Đề tài Giải pháp nâng cao chất lượng cho vay đối với lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản tại ngân hàng Đầu Tư và Phát triển chi nhánh Quảng Trị

LỜI MỞ ĐẦU Năm 2007 đã ghi dấu nhiều sự kiện vàng của đất nước. Đặc biệt là việc Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO). Sự kiện này đã mở ra cánh cửa hội nhập kinh tế quốc tế với nhiều cơ hội đan xen không ít thách thức. Trong môi trường như vậy, một yêu cầu khách quan, cấp bách là phải nâng cao năng lực tài chính cho các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam, đặc biệt là các NHTM Nhà nước chủ lực để có thể cạnh tranh được với các NHTM nước ngoài là vấn đề hết sức thực tế và đang được quan tâm. Triển khai thực hiện Nghị quyết 07-NQ/TW của Bộ Chính trị về hội nhập kinh tế quốc tế và thực hiện các cam kết quốc tế liên quan tới lĩnh vực Ngân hàng, thời gian qua hoạt động hội nhập quốc tế trong lĩnh vực Ngân hàng đã được triển khai tích cực với những bước đi phù hợp với mức độ phát triển và đặc thù của hệ thống Ngân hàng Việt Nam. Hoạt động hội nhập quốc tế ngày càng được tăng cường, mở rộng và đi vào thực chất hơn. Mục đích của hội nhập quốc tế ngành Ngân hàng được xác định là nhằm tranh thủ thêm vốn, công nghệ, trình độ quản lý, mở rộng thị trường, tăng cường hợp tác tiền tệ Ngân hàng để xây dựng một môi trường kinh doanh lành mạnh, một hệ thống Ngân hàng Việt Nam có sức cạnh tranh hiệu quả, góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.Để làm được điều đó đòi hỏi các NHTM phải có năng lực tài chính vững mạnh. Tuy nhiên, một thực tế đáng lo ngại là chất lượng cho vay tại các ngân hàng hiện nay đang có xu hướng giảm sút: nợ quá hạn, nợ khó đòi tăng, đặc biệt trong lĩnh vực xây dựng cơ bản (XDCB). Theo thống kê của ngân hàng nhà nước cuối năm 2006, nợ quá hạn đối với lĩnh vực đầu tưXDCB chiếm 42% tỷ lệnợ quá hạn.Nhưng không phải vì thế mà ngân hàng giảm doanh số cho vay đối với lĩnh vực này một lĩnh vực góp phần thúc đẩy việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao điều kiện về cơ sở,kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước. Như chúng ta đã biết, một trong những mục tiêu của ngân hàng là tối đa hoá lợi nhuận. Do đó, nó đòi hỏi ngành ngân hàng phải có giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao chất lượng hoạt động cho vay đối vớiđầu tưXDCB. Ngân hàng Đầu Tư và Phát triển (ĐT và PT) Việt Nam tiền thân là ngân hàng cấp phát vốn cho xây dựng vì thế khách hàng chủ yếu và truyền thống của ngân hàng là các doanh nghiệp xây dựng. Tình hình nợ quá hạn, nợ khó thu hồi của doanh nghiệp xây dựng đang là vấn đề nhức nhối đối với ngân hàng, đặc biệt trong tình hình giá cả đầy biến động như hiện nay. Nhận thức được điều này, trong quá trình thực tập tại ngân hàng ĐT và PT chi nhánh Quảng Trị,đề tài: “Giải pháp nâng cao chất lượng cho vay đối với lĩnh vựcđầu tưxây dựng cơ bản tại ngân hàng Đầu Tư và Phát triển chi nhánh Quảng Trị”là một trong những vấn đề quan trọng hiện nay của ngân hàng. Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm ba chương: Chương I: Khái quát chung về chất lượng cho vay của NHTMđối với lĩnh vựcđầu tư xây dựng cơ bản Chương II: Thực trạng chất lượng cho vay của ngân hàng ĐT và PT chi nhánh Quảng Trị đối với lĩnh vực đầu tưxây dựng cơ bản Chương III:Giải pháp nâng cao chất lượng cho vay của ngân hàng ĐT và PT chi nhánh Quảng Trị đối đối với lĩnh vựcđầu tưxây dựng cơ bản MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI LĨNH VỰC ĐẦU TƯ XDCB 3 1.1 Khát quát về lĩnh vực đầu tư XDCB 3 1.1.1 Khái niệm lĩnh vực đầu tư XDCB 3 1.1.2Đặc điểm của lĩnh vực đầu tư XDCB 4 1.1.3 Vai trò của đầu tư XDCB đối với nền kinh tế 6 1.2 Hoạt động cho vay của ngân hàng đối với lĩnh vực đầu tư XDCB 7 1.2.1 Khái niệm và nguyên tắc cho vay của ngân hàng 7 1.2.1.1 Khái niệm 7 1.2.1.2 Các nguyên tắc cho vay 8 1.2.2 Vai trò nguồn vốn của ngân hàng đối với lĩnh vực đầu tư XDCB .8 1.2.3 Phân loại cho vay đối với lĩnh vực đầu tư XDCB 9 1.2.4 Quy trình cho vayđối với lĩnh vực đầu tư XDCB 13 1.3 Chất lượng cho vay của ngân hàngđối với lĩnh vực đầu tư XDCB 14 1.3.1 Khái niệm chất lượng cho vay của ngân hàng đối với lĩnh vực đầu tư XDCB 14 1.3.2 Ý nghĩa của việc nâng cao chất lượng cho vay của ngân hàng và lĩnh vực đầu tư XDCB .16 1.3.3 Các chỉ tiêu đo lường chất lượng cho vay đối với ngân hàng lĩnh vực đầu tư XDCB 18 1.3.3.1 Các chỉ tiêu định lượng 18 1.3.3.2 Các chỉ tiêu định tính 22 1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cho vay của ngân hàng 24 1.4.1 Nhân tố chủ quan 24 1.4.2 Nhân tố khách quan .27 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG ĐT VÀ PT CHI NHÁNH QUẢNG TRỊ 29 2.1 Giới thiệu chung về ngân hàng ĐT và PT chi nhánh Quảng Trị 29 2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 29 2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của từng phòng ban 31 2.1.3 Chức năng, lĩnh vực hoạt động của ngân hàng 33 2.1.3.1 Chức năng hoạt động của ngân hàng 33 2.1.3.2 Các lĩnh vực hoạt động của ngân hàng 33 2.2. Thực trạng chất lượng cho vay đối với lĩnh vực đầu tư XDCB tại ngân hàng ĐT và PT chi nhánh Quảng Trị 34 2.2.1 Doanh số cho vay đối với lĩnh vực đầu tư XDCB 34 2.2.2 Tình hình dư nợ đối với lĩnh vực đầu tư XDCB 37 2.2.3 Doanh số thu nợ vànợ quá hạn đối với lĩnh vực đầu tư XDCB 41 2.2.3.1 Doanh số thu nợ 41 2.2.3.2 Doanh số thu nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn đối với lĩnh vực đầu tư XDCB 42 2.3 Đánh giá thực trạng hoạt động đối với lĩnh vực đầu tư XDCB tại ngân hàng ĐT và PT chi nhánh Quảng Trị 46 2.3.1 Các kết quả đạt được 46 2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 48 2.3.2.1 Hạn chế 48 2.3.2.2 Nguyên nhân 49 CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG ĐT VÀ PT CHI NHÁNH QUẢNG TRỊ ĐỐI VỚI LĨNH VỰC ĐẦU TƯ XDCB 54 3.1 Định hướng phát triển hoạt động tín dụng đối với lĩnh vực đầu tư XDCB tại ngân hàng ĐT và PT chi nhánh Quảng Trị 54 3.1.1 Yêu cầu công tác tín dụng đối với lĩnh vực đầu tư XDCB trong thời gian tới 54 3.1.2 Mục tiêu chung 54 3.1.3 Mục tiêu cụ thể 54 3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cho vay đối với lĩnh vực đầu tư XDCB tại ngân hàng ĐT và PT chi nhánh Quảng Trị 56 3.2.1 Hoàn thiện chính sách tín dụng 56 3.2.2 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, nhân viên ngân hàng - đặc biệt là cán bộ tín dụng 61 3.2.3 Nâng cao chất lượng kiểm tra, kiểm soát nội bộ 62 3.2.4 Tổ chức, trao đổi, rút kinh nghiệm đối với từng khoản vay và từng nghiệp vụ 63 3.2.5 Nâng cao chất lượng tín dụng đối với dự án đầu tư XDCB 64 3.2.6 Thực hiện tốt công tác xử lý nợ quá hạn đối với lĩnh vực đầu tư XDCB 65 3.2.7 Giải quyết mối quan hệ giữa huy động vốn và sử dụng vốn 66 3.3 Các kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng cho vay đối với lĩnh vực đầu tư XDCB tại ngân hàng ĐT và PT chi nhánh Quảng Trị 67 3.3.1Kiến nghị với Nhà nước 67 3.3.2Kiến nghị với Ngân hàng ĐT và PT Việt Nam 68 3.3.3Kiến nghị với chính quyền địa phương 68 KẾT LUẬN 69

docx77 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 11/05/2013 | Lượt xem: 1613 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Giải pháp nâng cao chất lượng cho vay đối với lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản tại ngân hàng Đầu Tư và Phát triển chi nhánh Quảng Trị, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
