Đề tài Giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh tại ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) chi nhánh Thanh Hoá

Đề tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường, các ngân hàng thương mại phải tìm cách đề phòng, né tránh và hạn chế đến mức thấp nhất rủi ro. Đặc biệt là rủi ro tín dụng, bởi vì các ngân hàng thương mại hiện nay hoạt động tín dụng vẫn là chủ yếu, ở lĩnh vực này rủi ro vẫn chiếm tỷ trọng lớn và có nguy cơ ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh ngân hàng lớn nhất. Nó có thể thu hẹp hoạt động ngân hàng hay mở rộng phạm vi kinh doanh, thậm chí tạo tiền đề cho sự phá sản của các ngân hàng. Do vậy ngân hàng cần chú ý quan tâm đúng mức việc nghiên cứu, phân tích đánh giá rủi ro nói chung và rủi ro tín dụng nói riêng. Đây là vấn đề mà nhiều nhà lãnh đạo ngân hàng hay các quan chức Chính phủ quan tâm, nó có ý nghĩa nhiều mặt và lâu dài đối với kinh doanh ngân hàng và sự ổn định hay biến động nền kinh tế chính trị xã hội đất nước.

pdf44 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 25/02/2014 | Lượt xem: 1200 | Lượt tải: 4download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh tại ngân hàng Thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) chi nhánh Thanh Hoá, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
o sao kê tín dụng còn dư nợ (đến ngày 31/12/2009) Đơn vị :Tỷ đồng Tên đơn vị vay Số tiền vay Số dư nợ gốc còn lại Cho vay các TCKT và cá nhân 238,658 212,000 1 Cho vay ngắn hạn 187,940 156,000 2 Cho vay trung hạn 50,718 56,000 3 Cho vay dài hạn 0 0 (Nguồn: Báo cáo tình hình hoạt động kinh doanh ngân hàng VPBank) 18 §VT: Tû ®ång - 50,000 100,000 150,000 200,000 250,000 300,000 Cho vay c¸c TCKT vµ c¸ nh©n Cho vay ng¾n h¹n Cho vay trung h¹n Cho vay dµi h¹n Sè tiÒn vay Sè d­ nî gèc cßn l¹i Hình 2.1: Tình hình cho vay và dư nợ 31/12 2009 Bảng 1.3 Báo cáo sao kê tín dụng còn dư nợ (đến ngày 31/12/2010) Đơn vị :Tỷ đồng Tên đơn vị vay Số tiền vay Số dư nợ gốc còn lại Cho vay các TCKT và cá nhân 297,480 245,254 1 Cho vay ngắn hạn 221,217 195,420 2 Cho vay trung hạn 76,263 49,834 3 Cho vay dài hạn 0 0 (Nguồn: Báo cáo tình hình hoạt động kinh doanh ngân hàng VPBank) 19 §VT: Tû ®ång 0 50 100 150 200 250 300 350 Cho vay c¸c TCKT vµ c ¸nh©n Cho vay ng¾n h¹n Cho vay trung h¹n Cho vay dµi h¹n Sè tiÒn vay Sè d­ nî gèc cßn l¹i Hỡnh 2.2: Tỡnh hỡnh cho vay và dư nợ 31/12 2010 Bảng 1.4 Báo cáo sao kê tín dụng còn dư nợ (đến ngày 31/12/2011) Đơn vị: Tỷ đồng Tên đơn vị vay Số tiền vay Số dư nợ gốc còn lại Cho vay các TCKT và cá nhân 332,740 297,125 1 Cho vay ngắn hạn 254,492 239,420 2 Cho vay trung hạn 78,248 57,705 3 Cho vay dài hạn 0 0 (Nguồn: Báo cáo tình hình hoạt động kinh doanh ngân hàng VPBank) 20 §V T: Tû ®ång 0 50 100 150 200 250 300 350 Cho vay c¸c TCKT vµ c¸ nh©n Cho vay ng¾n h¹n Cho vay trung h¹n Cho vay dµi h¹n Sè tiÒn vay Sè d­ nî gèc cßn l¹i Hình 2.3: Tình hình cho vay và dư nợ 31/12 2011 Như vậy nhìn chung số tiền mà ngân hàng cho vay ngày càng tăng nhanh và chú trong hơn đối vơi lĩnh vực cho vay ngắn hạn bởi đây là lĩnh vực mà ngân hàng có khả năng thu hồi vốn nhanh chóng và hạn chế được các rủi ro trong hoạt đông cho vay của ngân hàng. Nhìn chung hiệu quả sử dụng vốn của VPBank Thanh Hoá khá cao trong những năm gần đây vì cho vay khá cao trong tổng nguồn vốn huy động năm 2009 do vậy đạt 88,83%; năm 2010 đạt 82,44%; năm 2011 là 89,29%. Qua bảng số liệu trên cho thấy tỷ lệ nợ quá hạn cua ngân hàng tương đối cao như vậy là do quá khứ để lại, còn trong những năm gần đây tỉ lệ nợ quá hạn là thấp không đáng kể, kế hoạch năm 2011 của VPBank Thanh Hoá là thoát khỏi tình trạng kiểm soát đặc biệt của Ngân hàng nhà nước. Với tốc độ hoạt động như kế hoạch đặt ra trong tương lai không xa hình ảnh VPBank Thanh hoá sẽ khôi phục lại và ngày càng phát triển nhanh 21 hơn hướng tới một ngân hàng bán lẻ hiện đại và chuyên nghiệp. Chương II: Thực trạng, giải pháp PHòNG NGỪA Và hạn chế rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) chi nhánh Thanh Hoá. 2.1. Tình hình nợ xấu, nợ quá hạn của chi nhánh năm 2009 - 2011. Nợ xâu là một khoản tín dụng được cấp ra nhưng không thể thu hồi do một số nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau. Ngân hàng là một trung gian tài chính giữa bên thừa vốn với bên thiếu vốn trong nền kinh tế, tạo điều kiện cho nền kinh tế tăng trưởng và phát triển, nên tính ổn định và hiệu quả hoạt động của ngân hàng có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của các doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung. Trong nhiều yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động của Ngân hàng thì nợ quá hạn nhân tố rễ gây ra rủi ro cho Ngân hàng. Do vậy, để hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng thì Ngân hàng phải giữ cho tỉ lệ nợ quá hạn ở mức hợp lý, và có thể, không để phát sinh nợ quá hạn. Nợ quá hạn có nhiều loại, tuy nhiên, nếu dựa vào khả năng thu hồi thì ta có thể chia nợ quá hạn ra thành hai loại là nợ quá hạn có khả năng thu hồi và nợ quá hạn không có khả năng thu hồi. Nợ quá hạn có khả năng thu hồi là những khoản nợ đến hạn thanh toán, vì nhiều lý do khác nhau khách hàng chưa có khả năng thanh toán, nhưng các phân tích chủ quan của Ngân hàng cho thấy có thể thu hồi được nợ. Nợ quá hạn không có khả năng thu hồi là nợ quá hạn không thể thu hồi sau khi phân tích các khả năng thu hồi. Trong trường hợp này, các Ngân hàng được phép trích quỹ dự trữ đặc biệt để bù đắp. Ngoài ra những khoản nợ có tài sản đảm bảo và những khoản nợ không có tài sản đảm bảo của ngân hàng nó cũng đánh giá dược thực chất hoạt động, cũng như tình hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng, và nó được thể hiện trên bảng tình hình nợ xấu của chi nhánh như sau. 22 Bảng 2.1. Tình hình nợ xấu của Chi nhánh Đơn vị : đồng Chỉ tiêu Số dư cuối kỳ năm 2009 Số dư cuối kỳ năm 2010 Số dư cuối kỳ năm 2011 I.Tổng dư nợ 212,000,000,000 245,254,000,000 297,125,000,000 II.Các khoản nợ xấu 6,160,658,953 3,568,745,949 6,886,652,846 III.Số nợ xấu có tài sản đảm bảo 6,160,658,953 3,568,745,949 6,266,652,846 III.Số nợ xấu không còn tài sản đảm bảo 620,000,000 IV.Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ (%) 2,69 1,45 2.32 (Nguồn: Báo cáo tình hình hoạt động kinh doanh của VPBank Thanh Hoá) Như vậy qua bảng số liệu trên ta thấy được rằng năm 2010 tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng đã giảm nhanh so với năm 2009 đó cũng là do lúc này nền kinh tế thế giới đang dần được phục hồi sau một thời gian dài khủng hoảng kinh tế mà bắt đầu ở mỹ kéo dài đã làm cho nền kinh tế thế giới rơi vào khủng hoảng một thời gian dài, đặc biệt nó ảnh hưởng rất lớn tới lĩnh vực tài chính ngân hàng một lĩnh vực hết sức nhạy cảm trước sự khủng hoảng của nền kinh tế thế giới. Tuy nhiên đến năm 2011 do nền kinh tế đang bắt đầu phục hồi, cùng với chiến lựơc phát triển kinh tế 5 năm(2011 - 215) của nước ta đã thúc đẩy nền kinh tế ngày càng đựơc đầu tư nhanh hơn cùng với chính sách nới lỏng tiền tệ đã giúp cho các doanh nghiệp đầu tư nhiều hơn thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Do đó năm 2011 tuy tỷ lệ cho vay của ngân hàng VPBank chi nhánh Thanh Hoá tăng nhanh xong đến cuối năm do tình hình các doanh nghiệp chậm trả nợ và có mồt số doanh nghiệp thu lỗ không có khả năng trả nợ cho ngân hàng do đó tỷ lệ dư nợ của năm 2011 cao đã làm cho ngân hàng gặp rủi ro cao. Như vậy nhìn chung tỷ lệ nợ xấu qua các năm có xu hướng giảm xuống nhanh nhưng nó vẫn gây ra những rủi ro nhất định cho ngân hàng do 23 đó ngân hàng cần có những biện pháp để giảm các khoản nợ xấu xuông mức thấp nhất và nhất là đối với những khoản nợ xấu không có tài sản đảm bảo đây cũng la khoản nợ mà ngân hàng gần như là không có khả năng thu hồi lại khoản nợ và gây ra rủi ro chính cho ngân hàng. 2.2. Những thành tựu đạt được. * Tính đến hết năm 2011 tổng dự nợ toàn chi nhánh đạt được là 297,125 tỷ đồng tăng 51,871 tỷ so với năm 2010 tỷ chiếm 82,54% so. Trong tình hình cạnh tranh gay gắt như hiện nay giữa các ngân hàng thì với tốc độ tăng trưởng như trên là một tốc độ tăng trưởng đáng khen gợi và khích lệ. * Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ qua các năm tuy có giảm xuống nhưng không cao điều đó một lần nữa khẳng định tốc độ tăng trưởng tín dụng của VPBank trong thời gian này đang tiến triển theo chiều hướng tăng nhanh. Tuy nhiên với tốc độ tăng tín dụng so với huy động như vậy thì cũng cần phải xem xét lại bởi tốc độ tín dụng tăng nhanh hơn tốc độ huy động chưa hẳn đã là một điều tốt bởi rất có thể nó dẫn đến tình trạng mất khả năng thanh khoản vì ngân hàng không dự trữ đủ lượng tiền thanh khoản cần thiết. Cũng như tỷ lệ nợ xấu của chi nhánh cũng giảm nhưng vẫn còn cao so với những ngân hàng khác, do đó ngân hàng trong thời gian tới ngân hàng cần đưa ra những chính sách và những biện pháp để hạn chế tỷ lệ nợ xấu, nhất là những khoản nợ xấu không có tài sản đảm bảo. Hiện nay Ngân hàng TMCP VPBank vẫn tích cực tiếp tục theo dõi đôn đốc thu hồi các khoản nợ quá hạn, xem xét phân tích những món nợ quá hạn có khả năng thu hồi trước, kiên quyết bám sát con nợ, thường xuyên kiểm tra cán bộ thực hiện, tìm biện pháp thu hồi nợ một cách hiệu quả nhất. Tăng cường quan hệ với các cơ quan nội chính có liên quan như UBND, Sở nhà đất, công an... nhờ họ giúp đỡ để hoàn thành hồ sơ giấy tờ, tiến hành giám sát tài sản thế chấp để thu nợ. Hoạt động của ngân hàng là luôn phải đối mặt với rủi ro, coi rủi ro như một cơ hội để kinh doanh, song cần phải biết chấp nhận nó ở mức độ phù hợp với điều kiện của mình. Thông qua số liệu về rủi ro của Ngân hàng TMCP VPBank trong ba năm (2009 - 2011) điểm nổi bật đáng báo động nhất là tình hình nợ xấu đối với những khoản nợ không có tài sản thế chấp ngày càng tăng 24 đã gây ra cho ngân hàng nhiều rủi ro và ảnh hưởng dến tình hình hoạt động cũng như chiến lược kinh doanh của ngân hàng trong những năm sau. 2.3. Những nguyên nhân và hạn chế trong hoạt động tín dụng ngân hàng VPBank Thanh Hoá. 2.3.1. Những hạn chế: Trong quá trình hoạt động kinh doanh của ngân hàng tuy đã đạt đựơc nhiều thành tích trong hoạt động tín dụng và góp phần đưa ngân hàng ngày càng phát triển, tạo vị thế, uy tí đối với các tổ chức kinh tế trên địa bàn giúp ngân hàng ngày càng ngày càng được nhiều tổ chứ kinh tế trên địa bàn Thanh Hoá biết đến và coi là một ngân hàng quên thuộc và có quan hệ tín dụng lâu dài. Tuy nhiên trong quá trình hoạt động tín dụng của ngân hàng gặp nhiều hạn chế như: - Quá trình giải ngân vẫn còn chậm so do thủ tục còn nhiều - Do khách hàng chua trung thực trong khi cung cấp thông tin cũng như giấy tờ của tài sản thế chấp trong ngân hàng - Ngân hàng không tích cực thường xuyên kiểm tra, đôn đốc khách hàng trả nợ khi đến hạn trả nợ do đó đã làm cho khách hàng chậm trả nợ cho ngân hàng dẫn đến ngân hàng không thu được nợ khi đến hạn Và quá trình hoạt động của ngân hàng nó còn do nhiều nguyên nhân khác nhau như: 2.3.2. Nguyên nhân chủ quan từ phía ngân hàng. + Ngân hàng quá tin tưởng ở tài sản thế chấp: Mặc dù nguyên tắc cho vay là phải có tài sản thế chấp song cán bộ tín dụng cũng không nên cứng nhắc quá trong điều kiện này. Có đơn vị sản xuất kinh doanh tốt thì có thể không cần tài sản thế chấp vẫn có thể cho vay được. Ngược lại có những khách hàng vay với tài sản thế chấp lớn vẫn làm ăn thua lỗ dẫn đến ngân hàng phải phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Nhưng việc bác các tài sản thế chấp để thu hồi lại vốn cho vay là không dễ dàng chút nào. Trên thực tế không phải bất cứ nhà đất nào cũng có đủ các giấy tờ về quyền sử dụng và quyền sở hữu hợp lệ. Theo thống kê cho thấy hiện có tới 25 80% nhà, đất tại các thành phố lớn chưa có đầy đủ các giấy tờ hợp lệ. Đó là chưa kể đến khi nhà, đất có giấy tờ hợp lệ thì còn phải xem xét đến giá trị, khả năng chuyển nhượng cũng như vị trí địa lý,... Ngân hàng thường gặp khó khăn về giấy tờ sở hữu tài sản, về giá cả tài sản, về thời hạn bán sản phẩm thế chấp, chậm trễ trong việc thu hồi vốn. Có những tài sản thế chấp khi định gía cho vay thì đang ở thời điểm giá cao, đến khi phát mại bán đi giá bị hạ gây thua lỗ cho ngân hàng. Ngân hàng cần phải lựa chọn khách hàng thật kỹ lưỡng, nhất là trong giai đoạn hiện nay khi khách hàng ngày càng có nhiều mánh khoé lừa đảo tinh vi hơn. Họ có thể dùng một tài sản thế chấp để đi vay vốn ở nhiều tổ chức tín dụng gây lên thất thoát lớn cho không chỉ một ngân hàng mà cho cả ngành ngân hàng. + Thông tin tín dụng không đầy đủ: Thông tin tín dụng là vấn đề quan trọng hàng đầu khi quyết định cho vay. Nhưng thực tế trước khi giải quyết cho vay các NHTM chưa được cung cấp đầy đủ và chính xác các thông tin cần thiết. Trung tâm thông tin tín