Đề tài Ảnh hưởng của môi trường luật pháp Mỹ tới hoạt động kinh doanh của công ty xuất khẩu thuỷ sản II Quảng Ninh

MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU 1 CHƯƠNG I: CÔNG TY XUẤT KHẨU THUỶ SẢN II QUẢNG NINH VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA MÔI TRƯƠNG LUẬT PHÁP MỸ . .3 1.1. Mỹ – một thị trường thuỷ sản đầy tiềm năng 3 1.2. Thực trạng xuất khẩu của thuỷ sản Việt Nam 4 1.3. Sơ lược về tình hình hoạt động của công ty .6 CHƯƠNG II: TÁC ĐỘNG CỦA MÔI TRƯỜNG LUẬT PHÁP MỸ ĐẾN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY 10 2.1. Đối với Luật thuế và Hải quan 11 2.2. Đối với Luật khắc phục những bất lợi 13 2.2.1. Luật thuế đối kháng .14 2.2.2. Luật chống bán phá giá 14 2.2.3. Các cuộc điều tra chống bán phá giá 24 2.3. Quy định về trách nhiệm đối với sản phẩm .27 2.4. Đối với quyền tự vệ 28 2.5. Đối với bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ .28 CHƯƠNG III: BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ GIẢI PHÁP GIÚP CÔNG TY KHẮC PHỤC NHỮNG KHÓ KHĂN .31 3.1. Bài học kinh nghiệm 31 3.2. Giải pháp giúp công ty khắc phục khó khăn 34 3.2.1. Giải pháp mang tầm vĩ mô 34 3.2.2. Giải pháp cấp công ty 39 3.2.2.1. Nâng cao năng lực của công ty 39 3.2.2.2. Nghiên cứu và nắm vững hệ thống luật pháp Mỹ .40 3.2.2.3. Tiến hành mua bảo hiểm cho sản phẩm 41 3.2.2.4. Đẩy mạnh hoạt động tiếp thị và xúc tiến .42 3.2.2.5. Làm quen với các vụ kiện tụng 42 3.2.2.6. Lưu ý khi làm thủ tục xuất khẩu 44 KẾT LUẬN 46 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .47

doc54 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 04/06/2013 | Lượt xem: 3147 | Lượt tải: 6download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Ảnh hưởng của môi trường luật pháp Mỹ tới hoạt động kinh doanh của công ty xuất khẩu thuỷ sản II Quảng Ninh, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
biến và xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam (VASEP) cho rằng phía các nhà sản xuất và xuất khẩu Việt Nam không chủ trương đối đầu với phía Mỹ và mong muốn có những giải pháp thoả đáng để các doanh nghiệp Việt Nam có thể cạnh tranh lành mạnh, cùng có lợi trên thị trường Mỹ. Phía Việt Nam đã hợp tác có thiện chí với các tổ chức hữu quan Mỹ, Bộ Thương mại Mỹ,… để xem xét các vấn đề “bán phá giá”, “tình trạng khẩn cấp”, “nền kinh tế phi thị trường” đã được nêu nên không đúng đắn. “Trong trường hợp Bộ thương mại Hoa kỳ đưa ra kết luận cuối cùng thiếu khách quan, gây bất lợi cho phía các doanh nghiệp Việt Nam, VASEP rất hiểu rõ thế mạnh pháp lý của mình trong vụ kiện này và sẽ quyết tâm theo đuổi vụ kiện đến giai đoạn cuối cùng, là điều trần tại uỷ ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ”. Mặc dù Việt Nam đã rất quyết tâm, nỗ lực và cố gắng nhưng với sự không tương xứng giữa thế và lực, dẫn đến “cá lớn nuốt cá bé” và cuối cùng cá catfish của Mỹ đã thắng kiện. Qua phân tích trên ta thấy, công ty sẽ gặp nhiều khó khăn dù trong tình huống phải đương đầu với việc hàng xuất khẩu của công ty bị Mỹ điều tra chống bán phá giá hay khi công ty chủ động điều tra áp dụng biện pháp chống bán phá giá đối với hàng nhập khẩu từ nước Mỹ. Khó khăn lớn nhất ở đây là công ty hầu như chưa biết gì về luật thương mại quốc tế liên quan tới bán phá giá. Hầu hết các cán bộ của công ty chịu trách nhiệm về vấn đề này còn thiếu kiến thức về các khía cạnh kinh tế của hiện tượng bán phá giá và luật quốc tế điều chỉnh hành vi này. Cho đến nay, công ty chưa lần nào điều tra bán phá giá. Kinh nghiệm đối phó với hàng xuất khẩu của công ty bị điều tra phá giá còn ít. Hơn thế nữa, công ty cũng chưa quan tâm đầy đủ đến vấn đề bán phá giá. Trong bối cảnh như vậy công ty cũng không có luật sư hay nhà tư vấn nào có kiến thức đầy đủ hay có kinh nghiệm phong phú về bán phá giá cả. Trong khi đó, để đối phó thành công ở mỗi vụ tranh chấp về bán phá giá, sự phối hợp nhịp nhàng giữa nhiều bên liên quan là yếu tố sống còn. Chẳng hạn, phải có một cơ quan đầu mối về các tranh chấp liên quan tới bán phá giá. Cơ quan này phải cộng tác chặt chẽ với các bộ, ngành liên quan và phối hợp hành động với các nhà sản xuất, các nhà xuất khẩu hay nhập khẩu, hội bảo vệ người tiêu dùng… Vì thế, bên cạnh khó khăn lớn nhất về thiếu kiến thức và kinh nghiệm thì sự phối hợp không đồng bộ của các cơ quan hữu quan là khó khăn lớn thứ hai của công ty về vấn đề này. Khó khăn thứ ba là hệ thống pháp luật về kinh tế – thương mại của nước ta còn đang trong quá trình xây dựng và hoàn thiện. Mặc dù hệ thống pháp luật về kinh tế – thương mại của chúng ta đã được xây dựng mới, bổ sung và sửa đổi liên tục nhưng rõ ràng là trong một giai đoạn ngắn như vậy hệ thống pháp luật của chúng ta chưa thể đầy đủ và phù hợp với luật thương mại quốc tế ngay được. Trong lĩnh vực chống bán phá giá, chúng ta chưa có luật để đối phó với hàng nhập khẩu vào Việt Nam bị bán phá giá cũng như những quy định cần thiết để đối phó với hàng xuất khẩu của chúng ta bị các đối tác thương mại khác áp dụng biện pháp này. Trong việc đối phó với biện pháp chống phá giá cũng cần cải tổ hệ thống toà án. Nhà nhập khẩu có thể kiện ra toà các quyết định liên quan tới biện pháp chống phá giá của cơ quan hành chính có thẩm quyền. Trong trường hợp ta chủ động áp dụng biện pháp chống bán phá giá thì hệ thống toà án của ta có lẽ chưa đủ điều kiện để giải quyết khiếu kiện kiểu này, còn trong trường hợp ta phải đối phó với biện pháp chống bán phá giá của các đối tác khác thì chúng ta cũng chưa có kinh nghiệm sử dụng cơ chế kiện ra toà chống lại quyết định của các cơ quan hành chính có thẩm quyền của họ. Trên thực tế, chính sách thương mại quốc tế chịu ảnh hưởng bởi quan hệ chính trị giữa các đối tác. Các biện pháp chống phá giá cũng không nằm ngoài quy luật đó. Trong trường hợp hàng xuất khẩu của Việt Nam bị nước ngoài điều tra áp dụng biện pháp chống bán phá giá, chúng ta có thể gây áp lực chính trị với họ. Nhưng với tiềm lực kinh tế, quốc phòng, khoa học kỹ thuật… của chúng ta hiện nay, cần thấy rõ áp lực của chúng ta không đủ mạnh. Ngược lại, trong trường hợp chúng ta chủ động tiến hành điều tra áp dụng biện pháp này với hàng nhập khẩu thì có thể dự đoán rằng một số nước có thể dùng sức mạnh chính trị để ép chúng ta nhân nhượng họ, chẳng hạn họ có thể dùng những lá bài như viện trợ phát triển chính thức (ODA), gia hạn quy chế tối huệ quốc (MFN)… để đem ra mặc cả với ta. Trong việc áp dụng hay đối phó với biện pháp chống bán phá giá, chúng ta cũng không tính đến nhiều chi phí cần thiết. Một khó khăn khác là cho tới nay và vài năm tới, chúng ta chỉ có thể giải quyết các tranh chấp phát sinh liên quan tới