thời kì 2005-2007 ( phân theo các tiêu chí) Đơn vị: triệu đồng CHỈ TIÊU Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Số tiền Tỉ lệ (%) Số tiền Tỉ lệ (%) Số tiền Tỉ lệ (%) Nợ quá hạn XDCB 5.547 100 5.357 100 3.718 100 - Theo thành phần kinh tế +Quốc doanh 2.496 45 2.534 47,3 1.788 48,1 +Ngoài quốc doanh 3.051 55 2.823 52,7 1.930 51,9 - Theo nguyên nhân + Nguyên nhân chủ quan 4.933 88,5 4.537 84,7 3.082 82,9 + Nguyên nhân khách quan 641 11,5 820 15,3 636 17,1 - Theo kỳ hạn + Ngắn hạn 1.728 31 1339 25 632 17 + Trung và dài hạn 3.846 69 4018 75 3086 83 (Nguồn:Báo cáo thường niên của chi nhánh NH ĐT và PT Quảng Trị) Ngân hàng ĐT và PT chi nhánh Quảng Trị có doanh số và dư nợ cho vay các thành phần kinh tế quốc doanh ít hơn ngoài quốc doanh nhưng nợ quá hạn của các hai thành phần kinh tế này gần tương đương nhau, có chênh lệch nhưng mức độ ít. Tỷ lệ nợ quá hạn của thành phần kinh tế quốc doanh tăng lên hàng năm, từ 44% (năm 2005) lên 48,1% (năm 2007) trong khi đó tỷ lệ nợ quá hạn của thành phần kinh tế ngoài quốc doanh lại giảm. Điều đó phần nào chứng tỏ chất lượng cho vay các đơn vị quốc doanh tốt hơn ngoài quốc doanh, đã đem lại thu nhập lớn cho ngân hàng, tổn thất ít. Xét về số tương đối, nợ quá hạn ngoài quốc doanh giảm. Từ 3.051 triệu đồng (năm 2005) xuống 2.823 triệu đồng (năm 2006) tương đương với giảm 7,4% và năm 2007 chỉ còn 1.930 triệu đồng tương đương 36,7% so với năm 2006. Như đã giải thích ở trên, năm 2007 là một năm nỗ lực thu nợ của ngân hàng để góp phần làm trong sạch báo cáo tài chính, đẩy nhanh tiến trình cổ phần hoá. Để làm tốt hơn nữa công tác cho vay và kiểm soát nợ quá hạn, ngân hàng còn tiến hành phân tích cụ thể những nguyên nhân của nợ quá hạn. Nợ quá hạn trong lĩnh vực XDCB chủ yếu là do nguyên nhân chủ quan, cả ba năm đều lớn hơn 82%. Tình trạng nợ quá hạn do những nguyên nhân chủ quan của ngân hàng lẫn khách hàng. Về phía ngân hàng, cần nhìn nhận thẳng thắn là do những yếu kém chủ yếu trong khâu thẩm định khách hàng; việc kiểm tra, kiểm soát khách hàng sau khi cho vay chưa chặt chẽ. Về phía khách hàng: do khách hàng lừa đảo, chiếm đoạt tài sản ngân hàng, sản xuất kinh doanh thua lỗ, chậm trả gốc và lãi cho ngân hàng. Tuy nhiên, nợ quá hạn do chủ quan cũng có xu hướng giảm dần theo thời gian, điều này cho thấy sự nỗ lực cố gắng của ngân hàng và khách hàng trong vấn đề cho vay và trả nợ. Môi trường vĩ mô như thiên tai, cơ chế chính sách hoặc những bất ổn trong nền kinh tế cũng có ảnh hưởng đến hoạt động cho vay XDCB của ngân hàng cũng như trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng và gây nên tình trạng nợ quá hạn. Trong cho vay XDCB thì doanh số cho vay ngắn hạn lớn hơn doanh số cho vay dài hạn nhưng nợ quá hạn thì tập trung chủ yếu vào trung và dài hạn (chiếm 83% năm 2007) và tăng dần qua các năm. Điều này cũng là tất yếu. Các doanh nghiệp vay trung và dài hạn để đầu tư vào trang thiết bị, máy móc, công nghệ nhưng công trình thường thiếu vốn, chưa bố trí được vốn. Do đó, máy móc cũng thường xuyên nằm trong tình trạng chờ vốn để thi công. Nên hiệu quả sử dụng nó không cao, kèm theo doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ, khó trả nợ cho ngân hàng là điều không thể tránh khỏi. Vì vậy, chính sách của ngân hàng là chủ yếu cho vay ngắn hạn, cho vay khi đã xác định nguồn vốn thanh toán nhằm hạn chế rủi ro tín dụng. Đó cũng là một biện pháp nâng cao chất lượng cho vay đối với lĩnh vực XDCB tại chi nhánh. Năm 2007, mặc dù chi nhánh đã thực hiện khá tốt công tác thu hồi nợ nhưng những yếu tố khách quan tác động lớn đến doanh nghiệp XDCB vì thế phần nào đó làm giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh. Tỷ lệ nợ quá hạn đối với XDCB đã giảm xuống rõ, từ 3,6% năm 2005 còn 1,05% năm 2007 nhưng tỷ lệ này luôn cao hơn tỷ lệ nợ quá hạn của toàn chi nhánh. Đó là một trong những hạn chế trong hoạt động cho vay của chi nhánh. Bảng số liệu sau đây thể hiện rõ nét tỷ lệ nợ quá hạn trong XDCB. Bảng 2.7: Tỷ lệ nợ quá hạn đối với lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản qua các thời kì 2005-2007 Chỉ tiêu Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Nợ quá hạn Tổng dư nợ 7,79 1,95 0,97 Nợ quá hạn XDCB Tổng dư nợ XDCB 3,6 2,77 1,05 (Nguồn:Báo cáo thường niên của chi nhánh NH ĐT và PT Quảng Trị) Tỷ lệ nợ quá hạn trong XDCB được cải thiện dần và đã thay đổi rõ rệt qua các năm. Năm 2006 đã giảm được 0,83% so với 2005 và năm 2007 giảm 1,72% so với năm 2006. Tỷ lệ nợ quá hạn XDCB giảm đã góp phần nào làm giảm tỷ lệ nợ quá hạn trong toàn chi nhánh. Ngân hàng đang cố gắng để giảm tỷ lệ nợ quá hạn đối với XDCB xuống 1%. 2.3 Đánh giá thực trạng hoạt động tín dụng đối với lĩnh vực đầu tư XDCB tại ngân hàng ĐT và PT chi nhánh Quảng Trị 2.3.1 Các kết quả đạt được Qua việc phân tích thực trạng hoạt động cho vay đối với lĩnh vực XDCB tại ngân hàng ĐT và PT chi nhánh Quảng Trị cho ta thấy chất lượng tín dụng khá tốt. Vượt qua những khó khăn trở ngại, bằng ý chí vươn lên, chi nhánh đã phát huy nội lực, thực hiện nghiêm túc chỉ đạo sát sao của ngân hàng ĐT và PT Việt Nam, chi nhánh đã đạt được kết quả đáng khích lệ, góp phần làm tăng chất lượng tín dụng ngân hàng Quy mô, cơ cấu tín dụng của ngân hàng đối với lĩnh vực XDCB ngày càng tăng. Thể hiện qua doanh số cho vay và dư nợ cho vay XDCB tăng, nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn trong XDCB đã được giảm xuống đáng kể. Uy tín của ngân hàng ngày càng được nâng lên, lượng khách hàng có quan hệ với ngân hàng ngày càng tăng. Ngân hàng đã không ngừng phát huy tính chủ động sáng tạo, trở thành nhân tố kích thích tiết kiệm và cung ứng vốn kịp thời cho nhu cầu của nền kinh tế, hứa hẹn một tương lai rộng mở trong hoạt động cho vay, ngày càng khẳng định vai trò của ngân hàng trên địa bàn. Bên cạnh đáp ứng kịp thời nhu cầu tín dụng của khách hàng thuộc mọi thành phần kinh tế, ngân hàng còn hướng đồng vốn vào những dự án xây dựng có khả năng sinh lời cao. Chi nhánh tăng cường tiếp cận với nhiều dự án mới bằng cách chủ động tìm kiếm khách hàng làm ăn có hiệu quả trong địa bàn để cho vay. Doanh số cho vay và thu nợ XDCB cũng tăng lên. Điều đó chứng tỏ hoạt động tín dụng của ngân hàng đối với lĩnh vực XDCB càng được mở rộng về quy mô và chất lượng tín dụng được nâng cao. Quy trình thủ tục cho vay được áp dụng theo cuốn “Sổ tay tín dụng” của ngân hàng đã giảm bớt những thủ tục rườm rà. Khách hàng có điều kiện tiếp cận vốn ngân hàng kịp thời, nhanh chóng. Nhiều đơn vị khách hàng làm ăn có hiệu quả trên cơ sở vốn vay ngân hàng. Về công tác xử lý nợ xấu: Ngay từ đầu năm, thực hiện chỉ đạo của ngân hàng ĐT và PT Việt Nam, chi nhánh đã tích cực hoàn thiện hồ sơ về những khoản nợ xấu, nợ tồn đọng trong XDCB và đề nghị ngân hàng ĐT và PT Việt Nam liên kết xử lý. Đi đôi với việc cải thiện chất lượng phục vụ, chi nhánh đã tăng cường ứng dụng những sản phẩm công nghệ mới vào hoạt động. Đặc biệt là việc triển khai thành công dự án hiện đại hoá ngân hàng có thể quản lí chặt chẽ hồ sơ khoản vay XDCB gồm thiết lập khoản vay, theo dõi hạn mức, nợ quá hạn, cơ cấu lại khoản vay, tài sản thế chấp...