Việt Nam. Bên cạnh những yếu tố trên, phải kể đến những điều kiện thuận lợi sau: - Về định hướng của Đảng và nhà nước về vốn FDI, kể từ đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX năm 2001, nhận thức được vai trò quan trọng của đầu tư nước ngoài, Đảng ta đã chính thức ghi nhận kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một trong sáu thành phần kinh tế ở Việt Nam được phát triển và đối xử bình đẳng với các thành phần kinh tế khác. - Về khung pháp luật, Việt Nam đã ban hành được hệ thống khung pháp luật về đầu tư nước ngoài, góp phần đáng kể vào quá trình hình thành được hệ thống khung pháp luật về đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và đáp ứng yêu cầu điều chỉnh các quan hệ pháp luật phát sinh trong lĩnh vực này. - Môi trường kinh doanh và môi trường đầu tư không ngừng được hoàn thiện. Công tác quản lý nhà nước về hoạt động FDI đã dần đi vào nề nếp. Đội ngũ cán bộ làm công tác FDI ngày càng trưởng thành về cả mặt chất và lượng. - Hội nhập kinh tế đã đem lại cho Việt Nam những cơ hội lớn, Việt Nam đã trở thành thành Viên của WTO; ký kết hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ năm 2000; đã đàm phán và ký kết trên 50 hiệp định song phương về khuyến khích và bảo hộ đầu tư với các nước, trong đó có những hiệp định quan trọng như Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư với Nhật Bản, Hàn Quốc…; đàm phán và ký kết các Hiệp định khung về hợp tác toàn diện giữa ASEAN và Ấn Độ, ASEAN và Trung Quốc về vấn đề tự do hóa đầu tư ; gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á năm 1995. Ngoài những điều kiện thuận lợi nêu trên, Việt Nam còn phải đối mặt với những khó khăn: - Nền kinh tế phát triển nhưng chưa vững chắc, chưa hiệu quả. Năng lực cạnh tranh nền kinh tế cũng như doanh nghiệp Việt Nam còn thấp. Cơ cấu chuyển dịch chậm, tích lũy của nền kinh tế còn thấp và cán cân vĩ mô còn thiếu vững chắc. - Môi trường kinh doanh và đầu tư còn nhiều hạn chế, nhu cầu thị trường tăng chậm, dung lượng thị trường nhỏ và sức mua trong nước còn thấp, trong khi đó cung về sản phẩm hàng hóa đã bị bão hòa; hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật thiếu thốn, các yếu tố thị trường chưa được xác lập và phát triển đầy đủ. Quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài còn nhiều bất cập, thủ tục hành chính phiền hà; tình trạng thực thi pháp luật còn thiếu nghiêm túc và tham nhũng vẫn còn đang diễn ra phức tạp. - Chi phí sản xuất kinh doanh, dịch vụ công cộng và các chi phí khác như vận tải, viễn thông, điện, nước… còn cao so với các nước trong khu vực. - Về khung pháp luật, tuy sự ra đời Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp ra đời đã xóa bỏ ranh giới phân biệt giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài nhưng vẫn còn sự chồng chéo, thiếu đồng bộ giữa các Luật chuyên ngành như: Luật xây dựng, Luật môi trường… đặc biệt phổ biến thực hiện các cam kết lộ trình gia nhập WTO trong các lĩnh vực kinh doanh có điều kiện và Biểu cam kết hàng hóa dịch vụ. - Bên cạnh những lợi ích do hội nhập kinh tế quốc tế mang lại còn có những thách thức lớn đòi hỏi Việt Nam cần phải hoàn thiện môi trường đầu tư, khung pháp luật và các điều kiện cần thiết khác để đáp ứng những cam kết quốc tế của Việt Nam. 3.1.2. Bối cảnh quốc tế Bối cảnh quốc tế hiện nay có một số đặc điểm thuận lợi đối với Việt Nam như sau: - Kinh tế thới giới đã phục hồi và tăng trưởng trở lại với đầu tầu là Mỹ và sự bùng nổ kinh tế của Trung Quốc. Trong thời gian tới, châu Á- Thái Bình Dương tiếp tục là khu vực phát triển năng động của thế giới. Trong bối cảnh đó, nước ta cũng có những cơ hội thuận lợi để tăng cường thu hút thêm nguồn vốn FDI. - Thêm vào đó dòng FDI toàn cầu đã dần vượt qua khỏi đáy của sự suy giảm năm 2009, bắt đầu lấy lại đà tăng trưởng trong năm 2011 và được dự báo đạt 1,2-1,5 nghìn tỷ USD. Các nước đang phát triển và các nền kinh tế đang chuyển đổi tiếp tục là điểm đến hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài. - Xu hướng phân công lao động quốc tế và toàn cầu hóa kinh tế đang gia tăng mạnh cùng với sự nhảy vọt của cách mạng khoa học công nghệ, nhất là công nghệ thông tin đã thúc đẩy hình thành nền kinh tế tri thức, tạo nên sự dịch chuyển mạnh cơ cấu kinh tế quốc tế và gia tăng mạnh các dòng chuyển vốn trên thế giới. Đây là điều kiện thuận lợi cho việc chuyển giao công nghệ hiện đại vào các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. - Mức vốn FDI trung bình hàng năm trên thế giới tăng từ 93.8 tỷ USD trong những năm 1980 tăng lên 388,3 tỷ USD trong những năm 1990 và