chống bán phá giá trong khuôn khổ các hiệp định thương mại song phương. Đặc điểm chung của các hiệp định này là không có quy định đầy đủ về giải quyết các tranh chấp thương mại hoặc không có cơ chế hoặc cơ quan chức năng riêng để giải quyết các tranh chấp liên quan tới chống bán phá giá một cách hiệu quả. Cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế nói chung và chống bán phá giá nói riêng có uy tín và hiệu quả nhất là cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO. Đây cũng là một nhân tố mà chúng ta phải tính đến trong quá trình giải quyết các tranh chấp liên quan tới chống bán phá giá. Với những sự kiện gần đây cho thấy, Mỹ vẫn chưa bằng lòng với các cuộc kiện tụng chống bán phá giá, mà với đà thắng thế trước cá basa Việt Nam, ngành đánh bắt thuỷ hải sản Mỹ đang đẩy mạnh chiến dịch khởi kiện tôm nhập khẩu từ 12 nước vì “tội” bán phá giá, trong đó có Việt Nam. Theo VASEP, Hiệp hội các nhà chế biến tôm của Mỹ vừa tổ chức một cuộc họp khẩn cấp và bỏ phiếu nhất trí ủng hộ vụ kiện của Liên minh tôn miền Nam (SSA) chống lại tôm nhập khẩu. Hiệp hội các nhà chế biến tôm Mỹ (ASPA) cũng đã cam kết ủng hộ 100.000 USD cho hoạt động này của SSA. Trước đó họ rất lưỡng lự trong việc tham gia cuộc thảo luận về bán phá giá tôm do lo ngại sẽ làm phật ý các nhà phân phối chính – người mua cả tôm nhập khẩu cũng như tôm nội địa. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam, Bà Phan Thuý Thanh cho biết: “Dự luật chống các nước xuất khẩu tôm vào Mỹ và bất cứ một vụ kiện nào đối với việc Việt Nam xuất khẩu tôm sang thị trường này là hoạt động bảo hộ mậu dịch, là trái với tinh thần của Hiệp định Thương mại Việt Mỹ”. Như vậy, cũng giống như các dự luật vô lý về tên gọi catfish và vụ CFA kiện chống bán phá giá cá tra – cá basa, dự luật nói trên một lần nữa chứng tỏ, trong thương mại quốc tế, khi kém khả năng cạnh tranh, doanh nghiệp Mỹ thường huy động các công cụ pháp luật để bảo hộ mậu dịch. Một năm sau khi thực hiện Hiệp định Thương mại Việt Mỹ có hiệu lực, quan hệ thương mại và đầu tư giữa hai nước đã có những bước phát triển đáng kể. Tuy nhiên, thật là đáng tiếc trước một số vấn đề nảy sinh trong quá trình thực thi Hiệp định. Trong đó có việc, gần đây, Hạ nghị sĩ Ron Paul đã đệ trình lên Quốc hội Dự luật H.R.5578 chống một số nước, trong đó có Việt Nam, xuất khẩu tôm sang Mỹ. Dự luật này không chỉ đòi hỏi hạn chế số lượng tôm nhập khẩu vào Mỹ từ Việt Nam và một số nước khác mà còn đưa ra những biện pháp trừng phạt về tài chính đối với các nước này. Có thể thấy rằng, trường hợp tôm Việt Nam bị kiện là bán phá giá vào thị trường Mỹ thì vụ kiện này cũng vô lý như vụ kiện cá tra, cá basa. Lý do là giá tôm Việt Nam ở mức khá cao so với giá tôm thế giới. Mặt khác, tôm của Mỹ chủ yếu là tôm chì, tôm thẻ, nguồn khai thác chính là đánh bắt, do tôm tự nhiên ngày càng cạn kiệt, nên chi phí giá thành ngày càng cao. Trong khi đó, tôm Việt Nam phần lớn là tôm sú, tôm càng xanh, nguồn khai thác chính là tôm nuôi, nên chi phí giá thành thấp, vì vậy không thể so sánh tôm Mỹ với tôm Việt Nam. Hơn nữa, trong thời gian nay, các nước châu Á như: Việt Nam, Trung Quốc, Philppines, Thái Lan đều trúng mùa tôm. Những yếu tố trên cộng với những khó khăn kinh tế của Mỹ đã góp phần làm cho bộ phận kinh tế nông nghiệp, thuỷ sản Mỹ cạnh tranh không lại với hàng từ các quốc gia đang phát triển. Theo em, có hai yếu tố chính khiến nảy sinh việc các nhà sản xuất tôm Mỹ muốn kiện các nước. Thứ nhất, các luật sư muốn khuấy động vấn đề phá giá tôm lên để trục lợi, từ nhà sản xuất tôm Mỹ đến nhà xuất khẩu tôm châu Á đều phải thuê họ tranh cãi. Thứ hai, khi hội nhập kinh tế thế giới không chỉ doanh nghiệp các nước nghèo gặp khó khăn mà ngay cả nhiều doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp, thuỷ sản của Mỹ cũng lao đao. Vì vậy, họ muốn dùng chiêu bài khởi kiện chống phá giá để bảo hộ mậu dịch, ngăn chặn hàng nhập khẩu từ các nước và tranh thủ tài trợ từ phía chính phủ Mỹ. Không chỉ tôm Việt Nam, tôm xuất khẩu vào thị trường Mỹ của các nước khác từ châu Á thường rẻ hơn tôm sản xuất tại Mỹ từ 10% - 20%, xuất phát từ việc các nước này có nhiều biện pháp giảm chi phí giá thành từ sản xuất đến chế biến xuất khẩu. Vì vậy, chuyện các nhà sản xuất tôm Mỹ phản ứng em nghĩ là điều tất nhiên. Nếu họ khởi kiện vấn đề trên thì sẽ gây khó khăn cho các nhà nhập khẩu từ châu Á, nhưng theo em lần này họ không phải dễ “nuốt trôi”, vì ngoài Việt Nam, còn nhiều nước khác nằm trong danh sách kiện của họ về bán phá giá tôm, trong đó Thái Lan và Trung Quốc là những nước chính mà họ nhằm tới. Tuy nhiên, ngay công luận thế giới cũng cho rằng, việc kiện con cá tra – basa lần trước là vô lý, nếu kiện thêm con tôm từ các nước châu Á, sự phi lý càng tăng lên. Mặc dù vậy, chúng ta không thể làm ngơ trước sự kiện này. Bởi vì tôm đông lạnh là mặt hàng xuất khẩu thuỷ sản lớn nhất Việt Nam vào thị trường Mỹ. Như vậy, doanh số xuất khẩu tôm sang Mỹ tăng gấp 10 lần so với cá tra – cá basa, do vậy nếu bị kiện bán phá giá ngành tôm sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Hơn nữa, điều này sẽ ảnh hưởng lớn tới hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp xuất khẩu tôm vào Mỹ. Như vậy, nguy cơ bị áp dụng thuế chống bán phá giá ngày một nhiều hơn và do đó công ty cần phải nhanh chóng hành động một cách mau lẹ để đối phó với tình hình. 2.2.3. Các cuộc điều tra chống phá giá, thuế đối kháng, áp thuế Các đơn khiếu nại theo luật chống phá giá và luật thuế đối kháng phải được đệ trình đồng thời lên Bộ Thương mại và Ủy ban Thương mại Quốc tế Mỹ. Nếu đơn khiếu nại được chấp nhân thì sau 45 ngày kể từ ngày nộp đơn, hoặc sau khi Bộ Thương mại đã bắt đầu tiến hành điều tra độc lập, Ủy ban Thương mại Quốc tế phải đánh giá sơ bộ về những thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại đối với một ngành công nghiệp Mỹ. Nếu đánh giá của Ủy ban Thương mại Quốc tế xác định là không có vi phạm thì cuộc điều tra sẽ kết thúc. Nếu Ủy ban Thương mại quốc tế xác định là có vi phạm thì Bộ Thương mại sẽ đánh giá sơ bộ xem có một cơ sở hợp lý nào để tin rằng có sự trợ giá chịu thuế hoặc sự phá giá đã xảy ra hay không. Nếu Bộ Thương mại xác định là có cơ sở hợp lý, thì trong trường hợp luật thuế bù giá, họ sẽ xác định một biên trợ giá cho từng hãng hoặc từng nước bị điều tra. Việc xác định này phải được hoàn thành trong vòng 65 ngày sau ngày bắt đầu điều tra. Thời hạn này có thể được kéo dài đến 130 ngày. Trong trường hợp theo luật chống phá giá, sau khi đánh giá sơ bộ, Bộ Thương mại sẽ tính toán biên phá giá bình quân – mức chênh lệch cao hơn giá trị bình thường của sản phẩm nước