Điều này góp phần đảm bảo sự an toàn, hổ trợ công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ về quy trình, chính sách tín dụng tại chi nhánh, giúp ngân hàng giữ được uy tín với khách hàng truyền thống, tạo uy tín với khách hàng mới. Đến nay tốc độ tăng truởng cho vay của chi nhánh đã tăng lên nhiều lần so với khi mới thành lập. Thêm vào đó, lực lượng cán bộ tín dụng trẻ, năng động, có trình độ nghiệp vụ được đào tạo ngày càng bài bản đã tạo điều kiện thuận lợi cho công tác cho vay XDCB của chi nhánh. Tóm lại, với tất cả những nỗ lực của mình, chi nhánh đã từng bước mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng trong XDCB. Mặc dù kết quả này chưa lớn nhưng chi nhánh ngày càng tạo niềm tin cho doanh nghiệp khi vay vốn và thực hiện nghiêm chỉnh các khoản hợp đồng đã kí kết. Sở dĩ, chi nhánh đạt được kết quả trên do nhiều lí do như: Chi nhánh nghiêm túc thực hiện các văn bản chỉ đạo của ngân hàng ĐT và PT Việt Nam, của ngân hàng Nhà nước về hoạt động tín dụng đối với XDCB. Chi nhánh luôn tạo điều kiện cho khách hàng vay vốn, đơn giản hoá thủ tục cho vay, giảm được thời gian, chi phí vay vốn nhưng vẫn đảm bảo tín chặt chẽ, xác định hạn mức tín dụng phù hợp với nhu cầu thực tế của ngân hàng, luôn luôn chủ động, tiếp cận, thu hút khách hàng... Bên cạnh đó chi nhánh đã tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát, đảm bảo tuân thủ quy trình, quy chế cho vay, phân cấp uỷ quyền đến tất cả cán bộ nghiệp vụ tín dụng. Công tác kiểm tra, thẩm định từ phía ngân hàng khá chặt chẽ, thực hiện đầu đủ quy trình xét duyệt cho vay, hồ sơ các dự án đầu tư hợp pháp, thực hiện đầy đủ các bước trong quy trình cho vay đúng văn bản, chế độ hiện hành, góp phần nâng cao chất lượng tín dụng tại chi nhánh. 2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 2.3.2.1 Hạn chế Nhìn chung, hoạt động của chi nhánh trong thời gian qua được cải thiện và đạt được kết quả đáng khả quan, đóng góp vào lớn vào kết quả kinh doanh của toàn ngân hàng. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn tồn tại những mặt hạn chế làm cho chất lượng tín dụng của chi nhánh chưa cao. Cụ thể là: - Số nợ quá hạn, nợ tồn đọng trong XDCB ở ba năm qua còn cao. Chính điều này làm hạn chế khả năng mở rộng cho vay của ngân hàng trên cơ sở nguồn vốn cho vay hạn hẹp. - Trong công tác thẩm định, tính chuyên nghiệp chưa cao so với yêu cầu đặt ra. Bên cạnh đó, phương pháp phân tích cũng chưa được hoàn thiện nên việc thẩm định các dự án xây dựng chưa đạt yêu cầu mong muốn. - Mạng lưới kinh doanh và quy mô hoạt động còn hạn hẹp, chi nhánh mới có hai phòng giao dịch trên toàn tỉnh, chưa tương xứng với nhu cầu kinh tế. Doanh số cho vay và thu nợ XDCB mặc dù có sự tăng trưởng qua các năm nhưng vẫn còn thấp vì vậy chưa đáp ứng đầy đủ so với nhu cầu tín dụng của các doanh nghiệp xây dựng. 2.3.2.2 Nguyên nhân * Nguyên nhân chủ quan + Về phía ngân hàng - Chính sách tín dụng: Trong thời gian qua, chính sách tín dụng của chi nhánh đã có những thay đổi phần nào phù hợp với yêu cầu mới. Tuy nhiên, lãi suất hình thức cho vay đối với các doanh nghiệp đặc biệt doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực XDCB chưa thực sự đa dạng, chủ yếu là cho vay theo món và cho vay theo hạn mức tín dụng. Thêm vào đó thủ tục vay còn nhiều phức tạp. Điều này làm giảm thời gian và chi phí giao dịch, từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng và doanh nghiệp. - Công tác thẩm định và thông tin tín dụng: Hiện nay, trong công tác thẩm định hoạt động cho vay XDCB, cán bộ tín dụng còn gặp phải khó khăn trong việc tìm kiếm thông tin tín dụng một cách khoa học, chính xác, mang tính thời sự. Quá trình thu thập thông tin còn rời rạc, chưa có bộ phận hổ trợ thông tin. Việc thẩm định dự án chủ yếu dựa vào số liệu khách hàng cung cấp nên nhiều khi công tác thẩm định chưa tốt, dẫn đến việc đánh giá không đúng hiệu quả của dự án cũng như khả năng thực tế của khách hàng. Do đó, công tác mở rộng tín dụng bị hạn chế, hiệu quả cho vay chưa cao. - Về tài sản thế chấp: Vừa qua phòng kế hoạch thẩm định đã phối hợi với các phòng tín dụng kiểm tra, rà soát tính pháp lí của hồ sơ đảm bảo. Tuy nhiên chỉ là một khâu nhỏ trong quá trình thực hiện biện pháp đảm bảo bằng tài sản nhưng như đã trình bày ở trên, hầu hết các khách hàng vay vốn đều có tài sản thế chấp. Trong công tác định giá, hiện nay chi nhánh thường định giá tài sản thế chấp theo những quy định chung, có tham khảo thêm giá tài sản đó trên thị trường tại thời điểm định giá. Trong số các tài sản thế chấp của đơn vị XDCB sử dụng thì chủ yếu là đất đai, nhà ở và các bất động sản khác. Mức giá cả của các loại tài sản này thường không ổn định, thường xuyên thay đổi nên việc định giá đúng là rất khó khăn. Đối với tài sản thế chấp là các loại hình máy móc, thiết bị thì theo quy định, ngân hàng yêu cầu khách hàng phải có giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản. Nhưng trên thực tế, các loại máy móc thường được mua đi bán lại nhiều lần nên các đơn vị kinh tế thường không có giấy tờ sử dụng tài sản đó. Việc cho vay không có tài sản đảm bảo chưa được áp dụng nhiều, cộng với những khó khăn trong định giá tài sản thế chấp đã ảnh hưởng đến việc mở rộng hoạt động cho vay của ngân hàng. Mặt khác với số lượng văn bản pháp luật khổng lồ liên quan đến tài sản bảo đảm cùng hàng loạt văn bản mới liên tục được ban hành trong nhiều năm, việc tiếp cận và hiểu sâu sắc tinh thần chỉ đạo, nội dung chính sách trong các văn bản đó là điều không dễ dàng. Bên cạnh đó, trình độ cán bộ của chi nhánh còn trẻ, số năm kinh nghiệm chưa cao và còn thiếu thông tin. Tuy chi nhánh đã đẩy mạnh công tác đào tạo và đào tạo lại cán bộ nhưng kết quả chưa thực sự mong muốn. Các kiến thức về một thị trường kinh tế đầy sôi động và phức tạp chi phối đến từng hoạt động của XDCB trong khi khả năng nắm bắt thực tế cán bộ ngân hàng chưa sâu. Điều này dẫn đến những sai sót trong việc điều tra, nghiên cứ, thẩm định dự án, phương pháp vay vốn và dẫn đến những thiệt hại sau này. Một nguyên nhân khác dẫn đến chi nhánh chưa mở rộng được khách hàng là do công tác marketing chưa tốt. + Về phía khách hàng - Nguyên nhân đầu tiên là do năng lực kinh doanh và sử dụng vốn vay còn nhiều hạn chế. Do sức ép làm việc cho cán bộ, công nhân, tâm lí muốn làm có bằng được các công trình để nâng cao uy tín, thương hiệu doanh nghiệp cho nên một số công ty XDCB tham gia đấu thầu một số công trình đã bỏ thầu giá thấp một cách bất hợp lí. Sự bất hợp lí thể hiện ở chổ: với mức giá doanh nghiệp đưa ra, kể cả khi được thanh toán thì doanh nghiệp vẫn bị thua lỗ. Bên cạnh giá thầu thấp, một số doanh nghiệp còn huy động vốn vay dài hạn mua sắm nhiều trang thiết bị, công nghệ mà hiệu quả sử dụng không cao vì thế không bù đắp được khoản đầu tư bỏ ra, nợ dài hạn ngân hàng tăng lên cùng với các công trình. Chính khả năng sinh lời giảm sút nghiêm trọng như vậy, doanh nghiệp không thể thanh toán vốn vay ngân hàng đúng hạn nên việc bị chuyển thành nợ quá hạn với mức lãi xuất cao hơn mức bình thường khá nhiều. - Trình độ quản lí của đội ngũ lãnh đạo, cán bộ nhiều đơn vị còn thấp. Chưa có phương án tối ưu để sử dụng triệt để có hiệu quả nguồn nhân lực và trang thiết bị sẵn có, đội ngũ lãnh đạo thiếu sự chỉ đạo sát sao trong một số dự án. Nhiều công trình, hạng mục chưa bố trí được vốn nên vẫn trong tình trạng dỡ dang. Theo các chuyên gia, hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phụ thuộc vào tốc độ vòng quay của đồng vốn phải đạt tối thiểu 2,5 lần/năm. Trên thực