lên tới 541,5 tỷ USD trong nửa cuối những năm 1990. Xu hướng tăng vốn FDI trong thời gian qua sẽ tạo điều kiện tăng dòng vốn FDI của Việt Nam. Bên cạnh những điều kiện thuận lợi trên, bối cảnh quốc tế hiện nay cũng đem lại những khó khăn nhất định cho Việt Nam: - Theo Báo cáo đầu tư thế giới năm 2005 của UNCTAD, dòng vốn FDI toàn cầu hiện đang có xu hướng suy giảm. Nguyên nhân của tình trạng do tăng trưởng của một số nền kinh tế chủ chốt như Mỹ, Tây Âu, Nhật bản đang chững lại. Dòng FDI toàn cầu giảm sút cũng tạo nên bất lợi thu hút và sử dụng vốn đầu tư nước ngoài của Việt Nam. Tuy nhiên đánh dấu 10 năm diễn ra cuộc khủng hoảng tài chính 1997-1998, quỹ Tiền Tệ quốc tế ( IMF) đã cảnh báo, các quốc gia Châu Á đang phải vật lộn với những dòng vốn ngày càng tăng, cũng có thể tăng giá trị thực hay tình trạng bong bóng giá tài sản trong khu vực. - Dòng vốn đổ vào Châu Á đã đạt gần 8% GDP của khu vực này trong năm ngoái, cao hơn cả mức đỉnh điểm hồi thập niên 1990, và dòng vốn gia tăng mạnh đã có lúc làm tăng sức ép lên tỷ giá hối đoái hoặc giá tài sản. Các biện pháp kiểm soát vốn nhưng chúng cũng làm nảy sinh các vấn đề khác. Ví dụ như biện pháp kiểm soát vốn của Thái Lan bắt đầu từ cuối năm ngoái bị coi là phản tác dụng. - Cạnh tranh trong thu hút FDI trên thế giới và trong khu vực diễn ra gay gắt. Hiện nay, theo báo cáo của UNCTAD thì 3/4 vốn FDI trên thế giới là đầu tư giữa các nước công nghiệp phát triển. Nguyên nhân của tình trạng này là do sự tăng cường liên kết giữa các công ty đa quốc gia của Mỹ, Nhật và Tây Âu về vốn và công nghệ. 1/4 số vốn FDI còn lại chảy vào các nước công nghiệp mới ( NICs) hoặc các thị trường đầu tư lớn như Trung Quốc, Ấn Độ, Braxin, Mêxicô… Trong bối cảnh đó, các nước đang phát triển, nhất là các nước trong khu vực như Trung Quốc, Hàn Quốc, ASEAN đã và đang cải thiện mạnh môi trường thu hút FDI nhằm vượt lên trên các nước khác, coi đó là là giải pháp chiến lược phục hồi và phát triển kinh tế. Chính vì điều này tạo nên sức cạnh tranh mạnh và thách thức to lớn đối với Việt Nam, đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay, khi môi trường đầu tư tại Việt Nam so với chung quanh bị đánh giá là mất dần tính cạnh tranh và độ rủi ro cao hơn các nước trong khu vực. Năm 2010, dòng FDI thế giới cũng có xu hướng phục hồi, nhưng có sự chuyển dịch mới về cơ cấu, tăng cường đổ vào các quốc gia mới nổi và củng cố hơn vai trò động lực chủ đạo thúc đẩy kinh tế thế giới phục hồi của các nước này. 3.2. Mục tiêu và định hướng thu hút đầu trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam trong thời gian tới. 3.2.1. Mục tiêu thu hút đầu trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam trong thời gian tới. Giai đoạn 2006 – 2010 được xác định làm nền tảng chuẩn bị cho quá trình tăng tốc, cất cánh của nền kinh tế với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao. Giai đoạn 2010 – 2020, mục tiêu cơ bản là hoàn thiện kinh tế định hướng xã hội chủ nghĩa, duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cả thời kỳ đạt 8,2%, hoàn thành mục tiêu xây dựng đất nước công nghiệp năm 2020. 3.2.1.1. Mục tiêu đối với giai đoạn từ năm 2011 đến 2020 Giai đoạn 2011 đến 2020 là giai đoạn đặc biệt có ý nghĩa đối với Việt Nam, sau khi hoàn thành Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001-2010 là quá trình chuẩn bị nền tảng chuẩn bị nền tảng cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Việt Nam bước vào thời kỳ cất cánh , tăng tốc về phát triển kinh tế, trở thành nước công nghiệp vào năm 2020. Trong giai đoạn này, Việt Nam hoàn thành quá trình hội nhập với nền kinh tế quốc tế và hình thành đồng bộ nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Khu vực kinh tế có vốn ĐTNN không có sự phân biệt về thành phần kinh tế, cùng với các thành phần kinh tế khác phát triển và cạnh tranh lành mạnh trong cùng một môi trường và pháp lý. Mục tiêu tổng quát của hoạt động thu hút ĐTNN trong giai đoạn này phải tập trung vào việc xây dựng Việt Nam trở thành trung tâm đầu tư – tài chính quốc tế, là đầu mối lưu chuyển các nguồn vốn đầu tư và kênh tài chính của khu vực trên thế giới. Các mục tiêu cụ thể bao gồm: - Duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) trong cả thời kỳ đạt 8.2%, cơ cấu kinh tế có tỷ lệ: công nghiệp và xây dựng 43,6%, dịch vụ 48,6% nông nghiệp 7,8%; và nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hội khoảng 380 – 400 tỷ USD ( giá hiện hành). Trong đó vốn ĐTNN chiếm khoảng 28-35% tổng vốn toàn xã hội. - Với những kết quả đạt được trong năm 2010, cộng với những điều kiện thuận lợi trong