ngoài so với giá xuất khẩu. Đánh giá sơ bộ phải hoàn thành trong vòng 140 ngày sau ngày bắt đầu điều tra. Tuy nhiên, thời hạn này có thể kéo dài đến 190 ngày. Trong cả hai trường hợp, sau khi những đánh giá sơ bộ đã được hoàn thành, người nhập khẩu sản phẩm đó phải nộp bảo lãnh hoặc đặt cọc bằng tiền mặt tương đương với mức trợ giá thuần dự tính hoặc biên phá giá cho cơ quan Hải quan Mỹ. Nếu đánh giá sơ bộ của Bộ Thương mại là không có, thì không phải nộp tiền đặt cọc, nhưng điều tra của Bộ Thương mại và Ủy Ban Thương mại Quốc tế vẫn tiếp tục cho đến bước đánh giá cuối cùng. Có một số điều khoản đưa vào hiệp định để tạm hoãn các cuộc điều tra theo cả luật chống phá giá và luật thuế đối kháng nếu một số điều kiện được đáp ứng. Trong vòng 75 ngày đánh giá sơ bộ, trong điều kiện bình thường, Bộ Thương mại sẽ đưa ra đánh giá cuối cùng đối với cả hai trường hợp theo luật chống phá giá và luật thuế đối kháng, tuy nhiên thời hạn này có thể kéo dài đến 135 ngày. Nếu đánh giá cuối cùng của Bộ Thương mại xác định là không có quy phạm, quá trình điều tra sẽ kết thúc và tiền bảo lãnh hoặc tiền đặt cọc sẽ được hoàn trả. Nếu đánh giá cuối cùng của Bộ Thương mại là có thì Ủy ban Thương mại Quốc tế sẽ phải xác định những thiệt hại cuối cùng. Đánh giá cuối cùng của Ủy Ban thương mại Quốc tế phải được thực hiện trong vòng 120 ngày sau khi Bộ Thương mại đưa ra đánh giá sơ bộ hoặc đến ngày thứ 45 sau khi Bộ Thương mại đưa ra đánh giá cuối cùng là có sự vi phạm. Nếu đánh giá cuối cùng của Ủy Ban Thương mại Quốc tế khẳng định là có vi phạm, thì Bộ Thương mại phát yêu cầu nộp thúê theo luật thuế đối kháng hoặc chống phá giá trong vòng 7 ngày sau khi có xác nhận có của Ủy Ban Thương mại Quốc tế. Lưu ý là mức thuế cuối cùng phải nộp cho hàng nhập khẩu có thể cao hơn nhiều so với mức đặt cọc. Theo yêu cầu, Bộ Thương mại phải kiểm tra, thường là 12 tháng một lần, mức trợ giá chịu thuế hoặc biên phá giá đối với hàng hoá phải yêu cầu nộp thuế đối kháng hoặc chống phá giá chưa giải quyết xong. Bộ Thương mại , theo yêu cầu, còn phải kiểm tra các cuộc điều tra đã bị đình chỉ dể đánh giá tình trạng và sự tuân thủ hiệp định, cũng như khoản trợ giá chịu thuế thuần và biên phá giá. Đạo luật về các hiệp định trong khuôn khổ Vòng đàm phán Urugoay quy định rằng Bộ Thương mại và Ủy ban Thương mại Quốc tế tiến hành “nhũng cuộc kiểm tra lần cuối” trong vòng 5 năm kể từ khi phát hành một lệnh để xác định xem việc huỷ bỏ những lệnh có liên quan có dẫn đến việc tiếp tục hoặc tái diễn hoạt động phá giá hoặc trợ giá trị thuế hay không. Việc huỷ bỏ lệnh phá giá hoặc đình chỉ việc điều tra có thể xảy ra nếu Ủy ban Thương mại Quốc tế xác định là việc huỷ bỏ hoặc đình chỉ sẽ không dẫn đến việc tiếp tục hoặc tái diễn hành động phá giá hoặc trợ giá chịu thuế. Các bên không đồng ý với đánh gia cuối cùng của Bộ Thương mại và Ủy ban Thương mại Quốc tế về các vụ chống phá giá hoặc thuế đối kháng có thể nộp đơn yêu cầu xử lại lên toà án Thương mại Quốc tế của Mỹ ở New York. Nếu hàng hoá từ Canada hoặc Mehico, các bên có thể yêu cầu ban hội thẩm lưỡng quốc thuộc NAFTA kiểm tra hoặc có thể kháng cáo lên toà án Thương mại Quốc tế. Có một số điều khoản nhất định của luật này được gọi là “những trường hợp khẩn cấp” cho phép người khiếu nại có thể yêu cầu một hành động khẩn cấp ngăn chặn làn sóng nhập khẩu đang đe doạ ngành công nghiệp trong nước. 2.3. QUY ĐỊNH VỀ TRÁCH NHIỆM ĐỐI VỚI SẢN PHẨM Hàng rào phi thuế quan của Mỹ lại khắt khe hơn so nhiều thị trường khác. Mỹ có quy định về trách nhiệm đối với sản phẩm để bảo vệ người tiêu dùng như sau: người sản xuất phải chịu trách nhiệm về chất lượng hàng hoá đối với sức khoẻ người tiêu dùng. Nếu sản xuất sai quy chế về chất lượng quốc gia sẽ bị phạt. Từ sau 18/12/1997, Mỹ áp dụng tiêu chuẩn HACCP cho việc nhập khẩu hàng thuỷ sản. Theo quy định này, hàng thuỷ sản nhập khẩu vào Mỹ phải có chứng chỉ của cơ quan có thẩm quyền của nước xuất khẩu chứng nhận lô hàng được sản xuất tại cơ sở đã ứng dụng HACCP. Nội dung HACCP của Mỹ tập trung vào việc bảo đảm an toàn thực phẩm (Food safety), các yếu tố chất lượng được gắn với hệ thống quy phạm sản xuất (GMP) và các yếu tố vệ sinh (SSOP). Gần đây môi trường pháp luật của Mỹ về quản lý chất lượng thuỷ sản nhập khẩu không có thay đổi lớn. Các thay đổi chỉ có quy định về nhãn hiệu (VS Labeling ACT), luật này có hiệu lực từ 8/5/1994. Từ tháng 6/1995 áp dụng các quy định về dán nhãn đồ hộp cá, các sản phẩm tôm và các yếu tố thông báo về an toàn. Tuy yêu cầu khắt khe về chất lượng và các tiêu chuẩn, nhưng Mỹ lại trả giá cao hơn hẳn các thị trường khác. Bên cạnh những điều quy định trên, công ty cần chú ý một số điều luật như: Quyền tự vệ (Safeguard) và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. 2.4. ĐỐI VỚI QUYỀN TỰ VỆ Mỹ được quyền áp dụng quyền tự vệ theo điều 19 của Hiệp định chung về Thương mại và Thuế quan (GATT), có nghĩa là tuy đã cho các nước hưởng ưu đãi về thuế và phi thuế quan (MFN và GSP), nhưng nếu xét thấy sản xuất trong nước bị phương hại, Mỹ sẽ dành quyền đơn phương huỷ bỏ các ưu đãi đó và áp dụng các biện pháp hạn chế hoặc cấm nhập khẩu các loại hàng hoá đó vào Mỹ (như việc Mỹ vừa quyết định liên quan đến việc nhập khẩu cá da trơn của Việt Nam). 2.5. ĐỐI VỚI BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ Về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, Mỹ có quy chế nghiêm cấm việc sử dụng bất hợp pháp quyền tác giả, mẫu mã, kiểu dáng công nghiệp. Trường hợp vi phạm bản quyền, làm giả mạo mẫu mã, nhãn hiệu sẽ bị trừng phạt nặng. Trên đây là những khó khăn về luật pháp Mỹ mà công ty đang gặp phải. Như vậy, nếu công ty thiếu hiểu biết (hay hiểu biết ít) về luật kinh doanh của Mỹ, thiếu sự hỗ trợ và bảo vệ của nhà nước… thì việc công ty tự bươn chải trên thị trường Mỹ là rất khó khăn. Nhưng quả là thiếu sót nếu chúng ta chỉ nhìn thấy những khó khăn từ luật pháp của nước đối tác, bởi vì hệ thống luật pháp Việt Nam cũng gây ra những trở ngại cho các doanh nghiệp. Có thể nói rằng, hệ thống pháp luật Việt Nam cần hoàn thiện hơn để đáp ứng yêu cầu của Hiệp định thương mại, hay đúng hơn cần sâu rộng để các doanh nghiệp Việt Nam có chỗ dựa pháp lý “của mình” để có được điều kiện, được chắp cánh vươn mạnh ra bên ngoài. Cho đến nay, hệ thống pháp luật của Việt Nam vẫn còn thiếu đồng bộ, chưa ổn định, còn chồng chéo, mâu thuẫn nhau; hệ thống đó đang được rà soát lại để sửa đổi, bổ sung hoặc loại bỏ những phần lỗi thời, hoặc ban hành mới. Bên cạnh đó Việt Nam còn thiếu nhiều văn bản pháp luật liên quan đến nhiều quy định quan trọng trong Hiệp định, chẳng hạn như các quy định liên quan đến