dụng của ngân hàng Nhà nước và trung tâm phòng ngừa rủi ro thuộc VPBank đã được thành lập và đi vào hoạt động nhưng hiệu quả chưa cao do khả năng nắm bắt các thông tin có giới hạn và phụ thuộc nhiều vào các tổ chức tín dụng nên lượng thông tin cung cấp không đầy đủ và kịp thời. Hơn nữa, số lượng về tình hình tài chính của khách hàng hầu như không có do các doanh nghiệp thường quyêt toán chậm và chưa phải áp dụng chế độ kiểm toán bắt buộc nên số liệu nhiều khi không phản ánh chính xác tình hình hoạt động của doanh nghiệp. Trước khi quyết định cho vay ngân hàng chưa nắm được đầy đủ thông tin về tình hình dư nợ tại các tổ chức tín dụng, quan hệ vay trả và khả năng tài chính... về khách hàng của mình nên quyết định cho vay thiếu đúng đắn, nhiều trường hợp khách hàng vay ngân hàng này để trả nợ ngân hàng khác và cuối cùng không có khả năng trả nợ ngân hàng. + Cán bộ tín dụng thiếu trình độ: Trình độ của cán bộ tín dụng còn hạn chế, phân tích, thẩm định dự án kém nên nhiều khi cho vay mà không đánh giá được tính khả thi của dự án. Hoặc do không phân tích đầy đủ khả năng quản lý kinh doanh, báo cáo tài chính một cách chính xác nên không biết năng lực thực sự của khách hàng, khi họ kinh doanh thua lỗ sẽ kéo ngân hàng vào cuộc cùng hứng chịu tổn thất. 26 Kiến thức về xã hội, về thị trường của cán bộ tín dụng còn hạn chế cũng gây cho món vay có khả năng bị rủi ro, vì trong nhiều trường hợp khách hàng đã không nắm bắt được thị hiếu của người tiêu dùng, không phân tích được cung, cầu của thị trường dẫn đến mặt hàng kinh doanh bị ứ đọng, cán bộ tín dụng là người có kiến thức, có kinh nghiệm sẽ phân tích tôt tình hình thị trường, giá cả, cung, cầu, hiểu biết và có kinh nghiệm sẽ tư vấn cho khách hàng tránh được thiệt hại trong kinh doanh, tiền vay của ngân hàng mới tránh được rủi ro. + Cán bộ tín dụng làm sai quy trình tín dụng, thông đồng với khách hàng. Đây là vấn đề về đạo đức và trách nhiệm nghề nghiệp của cán bộ tín dụng. Do thiếu tinh thần trách nhiệm hoặc có những quan hệ cá nhân mà các cán bộ tín dụng đã thông đồng với khách hàng, làm sai các công đoạn của quy trình tín dụng như: cho vay các dự án quá mạo hiểm, khách hàng không đủ điều kiện về tài sản thế chấp, khách hàng không đủ năng lực quản lý và điều hành sản xuất kinh doanh vì thế khi các khoản tín dụng có biểu hiện tiêu cực thì không có biện pháp để thu hồi vốn. Trong thời gian qua, những vụ việc như thế cũng xảy ra tại ngân hàng VPBank nhưng không nhiều và ban lãnh đạo đã có những biện pháp xử lý kịp thời để trấn chỉnh và nâng cao tinh thần trách nhiệm của các cán bộ tín dụng trong đơn vị mình. 2.4. Kết quả thu hồi nợ của ngân hàng VPBank. Hiện nay Ngân hàng TMCP VPBank vẫn tích cực tiếp tục theo dõi đôn đốc thu hồi các khoản nợ quá hạn, xem xét phân tích những món nợ quá hạn có khả năng thu hồi trước, kiên quyết bám sát con nợ, thường xuyên kiểm tra cán bộ thực hiện, tìm biện pháp thu hồi nợ một cách hiệu quả nhất. Tăng cường quan hệ với các cơ quan nội chính có liên quan như UBND, Sở nhà đất, công an... nhờ họ giúp đỡ để hoàn thành hồ sơ giấy tờ, tiến hành giám sát tài sản thế chấp để thu nợ. Hoạt động của ngân hàng là luôn phải đối mặt với rủi ro, coi rủi ro như một cơ hội để kinh doanh, song cần phải biết chấp nhận nó ở mức độ phù hợp với điều kiện của mình. Thông qua số liệu về rủi ro của Ngân hàng TMCP 27 VPBank trong ba năm (2009 - 2011) điểm nổi bật đáng báo động nhất là tỷ lệ nợ quá hạn cao trong khi tỷ lệ thu hồi nợ quá hạn lại quá thấp. Nhìn chung tỷ lệ thu hồi nợ của ngân hàng chưa cao và tình hình dư nợ của ngân hàng chưa giảm xuống theo mong muốn của ngân hàng do đó nó gây ra nhiều tác động xấu cho ngân hàng và nó có ảnh hưởng như: + Làm giảm doanh thu của ngân hàng: Những khoản cho vay gặp rủi ro gây cho ngân hàng những thiệt hại về mặt tài sản khi không thu được vốn và lãi trực tiếp làm giảm doanh thu của ngân hàng. Còn trong trường hựop ngân hàng thu được lãi treo hay nợ quá hạn thì cũng ảnh hưởng tới tính thanh toán và rủi ro thanh khoản của ngân hàng do đó ảnh hưởng tới doanh thu của ngân hàng. + Giảm khả năng thanh toán của ngân hàng Rủi ro cho vay nó đã ảnh hưởng tới việc hoàn trả tiền gửi của ngân hàng gặp nhiều khó khăn. Các khoản đầu tư, cho vay thu hồi chậm hoặc không thu hồi được trong khi đó ngân hàng vẫn phải trả vốn huy động một cách đều đặn cả vốn, lãi đúng kỳ hạn. Chính vì thế nó đã làm hạn chế khả năng thanh toán của ngân hàng. + Làm giảm uy tín của ngân hàng Rủi ro cho vay làm giảm uy tín của ngân hàng và khả năng kinh doanh của ngân hàng. Ngân hàng nào gặp nhiều rủi ro là ngân hàng hoạt động kém hiệu quả. Điều này tác động mạnh tới uy tín của ngân hàng làm cho lòng tin của khách hàng vào ngân hàng bị giảm. Nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới lượng khách hàng tới ngân hàng để gửi tiền cũng như sử dụng các dịch vụ của ngân hàng do đó quy mô hoạt động của ngân hàng bị ảnh hưởng và gây ra những tổn thất về tài chính. Mặt khác nếu ngân hàng nào gặp nhiều rủi ro trong cho vay thì khả năng phá sản của các ngân hàng đó là rất cao. Bởi vì khi mà ngân hàng gặp nhiều rủi ro trong kinh doanh thì khả năng thanh toán hay tính thanh khoản của ngân hàng là không cao. Mà khi ngân hàng hoạt động không hiệu quả sẽ gây tâm lý bất ổn cho người gửi tiền về khả năng chi trả của ngân hàng dẫn tới họ rút tiền hàng loạt thì khả năng chi trả của ngân hàng sẽ gặp nhiều khó khăn nó có thể sẽ bị phá sản. 28 Hậu quả phá sản của một ngân hàng không chỉ mình bản thân ngân hàng đó gánh chịu mà nó còn tác động tới những ngân hàng có quan hệ với ngân hàng khỏc. Điều này gây ra sự phản ứng dây chuyền gây ra sự phá sản hàng loạt của các ngân hàng ảnh hưởng tới toàn bộ nền kinh tế. Chính vì những hậu quả khó lường khi mà rủi ro tín dụng gây ra như các cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008. Nó đã làm nền kinh tế thế giới và các nước khu vực châu á lâm vào khủng hoảng nặng nề. Vì vậy ngân hàng phải luôn quan tâm tới rủi ro trong cho vay cũng như rủi ro tín dụng để đảm bảo cho quá trình hoạt động kinh doanh của ngân hàng thực sự là đòn bảy cho nền kinh tế phát triển. Nhận thức đựoc những tác động xấu này ngân hàng VPBank thanh Hoá cũng nhanh chóng chuyển đổi phương hướng chiến lược kinh doanh và các biện pháp dể ngăn các khoản nợ xấu này xuông mức thấp nhất, hiện nay tại ngân hàng thi công tác