nước và quốc tế, mục tiêu đối với nguồn vốn FDI đăng ký năm 2011 đạt 20 tỷ USD, vốn thực hiện đạt 11-11,5 tỷ USD, trong đó vốn nước ngoài là 8-8,5 tỷ USD. - Về lao động, khu vực có vốn ĐTNN thu hút lực lượng lao động lớn, từ 7,8 – 10% lao động cả nước; có năng suất lao động dẫn đầu, cao hơn mức bình quân cả nước từ 3-5 lần, đạt khoảng 28.000USD/lao động/ năm. - Khu vực kinh tế có vốn ĐTNN là kênh chuyển giao công nghệ chính trong các ngành công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao như: công nghệ sinh học, điện- điện tử, bưu chính viễn thông, tin học, phần mềm…; các ngành dịch vụ về tài chính, ngân hàng, bảo hiểm… - Khu vực có vốn ĐTNN tham gia phát triển tất cả các vùng kinh tế của cả nước, đóng vai trò chủ đạo ở những vùng kém phát triển so với bình quân cả nước như: Trung du miền núi phía Bắc, Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long. Đối với các vùng Đồng bằng Sông Hồng, Duyên hải Miền Trung, và Đông Nam Bộ có điều kiện cơ sở hạ tầng phát triển, là khu vực kinh tế phát triển chính của cả nước. 3.2.1.2. Định hướng trong thời gian tới Mở rộng lĩnh vực, địa bàn và hình thức thu hút ĐTNN, hướng vào những thị trường giàu tiềm năng và các tập đoàn kinh tế hàng đầu thế giới, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về số lượng và chất lượng, hiệu quả nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài”. Tại Đại hội Đảng lần thứ XI, Đảng tiếp tục nhấn mạnh “Huy động tối đa các nguồn lực đầu tư, tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt khoảng 55 - 60 ngàn tỷ đồng, trong đó vốn ngân sách nhà nước chiếm 40%, vốn các thành phần kinh tế và dân cư chiếm 30%, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chiếm 30%”. Mới đây, ông Đặng Huy Đông, Thứ trưởng Bộ kế hoạch và đầu tư phụ trách lĩnh vực đầu tư nước ngoài, khẳng định trong chiến lược thu hút đầu tư nước ngoài  thời gian tới, vấn đề chất lượng dự án sẽ được đặt lên hàng đầu. Nguồn vốn hướng mạnh vào các ngành chế biến, chế tạo, xuất hiện ngày càng nhiều hơn các dự án công nghệ cao, thậm chí cả trong lĩnh vực nghiên cứu và phát triển (R&D) là những tín hiệu cho thấy khả năng thay chất cho dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Trong năm 2011, công tác chỉ đạo điều hành của Chính phủ và các bộ ngành sẽ chú trọng nâng cao chất lượng các dự án FDI, không chạy theo số lượng. Theo đó, những trọng tâm thu hút là các dự án sử dụng công nghệ cao, công nghệ sạch và có khả năng tạo ra các sản phẩm có sức cạnh tranh, các dự án sản xuất hàng xuất khẩu, các dự án phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ, các dự án có khả năng tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Cụ thể: Công nghiệp chế biến, chế tạo vươn lên số 1 Định hướng nói trên của các nhà hoạch định chính sách đã bắt đầu trở thành hiện thực, khi  số liệu thu hút FDI trong quý I/2011 vừa được Cục Đầu tư nước ngoài công bố, xét theo lĩnh vực đầu tư, các ngành chế biến, chế tạo đang thu hút nhiều FDI nhất với 1,55 tỷ USD, chiếm khoảng 65% tổng lượng FDI đăng ký. Năm 2010, lĩnh vực này đã thu hút 5 tỷ USD trong tổng số 18,6 tỷ USD vốn đăng ký, vươn xếp thứ 2 sau lĩnh vực bất động sản. Trước đó, năm 2009, lĩnh vực này chỉ đứng ở vị trí thứ 3 với 2,2 tỷ USD vốn đăng ký, theo sau bất động sản và dịch vụ lưu trú, ăn uống. Nhìn xa hơn, có thể thấy mối quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài tới lĩnh vực chế biến, chế tạo vẫn chiếm tỷ trọng cao. Tại Hội thảo Môi trường và Cơ hội đầu tư tại Việt Nam diễn ra cuối tháng 12/2010, ông Sung Seog Ki, Giám đốc Phòng Thương mại Đại sứ quán Hàn quốc (KOTRA) cho biết, trong chiến lược đầu tư vào Việt Nam của các nhà đầu tư Hàn Quốc, ngành công nghiệp tập trung kỹ thuật như điện tử, sắt thép, linh kiện, vật liệu vẫn được coi là một trọng tâm. Trước đó, theo khảo sát của Tổ chức Xúc tiến thương mại Nhật Bản (JETRO) được công bố vào cuối tháng 11/2010, mối quan tâm của các nhà đầu tư Nhật Bản trong năm 2011 tới thị trường Việt Nam cũng tập trung vào lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo, ô tô, xe máy với khoảng 81,8% doanh nghiệp quan tâm. Đây là dấu hiệu đáng mừng bởi ngành chế biến, chế tạo là lĩnh vực tạo ra nhiều việc làm, có giá trị gia tăng cao và đóng góp nhiều cho ngân sách nhà nước. Dự án công nghệ cao ngày một nhiều Một hướng mới của dòng vốn FDI là số lượng và tên tuổi những nhà máy sản xuất theo công nghệ mới, công nghệ cao trên thế giới đã xuất hiện tại Việt Nam ngày một nhiều hơn. Có thể kể đến hàng loạt các tên tuổi như Fujitsu, Samsung, Intel… Ngoài ra, các dự án công nghệ cao này xuất hiện tương đối đồng đều tại các khu vực từ Bắc vào Nam. Tại Bắc Giang, Tập đoàn Wintek của Đài Loan cho biết trong năm nay sẽ xây dựng nhà máy đầu tiên ở Việt Nam sản xuất màn hình cảm ứng, chuyên dùng cho các sản phẩm iPad. Tại Bắc Ninh, theo kế hoạch, nhà máy sản xuất điện thoại di động 300 triệu USD của Nokia sẽ khánh thành vào năm 2012, “sánh vai” với nhà máy của Samsung, và đang được lên kế hoạch xây dựng thành một tổ hợp công nghệ cao. Ở phía Nam, nhà máy sản xuất pin năng lượng mặt trời của tập đoàn công nghệ First Solar vừa được động thổ trong tuần trước. Công ty GES Việt Nam tại Khu Công nghệ cao TP.HCM cũng vừa sản xuất và nâng cấp thành công 2 máy phủ lớp phim trên bề mặt wafer (tạo ra tấm silicon, một phần trong các con chip điện tử), do đối tác Nhật Bản đặt hàng. Đây là 2 máy đầu tiên được sản xuất tại Việt Nam. Tại Dung Quất, từ cuối tháng 3/2011, công ty Doosan Vina bắt đầu tiến hành chế tạo và lắp đặt 3 thiết bị khử mặn lớn với tổng giá trị hơn 547 triệu USD (mỗi thiết bị trị giá 182,5 triệu USD). Tất cả các thiết bị được xuất khẩu sang Saudi Arabia này đều được đóng dấu “Made in Việt Nam”, cho thấy Việt Nam đã bắt đầu tham gia vào khâu giá trị cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu. Kỳ vọng các dự án R&D Ngòai ra, một xu hướng mới đang được kỳ vọng sẽ giúp thay chất dòng vốn FDI vào Việt Nam mà tín hiệu đầu tiên có lẽ là Dự án Trung tâm Nghiên cứu R&D của Tập đoàn HP tại Công viên Phần mềm Quang Trung (TP.HCM), sử dụng hơn 1.000 nhân lực. Ông Francesco Serafini, Phó chủ tịch phụ trách các thị trường mới nổi cho biết hãng chọn Việt Nam dựa trên 3 yếu tố rất quan trọng là tiềm năng thị trường, sự ủng hộ của chính quyền và khả năng đáp ứng về nguồn lao động chất lượng cao. Mới đây, Nokia cũng đã tuyên bố sẽ dành một tỷ lệ nhất định trong tổng vốn đầu tư vào Việt Nam cho mục đích R&D. Báo Đầu tư trích lời ông Juha Putkiranta, Phó chủ tịch cấp cao của Nokia cho biết, ngoài việc phát triển các hoạt động sản xuất, Nokia sẽ đưa vào và phát triển các bí quyết sản xuất công nghệ cao tại Việt Nam. GS-TSKH Nguyễn Mại, nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về Hợp tác và Đầu tư, cho rằng đây chính là điều mà Việt Nam đã chờ đợi hàng chục năm qua. Ông cho biết: “Điều này chứng tỏ các tập đoàn lớn đã nhìn nhận Việt Nam như là một thị trường ngày càng quan trọng hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu. Họ đã không chỉ sản xuất đơn thuần, mà đã bắt đầu nghiên cứu và phát triển các sản phẩm mới”. Với 3 tín hiệu nói trên, có thể thấy, cơ hội thay chất cho dòng FDI đã khá rõ ràng. Với những ưu tiên và các giải pháp mới, có thể tin rằng dòng vốn FDI trong thời gian tới chắc chắn sẽ có những diện mạo mới. Bên cạnh đó, các quy định pháp luật về doanh nghiệp, đầu tư, đất đai, xây dựng, kinh doanh và các văn bản pháp luật chuyên ngành phải được rà soát, thống nhất đồng bộ; hệ thống các quy định về điều kiện đầu tư và kinh doanh chuyên ngành phải được xây dựng đầy đủ và công bố công khai nhằm minh bạch hoá các tiêu chuẩn, điều kiện tiếp cận thị trường, điều kiện tiến hành sản xuất, kinh doanh; cơ chế hậu kiểm, giám sát, quản lý đối với dự án ĐTNN theo Luật Đầu tư 2005 và Nghị định 108/2006/NĐ-CP phải được xây dựng và ban hành để tạo cơ sở cho các cơ quan quản lý nhà nước thực thi chức năng quản lý, kiểm tra, giám sát. Công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch phải được quy định và điều chỉnh trong một văn bản quy phạm pháp luật cấp đạo luật, nhằm tránh tình trạng mất cân đối, cấp phép tràn lan, gây dư thừa, lãng phí, hiệu quả đầu tư thấp trong bối cảnh việc cấp phép và quản lý đầu tư đã được phân cấp về các địa phương. Các yếu tố về điều kiện cơ sở hạ tầng gây cản trở tới hoạt động ĐTNN cần được tập trung giải quyết như: hệ thống cơ sở hạ tầng ngoài hàng rào, hệ thống cấp điện, nước, đường giao thông, cảng biển; sự ổn định về cung cấp năng lượng, công tác giải phóng mặt bằng,... Tập trung giải quyết các khó khăn về nguồn nhân lực phục vụ cho các dự án ĐTNN có quy mô lớn, đặc biệt là tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực đã qua đào tạo; sự lạc hậu trong chương trình đào tạo của các cơ sở giáo dục đào tạo, trường nghề; phòng ngừa và giải quyết các tranh chấp lao động nhằm hạn chế các cuộc định công có thể xảy ra. Trong năm 2011, công tác xúc tiến đầu tư cũng sẽ tiếp tục được đổi mới theo hướng bố trí các nguồn lực để xúc tiến đầu tư theo chuyên đề, theo ngành, lĩnh vực và theo vùng miền, không xúc tiến đầu tư theo địa giới hành chính để đảm bảo tính liên kết vùng miền, tận