tế, vốn của nhiều doanh nghiệp vẫn liên tục đọng tại các công trình, đặc biệt các dự án sử dụng vốn trong nước nên vòng quay vốn chỉ đạt 1 - 1,5 lần/năm. Chưa kể việc bố trí vốn ra nhiều công trình, nhiều giai đoạn do thiếu vốn và để đối phó với tình trạng nợ đọng đã khiến công trình kéo dài thời gian thi công, không hoàn thành được và thiệt hại càng lớn càng kéo theo nợ quá hạn tăng lên. Nhiều doanh nghiệp còn vẫn mang tâm lí thụ động, ỷ lại vào sự bảo hộ của Nhà nước. Nợ khó đòi trong XDCB chủ yếu tập trung vào các công trình Nhà nước và các doanh nghiệp quốc doanh vì các chủ đầu tư thường bám vào chiếc “phao” của Nhà nước để né tránh nghĩa vụ trả nợ... chờ đến một thời điểm nào đó sẽ xoá nợ (theo chính sách của Nhà nước). Đồng thời với ý nghĩ các công trình quan trọng của địa phương sử dụng vốn ngân sách trước sau gì cũng sẽ được thanh toán vốn nên đã vay mượn ứng trước để thi công. - Việc nợ quá hạn tăng lên như vậy cũng một mặt do các chủ đầu tư đã vi phạm các quy định về quản lí XDCB khi đưa ra các dự án chưa đủ điều kiện đấu thầu thi công. Điều kiện đấu thầu thi công là phải chứng minh được nguồn kinh phí xây dựng dự án, phải có mặt bằng. Chủ dự án và nhà thầu thực hiện thi công thường vượt tiến độ đã đề ra nên thường phát sinh khối lượng vượt kế hoạch hàng năm. Mặc dù chưa bố trí được vốn nhưng nhà thầu đều cố gắng rút thời gian thi công để giảm chi phí quản lí và giá thành xây dựng, đảm bảo công ăn việc làm cho công nhân. - Mặt khác, do đặc điểm của lĩnh vực XDCB là thi công theo một mùa vụ cho phép nên một số nhà thầu phải hoàn thành công trình trong thời gian nhất định mặc dù vốn bố trí trong năm là rất ít nhưng không thể làm khác được do vậy các chủ đầu tư lại vay vốn ngân hàng do đó nợ quá hạn cho vay của ngân hàng lại tăng. - Một nguyên nhân nữa là việc chấp hành pháp luật trong đầu tư XDCB chưa nghiêm, không ít cán bộ điều hành thiếu trách nhiệm, phẩm chất đạo đức yếu kém, tình trạng bớt xén tham nhũng xảy ra nhiều. * Nguyên nhân khách quan - Môi trường pháp lí cho hoạt động tín dụng và XDCB còn chưa đầy đủ, chưa đồng bộ, còn nhiều chồng chéo, khó khăn cho doanh nghiệp và ngân hàng trong việc tuân thủ thực hiện. Nhiều chủ trương chính sách mới được ban hành chưa đi vào cuộc sống. Thủ tục hành chính còn nhiều rườm rà làm doanh nghiệp mất nhiều thời gian chờ đợi. Đồng thời chế tài xử lí không nghiêm. Phía doanh nghiệp, rất nhiều chủ đầu tư đã vi phạm các thủ tục, trình tự XDCB trong hệ thống pháp luật. Phía ngân hàng, các cán bộ tín dụng thông đồng với khách hàng để thực hiện việc đảo nợ. Đồng thời cơ chế xin cho là nguyên nhân dẫn đến chạy dự án, chạy vốn cho công trình, khả năng ngân sách có hạn nhưng nhu cầu vốn cho dự án rất lớn, kết quả dự án của chưa thanh toán xong dự án mới lại phát sinh công nợ. Với doanh nghiệp phải thu khá cao nhưng chẳng ai trả lãi trong khi đó số vốn vay ngân hàng thì lãi mẹ đẽ lãi con, dẫn đến tình trạng nợ quá hạn là điều không thể tránh khỏi. - Kèm theo đó là sự biến đọng rất lớn giá xăng dầu, nguyên vật liệu xây dựng, giá vàng... đã dẫn đến hoạt động kinh doanh của nhiều doanh nghiệp XDCB kém hiệu quả, tất yếu dẫn đến tình trạng nợ đọng ở các ngân hàng tăng. Đồng thời, ở các tĩnh miền Trung chịu ảnh hưởng rất lớn điều kiện thời tiết. Lũ lụt, hạn hán thường xuyên xảy ra nên cán bộ tín dụng khó lường trước được những tổn thất xảy ra. Đặc biệt năm 2007 là một năm chứng kiến lũ chồng lũ nên nợ qúa hạn năm 2007 tăng nhiều. Trên đây là những nguyên nhân phần nào làm giảm chất lượng cho vay trong lĩnh vực XDCB. CHƯƠNG III GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG ĐT VÀ PT CHI NHÁNH QUẢNG TRỊ ĐỐI VỚI LĨNH VỰC XDCB 3.1 Định hướng phát triển tín dụng đối với lĩnh vực đầu tư XDCB tại ngân hàng ĐT và PT chi nhánh Quảng Trị 3.1.1 Yêu cầu công tác tín dụng đối với XDCB trong thời gian tới - Xác định, phân loại, phản ánh đúng, chính xác nợ xấu, từ đó tập trung nỗ lực giải quyết và xử lý. - Kiểm soát tăng trưởng tín dụng, đảm bảo mục tiêu: An toàn - chất lượng - hiệu quả và bền vững. 3.1.2 Mục tiêu chung Tiếp tục chủ động, kiểm soát tăng trưởng kết hợp quyết liệt với cơ cấu tín dụng trên nguyên tắc kiên trì thực hiện chiến lược, nâng cao chất lượng tài sản. Tập trung nâng cao năng lực tài chính, xử lí nợ xấu trong và ngoài bảng, kiên quyết chỉ đạo và xử lý nợ xấu phát sinh trong phạm vi kiểm soát. Vận hành mô hình và hệ thống quản lý rủi ro đặc biệt là quản lý rủi ro tín dụng theo chuẩn mực tốt nhất. 3.1.3 Mục tiêu cụ thể - Mức tăng trưởng tín dụng Đảm bảo mục tiêu tăng trưởng đáp ứng yêu cầu kiểm soát an toàn, tranh thủ thời cơ phát triển của nền kinh tế và yêu cầu cơ cấu lại tài sản. - Tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu Năm 2008: tỷ lệ nợ quá hạn XDCB theo kế hoạch dưới 1%. Tiếp tục bám sát để xử lý các khoản nợ xấu, đưa ra phương pháp và lộ trình xử lý cụ thể đối với từng khoản nợ xấu. Tiếp tục nâng cao chất lượng tín dụng, phấn đấu đến 2010 giảm tỷ lệ nợ xấu, nợ quá hạn trong XDCB xuống mức thấp nhất, đảm bảo tỷ lệ nợ xấu toàn ngành trong phạm vi cho phép của NHTM theo thông lệ dưới 5%. - Cơ cấu tín dụng + Tỷ trọng tín dụng trung dài hạn: Tăng cường kiểm soát quy mô tín dụng ngắn hạn, tách chỉ tiêu cho vay dài hạn để kiểm soát. Phấn đấu đến năm 2008, cơ cấu tín dụng ngắn hạn ≥ 80% so với doanh số cho vay + Tỷ trọng dư nợ có tài sản đảm bảo: Thực hiện tăng cường cho vay có tài sản đảm bảo, nâng cao chất lượng tính thanh khoản của tài sản đảm bảo, xác định cơ cấu cho vay không có tài sản đảm bảo phù hợp với chính sách khách hàng và tranh thủ khách hàng tốt. Định hướng tỷ trọng dư nợ có tài sản đảm bảo năm 2008 tối thiểu là 90%. + Đẩy mạnh cho vay các thành phần kinh tế phi Nhà Nước (bao gồm cả doanh nghiệp Nhà nước chuyển đổi). - Cách thức cho vay và quản lý tín dụng: Tuân thủ cao và thực hiện linh hoạt cách thức cho vay và phương thức quản lý tín dụng, tăng cường công tác thu hồi nợ: các khoản nợ gốc và lãi đến hạn, quá hạn, tận thu lãi treo. Thường xuyên tính toán đầy đủ, kịp thời chi phí huy động vốn trên mặt bàng bình quân, cơ cấu kỳ hạn... để có thể đưa ra chính sách lãi suất cho vay đạt các mục tiêu đảm bảo mức chênh lệch giữa huy động vốn và cho vay tối thiểu. - Công tác cán bộ Tăng cường công tác đào tạo cán bộ, đảm bảo đội ngủ cán bộ làm tín dụng có đủ phẩm chất, năng lực chuyên môn, có kinh nghiệm thực tế với phong cách giao dịch và khả năng phân tích, tiếp cận thị trường, khách hàng tốt. 3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cho vay đối với lĩnh vực đầu tư XDCB tại ngân hàng ĐT và PT chi nhánh Quảng Trị Nhận thức rõ tầm quan trọng của hoạt động tín dụng cũng như yêu cầu khách quan của việc nâng cao chất lượng tín dụng đối với lĩnh vực đầu tư XDCB, trên cơ sở những nghiên cứu về mặt lí luận cũng như thực tiễn chất lượng cho vay tại chi nhánh, tôi xin đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cho vay trong lĩnh vực đầu tư XDCB như sau: 3.2.1 Hoàn thiện chính sách tín dụng Đối với một ngân hàng, cho vay XDCB luôn là hoạt động phong phú, đa dạng nhưng đồng thời cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất. Bởi vậy, để đảm bảo mục tiêu nâng cao hiệu quả, kiểm soát rủi ro, phát triển bền vững, hướng dần tới thông lệ quốc tế, nhất thiết phải có một chính sách tín dụng nhất quán, hợp lí, phù hợp với đặc