Đề tài Đánh giá kết quả điều trị Phục hồi chức năng vận động cho bệnh nhân Tai biến mạch máu não tại Bệnh viện Điều Dưỡng và phục hồi chức năng tỉnh Thái Nguyên

ĐẶT VẤN ĐỀ Tai biến mạch máu não (TBMMN) là một trong những bệnh nặng, thường gặp ở người cao tuổi. Từ nhiều thập kỷ trước đến nay, TBMMN đã và đang là vấn đề thời sự cấp thiết của y học nói chung, của ngành phục hồi chức năng (PHCN) nói riêng đối với mọi quốc gia, dân tộc trên thế giới. TBMMN là bệnh lý do nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra, người bệnh có thể tử vong nhanh chóng hoặc nếu sống sót sẽ để lại nhiều di chứng nặng nề [2]. Theo báo cáo ủca Tổ chức Y tế thế giới 1996 (TCYTTG), tỷ lệ TBMMN mới phát hiện (incidence) trong một năm từ 100 – 250/100.000 dân và tỷ lệ hiện mắc là từ 500 – 700/100.000 dân [12], [13]. Tỷ lệ tử v ong do TBMMN đứng thứ ba trên thế giới sau các bệnh ung thư và tim mạch [16]. Tỷ lệ mắc bệnh TBMMN ở các nước phát triển rất cao. Hàng năm Hoa Kỳ có thêm 500.000 người bị tai biến mới, phần lớn xảy ra sau 55 tuổi, tỷ lệ tử vong cao kho ảng 30% - 40% trong tháng đ ầu tiên sau tai biến, 2/3 số người được cứu sống bị tàn tật, hàng năm ước tính phải chi phí trên 7 tỷ đô la cho điều trị và PHCN bệnh nhân TBMMN [12]. Ở Trung Quốc, tỷ lệ mắc bệnh này tại Bắc Kinh hiện nay là 329/100.000 dân, còn ở Quảng Châu tỷ lệ này là 147/100.000 dân và t ỷ lệ tử vong là 69 – 80/100.000 dân [20]. Tại Việt Nam, theo Nguyễn Văn Đăng (1997) thì tỷ lệ mắc bệnh TBMMN là 115,92/100.000 dân trong đó t ỷ lệ tử vong là 20,55/100.000 dân [15] . Theo phân loại của TCYTTG thì người bệnh bị liệt nửa người do TBMMN thuộc loại đa tàn tật, mà chủ yếu là giảm hoặc mất chức năng vận động kèm theo các rối loạn tri giác, nhận thức, tâm lý. Theo Nguyễn Văn Đăng, di chứng về vận động của TBMMN là 92,62%; di chứng nặng là 27,69%; di chứng vừa và nhẹ là 68, 42% [13]. Rối loạn chức năng vận độngây ảnh hưởng rất lớn và trực tiếp đến khả năng thực hiện các hoạt động sinh hoạt hàng ngày cũng như khả năng tái hội nhập vào đời sống cộng đồng Ngày nay ngành y tế luôn phát triển không ngừng với những kiến thức khoa học tiến bộ, những kỹ thuật tiên tiến, trang thiết bị hiện đại đã góp phần cứu sống nhiều bệnh nhân, trong đó có bệnh nhân TBMMN. Điều đó đồng nghĩa với tỷ lệ bệnh nhân liệt nửa người sau TBMMN ngày càng tăng. Do đó PHCN vận động cho bệnh nhân TBMMN là một trong những nội dung quan trọng của ngành PHCN. Có rất nhiều phương pháp PHCN cho người bệnh bị TBMMN, nhưng hiện nay phương pháp Bobath được ứng dụng nhiều nhất. Đã có nhiều đề tài nghiên cứu và ứng dụng phương pháp Bobath ở Việt Nam, và tại Thái Nguyên cũng có đề tài nghiên cứu về nhu cầu độc lập trong sinh hoạt, mức độ phục hồi cho bệnh nhân sau tai biến mạch máu não ở cộng đồng. Nhưng chưa có nghiên cứu nào đánh giá được kết quả điều trị phục hồi chức năng vận động cho bệnh nhân TBMMN bằng phương pháp Bobath tại bệnh viện. Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá kết quả điều trị PHCN vận động cho bệnh nhân TBMMN tại Bệnh viện Điều Dưỡng và PHCN tỉnh Thái Nguyên”. Nhằm mục tiêu sau: 1. Đánh giá kết quả phục hồi chức năng vận động của ngư ời bệnh sau Tai biến mạch máu não bằng phương pháp Bobath. 2. Tìm hiểu một số yếu tố liên quan tới kết quả phục hồi chức năng vận động trên bệnh nhân Tai biến mạch máu não. MỤC LỤC ĐẶT VẤN ĐỀ 1 Chương 1: TỔNG QUAN . 3 1.1. Đặc điểm dịch tễ học của tai biến mạch máu não 3 1.2. Tình hình di chứng và tàn tật do tai biến mạch máu não . 7 1.3. Phục hồi chức năng cho bệnh nhân liệt nửa người do tai biến mạch máu não 8 1.4. Một số nghiên cứu liên quan đến mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày của bệnh nhân liệt nửa người do tai biến mạch máu não trên Thế giới và Việt Nam . 14 Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU . 20 2.1. Đối tượng nghiên cứu 20 2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu . 20 2.3. Phương pháp nghiên cứu . 20 2.4. Xử lý số liệu . 29 Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30 3.1. Một số đặc điểm chung 30 3.2. Kết quả phục hồi chức năng vận động sau can thiệp . 36 3.3. Mối liên quan trong thời gian tập luyện . 40 Chương 4: BÀN LUẬN . 47 4.1. Một số đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu 47 4.2. Kết quả phục hồi vận động sau tập luyện bằng phương pháp Bobath .51 4.3. Các yếu tố liên quan đến kết quả phục hồi của bệnh nhân liệt nửa người do tai biến mạch máu não . 54 Chương 5: KẾT LUẬN . 62 1. Tập luyện bằng phương pháp Bobath có hiệu quả trong việc phục hồi chức năng cho người bệnh liệt nửa người sau TBMMN 62 2. Có một số yếu tố liên quan đến kết quả phục hồi chức năng . 62 Chương 6: KHUYẾN NGHỊ . 63 TÀI LIỆU THAM KHẢO 64

doc87 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 03/06/2013 | Lượt xem: 8668 | Lượt tải: 62download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Đánh giá kết quả điều trị Phục hồi chức năng vận động cho bệnh nhân Tai biến mạch máu não tại Bệnh viện Điều Dưỡng và phục hồi chức năng tỉnh Thái Nguyên, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
) Phụ thuộc hoàn toàn 47 75,8 8 12,9 Phụ thuộc một phần 14 22,6 41 66,2 Độc lập 1 1,6 13 20,9 Tổng số 62 100 62 100  < 0,01 Nhận xét: Trước tập số bệnh nhân không thực hiện được các hoạt động sống có tỷ lệ 75,8%, chỉ có 1,6% bệnh nhân thực hiện được các hoạt động. Sau 6 tu ần tập: Số bệnh nhân không thực hiện được các hoạt động sống giảm xuống còn 12,9%, số bệnh nhân thực hiện được các hoạt động sống tăng lên 20,9%. Sự khác biệt về kết quả phục hồi khả năng thực hiện được các hoạt động của bệnh nhân trước tập và sau tập 6 tuần có ý nghĩa thống kê với độ tin cậy p < 0,01. Biểu đồ 10: Khả năng thực hiện được các hoạt động sống trong sinh hoạt hàng ngày của bệnh nhân trước và sau tập luyện 3.3. Mối liên quan trong thời gian tập luyện Bảng 3.12. Liên quan giữa tuổi và kết quả phục hồi sau 6 tuần Nhóm tu ổi Kết quả p Tốt và trung bình Kém ≤ 60 > 60 15 (100%) 37 (78,7%) 0 10 (22,3%) < 0,01 Tổng số 52 10 62 Nhận xét: Tuổi của bệnh nhân có liên quan đến kết quả phục hồi, ở nhóm bệnh nhân tuổi dưới 60 tuổi kết quả phục hồi đạt 100% tốt hơn so với những bệnh nhân ở nhóm tuổi > 60 tuổi(78,7%). Bảng 3.13. Liên quan giữa giới và kết quả phục hồi sau 6 tuần Giới Kết quả p Tốt và trung bình Kém Nam Nữ 36 (73,5%) 11 (84,6%) 13 (26,5%) 2 (15,4%) > 0,05 Tổng số 47 15 62 Số bệnh nhân bị liệt nửa người sau TBMMN ở nam lớn hơn ở nữ. Kết quả phục hồi giữa bệnh nhân nam và bệnh nhân nữ là như nhau. Chưa tìm thấy mối liên quan về giới và kết quả phục hồi sau 6 tuần tập luyện với p > 0,05. Bảng 3.14. Liên quan giữa bên bị liệt và kết quả phục hồi sau 6 tuần Bên li ệt Kết quả p Tốt và trung bình Kém Liệt bên phải Liệt bên trái 26 (72,2%) 21 (80,8%) 10 (27,8%) 5 (19,2%) >0,05 Tổng số 47 15 62 - Kết quả phục hồi tốt ở nhóm bị liệt nửa người bên phải là 72,2%, kết quả phục hồi tốt ở nhóm bệnh nhân bị liệt nửa người bên trái là 80,8%. Mặc dù vậy không có mối liên quan giữa bên bị liệt và kết quả phục hồi sau 6 tuần tập luyện, kết quả này không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05. Bảng 3.15. Liên quan giữa loại tổn thương não và kết quả phục hồi sau 6 tuần Loại tổn thương Kết quả p Tốt và trung bình Kém Nhồi máu não Chảy mãu não 21 (72,4%) 15 (68,2%) 8 (27,6%) 7 (31,8%) > 0,05 Không xác đ ịnh 7 (63,6%) 4 (36,3%) Tổng số 43 19 62 Nhận xét: Nhóm bệnh nhân liệt nửa người do nhồi máu não đạt kết quả điều trị tốt và trung bình là 72,4%. Nhóm bệnh nhân liệt nửa người do chảy máu não đạt kết quả điều trị tốt và trung bình là 68,2%. Nhóm bệnh nhân liệt nửa người không xác định được nguyên nhân đạt kết quả điều trị tốt và trung bình là 63,6%. Kết quả PHCN của các nguyên nhân này không có sự khác biệt đáng kể, không có ý ngh ĩa thống kê với p > 0,05. Bảng 3.16. Liên quan giữa thời gian từ khi đột quỵ đến khi bắt đầu PHCN và kết quả phục hồi sau 6 tuần Thời gian bắt đầu vào vi ện Kết quả p Tốt và trung bình Kém Dưới 6 tuần 7 – 12 tu ần 34 (85%) 8 (72,7%) 6 (15%) 3 (27,3%) < 0,01 > 12 tu ần 6 (54,5%) 5 (45,5%) Tổng số 48 14 62 Nhận xét : Kết quả phục hồi vận động của bệnh nhân liệt nửa người do tai bếin mạch máu não phụ thuộc vào thời gian bệnh nhân bắt đầu được tập luyện PHCN sau tai biến. Thời gian càng sớm kết quả phục hồi càng tốt, bệnh nhân được đ iều trị trước 6 tuần đạt kết quả tốt và trung bình đạt 85%; bệnh nhân điều trị trước 12 tuần đạt kết quả tốt và trung bình là 72,7%, ệbnh nhân điều trị sau 12 tuần đạt kết quả tốt và trung bình là 54,5%. Biểu đồ 11: Liên quan giữa thời gian từ khi đột quỵ đến khi bắt đầu PHCN và kết quả phục hồi sau 6 tuần Bảng 3.17. Liên quan giữa chi bị liệt và kết quả phục hồi sau 6 tuần Chi b ị liệt Kết quả p Tốt và trung bình Kém Tay 25 (40,3%) 37 (59,7%) < 0,01 Chân 48 (77,4%) 14 (22,6%) Nhận xét : Đối với bệnh nhân liệt nửa người do tai biến mạch máu não khả năng phục hồi của chân liệt (77,4%), tốt hơn khả năng phục hồi tay liệt (40,3%). Sự khác biệt về kết quả phục hồi vận động của chân so với phục hồi vận động của tay có ý nghĩa thống kê với độ tin cậy p < 0,01. Biểu đồ 12: Liên quan giữa chi bị liệt và kết quả phục hồi sau 6 tuần Bảng 3.18. Sự thay đổi Cholesterol máu ở bệnh nhân liệt nửa người do tai biến mạch máu não dựa trên giá trị trung bình Thời điểm Trước tập luyện Sau đi ều trị 6 tuần Cholesterol Đơn v ị tính (m mol/l) Đơn v ị tính (m mol/l) X 4,75 4,32 sd 0,47 0,8 p < 0,05 Nhận xét: Hàm lượng Cholesterol trung bình của 62 bệnh nhân trước điều trị là 4,75 m mol/l sau sáu tuần tập luyện hàm lượng Cholesterol trung bình của 62 bệnh nhân là 4,32m mol/l. Sự thay đổi về hàm lượng Cholesterol c ủa bệnh nhân trước tập và sau tập 6 tuần có ý nghĩa thống kê với độ tin cậy p < 0,05. Bảng 3.19. Tình trạng thay đổi Cholesterol máu ở bệnh nhân liệt nửa người do tai biến mạch máu não sau sáu tuần tập luyện Sự thay đổi Cholesterol n Tỷ lệ (%) Giảm 48 77,4 Không thay đ ổi 14 22,6 Tổng số 62 100 Nhận xét: Sau sáu tuần tập luyện có 48 bệnh nhân giảm được hàm lượng Cholesterol chi ếm 77,4%. Còn 14 bệnh nhân không có sự thay đổi về hàm lượng Cholesterol chi ếm 22,6%. Bảng 3.20. Sự thay đổi Glucose máu ở bệnh nhân liệt nửa người do tai biến mạch máu não dựa trên giá trị trung bình Thời điểm Trước tập luyện Sau đi ều trị 6 tuần Glucose Đơn v ị tính (m mol/l) Đơn v ị tính (m mol/l) X 5,27 5,18 Sd 0,62 0,63 P > 0,05 Nhận xét: Hàm lượng Glucose trung bình của 62 bệnh nhân trước điều trị là 5,27 m mol/l ,sau sáu tuần tập luyện hàm lượng Glucose trung bình của 62 bệnh nhân là 5,18 m mol/l.. Sự thay đổi về hàm lượng Glucose của bệnh nhân trước tập và sau tập 6 tuần không có ý nghĩa thống kê với độ tin cậy p > 0,05. Bảng 3.21. Tình trạng thay đổi Glucose máu ở bệnh nhân liệt nửa người do tai biến mạch máu não sau sáu tuần tập luyện. Sự thay đổi Số lượng bệnh nhân Tỷ lệ (%) Glucose Giảm 17 27,4 Không thay đổi 45 72,6 Tổng số 62 100 Nhận xét: Sau sáu tuần tập luyện có 17 bệnh nhân giảm hàm lượng Glucose chiếm 27,2%. Còn 45 bệnh nhân không có sự thay đổi về hàm lượng Glucose chiếm 72,6%. Chương 4 BÀN LUẬN 4.1. Một số đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu 4.1.1. Theo tuổi và giới Tổng số đối tượng trong nghiên cứu có 62 người bị liệt nửa người sau TBMMN, gồm 49 nam chiếm 79,0% và 13 nữ chiếm tỷ lệ 21,0% (Bảng 3.1). Người có tuổi thấp nhất là 30, lớn nhất là 88 tuổi. Nhóm tuổi trên 60 tuổi chiếm tỷ lệ cao với 75,8% và nhóm dưới 60 tuổi chiếm tỷ lệ 24,2%. Kết quả này phù hợp với kết quả của nhiều nghiên cứu trong nước và ngoài nước. Theo Nguyễn Văn Đăng [15], nam giới bị TBMMN nhiều hơn nữa giới, tỷ lệ nam/nữ là 1,48/1. Theo Nguyễn Thuỳ Hương và cộng sự [22], [23], nhóm từ 60 - 74 tuổi chiếm 53%. Theo Hoàng Khánh và cộng sự [24] cho biết TBMMN chiếm ưu thế ở nam tỷ lệ nam/nữ là 1,86/1. Phan H ồng Minh và cộng sự [28], nghiên cứu cho thấy TBMMN tăng dần theo tu ổi, thường gặp nhất ở lứa tuổi trên 50, ở nam lớn hơn nữ (khoảng 1,6 lần). Theo Y văn thế giới, TBMMN ở nhóm dao động từ 48 - 95 tuổi và cao nhất ở nhóm 60 - 75 tuổi [49], [55], [62]. Granger C.V và cộng sự, tỷ lệ nam/nữ là 1,7 [53]. Theo Machlum S, nam m ắc TBMMN chiếm 66,06% còn nữ 33,94% [69]. Theo một số tác giả, TBMMN thường gặp phần lớn ở nam giới và ở trong từng bậc tuổi nam giới nhiều hơn nữ giới. Lý do khác là nam giới có nguy cơ bị TBMMN nhiều hơn nữ giới. Để giải thích các tác giả cho rằng ở nam giới tỷ lệ mắc bệnh tăng huyết áp nhiều hơn so với nữ và tăng huyết áp là một trong những nguyên nhân gây ra TBMMN ở người cao tuổi, ngoài ra ở nam giới có thói quen hút thuốc lá, uống rượu, bia và chịu tác động của nhiều yếu tố sang chấn tâm lý. Đây là những yếu tố thuận lợi gây ra tăng huyết áp và tai biến mạch máu não. TBMMN gặp nhiều nhất ở nhóm người cao tuổi và tăng tỷ lệ thận với tuổi. Tuổi cao là yếu tố quan trọng, đây là bệnh của nhóm tuổi này, vì tuổi càng cao có liên quan nhiều đến bệnh mạch máu, trước hết là xơ vữa động mạnh vành, huyết áp [25], [33], [40]. Theo Lê Văn Tri, tổui tác làm tăng sự hoá già động mạch do động mạch bị xơ cứng lại, kém tính đàn hồi, không co giãn cho thích hợp với máu… cho nên TBMMN là bệnh của tuổi già [40]. Theo Đào Ngọc Phong [33], người già dễ bị TBMMN, số lượng người già tăng do tuổi thọ của người tăng và do dân số tăng, nhịp sinh học của người già đảo ngược so với người trẻ. 4.1.2. Theo bên liệt Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ liệt nửa người bên phải (58,1%) cao hơn tỷ lệ liệt nửa người bên trái (41,9%) (bảng 3.2). Đ iều này phù hợp với giải phẫu của khu vực động mạch Sylvius và cũng phù hợp với nghiên cứu của nhiều tác giả trong và ngoài nước. Theo Nguyễn Thuỳ Hương [22], liệt nửa người bên phải chiếm khoảng 51,05%, còn liệt nửa người bên trái khoảng 48,95%. Theo Tầrn Văn Chương [20] choết bởi những bệnh nhân bị TBMMN lần thứ nhất, liệt nửa người bên phải chiếm 53%, còn liệt nửa người bên trái l à 47%. Theo