dụng tối đa các tiềm năng lợi thế của vùng miền và giảm thiểu đầu tư theo phong trào, đầu tư theo thành tích. Đối với công tác thẩm tra, cấp giấy chứng nhận đầu tư cũng như kiểm tra, giám sát hoạt động đầu tư nước ngoài cũng sẽ được tăng cường hơn nữa. Theo đó, đối với những dự án đầu tư quy mô lớn, đặc biệt là những dự án sử dụng quy mô đất lớn, có khả năng gây ô nhiễm môi trường, sử dụng nhiều tài nguyên khoáng sản nếu không có chế biến sâu, các dự án tiêu tốn nhiều nhiên liệu… sẽ được xem xét kỹ càng hơn, đảm bảo sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong nước cũng như phát triển bền vững. Đối với các dự án triển khai chậm sẽ được phân loại để xử lý cho phù hợp, trong đó có thể rút giấy phép để tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư khác có năng lực. Công tác quản lý nhà nước, phối hợp giữa các cơ quan trung ương, giữa  trung ương và địa phương cần được tăng cường, gắn liền với chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm của từng cơ quan. Xây dựng cơ chế báo cáo để tổng hợp thông tin kịp thời, đánh giá tình hình nhằm đề xuất các giải pháp điều hành của Chính phủ có hiệu quả. Nhằm thực hiện thành công nhiệm vụ tổng quát của thời kỳ 2011 – 2015 , đưa nền kinh tế đất nước phát triển nhanh và vai trò hoạt động thu hút ĐTNN ngày càng hiệu quả, đóng góp ngày càng lớn vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Những nhóm giải pháp lớn được đưa ra dưới tập trung vào những khâu, những công tác mang tính then chốt, có tính “đột phá” để thực hiện thành công chiến lược thu hút ĐTNN thời kỳ 2011 – 2015 và tầm nhìn đến năm 2020. 3.3. Giải pháp nhằm đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư trực tiếp tại Việt Nam Cùng với việc tiếp tục hoàn thiện môi trường pháp lý và đơn giản hoá các thủ tục hành chính nhằm tăng thêm sức hấp dẫn của môi trường đầu tư Việt Nam, trong thời gian tới, Chính phủ tập trung thực hiện một số giải pháp sau: Nhóm giải pháp về luật pháp, chính sách: - Tiếp tục rà soát pháp luật, chính sách về đầu tư, kinh doanh để sửa đổi các nội dung không đồng bộ, thiếu nhất quán, bổ sung các nội dung còn thiếu; sửa đổi các quy định còn bất cập, chưa rõ ràng liên quan đến thủ tục đầu tư và kinh doanh. - Ban hành các ưu đãi khuyến khích đầu tư vào các lĩnh vực: phát triển đô thị, phát triển hạ tầng kỹ thuật (cấp thoát nước, môi trường đô thị...), phát triển nhà ở xã hội và nhà ở cho người có thu nhập thấp; xây dựng công trình phúc lợi (nhà ở, bệnh viện, trường học, văn hoá, thể thao) cho người lao động làm việc trong các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế; các dự án đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn. - Thực hiện các biện pháp thúc đẩy giải ngân; không cấp phép cho các dự án công nghệ lạc hậu, dự án tác động xấu đến môi trường; thẩm tra kỹ các dự án sử dụng nhiều đất, giao đất có điều kiện theo tiến độ dự án; cân nhắc về tỷ suất đầu tư/diện tích đất, kể cả đất Khu công nghiệp. Tiến hành rà soát các dự án đã cấp giấy chứng nhận đầu tư trên địa bàn cả nước để có hướng xử lý đối với từng loại dự án. - Về chính sách giảm chi phí cho các doanh nghiệp FDI: tiếp tục nghiên cứu để đưa ra các biện pháp giảm chi phí hoạt động so với các nước khác trong khu vực như: tiền lương, giá đất, giá thuê văn phòng Nhóm giải pháp về quy hoạch: - Làm tốt công tác xây dựng quy hoạch và quản lý quy hoạch, đặc biệt là quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch lãnh thổ, quy hoạch sử dụng đất chi tiết, quy hoạch ngành và các sản phẩm chủ yếu; rà soát điều chỉnh cho phù hợp và kịp thời đối với các quy hoạch đã lạc hậu; có kế hoạch cụ thể để thực hiện các quy hoạch đã được duyệt. - Công bố rộng rãi các quy hoạch đã được phê duyệt, đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng cho các dự án đầu tư; rà soát, kiểm tra, điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất một cách hiệu quả, nhất là đối với các địa phương ven biển nhằm đảm bảo phát triển kinh tế và môi trường bền vững. - Quán triệt và thực hiện thống nhất các quy định của Luật Đầu tư trong công tác quy hoạch, đảm bảo việc xây dựng các quy hoạch ngành, lĩnh vực, sản phẩm phù hợp với các cam kết quốc tế, bảo đảm quốc phòng, an ninh. - Tăng cường công tác kiểm tra, rà soát lại các công trình. Hiện nay, nhiều quy hoạch ngành và sản phẩm được xây dựng và trình thủ tướng chính phủ phê duyệt, làm căn cứ cho quá trình thẩm định, xem xét cấp phép các dự án ĐTNN ( điện, cơ khí, dệt may hóa chất, than thép, ô tô, vật liệu nổ công nghiệp, nhựa, giấy sữa , thuốc lá…). Trong đó các quy hoạch này đã xác