điểm nội tại và đặc thù kinh doanh của chi nhánh, phát huy được thế mạnh, khắc phục yếu điểm vì mục tiêu phát triển an toàn, lành mạnh. Vì thế, việc hoàn thiện chính sách tín dụng tại chi nhánh ngân hàng ĐT và PT chi nhánh Quảng Trị là một yêu cầu khách quan và có ý nghĩa quan trọng đối với công tác tín dụng trong thời gian tới. Thứ nhất, cần xây dựng một chính sách lãi xuất phù hợp Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt như hiện nay, để tồn tại và phát triển được, ngân hàng phải xây dựng một chính sách lãi suất phù hợp, mềm dẻo, linh hoạt, vừa đảm bảo lợi ích của ngân hàng, vừa đảm bảo lợi ích của người gửi tiền và người đi vay (doanh nghiệp XDCB), từ đó thu hút và mở rộng được khách hàng nhưng vẫn có sự phân biệt đối với từng đối tượng khách hàng. * Chính sách lãi suất linh hoạt đối với từng đối tượng vay vốn. Với các doanh nghiệp XDCB quen thuộc, có uy tín, vay trả sòng phẳng thì có thể được hưởng một mức lãi suất ưu đãi. Điều đó sẽ góp phần cũng cố mối quan hệ làm ăn lâu dài với doanh nghiệp, vừa khuyến khích được doanh nghiệp XDCB tăng cường mối quan hệ với chi nhánh, vừa tích cực làm ăn có hiệu quả, hoàn trả nợ gốc và lãi đúng hạn cho ngân hàng. Bên cạnh việc áp dụng lãi suất mềm dẻo với các khách hàng truyền thống thì còn giảm mức lãi suất cho những khách hàng lôi kéo được các doanh nghiệp XDCB khác về với ngân hàng theo một tỷ lệ % nhất định. * Đa dạng hoá hình thức lãi suất để tạo điều kiện phù hợp với chu kì sản xuất kinh doanh của khách hàng. Dựa vào từng loại lãi suất và từng kì hạn, khách hàng có nhiều cơ hội để chọn lựa những khoản vay thích hợp, đảm bảo cho hoạt động kinh doanh đạt hiệu quả cao, đảm bảo trả nợ cho ngân hàng đúng hạn. Thứ hai, đa dạng hoá hình thức đảm bảo tiền vay Tài sản đảm bảo trở thành một trở ngại lớn cho các doanh nghiệp XDCB trong việc tiếp cận vốn ngân hàng. Các tổ chức tín dụng chủ động trong việc cho vay có tài sản đảm bảo hoặc không có tài sản đảm bảo, song số doanh nghiệp được chọn để cho vay không có tài sản đảm bảo chiếm tỷ trọng ít. Đó cũng là điều kiện hợp lí để ngăn chặn hiện tượng không trung thực của khách hàng và lựa chọn những doanh nghiệp có uy tín. Tuy nhiên, bên cạnh cho vay theo hình thức này, chi nhánh cũng nên nghiên cứu cho vay theo các hình thức khác như kết hợp linh hoạt hình thức đảm bảo bằng tín chấp, tín chấp và thế chấp, thế chấp và bảo lãnh. Các biện pháp bảo đảm tiền vay đều phải lập thành văn bản, nhưng lập chung với hợp đồng tín dụng hay lập riêng là do các bên thoả thuận phù hợp với tính chất của tài sản, không bắt buộc phải có hợp đồng riêng như trước đây. Đồng thời chi nhánh cũng nên cho thế chấp bằng chính tài sản hình thành từ vốn vay, nhưng phương án này được áp dụng đối với khách hàng được cấp vốn trung và dài hạn. Mặc khác, chi nhánh cần tăng cường khâu quản lý, kiểm tra thường xuyên đối với những tài sản được cầm cố, thế chấp, tránh trường hợp khách hàng cố tình một tài sản thế chấp cho các khoản vay ở các ngân hàng khác. Thứ ba, am hiểu đặc điểm về lĩnh vực đầu tư XDCB Trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thì cho vay vốn đối với khách hàng hoạt động trong lĩnh vực XDCB chiếm số lượng không nhỏ. Tuy nhiên, để thực hiện tốt đòi hỏi cán bộ tín dụng ngoài việc nắm vững quy trình nghiệp vụ cho vay, còn phải tìm hiểu đặc thù của khách hàng hoạt động trong lĩnh vực này. Ngân hàng chỉ cho vay đối với các hợp đồng thi công đã xác định, chứng minh được nguồn vốn thanh toán và nguồn vốn thanh toán phải được chuyển về tài khoản của khách hàng tại ngân hàng đó. Cho vay lĩnh vực này là phương thức từng lần, đây là biện pháp rất hữu hiệu và đúng đắn, nhất là trong giai đoạn các doanh nghiệp XDCB đang khó khăn như hiện nay. Tuy nhiên để thực hiện và quản lý tốt tiền vay, đòi hỏi cán bộ tín dụng phải theo dõi và hiểu rõ khách hàng, ngay từ khâu thẩm định ban đầu để xây dựng tổng hạn mức cho vay và bảo lãnh, căn cứ vào nhu cầu vốn, căn cứ theo kế hoạch sản lượng quý, hoặc năm của khách hàng. Nhu cầu vốn của các công trình chuyển tiếp từ năm trước sang, của các công trình năm nay phát sinh. Đối với công trình cụ thể, khi xác định số tiền cho vay, phải loại trừ số tiền khách hàng được chủ đầu tư tạm ứng, xác định tiến độ thanh toán, vòng quay vốn. Để có thể áp dụng phương thức cho vay từng lần, quản lý chặt chẽ tiền thanh toán chi tiết theo từng công trình một cách tốt nhất, cán bộ tín dụng cần thực hiện một số biện pháp như sau: - Xác định thời gian cho vay đối với từng giấy nhận nợ một cách chính xác. Chính xác là bởi vì khi đến ngày đáo hạn của giấy nhận nợ, công trình phải có tiền thanh toán để thu nợ. Nếu định thời gian cho vay ngắn hơn thời gian được thanh toán thì sẽ dẫn đến phải gia hạn nợ, ngược lại đến khi tiền thanh toán đã về đến tài khoản của khách hàng mà chưa đến hạn trả, khách hàng có thể sẽ tiếp tục quay vòng vốn hoặc đòi trả nợ cho công trình khác đến hạn. Muốn vậy, ngay từ khi thẩm định phương án ban đầu, cán bộ tín dụng cần yêu cầu khách hàng xuất trình bản sơ đồ tiến độ thi công. Trên bản sơ đồ tiến độ thi công sẽ thể hiện chi tiết thời gian thi công từng hạng mục, khối lượng chi tiết. Ví dụ thi công công trình đường giao thông, phần móng thời gian thi công thường dài, nhu cầu vay chưa nhiều. Ngược lại, hạng mục mặt đường, nhất là lớp thảm, thời gian thi công nhanh nhưng giá trị lớn. Khi khách hàng đề nghị vay, cán bộ tín dụng chỉ cần đối chiếu vào bản sơ đồ tiến độ thi công, khoản vay dùng cho hạng mục nào, khối lượng bao nhiêu thì sẽ xác định được thời gian hoàn thành hạng mục cộng thêm thời gian thanh toán. Thời gian thanh toán thường diễn ra từ 2 - 3 tháng, từ khâu nghiệm thu khối lượng, nghiệm thu thanh toán đến khi kho bạc giải ngân và tiền về đến tài tài khoản của khách hàng. - Quản lý từng công trình trên chương trình Incas. Mỗi công trình, khi thẩm định phương án, trên cơ sở kế hoạch sản lượng năm, cán bộ tín dụng yêu cầu khách hàng xác định nhu cầu vay vốn từng giai đoạn, hoặc từng năm. Điều này được nêu cụ thể trên hợp đồng tín dụng, cán bộ tín dụng tạo cho mỗi công trình một Facility từng lần, số tiền bằng nhu cầu vay vốn từng năm. Tổng hạn mức cho vay và bảo lãnh của khách hàng được quản lí chi tiết. Tại chi nhánh, để theo dõi từng công trình cán bộ tín dụng nên yêu cầu khách hàng lập một bảng kê kèm theo giấy nhận nợ với các nội dung như sau: + Tên công trình + Giá trị hợp đồng kinh tế ký với chủ đầu tư + Thời gian thi công + Nguồn vốn đầu tư + Chủ đầu tư + Kế hoạch sản lượng năm xin vay + Tổng mức vay năm + Tình hình thực hiện sản lượng đến ngày xin vay + Giá trị đã được nghiệm thu + Giá trị đã được chủ đầu tư thanh toán + Giá trị dở dang + Doanh số vay luỹ kế từ đầu công trình + Doanh số thu nợ + Dư nợ đến ngày xin vay + Số tiền xin vay lần này Với các nội dung này, khi ký cho vay, lãnh đạo cũng nắm rõ các số liệu liên quan đến từng công trình để có quyết định chính xác. Thứ tư, tài sản đảm bảo đối với khách hàng hoạt động trong lĩnh vực XDCB. Hầu hết, tài sản đảm bảo là các thiết bị thi công hoặc các phương tiện vận tải. Việc định giá tài sản đảm bảo thường khó chính xác. Nếu dựa vào giá trị còn lại trên báo cáo tài chính của khách hàng thì có thể gặp phải tình trạng như sau: Doanh nghiệp có tình hình tài chính tốt, thường khấu hao nhanh, tỷ lệ khấu hai cao để nhanh được đổi mới