NTR, NT và quyền sở hữu trí tuệ. Việt Nam cũng chưa tham gia vào một số điều ước quốc tế quan trọng. Một khía cạnh khác được nhiều bên đối tác chú ý là: Tính minh bạch và khả năng dự báo được của các văn bản pháp luật của Việt Nam còn rất thấp. Nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt đối xử trong pháp luật Việt Nam chưa rõ và chưa thực hiện triệt để. Trong hầu hết các lĩnh vực như thương mại, đầu tư, tín dụng, tài chính ngân hàng,… pháp luật Việt Nam trên thực tế dường như vẫn phân biết đối xử giữa doanh nghiệp trong nước và ngoài nước. Điều này dẫn đến một thực trạng là Việt Nam có quá nhiều luật khác nhau điều chỉnh các hành vi có cùng một bản chất. Có thể nói rằng, những khó khăn về mặt luật pháp đối với công ty khi tiến vào thị trường Mỹ là rất lớn và chúng xuất phát từ những khía cạnh sau: hệ thống luật liên quan đến thương mại và kinh doanh của Việt Nam đã có, nhưng có thể là chưa đủ, còn chung chung, chưa có hệ thống các luật gia tư vấn cho các nhà sản xuất kinh doanh xuất khẩu, nhất là sang Mỹ; trong khi đó hệ thống luật pháp thương mại Mỹ là rất phức tạp; nhưng bản thân công ty và cả nhiều luật gia của nước ta lại có hiểu biết ít về hệ thống luật pháp thương mại Mỹ. Như vậy, có thể thấy rõ rằng, nếu chỉ biết sản xuất mà chưa biết kỹ càng luật chơi buôn bán nơi mình đưa hàng đến bán thì kết quả sẽ là hiệu quả kinh doanh thấp. Tác hại của hiệu quả kinh doanh thấp không chỉ ảnh hưởng đến công ty, mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế của đất nước nói chung. Những khó khăn của công ty trong những năm đầu tiến vào thị trường Mỹ chắc vẫn còn nhiều, em tin rằng với sức bật mạnh mẽ của công ty, với tiến trình hoàn thiện của hệ thống luật pháp Việt Nam, với những học hỏi và kinh nghiệm được tích luỹ dần, công ty sẽ khắc phục khó khăn để kinh doanh có hiệu quả trên thị trường Mỹ. CHƯƠNG III: BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ GIẢI PHÁP GIÚP CÔNG TY KHẮC PHỤC NHỮNG KHÓ KHĂN KHI KINH DOANH TRÊN THỊ TRƯỜNG MỸ 3.1. BÀI HỌC KINH NGHIỆM Qua nghiên cứu môi trường luật pháp Mỹ ảnh hưởng tới hoạt động của công ty xuất khẩu thuỷ sản II Quảng Ninh và đặc biệt là sau khi cá tra – cá basa của Việt Nam bị xử thua kiện ở Mỹ cho thấy lý lẽ đúng đắn chưa chắc đã thắng trên “chợ” quốc tế, mà đặc biệt là chợ Mỹ. Chuyện Việt Nam bị xử ép rõ ràng đến mức ngay cả giới báo Mỹ và quốc tế cũng phải lên tiếng mỉa mai cái gọi là “tự do hoá thương mại Hoa Kỳ”. Tuy nhiên, giờ không phải là lúc nhắc lại chuyện cũ nữa. Sản phẩm Việt Nam vẫn ra chợ quốc tế. Thương hiệu Việt Nam vẫn đang được người tiêu dùng Mỹ lựa chọn. Nhưng điều quan trọng là qua đó chúng ta rút ra được kinh nghiệm gì cho ngành thuỷ sản nói chung và cho các doanh nghiệp Việt Nam đang xuất khẩu thuỷ sản vào thị trường Mỹ nói riêng. Vấn đề đầu tiên là thông tin. Qua vụ kiện vừa rồi, khâu cuối cùng (cũng là khâu căn bản quyết định sự thành công trong việc xuất khẩu) là những người nuôi trồng thì lại rất thiếu thông tin. Từ sự thiếu thông tin này có thể dẫn đến một số sơ xuất kỹ thuật không đáng có, để phía bên kia vịn cớ bắt bẻ mình. Thứ hai, khi Việt Nam áp dụng kinh tế thị trường là phải xây dựng tinh thần cộng đồng, làm ăn có tổ chức.Việc tham giai các hiệp hội sẽ giúp cho người sản xuất hiểu biết, chia sẻ thông tin, phối hợp với nhau định ra hướng phát triển chung. Qua nghiên cứu cho thấy, các nước có nền kinh tế hoàn toàn tự do là hoạt động nông, ngư nghiệp phải có tổ chức, đó là hiệp hội các nghề nghiệp. Còn ở Việt Nam, chỉ khi các doanh nghiệp đụng chuyện thì mới thấy lợi ích của mình bị thiệt hại. Hai năm gần đây, VASEP bảo thống nhất giá bán, giá mua thì các doanh nghiệp chỉ ừ mà không thực hiện. VASEP thì không thể ép các doang nghiệp được, vì chỉ là tổ chức tự nguyện. Do đó, các doanh nghiệp cần phải thông qua các hiệp hội, các cơ quan chức năng… để có thể phản ứng và đối đầu với đối thủ của mình. Hơn nữa, phải cùng nhau lo sao sản phẩm phải có nhãn hiệu, có tiêu chuẩn quốc tế, và cùng nhau duy trì để phát triển cái nghề cá bè truyền thống rất quý của mình. Thứ ba, phải kiên trì tiếp thị, đoàn kết đấu tranh trên thương trường, không để xảy ra tình trạng “quân ta phá quân mình”. Doanh nghiệp Việt Nam khi tới làm ăn tại thị trường Mỹ cần lưu ý rằng, việc quảng cáo, tiếp thị trên các phương tiện truyền thông nơi đây có ảnh hưởng hết sức to lớn tới hiệu quả kinh doanh. Tuy nhiên, đây là điều mà doang nghiệp không mấy dễ dàng thực hiện để đảm bảo các yếu tố như ấn tượng, sáng tạo và phù hợp với văn hoá, lối sống của Mỹ… Việc đoàn kết, thống nhất quan điểm hành động cũng là vấn đề chúng ta cần phải củng cố hơn. Thực tế điều cần thiết này đã không chỉ xảy ra ở cấp công ty với công ty, mà ngay cả ở các cấp cao hơn. Sự mâu thuẫn, thiếu gắn kết, mạnh ai lấy làm trong việc nội bộ của chính mình cũng là một nguyên nhân làm chúng ta hành động lúng túng, kém hiệu quả. Thứ tư, muốn đi vào kinh tế thị trường thì phải biết luật chơi của nó; chơi với Mỹ thì phải biết luật Mỹ và phải chơi theo kiểu Mỹ, phải nắm bắt được điểm mạnh điểm yếu của Mỹ, đồng thời chúng ta phải có giải pháp để đối phó khi bị chơi ép. Luật chơi ở đây là luật pháp Mỹ, luật liên bang và luật 51 tiểu bang. Điều dễ nhận thấy là các doanh nghiệp ở Mỹ đều có luật sư giỏi đứng đằng sau, còn các doanh nghiệp của ta chưa có được điều đó. Mặt khác các doanh nghiệp phải xem xét có gì chưa phù hợp để điều chỉnh cho phù hợp trong quá trình hoạt động kinh doanh. Chúng ta cứ nghĩ kinh tế thị trường là tự do hoàn toàn, mạnh ai lấy làm, không phải như vậy. Như trong nghề nuôi cá tra, cá basa vừa qua, năng lực xuất khẩu của công ty thuỷ sản II Quảng Ninh chỉ được 40.000 tấn cá thành phẩm. Nhưng người nuôi đang có trong tay khoảng 75.000 tấn và đa phần đứng ngoài các câu lạc bộ, các hội đoàn chế biến xuất khẩu là những nơi luôn gắn với thị trường. Hơn nữa không nên bám chặt vào một thị trường, dù đó là thị trường Mỹ. Có như thế mới khỏi bị ép. Thứ năm, khi một nước xuất khẩu sang một nước khác với sản phẩm có nhiều ưu thế hơn về chất lượng và giá cả thì chắc chắn dù ít hay nhiều cũng sẽ đụng phải phản ứng của những nhà sản xuất cùng loại sản phẩm trong nước đó. Đây có thể là phản ứng không công bằng nhưng thức tế vẫn thường xảy ra và phải chấp nhận như là quy luật của thương trường. Do đó, vấn đề mấu chốt là chúng ta phải dự báo và định lượng được mức độ phản ứng đó ngay cả trước khi đem hàng sang bán để đề ra được sách lược đối phó thích hợp. Em nghĩ rằng cả 3 bên, từ phía xuất khẩu, phía nhập khẩu và nhà sản xuất ở nước đó cần phải ngồi lại với nhau ngay từ đầu. Mình lắng nghe họ, họ lắng nghe