Samuelsson M vộàngc sự [65], tỷ lệ liệt nửa người do TBMMN bên phải cao hơn tỷ lệ liệt nửa người ở bên trái (54 ,32% so với bên phải 45,6%). Theo Besthous F và cộng sự [47], tỷ lệ liệt nửa người do TBMMN ở bên phải chiếm 53% và 47% ở bên trái. Tuy nhiên, sự khác nhau này cũng không có ý nghĩa thống kê. 4.1.3. Theo nghề nghiệp Trong nghiên cứu, chúng tôi thấy người bệnh bị liệt nửa người sau TBMMN có nghề nghiệp trước đó là cán bộ chiếm tỷ lệ 74,2% (bảng 3.3 và biểu đồ 2). Kết quả này cũng phù hợp với nhiều nghiên cứu của các tác giả trong nước cũng như nước ngoài. Theo chúng tôi, có thể các đối tượng điều tra là các bệnh nhân TBMMN ở các khu vực khác nhau, đặc biệt là các vùng nông thôn còn nghèo, tưr ớc sự phát triển vượt bậc của đất nước về kinh tế cũng như chính trị đòi hỏi cường độ làm việc của mỗi người cán bộ trong mọi lĩnh vực công việc thật căng thẳng và bận rộn. Trong điều kiện làm việc căng thẳng vất vả với sự hiểu biết về bệnh tật còn hạn chế do đó tỷ lệ bệnh nhân là cán bộ có nguy cơ mắc các bệnh tim mạch nhiều (đây là nhóm nguy cơ cao gây ra TBMMN). Trên thực tế đối với lại các cơ quan tổ chức có tỷ lệ la o động cao về công việc nặng nhọc và căng thẳng cần được quan tâm khám sức khoẻ định kỳ 6 tháng/1 lần để phát hiện sớm bệnh tật và điều trị kịp thời, loại trừ bớt nguyên nhân gây TBMMN. Song song với việc đó cần phải hết sức coi trọng những vấn đề cấp cứu, phục hồi chức năng cho những người bị liệt nửa người sau TBMMN. Giúp họ tái nhập vào xã hội một cách bình đẳng và có cuộc sống bình thường tối đa so với hoàn cảnh của họ. 4.1.4. Theo thời gian sau tai biến mạch máu não Người bệnh có thời gian từ khi đột quỵ đến khi bắt đầu tập luyện trong thời gian điều trị PHCN dưới 6 tuần sau TBMMN chiếm tỷ lệ 64,5% (Bảng 3.5). Đây là khoảng thời gian mà các bệnh nhân TBMMN đã điều trị giai đoạn cấp tại các bệnh viện đa khoa, họ được chuyển đến bệnh viện Điều dưỡng & Phục hồi chức năng Thái Nguyên để điều trị PHCN. Tuy nhiên vẫn còn tỷ lệ 35,4% bệnh nhân được PHCN muộn hơn vì có nhiều bệnh nhân phải mất một khoảng thời gian dài nằm điều trị tại các bệnh viện đa khoa vì bệnh nặng hoặc do chưa được các cán bộ y tế chú trọng đến khả năng phục hồi chức năng cho bệnh nhân. 4.1.5. Theo loại tổn thương não Trong 62 người thuộc diện nghiên cứu của chúng tôi, 100% đều đã được điều trị giai đoạn cấp tại các bệnh viện thuộc tỉnh Thái Nguyên, gồm có 29 người đã được chẩn đoán là nhồi máu não chiếm 46,8%, 22 người đã được chẩn đoán là cháy máu não chiếm 35,5%, còn 11 người được chẩn đoán chung là TBMMN chiếm 17,7% (Bảng 3.4). Bảng 4.1. So sánh với kết quả của một số tác giả nước ngoài và trong nước Tác giả Nhồi máu não Chảy máu não Không xác định Friederiksberg (1999) 29% 12% 59% Middlesex (1999) 47% 35% 18% Nguyễn Thị Nga (2002) 43,1% 34,5% 22,4% Trần Thị Mỹ Luật (2008) 46,8% 35,5% 17,7% Theo Besthoux F và cs, nhồi mãu não chiếm 84%, còn chảy máu não chiếm 16% [47]. Orgogozo cho biết tỷ lệ nhồi máu não chiếm 80%, còn 20% chảy máu não [21]. Theo Nguyễn Văn Đăng tỷ xuất giữa ngồi máu não/ chảy máu não bằng 2 [13]. Trần Văn Chương, nhận thấy nhồi máu não chiếm 77,33%, còn chảy máu não là 22,67% [6]. Ma Thị Kim Liên cho biết nhồi máu n ão chiếm 52,13% và 47,8% là chảy máu não [26]. Nhìn chung, tỷ lệ nhồi máu não qua các nghiên cứu và của chúng tôi đều cao hơn chảy máu não. Bên cạnh đó, loại tổn thương không xác định chiếm tỷ lệ 17,7%. Theo chúng tôi, chẩn đoán loại tổn thương não thường khó, đòi hỏi thầy thuốc chuyên khoa, giàu kinh nghiệm và có sự hỗ trợ của kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh. Trong khi đó Thái Nguyên chưa có đủ điều kiện để trang bị máy móc hiện đại cho các bệnh viện, đặc biệt là bệnh viện Điều dưỡng và PHCN tỉnh Thái Nguyên. Mặt khác các đối tượng trong diện nghiên cứu chỉ điều trị ở các bệnh viện với thời gian ngắn do đó việc chẩn đoán loại tổn thương gặp không ít khó khăn. 4.2. Kết quả phục hồi vận động sau tập luyện bằng phương pháp Bobath 4.2.1. Mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày của đối tượng nghiên cứu trước tập luyện Trong nghiên cứu, chúng tôi đánh giá mức độ độc lập trước thời gian tập luyện của những người liệt nửa người sau TBMMN tại bệnh viện Điều dưỡng và Phục hồi chức năng Thái Nguyên tất cả các đối tượng này đã được điều trị qua giai đoạn cấp tại các bệnh viện đa khoa. Kết quả thu được như sau: Mức độ độc lập hoàn toàn trong sinh hoạt hàng ngày chiếm 1,6%, mức độ phụ thuộc hoàn toàn chiếm 75,8% (Bảng 3.6). Theo Trần Văn Chương (2002) nghiên cứu 115 bệnh nhân có kết quả đánh giá trước tập luyện, mức độ độc lập hoàn toàn trong sinh hoạt hàng ngày chiếm 1,7%, mức độ phụ thuộc hoàn toàn chiếm 86,1%. Bảng 4.2. So sánh một số nghiên cứu nước ngoài không có chương trình PHCN Tác giả Độc lập hoàn toàn Korv J và cs (1999) 38% Gresham G.E và cs (1980) 35,1% Nguyễn Thị Nga ( 2002) 3,4% Trần Thị Mỹ Luật (2008) 1,6% Schutte T và cộng sự [66] cho biết 38% người TBMMN khi ra viện độc lập hoàn toàn, 18% cần sự trợ giúp và có tới 44,5% phụ thuộc hoàn toàn trong sinh hoạt hàng ngày. Kết quả đánh giá mức độ độc lập của bệnh nhân trước khi tập luyện của chúng tôi thấp hơn kết quả của các tác giả nước ngoài là do điều kiện kinh tế và sự phát triển y học ở nước ngoài tốt hơn, những người này đã được điều trị PHCN tại những cơ sở có trang thiết bị PHCN tốt hơn so với nước ta và học được phục hồi sớm ngay sau khi bị TBMMN. 4.2.2. Kết quả phục hồi khả năng đi của bệnh nhân Khả năng đi lại của bệnh nhân liệt nửa người do TBMMN sau tập luyện bằng phương pháp Bobath qua nghiên cứu cũng không khác biệt nhiều so với kết quả nghiên cứu của một số tác giả khác, với 57,8% bệnh nhân có thể đi lại được sau 6 tuần tập luyện (bảng 3.10). Tuy nhiên ếnu so sánh kết quả vận động đi lại với các tác giả khác thì kết quả của chúng tôi còn thấp hơn, đa số bệnh nhân liệt nửa người sau TBMMN chủ yếu sử dụng chân không liệt và nửa người bên lành bù từr cho bên liệt để đi lại, sự tham gia của bên liệt vào động tác đi còn hạn chế. Bảng 4.3. Khả năng độc lập trong đi của bệnh nhân liệt nửa người Tác giả Độc lập hoàn toàn Jorgensen (1999) 65% Flick (1999) 78% Nguyễn Thị Nga (2002) 60,3% Trần Thị Mỹ Luật (2008) 57,8% 4.2.3. Kết quả phục hồi khả năng vận động chung Bảng 4.4. So sánh kết quả phục hồi vận động chung Tác giả Tự làm được Benaim (1996) 70% Blanco (1999) 81% Gresham (1999) 80% Nguyễn Thị Nga (2002) 60% Trần Thị Mỹ Luật (2008) 69% Kết quả nghiên cứu của chúng tôi về khả năng phục hồi vận động chung của bệnh nhân liệt nửa người do TBMMN trong bảng (3.8), (3.9) cho thấy tỷ lệ bệnh nhân độc lập trong vận động sau luyện tập phục hồi thấp hơn so với kết quả nghiên cứu của một số tác giả khác. Chúng tôi cho rằng kết quả như vậy là hợp lý vì đối với chuyên ngành phục hồi chức năng ở nước ta phát triển muộn và ít được chú ý tới, gần đây mới được áp dụng và mở rộng trong công tác đềi u trị cho bệnh nhân sau TBMMN. Kết hợp giữa sự