nâng cấp thiết bị, dẫn đến giá trị còn lại trên báo cáo tài chính nhỏ hơn giá thị thường của thiết bị. Nếu muốn định giá một cách chính xác - do không có chuyên môn sâu nên ngân hàng sẽ đề nghị khách hàng thuê cơ quan thẩm định chuyên nghiệp. Điều này gây tốn một lượng phí nhất định, đôi khi khách hàng sẽ từ chối thực hiện, làm cho khó khăn trong công việc tiến hành định giá tài sản đảm bảo. Biện pháp khắc phục như sau: nên mời một công ty bảo hiểm cùng thực hiện, chẳng hạn yêu cầu khách hàng mua bảo hiểm đối với tài sản đảm bảo, của công ty bảo hiểm BIDV, bởi tính chuyên nghiệp, sự gắn kết và bảo đảm quyền lợi cho chi nhánh. Công ty bảo hiểm có bộ phận chuyên thẩm định giá trị tài sản bảo hiểm, giá trị này sát với giá trị thực của thiết bị, đảm bảo được quyền lợi của các bên tham gia. Giá trị tài sản được công ty bảo hiểm xác định sẽ làm căn cứ định giá giữa ngân hàng và khách hàng, trong biên bản định giá tài sản nên dẫn chiếu căn cứ này. Như vậy, công ty bảo hiểm đã thực hiện như một cơ quan thẩm định chuyên nghiệp, độc lập trong việc xác định giá trị tài sản đảm bảo. 3.2.2 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, nhân viên ngân hàng - đặc biệt là cán bộ tín dụng Trong mối quan hệ tương quan giữa chất lượng tín dụng và các điều kiện đảm bảo chất lượng (tài sản đảm bảo tiền vay, dự án phương án khả thi, năng lực sản xuất kinh doanh, khả năng tài chính...), đội ngũ cán bộ tín dụng là yếu tố quan trọng, quyết định trực tiếp đến chất lượng tín dụng. “Cán bộ là cái gốc của công việc”, đối với hoạt động tín dụng - một hoạt động mang lại lợi nhuận chính của ngân hàng hiện nay, cán bộ tín dụng có vai trò rất lớn ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả cũng như độ an toàn của khoản vay. Thực tế cho thấy, rủi ro tín dụng xảy ra ở hầu hết các tổ chức tín dụng chủ yếu của cán bộ tín dụng còn hạn chế, thực hiện không nghiêm túc quy chế cho vay, quy định đảm bảo tiền vay, kiểm tra giám sát thiếu chặt chẽ để khách hàng lừa đảo chiếm đoạt tài sản ngân hàng. Vì vậy, để có chất lượng tốt, chi nhánh trước hết phải có đội ngũ có cán bộ tín dụng giỏi, được đào tạo có hệ thống, am hiểu và có kiến thức phong phú về thị trường, nắm vững các văn bản pháp luật có liện quan đến hoạt động tín dụng. Ngoài ra cần phải tậm tâm với công việc, có đạo đức và sự liêm khiết, bởi lẽ nếu cán bộ tín dụng thiếu trung thực, giảm sút phẩm chất đạo đức lối sống, buông lỏng qua trình xét duyệt, thẩm định cho vay, tạo kẻ hở để khách hàng lừa đảo chiếm đoạt vốn vay, hoặc thiếu ý thức trong nghiên cứu học tập nên trình độ ngày càng giảm sút ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả công việc, dẫn đến rủi ro trong hướng dẫn tín dụng là rất lớn. Nhận thức rõ trình độ của cán bộ tín dụng đóng vai trò quyết định trong việc nâng cao chất lượng tín dụng, phòng đã có kế hoạch đào tạo cụ thể đối với cán bộ cũ và mới nhằm trang bị một lượng kiến thức sâu rộng, đáp ứng được yêu cầu đổi mới, tổ chức thực hiện nghiêm túc, duy trì thường xuyên các buổi thảo luận, nâng cao nghiệp vụ giữa các cán bộ, đặc biệt chú trọng kĩ năng phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp, nâng cao phẩm chất thẩm định khoản vay và tuân thủ pháp luật. Ngoài ra, chi nhánh cũng nên phối hợp với trung tâm điều hành, các ngân hàng thương mại khác và cơ quan Chính phủ tổ chức các buổi hội thảo về phương pháp đánh giá tài sản thế chấp, các thông số thẩm định kết quả tài chính, vấn đề phòng chống rủi ro trong kinh doanh tín dụng. Chi nhánh cần có chính sách ưu đãi cán bộ tín dụng phù hợp hơn, có chế độ khuyến khích cán bộ tín dụng tự nghiên cứu học tập nâng cao trình độ. Hàng năm cần tổ chức thi cán bộ tín dụng giỏi để nhằm khích lệ cán bộ tín dụng phấn đấu nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn và năng lực công tác. Bên cạnh đó, chi nhánh cũng cần có chế độ thưởng, phạt thích đáng, quy định rõ quyền hạn và trách nhiệm của mỗi cán bộ trong hoạt động tín dụng, đặc biệt sự quan tâm, động viên của lãnh đạo chi nhánh đối với đội ngũ cán bộ tín dụng và lĩnh vực tín dụng nói riêng. 3.2.3 Nâng cao chất lượng kiểm tra, kiểm soát nội bộ Kiểm tra, kiểm soát nội bộ đóng vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng tín dụng. Nó là một trong những yếu tố đem lại sự an toàn, hiệu quả cho hoạt động tín dụng của chi nhánh. Vì vậy, chi nhánh cần tăng cường kiểm tra, kiểm soát nhằm phát hiện những vi phạm, sai sót để có biện pháp xử lí kịp thời. Tuy nhiên, chi nhánh cần phải xây dựng chính sách kiểm tra, giám soát hoạt động tín dụng phù hợp với thực tế hoạt động của chi nhánh và sự thay đổi cuả thị trường. Cán bộ tín dụng của chi nhánh phải có trách nhiệm kiểm tra, giám sát quá trình vay, sử dụng vốn và trả nợ của khách hàng. Trong quá trình luân chuyển của đồng vốn sẽ có rất nhiều yếu tố tác động, gây ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng của chi nhánh. Nó đảm bảo các nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan. Vì vậy, để chi nhánh có biện pháp xử lí kịp thời khi gặp những nhân tố bất lợi đối với hoạt động tín dụng thì công việc kiểm tra, giám sát khách hàng cần tập trung những yếu tố sau: - Hồ sơ vay vốn và kế hoạch trả nợ của khách hàng. - Tìm hiểu các thông tin về khách hàng để từ đó đánh giá được mức độ tín nhiệm của khách hàng. - Mục đích sử dụng vốn vay của khách hàng. - Mức độ chiếm lĩnh sản phẩm của khách hàng trên thị trường. - Khả năng quản trị kinh doanh của khách hàng vay vốn. Tóm lại, việc nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ giúp cho chi nhánh có thể kịp thời phát hiện những dấu hiệu đáng ngờ trong việc sử dụng vốn vay của khách hàng, từ đó có biện pháp điều chỉnh kịp thời nhằm thu hồi nợ đúng kì hạn, giảm thiểu rủi ro và nâng cao hiêu quả cho vay của ngân hàng. 3.2.4 Tổ chức trao đổi, rút kinh nghiệm đối với từng khoản vay, từng nghiệp vụ Đối với một ngân hàng mới tham gia thực hiện kinh doanh đa năng, tổng hợp theo cơ chế thị trường và có một đội ngũ cán bộ trẻ đông đảo như ngân hàng ĐT và PT Việt Nam nói chung và chi nhánh ngân hàng ĐT và PT Quảng Trị nói riêng thì việc đúc rút kinh nghiệm thường xuyên là rất cần thiết. Điều này sẽ giúp ban lãnh đạo ngân hàng đánh giá đúng mức độ hợp lí, từ đó thực hiện đổi mới trong công tác điều hành, chỉ đạo cho phù hợp với yêu cầu công việc, diễn biến thị trường và nguyện vọng của nhân viên. Về phía cán bộ ngân hàng, nhất là cán bộ tín dụng sẽ học hỏi những kiến thức, kỹ năng về tiếp thị, nâng cao kỹ năng thu thập thông tin, phân tích khách hàng, xử lý tình huống, đổi mới phong cách làm việc, rút ngắn thời gian giao dịch với khách hàng và thời gian thực hiện nghiệp vụ. Chi nhánh cần thực hiện đúc rút và nhân rộng kinh nghiêm thông qua các hoạt động sau: Tổ chức tập hợp, tổng kết quá trình hoạt động trong từng tháng, quý, năm và từng thời kì, phân tích các kết quả đạt được và nguyên nhân của nó để pháp huy, đồng thời tìm hiểu nguyên nhân của những tồn tại để có biện pháp khắc phục. Ban lãnh đạo cần xác định trọng tâm, trọng điểm để chỉ đạo, lường trước những khó khăn, thách thức thông qua phân tích quá trình hoạt động của kì trước để lên kế hoạch triển khai công tác hợp lí cho kì sau. - Thực hiện biểu dương các đơn vị, cá nhân xuất sắc trong phong trào thi đua, những gương sáng điển hình trong lao động, học tập, sáng tạo để mọi