mình. Chúng ta không mong đợi sự cảm thông, nhưng hy vọng sẽ có những giải pháp cùng chung sống trên một thị trường. Nếu mọi việc vẫn tiếp diễn gay gắt, chúng ta sẽ tính toán được một chiến lược xuất khẩu khôn khéo và toàn diện hơn. Vào thị trường Mỹ khó khăn, phức tạp là như vậy, nhưng cho đến nay chưa có một cơ quan chức năng nào của chính phủ đứng ra đảm nhiệm việc tư vấn, hướng dẫn cho doanh nghiệp. Ngay cả Bộ Thương mại cũng chưa phân định trách nhiệm này cho bộ phận cụ thể nào của mình. Điều này có nghĩa, tạo điều kiện cho doanh nghiệp vào Mỹ thật đấy, nhưng cho đến nay chúng ta chỉ mới dừng lại ở giai đoạn “hô hào” mà thôi. Những vấn đề rút ra trên đây không chỉ là bài học có ích cho doanh nghiệp sản xuất chế biến, xuất khẩu hải sản mà còn có ích chung cho tất cả các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam. 3.2. GIẢI PHÁP GIÚP CÔNG TY KHẮC PHỤC NHỮNG KHÓ KHĂN KHI KINH DOANH TRÊN THỊ TRƯỜNG MỸ Trong chiến lược phát xuất khẩu giai đoạn 2001 – 2005, công ty sẽ phấn đấu trở thành ngọn cờ đầu xuất khẩu thuỷ sản ở phía Bắc, đồng thời tăng tỷ trọng xuất sang thị trường có tiềm năng lớn nhất là Mỹ nhằm đa dạng hoá thị trường và đảm bảo sự phát triển bền vững của công ty. Tuy vây, những mục tiêu đó chỉ có thể đạt được một cách đầy đủ nếu như các vấn đề đặt ra đối với sản xuất và xuất khẩu hàng thuỷ sản của công ty và vấn đề khó khăn về luật pháp vừa được phân tích ở trên được giải quyết bằng các biện pháp cụ thể và đồng bộ. Do giới hạn của phạm vi đề tài nên trong bài viết này em chỉ đề xuất một số giải pháp nhằm khắc phục những khó khăn về mặt luật pháp mà công ty đang gặp phải khi kinh doanh trên thị trường Mỹ. 3.2.1. Giải pháp mang tầm vĩ mô Trong bước đầu mở rộng quan hệ kinh tế sang thị trường Mỹ, vai trò của các cơ quan chính phủ rất quan trọng. Chính phủ và các Bộ vừa là người mở đường, tạo dựng quan hệ, người bảo hộ và bảo vệ cho tất cả các doanh nghiệp có khả năng xuất khẩu hàng hoá sang Mỹ, dù đó là doanh nghiệp quốc doanh hay tư nhân. Trong bài viết “Khởi động thực hiện Hiệp địh Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ”, Thứ trưởng Bộ Thương mại Việt Nam cho rằng, các cơ quan của nhà nước có nhiệm vụ “… đẩy mạnh hơn nữa hoạt động xúc tiến thương mại, hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ, sớm mở trung tâm thương mại để giới thiệu sản phẩm; tăng cường công tác hỗ trợ pháp lý và tháo gỡ vướng mắc về thủ tục visa cho doanh nghiệp, thủ tục lập văn phòng đại diện và các rào cản phi thuế quan mà Hoa Kỳ là nơi có rất nhiều vụ tranh chấp chống bán phá giá, tự vệ… Tranh thủ vận động thu hút đầu tư công nghệ cao, công nghệ sinh học và chế biến nông sản. Các Bộ, ngành tiếp tục triển khai tốt chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Hiệp định Thương mại để khai thác hết tiềm năng của thị trường này, tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu sang Hoa Kỳ, tăng sản phẩm, xây dựng mạng lưới tiêu thụ trong nước để cạnh tranh ngay trên đất nước ta khi mở cửa thị trường theo lộ trình…” Các biện pháp hỗ trợ của các tổ chức, cơ quan quản lý Nhà nước giúp các doanh nghiệp nói riêng và các nhà sản xuất kinh doanh hàng thuỷ sản nói chung không đi chệch hướng và đạt tới thành công một cách thuận lợi hơn. Trong thời gian tới, sự hỗ trợ của Nhà nước đối với sự phát triển xuất khẩu thuỷ sản bao gồm: Thứ nhất, là thực hiện chính sách đầu tư, tín dụng ưu đãi một cách hợp lý hơn. Nguồn vốn ưu đãi này nên tập chung cho các lĩnh vực xây dựng đội tàu đánh bắt xa bờ; phát triển các chợ, cảng thu mau hải sản từ các vùng có tiềm năng lớn; hỗ trợ nuôi trồng thuỷ sản và đổi mới công nghệ chế biến. Khi phân phối nguồn vốn này cần đưa ra yêu cầu cam kết sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả đối với từng địa phương, doanh nghiệp và hộ dân. Đồng thời có biện pháp kiểm tra liên tục, thường xuyên về tình hình thực hiện thông qua cán bộ chuyên môn tín dụng để có biện pháp sử lý kịp thời khi có sai phạm. Thứ hai, là tăng cường công tác kiểm soát và quản lý chất lượng sản phẩm. Bộ Thuỷ sản và các cơ quan chức năng có liên quan như Tổng cục đo lường chất lượng cần bổ sung những quy định cụ thể về tiêu chuẩn chất lượng và biện pháp kiểm tra giám định đối với các doanh nghiệp sản xuất hàng thuỷ sản dựa trên các tiêu chuẩn quốc tế. Đồng thời tăng cường hoàn thiện năng lực hoạt động của cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền về kiểm tra và chứng nhận vệ sinh thuỷ sản (hiện nay là Trung tâm kiểm tra chất lượng và vệ sinh thuỷ sản Việt Nam - NAFIQUACEN). Hoạt động của cơ quan này cần được tiến hành thường xuyên và toàn diện hơn đối với các loại thuỷ sản khi đưa ra thị trường tiêu thụ. Thêm vào đó cần có biện pháp tuyên truyền để các chủ tàu, thuyền viên, các doanh nghiệp và các cán bộ công nhân viên của họ hiểu rõ về tầm quan trọng của việc đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm. Biện pháp tuyên truyền có thể thông qua các hội thảo tổ chức theo cấp ngành; các buổi nói chuyện chuyên đề tại các doanh nghiệp, đại phương,… Bên cạnh đó, các cơ quan quản lý Nhà nước cũng nên có sự hỗ trợ cho hoạt động xuất khẩu thuỷ sản bằng cách cung cấp thông tin thị trường, tư vấn sản xuất nuôi trồng, giải pháp về chính sách quản lý, luật pháp và những ưu đãi,… đến từng doanh nghiệp, hộ dân. Em nhận thấy rằng, những nhiệm vụ và hoạt động nêu trên của Nhà nước và các cơ quan của chính phủ trong định hướng quan hệ với thị trường Mỹ là rất quan trọng, tạo được điều kiện và định hướng bước đầu cho các doang nghiệp Việt Nam hoạt động. Tuy nhiên, có thể do tính chất cấp bách của việc thực hiện Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ, mà chúng dừng lại ở tính chất tác nghiệp. Trong quan hệ với Mỹ, vấn đề hoạch định chiến lược lâu dài là rất quan trọng, có thể là quan trọng nhất. Khi nghiên cứu Mỹ, có thể nói rằng với một nền kinh tế thị trường tự do, nhưng chính phủ Mỹ luôn có vai trò hết sức quan trọng trong việc hoạch định và điều chỉnh các chính sách kinh tế cũng như điều chỉnh toàn bộ hệ thống – xã hội của đất nước. Mặc dù Mỹ có nền kinh tế lớn nhất thế giới, nhưng không phải trong tất cả các ngành, các lĩnh vực kinh tế đều đứng đầu thế giới trong mọi lúc, mọi nơi và không bị thách thức căng thẳng bởi những bạn hàng cạnh tranh nước ngoài ngày một phát triển hơn. Người ta nói, thương trường là chiến trường, chính phủ Mỹ dã dường như hành động rất đúng với phương châm này. Với một nền kinh tế thị trường tự do lớn nhất thế giới, nước Mỹ không để cho cơ chế thị trường tác động hàon toàn vào nền kinh tế, mà có sự điều tiết với một sức mạnh “cân bằng tương tự” với sức mạnh của