định nhu cầu các loại nguồn vốn, trong đó có ĐTNN. Tuy nhiên, một số quy hoạch chất lượng thấp, chưa tính đến đầu tư nước ngoài, chứa đựng những hạn chế không phù hợp với pháp luật và cam kết quốc tế do không được cập nhật thường xuyên hoặc nhằm hạn chế, ngăn chặn cạnh tranh của các doanh nghiệp mới. Ngoài ra một số ngành còn chưa xây dựng quy hoạch ( công nghiệp phụ trợ điện tử, giáo dục đại học, học nghề) làm trở ngại việc cấp phép. Đã xây dựng danh mục kêu gọi đầu tư cho từng giai đoạn nhưng trên thực tế không có ý nghĩa trong việc cấp phép. Nhóm giải pháp về cải thiện cơ sở hạ tầng: - Tiến hành tổng rà soát, điểu chỉnh, phê duyệt và công bố các quy hoạch về kết cấu hạ tầng đến năm 2020 làm cơ sở thu hút đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng. Tranh thủ tối đa các nguồn lực để đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, đặc biệt là nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước; ưu tiên các lĩnh vực cấp, thoát nước, vệ sinh môi trường (xử lý chất thải rắn, nước thải.v.v.); hệ thống đường bộ cao tốc, trước hết là tuyến Bắc-Nam, hai hành lang kinh tế Việt Nam-Trung Quốc; nâng cao chất lượng dịch vụ đường sắt, trước hết là đường sắt cao tốc Bắc-Nam, đường sắt hai hành lang kinh tế Việt Nam-Trung Quốc, đường sắt nối các cụm cảng biển lớn, các mỏ khoáng sản lớn với hệ thống đường sắt quốc gia, đường sắt nội đô thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh; sản xuất và sử dụng điện từ các loại năng lượng mới như sức gió, thủy triều, nhiệt năng từ mặt trời; các dự án lĩnh vực bưu chính viễn thông, công nghệ thông tin. - Mở rộng hình thức cho thuê cảng biển, mở rộng đối tượng cho phép đầu tư dịch vụ cảng biển, đặc biệt dịch vụ hậu cần (logistic) để tăng cường năng lực cạnh tranh của hệ thống cảng biển Việt Nam; kêu gọi vốn đầu tư các cảng lớn của các khu vực kinh tế như hệ thống cảng Hiệp Phước-Thị Vải, Lạch Huyện... - Xem xét việc ban hành một số giải pháp mở cửa sớm hơn mức độ cam kết của ta với WTO đối với một số lĩnh vực dịch vụ mà nước ta có nhu cầu về văn hóa - y tế - giáo dục, bưu chính - viễn thông, hàng hải, hàng không. Nhóm giải pháp về nguồn nhân lực - Đẩy nhanh việc triển khai kế hoạch tổng thể về đào tạo nhằm nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo. Theo đó, ngoài việc nâng cấp đầu tư hệ thống các trường đào tạo nghề hiện có lên ngang tầm khu vực và thế giới, sẽ phát triển thêm các trường đào tạo nghề và trung tâm đào tạo từ các nguồn vốn khác nhau. - Thực hiện các giải pháp nhằm đưa Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động vào thực tế cuộc sống để ngăn ngừa tình trạng đình công bất hợp pháp, lành mạnh hóa quan hệ lao động theo tinh thần của Bộ luật Lao động. - Tập trung đầu tư cho việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là đào tạo nghề nhằm đáp ứng như cầu đang tăng của các nhà đầu tư nước ngoài. Chính phủ cần vận động và phối hợp với các tổ chức quốc tế mở các lớp đào tạo về xúc tiến và quản lý đầu tư nước ngoài; phối hợp với các tổ chức trong và ngoài nước mở các trung tâm đào tạo lao động kỹ thuật cao. Thời kỳ từ năm 2006 trở lại đây là một thời kỳ mới trong việc thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và nhu cầu sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao tăng lên nhanh chóng. Cụ thể: Nhà sản xuất bộ vi xử lý lớn nhất thế giới Intel đã đầu tư 1 tỉ đôla vào Việt Nam và sẽ cần 3000 lao động trong đó có gần 1.000 kỹ sư, chủ yếu là thuộc ngành điện tử, tin học, tự động hoá. Tập đoàn Grênasa của Nhật Bản – một trong những công ty hàng đầu thế giới về thiết kế, sản xuất vi mạch, năm 2007 đã triển khai xây dựng trung tâm thiết kế tại Việt Nam, với nhu cầu cần tuyển khoảng 1000 kỹ sư để thiết kế bán dẫn. Tập đoàn Foxconn của Đài Loan cũng đã bắt đầu đầu tư vào Việt Nam. Đây là một tập đoàn công nghệ cao vào loại lớn nhất của Đài Loan với giá trị tài khoản trên thị trường chứng khoán là 70 tỷ USD, chuyên sản xuất các sản phẩm liên quan đến điện thoại di động, cụm chi tiết máy tính, thiết bị viễn thông, điện tử tiêu dùng. Tập đoàn này dự kiến trong năm năm tới sẽ đầu tư vào Việt Nam 5 tỷ USD và sử dụng trên 50 000 lao động. Ba nhà  đầu tư nước ngoài từ lĩnh vực điện tử, tin học, viễn thông ở Mỹ, Nhật, Đài Loan với giá trị đầu tư trên 6 tỷ USD, triển khai mạnh mẽ các dự án trong năm 2006-2007 là sự mở đầu cho một làn sóng đầu tư mới vào Việt Nam trong 10-20 năm tới – đầu tư sản xuất và xuất khẩu dựa trên công nghệ cao. Nhóm giải pháp về quản lý nhà nước: - Phối hợp chặt chẽ giữa Trung ương và địa phương trong việc cấp phép và