phát triển muộn của chuyên ngành, điều kiện trang thiết bị còn kém cùng với nhận thức trong vấn đề điều trị PHCN sớm của bệnh nhân còn hạn chế. Mặt khác một phần do trình độ chuyên môn và kĩ năng tập luyện của các kỹ thuật viên của chúng ta còn thấp hơn so với các kỹ thuật viên của các nước khác đã được chuyên khoa hoá, tất cả các điều này đã ảnh hưởng tới kết quả điều trị. 4.2.4. Kết quả phục hồi các hoạt động sống trong sinh hoạt hàng ngày Bảng 4.5. So sánh kết quả về độc lập trong sinh hoạt hàng ngày Tác giả Độc lập hoàn toàn Clarke (1995) 48% - 58% Flick (1997) 45% - 67% Gresham (1999) 69% Nguyễn Thị Nga (2002) 16% - 65% Trần Thị Mỹ Luật (2008) 13% - 66% Kết quả nghiên cứu của chúng tôi về khả năng độc lập của bệnh nhân trong sinh hoạt hàng ngày ở bảng (3.11) thấp hơn so với các tác giả khác. Sau tập luyện bệnh nhân độc lập trong sinh hoạt hàng ngày thấp hơn so với các hoạt động chức năng khác có kết quả như vậy l à vì hiện nay chúng ta chưa có kỹ thuật viên hoạt động trị liệu trong giai đoạn 6 tuần, bệnh nhân chủ yếu được tập vận động và đi lại, phần tập cho bệnh nhân các hoạt động tự chăm sóc hầu như không có. 4.3. Các yếu tố liên quan đến kết quả phục hồi của bện h nhân liệt nửa người do tai biến mạch máu não Có nhiều yếu tố liên quan đến kết quả phục hồi vận động của bệnh nhân liệt nửa người do TBMMN. Việc tiên lượng và đánh giá khả năng phục hồi của bệnh nhân TBMMN khó có thể xác định được chính xác ở những lần khám đầu tiên trong tuần đầu sau đột quỵ. Niam và các tác giả của những năm 1990 cho rằng không thể xác định và đánh giá chính xác khả năng phục hồi của bệnh nhân liệt nửa người trước ba tuần sau khi đột quỵ mà chỉ có thể tiên lượng được khả năng phục hồi của bệnh nhân từ 2 - 5 tuần sau khi tiến hành tập luyện [64]. Nói về các yếu tố liên quan đến kết quả phục hồi của người bệnh liệt nửa người sau TBMMN, nhiều chuyên gia PHCN đã đề cập đến một số vấn đề cơ bản sau: 4.3.1. Tuổi của bệnh nhân Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy ở nhóm tuổi từ 60 trở xuống kết quả phục hồi tốt hơn cả về vận động cũng như các hoạt động chức năng trong sinh hoạt hàng ngày so với bệnh nhân ở nhóm tuổi trên 60 (Bảng 3.12). Kết quả này cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu của các tác giả, đó là tuổi càng trẻ thì khả năng phục hồi càng tốt. Theo Cain [59] ở người sau TBMMN, nhóm tuổi trẻ có khả năng phục hồi về mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày tốt hơn nhóm cao tuổi. Dù không có gới i hạn về tuổi cho việc tập luyện phục hồi chức năng đối với bệnh nhân liệt nửa người do TBMMN, nhưng có nhiều ý kiến khác nhau về mối liên quan giữa tuổi của bệnh nhân và khả năng phục hồi của họ. Đa số các tác giả cho rằng tuổi có liên quan đến khả năng phục hồi của bệnh nhân, tuổi cao là yếu tố không thuận lợi trong phục hồi chức năng đối với bệnh nhân liệt nửa người do TBMMN, khả năng phục hồi của bệnh nhân giảm xuống khi tuổi thọ họ tăng lên [9]. Nhiều nghiên cứu gần đây của các tác giả cũng vẫn cho kết luận là khả năng phục hồi của bệnh nhân p hụ thuộc vào tuổi của họ. Sween và cộng sự (1996) cho rằng tuổi của bệnh nhân có ảnh hưởng nhiều đến kết quả phục hồi qua đánh giá mức độ độc lập của bệnh nhân trong vận động và trong sinh hoạt hàng ngày [68]. Blanco (1999) có kết luận là bệnh nhân dưới 70 tuổi có thể phục hồi khả năng đi lại cao hơn 2 lần so với bệnh nhân trên 70 tuổi [52]. Với nhận thức tuổi càng cao khả năng phục hồi càng giảm nên một số chuyên gia PHCN đã đề xuất chiến lược phục hồi đối với người trẻ tuổi là tập luyện để phục hồi lại những chức năng đã giảm hoặc đã mất. Còn đối với người cao tuổi là ưu tiên chiến lược phục hồi bù trừ hoặc thay thế, để giúp bệnh nhân vẫn có thể tự chăm sóc bản thân và độc lập tối đa các hoạt động chức năng trong sinh hoạt hàng ngày, mặc dù không thể bình thường hoá được nữa người bên liệt và thực tế bình thường hoá không phải là mục tiêu chính của PHCN [85]. Theo Nakayama H và cộng sự, sự tiến bộ về chức năng trong các hoạt động hàng ngày ảnh hưởng bởi lứa tuổi. Tuổi cao mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày sẽ giảm so với tuổi trẻ, tác giả cho rằng đó là khả năng phục hồi của người cao tuổi kém. Cứ tăng thêm 10 tuổi sẽ giảm 7% điểm trong thang điểm Barthel [61]. Theo Schutte T và cộng sự [66] sau TBMMN nhóm người cao tuổi có mức độ phụ thuộc hoàn toàn trong sinh hoạt hàng ngày lớn hơn nhóm trẻ tuổi, tác giả cho rằng nguyên nhân là do nhóm người cao tuổi có sự khiếm khuyết về chức năng và nguy cơ TBMMN tái phát lớn hơn nhóm trẻ. 4.3.2. Giới tính Nhiều nghiên cứu đã cho kết quả về tỷ lệ bị TBMMN của bệnh nhân nam cao hơn ệbnh nhân nữ, nhưng kết quả PHCN giữa bệnh nhân nam và bệnh nhân nữ còn có những vấn đề đang được bàn luận mà chưa hoàn toàn thống nhất. Reynolds và cộng sự (1959) nghiên cứu cho thấy 18,1% bệnh nhân nam và 10,7% bệnh nhân nữ có khả năng ph ục hồi tốt. Nhưng cũng có tác giả cho rằng kết quả phục hồi giữa bệnh nhân nam và bệnh nhân nữ không có gì khác biệt [59]. Mặc dù tỷ lệ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày của nam cao hơn nữ, song sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05). Chưa t hấy có mối liên quan giữa mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày với giới của người bệnh. Như vậy, có thể nói kết quả PHCN phụ thuộc vào chính ý thức tự giác tự tập luyện và ý chí của người bệnh chứ không liên quan đến giới tính. 4.3.3. Thời gian bắt đầu tập luyện phục hồi chức năng. Các nghiên c ứu về PHCN đã cho kết luận khả năng phục hồi tốt nhất của bệnh nhân liệt nửa người do TBMMN xảy ra từ 3 - 6 tháng đ ầu tiên sau đột quỵ. Tổ chức Y tế thế giới (1971) đã có khuyến cao là ngay từ những ngày đầu tiên sau đột quỵ, kể cả khi bệnh nhân vẫn còn hôn mê thì việc phòng chống co cứng, biến dạng co rút và các thương tật thứ cấp khác sau này cũng phải được coi trọng như là phòng chống loét và các biến chứng khác trong giai đoạn cấp. Kỹ thật chính được áp dụng tr ong giai đoạn này là kỹ thuật vị thế. Ngay từ những ngày đầu tiên, bệnh nhân được đặt nằm ở các tư thế đúng theo mẫu phục hồi, các vị thế nằm đó được thay đổi thường xuyên từ 2 - 3 giờ/lần. Kỹ thuật vị thế đúng kết hợp với tập vận động thụ động thường xuyên nữa người bên liệt mỗi ngày từ 2 - 3 lần, sau đó tuỳ theo các giai đoạn tiến triển của bệnh nhân mà ứng dụng các kỹ thuật tập luyện vận động phù hợp [47]. Nhiều tác giả qua nghiên cứu về bệnh nhân liệt nửa người cho thấy bệnh nhân nếu được bắt đầu tập luyện PHCN sớm thì kết quả phục hội sẽ tốt hơn nhiều so với bắt đầu phục hồi muộn. Tuy nhiên các tác giả chưa thống nhất thời gian bao nhiêu là sớm. Nhiều tác giả cho rằng bệnh nhân được bắt đầu tập luyện từ 1 - 6 tuần sau đột quỵ là giai đoạn sớm của PHCN. Andersen (1950) nghiên ứcu trên 82 bệnh nhân TBMMN, thấy rằng bệnh nhân nào được bắt đầu tập luyện PHCN trước 3 tháng kết quả sẽ tốt hơn so với bệnh nhân được bắt đầu tập luyện PHCN sau 3 tháng. Kết quả của chúng tôi được nêu ở bảng 3.16 về liên quan giữa thời gian bắt đầu tập và kết quả phục hồi cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả trên thế giới cũng như các tác giả trong nước. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng thời gian bắt đầu tập luyện vận động càng sớm thì kết quả phục hồi về vận động nói chung cũng như các hoạt động chức năng trong sinh hoạt hàng ngày càng tốt 4.3.4. Bên liệt Đối với bệnh nhân liệt nửa người do TBMMN, tổn thương bán cầu não bên phải hay bên trái sẽ có những biểu hiện lâm sàng về khiếm khuyết và giảm khả năng khác nhau, ngoài liệt nửa người bệnh nhân còn có các rối loạn đặc trưng khác kèm theo. Kết quả PHCN của bệnh nhân liệt nửa người bên phải và bệnh nhân liệt nửa người bên trái đã được nhiều chuyên gia PHCN nghiên cứu và cho nhiều đánh giá kết quả khác nhau. Theo Trầ n Văn Chương, Nguyễn Xuân Nghiên, Cao Minh Châu, Vũ Bích Hạnh, Lương Tuấn Khanh và cộng sự cho thấy khả năng phục hồi về vận động giữa bệnh nhân liệt nửa người bên trái và bệnh nhân liệt nửa người bên phải hầu như không có sự khác biệt đáng kể (liệt bên ph ải điều trị đạt 75,9%, liệt bên trái điều trị đạt 76,9%) [6]. Sự khác nhau về khả năng liệt nửa người bên phải và liệt nửa người bên trái còn đang là vấn đề tranh luận của nhiều tác giả. Đa số các tác giả cho là không có sự khác biệt cho lắm về khả năng ph ục hồi giữa hai bên, nếu bệnh nhân liệt nửa người bên phải có kèm theo thất ngôn, việc phục hồi chức năng sẽ gặp nhiều khó khăn vì bệnh nhân khó hợp tác với người điều trị do không giao tiếp được thì bệnh nhân liệt nửa người bên trái lại thường bị mất điều hợp, giảm khả năng điều chỉnh thăng bằng và thường có hiện tượng không chấp nhận phía bên liệt, như vậy viêc phục hồi chức năng vận động cũng rất khó khăn và khả năng phục hồi cũng không phải là tốt. Các nghiên cứu ở những năm 1960 và 1970 của Lorenze và các tác giả cho kết quả phục hồi chung và độc lập trong đi lại của bệnh nhân liệt nửa người bên phải và liệt nửa người bên trái không có gì khác nhau, nhưng kết quả phục hồi các hoạt động trong sinh hoạt hàng ngày ở bệnh nhân liệt nửa người bên phải khá hơn so với bệnh nhân liệt nửa người bên trái [59]. Nghiên cứu về kết quả phục hồi chung, khả năng vận động và đi lại, mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày, mức độ giảm khả năng và tàn tật. Handoyo và cộng sự (1994), cho rằng không có sự khác biệt đáng kể giữa bệnh nhân li ệt nửa người bên trái và bệnh nhân liệt nửa người bên phải [57]. Những nghiên cứu gần đây của các tác giả như Goldie và cộng sự (1999), cũng cho rằng tổn thương bán cầu não bên phải hoặc bên trái gây nên những biểu hiện lâm sàng khác nhau về khiếm khuyết, giảm khả năng và tàn tật, nhưng kết quả phục hồi vận động nói chung của hai nhóm bệnh nhân không có gì khác nhau cách biệt [53]. Một số tác giả khác lại cho rằng bệnh nhân đặc biệt nửa người bên trái có nhiều rối loạn trầm trọng hơn so vớ i bệnh nhân liệt nửa người bên phải. Về cơ bản kết quả phục hồi vận động chung của hai nhóm bệnh nhân không khác nhau nhưng khả năng phục hồi về tự chăm sóc bản thân trong sinh hoạt hàng ngày ở bệnh nhân liệt nửa người trái kém hơn so với bệnh nhân liệt nử a người bên phải [85]. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi trong bảng (3.14) không thấy có sự khác biệt về khả năng phục hồi vận động giữa bệnh nhân liệt nửa người bên phải và liệt nửa người bên trái. Kết quả này phù hợp với kết quả nghiên cứu của một số tác giả khác. Do cơ thể có tính bù trừ nên liệt nửa người bên phải thì nửa người bên trái sẽ có sự điều chỉnh hoạt động bù trừ cho bên phải và ngược lại [60], [42]. 4.3.5. Về loại tổn thương não Khả năng phục hồi vận động của bệnh nhân liệt nửa người do TBMMN không phụ thuộc vào nguyên nhân do chảy máu não hay nhồi máu não hay nguyên nhân nào khác. Kết quả tại bảng (3.15) của chúng tôi nghiên cứu được cho thấy trùng lặp với nhiều kết quả của các tác giả đã nghiên cứu. Theo Trần Văn Chương và Nguyễn Xuân Nghiên , "Bước đầu nghiên cứu một số yếu tố tiên lượng phục hồi vận động của bệnh nhân liệt nửa người do TBMMN" cho thấy kết quả điều trị đạt 76,5% do nguyên nhân chảy máu não, kết quả điều trị đạt 81% do nguyên nhân nhồi máu não. 4.3.6. Chi bị liệt Theo kết quả nghiên cứu tại bảng (3.17) cho thấy kết quả phục hồi vận động giữa tay và chân bên liệt có sự khác nhau đáng kể. Tỷ lệ phục hồi vận động chân tốt hơn (77,4%) so với tỷ lệ phục hồi vận động tay (40,3%). Theo Trần Văn Chương và cộng sự (1996), cho thấy tỷ lệ phục hồi vận động tốt ở chân là 78,2%, tỷ lệ phục hồi tốt ở tay là 36,4% [22]. Theo Trần Văn Chương, và Nguyễn Xuân Nghiên, Tỷ lệ phục hồi vận động tốt ở chân là 89,3%, ở tay là 57,3% [20]. Nguyên nhân của sự khác biệt về kết quả phục hồi vận động giữa tay và chân cũng còn đang được tranh luận, nhiều tác giả cho rằng tay phải thực hiện nhiều vận động phức tạp, nhiều động tác tinh vi, khéo léo hơn chân nên khó phục hồi hơn. Điều này cũng chưa hoàn toàn thuyết phục, vì ngay cả các vận động thô, đơn giản củ a tay như ấgp duỗi vai, gấp duỗi khuỷu… cũng phục hồi chậm và kém chứ chưa nói đến các vận động phức tạp của bàn tay và ngón tay như gấp, duỗi cổ tay, dạng, khép, đối chiếu các ngón tay với các ngón cái. 4.3.7. Sự ảnh hưởng của cholesterol máu đối với bệnh nhân liệt nửa người trong thời gian điều trị PHCN Dựa vào kết quả điều trị trong sáu tuần tại các bảng (3.18),(3.19) chúng tôi nhận thấy hàm lượng Cholesterol chịu sự tác động trong quá trình tập luyện có 48 bệnh nhân (chiếm tỷ lệ 77,4%) có hàm lượng Cholesterol giảm sau điều trị. Điều này phù hợp với đánh giá của nhiều tác giả, hàm lượng Cholesterol ảnh hưởng nhiều đến bệnh nhân tăng huyết áp đây là yếu tố làm tăng tình trạng tai biến mạch máu não. Theo Lê Văn Tri, tổui tác làm tăng sự hoá già động mạch do động mạch bị xơ cứng lại, kém tính đàn hồi, không co giãn cho thích hợp với máu… cho nên TBMMN là bệnh của tuổi già [40]. Theo Lê Văn Thính, Lê Đ ức Hinh, Lê Trọng Luân, Nguyễn Văn Chương (2001), cho thấy bệnh sinh của các loại tai biến đến nay vẫn còn tiếp tục được thảo luận cả về lâm sàng và cận lâm sàng, tỷ lệ tăng cholesterol máu ở bệnh nhân cao huyết áp chiếm tỷ lệ cao (85%) đây là nhóm các yếu tố nguy cơ chủ yếu. Theo chúng tôi tập luyện có thể là yếu tố phối hợp làm giảm cholesterol cho người bệnh. 4.3.8. Sự ảnh hưởng của Glucose đối với bệnh nhân liệt nửa người trong thời gian điều trị PHCN Tại các bảng (3.16.1),(3.16.2) nhận thấy không có sự thay đổi về hàm lượng Glucose trong sáu tuần tập luyện, điều này là phù hợp với cơ chế và bệnh sinh của bệnh tai biến mạch máu não. Chỉ số Glucose máu phụ thuộc vào chế độ ăn của bệnh nhân và tình trạng của tuyến tuỵ. KẾT LUẬN Qua nghiên cứu phục hồi chức năng vận động trên 62 bệnh nhân liệt nửa người do TBMMN trên cơ sở phương pháp phục hồi của Bobath tại khoa Vật lý trị liệu - PHCN của Bệnh viện Điều Dưỡng và PHCN Thái Nguyên với thời gian phục hồi là 6 tuần, chúng tôi có kết luận như sau: 1. Tập luyện bằng phương pháp Bobath có hiệu quả trong việc phục hồi chức năng cho người bệnh liệt nửa người sau TBMMN: - Khả năng ngồi dậy của bệnh nhân sau tập là 77,4% (trước tập là 22,6%). - Sau tập có 69,3% bệnh nhân tự đứng dậy được (trước tập là 15,1%). - Sau tập có 57,8% bệnh nhân tự đi lại được (trước tập là 4,8%). - Sau tập có 20,9% bệnh nhân độc lập về thực hiện các hoạt động chức năng trong tự chăm sóc và sinh hoạt hàng ngày (trước tập 1,6%). 