thị trường. Điều này thể hiện rất rõ trong thực tế ở Mỹ hiện nay. Trước hết, chính phủ Mỹ là một trong những chủ thể hoạch định chính sách quan trọng nhất. Qua mỗi một nhiệm kỳ 4 năm, các Tổng thống và chính phủ mới ở Mỹ đều có những chính sách kinh tế mới của mình. Chính sách mới này được định ra phù hợp với xu hướng phát triển dài hạn của nền kinh tế Mỹ và nó được đổi mới thích ứng với điều kiện mới, do đó, có thể thấy nền kinh tế này luôn được đổi mới, năng động mà không gây xáo trộn đến quá trình sản xuất kinh doanh của hệ thống kinh tế. Bên cạnh việc hoạch định những chính sách kinh tế chung, chính phủ Mỹ luôn tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, các ngành nghề cạnh tranh có hiệu quả với nước ngoài, nghĩa là chính phủ luôn can thiệp để tạo thuận lợi trong kinh doanh cho các doanh nghiệp Mỹ. Điều đó được thể hiện ở việc chính phủ tài trợ cho các hoạt động nghiên cứu – ứng dụng (tạo sản phẩm mới, nâng cao chất lượng sản phẩm, nghiên cứu thị trường, tìm hiểu bạn hàng, khả năng cạnh tranh…) vừa tài trợ cho các doanh nghiệp dưới nhiều hình thức để phát triển sản xuất ở trong và ngoài nước (bảo hộ thị trường trong nước, giảm thuế,…), áp dụng luật chống phá giá, trừng phạt kinh tế – chiến tranh kinh tế, đàm phán mở cửa thị trường ngoài nước, gây sức ép kinh tế - chính trị, buộc các nước thực hiện chế độ tự nguyện xuất khẩu (giảm xuất khẩu vào Mỹ); trên bình diện quốc tế, Mỹ tham gia và chỉ đạo dưới nhiều hình thức các hoạt động của WTO, của các tổ chức kinh tế đa phương, song phương, tạo các luật chơi kinh tế quốc tế có lợi cho Mỹ, tiếng nói của Mỹ thường chi phối hoạt động của các tổ chức này do tiềm lực kinh tế to lớn của Mỹ… Rõ ràng, chính phủ Mỹ có vai trò rất quan trọng, những hoạt động chính sách và điều hành vĩ mô của chính phủ rất đa dạng, một phần do sức mạnh và phạm vi hoạt động kinh tế Mỹ, phần khác, theo em, do nhận thức của chính phủ và sự gắn kết giữa bộ máy nhà nước với sự chi phối của các nhám lợi ích và các giới chủ doanh nghiệp. Sự khác biệt giữa việc hoạch định chính sách kinh tế ở Mỹ và nước ta là rất lớn. Trước tiên là do chế độ chính trị – xã hội khác biệt, thứ hai là do trình độ, quy mô và tính chất của nền kinh tế cũng rất khác nhau; thứ ba, các mối quan hệ kinh tê - chính trị của hai nước khác biệt nhau, các phương tiện (tài chính, bộ máy…) được sử dụng để hoạch định chính sách cũng khác nhau. Dù như vậy, vai trò của chính phủ nước ta, cũng như chính phủ nước Mỹ đều rất quan trọng đối với mỗi nước của các chính phủ đó. Vai trò của chính phủ Việt Nam được thể hiện ở chỗ định ra những chính sách kinh tế vĩ mô dài hạn, nền kinh tế nước ta sẽ phải phát triển như thế nào qua những chặng đường trong tương lai, và chúng sẽ được điều chính qua từng nhiệm kỳ của chính phủ với những chính sách kinh tế vĩ mô trung hạn, ở nước ta là sau các kỳ Đại hội Đảng, nước ta có các chính phủ mới. Chính phủ can thiệp vào nền kinh tế thông qua các chính sách vĩ mô, có tính chất định hướng, một mặt, làm cho nền kinh tế phát triển một cách nhịp nhàng cân đối, rõ ràng, minh bạch, thu hút được mọi người dân muốn làm kinh tế đều có thể tham gia hoạt động kinh tế vì lợi ích của cá nhân mình, vừa phục vụ lợi ích chung phát triển đất nước, mặt khác, chính phủ cần có những chính sách kinh tế quốc tế phù hợp với thực tiễn, bảo vệ được lợi ích của giới kinh doanh nước ta khi tham gia vào kinh doanh quốc tế, đồng thời thu hút được nhiều vốn đầu tư nước ngoài, nhiều nhà kinh doanh ngoại quốc vào làm ăn ở nước ta. Chính phủ cần được chuyên nghiệp hoá, trong sạch, vững mạnh, có hiểu biết tường tận các lý luân – học thuyết kinh tế, các quá trình kinh tế trong nước, cũng như phải nắm vững những biến đổi thường xuyên của tình hình kinh tế – chính trị quốc tế. Có thể mỗi nước có một hoặc nhiều hoàn cảnh khác nhau, nhưng nếu có những định hướng đúng đắn, điều chỉnh tính hợp lý, đổi mới tích cực, thì không thể nào nền kinh tế không phát triển sôi động và mạnh mẽ được. 3.2.2. Giải pháp cấp công ty Trong điều kiện của Việt Nam, hoạt động của các doanh nghiệp nói chung và của công ty thuỷ sản II Quảng Ninh nói riêng phụ thuộc trước tiên vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, nhất là các đường lối, chủ trương, chính sách và sự chỉ đạo của các bộ ngành. Nếu sự lãnh đạo và chỉ đạo đó tạo được chân trời rộng lớn, tạo được động lực và chỗ dựa cho công ty hoạt động, thì rõ ràng vấn đề còn lại là của công ty. Công ty có rất nhiều nhiệm vụ để khắc phục những khó khăn của mình. 3.2.2.1. Nâng cao năng lực hoạt động của công ty để tạo ra các sản phẩm đáp ứng được yêu cầu của thị trường Mỹ. Những biện pháp cụ thể là: Đào tạo nguồn nhân lực, đặc biệt là đội ngũ cán bộ ngoại thương lành nghề. Ứng dụng công nghệ mã số, mã vạch vào hoạt động của công ty. Từ năm 1990, rất nhiều nước trên thế giới yêu cầu sản phẩm phải có mã số, mã vạch mới được nhập khẩu, nhất là hàng thuỷ sản. Sản phẩm của Việt Nam nếu không có mã số mã vạch thì sẽ không thể bán được hoặc muốn bán được thì phải chấp nhận để bạn hàng nước sở tại gia công, vừa tốn kém, vừa phức tạp, dẫn đến tình trạng mất thị trường. Vì vậy, việc tiêu chuẩn EAN – Việt Nam ra đời (1995) và Việt Nam ra nhập Hội mã số vật phẩm quốc tế đã đáp ứng được nhu cầu cấp bách cần thể hiện các mã số mã vạch trên các sản phẩm của Việt Nam, đánh dấu một bước quan trọng của các doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế. Sử dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế (ISO) trong công ty. Tiêu chuẩn chất lượng quốc tế ISO 9000 đề cập đến các yếu tố chính trong quản lý chất lượng. Muốn thành công, công ty phải chú trọng đầu tư cho công tác quản lý chất lượng hàng hoá, bắt đầu từ khâu đánh bắt nuôi trồng đến quy trình sản xuất và nghiệm thu sản phẩm. Công ty phải có chương trình giáo dục đào tạo cho mọi người trong công ty và tiến hành tự kiểm tra, đánh giá từng công đoạn theo chu kỳ quy định trước. Nâng cao chất lượng vệ sinh thực phẩm bằng cách ứng dụng hệ thống HACCP vào hoạt động sản xuất của công ty. Hệ thống HACCP(Hazard Analysis Critical Cotrol Point – Phân tích các nguy cơ và kiểm soát các khâu trọng yếu) là hệ thống tiêu chuẩn được thiết kế riêng cho công nghệ thực phẩm và các ngành có liên quan đến thực phẩm. Hệ thống HACCP chỉ có tính chất bắt buộc đối với các công ty chế biến thực phẩm tại những lãnh thổ thừa nhận HACCP như Mỹ và EU, nhưng trên thực tế, nếu nhà nhập khẩu của Mỹ mua nguyên liệu từ nước ngoài thì họ phải chịu trách nhiệm về nguyên liệu đó theo nguyên tắc HACCP kể từ khi hàng đến cửa khẩu. Cơ chế này buộc họ phải đòi hỏi các nhà xuất khẩu nước ngoài tuân thủ các nguyên tắc HACCP. 