xử lý rủi ro của ngân hàng do bộ phận quản lý rủi ro tín dụng của chi nhánh xử ký một cách chuyên nghiệp và nhanh chóng giúp ngân hàng giảm được những tổn thất và tracnhs được nhiều hậu quả xấu cho ngân hàng. 2.5. Công tác xử lý rủi ro tín dụng của ngân hàng VPBank. Khi nợ quá hạn phát sinh, căn cứ vào khả năng thu hồi ngân hàng tiến hành phân chia các khoản nợ này thành nợ quá hạn có khả năng thu hồi và nợ quá hạn không có khả năng thu hồi để có biện pháp xử lý thích hợp. 2.5.1. Đối với các khoản nợ quá hạn có khả năng thu hồi. Ngân hàng đã thường xuyên chỉ đạo cán bộ tín dụng bám sát đơn vị để tìm hiều nguyên nhân, kịp thời cùng đơn vị tháo gỡ khó khăn. Nếu nợ quá hạn phát sinh do bên mua chậm thanh toán thì hướng giải quyết có thể từ phía đối tác của khách hàng.Nếu do nguyên nhân sản phẩm hàng hoá ứ đọng, chậm tiêu thụ thì yêu cầu đơn vị nên hạ giá bán sản phẩm, phát triển màng lưới tiêu thụ, tăng cường chiến dịch quảng cáo... Đồng thời phải nghiên cứu lại việc sản xuất để thay đổi mẫu mã,chất lượng, chủng loại hàng hoá, giảm giá thành sản đông thời hạn chế được việc khách hàng của Ngân hàng bị lừa đảo trong kinh doanh dẫn đến thua lỗ. Ngân hàng luôn quan niệm rằng, rủi ro của doanh nghiệp chính là nguồn gốc rủi ro tín dụng của ngân hàng. Vì vậy để tránh cho khách 29 hàng rơi vào khó khăn thua lỗ, gặp các rủi ro không trả được nợ. Ngân hàng luôn ở bên cạnh khách hàng ngay từ những bước đầu hoạt động kinh doanh. 2.5.2. Vận dụng linh hoạt các quy định hiện hành về bảo đảm tín dụng. Các quy định về thể chế cho vay và về bảo đảm tín dụng luôn được chi nhánh Thanh Hoá tuân thủ chặt chẽ trong quá trình hoạt động tín dụng. Tuy nhiên, không vì thế mà ngân hàng áp dụng một cách máy móc các quy định này vào thực tế. Một điển hình là việc chi nhánh đã biết áp dụng một cách linh hoạt quy chế về bảo đảm tín dụng: Các doanh nghiệp Nhà nước vay vốn Ngân hàng thương mại quốc doanh không cần thế chấp, không giới hạn tỷ lệ vốn điều lệ mà căn cứ vào hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Trong quá trình áp dụng nghị quyết này vào thực tế đã có trường hợp có doanh nghiệp Nhà nước vay vốn kinh doanh, chi nhánh sau khi thẩm đinh kỹ càng vẫn yêu cầu doanh nghiệp phải có tài sản đảm bảo ở một mức độ nhất định để tăng thêm độ an toàn và trách nhiệm của doanh nghiệp khi đầu tư vào dự án này. Với sự vận dụng linh hoạt như vậy chi nhánh đã nâng cao được mức độ đảm bảo an toàn cho nguồn tín dụng. 2.5.3. Trích lập quỹ dự phòng rủi ro. Trong lĩnh vực hoạt động tín dụng rủi ro xảy ra là điều khó tránh khỏi, Ngân hàng đã đặt ra vấn đề là cần có một quỹ dự phòng để đảm bảo an toàn, phòng ngừa rủi ro tránh cho Ngân hàng khỏi rơi vào tình thế khó khăn khi rủi ro xảy ra. Quỹ dự phòng rủi ro ra đời trong hoàn cảnh đó. Từ năm 2008 trở về trước chi nhánh trích từ lợi nhuận sau thuế một tỷ lệ % nhất định do chi nhánh tự quyết định sao cho phù hợp với quy mô tín dụng và mức độ rủi ro trung bình của Ngân hàng. Từ khi có quyết định số 48/1999/QĐ - NHNN của Ngân hàng Nhà nước về việc trích lập và sử dụng quỹ dự phòng để sử lý rủi ro trong hoạt động Ngân hàng, ngân hàng VPBank đã có văn bản chỉ đạo cụ thề việc trích lập quỹ này đúng như quy định. Quỹ được trích từ lợi nhuận trước thuế, mức trích quỹ cần thiết tuỳ thuộc vào mức độ rủi ro của tài sản có mà chủ yếu là các khoản cho vay (tức là tuỳ thuộc vào thời gian quá hạn của khoản vay và tuỳ thuộc vào việc khoản vay đó có bảo đảm hay không có bảo đảm). Chẳng hạn như ngân hàng phải trích 20% dư nợ của khoản vay có bảo đảm đã quá hạn dưới 3 tháng. Ngân hàng phải trích 50% dư nợ của khoản vay có bảo đảm quá hạn từ 6-12 tháng, và đối với khoản vay không có bảo 30 đảm quá hạn từ 3-6 tháng. Đối với những khoản vay không có bảo đảm quá hạn từ 6 tháng trở lên Ngân hàng phải trích lập quỹ dự phòng 100%. Hình thức trích lập quỹ là một hình thức tự bảo hiểm cho Chi nhánh, đó là một việc làm thiết thực trong điều kiện hiện nay để đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh nên được Chi nhánh thực hiện tốt. 2.5.4. Chú trọng công tác đánh giá lựa chọn khách hàng. Ngân hàng không chỉ chú trọng tới phương hướng đầu tư tín dụng đã lựa chọn mà trong từng phương hướng, ngành nghề đó ngân hàng còn chú trọng đến công tác chọn lựa khách hàng. ngân hàng VPBank đã chú trọng tới đối tượng cho vay, kiên quyết không cho vay đối với những khách hàng không đủ điều kiện về tư cách đạo đức, về tình hình tài chính, về tài sản thế chấp, về phương án kinh doanh. Ngân hàng đã nghiên cứu kỹ càng về khách hàng như: + Xem xét, phân tích khả năng điều hành và quản lý kinh doanh của khác hàng. + Phân tích tình hình tài chính của khách hàng. + Xem xét khả năng trả nợ của khách hàng. + Nghiên cứu, kiểm tra tính pháp lý của tài sản thế chấp kỹ càng.... Chính nhờ các biện pháp trên mà hiện nay ngân hàng VPBank đã giảm đáng kể tỷ lệ rủi ro, là một trong những chi nhánh có mức độ rủi ro thấp nhất trong hệ thống ngân hàng VPBank. 2.5.5. Nâng cao hiệu quả công tác thông tin phòng ngừa rủi ro. Đánh giá cao tầm quan trọng của công tác thông tin phòng ngừa rủi ro, Chi nhánh đã thực hiện nhiều biện pháp xoay quanh vấn đề này. Chi nhánh đã lập ra một bộ phận chuyên trách về tin học hoá công tác thông tin và đã có hệ thống thông tin nối mạng toàn quốc nhằm cung cấp nhanh nhất những thông tin cần thiết về khách hàng. Hệ thống này cũng có mối quan hệ chặt chẽ hai chiều với trung tâm phòng ngừa rủi ro (TPR) của ngân hàng VPBank. Ngoài ra ở Chi nhánh VPBank Thanh Hoá, thông tin về tất cả các khách hàng có quan hệ tín dụng với ngân hàng đều được cập nhật hàng quý. Điều này giúp cho Chi nhánh nhanh chóng phát hiện các khách hàng và các món vay có chứa đựng các yếu tố rủi ro tiềm ẩn. Đây là một công việc tuy 31 mới được thực hiện tại Chi nhánh nhưng đã mang lại hiệu quả giúp ngân hàng phòng ngừa rủi ro xảy ra. 2.5.6. Một số biện pháp khác: Bên cạnh các biện pháp trên, Ngân hàng còn có một số biện pháp khác nhằm phòng ngừa rủi ro hiệu quả hơn nữa. Ngân hàng luôn tăng cường cán bộ có năng lực chuyên môn cao bổ sung cho phòng kiểm soát nhằm tăng cường việc kiểm tra và tự kiểm tra nội bộ nhất là về nghiệp vụ tín dụng. Ngân hàng VPBank Thanh Hoá rất chú trọng việc đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ tín dụng nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả làm việc của họ và hạn