2. Có một số yếu tố liên quan đến kết quả phục hồi chức năng - Bệnh nhân ở nhóm dưới 60 tuổi có khả năng phục hồi tốt hơn về khả năng vận động các hoạt động chức năng trong sinh hoạt hàng ngày. - Bệnh nhân bắt đầu tập luyện trước 6 tuần sau đột quỵ có khả năng phục hồi vận động cao hơn những bệnh nhân có thời gian luyện tập sau 6 tuần. -Kết quả phục hồi khả năng vận động của chân trên bệnh nhân liệt nửa người do TBMMN đạt cao hơn so với kết quả phục hồi khả năng vận động của tay trên bệnh nhân liệt nửa người do TBMMN. - Đối với bệnh nhân liệt nửa người do TBMMN sau khi đã được điều trị qua giai đoạn cấp, chỉ số Cholesterol chịu sự ảnh hưởng trong quá trình phục hồi chức năng vận động. KHUYẾN NGHỊ Qua nghiên cứu và bàn luận, tôi xin có kiến nghị sau: - Cần khám và chẩn đoán sớm cho những bệnh nhân bị liệt nửa người do TBMMN để có hướng PHCN cho bệnh nhân trong thời gian sớm nhất. - Điều trị PHCN cho bệnh nhân liệt nửa người do TBMMN bằng phương pháp Bobath ấrt có hiệu quả. Vì vậy ngoài điều trị tại viện cần tổ chức các đợt tập huấn về vấn đề PHCN bằng phương pháp Bobath cho bệnh nhân liệt nửa người sau TBMMN đi sâu xuống các phường, xã, cộng đồng. TÀI LIỆU THAM KHẢO I. Tài liệu tiếng việt 1. Cao Minh Châu, Nguễyn Xuân Nghiên, Trần Văn Chương và cộng sự (1996), "Nghiên cứu sản xuất các dụng cụ phụ hồi chức năng theo kỹ thuật thích nghi tại cộng đồng", Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học, Bệnh viện Bạch Mai, NXB Y học, tr.193-197. 2. Lâm Văn Chế , “Tai biến mạch máu não ”. Bài giảng thần kinh trường đại học Y khoa Hà Nội. 3. Trần Văn Chương, Nguyễn Xuân Nghiên, Cao Minh Châu, Vũ Thị Bích Hạnh (1996), “Đánh giá kết quả PHCN vận động bệnh nhân liệt nửa người đo TBMMN”. Công trình nghiên c ứu khoa học 1995– 1996, NXB Y h ọc, tr 77– 81. 4. Trần Văn Chương, Cao Minh Châu, Nguyễn Xuân Nghiên và cộng sự (1996), "Đánh giá kết quả phụ hồi chức năng vận động của người bệnh liệt nửa người do tai biến mạch máu não", kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học, Bệnh viện Bạch Mai, NXB Y học, 1, tr.219-224. 5. Trần Văn Chương (1997) "Các phương pháp tập vận động trong phục hồi chức năng" NXB Y học Hà Nội, tr 32-60. 6. Trần Văn Chương, Nguyễn Xuân Nghiên và cộng sự (1998), "Bước đầu nghiên cứu một số yế u tố tiên lượng Phục hồi vận động của bệnh nhân liệt nửa người do tai biến mạch máu não", kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học, Hội phục hồi chức năng Việt Nam, NXB Y học, (5), tr.65-75. 7. Trần Văn Chương, Nguyễn Xuân Nghiên và cộng sự (1999), "Kết quả phục hồi chức năng tại nhà của người bệnh liệt nửa người trong chương trình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng", kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học, Hội phục hồi chức năng Việt Nam, NXB Y học, tr.65-75. 8. Trần Văn Chương, Nguyễn Xuân Nghiên và cộng sự (1999), "Kết quả sử dụng các dụng cụ tập luyện trong phục hồi chức năng vận động cho bệnh nhân liệt nửa người do tai biến mạch máu não", k ỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học, Hội phục hồi chức năng Việt Nam, NXB Y học, tr.204-209. 9. Nguyễn Chương (2001), “Sơ lược giải phẫu chức năng tuần hoàn não”. Chẩn đoán và xử trí TBMMN. Hội thảo chuyên đề liên khoa, báo cáo khoa học bệnh viện Bạch mai, tr 6 – 18. 10. Trần Văn Chương (2001), “PHCN cho bệnh nhân liệt nửa người do TBMMN” Chẩn đoán và xử trí TBMMN. Hội thảo chuyên đề liên khoa, báo cáo khoa học bệnh viện Bạch Mai, tr 157 – 167. 11. Dương Xuân Đạm (2002), “ Nghiên cứu một số biện pháp PHCN vận động đối với bệnh nhân TBMMN”. Đề tài khoa học cấp Bộ Quốc phòng. 12. Nguyễn Văn Đăng (1996), “Góp phần nghiên cứu dịch tễ học TBMM N 1991 – 1995”, Bộ Y tế, Hà Nội. N 13. Nguyễn Văn Đăng (1996), "Tình hình tai bếi n mạch máu não tại khoa Thần kinh Bệnh viện Bạch Mai 1991 - 1993", Kỷ yếu công trình khoa học thần kinh, Nxb Y học, tr. 101 - 109. 14. Nguy ễn Văn Đăng (1997), “Tai bi ến mạch máu não”. NXB y h ọc, tr 19 - 35. 15. Nguyễn Văn Đăng (1997), "Chiến lược dự phòng TBMMN", tr.26-37. 16. Nguyễn Văn Đăng (1997), "Vài số liệu nghiên cứu dịch tễ học TBMMN trong bệnh viện và cộng đồng ở Việt Nam". 17. Nguyễn Văn Đăng (2001), "Tai biến mạch máu não - Dịch tễ và cơ chế bệnh sinh", NXB Y học, tr.12-37. 18. Vũ Văn Đính, Đặng Quốc Tuấn, Nguyễn Kim Sơn (1998), "Điều trị tích cực tai biến mạch máu não tại khoa hồi sức cấp cứu A9, Bệnh viện Bạch Mai", Kỷ yếu công trình ngiên cứu khoa học, Bệnh viện Bạch Mai, 1, tr.60-64. 19. Lê Đức Hinh, Đặng Thế Chân (1996), " Tử vong do tai biến mạch máu não tại Bệnh viện Bạch Mai", kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học thần kinh, NXB Y học, tr.94-100. 20. Lê Đức Hinh (2001), “ Chẩn đoán và xử trí TBMMN”. Chẩn đoán và xử trí TBMMN. Hội thảo liên khoa báo cáo khoa học bệnh viện Bạch Mai, tr 19 – 35. 21. Lê Đức Hinh (2001), “Tình hình TBMMN các nước Châu Á ”. Chẩn đoán và xử trí TBMMN. Hội thảo liên khoa báo cáo khoa học bệnh viện Bạch Mai, tr 1 –5. 22. Nguyễn Minh Hiện (2003), “Nhồi máu não”. Bệnh học thần kinh. NXB quân đội, tr 55 – 62. 23. Nguy ễn Thuỳ Hương, Trần Đức Thọ, Nguyễn Thị Nhung, Phạm Huyền Nga (1994), "Tổng kết 5 năm điều trị di chứng do tai biến mạch máu não ở người có tuổi bằng châm cứu và phục hồi chức năng", Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa h ọc, Bệnh viện Bạch Mai, Nxb Y học, (2), tr.320- 327. 24. Nguyễn Thuỳ Hương (1998), "Tình hình bệnh nhân bị tai biến mạch máu não nằm tại Viện lão khoa trong 4 năm (1994 - 1997)", Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học, Viện lão khoa, Nxb Y học, tr.51-155. 25. Hoàng Khánh (1996), “Nghiên cứu mối liên quan giữa thời tiết với TBMMN ở người trưởng thành tại Thừa Thiên Huế”. Luận án PTS Y học trường đại học Y Hà Nội. 26. Ma Thị Kim Liên (2006), "Nghiên cứu một số yếu tố liên quan đến mức độ đối lập trong sinh hoạt và nhu ầcu PHCN của người bệnh sau TBMMN tại cộng đồng", Luận văn thạc sỹ, tr.25 - 37. 27. Phạm Quang Lung và cộng sự (1997), "Những mục tiêu và nguyên tắc điều trị vật lý trị liệu", NXB Y học, tr.170-182. 28. Phạm Quang Lung, Nguyễn Xuân Nghiên và cộng sự (1997), "Tổng quan về Vật lý trị liệu - Phục hồi chức năng các khái niệm về tàn tật và cách phòng ngừa", NXB Y học Hà Nội, tr. 5-9. 29. Trịnh Tiến Lực (2001), "Tình hình Tai biến mạch máu não tại khoa Thần kinh, Bệnh viện Bạch Mai", Hội thảo chuyên đề liên khoa (tr.180-182). 