3.2.2.2. Nghiên cứu và nắm vững hệ thống luật pháp của Mỹ Việc nghiên cứu những quy định liên quan đến xuất nhập khẩu trong luật kinh doanh của Mỹ, cung cách làm ăn và tác phong của người Mỹ… giúp các doanh nghiệp Việt Nam tính toán cân nhắc và có quyết định đúng đắn trong việc hợp tác với các công ty Mỹ đến lúc nào để đạt hiệu quả cao nhất, rủi ro thấp nhất. Nếu công ty có xu hướng làm ăn lâu dài và ổn định trên thị trường Mỹ, thì nên lập văn phòng đại diện ở Mỹ. Các văn phòng này có nhiệm vụ cung cấp các thông tin về luật pháp, thị hiếu, giá cả, chất lượng và mẫu mã… để công ty trong nước kịp thời nắm bắt các cơ hội kinh doanh trên thị trương Mỹ. Tuy nhiên, khi lập một văn phòng đại diện thì công ty nên sử dụng luật sư và các dịch vụ tư vấn về pháp luật để tránh những sai lầm do ít am hiểu về luật. Họ sẽ đưa ra những lời khuyên, những hướng dẫn bổ ích giúp công ty có được các cân nhắc và đưa ra các quyết định đúng đắn để không những tránh được rủi ro về pháp luật, mà còn có thể lợi dụng được các ưu đãi trong luật pháp của Mỹ. Công ty cũng có thể tìm hiểu và có được tư vấn về hệ thông luật pháp Mỹ thông qua các tổ chức trong nước như Bộ Thương mại, phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, trung tâm phát triển ngoại thương tại thành phố Hồ Chí Minh, cơ quan thương vụ Mỹ tại Việt Nam, các nhà môi giới Hải quan Mỹ và các ngân hàng Mỹ tại Việt Nam… Công ty cũng cần tổ chức tiếp cận và phân tích, khai thác thông tin thường xuyên, trực tiếp tiếp xúc với thị trường thế giới thông qua các hội thảo, hội chợ, triển lãm quốc tế ở cả trong nước và ở Mỹ. Công ty cũng cần phải chủ động tìm kiếm, đàm phán, ký kết hợp đồng với các bạn hàng Mỹ, tổ chức sản xuất và xuất khẩu theo nhu cầu và thị hiếu của thị trường. 3.2.2.3. Tiến hành mua bảo hiểm cho sản phẩm Mỹ là một thị trường mà người tiêu dùng rất hay kiện cáo. Vì vậy, một trong những vấn đề cần quan tâm là luật pháp về trách nhiệm đối với sản phẩm, được dùng để bảo vệ người tiêu dùng Mỹ. Những vụ kiện cáo về trách nhiệm sản phẩm do người tiêu dùng Mỹ kiện có thể làm cho công ty tốn nhiều triệu USD. Để tránh được những phiền phức và tốn kém trên, công ty nên mua bảo hiểm rủi ro khi xuất khẩu hàng sang thị trương này. Theo luật trách nhiệm sản phẩm của Mỹ, nếu người sản xuất thua kiện liên quan đến chất lượng sản phẩm sẽ bị tịch biên tất cả tài sản ở thị trường Mỹ, và không bao giờ có thể quay lại kinh doanh ở thị trường này. Vì vậy, công ty nên mua bảo hiểm cho tất cả các thiệt hại về trách nhiệm sản phẩm. Loại bảo hiểm này, không những bảo hiểm các rủi ro về tách nhiệm sản phẩm mà còn bảo hiểm cả các rủi ro khi qúa cảnh qua biên giới và các loại rủi ro khác có liên quan. 3.2.2.4. Đẩy mạnh hoạt động tiếp thị và xúc tiến thương mại thuỷ sản Vai trò của tiếp thị là rất quan trọng, nhất là với một thị trường rộng lớn, đa dạng và luật lệ làm ăn nghiêm ngặt như Mỹ. Ngoài sự hỗ trợ của Nhà nước ở tầm vĩ mô, công ty cần làm tốt công tác tiếp thị ở tầm vi mô như lập bộ phận nghiên cứu thị trương, tiếp thị qua hội trợ triển lãm, tiếp thị qua mạng Internet, gửi thư giới thiệu những mặt hàng mới , xây dựng bộ phận đại diện thương mại của công ty ở thị trường Mỹ, tiếp cận các siêu thị và hãng kinh doanh siêu thị để giới thiệu sản phẩm thuỷ sản của công ty, từng bước xây dựng và củng cố thương hiệu sản phẩm của công ty trên thị trường thế giới. 3.2.2.5. Làm quen với các vụ kiện tụng, giải quyết tốt các tranh chấp. Thông qua các vụ kiện trong thời gian vừa qua như: Hiệp hội cá nheo Mỹ kiện không cho các doanh nghiệp Việt Nam sử dụng tên gọi catfish đối với cá tra, cá basa xuất khẩu vào Mỹ; vụ kiện Việt Nam bán phá giá mặt hàng này và gần đây nhất là vụ kiện Việt Nam bán phá giá cả tôm vào thị trường Mỹ cho thấy một mặt công ty phải thật am hiểu về pháp luật của thị trường Mỹ cũng như luật thương mại quốc tế, mặt khác phải có một đội ngũ chuyên viên thành thạo, đủ sức đối phó với các vụ kiện, sớm nắm bắt được thông tin để tư vấn cho công ty, giúp công ty có thể điều chỉnh kịp thời trước những biến động của thị trường. Bên cạnh đó, một sự hợp tác, liên kết và học tập kinh nghiệm xử lý của các nước cũng bị kiện như mình là rất quan trọng. Vậy khi phải đối phó với tình hình trên thì công ty có thể làm gì? Vận động được coi là biện pháp đầu tiên trong mọi tình huống. Có thể theo trình tự chung là vận động bằng nhiều con đường để các doanh nghiệp hoặc các cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu không nộp đơn kiện chống bán phá giá. Khi đơn đã nộp thì cần vận động cơ quan có thẩm quyền không tiến hành điều tra với nhiều lý do như có bằng chứng hiển nhiên không có phá giá hoặc không có thiệt hại, hoặc phá giá ở mức de minimis, tức là biên độ phá giá nhỏ hơn 2% giá xuất khẩu, hoặc tỷ lệ nhập khẩu từ công ty có thể bỏ qua, tức là chiếm dưới 3% tổng nhập khẩu mặt hàng đó. Khi cơ quan thẩm quyền của Mỹ vẫn tiếp tục điều tra thì lại tích cực vận động họ không áp dụng biện pháp tạm thời, chẳng hạn với lý do hàng nhập khẩu chưa gây thiệt hại vật chất cho ngành sản xuất trong nước. Trong trường hợp công ty thấy khả năng đối tác sẽ áp dụng thuế chống bán phá giá một cách chính thức là khó tránh khỏi thì cần vận động để mức thuế chống bán phá giá càng thấp càng tốt, chẳng hạn vận động những nhà sản xuất sử dụng hàng nhập khẩu như là nguyên liệu đầu vào và người tiêu dùng cuối cùng hàng nhập khẩu gây sức ép với cơ quan thẩm quyền áp dụng mức thuế thấp hơn biên độ phá giá. Nếu công ty kết hợp thêm vận động chính trị hoặc có những đề xuất thương mại có giá trị cao thì sẽ tác động lớn tới quá trình điều tra và ra quyết định liên quan tới chống bán phá giá của đối tác. Trong trường hợp vận động không đem lại kết quả, công ty cần phải có những giải pháp tình thế để hạn chế phần nào thiệt hại và tránh bị sa lầy trong các tranh chấp về bán phá giá. Tuy nhiên, ngay từ bây giờ công ty phải có hành động cụ thể để đối phó với biện pháp này trong dài hạn. Thứ nhất, công ty cần chỉ ra đơn có hợp lệ hay không, dựa trên hai khái niệm là sản phẩm tương tự và ngành sản xuất trong nước. Thứ hai, trong một số tranh chấp bán phá giá công ty nên đặt vấn đề lợi ích vật chất lên hàng đầu hơn là chúng ta theo đuổi mục tiêu “ta đúng, đối tác sai”. Nói cách khác, cho dù công ty biết chắc là ta không bán phá giá một sản phẩm nào đó, nhưng nếu thấy khả năng thắng kiện là không cao và tốn kém, khi đó công ty nên đưa ra nhân nhượng để đỡ bị thiệt, đối tác cũng nhân hoà được quyền lợi kinh tế và chính trị trong nội bộ nước họ. Biện pháp nhân nhượng được luật phá giá của WTO cho phép là cam kết giá. Trong quá