chế đến mức thấp nhất rủi ro có thể xảy ra đối với ngân hàng. Ngân hàng muốn thực hiện có hiệu quả hoạt động kinh doanh dịch vụ tiền tệ trong nền kinh tế thị trường thì không thể tách rời vai trò của các cơ quan pháp luật. Việc xử lí trong trường hợp người vay không trả được nợ cũng luôn cần đến sự giúp đỡ của các cơ quan pháp luật và chính quyền địa phương. Do vậy, ngân hàngVPBank Thanh Hoá luôn duy trì mối quan hệ hợp tác giúp đỡ của các cơ quan công an, viện kiểm sát, UBND các địa phương nơi có tài sản thế chấp hoặc nơi khách hàng cư chú để quản lý chặt chẽ các khoản tín dụng và có biện pháp xử lý kịp thời khi xảy ra bất trắc. Như vậy Ngân hàng VPBank Thanh Hoá là một Chi nhánh của VPBank Việt Nam luôn luôn hoạt động kinh doanh có hiệu quả. Điều này được thể hiện qua tình hình huy động và sử dụng vốn của chi nhánh. Đây là một chi nhánh luôn dẫn đầu về mức lợi nhuận tuyệt đối thu được trong toàn hệ thống. Tuy nhiên trong hoạt động kinh doanh nhất là kinh doanh tín dụng, rủi ro là điều khó tránh khỏi. Phân tích tình hinh rủi ro ở Chi nhánh thể hiện qua tình hình nợ quá hạn, ta thấy mức độ rủi ro luôn được kiềm chế ở mức thấp. Có những nguyên nhân dẫn đến rủi ro ở Chi nhánh VPBank Thanh Hoá như từ phía khách hàng, từ phía ngân hàng và những nguyên nhân từ môi trường kinh doanh. Chi nhánh đã đề ra nhiều biện pháp khắc phục những hạn chế nhằm làm tốt hơn nữa công tác tín dụng cũng như các biệ pháp tăng cường thông tin, lựa chọn khách hàng, bám sát khách hàng, vận dụng linh hoạt quy chế đã được ban hành. Ngoài ra, chi nhánh còn lập quỹ phòng ngừa 32 rủi ro để hạn chế ảnh hưởng của rủi ro tới hoạt động của ngân hàng. Chi nhánh đã từng bước nâng cao chất lượng tín dụng, hạn chế rủi ro ở mức thấp nhất có thể. 3.1. Giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại ngân hàng VPBank Thanh Hoá. 3.1.1. Định hướng hoạt động tín dụng của ngân hàng VPBank trong thời gian tới. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát VPBank Thanh Hoá phấn đấu hoàn thành các kế hoạch đặt ra góp phần hoàn thành các chỉ tiêu của toàn hệ thống VPBank năm 2012. VPBank tiếp tục duy trì chiến lược ngân hàng bán lẻ, tập trung các doanh nghiệp vừa và nhỏ, hộ gia đình và các cá nhân. Để xây dựng VPBank trở thành một ngân hàng bán lẻ hàng đầu trong hệ thống ngân hàng TMCP trong cả nước. Theo định hướng, năm 2012 chi nhánh tập trung vào các nhiệm vụ trung tâm sau: - Tập trung vào các sản phẩm bán lẻ, các sản phẩm phục vụ doanh nghiệp vừa và nhỏ, hộ gia đình. - Triển khai tổ chức hoạt động ngân hàng theo sơ đồ khối đã được HĐQT phê duyệt trong năm 2011 (mô hình kinh doanh của ngân hàng hiện đại) - Khai thác các tính năng của phần mềm mới (T24) để phát triển các sản phẩm dịch vụ hiện đại (Internet Banking; SMS Banking và các sản phẩm dịch vụ khác) phục vụ khách hàng. - Sát để góp phần nâng cao chất lượng hoạt động của phòng giao dịch để đảm bảo hoạt động an toàn, phát triển bền vững. 3.1.2. Hoàn thiện công tác tổ chức quản lý. Muốn khắc phục tồn tại, đưa chi nhanh thoát ra khỏi tình trạng hiện nay, con đường duy nhất là mở rộng hoạt động, tăng cường nguồn thu, chú trọng công tác huy động vốn và cho vay đồng đều, tập trung vào các ngành kinh tế mũi nhọn để tăng thị phần dư nợ cho các doanh nghiệp quốc doanh, với đường lối chung do Ngân hàng TMCP VPBank đề ra là “ổn định, phát triển 33 vững chắc, an toàn và hiệu quả”, sau đây là một số biện pháp cụ thể mà Ngân hàng đã áp dụng thu được thành công đáng kể 3.1.2.1 Công tác giáo dục và đào tạo cán bộ. Con người là yếu tố trung tâm, quyết định hiệu quả trong mọi hoạt động kinh doanh nói chung và hiệu quả hoạt động tín dụng Ngân hàng nói riêng. Vì vậy, việc đào tạo một đội ngũ cán bộ có trình độ nghiệp vụ cao, có đạo đức và tinh thần trách nhiệm tốt đối với công việc là một trong những biện pháp rất quan trọng để hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng. Trong những năm gần đây, ngân hàng VPBank đã có những biện pháp đào tạo cán bộ như cử cán bộ tham gia các chương trình tập huấn, hội thảo do NHNN Việt Nam tổ chức hay những buổi học tập nghiệp vụ tại chỗ do trung tâm đào tạo VPBank giảng dạy...Đó là những dấu hiệu đáng mừng chứng tỏ ý thức của ban lãnh đạo trong công tác đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao chất lượng nghiệp vụ cho cán bộ, nhân viên của chi nhánh. Những việc làm này cần tiếp tục được phát huy. Tuy nhiên cũng cần phải nhận thấy rằng hiệu quả của các công việc trên còn hạn chế do thời gian huấn luyện ngắn và phần nào còn mang tính phổ cập chưa thật chuyên sâu. Hiện nay, ở ngân hàng VPBank các cán bộ được giao nhiệm vụ theo hình thức khoán quản lý mức dư nợ , họ phải đảm đương mọi công việc như tìm kiếm khách hàng, thẩm định dự án, phân tích tài chính , thanh tra , kiểm soát đến cho vay và thu nợ. Hàng loạt những công việc đó đòi hỏi trình độ của cán bộ tín dụng phải toàn diện và có hiểu biết nghiệp vụ sâu sắc. Vì vậy,công tác đào tạo cán bộ phải chú trọng đến đào tạo chuyên sâu và toàn diện các mặt như luật pháp, tài chính, kế toán hay marketing ... Cùng với việc tổ chức đào tạo cán bộ, Ngân hàng còn cần phải đề ra các tiêu chuẩn về bằng cấp, kinh nghiệm, trình độ ngoại ngữ hay khả năng giao tiếp làm cơ sở cho việc tuyển chọn cán bộ, đồng thời khuyến khích các cán bộ cũ của Ngân hàng không ngừng tự học, tự bồi dưỡng để trau dồi kiến thức năng lực. Bên cạnh việc đào tạo bồi dưỡng cán bộ, ban lãnh đạo Ngân hàng phải cân nhắc thận trọng khi bố trí nhân sự để phát huy thế mạnh và hạn chế được nhược điểm của mỗi cán bộ. Điều đó đòi hỏi ban lãnh đạo phải thường xuyên 34 theo sát hoạt động của nhân viên để đánh giá họ được chính xác. Ngoài ra, việc đề ra một chế độ đãi ngộ xứng đáng như về lương, thưởng đối với cán bộ tín dụng để động viên, khuyến khích kịp thời làm cho cán bộ và nhân viên không ngừng nâng cao tinh thần trách nhiệm, kích thích sự cố gắng phấn đấu trong công tác nghiệp vụ của mỗi người. 