30. Phan Hồng Minh, Nguyễn Văn Đăng, Dương Đình Thiện (1998), " Tình hình dịch tễ TBMMN tại huyện Thanh Oai (1989-1994)", tr.21. 31. Nguyễn Thị Nga (2002), "Đánh giá kết quả can thiệp PHCN vận động bằng phương pháp Bobath ở người bệnh liệt nửa người s au TBMMN tại cộng đồng", Luận văn thạc sĩ, tr. 49 - 53. 32. Nguyễn Xuân Nghiên và cộng sự (1990) "Phục hồi chức năng bệnh nhân liệt nửa người do tai bếi n mạch máu não ", Bộ Y tế - Ban chủ nhiệm chương trình phục hồi chức năng, tr.259-282. 33. Nguyễn Xuân Nghiên (1995), “Phục Hồi chức năng”. Vật lý trị liệu và PHCN. NXB y học, tr 12 – 14. 34. Nguyễn Xuân Nghiên và cộng sự (1998), "Nghiên cứu kết quả bước đầu người tàn tật hội nhập xã hội qua dự án phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng do ATFO tài trợ", kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học, Hội phục hồi chức năng Việt Nam, NXB Y học, (5), tr.137-146. 35. Nguyễn Xuân Thản (2003), “Tai biến mạch máu não ”. Bệnh học thần kinh, NXB quân đội, tr 41- 43. 36. Lê Văn Thính, Lê Đức Hinh, Lê Trọng Luân (2001), “Phân loại tai biến nhồi máu não”. Chẩn đoán và xử trí TBMMN. Hội thảo liên khoa báo cáo khoa học bệnh viện Bạch Mai, tr 42 – 46. 37. Nguy ễn Văn Thông (1997), “Các bệnh mạch máu não và đột qụy chủ yếu”. Bệnh mạch máu não và các cơn đột qụy. NXB y học, tr 172 – 276. 38. Dương Minh Thu (Thái Nguyên), Nguyễn Văn Nguyên - Đặng Quang Tâm (Cần Thơ), Ngô Quang Trúc (Thái Nguyên), Phan Hồng Minh - Ngô Đăng Thục - Nguyễn Chương (Hà Nội) (1998), "Một vài đặc điểm về dịch tễ học TBMMN ở Việt Nam", tr.22. 39. Hoàng Văn Thuận (2001), “ Xử trí TBMMN tại bệnh viện TWQĐ 108”. Chẩn đoán và xử trí TBMMN. Hội thảo liên khoa báo cáo khoa học bệnh viện Bạch Mai, tr 142 – 148. 40. Ngô Đăng Thục (1983), " Đặc điểm lâm sàng thần kinh tắc mạch não hệ động mạch cảnh trong", Luận văn tốt nghiệp bác sĩ nội trú (chuyên khoa cấp I), khoá VII. 41. Nguyễn Văn Triệu (1999), "Bước đầu đánh giá sự tái hội nhập ở người sau tai biến mạch máu não tại cộng đồng", Kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học, Hội phục hồi chức năng Việt Nam, Nxb Y học, (6), tr.229 - 235. II. Tài liệu tiếng Anh 42. Alfassa A, Ronen R, Ring H, Dynia A, Tamir A, Eldar R (1997), "Quality of life in younger adults (17 - 49) after first - stroke - a two year follow - up", Hearfuah, 133 (7 -8), pp. 249 - 254. 43. Belanger L, Bolduc M, Noel (1988), "Relative importance of after - efects, enviroment and socio - economic factors on the social intergration of stroke victims", Int.J.Rehab.Rearch, 11 (3), pp.251 - 260. 44. Bobath B (1990), “Adult hemiplegia: Evaluation and treatment”. Oxfort Butter Worth Heimemann. 45. Coletta E.M’, Murphy J.B (1994), “Physical and functional asessment of the elderly stroke patient”. American Founly physician. pp 1777 – 1785. 46. Chopra J.S, Jagannathan K, Sauhnay I.M.S, Lenchner H, Szendey G.L. (1990), “Progress in cerebrovacular disease”. Elsevier science. pp 4 – 14. 47. Davis J.Z (1985), “The Bobath approach to the treatment of adult hemiplegia, Occupational therapy”. The C.V. Mosby Company. pp 217 – 226. 48. Gowland C, Startford P, Ward M. et al (1993), “Measaring physical impairment and disability with the chedoke”. Memaster stroke asessment – Stroke. pp 58 – 63. 49. Gresham G.E, Fitzpatrick T.E, Wolf P.A, MacNamara P.M, Kannel W.B, Dawber T.R (1975), "Residual disability in survivors of stroke - The Framingham study", N Eng I.J Med, 293, pp. 954-956. 50. Hankey G.J, Jamrozik K, Broadhurst R.J, Burvill P.W, Stewart Wynne E.G, Forbes S, Anderson C.S (2000), "Five-year survival after first - ever stroke and related prognostic factors in the Perth community stroke study", stroke, 31(9), pp.2080-2086. 51. Holmqvist W, Koch L, Kostulas V, Holm M, Widsell G, Tegler H, Cuesta P, Johansson K, Almazan J (1998), "A ransomized controlled trial of rehabilitation at home after stroke in Southwest Stockholm", stroke, 29, pp.591-597. 52. Hurvitz E.A, Beale L, Ried S, Nelson V.S (1999), "Functional outcome of paediatric stroke survivors", Pediatr Rehabil, 3 (), pp.43-53. 53. Indredavik B, Bakke F, Slordahl S.A, Rokseth R, Haheim U (1999), "Stroke unit treatment. 10-year follow-up", stroke, 30 (8), pp.43-53. 54. Ishikawa R, Sakihara S, Toume K, Nakazato S (1996), "Factors related to ADL of stroke patients three months after discharge", Nippon - Koshu - Eisei - Zasshi, 43 (5), pp. 354 - 363. 55. Indredavik B, Fjaertoft H, Ekeberg G, Loge A.D, Morch B (2000), "Benefit of an extended stroke unit service with early supported discharge: A randomized, controlled trial", stroke, 31 (12), pp.2989-2994. 56. Jorgensen H.S, Nakayama H, Rasschou H.O, et al (1995), “Recovery of walking funation in stroke pationts”. The copenhagen stroke study. Arch Phys Med Rehabil. pp 27 – 32. 57. Keith R.A, Wilson B, Guitirrez P (1995), “Acute and suba cute rehabitilation for stroke: a comparision”. Arch Phys Med Rehabil. pp 495 – 500. 58. Kristeins A.E, Scharffer R.M.B, Havey R.L (1999), “Stroke rehabilitation. 3, rehabilitation management”. Arch Phys Med Rehabil. pp 17 –20. 59. Merritt H.H (1995), “Vascular disease”. Text book of Neurology, A waverly Company. pp 127 – 175. 60. Motegi A, Yasumura S, Arai H, Ahiko T, Hayashi H (1998), "Outcome of stroke survivors in Yamagata Prefecture", Nippon - Koshu - Eisei - Zasshi, 45 (9), pp. 846 - 852. 61. Nakayama H, Jorgensen H.S, Raaschou H.O, Olsen T.S (1994), "The influence of age on stroke outcome - The copenhagen stroke study", stroke, 25, pp. 808 - 813. 62. Okamusa T, Nakagawa Y (1995), "Characteristics of participant in community based rehabilitation program and their lavels of indepedence in activities of daily living", Nippon - Koshu - Eisei - Zasshi, 42 (10), pp. 887. 63. Pedersen P.M, Jorgensen H.S, Nakayama H, Raaschou H.O (1996), "Orientation in the acute and chronic stroke patient: Impact on ADL and social activities: The copenhagen stroke study", Arch - Phys - Med Rehabil, 77 (4), pp. 336 - 339. 64. Pohjasvaara T, Erkinjuntti T, Vataja R, Kaste M(1997), "Comparison of stroke features and disability in daily life in patients with ischemic stroke aged 55 to 70 and 71 to 85 years", stroke, 28 (4), pp. 729 - 735. 65. Samuelsson M, Soderfeldt B, Olsson G.B (1996), "Functinal outcome in patients with lacunar infaretion", stroke, 27 (5), pp. 842 - 846. 66. Schutee T, Summa J.D, Platt D (1984), "Rehabilitative treatment of cerebral apoplatic insults in advanced age and evaluatong its effectiveness - results of a model project", Z.Gerontol, 17 (4), pp.214 - 222. 67. Sonde L (2000), "Low TENS treatment on post - stroke paretic arm: a three - year follow - up", Clinical Rehabilitation, 14, pp. 14 - 19. 68. Sveen U, Bautz holter E, sodring K.M, Wyller T.B, laakek (1999), "Association between impairments, self - care ability and social activities 1 year after stroke", Disanbil - Rehabil, 21 (8), pp. 372 - 377. 