quản lý các dự án đầu tư nước ngoài. - Tăng cường đào tạo bồi dưỡng cán bộ quản lý ĐTNN; nâng cao năng lực thực thi và hiệu quả quản lý nhà nước về ĐTNN của các cơ quan chức năng. - Tiếp tục phân cấp mạnh về quản lý nhà nước đối với hoạt động ĐTNN cũng như việc cấp giấy phép đầu tư. Cụ thể là phân cấp quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài cho Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố và các ban quản lý Khu công nghiệp theo nguyên tắc tập trung, thống nhất về quy hoạch, cơ cấu, chính sách và cơ chế quản lý. - Tăng cường hướng dẫn, kiểm tra và giám sát của các bộ, ngành Trung ương. - Đối với việc cấp giấy phép đầu tư, nhà nước cần phân cấp mạnh cho Bộ kế hoạch và Đầu tư, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố và Ban quản lý khu công nghiệp trong việc cấp giấy phép đầu tư qua một đầu mối như đã trình bày ở trên mà không phụ thuộc vào quy mô hoạt động của doanh nghiệp trừ trường hợp những dự án nhạy cảm ảnh hưởng đến an ninh quốc phòng, văn hoá, đạo đức, thuần phong mỹ tục. - Tiến hành tổng kết, đánh giá việc phân cấp trong quản lý nhà nước đối với hoạt động ĐTNN trong thời gian qua, phát hiện những bất cập, kịp thời điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp. Nhóm giải pháp về xúc tiến đầu tư: - Để thu hút đầu tư nước ngoài có hiệu quả hơn nữa, Bộ Kế hoạch – Đầu tư và Bộ Ngoại giao đã thống nhất trong việc định ra tiêu chuẩn cán bộ, hình thức hoạt động của bộ phận xúc tiến đầu tư nước ngoài. Theo kế hoạch, trong năm nay một số bộ phận xúc tiến đầu tư sẽ được thiết lập ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, San Francisco (Mỹ) và Trung Đông. - Nghiên cứu, đề xuất chính sách vận động, thu hút đầu tư đối với các tập đoàn đa quốc gia cũng như có chính sách riêng đối với từng tập đoàn và các đối tác trọng điểm như các quốc gia thành viên EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản,...; chú trọng và đẩy nhanh tiến độ đàm phán các Hiệp định đầu tư song phương giữa Việt Nam và các đối tác lớn. - Hoàn thành việc xây dựng thông tin chi tiết về dự án (project profile) đối với danh mục đầu tư quốc gia kêu gọi đầu tư nước ngoài giai đoạn 2011 - 2015 làm cơ sở cho việc kêu gọi các nhà đầu tư; xây dựng danh mục gọi vốn ĐTNN cho những năm tiếp theo. - Tổ chức khảo sát, nghiên cứu và xây dựng mô hình cơ quan xúc tiến đầu tư ở Trung ương và địa phương; xây dựng văn bản pháp quy về công tác Xúc tiến đầu tư nhằm tạo hành lang pháp lý thống nhất trong công tác quản lý nhà nước, cơ chế phối hợp và tổ chức thực hiện các hoạt động xúc tiến đầu tư. - Thực hiện tốt Chương trình xúc tiến đầu tư quốc gia trong các năm tiếp theo. Triển khai việc thành lập bộ phận xúc tiến đầu tư tại một số địa bàn trọng điểm. Tiếp tục kết hợp các hoạt động xúc tiến đầu tư trong các chuyến thăm và làm việc tại các nước của lãnh đạo cấp. - Tăng cường đào tạo bồi dưỡng cán bộ làm công tác xúc tiến đầu tư. Một số giải pháp khác - Tập trung chỉ đạo quyết liệt để thực hiện thành công Đề án đơn giản hóa thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản lý nhà nước các giai đoạn tiếp theo. - Thực hiện hiệu quả chương trình sáng kiến chung Việt Nam – với các quốc gia khác; tiếp tục hợp tác chủ động và tích cực với các cơ quan, tổ chức nước ngoài trong việc xúc tiến đầu tư và hỗ trợ doanh nghiệp triển khai dự án. - Duy trì cơ chế đối thoại thường xuyên giữa lãnh đạo Chính phủ, các Bộ, ngành với các nhà đầu tư, đặc biệt là Diễn đàn doanh nghiệp hàng năm để xử lý kịp thời các khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện chính sách và phát luật hiện hành, đảm bảo các dự án hoạt động hiệu quả, nhằm tiếp tục củng cố lòng tin của các nhà đầu tư đối với môi trường đầu tư kinh doanh tại Việt Nam, tạo hiệu ứng lan tỏa và tác động tích cực tới nhà đầu tư mới. - Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra: theo chức năng và nhiệm vụ của mình, Thanh tra Chính phủ, các Bộ, ngành, địa phương có kế hoạch tăng cường thanh tra, kiểm tra việc tuân thủ các quy định của chính sách, pháp luật về ĐTNN nói chung và việc thực hiện Nghị quyết này của Chính phủ. KẾT LUẬN Trong đời sống và quan hệ quốc tế hiện đại, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đóng vai trò hết sức quan trọng. Không chỉ là dấu hiệu phê chuẩn hội nhập thị trường toàn cầu về chính sách và triển vọng phát triển kinh tế của một nước, mà FDI còn là động lực phát triển quan hệ quốc tế ở nhiều lĩnh vực khác nhau như chính trị, ngoại giao…. Thông qua đó đảm bảo lợi ích đan xen, cơ chế an ninh đa phương mà các nước đang hướng tới. Đây thực sự