3.1.2.2. Tăng cường công tác thu thập và xử lý thông tin khách hàng. Thu thập phân tích và xử lý kịp thời chính xác các thông tin liên quan đến hoạt động tín dụng là điều hết sức cần thiết, nó giúp nâng cao hiệu quả công tác tín dụng và hạn chế rủi ro. Trong giai đoạn thẩm định dự án, giai đoạn quyết định sự an toàn của khoản tín dụng - Cán bộ tín dụng phải nắm được các thông tin tài chính cũng như các thông tin phi tài chính của doanh nghiệp để ra các quyết định cho vay bảo đảm có hiệu quả .Các thông tin tài chính gồm : khả năng tài chính, kết quả kinh doanh trong quá khứ, công nợ , nhu cầu vốn hợp lý, hiệu quả của phương án sản xuất kinh doanh, khả năng trả nợ, giá trị tài sản thế chấp...Các thông tin phi tài chính gồm: tư cách, uy tín, năng lực quản lý, năng lực sản xuất kinh doanh quan hệ xã hội, gia đình , kinh tế, của người vay, cung cầu, giá cả thị trường... của đối tượng được cấp tín dụng. Yêu cầu của thông tin là chính xác, đầy đủ, kịp thời để đạt được điều đó có nhiều kênh thông tin khác nhau. Những thông tin này tuy còn ít và chưa thật kịp thời nhưng cũng rất quan trọng và cần thiết, cán bộ tín dụng cần phải biết cách tra cứu tìm tòi và tận dụng triệt để nguồn tin này. Đồng thời, theo quy định của Ngân hàng, các cán bộ tín dụng phải tự mình đi thu thập thông tin ngay từ chính khách hàng đến vay vốn.Trên cơ sở những thông tin thu thập được cần phân tích cẩn thận để có quyến định chính xác, tránh để xảy ra rủi ro do khách hàng sử dụng các thủ đoạn lừa đảo, giả mạo hồ sơ vay vốn hay tận dụng các sơ hở của luật pháp để dùng một tài sản thế chấp vay vốn nhiều ngân hàng khác nhau. Sau khi cho vay vốn, vấn đề đặt ra là phải giám sát, đảm bảo sử dụng vốn vay đúng mục đích và tiến độ. Việc giám sát có thể được thực hiện như kiểm tra định kỳ các báo cáo tài chính của doanh nghiệp, kiểm tra tình hình sản xuất kinh doanh thực tế, kiểm tra chi trả, thanh toán của doanh nghiệp... Kịp thời phát hiện những dấu hiệu rủi ro tín dụng để sớm có biện pháp sử lý thích hợp. 35 3.1.2.3. Thực hiện nghiêm túc quy trình tín dụng Cần phải thực hiện nghiêm túc các quy chế tín dụng đã được đề ra, trách tư tưởng săn tìm lợi nhuận bằng mọi giá. Bằng bất cứ giá nào cũng không được hạ thấp tiêu chuẩn tín dụng để lôi kéo khách hàng, thực hiện cạnh tranh không lành mạnh giữa các ngân hàng, và để cho món vay có thể được hoàn trả cả trong trường hợp dự án kinh doanh thất bại, thì phải thực hiện thế chấp đúng đắn, phù hợp với thực tế. Nhưng cũng cần phải cảnh tỉnh quan điểm cho rằng tài sản thế chấp là tất cả, do đó cứ có thể chấp là cho vay mà quên đi những vấn đề cơ bản của tín dụng. Để ngăn ngừa các rủi ro về phía khách hàng, ngân hàng TMCP VPBank cần htực hiện việc lựa chọn khách hàng một cách đúng đắn hơn nữa, chỉ cho vay đối với những khách hàng đầy đủ điều kiện tín dụng. Cần quan tâm đến các vấn đề như: năng lực tài chính, tình hình tài chính, khả năng và đạo đức của người điều hành, ưu thế và sức mạnh của người vay trong cạnh tranh. Khi món tín dụng đã được cấp, nhiệm vụ của cán bộ tín dụng và người điều hành là phải thường xuyên giám sát hoạt động của người vay, phát hiện kịp thời những món vay có vấn đề đưa các giải pháp hữu hiệu. Cũng cần phải buộc khách hàng phỉa sử dụng tiền vay đúng theo cam kết khi vay, nếu họ có ý đồ làm khác đi, với những toan tính phiếu lưu, thì cán bộ tín dụng phải có những biện pháp thích hợp để thu hồi lại món vay. Ngoài ra, ban lãnh đạo phải thường xuyên xem xét, đánh giá lại các qui định tín dụng. Một mặt phải chỉnh sửa những vấn đề không phù hợp với thực tiễn, chưa chặt chẽ về pháp luật, nhằm tránh sự lợi dụng của những người “thiếu đạo đức” từ phía khách hàng lẫn cán bộ ngân hàng. Mặt khác đánh giá tác động của hệ thống quy chế tín dụng vào quá trình cho vay và thu nợ, nhằm tìm ra những biện pháp đưa quy chế vào thực tiễn. 3.1.3. Chú trọng công tác đánh giá khách hàng. Trong cơ chế như hiện nay, mỗi ngân hàng phải tự chịu trách nhiệm về mọi mặt lao động của mình để luôn đảm bảo mục đích cuối cùng của mình là an toàn trong kinh doanh, hạn chế rủi ro và thu được nhiều lợi nhuận. Trong thời gian vừa qua, đặc biệt từ cuối năm 2009 trở về đây, Ngân hàng TMCP VPBank đã rất chú trọng tới đối tượng cho vay, kiêm quyết không cho vay 36 đối với những khách hàng không có đủ điều kiện, nghiên cứu kỹ càng vê khách hàng như: - Xem xét, phân tích trình độ, quản lý kinh doanh và trình độ quản trị điều hành của khách hàng. - Phân tích tình hình tài chính của khách hàng. - Xem xét khả năng trả nợ của khách hàng. - Nghiên cứu, kiểm tra tính pháp lý của tài sản thế chấp kỹ càng... Chính nhờ các biện pháp trên mà hiện nay Ngân hàng TMCP VPBank đã giảm đáng kể tỷ lệ rủi ro của mình. 3.1.4. Ngăn ngừa các khoản vay khó đòi và tổn thất tín dụng. Việc ngăn ngừa những khoản vay khó đòi và tổn thất tidn dụng bao gồm: Tăng cường sự giám sát món vay thông qua việc tăng chi phí thu nợ, và đưa ra những lời khuyên đối với khách hàng trong việc tìm kiếm biện pháp hoàn trả nợ vay cho ngân hàng... ngay khi có dấu hiệu người đã gặp khó khăn về tài chính, ngân hàng cần phải áp dụng kịp thời những biện pháp nhằm điều chỉnh tình huống và bảo vệ lợi ích của ngana hàng và khôi phục sức mạnh tài chính của người vay. Cố vấn, nhân viên ngân hàng có thể cho người vay những lời khuyên như: - Tăng thêm vốn, nếu là công ty cổ phần thì khuyến khích họ bán thêm cổ phiếu, còn đối với các loại hình doanh nghiệp khác thì có thể sử dụng các biện pháp như kêu gọi cộng tác, liên doanh liên kết... - Giảm bớt kế hoạch mở rộng, nếu kế hoạch mở rộng đang được trù tính, thì người vay nên loại bỏ chúng cho đến khi tình ình tài chính đã được cải thiện. - Khuyến khích thu hồi các khoản nợ đầu tư chưa đến hạn, giảm bớt công nợ. - Giảm bớt hàng tồn kho bằng việc cải tiến phương thức bán hàng, hạ giá bán... nhằm tăng doanh thu. 37 - Nhận thêm vật thế chấp: Yêu cầu người vay tăng giá trị tài sản thế chấp bằng việc đem thế chấp những tài sản khác thuộc quyền sở hữu của mình. - Gia hạn nợ, giảm mức thu của các kỳ hạn nợ. - Tăng thêm những khoản vay mới nhằm cứu vãn tình hình tài chính đang suy sụp của người vay. Hình thức này được áp dụng trong trường hợp người vay kinh doanh thua lỗ vì lý do khách hàng. Hoặc hoạt động kinh doanh của người vay có khả quan hơn khi được gia tăng vốn. 3.1.5. Việc sử lý các khoản nợ khó đòi. Trong sử lý các khoản cho vay khó đòi thông thường các ngân hàng thương mại phải lựa chọn một trong hai hình thức là: Tổ chức khai thác hoặc thanh lý tài sản thế chấp. Khai thác là một quá trình làm việc với người vay cho đến khi người vay hoàn trả được một phần hay toàn bộ số nợ mà không đưa vào các công cụ pháp lý để ép buộc. Thanh lý là ép người vay phải tuân theo các điều khoản của hợp đồng tín dụng, áp dụng và thực hiện