69. Wyller T.B, Sodring K.M, Sveen U, Ljunggren A.E, Bautz Holter.E (1997), “Are there gender differences in functional outcome after stroke?", Clin Rehabil, 11 (2), pp. 171 - 179. BỆNH VIỆN ĐIỀU DƯỠNG – PHCN TỈNH THÁI NGUYÊN MẪU BỆNH ÁN NGHIÊN CỨU I. Họ và tên:…………….……………………… Tuổi:…………Nam, nữ. II. Địa chỉ:……………………………………… ĐT:........................................... III. Nghề nghiệp:.................................................................................................... IV. Ngày vào viện:…………………..………….Ngày ra viện: ............................ V. Ngày bắt đầu điều trị PHCN: .......................................................................... * Chẩn đoán …………………………………………………………………………. ............... 72 VI. Loại tổn thương 1. Nhồi máu não 2. Chảy máu não 3. Không xác định VII. Thời gian bắt đầu tập luyện 1. Từ 1 - 6 tuần 2. Từ 7 - 12 tuần 3. Trên 12 tuần VIII. Mức độ phụ thuộc 1. Phụ thuộc hoàn toàn 2. Cần trợ giúp 3. Độc lập IX. Khả năng ngồi trước tập luyện 1. Không ngồi được 2. Cần trợ giúp 3. Ngồi được XII. Khả năng ngồi sau 6 tuần 1. Không ngồi được 2. Cần trợ giúp 3. Ngồi được XIII. Khả năng đứng sau 6 tuần 1. Không đứng được 2. Cần trợ giúp 3. Đứng được XIV. Khả năng đi sau 6 tuần 1. Không điđược 2. Cần trợ giúp 3. Đi đuợc XV. Khả năng sinh hoạt trước tập 1. Phụ thuộc hoàn toàn 2. Cần trợ giúp 3. Độc lập 73 X. Khả năng đứng trước tập luyện 1. Không đứng được 2. Cần trợ giúp 3. Đứng được XI. Khả năng đi trước tập luyện 1. Không điđược 2. Cần trợ giúp 3. Đi đuợc XVI. Khả năng sinh hoạt 6 tuần 1. Phụ thuộc hoàn toàn 2. Cần trợ giúp 3. Độc lập XVII. Xét nghiệm máu: - Cholesterol: C1................... C6................... - Glucose: G1................... G6................... PHIẾU ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ LIỆT NỬA NGƯỜI THEO B.BOBATH Mục Lượng giá - Đưa lên đầu miệng Điểm chuẩn 10 Ngày đánh giá /200 /200 Nâng tay Cử động bàn tay Trương lực cổ tay Nâng chân Gấp mu bàn chân Trương lực cơ chân Giữ thăng bằng Đứng dồn trọng lượng Bước - Không vượt quá mặt phẳng ngang 5 - Động đậy 0 - Làm được động tác khéo léo 15 - Hạn chế cử động khéo léo 10 - Cầm nắm được 5 - Không cầm nắm được 0 - Bình thường 5 - Co cứng, nhẽo 0 - Bình thường 15 - Thắng sức cản vừa 10 - Thắng trọng lực 5 - Động đậy 0 - Thắng sức cản 10 - Thắng trọng lực 5 - Động đậy 0 - Bình thường 5 - Co cứng, nhẽo 0 - Khi đứng 15 - Khi quì 10 - Khi ngồi 5 - Không 0 - Lên 1 chân liệt 10 - Cả hai chân 5 - Không 0 - Tự bước 15 - Có trợ giúp 10 - Dậm chân tại chỗ 5 - Không bước được 0 74 Cộng 100 - Không liệt : 90 – 100 điểm. - Liệt vừa : 45 – 65 điểm. - Liệt nhẹ : 70 – 85 điểm. - Liệt nặng : < 45 điểm. PHIẾU ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ THỰC HIỆN CÁC HOẠT ĐỘNG SỐNG HÀNG NGÀY THEO BATHEL INDEX Mục Lượng giá Điểm chuẩn Ngày đánh giá /200 /200 Ăn uống - Tự xúc gắp ăn 10 - Cần sự trợ giúp 5 - Phụ thuộc hoàn toàn 0 Tắm - Tự tắm 5 - Cần sự trợ giúp 0 Kiểm soát đi ngoài Kiểm soát đi tiểu Chăm sóc bản thân Thay áo quần Sử dụng nhà xí Di chuyển từ giường sang ghế Di chuyển Leo bậc thang - Tự chủ 10 - Cần sự trợ giúp 5 - Rối loạn thường xuyên 0 - Tự chủ 10 - Cần sự trợ giúp 5 - Bí tiểu, đái dầm 0 - Tự rửa mặt chải đầu 5 - Cần sự trợ giúp 0 - Tự thay và đi dày dép 10 - Cần sự trợ giúp 5 - Phụ thuộc hoàn toàn 0 - Tự đi tiểu, đại tiện 10 - Cần sự trợ giúp lúc ngồi và lấy giấy 5 - Không sử dụng được nhà xí 0 - Tự di chuyển được 15 - Cần sự trợ giúp ít, giám sát 10 - Cần trợ giúp tối đa, ngồi được 5 - Không 0 - Tự đi 50m 15 - Đi 50m có người dắt, vịn 10 - Tự đẩy nếu có xe lăn 5 - Cần trợ giúp hoàn toàn 0 - Tự lên xuống cầu thang 10 - Leo được nhưng phải vịn 5 - Không 0 75 Cộng 100 Hoạt động độc lập : 95 -100điểm. Hoạt động phụ thuộc nhiều : 30 - 60 điểm. Hoạt động phụ thuộc ít : 65 - 90 điểm. Hoạt động phụ thuộc hoàn toàn: 0 - 25 điểm. 76 DANH SÁCH BỆNH NHÂN LIỆT 1/2 NGƯỜI DO TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO TẠI BỆNH VIỆN ĐIỀU DƯỠNG - PHCN THÁI NGUYÊN. TT Họ và Tên Địa chỉ Ghi chú 1. Nguy ễn Quang N TT Ch ợ Chu - Định Hoá - TN 2. Nguy ễn Thị B Xã Tân L ợi- Đồng Hỷ - TN 3. Lưu Th ị M Tổ 19 - P.Hoàng Văn Th ụ- TN 4. Nguy ễn Văn B TT Ba Hàng - Phổ Yên - TN 5. Triệu Thị M Yên Lãng - Đại Từ - TN 6. Lương Đ ình N Xã Tích L ương- TN 7. Lê Th ị Đ Tổ 22 TT Chùa Hang - Đồng Hỷ - TN 8. Dương Văn K TT Hương Sơn - Phú Bình - TN 9. Nịnh Văn S Xã Bình Yên - Định Hoá - TN 10. Phạm Viết T TT Bắc Sơn - Phổ Yên - TN 11. Nguy ễn Đức T Xã Hoá Th ượng- Đồng Hỷ - TN 12. Triệu Đức T Phượng Tiến - Định Hoá - TN 13. Hồ Công L Tổ 6 - P.Trung Thành - TN 14. Trần Bằng P Trung Lương - Tích Lương - TN 15. Nguy ễn Xuân T Tổ 4 - P.Tân Th ịnh- TN 16. Nguy ễn Quy T Xã Quy ết Thắng - TN 17. Nguy ễn Sơn C Đông Cao - Phổ Yên - TN 18. Bàn Ti ến M Tổ 13 - P.Túc Duyên - TN 19. Phạm Thị B Xã Th ịnh Đức - TN 20. Bùi H ữu H Tổ 16 Khu tập thể mỏ sắt trại cau - TN 21. Nguy ễn T.Hồng H Tổ 13 - P.Túc Duyên - TN 22. Hầu Tiến T Bình Thành - Định Hoá - TN 77 23. Dương Văn L Xã úc k ỳ- Phú Bình - TN 24. Bùi Quang C Tổ 16 - P.Tân Th ịnh- TN - P.Phan - P.Phú Xá 25. Lại Văn Đ Tổ 19 Đ ình Phùng - TN 26. Nguy ễn Duy K Tổ 21 - TN 27. Triệu Đức N Tổ 10 - P.Túc Duyên - TN 28. An Xuân V Tổ 10 - P.Tân Long - TN 29. Trần Thanh M Xã Bản Ngoại - Đại Từ - TN 30. Ngô Quang D Tổ 16 P.Trương Vương - TN 31. Nguy ễn Văn C Xã Bình Yên - Định Hoá - TN 32. Dương Minh V Tổ 26 - P.Quang Trung - TN 33. Nguy ễn Văn Đ Xã Tân H ương- Phổ Yên - TN 34. Giáp Văn D Tổ 27 P.Quang Trung - TN 35. Phạm Thị D Tổ 11 - P.Tân L ập - TN 36. Nguy ễn Bính H Xã Vô Tranh - Phú Lương - TN 37. Nguy ễn Xuân T Tổ 9 - P.Quan Tri ều - TN 38. Nguyễn Xuân T Tổ 19 - P.Quan Tri ều - TN 39. Nguy ễn Hữu N Tổ 11 - P.Phan Đ ình Phùng- TN 40. Phạm Ngọc T Xã Linh S ơn- Đồng Hỷ - TN 41. Ngô Văn Đ Tổ 2 - TT Chùa Hang - Đồng Hỷ - TN 42. Lê C Tổ 7 - P.Tân Thành - TN 43. Hà Đức T Tổ 17 - P.Trương Vương - TN 44. Triệu Văn N Yên Lãng - Đại Từ - TN 45. Dương Minh Q Tổ 20 - P.Quang Trung - TN 46. Đỗ Thị H Xã TN Lương sơn - 47. Lê Th ế L Tổ 32 - P.Phan Đ ình Phùng- TN 48. Nguy ễn Văn P Xóm 8 - Xã S ơn C ẩm- Phú Lương - TN 78 49. Ma Văn C Tổ 20 - P.Quan Tri ều- TN 50. Chu Tân T Na Mao - Đại Từ - TN 51. Nguy ễn Công Đ Tổ 24 TT Chùa Hang - Đồng Hỷ - TN 52. Nguy ễn Minh H Tổ 4 - P. Tân Thành - TN 53. Phạm Thị H Tổ 19 - P. Trung Thành - TN 54. Nguy ễn Văn H Bình Thu ận- Đại Từ - TN 55. Vũ Ngọc Q Tổ 7 - P.Hoàng Văn Th ụ- TN 56. Phạm Thị B Tổ 25 - Phường Phú xá - TN 57. Như Đ ình T Xã Văn Hán - Đồng Hỷ - TN 58. Nguy ễn Văn K Xã Tân Phú - Phổ Yên - TN 59. Hoàng Gia V Xã Quy ết Thắng - TN 60. Nguy ễn Đăng P Xã Phúc Chu - Định Hoá - TN 61. Lại Văn T Xã Quy ết Thắng - TN 62. Đỗ Khánh Bá C Xã Khôi K ỳ- Đại Từ - TN Thái Nguyên, tháng 10 năm 2008 Người lập danh sách Trần Thị Mỹ Luật

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docĐánh giá kết quả điều trị Phục hồi chức năng vận động cho bệnh nhân Tai biến mạch máu não tại Bệnh viện Điều Dưỡng và PHCN tỉnh Thái Nguyên.doc
Luận văn liên quan