trình điều tra, nước xuất khẩu có thể tự nguyện cam kết tăng giá xuất khẩu. Nếu nước nhập khẩu chấp nhận đề xuất này thì quá trình điều tra chấm dứt trừ khi nước xuất khẩu vẫn yêu cầu tiếp tục điều tra. Cam kết tăng giá xuất khẩu là một biện pháp khá đơn giản, đỡ tốn chi phí thao đuổi tranh chấp. Một ưu điểm rõ ràng là nhà xuất khẩu được hưởng phần lớn chênh lệch giữa giá bán tại nước nhập khẩu trước và sau khi tăng giá xuất khẩu. Trong khi đó, nếu bị áp dụng thuế chống bán phá giá thì có thể thấy rằng giá bán tại nước nhập khẩu tăng lên nhưng nhà xuất khẩu không được lợi gì cả. Hơn nữa, sau khi bị đánh thuế chống bán phá giá, nhà xuất khẩu sẽ dần dần phải tăng giá để không bị coi là bán phá giá nữa. Trong khi chờ đợi cơ quan rà soát kiểm tra để dỡ bỏ thuế chống phá giá, giá hàng xuất khẩu sẽ bị tăng vọt do thuế chống bán phá giá vẫn tiếp tục đánh vào hàng hoá đã được nâng giá. Điều này dẫn dến sự ngưng trệ xuất khẩu và ảnh hưởng lớn tới sản xuất mặt hàng đó tại nước xuất khẩu. 3.2.2.6. Khi làm thủ tục xuất khẩu hàng hoá vào thị trường Mỹ, công ty cần lưu ý những vấn đề sau đây: - Cung cấp tất cả các thông tin được yêu cầu trong tờ khai hải quan và hoá đơn. - Chuẩn bị cẩn thận các tờ khai và đánh máy một cách rõ ràng. - Các chứng từ phải ghi đầy đủ các thông tin được thể hiện trong một phiếu đóng gói hợp thức. - Đánh dấu và đánh số từng kiện hàng sao cho tương ứng với các số hiệu và ký hiệu thể hiện trong chứng từ. - Mô tả chi tiết từng loại hàng hoá của từng kiện hàng trong hoá đơn chứng từ. - Ghi ký hiệu hàng hoá cùng tên nước xuất xứ lên hàng hoá một cách rõ ràng và dễ thấy, trừ trường hợp hàng hoá đó được miễn trừ khỏi các quy định về ghi tên nước xuất xứ. - Tuân thủ các điều kiện chung của các Đạo luật riêng biệt của Mỹ áp dụng cho hàng hoá của nhà xuất khẩu, ví dụ như các quy định liên quan tới thực phẩm, dược phẩm, mỹ phẩm, đồ uống có cồn hay các chất phóng xạ. - Tuân thủ nghiêm ngặt những hướng dẫn về: cách lập hoá đơn, đóng gói, tên mác, nhãn hiệu… mà khách hàng Mỹ yêu cầu. - Hợp tác với Hải quan Mỹ trong việc xây dựng các tiêu chuẩn về bao gói cho hàng hoá của nhà xuất khẩu. - Tổ chức kiểm tra an ninh chặt chẽ ở cơ sở sản xuất cũng như trong quá trình vận chuyển hàng hoá tới nơi gửi hàng (bằng tàu biển, máy bay…). Nên chở hàng bằng tàu có tham gia Hệ thống kiểm định hàng hoá tự động. Nếu sử dụng môi giới hải quan để thực hiện giao dịch, nên thuê một hãng có tham gia vào hệ thống môi giới tự động. Trong những năm tới, nếu như điều kiện thiên nhiên thuận lợi và các biện pháp nêu trên được thực hiện một cách đồng bộ thì ngành thuỷ sản nói chung và công ty thuỷ sản II Quảng Ninh nói riêng sẽ không ngừng phát triển. Từ đó sẽ khẳng định thêm được vị thế của thuỷ sản là mặt hàng mũi nhọn của Việt Nam. Nhờ vậy sẽ nâng cao được mức sống, trình độ của người lao động trong ngành, đồng thời nâng cao được lợi nhuận cho công ty và đóng góp vào sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước. KẾT LUẬN Mặc dù trong thời gian qua có những biến động về thị trường thuỷ sản Mỹ, nhưng nhìn chung hàng thuỷ sản của công ty vẫn xuất khẩu được. Tuy vậy, công ty vẫn còn đang gặp khá nhiều khó khăn về luật pháp khi kinh doanh trên thị trường Mỹ. Như vây, vấn đề đặt ra trước tiên đối với công ty là phải sản xuất kinh doanh tốt, có chất lượng và có uy tín. Tuy nhiên, đây không phải là một điều đơn giản. Có người cho rằng, cứ có sản phẩm chất lượng tốt, đạt yêu cầu tiêu chuẩn an toàn, vệ sinh thực phẩm của Mỹ, được người tiêu dùng Mỹ chấp nhận, thì vẫn có thể tiếp tục xuất sang Mỹ. Thực tế có thể như vậy, nhưng em cho rằng trong làm ăn kinh doanh, nên tránh những rắc rối kiện tụng, nhất là ở Mỹ. Để tránh được những rắc rối như vậy, công ty phải nhanh chóng tự lớn lên, về công nghệ, về hiểu biết và kinh nghiệm quản trị kinh doanh, về luật và lệ của nước mình và nước Mỹ để tiến hành làm ăn kinh doanh, về luật lệ quốc tế và của Mỹ để chiến thắng trong kiện tụng, nếu buộc phải như vậy. Như trong bài đã phân tích, nếu công ty có sản phẩm tốt, nhưng không biết “tô điểm” cho nó (hay tô điểm chưa đủ), không quảng cáo tiếp thị tốt, nhãn mác nhập nhèm, giao hàng thất thường không đúng thời hạn, cố bán những hàng mà người sở tại không ưa thích lắm, hoặc đưa ra những hàng hoá vào thị trường nào đó đã tràn ngập hàng hóa cùng loại có chất lượng và giá cả hợp lý hơn… thì rõ ràng khả năng thất bại là nhiều hơn. Đấy là chưa kể những sản phẩm có chất lượng chưa tốt. Qua bài viết, giúp công ty thấy được ranh giới giữa vai trò của các cấp điều hành vĩ mô và vai trò hoạt động của công ty là rất rõ ràng. Các cấp vĩ mô không thể làm thay cho công ty trong quá trình sản xuất kinh doanh. Công ty hoàn toàn có khả đối phó với mọi khó khăn trong kinh doanh và phát huy mọi mặt sáng tạo chủ động của mình để sản xuất kinh doanh có hiệu quả. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO Sách và giáo trình: 1. PGS.TS. Nguyễn Thị Hường - Giáo trình Kinh Doanh Quốc Tế – Tập I- Nhà xuất bản Thống Kê - 2001. 2. Võ Thị Thanh Thu – Những giải pháp về thị trường cho xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam – Nhà xuất bản Thống Kê - 2002. Báo và tạp chí: TS. Đỗ Đức Bình – Hiệp định thương mại Việt – Mỹ và tác động đến hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam- Tạp chí Kinh Tế và Phát Triển – số 11/2001 – tr.20 PGS.TS. Nguyễn Thị Hường - Đẩy mạnh xuất hàng hoá Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ – Tạp chí Kinh Tế và Phát Triển – số 11/2001 – tr.29 ThS. Nguyễn Thị Thu Hương – Xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam vào Mỹ, cơ hội và thách thức – Tạp chí Thị trường và quản lý – số 6/2002 – tr.13 ThS. Lê Công Toàn – Những điều mà doanh nghiệp cần biết để thâm nhập vào thị trường Mỹ – Tạp chí Thương mại – số 7/2002 – tr.6 PGS.TS. Nguyễn Hữu Dũng- Tìm hiểu cuộc chiến catfish của Mỹ chống cá tra và cá basa của Việt Nam – Châu Mỹ ngày nay – số 4/2002 – tr.25 Nguyễn Đình Lương – Dự luật HR1950 gây cản trở quá trình thực hiện Hiệp định Thương mại song phương –Châu Mỹ ngày nay – số 8/2003- tr.64 Tạp chí Kinh tế và dự báo- số 5/2002 – tr.10 Lương Van Tự – Khởi động thực hiện Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ – Báo Nhân Dân – 23/12/2002 – tr2 Ngô Duy Thực – Công ty xuất khẩu thuỷ sản II Quảng Ninh đón nhận danh hiệu anh hùng lao động – Tạp chí Thuỷ sản- số 8/2003 – tr.7 Các nguồn khác: Báo cáo tổng kết từ năm 1994 đến năm2002 của Bộ Thuỷ sản

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docẢnh hưởng của môi trường luật pháp Mỹ tới hoạt động kinh doanh của công ty xuất khẩu thuỷ sản II Quảng Ninh.doc