tất cả các biện pháp lý có thể để đạt được mục đích. Các yếu tố chính ảnh hưởng đến sự lựa chọn mà ngân hàng sẽ theo để sử lý các khoản cho vay, nổi bật nhất là khó khăn trong việc thu nợ và tổn thất có thể xảy ra, trong trường hợp này ngân hàng phải áp dụng hình thức thu nợ bắt buộc theo luật. Bên cạnh đó các yếu tố như sự thật thà, thái độ của người vay đối với các khoản nợ tỏ ra có trách nhiệm, sức mạnh tài chính và khả năng trả nợ của người vay còn có nhiều khả quan thì ngân hàng áp dụng hình thức tổ chức khai thác, hình thức này vừa không nhẫn tâm với người vay mà còn tỏ ra có lợi cho ngân hàng. Trong hoạt động thu nợ, ngân hàng cần phải có sự cộng tác chặt chẽ với người vay và tranh thủ sự cộng tác của các cơ quan hành chính và luật pháp ở địa phương nơi người vay hoạt động. Một khoản vay có vấn đề, không có nghĩa là ngân hàng đã mất tất cả, rất có thể vào thời điểm ra hạn cuối cùng người vay sẽ hoàn trả được đầy đủ các khoản nợ của ngân hàng, mà không cần có sự can thiệp của các cơ quan chức trách và điều hành pháp luật. Hoặc phải áp dụng những hình thức cuối cùng như phát mại tài sản thế chấp. Những biện pháp cuối cùng chỉ nên áp 38 dụng khi người vay cố tình lừa đảo hoặc mất hoàn toàn khả năng thanh toán. Vì nó sẽ gây ra rất nhiều phiền phức và tốn kém cho ngân hàng và cả người vay. Vì vậy, việc lựa chọn một trong hai hình thức trên đòi hỏi ngân hàng phải tính toán một cách thận trọng, với mục đích cuối cùng là giảm tối đa những thiệt hại do người vay mang lại. 3.1.6. Các biện pháp đảm bảo tiền vay. Theo luật các tổ chức tín dung, theo quy định của nghị định 178/1999/NĐ-CP của Chính phủ và thông tư số 06 về đảm bảo tiền vay của các tổ chức tín dụng, ngân hàng có quyền lựa chọn, quyết định việc cho vay có đảm bảo bằng tài sản hay cho vay không có đảm bảo theo quy định và chịu trách nhiệm về quyết định của mình. 3.1.6.1. Trường hợp khách hàng có đủ điều kiện được vay không có bảo đảm bằng tài sản: Trong trường hợp này Ngân hàng có thể quyết định cho vay nhưng phải xác định những tài sản có khả năng đảm bảo của khách hàng và có biện pháp thu nợ trước hạn nếu khách hàng không thực hiện đúng cam kết trong hợp đồng tín dụng. 3.1.6.2. Trường hợp vay vốn có bảo đảm bằng tài sản : Nếu tiền vay được đảm bảo bằng tài sản hình thành từ vốn vay Ngân hàng cần có những biện pháp quản lý sau: Xác định, kiểm tra quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng tài sản hình thành từ vốn vay của người vay để có biện pháp xử lý thích hợp khi cần thiết. Nếu tiền vay được đảm bảo bằng tài sản của khách hàng hoặc bên thứ ba Ngân hàng cần chú ý: + Kiểm tra, thu thập đánh giá tính hợp pháp của tài sản và đối với các tài sản khó tiêu thụ dễ hao mòn mất giá thì không nhận thế chấp , cầm cố + Đối với các tài sản không bắt buộc có giấy tờ như vàng bạc, ... thì dùng biện pháp cầm cố Đối với các khoản vay không có tài sản thế chấp : + Ngân hàng đề nghị khách hàng thắt chặt ngân quỹ, bán bớt các tài sản ,....để có tiền trả nợ 39 + Kết hợp với cơ quan bảo vệ pháp luật để ép các đối tượng có nợ quá hạn lớn, có hành vi lừa đảo . Trường hợp không còn khả năng thu nợ thì Ngân hàng phải thực hiện xoá nợ. 4.1. Kiến nghị đối với cơ quan chức năng: 4.1.1. Kiến nghị với ngân hàng nhà nước. * Ngân hàng Nhà nước phối hợp với Bộ Tài chính nghiên cứu thành lập các tổ chức như: + Quỹ bảo hiểm tiền gửi. + Ngân hàng bảo lãnh. Để hỗ trợ hoạt động kinh doanh tín dụng của các ngân hàng thương mại trong nước, và tạo điều kiện cho một số tổ chức kinh tế có dự án kinh doanh khả thi, nhưng không đủ các điều kiện về tài sản thế chấp. * Việc ngân hàng Nhà nước cho phép một đơn vị kinh tế vay vốn ở nhiều ngân hàng thương mại là hợp lý, nó sẽ tạo sự cạnh tranh giữa các ngân hàng, nhăm thúc đẩy sự phát triển của hệ thống ngân hàng trong nước. Nhưng trong điều kiện hiện nay của Việt Nam về thông tin còn nhiều điểm yếu kém. Hoạt động của trung tâm thông tin tín dụng của ngân hàng Nhà nước hoạt động chưa có hiệu quả, thông tin cập nhật chưa chính xác và kịp thời. Nên việc cho một đơn vị kinh tế vay vốn ở nhiều ngân hàng trong điều kiện như vậy, sẽ có thể dẫn đến rủi ro cho nhiều ngân hàng cùng môt lúc, và tạo điều kiện cho người vay lừa đảo chiếm đoạt tài sản của ngân hàng. Vì vậy để áp dụng quy chế này, Ngân hàng Nhà nước cần phải nghiên cứu sửa đổi, và chấn chỉnh lại các hoạt động của trung tâm thông tin tín dụng. * Tăng cường công tác thanh tra và xử lý nghiêm minh việc thực hiện cơ chế tín dụng của các ngân hàng thương mại, nhằm tránh hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh giữa các ngân hàng, phát hiện kịp thời những sai phạm của các ngân hàng thương mại nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những hiệt hại do rủi ro đem lại. 4.1.2. Kiến nghị đối với chính phủ. 40 4.1.2.1. Hoàn thiện môi trường pháp lý đảm bảo an toàn cho hoạt động tín dụng Ngân hàng. Môi trường pháp lý hoàn thiện có hiệu lực sẽ có ý nghĩa rất lớn trong việc quản lý và thúc đẩy hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nói chung và hoạt động tín dụng Ngân hàng nói riêng lành mạnh và hiệu quả Trong thời gian qua, chính phủ đã ban hành nhiều luật quan trọng liên quan đến hoạt đông tín dụng Ngân hàng. Tuy nhiên vẫn còn tồn tại nhiều thiếu sót trong các điều luật vì vậy kiến nghị chính phủ xem xét sửa đổi quy định rõ các vấn đề sau : + Quy định rõ phần phát mại bán đấu giá tài sản đảm bảo của NHTM + Quy định rõ các trường hợp vô hiệu hoá hợp đồng tín dụng hợp đồng kinh tế + Quy trách nhiệm rõ ràng cho các cấp các nghành trong việc xử lý tài sản thế chấp của NHTM. Đồng thời quy định rõ thời gian thủ tục xử lý các trường hợp này. Bên cạnh việc xem xét sửa đổi các điều luật đã ban hành, chính phủ cần nghiên cứu cho ra những điều luật mới, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động tín dụng Ngân hàng như : Luật về sở hữu tài sản; Luật kiểm toán ; Lụât về lưu thông kỳ phiếu thương mại ... 4.1.2.2. Tăng cường công tác quản lý đối với các doanh nghiệp. Hoạt động của các doanh nghiệp ảnh hưởng trực tiếp đếm hoạt động tín dụng Ngân hàng.Hiện nay trong hoàn cảnh nền kinh tế đất nước gặp nhiều khó khăn, năng lực sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp còn yếu kém, ít có sức cạnh tranh. Trên thị trường hoạt động của nhiều doanh nghiệp mang tính chất nhỏ lẻ, chụp giật...