người học hỏi. - Phân tích, mổ xẻ các sự cố xảy ra và phổ biến cho các cán bộ, giúp họ đề phòng, không tái diễn. Công việc đúc rút và nhân rộng kinh nghiệm sẽ nâng cao năng suất, hiệu quả làm việc cho cán bộ, tạo không khí thân mật, trách nhiệm trong ngân hàng, phát huy sức mạnh trí tuệ của cả tập thể, giúp ban giám đốc chỉ đạo sâu, sát hoạt động của cán bộ, thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngân hàng. 3.2.5 Nâng cao chất lượng thẩm định đối với dự án đầu tư XDCB Việc mở rộng cho vay XDCB là cần thiết để mở rộng hoạt động tín dụng và kinh doanh của chi nhánh. Song vấn đề chất lượng tín dụng mới có ý nghĩa quyết định sự tồn tại và phát triển của chi nhánh. Nếu chi nhánh gia tăng khối lượng tín dụng mà không quan tâm đến chất lượng tín dụng thì chẳng khác nào cho vay mà không thu hồi nợ. Do đó, phải nâng cao chất lượng tín dụng trên cơ sở đổi mới các khâu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, hoàn thiện quy chế, quy trình và cách thức tổ chức thẩm định, quyết định cho vay theo hướng ngày càng mang tính công nghiệp hoá cao hơn, sự phân công, phân nhiệm rỏ ràng hơn. Thực tế trong quan hệ tín dụng thì quyền cho vay là ở chi nhánh, còn quyền trả nợ lại ở người vay. Do đó, khi tiền đã được giải ngân thì việc thu hồi lại phụ thuộc vào chính kết quả sử dụng vốn vay. Vì vậy, khâu thẩm định dự án cho vay là rất quan trọng, đòi hỏi cán bộ tín dụng phải tuân thủ các nguyên tắc, nội dung cơ bản của việc thẩm định khi cho vay. Tuỳ từng khoản vay cụ thể mà ngân hàng có nội dung và phương pháp phân tích thẩm định phù hợp, thường thì việc thẩm định tập trung vào những vấn đề như: thẩm định tính khả thi của dự án về nội dung kinh tế, tài chính: đây là yếu tố tác động trực tiếp đến việc lựa chọn các dự án đầu tư. Ngân hàng có thể sử dụng các chỉ tiêu về khả năng thanh toán, năng lực hoạt động, khả năng sinh lời... hoặc phân tích tính khả thi của dự án bằng các chỉ tiêu giá trị hiện tại thuần, tỷ suất doanh lời nội bộ, xem xét độ nhạy bén của các dự án đầu tư. Nguồn trả nợ sẽ là tốt nhất nếu thu được từ dự án nhưng ngân hàng cũng nên tính đến khả năng trong thời gian đầu tư, khi dự án chưa được thu lợi nhuận thì doanh nghiệp có nguồn thu nào khác bù vào không. 3.2.6 Thực hiện tốt công tác xử lí nợ quá hạn đối với XDCB Trong thời gian tới, chi nhánh cần phải nghiên cứu xem xét, lựa chọn kĩ lưỡng và ưu tiên cho vay các dự án có tính khả thi và hiệu quả cao, việc tiếp tục cho vay phải được tiến hành kèm theo các biện pháp khác để đảm bảo tiền chất lượng tín dụng được duy trì. Đồng thời tập trung vào việc phân tích nâng cao chất lượng danh mục đầu tư tín dụng, tăng cường và nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro. Bên cạnh đó, để nâng cao chất lượng tín dụng thì vấn đề quan trọng là xử lí các khoản nợ, gia hạn để giúp các ngân hàng giải quyết vốn đang bị ứ đọng. Trước tiên, phải tiến hành rà soát lại các khoản nợ quá hạn, xác định nguyên nhân của nó và đưa ra các biện pháp xử lý kịp thời. Đối với các đơn vị kinh tế vẫn còn khả năng phục hồi sản xuất thì cần tạo cho họ cơ hội làm ăn để trả nợ khách hàng. Trong trường hợp này, ngân hàng nên làm thủ tục gia hạn nợ hoặc điều chỉnh hợp đồng. Ngân hàng có thể cùng khách hàng đưa ra giải pháp xử lí kinh doanh thua lỗ. Cán bộ ngân hàng có thể tư vấn, giới thiệu bạn hàng cho doanh nghiệp phát triển mạng lưới tiêu thụ, tăng cường chiến dịch quản cáo, khuyếch trương sảm phẩm... Nếu khách hàng sử dụng vốn vay sai mục đích, biểu hiện chây lì, lừa đảo thì kiên quyết chuyển đổi hồ sơ xin vay khách hàng sang cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phối hợp giải quyết. Bên cạnh việc xử lí nợ quá hạn, ngân hàng cần quan tâm đến các biện pháp hạn chế phát sinh nợ quá hạn. Do vậy, cán bộ tín dụng phải theo dõi các khoản vay và khi phát sinh hiện khoản vay có vấn đề thì tuỳ vào từng trường hợp mà ngân hàng có biện pháp giúp đỡ khách hàng hoặc có thể khôi phục năng lực tài chính của khách hàng... Ngân hàng có thể giao chỉ tiêu nợ quá hạn cho từng cán bộ tín dụng để thúc đẩy họ tích cực hơn trong việc giám sát kiểm tra vốn vay, đôn đốc thu hồi nợ tốt hơn. Hơn nữa, ngân hàng cũng cần phải tổ chức phân loại khách hàng một cách thường xuyên để có biện pháp mở rộng thị phần trong kinh doanh tiền tệ thông qua việc đa dạng hóa các sản phẩm của ngân hàng và nâng cao chất lượng dịch vụ, mở rộng quan hệ với các thành phần kinh tế khác, đặc biệt là các nhóm khách hàng hoạt động kinh doanh có hiệu quả, có tiềm năng phát triển trong tương lai. 3.2.7 Giải quyết mối quan hệ giữa huy động vốn và sử dụng vốn Đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng huy động vốn và mở rộng tín dụng trên cơ sở mở rộng mạng lưới theo hướng ưu tiên các khu vực có tiềm lực công nghiệp, tiếp tục đẩy mạnh huy động vốn song song với việc cơ cấu lại nguồn vốn theo hướng nâng cao tỷ trọng nguồn vốn VNĐ, nguồn vốn từ dân cư, duy trì và mở rộng nguồn vốn tổ chức kinh tế, tranh thủ nguồn vốn nhàn rỗi của các công ty bảo hiểm. Đặc biệt lưu ý các giải pháp huy động nguồn vốn trung dài hạn, coi đây là khâu then chốt có tính quyết định đến hoạt động cho vay. Trên cơ sở nguồn vốn huy động được, chi nhánh cần đẩy mạnh tín dụng một cách vững chắc, có chất lượng trên cơ sở tiếp tục các chương trình đầu tư cho các dự án quan trọng, có tính khả thi cao theo hướng đồng tài trợ với các ngân hàng khác để đảm bảo dư nợ cao và ổn định. 3.3 Các kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng cho vay đối với doanh lĩnh vực đầu tư XDCB tại ngân hàng ĐT và PT chi nhánh Quảng Trị 3.3.1 Kiến nghị đối với Nhà nước * Đối với ngân hàng Nhà nước - Cho phép ngân hàng tự tăng vốn. Nền kinh tế đất nước đang có tốc độ tăng trưởng cao, chi nhánh ngân hàng ĐT và PT Quảng Trị với nhiệm vụ chính là đầu tư phát triển thì cần nguồn vốn lớn. Các doanh nghiệp ngày càng có nhu cầu vốn lớn, trong khi đó, theo luật của tổ chức tín dụng, ngân hàng không được cho vay vượt quá 15% vốn tự có đối với một khách hàng. Điều này cũng hạn chế hoạt động tín dụng của chi nhánh. - Cần hoàn thiện chính sách pháp lí cho hoạt động tín dụng. Ngân hàng Nhà nước cần tiến hành rà soát lại các văn bản của mình, tránh tình trạng chồng chéo, thiếu đồng bộ và không còn phù hợp với thực tế. Cần phải đối chiếu các văn bản đã thi hành với các văn bản của bộ, ban ngành có liên quan đến hoạt động ngân hàng để tạo môi trường pháp lí lành mạnh cho hoạt động ngân hàng và doanh nghiệp, tạo tính tự chủ cho mỗi đơn vị thành viên. - Nên hình thành và phát triển cá cơ quan cung cấp thông tin khách hàng nhằm đảm bảo thông tính chính xác, kịp thời, đáng tin cậy cho ngân hàng. * Đối với Bộ Kế Hoạch và Bộ Xây Dựng - Nghiên cứu cơ chế chính sách, khuyến khích đầu tư của mọi chủ thể kinh tế, mọi thành phần kinh tế trong và ngoài nước, nhằm động viên thu hút khả năng đầu tư. - Tăng cường quyền hạn, trách nhiệm và nghĩa vụ của chủ đầu tư đi đôi với các chế tài, hình phạt áp dụng cho chủ đầu tư nếu vi phạm. - Cần rà soát lại và phân loại các khoản nợ, tìm nguyên nhân sâu xa để tránh tình trạng nợ XDCB nhiều như hiện nay. - Bên cạnh đó, ban hành những văn bản cụ thể để tạo điều kiện pháp lí cho doanh nghiệp xây dựng hoạt động. 3.3.2 Kiến nghị đối với ngân hàng ĐT và PT Việt Nam Ngân hàng ĐT và PT Việt Nam khi thay đổi chính sách chế độ tín dụng