là một đòn bẩy sắc bén cho phát triển kinh tế và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, gắn liền với đảm bảo an ninh quốc gia trong quá trình hội nhập khu vực và toàn cầu. Đối với Việt Nam, việc thu hút nguồn vốn FDI có ý nghĩa hết quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Nhất là trong bối cảnh quốc tế hoá, toàn cầu hoá hiện nay, chúng ta cần phải huy động một lượng vốn rất lớn và nguồn vốn FDI là một trong những nhân tố quan trọng hàng đầu. Bên cạnh đó, nguồn vốn FDI còn góp phần cải thiện cán cân thanh toán, nâng cao trình độ kỹ thuật, công nghệ; giải quyết công ăn việc làm; tạo nguồn nhân lực; nâng cao mức sống của người lao động…Vì vậy mục tiêu của chúng ta là phải tranh thủ nguồn vốn này một cách chủ động, chọn lọc, có trọng tâm, chất lượng, và sử dụng sao cho có hiệu quả kinh tế cao. Tuy vậy, hoạt động FDI tại Việt Nam vẫn còn có nhiều hạn chế, tác động xấu đến quá trình phát triển kinh tế ở Việt Nam. Những hạn chế này cần phải được khắc phục trong thời gian tới. Trong những năm tiếp theo, Việt Nam cần phải có những giải pháp cụ thể (về môi trường pháp lý, về luật pháp chính sách, về cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực…) và thực hiện nó một cách nghiêm túc nhằm đảm bảo thu hút và sử dụng có hiệu quả những dòng vốn FDI từ các nước công nghiệp phát triển. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO Tài liệu tiếng Việt: TS. Đinh Văn Ân, Hội nhập kinh tế quốc tế và quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam, Báo cáo hội thảo về tác động của Hội nhập kinh tế tháng 6 năm 2004. PGS.TS.Trần Quang Lâm – TS An Như Hải, Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam hiện nay, Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp, Hà Nội – 2005. TS. Phùng Xuân Nhạ, Đầu tư quốc tế, Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia Hà Nội - 2001. PGS.TS Phùng Xuân Nhạ, Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2007. Các tác phẩm của Lênin về kinh tế chính trị, Đại học Quốc Gia Hà Nội, 2004. Đoàn Ngọc Phúc, Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam – Thực trạng, những vấn đề đặt ra và triển vọng, Tạp chí nghiên cứu kinh tế số 315/2004, Hà Nội, 2004. Phan Trọng Thanh, Nhìn lại 20 năm thực hiện thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, tạp chí quả lý nhà nước số 164/2009. Chương Đoan Thể, Hoàn thiện quản lý nhà nước các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Hà Nội, 2004. ThS. Lê Minh Toàn, Tìm hiểu Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị Quốc Gia, Hà Nội - 2002. Bùi Anh Tuấn, Tạo việc làm cho người lao động đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội – 2000. ThS. Nguyễn Văn Tuấn, Đầu tư trực tiếp nước ngoài với phát triển kinh tế ở Việt Nam; Nhà xuất bản Tư Pháp, Hà Nội - 2005. TS. Trần Xuân Tùng, Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp; Nhà xuất bản Chính trị Quốc Gia - 2005. TS Trần Nguyễn Trọng Xuân, Đầu tư trực tiếp nước ngoài với công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội - 2002. Tạp chí cộng sản tháng 2/2009, Đầu tư trực tiếp nước ngoài và triển vọng năm 2010. Báo cáo tổng kết 20 năm đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam (1988 – 2008) của Bộ KH&ĐT (2009) và của Tổng cục thống công bố chính thức (2008). Tạp chí Ngân hàng số 11/2010, FDI vào Việt Nam năm 2010: Bối cảnh và những động thái mới. Tài liệu tiếng Anh: CIEM and UNDP, 2003, “Economic Development Policy: Experience and Lesson from China”, Volume I,p.194 Paul A. Samuelson and Wiliiam D.Nordhaus, Economics (fourteenth Edition), McGraw – Hill. OECD Benchmark Denfinition of FDI. Impact of investment incentives and performance requirements on international trade – WTO Secretariat. Edward M.Graham, Foreign Direct Investment in China, effects on growth and economic performance. Những Website tham khảo: Website của Cục đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch Đầu tư, Website của Bộ Kế hoạch Đầu tư, www.mpi.gov.vn Website của Bộ Ngoại Giao, www.mofa.gov.vn Website của Liên minh Hợp tác xã Việt Nam, www.vnbusiness.vn Website về Hội nhập Kinh tế Quốc tế,  www.dei.gov.vn Website của Tổng cục thống kê, www.gso.gov.vn Website của Tổ chức thương mại thế giới WTO, www.wto.org Website thông tin của Bộ tài chính, www.tapchitaichinh.vn Website của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, www.ciem.org.vn MỤC LỤC Trang DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docĐầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Việt Nam – Thực trạng và giải pháp.doc
Luận văn liên quan