đòi hỏi chính phủ phải có những biện pháp giải quyết kịp thời. Tôi xin đề xuất một số kiến nghị sau: + Thực thi tốt kế hoạch phát triển kinh tế tổng thể đã đề ra, có các ưu tiên ưu đãi đối với các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế mũi nhọn, kinh tế trọng điểm. 41 + Ban hành và hướng dẫn chỉ đạo các nghành các cấp thực thi các điều luật đã và sẽ ban hành, tăng cường công tác thanh tra kiểm soát đối với các doanh nghiệp. +Việc cấp giấy phép hoạt động và kinh doanh đối với các doanh nghiệp mới, đặc biệt là các công ty TNHH phải đảm bảo các điều kiện như vốn, cơ sở vật chất, cán bộ điều hành... 4.1.3. Kiến nghị đối với ngân hàng TMCP VPBank. Với vai trò là cơ quan là chỉ đạo trực tiếp hoạt động của Ngân hàng VPBank Thanh Hoá, ngân hàng VPBank cần có những hướng dẫn cụ thể các hoạt động của Ngân hàng VPBank Thanh Hoá, đồng thời tạo điều kiện nâng cao hiệu quả hoạt động của toàn hệ thống là những biện pháp gián tiếp giúp Ngân hàng VPBank Thanh Hoá thực hiện tốt công tác hạn chế rủi ro tín dụng. 4.1.3.1. Chỉ đạo, hướng dẫn cụ thể, kịp thời các chủ trương, chính sách của Chính phủ và của ngành. Hiện nay, các điều kiện về môi trường cho hoạt động ngân hàng còn nhiều thiếu sót, bất cập, chính vì vậy việc Chính phủ thường xuyên đưa ra những Nghị định để chỉ đạo hoạt động của ngành ngân hàng là sự cố gắng rất lớn của Nhà nước nhằm từng bước hoàn thiện môi trường pháp lý cho sự phát triển của ngành. Khi các Nghị định này ra đời, việc ngân hàng VPBank nhanh chóng đưa ra các hướng dẫn cụ thể cho các phòng giao dịch thực thi là điều cần thiết giúp họ giải toả kịp thời những vướng mắc để nâng cao hiệu quả hoạt động. 4.1.3.2. Chuẩn hoá cán bộ ngân hàng và đặc biệt là cán bộ tín dụng. Giải pháp về con người không chỉ là giải pháp của riêng từng chi nhánh mà còn phải có sự phối hợp của ngân hàng VPBank. Ngân hàng VPBank cần có quy định những tiêu chuẩn của cán bộ ngân hàng ở các mặt hoạt động nghiệp vụ khác nhau cũng như ở các vị trí cấp bậc khác nhau, đồng thời tổ chức các lớp đào tạo cán bộ chuyên sâu trong từng lĩnh vực mà đặc biệt là lĩnh vực tín dụng. Các lớp đào tạo này cần được mở thường xuyên, nội dung giảng dạy phải không ngừng được nâng cao để phù hợp với sự phát triển nghiệp vụ ngân hàng tiến tới những tiêu chuẩn quốc tế. Có thể, ngân hàng 42 VPBank Thanh Hoá nên tổ chức những kỳ thi sát hạch đối với những cán bộ ngân hàng để chọn lọc được những cán bộ có đủ năng lực, đồng thời khuyến khích họ không ngừng học hỏi, trau dồi kiến thức nghiệp vụ. Ngoài ra, ngân hàng VPBank Thanh Hoá cần chỉ định những người có năng lực thực sự, phẩm chất đạo đức tốt để bố trí vào những vị trí lãnh đạo chủ chốt của chi nhánh. Một đội ngũ lãnh đạo giỏi về nghiệp vụ, tốt về đạo đức là điều kiện rất cần thiết để nâng cao hiệu quả hoạt động, hạn chế tối đa những rủi ro trong các hoạt động nghiệp vụ nói chung cũng như hoạt động tín dụng nói riêng. Kết luận Sự phát triển kinh tế - xã hội của môt quốc gia không thể tách rời với thành tựu của hoạt động toàn ngành ngân hàng. Các ngân hàng thương mại nước ta đã có nỗ lực phấn đấu vượt qua nhiều khó khăn thử thách trong nền kinh tế thị trường, để vươn lên tự khẳng định vai trò, vị trí của mình là các ngân hàng thương mại quốc doanh. Sự ra đời, tồn tại và phát triển của ngân 43 hàng luôn gắn liền với sự phát triển của đời sống kinh tế xã hội. Trong cơ chế thị trường các NHTM là các doanh nghiệp đặc biệt vì tài sản trong kinh doanh của các NHTM đều là của khách hàng hiện hữu trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Rủi ro của khách hàng vay vốn sẽ dẫn đến rủi ro của ngân hàng, điều đó có ảnh hưởng sâu sác đến nền kinh tế - chính trị của quốc gia. Đề tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường, các ngân hàng thương mại phải tìm cách đề phòng, né tránh và hạn chế đến mức thấp nhất rủi ro. Đặc biệt là rủi ro tín dụng, bởi vì các ngân hàng thương mại hiện nay hoạt động tín dụng vẫn là chủ yếu, ở lĩnh vực này rủi ro vẫn chiếm tỷ trọng lớn và có nguy cơ ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh ngân hàng lớn nhất. Nó có thể thu hẹp hoạt động ngân hàng hay mở rộng phạm vi kinh doanh, thậm chí tạo tiền đề cho sự phá sản của các ngân hàng. Do vậy ngân hàng cần chú ý quan tâm đúng mức việc nghiên cứu, phân tích đánh giá rủi ro nói chung và rủi ro tín dụng nói riêng. Đây là vấn đề mà nhiều nhà lãnh đạo ngân hàng hay các quan chức Chính phủ quan tâm, nó có ý nghĩa nhiều mặt và lâu dài đối với kinh doanh ngân hàng và sự ổn định hay biến động nền kinh tế chính trị xã hội đất nước. Như đã phân tích trong bài, có nhiều giải pháp có thể giúp ngân hàng hạn chế và phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh tín dụng ngân hàng. Các ngân hàng thương mại đã quan tâm đến vấn đề này, song trên thực tế vẫn còn nhiều tồn tại làm cho hiệu quả kinh doanh của ngân hàng chưa cao. Để đáp ứng được yêu cầu kinh doanh trong nền kinh tế thì việc sử dụng tổng hợp và linh hoạt các biện pháp phòng chống rủi ro, nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng là cách tốt nhất để hạn chế rủi ro trong kinh doanh của ngân hàng thương mại. Rủi ro trong kinh doanh tín dụng đã được đề cập trong bản chuyên đề này chỉ là một khía cạnh của toàn cảnh rủi ro trong nghề ngân hàng. Mong rằng với một vài suy nghĩ về các giải pháp hạn chế và phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh tín dụng của NHTM, có thể góp phần nhỏ vào việc hoàn thiện các giải pháp giúp các ngân hàng có thể sử dụng nhằm đạt hiệu quả cao trong kinh doanh. Tạo điều kiện mở rộng mối quan hệ ngân hàng và khách hàng từ đó tăng cường chất lượng tín dụng, góp phần tích cực vào công cuộc CNH - HĐH đất nước. Do trình độ nhận thức và nguồn thông tin thu thập còn có giới hạn nên bản chuyên đề này còn nhiều hạn chế, song với tâm huyết của một sinh viên 44 của học ngành ngân hàng em thấy vấn đề phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng ngân hàng thực sự là vấn đề bức xúc rất cần được quan tâm hiện nay. Để góp phần mình trong việc học tập nghiên cứu, rất mong sự góp ý, giúp đỡ của các thầy cô, các bạn để bài viết được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của cô giáo Hoàng Thị Thanh Huyền, các cô chú trong Ngân hàng VPBank Thanh Hoá đã giúp đỡ em hoàn thành bài báo cáo này.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfnhung_in_0758.pdf
Luận văn liên quan