phải có kế hoạch và cụ thể hơn, đảm bảo cho chi nhánh thuận tiện trong quá trình thực hiện. Xây dựng chính sách tín dụng đối với từng khách hàng trong đó có doanh nghiệp XDCB. Đối với các khách hàng là Tổng công ty, cần có sự quản lí thống nhất giữa các chi nhánh trên cùng địa bàn. Nâng cao công tác đào tạo, tập huấn để học tập kinh nghiệm không chỉ nội bộ ngân hàng mà còn ngân hàng bạn. Tập trung nâng cao các công nghệ để rút ngắn thời gian giao dịch, thực hiện tốt việc giám sát khách hàng, giảm thiểu rủi ro tín dụng, nâng cao uy tín của ngân hàng. 3.3.3 Kiến nghị đối với chính quyền địa phương Cần xây dựng chiến lược tổng thể để thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Tạo điều kiện thuận lợi cho ngân hàng và doanh nghiệp XDCB phát triển. Cần có quy hoạch tổng thể trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng trên địa bàn Quảng Trị. Chú trọng đầu tư xây dựng các công trình quan trọng nhưng cũng phải chú ý để tránh tình trạng xây dựng không đồng đều giữa các huyện, thị xã. Thực hiện nghiêm túc chính sách: bố trí được vốn trước khi đấu thầu, thi công. Giảm thiểu cơ chế “xin cho”, tránh tình trạng nợ quá hạn triền miên. KẾT LUẬN –¶— Trên đây là toàn bộ nội dung cuốn chuyên đề thực tập với đề tài: “Giải pháp nâng cao chất lượng cho vay đối với lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản tại ngân hàng Đầu Tư và Phát Triển chi nhánh Quảng Trị”. Qua thời gian thực tập tại đơn vị, kết hợp nghiên cứu giữa lí luận và thực tiễn, tôi nhận thấy cho vay lĩnh vực đầu tư XDCB có tỷ lệ nợ quá hạn lớn, luôn tồn tại nhiều rủi ro. Đó là một vấn đề khá phức tạp. Nghiên cứu và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cho vay trong lĩnh vực XDCB để đảm bảo an toàn và hiệu quả kinh doanh là hết sức cần thiết đối với các NHTM hiện nay. Không chỉ là giải pháp hoàn thiện chính sách tín dụng; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ ngân hàng; thường xuyên trao đổi rút kinh nghiệm từng khoản vay mà phải thực hiện nghiêm túc công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ; xử lí các khoản nợ quá hạn theo đúng quy định của pháp luật. Có như thế, ngân hàng mới có thể tồn tại và phát triển ổn định. Nâng cao chất lượng tín dụng là nhiệm vụ hàng đầu vì mục tiêu lợi nhuận và tối đa hoá lợi nhuận của ngân hàng. Từ đó, giúp ngân hàng có thể nâng cao tiềm lực tài chính, tăng cường khả năng cạnh tranh, cũng cố và mở rộng khách hàng. Đây là vấn đề phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực, nhiều cấp, nhiều ngành khách nhau. Những ý kiến đề xuất trong bài viết chỉ là phần nhỏ trong hàng loạt các giải pháp cần thực hiện, khó có thể tránh khỏi những hạn chế và còn nhiều vấn đề cần hoàn thiện hơn. Vì thế tôi mong sự góp ý của của quý thầy cô giáo để đề tài được hoàn thiện hơn. Một lần nữa, tôi xin cảm ơn thầy giáo Thạc sỹ Trần Tất Thành đã nhiệt tình giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này. Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các cô chú, anh chị công tác tại ngân hàng ĐT và PT chi nhánh Quảng Trị đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình thực tập vừa qua. TÀI LIỆU THAM KHẢO Phan Thị Thu Hà, Ngân hàng thương mại, Nxb Đại học Kinh tế quốc doanh. T.s Nguyễn Đình Thảm, Tổ chức xây dựng 1. Th.s Lê Anh Hùng, “Bàn về chất lượng cho vay xây dựng cơ bản và công trình giao thông”. Sổ tay tín dụng ngân hàng Đầu Tư và Phát Triển. Báo cáo thường niên (từ năm 2005 đến 2007) của ngân hàng Đầu Tư và Phát Triển chi nhánh Quảng Trị. MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI LĨNH VỰC ĐẦU TƯ XDCB 3 1.1 Khát quát về lĩnh vực đầu tư XDCB 3 1.1.1 Khái niệm lĩnh vực đầu tư XDCB 3 1.1.2 Đặc điểm của lĩnh vực đầu tư XDCB 4 1.1.3 Vai trò của đầu tư XDCB đối với nền kinh tế 6 1.2 Hoạt động cho vay của ngân hàng đối với lĩnh vực đầu tư XDCB 7 1.2.1 Khái niệm và nguyên tắc cho vay của ngân hàng 7 1.2.1.1 Khái niệm 7 1.2.1.2 Các nguyên tắc cho vay 8 1.2.2 Vai trò nguồn vốn của ngân hàng đối với lĩnh vực đầu tư XDCB .8 1.2.3 Phân loại cho vay đối với lĩnh vực đầu tư XDCB 9 1.2.4 Quy trình cho vay đối với lĩnh vực đầu tư XDCB 13 1.3 Chất lượng cho vay của ngân hàng đối với lĩnh vực đầu tư XDCB 14 1.3.1 Khái niệm chất lượng cho vay của ngân hàng đối với lĩnh vực đầu tư XDCB 14 1.3.2 Ý nghĩa của việc nâng cao chất lượng cho vay của ngân hàng và lĩnh vực đầu tư XDCB .16 1.3.3 Các chỉ tiêu đo lường chất lượng cho vay đối với ngân hàng lĩnh vực đầu tư XDCB 18 1.3.3.1 Các chỉ tiêu định lượng 18 1.3.3.2 Các chỉ tiêu định tính 22 1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cho vay của ngân hàng 24 1.4.1 Nhân tố chủ quan 24 1.4.2 Nhân tố khách quan .27 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG ĐT VÀ PT CHI NHÁNH QUẢNG TRỊ 29 2.1 Giới thiệu chung về ngân hàng ĐT và PT chi nhánh Quảng Trị 29 2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 29 2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của từng phòng ban 31 2.1.3 Chức năng, lĩnh vực hoạt động của ngân hàng 33 2.1.3.1 Chức năng hoạt động của ngân hàng 33 2.1.3.2 Các lĩnh vực hoạt động của ngân hàng 33 2.2. Thực trạng chất lượng cho vay đối với lĩnh vực đầu tư XDCB tại ngân hàng ĐT và PT chi nhánh Quảng Trị 34 2.2.1 Doanh số cho vay đối với lĩnh vực đầu tư XDCB 34 2.2.2 Tình hình dư nợ đối với lĩnh vực đầu tư XDCB 37 2.2.3 Doanh số thu nợ và nợ quá hạn đối với lĩnh vực đầu tư XDCB 41 2.2.3.1 Doanh số thu nợ 41 2.2.3.2 Doanh số thu nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn đối với lĩnh vực đầu tư XDCB 42 2.3 Đánh giá thực trạng hoạt động đối với lĩnh vực đầu tư XDCB tại ngân hàng ĐT và PT chi nhánh Quảng Trị 46 2.3.1 Các kết quả đạt được 46 2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 48 2.3.2.1 Hạn chế 48 2.3.2.2 Nguyên nhân 49 CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG ĐT VÀ PT CHI NHÁNH QUẢNG TRỊ ĐỐI VỚI LĨNH VỰC ĐẦU TƯ XDCB 54 3.1 Định hướng phát triển hoạt động tín dụng đối với lĩnh vực đầu tư XDCB tại ngân hàng ĐT và PT chi nhánh Quảng Trị 54 3.1.1 Yêu cầu công tác tín dụng đối với lĩnh vực đầu tư XDCB trong thời gian tới 54 3.1.2 Mục tiêu chung 54 3.1.3 Mục tiêu cụ thể 54 3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cho vay đối với lĩnh vực đầu tư XDCB tại ngân hàng ĐT và PT chi nhánh Quảng Trị 56 3.2.1 Hoàn thiện chính sách tín dụng 56 3.2.2 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, nhân viên ngân hàng - đặc biệt là cán bộ tín dụng 61 3.2.3 Nâng cao chất lượng kiểm tra, kiểm soát nội bộ 62 3.2.4 Tổ chức, trao đổi, rút kinh nghiệm đối với từng khoản vay và từng nghiệp vụ 63 3.2.5 Nâng cao chất lượng tín dụng đối với dự án đầu tư XDCB 64 3.2.6 Thực hiện tốt công tác xử lý nợ quá hạn đối với lĩnh vực đầu tư XDCB 65 3.2.7 Giải quyết mối quan hệ giữa huy động vốn và sử dụng vốn 66 3.3 Các kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng cho vay đối với lĩnh vực đầu tư XDCB tại ngân hàng ĐT và PT chi nhánh Quảng Trị 67 3.3.1 Kiến nghị với Nhà nước 67 3.3.2 Kiến nghị với Ngân hàng ĐT và PT Việt Nam 68 3.3.3 Kiến nghị với chính quyền địa phương 68 KẾT LUẬN 69

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docxGiải pháp nâng cao chất lượng cho vay đối với lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản tại ngân hàng Đầu Tư và Phát triển chi nhánh Quảng Trị.docx
Luận văn liên quan